Logo Hanh Huong
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
13,975,777
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Học Vi Nhân Sư, Hành Vi Thế Phạm

25 Tháng Mười Hai 201419:52(Xem: 3197)
Học Vi Nhân Sư, Hành Vi Thế Phạm

HỌC VI NHÂN SƯ, HÀNH VI THẾ PHẠM

Những bài khai thị buổi sáng của Hòa thượng Tịnh Không
Chuyển ngữ theo bản in của Vân Lâm Tịnh Tông Học Hội, tháng 9-2003
-------------------------------------------------------------

TẬP I

Mục Lục

A. Khai thị về phương pháp tu trì
1. Tu phướctu huệ
2. Sự quan trọng của định - huệ
3. Tổng cương lãnh của việc tu hành
4. Công phu niệm Phật
5. Xung đột
6. Tâm Phật
7. Chấp tướng
8. Nhẫn nhường
9. Giải hành tương ứng
10. Phương pháp niệm Phật
11. Nguyên tắc tu hành
12. Phát bồ đề tâm, một hướng chuyên niệm
13. Làm thế nào mới được vãng sanh
14. Sám hối.
15. Ba giai đoạn của sự tu hành
16. Bồ Tát hạnh
17. Tu thanh phước (phước báo thanh tịnh)
18. Mục tiêu của sự tu hành
19. Ly tướng tu phước (tu phước nhưng chẳng chấp tướng)
20. Phước báotrí huệ
21. Tùy hỷ
22. Khóa tụng sáng tối
23. Tâm thanh tịnh
24. Học
25. Lục Hòa kính
26. Phước huệ nhân quả
27. Thật thà
28. Thừa nguyện tái lai
29. Sửa lỗi
30. Tâm thanh tịnh
31. Chuyển biến phước đức thành công đức
B. Luận sự sanh tử trọng đại
1. Liễu sanh tử
C. Khuyến khích thành kính nhân sanh
1. Thành kính
D. Khuyên tin sâu nhân quả
1. Nhân quả
2. Bố thí pháp
E. Hiểu rõ giáo dục Phật đà
1. Hiểu lý
2. Bản chất của Phật giáo
3. Giới định huệ
F. Điển tích phải đọc
1. Ngũ kinh nhất luận
G. Trả lời nghi vấn học Phật
1. Mục đích của việc xuất gia
2. Năm trăm năm sau
3. Công việc của người xuất gia
4. Chánh tri chánh kiến
5. Hoằng pháp
6. Đời sống của người xuất gia
7. Vãng sanh
8. Ma chướng
9. Chánh tri chánh kiến

HỌC VI NHÂN SƯ, HÀNH VI THẾ PHẠM
Những bài khai thị buổi sáng của Hòa thượng Tịnh Không
TẬP I

Đây là những bài khai thị buổi sáng của hòa thượng Tịnh Không cho đồng tu tại Hoa Tạng Đồ Thư Quán, chưa được hòa thượng giám định. Đây chỉ là những bài ghi chép tóm tắt của đệ tử Ngộ Hữu, chỉnh lý cho gọn rồi viết thành bài nháp này để cúng dường độc giả.

A. Khai thị về phương pháp tu trì (Buổi sáng 02-01-95)

1. Tu phướctu huệ.

Phước và Huệ là hai mục tiêu lớn trong việc tu học Phật pháp. Lúc chúng ta làm lễ truyền thọ Tam Quy Y, trong lời thệ nguyện có câu ‘Quy y Phật, Nhị Túc Tôn’, ‘nhị’ ở đây là phước và huệ, ‘túc’ là đầy đủ, viên mãn. Do đó có thể biết thành Phậttu học phước và huệ viên mãn, được thế gianxuất thế gian tôn kính.

Người trong thế gian xưa nay, trong nước và ngoài nước chẳng ai không cầu phước huệ, thiệt ra chúng sanh vốn sẵn có phước huệ, trong tự tánh vốn sẵn đầy đủ, hơn nữa còn viên mãn rốt ráo. Tại sao hiện nay phước huệ của chúng sanh chẳng còn nữa? Phật nói chúng ta có hai thứ chướng ngại cản trở, đó là Phiền Não ChướngSở Tri Chướng. Phiền Não chướng ngại phước đức, Sở Tri chướng ngại trí huệ. Người có Phiền Não Chướng thì phước đức chẳng có; người có Sở Tri Chướng thì trí huệ chẳng còn nữa; cho nên chỉ cần dẹp bỏ hai chướng này thì phước huệ liền hiện tiền.

Làm thế nào để tiêu trừ hai chướng ngại này? Việc này phải nhờ tu đức. Phước huệ vốn là tánh đức, nếu chẳng có tu đức, phước huệ trong tự tánh chẳng thể hiển lộ, thế nên phải tu hành. Làm thế nào để tu? Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, đức Phật dạy trước hết phải tu Tam phước. Nếu chúng ta chân chánh có thể tin tưởng, chân chánh có thể hiểu đạo lý này, chịu phát tâm tu học thì tri kiến này là trí huệ chân thật; ai thực sự chịu làm thì người đó có phước.

Mọi người đều biết ‘Tam phước’ nhưng tại sao chẳng làm được? Vì nhận thức chẳng đủ, nhận thức chẳng đủ tức là chẳng có trí huệ. Chúng ta nhận thức được một phần thì gắng sức làm một phần. Nhận thức được hai phần thì tự nhiên làm được hai phần, người hoàn toàn chẳng chịu làm là người chẳng có phước huệ. Từ điểm này có thể biết trên phương diện tu đức thì tu huệtu phước là hai thứ bổ xung và thành tựu lẫn nhau.

Trong kinh điển đức Phật thường dạy: ‘Thọ trì, đọc tụng, vì người diễn nói’. Câu này là dạy chúng ta tu hành chân thực. Đặc biệt là ‘vì người diễn nói’, diễn là biểu diễn, là dạy cho chúng ta làm [ra thành tích] cho người ta xem. ‘Nói’ tức là vì người giảng giải, khuyên người học Phật, thế nên ‘diễn’ là thân giáo [lấy bản thân làm gương mẫu cho người], ‘nói’ là ngôn giáo.

2. Sự quan trọng của định - huệ (Buổi sáng 03-01-95)

Mấu chốt của sự học Phật ở tại ‘định’ – ‘huệ’. Kinh Kim Cang dạy: ‘Chẳng chấp vào tướng, như như chẳng động’ (Bất thủ ư tướng, như như bất động). Định tức là như như chẳng động, huệ tức là chẳng chấp vào tướng. Trong kinh Kim Cang đức Phật dạy Tu Bồ Đề quan trọng nhất là hai câu này. Chúng ta cũng có thể dùng hai câu này để phản tỉnh, kiểm điểm mình có trí huệ hay chăng, mình có công phu hay chăng.

Nguyên nhân học Phật chẳng thể thành tựu là vì chẳng có định, chẳng có huệ. Nói một cách khác tức là mê hoặc điên đảo, trong kinh thường gọi là ‘người đáng thương xót’. Vì lúc khởi tâm động niệm có phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, lúc đối xử với người khác vẫn còn tham, sân, si, mạn, vẫn còn đố kỵ, tạo ra nghiệp nhân của ba ác đạo. Bất luận là tham thiền, học kinh giáo, hay niệm Phật, có những hành vi này thì chẳng có cách chi để thoát ly luân hồi, đích thực là phải ghi nhớ lời dạy của Huệ Năng đại sư: ‘Người tu đạo chân chánh chẳng nhìn lỗi người khác’, phải thấy lỗi của mình chứ chẳng thấy lỗi của người thế gian, đây là hai câu quý báu đại sư Huệ Năng dạy cho người đời sau. Nếu chẳng dụng công nơi việc này, đời này cũng sẽ giống như những đời trước, nhất định cũng sẽ luống qua. Tại sao lại luống qua? Vì nhịn chẳng được. Nếu chẳng nhẫn nhịn thì làm sao có định? Lục Ba La Mật cũng giống như đi lên sáu tầng lầu, nếu không lên tầng thứ ba thì chẳng có cách chi lên đến tầng thứ tư, chỉ có bố thí, trì giới, chẳng có nhẫn nhục thì làm sao tu hành thành công được? Cho nên thứ tự tu học Lục Độ là có nhẫn nhục, tinh tấn, mới được thiền định, có được định và huệ thì mới thành tựu. Người có định và huệ thì tâm lượng sẽ lớn, và sẽ tương ứng với tự tánh.

Niệm Phật vãng sanh cũng vậy, chẳng đạt đến tầng thứ sáu thì niệm Phật chẳng thể vãng sanh. Điều kiện thấp nhất của niệm Phật vãng sanhcông phu thành phiến (thành khối), nếu chẳng có định - huệ thì công phu làm sao thành phiến được. Thành phiến nghĩa là thế nào? Lục Tổ nói rất hay: ‘chẳng thấy lỗi của người thế gian’, đây tức là hình dáng của công phu thành phiến. Vẫn còn thấy lỗi thế gian thì nhất định công phu chẳng thành phiến, tại vì trong tâm của bạn vẫn có phân biệt, chấp trước, vẫn còn chướng ngại.

Trong Niệm Phật đường vị sư chủ trì thường nói: ‘Buông xuống thân tâm thế giới’. Nếu bạn buông không nổi thì tâm sẽ chẳng thanh tịnh. Nhìn từ thế gian pháp, nếu mọi người đều có thể thấy lỗi lầm của mình, chẳng thấy lỗi người khác, mọi người trong thế gian sẽ có thể chung sống hòa bình, làm sao thế giới còn đấu tranh nữa! Xã hội nhất định sẽ tường hòa, thế giới nhất định sẽ đại đồng!

Những gì trong kinh nói đến chẳng phải niệm qua một lần là có công đức đâu, quan trọng là phải làm được những điều ấy, chỉ đọc mà chẳng làm thì không có ích gì cả. Lục Tổ dạy rất hay: ‘Việc lớn sanh tử, phước chẳng thể cứu, phải có định - huệ mới có thể cứu; giải ngộ chẳng thể cứu, phải chứng ngộ mới cứu được’. Lúc còn tại thế thầy Lý thường dạy: ‘Người tu hành phải cải tâm’ (cải tâm nghĩa là cải thiện tâm niệm). Cải thiện tâm rồi, hành vi tự nhiên sẽ thiện. Nếu chỉ sửa đổi trên hành vi, chẳng sửa đổi trong tâm thì chỉ là làm giả bộ bên ngoài, trong tâm vẫn còn vọng tưởng, chấp trước, cũng vẫn y như cũ, chẳng có ích chi, quan trọng là phải sửa đổi trong tâm.

3. Tổng cương lãnh của việc tu hành (Buổi sáng 25-01-95)

Tổng cương lãnh của việc tu hành chẳng qua chỉ là phá bỏ hai thứ chấp trước và đoạn phiền não mà thôi. Người Tiểu Thừa thì vì phá ngã chấp mà phá ngã chấp nên phương pháp của họ còn vụng về. Dùng công phu thiền định thâm sâu để đè nén phiền não, chấp trước, để cho nó chẳng hiện hành. Sau khi chứng được Sơ quả thì phải tới lui trong cõi Trờicõi Người bảy lần nữa mới đoạn hết Kiến Tư Hoặc, xuất ly tam giới.

