Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,710,237
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Thập Thiện

10 Tháng Tư 201505:30(Xem: 2668)
Thập Thiện
THẬP THIỆN

Thích nữ Hạnh Giải


Thập ThiệnCứu cánh rốt ráo của Đạo Phật là "Vô thủ trước Niết Bàn". Cảnh giới ấy một khi thành tựu, bậc giác ngộ sẽ đạt được trạng thái "Vô vi nhi vô bất vi" (Nghĩa là không làm, hay vô sự, nhưng không việc chi là không hoàn tất); "Tùy duyên bất biến" (nương theo mọi duyên nhưng tâm giải thoát không hề biến chuyển). Tóm lại nơi "Vô thủ trước Niết Bàn" mọi công đức đều có thể thành tựu. Tuy nhiên, trong thời gian hành giả tu tập, còn bị kềm tỏa trong vòng "Thủ trước" của "tham, sân, si" thì làm sao thành tựu vô lượng công hạnh khó nghĩ bàn để đến cảnh giới "Vô Ngã". Phật dạy: "Long Vương! Ví như tất cả thành, ấp, xóm, làng đều y địa đại mà được an trụ, tất cả trăm hoa, cây cỏ bụi rừng cũng nương tựa địa đại ấy mà được sanh trưởng; Thập Thiện Nghiệp đạo cũng lại như thế. Tất cả Nhơn Thiên cũng y vào đó mà được an lập, tất cả Thanh Văn, Độc Giác Bồ Đề, các hạnh Bồ Tát, tất cả Phật Pháp đều chung vào đại địa thập thiện này mà được thành tựu." (Kinh Thập Thiện_HT Thích Hòan Quan dịch). Như vậy, xem ra Thập Thiệnpháp môn căn bản, là thềm thang cho mọi pháp môn. Hành giả dù có chí mong cầu phước báu hữu lậu ở cõi nhân thiên, hay hướng về vô lậu giải thoát Niết Bàn, cho đến Vô Thượng Giác, đều phải khởi điểm từ Thập Thiện.


Thập Thiện hay còn gọi là Thập Thiện Nghiệp, Thập Thiện Giới, Thập Thiện Pháp. Tên gọi khác nhau là do tùy cách diễn nghĩa theo các phương diện ứng dụng. Chẳng hạn như khi chỉ nói riêng pháp số thì dùng danh từ Thập Thiện để chỉ cho mười điều thiện bao gồm:


1. Không sát sanh

2. Không trộm cắp

3. Không tà dâm

4. Không vọng ngữ

5. Không ỷ ngữ

6. Không lưỡng thiệt

7. Không ác khẩu

8. Không tham lam

9. Không sân giận

10. Không si mê


Khi hành giả thọ trì mười điều này để tu tập thì có thể dùng danh từ "Thập Thiện Giới" vì khi đó, 10 điều trên đây được xem như "giới". Xét theo danh tự pháp môn tu thì gọi là "Thập Thiện Pháp". Căn cứ trên mười pháp thiện ấy để thành tựu phước báu nhân thiêncon đường Thánh Đạo thì gọi là "Thập Thiện Nghiệp". Để được đầy đủ, chúng ta sẽ xét trên bình diện rộng của Danh tựbiện giải: Nghĩa là bắt đầu từ phần thích nghĩa từng chi phần Thập Thiện; kế đến là Thập thiện với hình thức giới; phần ba là pháp môn tu Thập Thiện qua sự phân chia của ba nghiệp (thân, khẩu, ý); cuối cùng là thứ bậc tu tập của Thập Thiện (từ sơ khởi cầu phước báu nhân thiên, đến 37 pháp trợ đạo cầu quả Thanh Văn, Lục Ba la mật để thực hành Bồ Tát Đạo cầu Vô thượng giác). Tuy nhiên, vì tính chất tương đồng nên phần Thập Thiện Giới sẽ được giải thích cùng phần thích nghĩa chi pháp (gộp chung phần 1 và 2).


I. "Thập Thiện" và "Thập Thiện Giới":

Như trên đã nêu qua, Thập Thiện bao gồm mười điều: Không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm (có văn bản dùng từ "không tà hạnh"), không nói dối, không ỷ ngữ, không lưỡng thiệt, không ác khẩu, không tham, không sân, không si. Nhưng xét chi pháp theo Phật Giáo Nam Truyền thì có khác đôi chút như về danh từ như: Bốn chi pháp thuộc về lời là không được nói dối, không được nói đâm thọc, không được nói độc ác, không được nói viễn vong; các chi thứ 8,9,10 là không được tham muốn gắt, không được thù oán, không tà kiến.


1. Không sát sanh: "Sát sanh" là đoạn ngang sanh mạng, dứt ngang mạng sống của kẻ khác. Người không sát sanh thì không được tự cầm khí giới giết, hoặc miệng mình sai bảo ai đó đoạn mạng kẻ khác, cũng không được thấy sự giết hại mà ý mình hoan hỷ (tỏ vẻ hài lòng, đồng ý, vui theo việc đó). "Kẻ khác" được đề cập ở đây bao gồm chúng sanh mọi cảnh, như trong văn giới đề cập bao gồm "trên từ Thánh nhân, phụ mẫu; dưới cho đến loài bò bay máy cựa vi tế côn trùng", có thể hiểu là không được đoạn mạng bất cứ một chúng sanh, một cá thể có tình thức nào. Chẳng những không được tự tay, trực tiếp đoạn mạng kẻ khác, mà ngay cả việc dùng phương tiện như đá, bẫy, thuốc độc… hoặc gián tiếp sai sử người làm, hoặc mưu tính đưa kẻ khác vào chỗ chết như xúi chết, bày kế mưu khiến kẻ kia lâm vào thế phải chết, hay bất cứ hình thức gián tiếp nào cũng không được. Thậm chí cho đến nảy sanh ý muốn kẻ kia phải chết, hoặc nghe kẻ kia chết mà khoái ý đều phạm vào ác pháp, tức vi phạm điều thiện thứ nhất. Về mặt giới thì căn cứ trên bốn điều


1. Cố tâm giết

2. Đối tượng giết

3. Phương tiện giết

4. Việc hoàn tất


"Cố tâm" tức là vì sân giận, vì tham quyền lợi, danh vọng, vì oan trái thù hận… nói chung do một động cơ nào đó khiến tâm khởi lên ý nghĩ muốn chấm dứt sự sống của kẻ khác. Như thích ăn một món thịt gà_ ý nghĩ này khởi lên từ tâm tham vị_ dẫn tới tâm muốn giết con gà, cũng từ tâm này thôi thúc nên phải bằng cách nào đó giết con gà kia. Cũng theo thí dụ trên, con gà là "đối tượng" bị giết. Nếu người kia dùng tay giết thì "phương tiện giết" là "nội sắc" tức là dùng tay, chân, thân thể, những gì thuộc nội thân. Dùng đá, cậy, dao… khi ấy phương tiện là "ngoại sắc". Ở đây "cách thức" cũng kể vào phương tiện như "trực tiếp" (tự tay làm) hay "gián tiếp" (biểu người khác làm). Nếu như con gà mình muốn giết đã bị giết chết rồi, như vậy là điều kiện kết tội đầy đủ, xem như trọn vẹn phạm giới "Không sát sanh". Tuy nhiên, nếu không hội tụ đủ bốn điều trên thì tội kết nhẹ hơn. Chẳng hạn như muốn giết con gà này nhưng lại giết nhầm con khác tức điều thứ ba có phần khuyết, song vẫn có tội, nhưng không kết trọn vẹn. Hoặc phương tiện giết không thành công, con gà bị giết chưa chết thì chưa kết tội trọn vẹn. Nói "trọn vẹn" hay "hay không trọn vẹn" là thay thế chữ "trọng" và chữ "khinh". Điều này thấy rõ khi đối tượng được thay thế là người. Như vậy, mức độ "trọng" hay "khinh" là còn tùy thuộc vào cấp độ phạm của từng phần đặc biệt là "đối tượng sát". Chẳng hạn đối tượng là A-la-hán hay cha mẹ thì cực trọng (rơi vào thất nghịch hay ngũ nghịch), còn ruồi, muỗi, sâu, bọ dĩ nhiên là khinh tội. Cố tâm thì tội nặng hơn khi lòng có sự rụt rè hối hận.