Phương pháp của Đại Thừa vô cùng khéo léo, dạy cho chúng ta phát Bồ Đề Tâm, chuyển phiền não thành Bồ Đề, là dùng phương pháp chuyển biến. Thiệt ra phiền não chẳng thể đoạn được, tại vì phiền não là chỗ khởi dụng của tự tánh, nếu đoạn hết phiền não thì đương nhiên tự tánh cũng bị đoạn mất luôn. Cho nên chỗ khởi dụng của tự tánh khi giác ngộ thì gọi là Bồ Đề, khi mê thì gọi là phiền não, phiền nãoBồ Đề là một sự việc, chỉ khác nhau ở chỗ mê hay ngộ. Thế nên phương pháp tu hành của Đại Thừa là chuyển mê thành ngộ; có thể chuyển mê thành ngộ tức là có thể chuyển phiền não thành Bồ Đề, chuyển sanh tử thành Niết Bàn. Đại Thừa dùng phương pháp chuyển biếntuyệt đối chính xác, đối với lý và sự đều tương ứng. Chỗ này cũng nói rõ người Đại Thừa cao minh hơn Tiểu Thừa, người Tiểu Thừa chẳng có trí huệ nên phải dùng cách đè nén; người Đại Thừatrí huệ nên chuyển biến trở lại.

Gương mẫu tu học của Đại Thừa là năm mươi ba lần tham vấn trong kinh Hoa Nghiêm. Năm mươi ba lần tham vấn này gồm có mọi người trong các ngành nghề, nam nữ già trẻ, thế gianxuất thế gian, hết thảy đều tu Bồ Tát hạnh, vả lại còn là Bồ Tát cao cấp -- Phổ Hiền hạnh. Thế thì chúng ta rốt cuộc có học được hay chưa? Trong sanh hoạt mỗi ngày từ sáng đến tối có phải chúng ta đang tu Bồ Tát hạnh hay không? Có tu hạnh Phổ Hiền không? Nếu có thì mới hy vọng thành Phật, nếu không thì vẫn phải chịu sanh tử luân hồi.

Phải tu học như thế nào? Dùng những điểm chính yếu để nói thì là làm thế nào áp dụng Lục Độ vào trong đời sống hằng ngày. Làm được Lục Độ trong sanh hoạt thì bạn sẽ là Bồ Tát, nếu làm được mười nguyện trong sanh hoạt thì bạn sẽ là Phổ Hiền Bồ Tát rồi đó. Nên biết cội gốc của Đại Thừaphát Bồ Đề tâm, Bồ Đề tâm là gì? Tức là độ hết thảy chúng sanh. Dùng ngôn ngữ ngày nay thì độ hết thảy chúng sanh nghĩa là dốc toàn tâm, dốc hết sức để giúp đỡ hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ, tâm ấy là tâm Bồ Đề.

Làm thế nào để thực hiện? Lục Độthập nguyệnphương pháp. Phải thực hiện Lục Độthập nguyện trong đời sống, sự nghiệp, đó tức là hành Bồ Tát đạo. Lục Độ tức là Bồ Tát đạo, thập nguyện tức là Phổ Hiền Bồ Tát đạo. Việc hành Phổ Hiền hạnh nói trong kinh Vô Lượng Thọ nghĩa là tu thập nguyện vương.

‘Bố thí’ nói theo ngôn ngữ hiện nay tức là ‘hy sinh, cống hiến’. Tự mình chịu hy sinh, chịu cống hiến cho đại chúng, chịu cống hiến cho đoàn thể.

‘Trì giới’ tức là tuân giữ pháp luật, tuân giữ luật lệ, quy củ.

‘Nhẫn nhục’ tức là nhẫn nại. Phải biết nhẫn nại trong công việc, đặc biệt là những sự việc liên quan đến người khác; chúng sanhphiền não, ân oán, bất bình tích lũy từ vô lượng kiếp đến nay. Chúng ta bất kỳ lúc nào cũng có thể gặp được nên phải nhẫn nhịn; đối với hoàn cảnh tự nhiên cũng phải biết nhẫn nhịn.

‘Tinh tấn’ tức là cầu tiến bộ. Không thể nào ‘dậm chân tại chỗ’ hoài, lưu lại trong một phạm vi, một giới hạn hoài. Có rất nhiều đại đức học Phật, tu trì tuy rất tốt, nhưng không thể hoằng pháp lợi sanh, nguyên nhân ở tại chỗ nào? Họ cứ ‘dậm chân tại chỗ’, không chịu tinh tấn. Vì thời đại bất đồng cho nên ý thức, hình thái, phương thức sinh hoạt của chúng sanh cũng không giống nhau. Trong thời đại nào có phương pháp hoằng pháp của thời đại đó, cũng có phương pháp thực hiện Lục Độ, thập nguyện của thời đại đó, cứ giữ chặt phương pháp thời xưa là không được. Sau khi Phật pháp từ Ấn Độ truyền sang Trung Quốc thì liền thay đổi rất nhiều; cách sinh hoạt hằng ngày lúc trước [ở Ấn Độ] là đi trì bát (khất thực), ngủ dưới gốc cây, mỗi ngày ăn một bữa mà thôi. Sau khi truyền đến Trung Quốc thì tiếp nhận sự cúng dường của các vị đồng tu tại gia nên chẳng trì bát nữa, tất cả hoàn cảnh sinh hoạt đều thay đổi. Thế nên phải thích ứng với những nguyên tắc ‘hiện đại hoá, bổn thổ hóa, sanh hoạt hóa’. Đây mới là ý nghĩa chân chánh của sự tinh tấn. Chúng ta phải suy nghĩ từ phương diện này – trong sanh hoạt thường ngày làm thế nào để cầu Giác, cầu Huệ, tu Lục Độ, Thập nguyện. Khi chư vị xem kỹ năm mươi ba lần tham vấn thì sẽ hiểu rõ đạo lý này.

‘Thiền định’ tức là tự mình làm chủ được mình, có cách nhìn của mình, chẳng bị ngoại cảnh lay động, đó là thiền định.

‘Bát nhã’ tức là đối với hết thảy những điều thiệt - giả, tà - chánh, thị - phi, thiện - ác của người, sự, vật đều hiểu rõ ràng, minh bạch, chẳng mê hoặc, chẳng điên đảo. Như vậy chính là trí huệ Bát Nhã.

Thế nên nếu có thể thực hiện Lục Độ, Thập Nguyện trong đời sống của mình thì bạn sẽ vui vẻ. Bất luận làm công việc gì thì cũng là tu Bồ Tát hạnh, hành Bồ Tát đạo. Người hành Bồ Tát đạo này sẽ tràn đầy pháp hỷ, đây tức là chuyển phiền não thành Bồ Đề, chuyển mê hoặc thành giác ngộ.

Phàm phu thế gian nếu cảm thấy bị áp lực trong công việc làm của mình thì sẽ khổ chẳng thể nói nổi, luôn luôn than phiền, có tâm trạng ấy thì nhất định phải luân hồi trong lục đạo. Pháp Bồ Tát Đại Thừa cao minh, vừa chuyển biến tâm niệm thì đã thành Bồ Tát. Họ biết làm việc cần cù là để kết pháp duyên với hết thảy chúng sanh, là để thành tựu Bố Thí Ba la mật cho mình. Cho nên khi tâm niệm vừa chuyển thì khoái lạc vô cùng, hạnh phúc vui vẻ, liền được thoát khổ.

Nếu cảm thấy chẳng thể hòa đồng khi sinh hoạt cùng đại chúng thì đó là tự mình đang sanh phiền não, chứ chẳng phải là đang học Phật. Học Phật là đem những cành lá tạp nhạp này dung hòa trở lại, làm cho nó hóa giải hết. Những cảnh giới này từ nội tâm của mình phát sanh nên cũng phải hóa giải từ nội tâm của mình, thế nên Phật pháp được gọi là ‘Nội Học’. Phật pháp chẳng phải mong cầu nơi người khác mà là cầu nơi mình, mọi người đều có thể hướng vào trong mà khai phát tự tánh của mình, cái đoàn thể này mới gọi là ‘Tăng đoàn’.

Giới luật trong Phật pháp được dùng để yêu cầu chính mình chứ chẳng phải yêu cầu kẻ khác, đây là một cách rất cao minh, chẳng giống với pháp luật thế gian dùng để kềm chế đại chúng. Thế nên phải học Lục Tổ Huệ Năng đại sư, phải ‘thường nhìn thấy lỗi của mình, chẳng thấy lỗi của thế gian’, được vậy thì tâm sẽ chuyển biến thực sự, hướng vào trong và quán chiếu.

Căn bịnh lớn của chúng sanh là ‘chẳng thấy lỗi của mình, chuyên thấy lỗi của kẻ khác’. Chuyên thấy lỗi của kẻ khác thì sẽ tăng trưởng phiền não, sẽ chẳng có cách chi để hướng vào trong mà quán chiếu. Nếu chúng ta chỉ lo hướng vào trong mà quán chiếu, chẳng đếm xỉa đến sự dụ hoặc của ngoại cảnh, ‘chiếu’ như vậy là trí huệ, có thể hoá giải hết phiền não, tập khí.

Chúng ta đọc Lục Tổ Đàn kinh sẽ hiểu [tại sao] những người biết dụng công giống như Lục Tổ đại sư trong nhà bếp xay gạo, chẻ củi, làm những việc nặng nhọckhai ngộ. Tại sao vậy? Vì khi xay gạo, chẻ củi họ có đầy đủ Lục độ, Thập nguyện, nên trong lúc xay gạo, chẻ củi họ tu được hết Lục độ, Thập nguyện. Những người chẳng biết dụng công cho dù mỗi ngày tĩnh tọa tham thiền trong Thiền đường cũng không thể khai ngộ, phiền não tập khí vẫn còn cả đống. Nếu chúng ta biết tu thì lúc rửa chén, lau bàn, hết thảy Lục độ, Thập nguyện đều đầy đủ, được vậy thì làm sao chẳng hoan hỷ chứ? Người không biết dụng công sẽ nghĩ rằng những công việc này quá cực nhọc. Thế nên chuyển cảnh giới tức là chuyển tâm -- chuyển biến tâm lý, thay đổi cách suy nghĩ, thay đổi quan niệm. Sự sai khác giữa người biết tu và chẳng biết tu là ở tại chỗ này.

Pháp sư Đàm Hư trong phần sau của quyển Niệm Phật Luận kể chuyện bà họ Trương ở Thanh Đảo, chùa Trạm Sơn, bà tu hành như thế nào? Mỗi ngày chủ nhật chùa Trạm Sơn có khóa tu niệm Phật, bà vào nhà bếp rửa chén. Chồng bà làm nghề kéo xe chở khách, chẳng ai coi trọng bà, thoạt nhìn bà chỉ rửa chén trong bếp, thực sự lúc đó bà đang tu Lục độ, Thập nguyện. Cho nên bà có thể dự biết ngày giờ ra đi, ngồi mà vãng sanh. Nếu bà chẳng tu tập như vậy thì làm sao có thành tựu như thế? Chỉ có người tu hành mới có thể nhìn biết [ai là] người chân chánh tu hành, người thường trong thế gian chẳng nhìn thấy. Người thế gian chỉ thấy bà là một người chẳng biết chữ, dốt nát, nghe kinh cũng chẳng hiểu, là một người chuyên giúp kẻ khác làm những công việc nặng nhọc. Họ đâu biết người như bà mới đáng gọi là người chân tu, thành tựu của những kẻ nghe kinh, tham thiền chẳng sánh bằng bà. Thế nên phải chân tu, phải hiểu lý, phải thực hiện các nguyên tắc, cương lãnh tu hành ngay trong đời sống thường ngày.

4. Công phu niệm Phật (Buổi sáng 26-01-95)

Có thể vận dụng lý luận của kinh Kim Cang vào trong pháp môn Tịnh Độ chính là câu ‘phát Bồ Đề tâm, một hướng chuyên niệm’ trong kinh Vô Lượng Thọ. Cả bộ kinh Kim Cang dạy chúng ta phát Bồ Đề tâm, Bồ Đề tâmcăn bản, các pháp môn Đại Thừa đều được xây dựng trên cơ sở của Bồ Đề tâm. Chỉ cần phát được tâm Bồ Đề thì bất luận tu học pháp môn nào cũng sẽ thành tựu, người niệm Phật cũng sẽ nhất định vãng sanh. Lý do chính niệm Phật chẳng thể vãng sanh là vì chẳng phát Bồ Đề tâm, cho nên tuy có ‘một hướng chuyên niệm’ cũng chẳng thể vãng sanh. Người xưa nói: ‘Một ngày niệm mười vạn tiếng Phật hiệu, hét bể cổ họng cũng uổng công’. Tại sao chẳng được? Tại vì ‘Tâm tịnh thì cõi tịnh’, tâm phải tịnh thì mới vãng sanh được.

Ngẫu Ích đại sư nói rất hay: ‘Phẩm vị vãng sanh cao hay thấp là do công phu niệm Phật sâu hay cạn, chẳng phải là Phật hiệu nhiều hay ít’. Sâu hay cạn là nói về cái gì? Là nói đến tâm thanh tịnh. Công phu niệm Phật có thể chia thành ba tầng – Lý Nhất tâm bất loạn là sâu nhất, kế đó là Sự Nhất tâm bất loạn, sau cùng là Công phu thành phiến. Nếu chẳng có công phu bậc này, niệm nhiều hơn bao nhiêu cũng chẳng được vãng sanh. Công phu thành phiến là như thế nào? Tức là tâm thanh tịnh, trong tâm chẳng có xen tạp, chẳng có vọng niệm, chỉ chuyên chú trên một câu Phật hiệu, chuyên chú tại y báo, chánh báo trang nghiêm của Tây phương Cực Lạc thế giới.

Tiêu chuẩn của kinh Kim Cang tức là tiêu chuẩn của Lý Nhất tâm bất loạn. Nhưng Lý Nhất tâm bất loạn cũng có sâu cạn khác nhau. Kinh Kim Cang nói: ‘Hết thảy hiền thánh đều do Vô Vi pháp mà có chỗ sai khác’. Hết thảy hiền thánhtam hiền, thập thánh, tức là bốn mươi mốt vị Pháp Thân đại sĩ nói trong kinh Hoa Nghiêm, họ đều đạt đếnNhất tâm. Tuy cùng đạt đếnNhất tâm bất loạn, công phu vẫn còn sâu cạn khác nhau, nhưng đến khi cứu cánh viên mãn thì đều thành Phật.

Những thứ này đều là nói về ‘Tự phần’ – công phu của tự mình, chưa nói đến sự gia trì của A Di Đà Phật. Nếu luận về sự gia trì của A Di Đà Phật thì mọi người đều bình đẳng. Đây là sự khác biệt giữa Cực Lạc thế giới và tha phương thế giới, Cực Lạc thế giớiPhật lực gia trì. Nếu tự mình chịu nỗ lực, công phu của mình đã đắc lực, phẩm vị tăng lên, đến Tây phương Cực Lạc thế giới thành Phật sẽ nhanh hơn; người vãng sanh mà phẩm vị Tự phần hơi thấp tuy cũng được Phật lực gia trì nhưng sẽ viên mãn thành Phật chậm hơn. Cũng tức là thời gian đạt đến viên mãn Bồ Đề có sự nhanh chậm khác nhau.

5. Xung đột (Buổi sáng 26-01-95)

Xung đột giữa người với người ở tại chỗ nào? Ở chỗ lợi hại (quyền lợi). Chúng ta đối với người chẳng có lợi hại thì sẽ rất dễ tiếp xúc, đối đãi lẫn nhau, thiệt có thể làm được ‘chẳng tranh với người, chẳng cầu với đời’. Trong kinh Kim Cang có hai câu: ‘Chẳng chấp vào tướng, như như chẳng động’, làm được vậy thì mới giống một người tu hành.

Mọi người tụ lại ở một chỗ nhất định phải có một mục tiêu phương hướng chung để cùng nhau nỗ lực, đây là một khái niệm cơ bản. Ngoài ra còn phải đồng tâm hiệp lực, nỗ lựcPhật giáo, vì chúng sanh, nhất định phải xả bỏ lợi ích cá nhân. Chẳng kể là xuất gia hay tại gia đều nên buông xuống, nếu buông xuống chẳng nổi thì đây sẽ là một chướng ngại to lớn. Đương nhiên chướng ngại nghiêm trọng nhất là chướng ngại tự mình, không những tự mình không thể thành tựu, cho đến việc vãng sanh, khai ngộ, thậm chí đến việc đạt được niệm Phật tam muội cũng không chắc, bởi vậy nên nhất định phải buông xuống.

Tu hành thiệt ra chẳng phải là một việc dễ dàng, người chân chánh muốn tu hành trong một đoàn thể phải tập tánh khiêm nhượng, học khách sáo, học nhẫn nhường. Khổng Lão Phu Tử dạy chúng ta phải giữ lễ, lễ là gì? Lễ là tự ty [hạ thấp mình] và tôn trọng người khác. Phải giảm bớt sự xích mích, giảm bớt xung đột, luôn luôn nhẫn nhường, như vậy mới có thể thành công, lập đại nghiệp.

Người quá nổi danh sẽ bị đố kỵ, đây cũng là hiện tượng thông thường vì con ngườiphàm phu, đố kỵsân hậntập khí từ vô lượng kiếp đến nay, nếu chẳng có những tập khí này thì họ đã là Phật, Bồ Tát tái lai rồi.

6. Tâm Phật (Buổi sáng 26-01-95)

Bất cứ lúc nào chúng ta cũng phải giữ tâm chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi. Thường thường dùng tâm này để kiểm điểmphản tỉnh; chúng ta có tâm này hay không? Có tâm này tức là tâm Phật, mới có tư cách học Phật, mới có tư cách vãng sanh.

Trong lúc xử sự, đãi người, tiếp vật, tu hành phải nắm giữ những nguyên tắc này: nhìn thấu, buông xuống, tự tại, tùy duyên, phải niệm Phật. Nếu có thể giữ chặt những nguyên tắc cơ bản này thì sẽ chẳng sai lầm. Thật sự có thể nắm lấy thì hết thảy sự việc của mình đều giao cho Phật, Bồ Tát, thần hộ pháp an bài. Đây là lời Chương Gia đại sư dạy tôi lúc trước: ‘Một người chân chánh muốn học Phật, chân chánh là người muốn hoằng pháp lợi sanh thì đừng lo lắng suy nghĩ về tương lai, sanh hoạt của mình, chư Phật sẽ hộ niệm, thần hộ pháp sẽ chiếu cố, lo lắng cho bạn’ Việc gì cũng chẳng cần phải suy nghĩ, một lòng một dạ làm theo lời dạy trong kinh điển, Phật pháp coi trọng thực hành, nếu có thể làm được thì sẽ tương ứng, làm chẳng được thì sẽ chẳng có tương ứng (cảm ứng).

7. Chấp tướng (Buổi sáng 29-01-95)

Tâng bốc, khen ngợi mình, hạ thấp người khác trong Du Già Giới Bổn là một giới nặng nhất -- giới tự tán hủy tha. Trong Phạm Võng Giới Bổn thì thấp hơn bốn giới trọng. Tại sao lại nặng như vậy. Vì chấp tướng. Tiêu chuẩn của kinh Kim Cang nói chấp bốn tướng thì chẳng phải Bồ Tát. Nếu cống cao ngã mạn, cứ nghĩ mình đúng, cứ nghĩ mình hạng nhất thì tiêu tùng rồi, cho dù làm được rất nhiều việc tốt thì cũng là phước báo hữu lậu của thế gian, đối với việc liễu sanh tử, xuất tam giới chẳng có liên quan gì hết.

Chúng ta học Phật, đặc biệt là người xuất gia, một lòng một dạ phải muốn thoát ly tam giới, đây là phương hướng, mục tiêu chung. Hết thảy danh văn lợi dưỡng, vinh hoa phú quý trong thế gian đều phải xả bỏ sạch sành sanh từ trong tận đáy lòng, phải niệm niệmPhật pháp, vì chúng sanh, vì muốn tương ứng với bổn nguyện của A Di Đà Phậtmười phương chư Phật. Nếu niệm niệm vẫn còn một cái ‘Ta’ tồn tại thì sẽ tương ứng với ma. Chỗ khác nhau của ma và Phật tức là niệm niệm của ma đều vì tự mình.

8. Nhẫn nhường (Buổi sáng 30-01-95)

Người xưa nói: ‘Xử sự khó, đối xử với người còn khó hơn’. Con ngườiphàm phu, tâm người biến đổi muôn vàn, tâm niệm của phàm phu thay đổi tùy theo cảnh giới thì giao thiệp, tiếp xúc đương nhiên sẽ khó khăn, nguyên tắc duy nhất chính là nhẫn nhường. Phải mở rộng tâm lượng của mình, tập tánh dung hòa, tập nhẫn nhường, tránh hết thảy xung đột, va chạm, hộ trì tinh thần giới luật của đạo tràng -- lục hòa kính. Hộ trì lục hòa kính tức là nhẫn nhường, nếu chẳng thể nhẫn, chẳng thể nhường thì hòa kính sẽ bị phá hoại, trong giới luật gọi là ‘phá hòa hợp tăng’. Tội phá hòa hợp tăng là một trong năm tội ngũ nghịch, đây là nghiệp nhân đọa địa ngục A Tỳ. Trong năm tội ngũ nghịch, bốn tội kia chẳng dễ phạm đến, chỉ có tội này dễ phạm nhất, vả lại còn phạm một cách vô cớ [phạm rồi mà người đó chẳng hay biết], chỉ có người một lòng hướng về đạo, người có thể nhẫn nhường mới tránh khỏi mà thôi.

Giống như lời của Lục Tổ: ‘Nếu là người tu đạo chân chánh thì chẳng thấy lỗi của người khác’. Họ chỉ vì việc lớn sanh tử nên luôn giữ tâm cảnh giác cao độ. Một lòng một dạ muốn liễu sanh tử, xuất tam giới, hết thảy việc trong thế gian đều chẳng liên can gì với họ. Cảnh thuận, cảnh nghịch gì cũng tùy thuận vì họ coi việc liễu sanh tử là quan trọng nhất. Người niệm Phật chúng ta đem việc vãng sanh làm việc quan trọng hàng đầu, trừ việc cầu vãng sanh chẳng có việc gì khác đáng giữ trong tâm.