2. Không trộm cắp: "Trộm cắp" tức khiến kẻ khác lìa mất vật sở hữu của họ. "Kẻ khác" cũng được kể rộng như trên. "Lìa mất" nêu ở đây tức là đem đi nơi khác, không hoàn trả (trừ trường hợpcấp bách, không có chủ nhân khởi ý mượn tạm, hoặc vì thân tình có thể tạm dùng và việc ấy không gây ra sầu, bi, khổ, ưu, não cho chủ sở hữu). Ở đây, đối tượng là vật có chủ, "vật sở hữu" theo văn giới "từ vàng bạc châu báu cho đến cọng cỏ lá rau, phàm có chủ sở hữu đều không được lấy. Chẳng hạn như con chó có một khúc xương, khúc xương là vật mà chó đang sở hữu, ta đoạt lấy của nó, đây cũng phạm tộ . Chữ "lìa mất" tức là đã lấy đem đi, ở đây phương tiện lấy kết rộng như giới không sát sanh, nghĩa là trực tiếp lấy hay gián tiếp, khiến người lấy, lừa lấy v.v…Đại khái là khởi lên ác tâm muốn chiếm đoạt tài vật của người khác (chúng sanh khác), tìm phương tiện để lấy, việc lấy thực hiện xong, điều kiện kết tội như giới thứ nhất.


3. Không tà dâm: Người tại gia, giới này dùng từ "không tà dâm", nhưng đối với bậc xuất gia thì "không dâm dục". Chữ tà chỉ cho việc dâm của người thập thiện không chính đáng, vì tại gia, người tu thập thiện có thể có vợ con cho nên chưa trọn dứt đường dâm dục. Nhưng nếu ngoài người hôn phối của mình ra, người tu thập thiện cùng người khác làm việc dâm dục, đây là phạm vào tà dâm. Ngoài ra, nếu đối với người hôn phối của mình, việc dâm dục thực hiện: phi đạo (không phải đường), phi xứ (không phải nơi phòng the của riêng vợ chồng), phi thời (không phải thời gian của vợ chồng sinh hoạt), rơi vào ba trường hợp này đều phạm.


4. Không nói dối: Nói dối tức là chuyện thấy nói không thấy, không thấy nói thấy, nghe nói không nghe, không nghe nói nghe, biết nói không biết, không biết nói biết, xấu nói tốt, tốt nói xấu, có nói không, phải nói quấy… Dối trá không thật. Người tu thập thiện không được phạm vào. Đặc biệt sẽ kết trọng ở tội "đại vọng ngữ". Đại vọng ngữtu hành chưa chứng tự xưng là mình đã chứng các pháp thượng nhân, pháp các bậc Thánh. Người phạm đại vọng ngữ sẽ sa về tà đạo, đọa lạc tam đồ, rất nguy hiểm.


5. Không lưỡng thiệt: Lưỡng thiệt là nói lưỡi hai chiều, tức là nói lời chia rẽ, đến người kia nói xấu người này, đến người này nói xấu người kia, xúi dục bà con bất hòa, thân tình thù oán. Người Việt ta có câu "đòn xóc hai đầu" hay là "đâm bị thóc, thọc bị gạo". Người tu thập thiện phải tránh nói lời đôi chiều dẫn đến kết quả oan trái giữa người và người, không chỉ riêng lời nói mà ngay cả hành động khiến chia rẽ cũng phạm tội này.


6. Không ác khẩu: Ác khẩulời nói thô tục, mắng nhiếc, chưởi rủa, nguyền rủa, trù rủa v.v…Thường ác khẩu hay bắt đầu từ sự sân giận, bực tức. Kinh sách có câu "một cơn sân giận đốt cả rừng công đức". Người tu thập thiện không được nói những lời gây xúc não, thiêu đốt tâm thức người khác mà ngược lại phải nói lời "ái dưỡng tâm thức".


7. Không ỷ ngữ: Ỷ ngữ là nói lời vô nghĩa lý, lời nói ủy mị khiến người điên đảo tâm hồn, chẳng còn phân biệt thị phi, nhiều khi đưa đến tán gia bại sản hoặc gây ra tội lỗi. Ví dụ như thầy của Ương Quật Ma La dụ bảo đệ tử mình rằng: Nếu giết đủ 1000 người sẽ có sức mạnh vô song, thành tựu thượng pháp của ông dạy, kết quả là Ương Quật Ma La đã đón đường giết 999 người, may nhờ Phật độ giải thoát, nếu không ngay cả người mẹ mình, Ương Quật cũng không chừa. Ỷ ngữ thường bắt đầu bằng lòng ghanh tị, tật đố, ý muốn hại người và sắp bài âm mưu bịp người khiến họ tự sa vào đường dữ. Lắm khi ỷ ngữ bắt đầu từ sự hoang tưởng, ngu tối, người nói cũng không rõ mình nói việc như thế hậu quả sẽ đi về đâu. Người tu thập thiện phải nói hợp với Phật Pháp, không vì lợi mình hay tật đố mà bịa chuyện hại tha nhân.


8. Không tham: Tham đây nói đủ là tham dục. Chữ dục chỉ cho các món ngũ dục trong nhân gian gồm: tài, sắc, danh, thực, thùy (tài lợi, sắc ái, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ). Khi hành giả đối diện với năm món dục trên, tâm cuốn hút theo, lòng muốn hưởng thụ nên tìm cách thủ lấy, vì muốn đạt được những gì mình yêu thích, đôi lúc không từ thủ đoạn, dẫn đến tội lỗi. Do đó, đối với ngũ dục phải giữ tâm mình không được đắm trước vào.


9. Không sân: Đối với cảnh vừa ý thì sanh tâm tham như trên đã nêu, ngược lại đối với những gì mình không ưa, trái ý liền sanh tâm chán ghét, sân giận. Kinh nói: "Nhất niệm sân tâm khởi, bát vạn chướng môn khai". Niệm sân cội gốc sâu xa nơi cố chấp ngã và ngã sở. Vì yêu quí tự ngã, tất cả vun vén cho tự ngã, coi tự ngã là tối thượng, là trung tâm điểm của vũ trụ nên một sự kiện, một sự vật nào trái với sự yêu thích của tự ngã khiến bạn nổi lên cơn sân giận. Pháp Phật thành tựu nơi vô ngã, do đó ngã chấp càng kiên cố, sân niệm càng cao; sân niệm càng cao càng khó xả ngã. Ngoài ra, vì sân giận sẽ tạo ra nhiều ác nghiệp khác khiến đọa lạc vào ba đường khổ. Người tu thập thiện phải kiểm soát tâm mình ra khỏi các niệm sân.


10 Không si: Chữ "Si", theo như Phật giáo Nam truyền chỉ cho "Tà kiến". Nếu dùng chữ ngu si thì có thể hiểu lầm là sự ngu dốt, không biết gì, do đó không đủ nghĩa bằng khi dùng chữ "Tà kiến". Nếu như một người hiểu biết rộng rãi, quảng bác kiến thức nhưng lại không tin nhân quả thì chẳng qua là hàng "thế trí biện thông", như vậy, dù không ngu si nhưng cũng không hiểu được thế nào là Phật pháp, rốt cuộc rơi vào thường kiến hoặc đoạn kiến, sa vào tam đồ ác đạo. Người tu thập thiện, phải hướng đến trí huệ giải thoát, thân cận bậc thượng nhân, bậc Thánh, hoặc Thánh đệ tử để hiểu được chân thiện pháp.


II.Pháp môn tu Thập thiện:


Mười chi pháp nêu trên được chia ra ba phần tương ứng với ba nghiệp thân, khẩu, ý. Không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm là ba điều thiện thuộc thân nghiệp. Không nói dối, không lưỡng thiệt, không ác khẩu, không ỷ ngữ thuộc về khẩu nghiệp. Không tham, không sân, không si thuộc về ý nghiệp. Luận về nghiệp báo, vô lượng tội lỗi đều nương nơi thân khẩu ý mà tạo tác. Do đó, tu thập thiệnpháp môn diệt tội lỗi nơi thân, khẩu, ý. Khi thành tựu pháp môn rồi lúc đó gọi là "Tam nghiệp thanh tịnh". Xét như trên đã nêu về giới, Thập thiện giới cũng coi như là pháp môn tu, Nhưng nếu giới đã nêu lên sự tu tập, không cần luận bàn thêm về pháp môn tu! Bây giờ, nêu Thập thiện pháp nhưpháp môn tu tập, như vậy có sự khác biệt nào ở đây? Khác ở nơi phần trên là phân biệt về giới, còn phần này sẽ phân lập ra thân, khẩu, ý để trình bày. Trong đó chia chẻ trình bày nhân tu và quả thành tựu như là một pháp môn hẳn hòi.


1. Thân nghiệp:

Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm.

Không sát sanh: Như trên đã nêu về giới, phàm hễ chúng hữu tình có sanh mạng không được đoạn dứt. Quả báo của tội sát sanh là: Hiện đời người ta chán ghét; họ hàng, muôn thú ghê sợ (đây là hoa báo). Quả báo rơi vào ba ác đạo. Dư báo các đời sau sanh lên thường bị giết hại, mạng yểu. Ngược lại, người không sát sanh sẽ được cuộc sống an ổn, không phải lo sợ về hoạnh tử, oán hại, tuổi thọ các đời sau lâu dài. Sơ cơ tu tập bất sát có thể còn gặp nhiều khó khăn như khó khăn về nghề nghiệp: Người làm ruộng phải giết sâu bọ, người đang làm nghề chày lưới; khó khăn về quốc nạn: Vì ngoại xâm, binh biến, người ra chiến trường phải giết giặc…Do đó, người lập nguyện tu tập phải biết khéo tìm môi trường thuận lợi, khéo hộ trì các căn để không thấy, không nghe việc giết chóc, sân giận dẫn đến giết, tránh việc thấy giết mà vui theo. Dần dần phước đức, công đức do trì giới bất sát thành tựu, khi đó sẽ đạt đến trạng thái "nhậm vận tự nhiên bất sát", như bậc thánh quả Tu Đà Hoàn cuốc đất côn trùng sẽ tự cách bốn tấc. Khi đó quanh ta khí sát cũng tiêu tán dần khiến cho muôn thú không sợ, người khác không sợ bị ta làm hại, trường hợp này cũng giống như chuyện các vị Tổ sư trong Phật giáo vào núi rừng tu tập, voi, hổ, báo, chim chóc đến ở gần bên nghe thuyết pháp. Muôn thú không sợ người, cũng không làm hại người; ngược lại, người không sợ muôn thú và cũng không có ý sát hại.

Không trộm cướp: Tiền bạc, của cải đôi lúc người ta xem trọng như sinh mạng của họ. Nhân gian có câu: "Đồng tiền là núm ruột", của cải vật chất cũng vậy, nên khi bị tước đoạt mất, người ta đau khổ tưởng chừng như mạng sống bị đoạn dứt. Lắm khi anh em trong nhà chỉ vì tranh giành của cải mà xô xát, hại nhau. Tài vật đối với lòng tham của con người ảnh hưởng rất lớn! Quả báo của hành động cướp đoạt là: Đời này bị pháp luật ràng buộc, gia hình, họ hàng khinh khi xa lánh vì sợ bị mất của; tội báo đời sau bị đọa vào địa ngục, ác thú phải thường chịu đói lạnh. Nhiều kiếp lâu sau mới được sanh làm người, dư báo luôn bị đói khát, nghèo cùng khốn khổ.

Người tu thập thiện hiểu được sự nhiệt não do lòng tham đem lại, thấu hiểu nỗi đau khổ của sự mất mát, và quả báo nguy hiểm của sự cướp đọat, do đó phát nguyện giữ gìn giới hạnh không tước đoạt tài sản người khác, chúng sanh khác. Sơ phát tâm tu tập giới này không khó như giới bất sát, tuy nhiên hành giả phải có nhẫn lực cao, ý chí lớn. Vả như nhiều đời nhiều kiếp hành giả chưa từng bố thí, nay rơi vào trạng huống quá cùng khổ, kẻ nghèo khổ lại dễ làm càn: "Bần cùng sanh đạo tặc". Nhưng hành giả thủ tâm bền chí tu tập, cam chịu đói nghèo, không vì đói khổ mà xâm đoạt của phi nghĩa để sinh tồn. Khi giới thành tựu, phước báotài sản không bị cướp bóc, xâm đoạt. Tuy nhiên, giới này phải chỉ tròn vẹn khi tu tập chung với giới về ý là "không tham", tiến lên cấp bậc cao hơn: chẳng những không tham, không cướp đoạt mà còn bố thí, như vậy mới trọn vẹn, trở thành một người có phước đức lớn, không bao giờ đói nghèo. Cao hơn là thành tựu được thất thánh tài, tùy tâm mãn nguyện.