Người chân chánh từ bi gặp đồng tham đạo hữu vi phạm quy củ, phá giới, làm việc ác, không những phải bao dung nhẫn nại mà còn phải dùng trí huệ, thiện xảo cảm hóa họ, như vậy mới là đại từ đại bi.

9. Giải hành tương ứng (Buổi sáng 30-01-95)

Xây dựng đạo tràng, hộ trì đạo tràng nhất định phải giải hành tương ứng. Giảng kinh thuyết pháp là Giải môn, lãnh chúng tu hành là Hành môn, cả hai đều quan trọng, cả hai đầy đủ mới là một đạo tràng hoàn chỉnh. Nhưng người tu hành có đầy đủ giải và hành từ xưa đến nay rất hiếm, nếu cả hai đều chẳng đủ thì thà chọn Hành môn, chẳng cầu Giải môn.

Chọn hành môn, tức là cảm thấy mình chẳng hiểu, chẳng biết gì cả, việc gì cũng chẳng sánh bằng người khác, người như vậy sẽ rất khiêm tốn, chịu chắc thật niệm Phật, thông thường người như vậy sẽ được vãng sanh phẩm vị rất cao. Người có Giải nhưng chẳng có Hành thì hoàn toàn tương phản, họ cống cao ngã mạn, cứ nghĩ mình giỏi nhất, cứ coi thường việc tu hành, sẽ chẳng thể vãng sanh.

Lãnh chúng tu hành là công việc tự lợi, lợi tha, quan trọng nhất là phải chân thành, chân thật, tự mình có tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm cung kính, tâm từ bi thì sẽ thành công.

10. Phương pháp niệm Phật (Buổi sáng 30-01-95)

Tu hành dụng công muôn vàn phải ghi nhớ chẳng thể coi việc khởi vọng tưởng thành quán chiếu. Nhưng lúc mới bắt đầu học, đích thực là có dùng tâm ý thức, nếu quán chiếu đắc lực thì vọng tưởngphiền não sẽ giảm bớt, trí huệ sẽ tăng trưởng, việc này cho biết việc tu hành của mình đã đi đúng đường. Nếu vẫn còn vọng tưởng, phiền não chẳng đoạn hết thì chứng minh công phu quán chiếu của mình chẳng đắc lực, đây là chỗ khó khăn của phương pháp tu hành thông thường.

Phương tiện của Tịnh Độ Tông là dùng tâm ý thức chuyển thành trì danh hiệu, công đức của danh hiệu chẳng thể nghĩ bàn, danh hiệu đích xác là chân thật nên dùng vọng tâm, tâm ý thức để trì danh hiệu chân thật này, vọng tâm này tức là chân tâm. Đây là chỗ thù thắng của pháp môn niệm Phật, cũng là chỗ hết thảy pháp môn khác chẳng có, thế nên mới gọi pháp môn này là pháp môn phương tiện hạng nhất.

Bất cứ lúc nào, chỗ nào đều có thể quy về danh hiệu này, cho đến khi công phu thành phiến, trình độ này cũng giống như trình độ ‘quán chiếu’ trong Tông Môn. Nếu có thể niệm đến Sự nhất tâm bất loạn tức là ‘chiếu trụ’. Niệm đến Lý nhất tâm bất loạn tức là ‘chiếu kiến’. Thế nên cổ đức thường nói: ‘pháp môn niệm Phật thầm hợp đạo diệu’ (Niệm Phật pháp môn, ám hiệp đạo diệu). Đạo diệu tức là minh tâm kiến tánh, rất nhiều người dùng phương pháp này đắc được định, kiến tánh. Cho dù chẳng được định, chẳng kiến tánh, cũng có thể vãng sanh. Tổ sư đại đức cũng nói:

‘Gặp được Di Đà thì lo gì chẳng khai ngộ’

(Đản đắc kiến Di Đà, hà sầu bất khai ngộ).

Khai ngộ tức là minh tâm kiến tánh, một khi vãng sanh thì tuyệt đối sẽ khai ngộ, sẽ kiến tánh. Điểm thù thắng của pháp môn Tịnh Độ là ở tại chỗ này.

Nhưng nguyên tắc tu học của pháp môn Tịnh Độ là phải ‘Phát Bồ Đề tâm, một hướng chuyên niệm’. ‘Một hướng’ tức là một phương hướng, một lòng một dạ. Bồ Đề tâm là gì? Ngoài cái tâm mình nhất quyết cầu vãng sanh còn phải dùng những thiện xảo phương tiện giới thiệu pháp môn niệm Phật cho người khác, đây tức là Bồ Đề tâm. Vì chúng ta hiểu rõ chỉ có pháp môn này có thể đoạn phiền não, xuất tam giới, có thể bất thoái thành Phật.

Cho nên việc lớn nhất suốt cả đời của người tu học Tịnh Độ là tự mình cầu sanh Tịnh Độ, giới thiệu pháp môn niệm Phật cho người khác, tự hành hóa tha. Trừ việc này ra chẳng còn tâm niệm nào khác nữa, như vậy gọi là ‘phát Bồ Đề tâm, một hướng chuyên niệm’. Có tâm nguyện như vậy thì hành trì nhất định sẽ vãng sanh. Tuy chẳng dồn sức để đoạn phiền não, vọng tưởng, nhưng nó sẽ từ từ giảm bớt, trí huệ sẽ tự nhiên tăng trưởng hằng ngày.

11. Nguyên tắc tu hành (Buổi sáng 01-02-95)

Việc quan trọng nhất trong việc tu hành là nắm lấy cương lãnh, giữ chặt nguyên tắc, công phu sẽ dễ đắc lực. Cương lãnh, nguyên tắc tức là ‘Phát Bồ Đề tâm, một hướng chuyên niệm’. Nhất định phải hiểu tường tận đạo lýý nghĩa của hai câu này, phải thực hành theo ‘Nguyên tắc phải tuân thủ của đồng học Tịnh Tông’, đó là Tam Phước, Lục Hòa, Tam Học, Lục Độ, Thập Nguyện. Nhất định phải ứng dụng trong đời sống hằng ngày, đây tức là tự hành hóa tha.

Tiết lục (trích lục, trích đoạn và ghi chép lại) của cuốn ‘Yếu lược Sa Di Luật Nghi’ tức là những điểm chính của năm khoa mục nêu trên, thế nên ‘Nguyên tắc tu hành’ là thuộc về Hạnh Kinh. Kinh có bốn thứ là Giáo, Lý, Hạnh, Quả. ‘Hạnh Kinh’ là muốn chúng ta thật sự làm được. Chúng ta thực sự có thể dùng tâm ‘chân thành, cung kính’ để tu học, phục vụ chúng sanh, nhất định sẽ được pháp hỷ sung mãn, sẽ được tâm thanh tịnh. Có thể dùng tâm chân thành, tâm cung kính để phục vụ hết thảy chúng sanh chính là tu học Đại Thừa.

Trong pháp Đại Thừa, viên mãn cứu cánh nhất là ‘Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh’. Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát là gì? Tức là Lễ Kính Chư Phật, Xưng Tán Như Lai, Quảng Tu Cúng Dường, Sám Hối Nghiệp Chướng, Tùy Hỷ Công Đức, Thỉnh Chuyển Pháp Luân, Thỉnh Phật Trụ Thế, Thường Tùy Phật Học, Hằng Thuận Chúng Sanh, Phổ Giai Hồi Hướng. Những hạnh này đều nằm trong sinh hoạt hằng ngày. Lễ kính nhất định phải bao gồm chân thành, cung kính; xưng tán nhất định phải pháp hỷ sung mãn; rộng tu cúng dường tức là phục vụ hết thảy chúng sanh. Thế nên Phổ Hiền hạnh bao gồm phạm vi rất rộng lớn, chẳng phải chỉ là lấy một chút tiền bỏ vào bao giấy đỏ là cúng dường đâu, quan điểm này là sai lầm.

Bồ Tát đạotinh thần của Phật pháp Đại Thừa chính là rộng tu cúng dường, rộng độ chúng sanh. Kinh Kim Cang nói: ‘Ta làm cho hết thảy chúng sanh đều nhập Vô Dư Niết Bàn để diệt độ’ (Nhất thiết chúng sanh, ngã giai linh nhập Vô Dư Niết Bàn nhi diệt độ chi) . Nói theo cách bây giờ thì là: ‘Tận tâm tận lực giúp đỡ hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ’. Kết quả của việc phá mê khai ngộ tự nhiên sẽ là lìa khổ được vui. ‘Mê, phải giúp họ phá hết; Ngộ, phải giúp họ viên mãn’, đây tức là thành Phật, tức là ‘nhập Vô Dư Niết bàn, nhi diệt độ chi’. Nếu chẳng sanh về Tây phương Cực Lạc thế giớitu hànhthế giới này, hoặc tu hành tại mười phương cõi Phật phải trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp mới viên mãn. Nếu có người hỏi tại sao phải chọn Tịnh Độ? Chúng ta có thể nói với họ: ‘Là vì sợ luân hồi, sợ sanh tử, sợ dày vò, sợ chướng ngại, và vì tự lợi lợi tha đạt đến viên mãn nên mới quyết định cầu sanh Tịnh Độ’.

Sanh đến Tây phương Cực Lạc thế giới chính là như trong kinh có nói: ‘Hết thảy khổ nạn đều lìa khỏi’. Hơn nữa có thể trong thời gian ngắn viên mãn thành tựu Phật quả. Trí huệ đức năng viên mãn hiện tiền, sau đó mới trở lại chín pháp giới rộng tu cúng dường, phục vụ cho chúng sanh thì sẽ chẳng có chướng ngại nữa, đây tức là việc nhà Phật thường nói: ‘thừa nguyện tái lai’.

12. Phát bồ đề tâm, một hướng chuyên niệm (Buổi sáng 02-02-95)

Người niệm Phật ít nhất phải hiểu rõ tám chữ ‘Phát Bồ Đề tâm, một hướng chuyên niệm’. Nếu chẳng hiểu rõ tám chữ này thì chẳng thể nào niệm được tốt, công phu sẽ chẳng được đắc lực. Không những chẳng thể chuyển cảnh giới, mà vẫn bị cảnh giới chuyển như cũ; bị cảnh giới chuyển tức là tiếp tục luân hồi lục đạo. Nếu có thể chuyển cảnh giới thì nhất định sẽ được vãng sanh, cho nên tám chữ này vô cùng quan trọng.

Bồ Đề tâm là gì? Làm thế nào phát? Kinh Kim Cang nói: ‘Sanh tâm’, Sanh tâm tức là phát tâm, sanh tức là sanh khởi, ý nghĩa giống như phát khởi. Cư sĩ Giang vị Nông trong cuốn Kim Cang Giảng Nghĩa nói: ý nghĩa của chữ ‘sanh’ sâu và rốt ráo hơn chữ ‘phát’.