Không tà dâm: Dâm dục là nhân sanh tử luân hồi. Vì luyến ái, người ta phải nhiều đời nhiều kiếp ra vào thai mẹ, chịu khổ trong sáu đường. Người tại gia chưa dứt hẳn đường dâm dục, có thể do còn luyến ái, hoặc phong tục tập quán dân tộc hay gia đình, gia tộc ràng buộc phải sống trong đường chồng vợ, do đó tâm phải giữ cho đoan chánh, lòng nghĩ việc kia như là bổn phận trách nhiệm, không coi đó là lạc thú để đắm trước vào. Với người hôn phối của mình, việc thọ lạc còn coi như là khổ hình, huống chi lại đi tìm thú vui ở người khác. Luận về tội ngoại tình hay mua bán xác thịt và những tội lỗi tương tự, nhân gian người ta xem như là điều đáng kinh tởm. Lỗi này dẫn đến việc tan nhà nát cửa, chồng vợ nghi kỵ, lìa xa nhau, có khi vì ghen tuông mà hại mình hại người… Do đó người tu thập thiện phải phát nguyện thanh tâm chánh trực. Quả báo đời này là pháp luật gia hình, hổ thẹn, nhục nhã. Đời sau thác sanh nơi ngục ô uế, sanh vào loài bồ câu uyên ương. Dư báo làm người sẽ bị phản bội, người yêu thương xa lìa, nghi hiềm v.v…Trọng tâm của việc tu thiện giới này là xa lìa tâm đắm ái. Gẫm chúng sanh nhiều đời kiếp oan tình theo nhau, khi thì làm cha mẹ, khi thì vợ chồng, lúc anh chị em, thân bằng quyến thuộc, cho nên lúc câu sanh một nơi, người thân tiền kiếp dễ sanh tơ tình, từ đó đưa đến việc ràng buộc tâm tư, tìm đến với nhau, kẻ nối lại thân tình, người thì sanh oan trái… rốt cuộc tạo ra nhiều ác nghiệp. Sơ phát tâmnghiệp duyên ái tình còn nặng, hành giả không khỏi khổ lụy đảo điên, hoặc bị quấy phiền, nhưng nếu tâm tư trong sáng, tình không nơi chiêu cảm, dần dà qua nhiều kiếp đời phôi pha sẽ được tự tại, không còn bị duyên tình quấy nhiễu. Phước báo của người trì giới này thân tâm sáng sạch, thanh tịnh, người trời, chúng sanh thấy đều yêu thích.

Kết lại: Ba giới này xếp về sự tu hành thân nghiệp, giữ thân nghiệp thanh tịnh. Trọng điểm ở đây là thân không làm ác. "Ác pháp" chỉ cho sự gia hại tha nhân (chúng hữu tình khác). Gia hại ở đây chính là sự xâm đoạt: Đoạt mạng là sát sanh, đoạt của cải là trộm cướp, đoạt tình là tà hạnh. Như vậy, đối với chúng sanh hành giả tu "thân nghiệp thanh tịnh" sẽ không có bất kỳ hành động xâm đoạt nào tổn hại đến tính mạng, tài sản, tình cảm của họ. Quả báo đối đãi ở đây là chúng sanh sẽ được sống yên ổn, đầy đủ sự tin tưởng bên hành giả, ngược lại hành giả cũng không bị phiền nhiễu, rắc rối hay đau khổ khi không gây ác nghiệp. Tóm lạithành tựu "thân thiện nghiệp".


2. Khẩu nghiệp:

Không nói dối, không lưỡng thiệt, không ác khẩu, không ỷ ngữ.

Về cách phân tích từng chi phần cũng tương tự như thân nghiệp. Ở đây chỉ cần nói chung về nhân quả, phước báo trì giớithành tựu bốn thiện giới về khẩu.

Với việc nói dối khiến chẳng phân biệt được phải trái, làm cho người nghe đảo điên, nghi kỵ, tin nhầm dẫn đến nhiều hậu quả khó lường. Quả báo việc này là bị tội đọa sanh vào địa ngục hắc ám, dư báo sanh vào loài cầm thú ngu muội, sanh vào loài người cũng ngu si mê muội… Nói lưỡng thiệt (gây chia rẻ) dẫn đến thân bằng quyến thuộc chia lìa, nghi kỵ hiềm khích lẫn nhau, quả báo thường rơi vào địa ngục canh thiệt (kéo lưỡi trâu cày như trong kinh Địa Tạng diễn bày), đến khi được sanh làm người, dư báo khiến rơi vào cảnh quyến thuộc chia lìa, kình chống lẫn nhau…Ác khẩu khiến người sanh tâm nhiệt não oán hờn không dứt, dân gian thường vì câu nói ác mà "sống để bụng, thác mang theo". Vì nhân gieo sự oán hận cho người nên tội báo cũng sa vào địa ngục, hoặc sanh vào loài quỉ miệng thường phát ra mùi hôi thúi, thân thể ghê gớm, xấu xí. Đến khi hết tội hình trong ác đạo, sanh vào loài người cũng trong thân hình xấu xí, môi hở, răng xiêng vẹo… Nói lời ủy mị, khiến người hoang tưởng mơ hồ, thêu dệt chuyện không đâu, làm cho người nghe mất tín tâm, mất chánh niệm, tội báo tương tự cũng sa vào chốn ngục tối tăm, khi được sanh vào loài người cũng đảo điên, mờ tối…Tất cả các tội nghiệp do khẩu gây ra, nếu đối với Tam bảo thì tội càng nặng hơn muôn vạn lần, như việc nối dối với Bậc Thánh, ác khẩu hủy báng tam bảo, lưỡng thiệt phá hòa hợp tăng như vậy tội sẽ kết vào một trong ngũ nghịch hoặc thất nghịch, sa vào A-tỳ ngục.

Người tu thập thiện, trước ý thức tội lỗi do khẩu gây ra, sau phát nguyện tu hành giữ bốn giới về khẩu. Phước báo sẽ được quyến thuộc thương mến, lời nói ra được nhiều người tin tưởng. Có những bậc tu thành tựu giới này, lại hay khéo dùng lời khuyến khích người tu trì tin tấn, tụng kinh Đại thừa như Diệu Pháp Liên Hoa, miệng người đó thường tỏa mùi thơm, chư thiên, quỉ thần kính tin hộ vệ.

_Kết lại: Bốn giới kế tiếpthành tựu sự thanh tịnh về khẩu. Tu tập tránh nhân ác do lời nói đem lại. Lời nói có ác có căn bản có bốn: dối trá, đâm thọc, ác độc, xảo ngụy. Tuy nhiên, hành giả cần tìm ra điểm quan trọng bắt nguồn nhân tội lỗi của khẩu, cũng như ác nghiệp về thân, ác nghiệp về khẩu căn cứ trên sự gia hại, từ lời nói tác động vào tâm tư người: Nói tác động tâm tư khiến người mờ mịt về mình (dối xưng là bậc thánh) hay về người khác, sự vật khác, khiến người không phân biệt phải trái là dối; nói tác động tâm tư khiến chia rẽ là lưỡng thiệt; nói tác động khiến người đau khổác khẩu; nói tác động tâm tư khiến người mất chánh niệm đảo điên mờ mịch là ỷ ngữ. Như vậy, điểm quan trọng khi tạo ác nghiệp về miệng là dùng lời tác động vào tâm tư để đưa đến một kết quả tồi tệ cho người khác. Hiểu rõ điều này, hành giả tu "khẩu nghiệp thanh tịnh" sẽ ngăn dè, cẩn trọng lời nói, chỉ nói lời nhu hòa, lời tốt đẹp đem lại lợi ích cho tha nhân. Không vì bất cứ lý do nào nói ra lời gây oan trái, chia rẽ, tổn hại đến tâm tư, công việc của người khác, chúng sanh khác. Như vậy là thành tựu "khẩu thiện nghiệp"


3. Ý nghiệp:

Không tham, không sân, không si (không tà kiến).

Tham sân sitam độc, là cội gốc phát khởi mọi tội lỗi. Phàm khi người ta nhấc chân, cử tay thảy đều lấy ý làm đầu: "ý dẫn đầu các pháp, ý làm chủ ý tạo", chính ý tạo nhân chủng cho ngã chấp, luân hồi. Nếu không có ý làm chủ, không tác thành nghiệp nhân được, chỉ là cây khô, sỏi đá mà thôi. Người tu thập thiện, nếu muốn mình có lộ trình tốt đẹp cho mai hậu, phải bắt nguồn từ nơi ý, ở nơi ý này, nếu muốn ngăn chặn và lìa được tham, sân, si, hành giả phải luôn tỉnh giác, ý thức được diễn biến tâm tư mình trước sự việc. Tu tập ý không tham, không sân, không si để thành tựu "ý thiện nghiệp". Tại sao ở đây không dùng "ý nghiệp thanh tịnh". Vì ý quyết định rất lớn đến cảnh giới tái sanh hoặc không tái sanh, nếu còn tái sanh, coi như thành tựu thiện nghiệp về ý, thanh tịnh từng phần. Còn nói rốt ráo thanh tịnh, theo Duy thức học, A-lại-da sẽ chuyển thành Bạch tịnh thức nghĩa là thành tựu "tuệ giải thoát". Tu tập thiện nghiệp về ý đạt đến rốt ráo, điều này sẽ được khai triển trong phần III.


Kết lạï: Tu tập thiện nghiệp về ý là căn bản để thành tựu cả thiện nghiệp về thân và khẩu. Sở dĩ có thân ác nghiệp, khẩu ác nghiệp cũng bắt đầu từ tham ý, sân ý, si ý mà ra. Song hành giả cũng cần ý thức trọng điểm để dẫn đến sai phạm. Vì sao có tham khởi, sân khởi, si khởi. Tất cả từ sự sai lầm chấp có bản ngã, vì có bản ngã sanh ngã sở, từ ngã và ngã sở đó sanh ngã ái, do ngã ái khống chế nên những gì tự ngã yêu thích sẽ khởi ý thủ lấy khiến tham sanh, những gì trái lại ngã ái khiến sân sanh, và ý niệm lưu trữ một cái ngã tồn tại, gìn giữ vun vén đó là tà kiến hay là si. Hành giả tu tập " ý nghiệp thanh tịnh" phải luôn tỉnh giác chân lý "vô ngã", nếu không đạt đến kiến tri vô ngã, việc tu hành thân thiện nghiệp, khẩu thiện nghiệp cũng có thể thành tựu, nhưng chỉ đạt phước báu nhân thiên và có thể hoàn thành ý thiện nghiệp, nhưng chưa đi đ?n chỗ "ý nghiệp thanh tịnh".


III. Thứ bậc tu tập:

Thông thường, tu pháp thập thiện được đa số Phật tử nghĩ như là một pháp môn cầu phước báu sanh thiên. Thực chất như phần trên đã nêu: "Ví như tất cả thành, ấp, xóm, làng đều y địa đại mà được an trụ, tất cả trăm hoa, cây cỏ bụi rừng cũng nương tựa địa đại ấy mà được sanh trưởng; Thập Thiện Nghiệp đạo cũng lại như thế. Tất cả Nhơn Thiên cũng y vào đó mà được an lập, tất cả Thanh Văn, Độc Giác Bồ Đề, các hạnh Bồ Tát, tất cả Phật Pháp đều chung vào đại địa thập thiện này mà được thành tựu." Nghĩa là Thập thiệnpháp môn căn bản để thành tựu vạn hạnh từ thấp lên cao, từ địa vị nhân thiên đến Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ TátPhật Đạo. Vì sao pháp này lại đặc thù như vậy? Trước tiên chúng ta cần tìm hiểu qua cách lập pháp. Giáo lý trọng điểm tu tập của Phật giáo đều y cứ theo nhân quả, như Tứ Thánh Đế lập pháp trên nhân quả thế gianxuất thế gian: Khổ, Tập là nhân quả trong Tam giới luân hồi; Diệt, Đạo là nhân quả của xuất thế gian. Thập Thiện, nói đủ là Thập Thiện Nghiệp Đạo, nghĩa là con đường hạnh nghiệp căn cứ trên mười điều thiện. Con người đối với thân, khẩu, ý gây ra vô lượng vô biên điều ác, tuy nhiên tổng quát phân chia không ngoài mười chi phần: ba chi thuộc về thân (sát sanh, trộm cướp, tà hạnh), bốn chi thuộc về khẩu (vọng ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ), ba chi thuộc về ý (tham, sân, si hay tà kiến). Ngược lại mười điều ácmười điều thiện, tất cả đều y cứ theo nhân quả! Tạo mười ác nghiệp nặng thì rơi vào tận cùng địa ngục trong nhiều kiếp, nhiều ngàn kiếp v.v… nhẹ thì rơi vào ngạ quỉ súc sanh, hay làm loài người trong tư thái thấp hèn. Ngược lại với mười điều ácmười điều thiện. Căn cứ vào nhân quả, tu mười điều thiện thành tựu phước đức, công đức theo thứ bậc như sau:

Sơ tâm tu tập, chỉ ngăn dứt mười điều ác, hiện đời (hoặc đời sau sanh vào cõi người) sẽ được hạnh phúc an vui tương ứng với nhân quả như sau:


1. Không sát sanh: Thân thường không bệnh, mệnh sống lâu dài, thường được phi nhân (quỉ thần) ủng hộ, thường không ác mộng thức ngủ an vui; oán nghiệp được tiêu trừ, oán thù tự giải; không sợ sa vào ba đường dữ.

2. Không trộm cướp: Giàu có của cải, không bị năm thứ cướp hại (vua quan, giạc, nước, lửa, con hư). Nhiều người thương mến, không bị người phụ bạc, lừa gạt. Mười phương khen ngợi, tiếng lành đồn khắp. Không lo bị tổn hại, vào nơi đông người không sợ hãi, hổ thẹn.

3. Không tà dâm: Các căn điều thuận, xa lìa sự rộn ràng, người đời khen ngợi. Vợ (hay chồng) không ai xâm phạm, cũng không phụ bạc.

4. Không vọng ngữ: Được người đời tín phục. Miệng thường tỏa mùi thơm. Lời nói tín chứng, người trời tín phục. YÙ vui thù thắng, tâm không chao động.

5. Không lưỡng thiệt: Thân bất hoại, không ai làm hại được. Bà con bất hoại, không bị chia rẽ. Tâm lực tu kiên cố, lòng tin bất hoại. Được bằng hữu tốt, thiện tri thức tốt, không lừa dối nhau.

6. Không ác khẩu: Lời nói hợp lý, đẹp đẽ, có ích lợi. Người nghe sanh lòng vui, tin tưởng, không chê bai.

7. Không ỷ ngữ: Thành tựu như thật trí, đối đáp biện tài, có oai đức tối thắng với nhân thiên, không hư vọng.

8. Không tham: Ba nghiệp tự tại, các căn đầy đủ. Của cải tự tại, đáp ứng mong cầu, oán tặc không cướp đoạt được. Đuợc phước báu thù thắng.

9. Không sân: Trong lòng không bị tổn não, sân hận, kiện tụng. Tâm nhu hòa, khí sắc tươi nhuận. Người không oán ghét, cảm thấy an lạc khi đựơc sống gần hành giả.