Một hướng chuyên niệm, một hướng có nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Nghĩa hẹpniệm niệm đều hướng về Tây phương Cực Lạc thế giới. Một phương hướng, hướng về Tây phương Tịnh độ, như vậy mới có thể vãng sanh, đây là thuộc về ‘sự’, có thể đạt được Sự nhất tâm. Nói theo nghĩa rộng, ‘nhất’ là Nhất chân pháp giới, hướng về Nhất chân pháp giới. Phàm phu, Nhị Thừa, Quyền Giáo Bồ Tát chẳng biết Nhất chân pháp giới, chẳng nhập vào Nhất chân pháp giới nên vọng tưởng, chấp trước, chướng ngại trùng trùng.

Nhất chân pháp giới ở tại đâu? Thiệt ra, chẳng nơi đâu chẳng phải, chẳng lúc nào chẳng phải [là Nhất Chân Pháp Giới]. Người hiện nay ưa nói về ‘đột phá’. Nhất chân thì sẽ đột phá hết thảy. Các khoa học gia và triết học gia trong thế gian tư duy, tưởng tượng, cảm nhận về thời [gian và] không [gian], đặc biệtthời gian không gian nhiều chiều, tức là không gian bốn chiều, không gian năm chiều, sáu chiều, … cho đến không gian vô số chiều, trên thực tế tức là ‘pháp giới’ nói trong nhà Phật. Pháp giới chia một cách đại khái thì có mười pháp giới, nếu chia nhỏ ra thì thành vô lượng vô biên, cách nói này rất kề cận với không gian vô số chiều. Những hiện tượng này đều là từ vô minh, bất giác sanh ra, nếu có thể đột phá từng tầng thì có thể nhìn thấy Nhất chân pháp giới; khi nhìn thấy Nhất chân pháp giới thì thành Phật rồi, như nhà thiền nói ‘kiến tánh thành Phật’. Nhất chân tức là chân tánh, chân tâm. Phật nói hết thảy vạn pháp duy tâm mà hiện, thập pháp giới y báo, chánh báo trang nghiêm (không gian nhiều chiều) là do duy thức biến. Có thể nương vào phương hướng này một hướng chuyên niệm thì sẽ được Lý nhất tâm bất loạn, đây gọi là ‘biết niệm Phật’, công phu dễ đắc lực.

Hiện tượng công phu đắc lực tức là vọng tưởng, phiền não, phân biệt, chấp trước sẽ ngày càng giảm bớt, trí huệ ngày càng tăng trưởng, tâm địa ngày càng thanh tịnh, tự tự nhiên nhiên sẽ buông xuống. Họ từ bi, họ chịu niệm Phật, đây đều là hiện tượng công phu đắc lực. Trong đời sống hằng ngày những hiện tượng này của chúng ta chẳng thể hiện tiền tức là còn mê hoặc điên đảo rất nặng cho nên công phu chẳng thể đắc lực.

Lời nói của Phật, câu nào câu nấy cũng đều chân thực. Kinh Kim Cang nói: ‘Phàm hết thảy các tướng đều là hư vọng’. Hết thảy tướng đích thực là hư vọng, là mộng, huyễn, bọt, bóng. Nếu ở trong đó khởi tâm động niệm, phân biệt, chấp trước, như vậy tuyệt đốisai lầm. Nghĩ trong đó có thể có cầu, có được thì tuyệt đốivọng tưởng. Có những vọng tưởng, phân biệt, chấp trước này bày trước mặtchướng ngại to lớn. Không những chướng ngại chứng đạo, vãng sanh, còn chướng ngại công phu đắc lực. Những thứ chướng ngại này đều do tự mình tạo thành nên vẫn phải do mình tự giải trừ, bất cứ người nào cũng chẳng thể giúp mình giải trừ, cho dù là Phật, Bồ Tát cũng chẳng có năng lực ấy.

13. Làm thế nào mới được vãng sanh (Buổi sáng 03-02-95)

Trong cả đời tu học nếu người tu hành chẳng thoát khỏi tam giới thì chẳng kể là thành công, nhưng siêu việt tam giới thực sự là một việc rất khó. Tuy nói Tịnh Độ là pháp dễ hành (dễ hơn so với những pháp môn khác), trên thật tế thì cũng chẳng dễ, thế nên người niệm Phật thì nhiều nhưng người vãng sanh rất ít.

Người vãng sanh thực sự gồm có hai hạng. Một hạng là những người thượng căn lợi trí, họ có thể thông suốt chân tướng sự thật nên họ chẳng hoài nghi, chẳng xen tạp, tịnh niệm tiếp nốivãng sanh. Hạng thứ nhì là những người ‘ngu độn’, phần đông thường nói là những ông già, bà cả, cái gì họ cũng chẳng biết, chẳng hiểu, nhưng họ chết lòng trọn ý niệm câu A Di Đà Phật đến cùng, những người này cũng có thể vãng sanh. Còn những người ở chính giữa chẳng phải là thượng trí cũng chẳng phải là hạ ngu thì khó hơn. Tại vì họ có phân biệt, có tri kiến, đây tức là chướng ngại. Chúng ta phải nên lắng lòng suy nghĩ xem chúng ta thực sự thuộc về hạng nào?

Bắt chước theo người thượng trí rất khó; bắt chước người ngu chỉ cần thực sự chịu học theo thì có thể học được, tức là phải buông xả hết thảy. Quan trọng nhất là phải buông xả hết danh văn lợi dưỡng. ‘Lợi dưỡng’ bao gồm ngũ dục, lục trần, ‘danh văn’ bao gồm quyền thế, địa vị, hết thảy chúng ta đều đừng đụng đến, chỉ một lòng một dạ chắc thật niệm Phật, phục vụ đại chúng.

Như Đàm Hư pháp sư nói trong phần sau của cuốn Niệm Phật Luận, trong những người xuất gia có thầy Tu Vô, thầy là người ngu độn, cái gì cũng chẳng biết, cái gì cũng chẳng hiểu. Bà họ Trương ở chùa Trạm Sơn, Thanh Đảo, chồng bà làm nghề kéo xe chở khách, một ngày không kéo xe thì chẳng có cơm ăn. Mỗi ngày chủ nhật chùa Trạm Sơn có pháp hội, bà đều đến nhà bếp giúp việc rửa chén, bà làm những việc cực nhọc này, bạn hãy xem họ vãng sanh vô cùng thong dong, tự tại! Đó là những người ‘ngu độn’. Người ngu cũng có thể vãng sanh, người tuyệt đỉnh thông minh cũng có thể vãng sanh, những người ở chính giữa hai hạng này thì khó hơn nhiều.

Khó khăn đều là chướng ngại do mình tạo ra – tranh danh đoạt lợi, tham hưởng lợi dưỡng. Chúng ta có thể gặp được pháp môn Tịnh Độ là một nhân duyên hiếm có, nếu luống qua nhân duyên hy hữu này thì thiệt là vô cùng đáng tiếc!

14. Sám hối (Buổi sáng 04-02-95)

[Các pháp] trong Hạnh môn có thể tóm lại thành một, đó chính là pháp Sám hốiSám hối nghiệp chướng [trong thập nguyện] Phổ Hiền Bồ Tát. Điều quan trọng trong pháp sám hốisửa đổi tâm niệm, sửa đổi hành vi, dù chẳng có hình thức nhưng là chân sám hối. Nếu có đầy đủ hình thứcy theo kinh văn mà làm lấy có, chẳng biến cải tâm niệm thì chẳng phải là sám hối, chẳng có ích gì hết.

Phật dạy Bồ Tát tu hành tức là dạy Bồ Tát nên nghĩ tưởng về chúng sanh, phục vụ chúng sanh, đó là Bồ Tát đạo, Bồ Tát hạnh. Luôn vì chúng sanhBồ Tát đạo, phục vụ cho chúng sanhBồ Tát hạnh. Phàm phu khi khởi tâm động niệm đều vì mình, đều làm cho mình, thế nên chỗ khác biệt giữa Phật, Bồ Tátphàm phu là ở tại chỗ này.

Hộ trì đạo tràng điểm quan trọng nhất là Lục hòa kính, xả bỏ Lục hòa kính thì chẳng là đạo tràng Phật pháp, chẳng phải đạo tràng của Phật thì nhất định phải là đạo tràng của ma. Đạo tràng của Phật là dùng để hoằng pháp lợi sanh, là nơi để hướng dẫn đại chúng tu hành, làm cho đại chúng phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui. Hướng về mục tiêu này mà làm thì đúng, đây là đạo tràng của Phật. Nếu chiếm giữ đạo tràng của Phật mà chẳng làm công tác giáo học, bỏ việc chánh và chuyên làm những chuyện chẳng cần thiết thì là ma sự. Là Phật hay là Ma đều ở tại một niệm, làm Phật thì có thể vãng sanh, làm Ma thì đời sau nhất định sẽ đi vào tam ác đạo, cho dù bạn làm hết thảy thiện pháp thì cũng chẳng tránh khỏi đọa lạc. Tại sao vậy? Vì bạn đã phá hoại chánh pháp. Do đó hết thảy thiện pháp chẳng bù nổi tội lỗi này.

15. Ba giai đoạn của sự tu hành (Buổi sáng 05-02-95)

Đích thực chúng ta đã gặp chẳng ít người chân chánh muốn tu hành, thực sự muốn thành tựu, nhưng cửa ải khó khăn nhất là vọng tưởng và tạp niệm, muốn trừ nhưng chẳng trừ nổi. Vấn đề này chẳng phải người đời nay mới có, từ xưa đến nay đều như vậy. Trong kinh điển đức Phật dạy chúng ta, đây cũng là một đề mục chính, làm thế nào để đoạn trừ vọng tưởng, chấp trước. Thực ra hết thảy các kinh luận đều nhằm giải quyết vấn đề này. Phật đã giảng rất thấu triệt, phương pháp cũng rất khéo léo, đáng tiếc là chúng ta chẳng ráng sức mà làm nên từ vô lượng kiếp đến nay đều bị vọng tưởng phiền não trói buộc, chẳng thể giải thoát. Có rất nhiều phương pháp giải quyết mà trong đó niệm Phật đích thực là một phương pháp tốt nhất nhưng nhiều người chẳng dùng.

Người niệm Phật, miệng niệm Phật hiệu nhưng trong tâm khởi vọng tưởng không ngừng, như vậy thì chẳng thể thành tựu. Miệng niệm và tâm cũng phải niệm, tâm và miệng có tương ứng thì công phu mới đắc lực. Đắc lực tức là có thể đè nén vọng tưởng, phiền não. Đè nén được lâu rồi thì sẽ đắc định, sẽ thành tựu tam muội. Định được lâu thì sẽ khai mở trí huệ, trí huệ vừa khai mở thì liền chuyển phiền não thành Bồ Đề, chuyển sanh tử thành Niết bàn, đó là thành công. Chỉ cần công phu được đắc lực, có thể đè nén vọng tưởngphiền não thì có thể đới nghiệp vãng sanh. Đây là chỗ pháp môn này thù thắng hơn những pháp môn khác. Chỉ cần chịu dụng công thì ai cũng có khả năng làm được hết.

Vãng sanh đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, cổ đức nói: ‘Đã gặp được Di Đà thì lo gì chẳng khai ngộ’, gặp được đức Phật A Di Đà thì chẳng ai chẳng khai ngộ. Khai ngộ là khai mở trí huệ, khai trí huệ tức là chuyển phiền não thành Bồ Đề.