10. Không si: Trực tâm chánh kiến, xa hẳn sự ngờ vực kiết hung. Thâm tín nhân quả, thà bỏ mạng chứ không làm điều ác. Được gần gủi thiện tri thức, kiến giải vô ngại. Duy nhất qui y Phật, không lạc ác đạo.


Sau khi mãn thân này, sẽ được sanh thiên. Phước được sanh thiên hầu như là pháp ấn định của Thập thiện nghiệp, do đó chư Phật t? thường nghĩ "muốn sanh thiên, tu theo thập thiện". Tuy nhiên, điều này không hẳn như vậy. Người tu thập thiện phước báu lớn, có thể sanh thiên, nhưng cũng có khi sanh vào cõi người hoặc các cõi khác tùy nguyện lực của mình. Thành tựu ấy thuộc phước báu. Nếu hành giả trong quá trình tu tập, lập công bồi đức theo Thánh Đạo: Thanh Văn, Bồ TátPhật Thừa thì nhân quả sẽ chuyển theo hướng khác. Khi đó, thân, khẩu thanh tịnh nhiếp về giới; ý nghiệp nhiếp về định; giới định thành tựu, tuệ sanh. Đây là con đường tu tập Tam vô lậu học.


a. Thanh Văn Thừa: Hình thức tu Thập Thiện kết hợp với 37 phẩm trợ đạo (Tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, bát thánh đạo phần, thất bồ đề phần). Dùng niệm xứ để thanh tịnh tâm, tiến đến "Niệm xứ quán" tức là nhiếp tâmquán tâm. Như vậy, hành giả sẽ thanh lọc tâm tư, nâng mức độ tỉnh giác của mình lên. Khi tỉnh giác, hành giả dễ dàng pháp hiện để dẹp bỏ những bất thiện ý sanh khởi, và ngăn chặn khiến ý bất thiện không sanh, trãi nghiệm qua Tứ chánh cần. Từ đó tiến dần lên tứ như ý túc: Lúc này mức độ định tâmchánh kiến đã ổn định. Ngang đây có thể khai triển "Dục như ý túc" để hướng đến con đường Phật Thừa, Bồ Tát Đạo, hay tiếp tục tu theo Thanh Văn Pháp. Nếu tiếp tục theo pháp Thanh Văn, nương trên mảnh đất định, phát triển tín căn, thúc đẩy niệm lực (giai đoạn tu ngũ căn, ngũ lực) để thành tựu Thiền định, hoặc sử dụng trạch pháp để đi theo thiền quán. Ở đây cần phải có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa định và quán (nghĩa là kết hợp tất cả các chi phần của 37 trợ đạo phẩm để bổ trợ nhau), vì "Định không tuệ thì thành khô định, tuệ không định thì thành cuồng tuệ". Rốt ráo sẽ thành tựu "ý thanh tịnh", tức giải thoát, Niết Bàn.


b. Bồ Tát thừa: Tu thập thiện kết hợp với Lục độ để cầu Vô thượng giác. Khi này, giới được triển khai tích cực như trong Bồ Tát Giới. Sự kết hợp tu tập có thể trình bày theo như văn kinh Thập Thiện:

1. Bố thí độ: Chẳng những không sát sanh mà còn khởi lòng thương chúng sanh như con đỏ, đem lòng từ hộ độ mạng khiến được an vui, đây là bố thí vô úy. Bồ tát chẳng những không trộm cắp mà còn đem vàng bạc, của báu bố thí cho khắp tất cả, cho đến bố thí vợ con, đầu mắt tai chân để cầu Phật đạo. Nhưng muốn bố thí viên mãn như vậy, phải lìa tham dục, tham ái. Điều này đã hoàn thànhchi phần thứ 9 (không tham) khi hành giả tu Thập Thiện. Vì bỏ tà hạnh, lìa gian dối, không tham sân…mà bố thí nên khiến người tin tưởng, không phải uổng phí lời vẫn có thể thu phục nhân tâm…(phỏng trích theo văn Kinh Thập Thiện)

2. Lược nói năm độ sau: Trì giới trang nghiêm, thập thiện đã hoàn thành thân, khẩu thanh tịnh, nay tu tập Bồ tát hạnh, phần trì giới sẽ nhẹ nhàng hơn. Tuy nhiên, bên Bồ tát, không những giữ gìn không tổn hại chúng sanh mà còn phải cứu độ để cho chúng sanh không bị tổn hại về thân mạng, tài sản, tinh thần. Do đó, khi tu thập thiện, không làm điều ác tức là đã giữ giới, nhưng tiến lên Bồ Tát hạnh, giữ giới không những là không phạm điều ác, mà còn phải đem cả thân mạng ra làm điều thiện, xả thân để đem lại hạnh phúc cho chúng sanh, khiến chúng sanh được độ tới chỗ an vui, như vậy mới xem là trì giới trong lục độ. Theo Bồ Tát hạnh, tinh tấn độ sẽ dẫn đầu, tinh tấn hành bố thí, tinh tấn giữ gìn giới, tinh tấn tu tập thiền định, tinh tấn trao dồi, mở mang trí huệ. Người muốn thực hiện được các điều khó ấy, phải có nhẫn lực, ý chí. Như vậy, tinh tấnnhẫn nhục là hai pháp thiết yếu căn bản để hoàn thành bốn pháp còn lại. Muốn thành tựu nhẫn lực, ý niệm về cái tôi kiên cố phải từ bỏ, ngã ái phải từ bỏ, điều này phải thành tựu nơi giới thứ 10 (không si, tức không tà kiến) của Thập Thiện.

Kết lại: Lấy Thập Thiện làm thềm thang, làm giá đỡ để tiến lên Bồ Tát Hạnh, khi đó, nhờ phước báu sẵn tạo, công đức tu hành dễ dàng tiến triển hơn và nâng cao hơn. Chẳng hạn như không trộm cắp sẽ không bị tổn hại, khi không bị tổn hại thì lòng sân không khởi, khi đó đem lòng nhu hòa bố thí sanh phước báu lớn. Từ đó, chuyển sang đời sau Bồ Tát sanh vào nơi sang giàu, lại lấy lòng bố thí trợ giúp người làm niềm vui, khiến lòng từ sanh khởi và phát triển.v.v… Các chi phần khác cũng vậy. Do đó nói Lục độ cũng hoàn thành từ nơi Thập Thiện.