Chúng ta thường đề xướng khuyến khích mọi người, sự tu hành của chúng ta có ba giai đoạn:

a. Giai đoạn thứ nhất: Đọc thuộc kinh văn. Niệm kinh ba ngàn lần, đọc thuộc lòng kinh, ghi nhớ lời dạy trong kinh, nếu lời dạy của Phật cũng chẳng nhớ thì tu cái gì? Làm sao để tu theo lời dạy? Đây là bước thứ nhất.

b. Giai đoạn thứ nhì: Yêu cầu viên giải. Phải hiểu rõ những lời dạy của Phật, phải hiểu được viên dung thì mới chẳng chết cứng trên văn tự. Phải hiểu lời dạy của Phật là có nguyên lý nguyên tắc gì, phải có thể ứng dụng những lời dạy này một cách khéo léo trong đời sống hằng ngày, như vậy mới chẳng là chỉ đọc suông, đó mới là khai trí huệ.

c. Giai đoạn thứ ba: Là phải thực hành, y theo lý luậnphương pháp dạy trong kinh để sửa đổi tư tưởng, sự hiểu biết, hành vi sai lầm của mình, như vậy mới gọi là chân chánh tu hành, như vậy thì mới vãng sanh được. Chứ chẳng phải đọc kinh ba ngàn lần là xong xuôi, đọc như vậy chẳng có ích gì hết. Phải biết từ đầu đến cuối Phật pháp đều chú trọng thực hành, nghĩa là phải làm cho bằng được.

Chân chánh tu hành là tu ở nơi khởi tâm động niệm chứ chẳng phải là ở chỗ học thuộc lòng. Nhớ nhiều, hiểu nhiều chẳng hữu dụng gì hết, phải làm cho bằng được. Có thể làm được một phần thì sẽ được một phần lợi ích; làm được hai phần thì được hai phần lợi ích, nếu chẳng hết lòng nỗ lực mà làm thì lợi ích chân thật này chẳng thể nào đạt được.

16. Bồ Tát hạnh (Buổi sáng 07-02-95)

Phật dạy chúng ta những gì: Tổng hợp lại thì chính là ‘sửa đổi tâm niệm’. Tâm phàm phu là gì? Tâm Phật, Bồ Tát là gì? Phải hiểu rõ, minh bạch hoàn toàn. Làm thế nào để thay đổi tâm phàm phu thành tâm Phật? Làm sao thay đổi sự hành trì của phàm phu trở thành sự hành trì của Phật, Bồ Tát? Nếu tự mình chúng ta chẳng hiểu đạo lý này, chẳng gắng sức đi làm mà còn giả danh Phật pháp, dạy sai chúng sanh, tội lỗi đều ở địa ngục A Tỳ, đây là việc Phật, Bồ Tát chẳng muốn nhìn thấy. Cho nên những người đảm nhiệm trọng trách giáo học nhất định phải ráng sức nỗ lực khắc phục tập khí, khó khăn của mình.

Phật phápThế pháp là một chứ chẳng phải hai. Dùng tâm của Phật, Bồ Tát vào thế gian thì Thế pháp thành Phật pháp, chẳng có pháp nào chẳng phải là Phật pháp. Dùng tâm phàm phu vào Phật pháp thì hết thảy Phật pháp đều biến thành pháp thế gian. Từ điểm này có thể biết cái gọi là Phật phápThế pháp đều chẳng ở tại sự tướng mà ở tại tâm niệm của mỗi người, đó là ‘tâm tịnh thì cõi nước tịnh’.

Phật pháp chẳng làm hoại thế gian pháp cho nên lúc Thế Tôn còn tại thế, khi dạy rất nhiều tín đồ của các tôn giáoẤn độ, Phật chẳng thay đổi phương thức sanh hoạt của họ, chỉ sửa đổi quan niệm của họ cho đúng, giúp họ từ sinh hoạt mê tín quay trở về sinh hoạt giác ngộ, chánh tín. Thế Tôn chẳng thay đổi họ, chỉ thêm vào cách giải thích mới, tư tưởng mới, quan niệm mới, phương pháp này đúng như thánh nhân Trung quốc gọi là: ‘Cực cao minh nhi đạo trung dung’ (vô cùng cao minh nhưng đường lối trung dung), đó mới là trí huệ chân thật.

Sanh hoạt giác ngộ tức là Bồ Tát hạnh, nói cách khác nghĩa là từ sanh hoạt của phàm phu đổi thành sanh hoạt của Bồ Tát. Nhưng sanh hoạt chẳng có biến đổi, lúc trước làm nghề nghiệp gì thì bây giờ cũng làm nghề đó, khác nhau ở chỗ lúc trước là mê, bây giờ đã giác ngộ. Lúc mê thì khổ, lúc giác thì vui, cái niềm vui này chính là ‘pháp hỷ sung mãn’, khác nhau ở chỗ này. Chẳng thay đổi đời sống của họ, chẳng thay đổi chức nghiệp, ngành nghề của họ. Năm mươi ba lần tham vấn trong kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy những Bồ Tát, nam nữ già trẻ, các ngành các nghề, tức là các ngành nghề vốn có của họ, trong đời sống tập quán sanh hoạt vốn có của họ giác ngộ xong thì lìa khổ được vui, đây là Phật pháp.

Thí dụ chúng ta làm việc trong nhà bếp, mỗi ngày nấu cơm, rửa chén, lau bàn, người thế gian cho những việc này là những việc khổ nhọc, nhưng người giác ngộ cho là những việc sung sướng, thiệt ra những chuyện này trong lục độ vạn hạnh tức là Giới Định Huệ tam học. Công việc giống như nhau, sự việc cũng giống nhau, chỉ là tâm lý, quan niệm thay đổi. Vừa thay đổi thì là đời sống của Bồ Tát. Đời sống của Bồ Tát là gì? Tức là mỗi ngày nấu cơm, lau bàn, rửa chén. Kinh Hoa Nghiêm dạy chúng ta những thứ này, dạy chúng ta làm thế nào để sống một đời sống sung sướng nhất, hạnh phúc nhất. Đây là sự thật, đây tức là tu hành, Đại Thừa Bồ Tát hạnh, Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là tu ở chỗ này. Người chẳng hiểu cho rằng mỗi ngày làm những chuyện này thiệt là khổ quá chừng, các bà nội trợ ai cũng muốn chạy trốn. Như vậy là mê, mê thì sẽ khổ; khi ngộ rồi thì sẽ vui. Người giác ngộ biết tu bố thí, tu xưng tán, tu cúng dường, tu nhẫn nhục, tu thiền định, tu Bát Nhã ngay trong những trường hợp này. Thế nên mê và ngộ hoàn toàn sẽ chẳng giống nhau.

17. Tu thanh phước (Buổi sáng 08-02-95)

Họa phước thiệt ra ở tại một niệm mà thôi. Một niệm thiện thì là phước, một niệm ác là tai họa. Phật dạy chúng sanh phước huệ song tu, khi phước huệ viên mãn rồi thì xưng là Nhị Túc Tôn, thế nên tu phướctu huệ đều vô cùng quan trọng. Trong các thứ phước báo, ‘thanh phước’ là quý nhất. Trong thanh phước có trí huệ cao độ cho nên chẳng tạo tội nghiệp. Trong phước báo của thế gian thì phước báo càng lớn tạo tội càng dễ, vì vậy nên tác dụng phụ [của phước báo] cũng lớn. Đây là điểm chúng ta phải ghi nhớ.

Nếu chúng ta có thể hiểu rõ thanh phước, hưởng thọ thanh phước thì phước báo này thiệt là vô lượng vô biên, trí huệ nhất định sẽ tăng trưởng theo. Chúng ta phải cố gắng tu phước và khuyên mọi người tu phước, khi mọi người đều có phước báo rồi thì khu vực này sẽ chẳng bị nạn. Giả sử chỉ có cá nhân mình có phước, mọi người khác chẳng có phước thì chúng ta cũng chẳng thể tránh khỏi cộng nghiệp, thế nên khuyên lơn chúng sanh tu phước là một việc vô cùng, vô cùng quan trọng.

Phải tu phước như thế nào? [Những gì chúng ta] nghĩ và làm đều vì chúng sanh, có thể quên mình thì đó là phước báo to lớn. Tạo ác là gì? Niệm niệm đều vì mình mà tưởng, mà làm thì đó là chuyện ác to lớn.

18. Mục tiêu của sự tu hành (Buổi sáng 09-02-95)

‘Chân thành, Thanh tịnh, Bình đẳng, Chánh giác, Từ bi.

Nhìn thấu, Buông xuống, Tự tại, Tuỳ duyên, Chắc Thật Niệm Phật’ là mục tiêu hiện nay của chúng ta trong công việc hoằng pháp lợi sanh, và cũng là mục tiêu tu học của chúng ta. Tất cả những kinh luận, hành pháp đều nhằm giúp chúng ta đạt đến mục tiêu này, hoàn thành mục tiêu này.

Chúng ta tự hành hóa tha đã có phương hướng, mục tiêu chính xác, đời sống này mới có ý nghĩa, có giá trị, sẽ rất vui sướng và rất hạnh phúc. Hy vọng đại chúng từ điểm này thể hội -- tự mình phải nên tu học như thế nào, làm thế nào đãi người, tiếp vật. Đây là Phật pháp chân chánh, Phật pháp chân thực.

19. Ly tướng tu phước (Buổi sáng 09-02-95)

Xả tài là phước, nhưng càng quan trọng hơn là phải chẳng chấp tướng. Tu phướcchấp tướngphước báo nhân thiên, tu phướcly tướng mới có thể minh tâm kiến tánh, mới có thể vãng sanh, bất thoái thành Phật.

Chẳng những ngoại tài có thể xả, nội tài cũng phải xả. Nội tài là gì? Tinh thần, lao lực của chúng ta, nếu có thể phục vụ cho đại chúng một cách vô điều kiện thì gọi là xả nội tài. Chẳng cầu báo đáp, thực sự vì xã hội, vì đại chúngphục vụbố thí.

20. Phước báotrí huệ (Buổi sáng 11-02-95)

‘Có tiền là phước báo, dùng tiền là trí huệ’. Nếu người có phước báo to lớn nhưng chẳng có trí huệ, toàn bộ [tiền của] họ dùng đều vô ích; người có trí huệ tuy phước báo nhỏ nhưng họ có thể đem mỗi đồng tiền của họ tu những phước báo to lớn, đó gọi là ‘xả tài tu phước’. Từ đó có thể biết người chẳng có trí huệ muốn tu phước cũng chẳng tu được.

Trên thực tế xét từ lúc tu nhân mà nói thì trí huệ quan trọng hơn phước báo, vì người có trí huệ sẽ chẳng tạo tội nghiệpgiảm bớt những lỗi lầm của mình đến mức thấp nhất; người chẳng có trí huệ khi tạo tội nghiệp còn tưởng là mình đang tu phước. Trước mắt chúng ta có thể nhìn thấy rất nhiều trường hợp này, họ thiệt là có tiền và cũng phát tâm nhưng những gì họ tạo tác đều là tội nghiệp, chẳng phải tu phước, lại cứ tưởng mình đang tu phước, chuyện này thiệt là rất đáng tiếc.