Tóm lại, Thập Thiện không phải chỉ riêng là pháp môn tu cầu phước báu cõi trời như bao nhiêu người thường tưởng, mà Thập Thiện là pháp tu của tất cả mọi hành giả từ việc cầu phước cõi người, trời cho đến tu Thanh Văn, Bồ Tát và cầu Vô Thượng Bồ Đề. Chúng sanh vì mang ý niệm có một cái "tôi" tồn tại nên trôi lăn sanh tử luân hồi, lại trong luân hồi thấy mình nhỏ bé đối với Tạo Hóa nên tìm cầu nương tựa nơi ở một đấng Tạo hóa tối cao nào đó v.v…Vì ngã tưởng sai lầm đó mãi chịu khổ đau. Khi hiểu được Thập Thiện Pháp, thấy rõ được sự khổ vui trong cõi hữu vi đều đi theo một luật tắc nhất định, đó là "nhân quả". Khi đó thừa hiểu phước tội do mình, làm thiện hưởng thiện, làm ác chịu quả ác. Đó là nói hành giả chưa thấu triệtvô ngã, chỉ tin nhân quả nên tìm hạnh phúc cho mình bằng cách gieo nhân lành. Đến khi thấu hiểu "Vạn pháp giai không" , tất cả đều giả huyễn: "Không phải của tôi, không phải là tôi, không phải là tự ngã của tôi", chừng đó khởi tâm cầu giải thoát, xa lìa tham, sân, si cầu thanh tịnh giải thoát. Khi đó tu tập ba nghiệp trọn thanh tịnh:


"Tam nghiệp hằng thanh tịnh

Đồng Phật vãng Tây Phương"