21. Tùy hỷ (Buổi sáng 12-02-95)

Trong các đoàn thể, phiền não tập khí dễ nhìn thấy nhất là ‘đố kỵ’. Người nào chẳng có tâm đố kỵ? Ai nói ‘Tôi chẳng có tâm đố kỵ’ thì người đó chẳng phải là phàm phu. Hễ là phàm phu thì chắc chắn sẽ có tâm đố kỵ, cho dù là người xuất gia cũng chẳng ngoại lệ. Tùy, Đường là thời đại hoàng kim của Phật giáo Trung Quốc, là thời đại Phật pháp vô cùng hưng thịnh, Lục Tổ Huệ Năng đã xuất hiện trong thời đại này. Sau khi được truyền trao y bátHoàng Mai, bạn xem ai có thể nhịn được [không giành lại y bát]? Đây là hiện tượng gì? Đố kỵ!

Nếu chúng ta không thể hàng phục được tâm đố kỵ, tham, sân, si, mạn, chẳng những đạo nghiệp không thể thành tựu mà kết quả của việc này nhất định sẽ phá hoại đạo tràng. Cho dù ảnh hưởng không rõ ràng thì cũng gây chướng ngại cho sự phát triển của đạo tràng và gây chướng ngại cho sự thành tựu của đồng tham đạo hữu. Nói một cách khác thì là chướng ngại cho việc hoằng pháp lợi sanh. Mọi người đều biết tội này được gọi là ‘năm tội vô gián’ trong giới luật. Thế nên Phật, Bồ Tát dạy chúng ta tu ‘Tùy hỷ’. Tại sao không tu tùy hỷ? [Tại sao phải tu tùy hỷ?] Thay đổi tâm niệm ngược lại, nếu có thể tùy hỷ thì người ta có thành tựu bao lớn, thành tựu của mình cũng sẽ bằng họ, công đức của việc tùy hỷ chẳng thể nghĩ bàn.

Lúc thấy người khác làm việc tốt nếu chúng ta có thể sanh tâm hoan hỷ, có thể giúp họ, giúp họ thành tựu thì công đức của họ chính là công đức của mình, thế nên chúng ta phải biết tu tùy hỷ. Những gì mình không thể làm được nhưng họ làm được thì mình giúp họ; nếu giúp chẳng được thì mình tán thán, mình hoan hỷ, mình lo lắng cho họ, như vậy công đức sẽ bằng nhau vì tâm của mình được thanh tịnh, đây là việc mà chúng ta thường gọi là pháp hỷ sung mãn.

Đây cũng là lý do tại sao chúng ta đổi khoá tụng buổi tối thành tụng kinh Vô Lượng Thọ, phẩm ba mươi hai đến phẩm ba mươi bảy. Chúng ta có thể mỗi ngày đọc những tập khí lỗi lầm nói trong đoạn kinh này một lần, đọc xong phản tỉnh, kiểm điểm xem mình có những tội lỗi này hay không? Nếu có thì phải sửa sai đổi mới, như vậy mới gọi là chân chánh tu hành.

22. Khóa tụng sáng tối (Buổi sáng 12-02-95)

‘Xã hội’ hiện nay có thể nói là đã lan rộng đến toàn thế giới, chẳng còn giới hạn ở một địa phương nào, đều có sự hiểu lầm rất lớn đối với Phật pháp. Sự hiểu lầm này sẽ gây chướng ngại cho sự tu học Phật pháp, chướng ngại cho sự truyền bá Phật pháp. Thế nên cần phải in hai cuốn sách mỏng ‘Nhận thức Phật giáo’ và ‘Truyền thọ Tam Quy’ với số lượng thật nhiều và truyền bá rộng ra.

Tu hành, những khóa tụng và nghi quỹcổ đức soạn ra đích thực có thể đem lại lợi ích cho hết thảy chúng sanh thời xưa. Ngày nay nghiệp chướng chúng sanh sâu nặng và cơ sở đã mất hết – cơ sở là chẳng đọc sách Khổng - Mạnh, Lão - Trang, những lý luận Đạo giáo cũng chẳng hiểu, Tiểu Thừa cũng chẳng học. Giống như ngày nay chúng ta xây nhà lầu mà chẳng có nền móng vậy, chẳng có cơ sở thì đi vào Đại Thừa làm sao có thể thành tựu được? Xưa nay phàm những đại đứcthành tựu bất kể là tại gia hay xuất gia, căn bản Nho học của họ đều rất sâu dày. Vì vậy những nghi quỹ (thời xưa gọi là Khoá tụng sáng tối) bây giờ chẳng dùng được. Mục đích của công khóa sáng tối là nhằm giúp chúng ta sửa đổi tâm hạnh, nếu chúng ta tụng xong mà tâm hạnh chẳng có thay đổi gì hết thì khóa tụng sáng tối này cũng dư thừa. Vì vậy chúng tôi mới thay đổi nội dung của khóa tụng, buổi sáng tụng phẩm thứ sáu, buổi tối tụng phẩm ba mươi hai đến phẩm ba mươi bảy của kinh Vô Lượng Thọ.

Mục đích của khóa sáng là hy vọng trong tâm của mỗi người đều có bốn mươi tám lời nguyện, như vậy mới gọi là niệm Phật, nhớ Phật. Trong tâm thực sự có Phật, trong tâm có A Di Đà Phật, có bốn mươi tám lời nguyện của Phật A Di Đà. Trong bốn mươi tám nguyện này bao gồm hết thảy y báochánh báo trang nghiêm của Tây phương Cực Lạc thế giới. Khóa tối là niệm niệm chẳng quên lời dạy của Phật A Di Đà, chúng ta phải y giáo phụng hành, như pháp tu trì, đây mới thực là chân chánh niệm Phật, chẳng phải niệm suông trong miệng mà thôi.

Kinh Vô Lượng Thọđốn giáo. Đốn giáo nghĩa là chẳng có thứ lớp, cho dù chúng ta chẳng có cơ sở Nho học sâu dày cũng có thể thành tựu, đây là chỗ thù thắng của pháp môn này. Từ đó có thể y theo nguyện của A Di Đà Phậtphát nguyện, y theo lời dạy của A Di Đà Phậttu hành -- phẩm ba mươi hai đến phẩm ba mươi bảy là lời dạy của A Di Đà Phật, nội dung là ngũ giới, thập thiện, là cơ sở chung của Đại ThừaTiểu Thừa. Từ đây gắng sức học tập, chúng ta niệm Phật mới có thành tựu, đây là lý do tại sao chúng tôi thay đổi khóa tụng sáng tối.

23. Tâm thanh tịnh (Buổi sáng14-02-95)

Trong thời đại ngày nay muốn tu hành có được thành tựu thì chỉ có niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, trừ con đường này ra thì đích thực chẳng có con đường nào khác. Niệm Phật phải niệm đến lúc nào thì mới thực sự nắm chắc có thể vãng sanh? Phải niệm đến lúc tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh tức là công phu thành phiến, có thể đới nghiệp vãng sanh.

Làm thế nào có thể làm được tâm thanh tịnh? Nhất định phải có công phu ‘nhìn thấu, buông xuống’. Nhìn thấu là học vấn, buông xuống là công phu. Buông xuống những gì? Buông xuống hết thảy vọng tưởng, phiền não, tri kiến. Chân chánh phải học Lục Tổ Huệ Năng đại sư: ‘Nếu là người tu đạo chân chánh, chẳng nhìn lỗi thế gian’ thì tâm bạn sẽ thanh tịnh.

Ngày nay chúng ta vẫn còn thấy người này chẳng đúng, chuyện kia cũng chẳng đúng là vì nguyên nhân gì vậy? Vì chúng taphân biệt, chấp trước. Chỉ có người chân chánh muốn vãng sanh thì mới thiệt buông xuống hết. Tăng đoàntăng đoàn hòa hợp, thanh tịnh -- không những chẳng nghe đến thị - phi, ngay cả trong tâm cũng chẳng có tâm niệm này.

24. Học (Buổi sáng 14-02-95)

Trong xã hội có nói: ‘Học làm người’. Học làm người tức là học luân lý, đạo đức. Thí dụ học Thập thiện, Tứ vô lượng tâm (từ, bi, hỷ, xả) tức là học làm người của trời Dục Giới, họ cao hơn chúng ta một bậc. Học Tứ thiền bát định tức là học làm người của trời Sắc Giới, cảnh giới này còn cao hơn. Học Bốn mươi tám nguyện, học Lục độ, Thập đại nguyện vương tức là học làm người của Tây phương Cực Lạc thế giới, đây mới là việc chúng ta thực sự muốn học.

‘Học’ chẳng có nghĩa là ‘tôi hiểu, tôi biết rõ’ thì xem là đã học rồi. Chữ học ở đây có nghĩa là ‘noi gương’, ‘học tập theo’, đây là động từ chứ chẳng phải là danh từ, tức là muốn chúng ta chân chánh làm cho bằng được. Ngày nay chúng ta tu hành tự mình chẳng đạt được pháp hỷ, đó chỉ là sống qua ngày, tại sao chẳng được pháp hỷ? Vì chúng ta chẳng thực lòng học tập.

Học phải bắt đầu từ đâu? Bắt đầu từ đọc kinh. Trong kinh dạy chúng ta phải làm như thế nào thì chúng ta làm như vậy, y theo kinh điểnhết lòng phản tỉnh, mỗi ngày có thể phát hiện một lỗi lầm của mình, như vậy tức là giác ngộ. Mỗi ngày có thể sửa đổi một lỗi lầm thì mới là chân tu, cũng như lão cư sĩ Hạ Liên Cư trong cuốn ‘Tịnh Ngữ’ có dạy: ‘Chân cán’ (Làm thực sự). Có thể chân tu, làm thiệt, ba năm liền siêu phàm nhập thánh, sẽ chẳng là phàm phu nữa; nếu chẳng chịu học, chẳng chịu làm thì chẳng có cách gì hết.

Phải đọc kinh như thế nào? Phải dùng tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm cung kính mà đọc, được vậy thì sẽ có chỗ ngộ. Có nhiều người đọc kinh rất khổ, tại sao vậy? Vì họ dùng tâm vọng tưởng, phân biệt, phiền não để đọc, hoàn toàn chẳng thể hội ý tứ, cảnh giới trong kinh, vậy thì đương nhiên càng đọc càng khổ. Chỉ có dùng tâm chân thành, tâm thành tịnh, tâm cung kính để đọc thì mới tương ứng với tâm Phật, mới có thể hiểu được ý tứ trong kinh. Vì chân thành, thanh tịnh, cung kính chẳng có cùng tận, cho nên ý tứ trong kinh cũng chẳng có cùng tận, vô cùng vô tận.

25. Lục Hòa kính (Buổi sáng 16-02-95)

Người với người ở chung với nhau phải biết bao dung. Phật vì tăng đoàn chế định Lục Hòa Kính, lục hòa kính là đoàn thể thù thắng nhất nên gọi là ‘Chúng Trung Tôn’ – trong các đoàn thể khắp thế gian, xuất thế gian, đoàn thể hòa kính là tôn quý nhất. Đích thực là được chư Phật hộ niệm, Long thiên tán thán, ủng hộ. Tại sao chẳng thể hòa? Nguyên nhân ở đâu? Đoàn thể càng lớn thì hòa kính càng khó khăn, nguyên nhân căn bản là vì ngã kiến, ngã chấp, đây là nguyên nhân căn bản của sự bất hòa, của sự tạo tội.