Tuy nhiên, muốn thân khẩu thanh tịnh, tuy có khó nhưng vẫn dễ hơn nhiều so với thành tựu ý thanh tịnh. Song nếu đã đạt được ý thanh tịnh rồi, hành giả có nói nín động tịnh gì cũng là "Vô tác nghiệp", nghĩa là: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành"./.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 3820)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 2549)
Từ nơi bản thể tịch tĩnh của Đại Niết-bàn mà đức Thế-Tôn thiết định Sīla: học xứ, học giới,.. nên học xứ ấy là nghiệp dụng của bản thể...
(Xem: 17926)
Toàn bộ Đại Tạng Kinh tiếng Việt trên 203 tập đã dịch và in xong...
(Xem: 4400)
Bài Văn Cảnh Sách Của Đại Viên Thiền Sư ở Núi Quy; Tác Giả: Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu; Thánh Tri phỏng Việt dịch
(Xem: 2682)
Trì giới này thời như đi đêm tối gặp đèn sáng, như người nghèo được của báu, như người bệnh được bình phục, như người tù được tự do, như kẻ đi xa được trở về.
(Xem: 2326)
Những người hộ trì giới pháp này, không nên sinh khởi tưởng nghĩ là thời tượng pháp hay mạt pháp, vì sự trì giới nghiêm cẩn sẽ ...
(Xem: 2395)
Sau khi đã thọ giới, nếu chúng ta có thể dựa trên căn bản “chỉ ác phòng phi, chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành” mà làm theo, thì đó chính là chúng ta đang giữ giới vậy.
(Xem: 3483)
Đức Phật không có cái tâm tưởng nào khác ngoài tâm đại Từ đại Bi, ban vui cứu khổ cho tất cả chúng sinh. Vì vậy Đức Phật ra đời, cũng không ngoài mục đích ấy.
(Xem: 4423)
Sanh tử cũng là việc lớn, vì cơn vô thường (chết) chóng mau! Thế, người học đạo, với mỗi giờ, mỗi phút phải lấy đó làm điều nhớ lo.
(Xem: 9449)
Hiện nay tôi giảng Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới Bổn để cho quý vị biết dù rằng muôn pháp đều không, nhưng lý nhân quả rõ ràng, không sai một mảy, cũng không bao giờ hư hoại.
(Xem: 6546)
Tâm hiếu thuậntâm từ bi giống nhau, vì hiếu thuận của Phật pháp không giống như hiếu thuận của thế gian.
(Xem: 2508)
Giới luậtyếu tố cần thiết để một Tỳ-kheo làm mô phạm cho trời người, bước đi trên con đường giải thoát được vững chãi.
(Xem: 2416)
Luật tạng: 律藏, tiếng Phạn: vinaya-pitaka, bộ thứ hai trong Tam Tạng, nhưng chính thức ra đời vào lần Kết tập thứ 2.
(Xem: 2190)
Những giáo nghĩa Bụt dạy phải được nhận thức như những pháp môn hướng dẫn thực tập để phát khởi tuệ giáctừ bi...
(Xem: 4389)
Thiện namthiện nữ, nay các người lãnh thọ giới pháp rồi thì phải tôn kính mà vâng giữ, không được vi phạm giới pháp cần phải phụng trì.
(Xem: 2322)
Ý thức được những khổ đau do sự sát hại gây ra, con xin học theo hạnh đại bi để bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài.
(Xem: 2248)
Khi phát nguyện thọ trì dù chỉ một giới, quyết định mạnh mẽ nảy sinh từ tuệ giác ấy sẽ đưa ta đến tự dohạnh phúc đích thực.
(Xem: 2467)
Mục đích của người tu hành là hướng đến giải thoátgiác ngộ, mà muốn được giải thoát, giác ngộ thì đương nhiên phải tuân thủ một số nguyên tắc.
(Xem: 2203)
Những giới luật liên quan đến ẩm thực nhằm hướng dẫn thái độhành vi khi ăn uống của người xuất gia nói riêng và người Phật tử nói chung.
(Xem: 6784)
Nếu có duyên mà thọ và đắc từ Chư Phật và Bồ Tát thì sự thành tựu giới thể rất là vượt bực.
(Xem: 8740)
Trì Giớithực hành những luật lệđức Phật đặt ra cho Phật tử xuất gia thi hành trong khi tu hành, và cho Phật tử tại gia áp dụng trong cuộc sống để có đời sống đạo đức và hưởng quả báo tốt đẹp;
(Xem: 7188)
Năm Giới Tân Tu là cái thấy của đạo Bụt về một nền Tâm LinhĐạo Đức Toàn Cầu, mà Phật tử chúng ta trong khi thực tập có thể chia sẻ với những truyền thống khác trên thế giới
(Xem: 2343)
Trong Học pháp có một giới cần phải nhận định cho rõ là giới phá hòa hợp Tăng. Tăng từ 4 vị trở lên, không biết chúng mà đồng một Kiết-ma, đồng một thuyết giới, gọi là Tăng hòa hợp.
(Xem: 2816)
Giới luật là mạng mạch của Phật pháp, Giới luật còn là Phật pháp còn; Giới luật mất là Phật pháp mất.
(Xem: 6840)
Giới bản tân tu này tuy cũng có 348 giới điều như giới bản cổ truyền nhưng đáp ứng được một cách thỏa đáng cho nhu yếu thực tập của người xuất gia trong thời đại hiện tại.
(Xem: 6198)
Giới bản tân tu này tuy cũng có 250 giới điều như giới bản cổ truyền nhưng đáp ứng được một cách thỏa đáng cho nhu yếu thực tập của người xuất gia trong thời đại hiện tại.
(Xem: 10219)
Tỳ Kheo GiớiTỳ Kheo Ni Giới do HT Thích Trí Quang dịch và giải
(Xem: 7889)
Hán dịch: Tam tạng Phật-đà Da-xá và Trúc-phật-niệm. Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh và Thích Đức Thắng. Hiệu chính và chú thích: Tỳ-kheo Thích Nguyên Chứng
(Xem: 5999)
Tác phẩm này có thể là hành trang cần thiết cho những ai muốn thực hành Bồ Tát giới theo đúng lời Phật dạy. Vì vậy, tôi trân trọng giới thiệu đến Tăng, Ni, Phật tử.
(Xem: 7632)
Luật học hay giới luật học là môn học thuộc về hành môn, nhằm nghiên cứuthực hành về giới luật do đức Phật chế định cho các đệ tử
(Xem: 6847)
Là Bộ Luật trong hệ thống Luật-Tạng do Bộ Phái Nhất Thiết Hữu thuộc hệ Thượng Tọa Bộ Ấn Độ kiết tập...Đại Tạng No. 1451
(Xem: 7735)
Bộ chú giải này là một trong năm bộ luận giải thích về luật trong Luật bộ thuộc Hán dịch Bắc truyền Đại tạng kinh lưu hành tại Trung quốc và được đưa vào Đại chính tân tu Đại tạng kinh N.1462, tập 24 do Nhật bản biên tập.
(Xem: 10655)
Bát-nhã tâm kinh (prajñāpāramitāhṛdayasūtra) là một bản văn ngắn nhất về Bát-nhã ba-la-mật (prajñā-pāramitā). Trong bản Hán dịch của Huyền Trang, kinh gồm 262 chữ.
(Xem: 6582)
Hán dịch: Hậu Hán, Tam tạng An Thế Cao người nước An Tức; Việt dịch: Tì-kheo Thích Nguyên Chơn.
(Xem: 6868)
Có thể xem đây là "tập sách đầu giường" hay "đôi tay tỳ-kheo"; rất cần thiết cho mỗi vị Tỳ-kheo mang theo bên mình để mỗi ngày mở ra học tụng cho nhuần luật nghi căn bản.
(Xem: 10390)
Không Sát Sanh là giới thứ nhất trong Ngũ Giới. Chúng ta đang sống trong một thế giới bất toàn, mạnh hiếp yếu, lớn hiếp nhỏ, giết chóc tràn lan khắp nơi.
(Xem: 10493)
Kể từ khi đạo Phật truyền vào nước ta, hàng Phật tử tại gia trong bất cứ thời đại nào và hoàn cảnh nào cũng đã có những đóng góp thiết thực trong sứ mạng hộ trìhoằng dương chánh pháp.
(Xem: 6361)
Tạng Luật (Vinayapiṭaka) thuộc về Tam Tạng (Tipiṭaka) là những lời dạy và quy định của đức Phật về các vấn đềliên quan đến cuộc sống...
(Xem: 6014)
Sau khi Đức Phật nhập diệt, Trưởng lão Māhakassapa (Ma-ha Ca-diếp) triệu tập 500 vị Tỳ-khưu A-la-hán để trùng tụng Pháp và Luật.
(Xem: 8353)
Vị Tăng, lấy Phật làm tính, lấy Như-Lai làm nhà, lấy Pháp làm thân, lấy Tuệ làm mệnh, lấy Thiền-duyệt làm thức ăn.
(Xem: 10368)
Tôi được Tăng sai phụ trách hướng dẫn Bồ tát Học xứ cho chúng Giới tử tân thọ Bồ tát giới...
(Xem: 6793)
Trong Luật tạng, bộ Luật đầu tiên theo trong sử nhắc đến là bộ Bát thập tụng luật do Tôn giả Ưu-ba-li tám mươi lần ngồi tụng thì mới xong bộ Luật của Phật dạy.
(Xem: 25682)
Tăng đoàn thực hành đúng Pháp và Luật của Phật đã chế định trong sự cùng nhau cộng trú hòa hợpthanh tịnh, cùng nhau giải tán trong sự hòa hợpthanh tịnh.
(Xem: 8457)
Chủ ý đó là muốn Tỷ kheo phải là bậc Chúng trung tôn, thân miệng ý, cả 3 nghiệp ấy đừng có những tội lỗicử động bất xứng... Hòa thượng Thích Trí Quang dịch giải
(Xem: 16224)
Bộ Luật Tứ Phần khởi nguyên do bộ phái Đàm-vô-đức (Dharmagupta, Pháp Tạng bộ) truyền trì... Hòa thượng Thích Trí Thủ dịch (1983)
(Xem: 6892)
Là một bộ luật quan trọng trong sáu bộ luật của ngài Nam Sơn, bắt nguồn từ bộ luật của ngài Đàm-vô-đức. Vào cuối đời Đường ở núi Thái Nhứt, sa môn Đạo Tuyên chú thích. Việt dịch: Thích Thọ Phước
(Xem: 104674)
Đại Tạng Việt Nam bao gồm 2372 bộ Kinh, Luật và Luận chữ Hán và tất cả đã kèm Phiên âm Hán Việt...
(Xem: 14931)
Tại Gia Bồ Tát Giới Bổn - 3 ngôn ngữ Anh, Việt, Hoa - Nhiều Tác Giả
(Xem: 14160)
Giới luậtsinh mệnh, là sự sống của Phật tử, nhất là của hàng Tỳ kheo thừa Như lai sứ, hành Như lai sự... HT Thích Trí Thủ
(Xem: 12117)
Ba học Giới, Định, Tuệ là những nhân tố then chốt nhất của người học Phật, như chiếc đỉnh ba chân, thiếu một tất không thể đứng vững. Nhưng giới học, hay là giới luật học, lại là căn bản nhất... HT Thích Thanh Kiểm
(Xem: 9557)
Luật Học Tinh Yếu - Muốn qua sông phải nhờ thuyền bè, muốn vượt bể khổ sinh tử phải nương nhờ Giới pháp... HT Thích Phước Sơn
(Xem: 16080)
Cúi đầu lễ chư Phật, Tôn Pháp, Tỳ-kheo Tăng, Nay diễn pháp Tỳ-ni, Để Chánh pháp trường tồn... HT Thích Trí Thủ dịch
(Xem: 16815)
Luật Tứ Phần - Việt dịch: HT Thích Đổng Minh; Hiệu chính và chú thích: Thích Nguyên Chứng, Thích Đức Thắng
(Xem: 18395)
Luật nghi của Đức Thế Tôn chế định vì bảo hộ Tăng-già, thanh qui của Tùng Lâm đặt định để thành tựu pháp khí cho già lam, pháp thức hành trì cho cư gia phật tử để xây nền thiện pháp...
(Xem: 22360)
Trải qua nửa thế kỷ thuyết pháp độ sinh, Ðức Ðạo sư đã hóa độ đủ mọi hạng người, không phân biệt màu da, chủng tộc, giai cấp, sang hèn... Thích Phước Sơn
(Xem: 29297)
Sự kiện Đức Phật chấp nhận thành lập giáo hội Tỳ kheo ni, nâng vị trí người nữ đến mức quan trọng nhất, là việc làm duy nhất và chưa từng thấy trong lịch sử tôn giáo...
(Xem: 23706)
Cách tốt nhất để mang lại sự an ổn cho bản thân là hướng về điều thiện, và quy y Tam bảo là nền tảng đầu tiên cho một cuộc sống hướng thiện.
(Xem: 20024)
Phật tử có nghĩa là tự nguyện theo Tam quy (ti-sarana), Ngũ giới (pañca-sila), tức là nương tựa vào Tam bảo (ti-ratana) và giữ gìn năm giới căn bản của đạo Phật.
(Xem: 21539)
Đức Phật thấy rõ bản chất của phiền não tham, sân, si là nguồn gốc khổ đau, Ngài chế ra ba phương thuốc Giới-Định-Tuệ để chữa tâm bệnh tham, sân, si cho chúng sinh...
(Xem: 16991)
Trong lời phàm lệ của quyển Tứ phần giới bổn như thích, Luật sư Hoằng Tán (1611-1685) nói: "Tam thế chư Phật câu thuyết Kinh-Luật-Luận tam tạng Thánh giáo.
Quảng Cáo Bảo Trợ