Sự tu học của Phật pháp, chẳng nói đến pháp Đại thừa, trong pháp Tiểu Thừa, điều đầu tiên là phải phá ngã kiến, phá ngã chấp. Học Phật đầu tiên phải học cái gì? Là học ‘vô ngã’, vô ngã thì sẽ hòa, vấn đề liền được giải quyết ngay trên căn bản -- chẳng có ngã chấp, chẳng có pháp chấp.

Chúng ta đã phát tâm xuất gia, sanh hoạt trong tăng đoàn là một nhân duyên hiếm có, phải tự mình tôn trọng mình (tự trọng), phải hết lòng nỗ lực, coi đạo nghiệp làm hạng nhất, y chúng, nương vào đại chúng, khuyến khích lẫn nhau, trau giồi dùi mài. Tự mình chúng ta có thể thành tựu thì là thành tựu của xã hội, tức là Phật pháp trụ thế có thành tựu, tức là thành tựu chúng sanh lìa khổ được vui. Bạn xem ảnh hưởng của việc này bao lớn? Chúng ta phải tự mình làm một gương tốt, chẳng những làm gương cho người tại gia, đồng thời cũng làm gương cho đồng tu xuất gia, như vậy mới thiệt chẳng cô phụ đã một phen xuất gia, đây mới chân chánh là tu tập tích lũy công đức.

26. Phước huệ nhân quả (Buổi sáng 16-02-95)

Phải biết hết thảy các pháp trong thế gianxuất thế gian đều là nhân quả phước huệ. Phước tuy quan trọng, nhưng huệ còn quan trọng hơn. Có phước chẳng có huệ, khi hưởng phước nhất định sẽ tạo tội nặng, đây là như nhà Phật thường nói ‘oán ba đời’. Đến lúc phước hưởng hết, đọa lạc trong ác đạo rồi mới muốn thoát khỏi thì chẳng dễ, không biết phải trải qua bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp?

Có huệ chẳng có phước tuy đời sống rất thanh bần, rất khó khăn, nhưng chẳng tạo tội nghiệp. Họ thế nào cũng có khả năng vãng sanh thành Phật, vì sanh sống quá khổ, họ chán chường đời sống trong thế gian này, dễ sanh khởi đạo tâm. Do đây có thể biết phước báo chẳng phải là chuyện tốt, Phật dạy đệ tử xuất gia phải tu phước nhưng nhất định đừng hưởng phước, cứ sống đời sống thanh bần như cũ, phải dùng sự khổ làm thầy, đạo lý là ở chỗ này, là sợ bạn hưởng phước rồi tạo tội nghiệp.

27. Thật thà (Buổi sáng 08-05-95)

Ý nghĩa quan trọng nhất trong kinh Kim Cang là: tu học Đại Thừa Phật pháp phải tu học trong đời sống hằng ngày. Nói một cách khác tức là dạy cho chúng ta làm thế nào để sống cuộc đời của chư Phật, Bồ Tát. Phật, Bồ Tát sống cuộc đời đại trí huệ, đại giác ngộ, đời sống như vậy mới là chân thực hạnh phúc mỹ mãn.

Niệm Phật chẳng thể thành tựu là vì chẳng thật thà (chẳng chắc thật). Chẳng thật thà là chẳng biết sống cách nào, khi sanh ra đời hồ đồ lộn xộn, chết đi cũng hồ đồ lộn xộn. Như vậy đúng là rất đáng thương, cũng như trong kinh thường nói: ‘những người đáng thương xót’.

Sau khi có trí huệ Bát Nhã, hiểu rõ chân tướng của nhân sanh mới biết thật thà, một lòng một dạ niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Ai có thể tiếp nhận thì người đó sẽ được lợi ích. Nếu chẳng chấp nhận, chẳng thể chắc thật niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, chính là như kinh Địa Tạng có nói: ‘Chúng sanh trong Diêm Phù Đề khởi tâm động niệm chẳng có gì là chẳng tạo tội’. Đã tạo tội nghiệp thì đời sau nhất định sẽ còn luân hồi trong lục đạo, bất luận là tu hành tốt đến đâu, nếu chẳng thể thoát ra khỏi tam giới thì đều là chẳng thành tựu.

Mục đích chúng tôi giảng kinh Kim Cang là vì muốn khuyên mọi người, dạy cho mọi người hiểu rõ chân tướng sự thật, phải chết lòng trọn ý thật thà niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Những gì nói trong kinh Kim Cang cho đến những gì đức Phật nói trong hai mươi hai năm giảng kinh Bát Nhã đều cũng là vì dạy chúng ta phải nhìn thấu, buông xuống. Tại sao bốn chữ ‘nhìn thấu, buông xuống’ này đã giảng trong suốt hai mươi hai năm? Hãy nghĩ xem ai nghe xong liền nhìn thấu, liền buông xuống được? Nghe thì cũng nghe rồi, nói thì cũng nói xong nhưng vẫn chẳng nhìn thấu, chẳng buông xuống như cũ. Trong tâm từ sáng đến tối vẫn suy nghĩ lung tung, lời nói hành động vẫn phê bình kẻ khác, chẳng biết kiểm điểm bản thân mình, đây đúng là nhìn chẳng thấu, buông xuống chẳng nổi.

28. Thừa nguyện tái lai (Buổi sáng10-05-95)

Tự mình chẳng chịu hết lòng tu hành, nghiệp báo thân thể của bạn là được định sẵn trong số mạng. Nếu tự mình chịu hiến thânPhật pháp, hiến thân vì hết thảy chúng sanh thì thân thể này chẳng phải là của bạn nữa mà là thừa nguyện tái lai (nương vào nguyện trở lại).

Vì vậy chẳng cần phải đợi đến lúc từ Tây phương Cực Lạc thế giới trở lại đây, chỉ cần bây giờ nguyện lực vừa chuyển thì có thể chuyển biến thân nghiệp báo của mình thành thân của nguyện lực, đây chính là thừa nguyện tái lai. Thừa nguyện tái lai là ngay trong một niệm có thể làm được, trong đây một chút xíu giả dối chẳng thể xen vào, phải là thuần chánh chẳng vọng, xen vào một tí giả dối thì vẫn phải thọ nghiệp báo.

29. Sửa lỗi (Buổi sáng12-05-95)

Bất luận là xuất gia hay tại gia, hễ là đệ tử Phật tiếp nhận sự cúng dường tài vật nhất định phải đáp trả lại bằng pháp cúng dường. Lúc Phật còn tại thế dùng chế độ trì bát, lúc tiếp nhận cúng dường nhất định phải thuyết pháp cho người ta nghe, đây tức là báo đáp ân của thí chủ. Trong bất cứ trường hợp nào chúng ta tiếp nhận sự cúng dường đều phải biết quy củ, phải biết vì người thuyết pháp. Nếu chẳng có người khải thỉnh thì có thể không thuyết. Có người mời thì nhất định phải thuyết pháp. Nguyên tắc quan trọng nhất của sự thuyết pháp là chỉ rõ những lỗi lầm thông thường của đại chúng, giúp họ sửa sai, như vậy mới có ích lợi. Thế nên chẳng cần phải nói huyền thuyết diệu, chẳng cần phải nói những lời nói dư thừa chẳng có ích lợi.

Nhà Phật thường nói đến ‘khai ngộ’ và ‘tu hành’, mọi người đều biết danh từ thuật ngữ này, nhưng người hiểu được hàm nghĩa bên trong thì chẳng nhiều. Trong khi đọc kinh sẽ có chỗ ngộ, niệm Phật cũng sẽ có chỗ ngộ, thực ra trong đời sống, lúc đãi người tiếp vật cũng sẽ có lúc ngộ được. Chỗ ngộ được này nghĩa là gì? Nghĩa là phát hiện lỗi lầm. Phát hiện được lỗi lầm tức là khai ngộ, sửa đổi sai lầm trở lại tức là tu hành. Tu hành chẳng phải nói mỗi ngày niệm bao nhiêu cuốn kinh, niệm bao nhiêu Phật hiệu, lạy bao nhiêu lạy. Thật sự mà nói đó đều là hình thức, hình dáng mà thôi. Công phu chân thật là ‘biết lỗi’, ‘sửa lỗi’, có thể làm được bốn chữ này, ngày hôm nay bạn sẽ cảm thấy rất sung mãn, chẳng luống uổng.

Chẳng những người tu hành phải tuân thủ chặt chẽ, chúng ta xem trong Liễu Phàm Tứ Huấn người thế gian có ông Triệu Duyệt Đạo mỗi ngày đều phản tỉnh, đều kiểm điểm, tìm lỗi lầm của mình để sửa đổi, chẳng để tái phạm. Nhưng người học Phật ngày nay trong miệng thì nói huyền thuyết diệu, thực tế công phu thì hoàn toàn chẳng có, cho nên chúng ta thấy người xuất gia thành tựu chẳng bằng người tại gia. Người tại gia học Phật đích thật có một số có thể buông xuống hết thảy; trái lại người xuất gia học Phật, trong miệng nói toàn là Phật pháp, đều là nói huyền thuyết diệu, nhưng những gì trong tâm suy nghĩ và hành động đều là nghiệp nhân luân hồi. Nói thì là phá mê khai ngộ, nhưng trên thực tế những gì tự mình làm đều là mê hoặc điên đảo.

Công phu chân thật phải bắt đầu từ việc kiểm điểm lỗi lầm, tiêu chuẩn này là những lời dạy của đức Phật trong kinh điển. Thế nên tại sao chúng ta phải học thuộc lòng kinh điển? Chính là để nhớ rõ tiêu chuẩn này, nếu nhớ chẳng rõ tiêu chuẩn ấy thì chẳng thể phân biệt thị phi, thiện ác, cứ thường xem sai cho là đúng, đúng cho là sai, đây tức là: ‘điên đảo, sai loạn’. Thế nên nhất định phải nhớ thuộc lòng kinh điển, phải hết lòng tự cứu mình. Nếu có thể siêu việt luân hồi ngay trong đời này, vãng sanh Tịnh Độ thì tự mình thực sự đã được cứu. Nếu chẳng thể vãng sanh Tịnh Độ, đời này đã luống uổng, những gì tu được trong đời này cũng chẳng có ích gì, tại vì chẳng bù nổi những ác nghiệp đã tạo -- khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác đều là tham, sân, si, mạn, đố kỵ, chướng ngại. Chư vị nghĩ coi nếu sức lực này mạnh thì sẽ đi vào tam đồ, muốn giữ được hai đường nhân, thiên chẳng phải dễ dàng đâu.

30. Tâm thanh tịnh (Buổi sáng 13-05-95)

Những thức ăn chúng ta thường dùng phải nên cẩn thận để ngừa trúng độc. Nên biết phương pháp giải độchiệu quả nhất là tâm thanh tịnh, tâm đại từ đại bi. Đem bất cứ độc dược nào cho Phật, Bồ Tát cũng chẳng tạo nên tác dụng gì hết, nguyên nhân là ở chỗ nào? Vì tâm quý ngài thanh tịnh, từ bi. Thế nên tâm từ bi là thuốc giải độc công hiệu nhất. Còn chúng ta khi khởi tâm động niệm gì cũng tự tư tự lợi nên rất dễ bị những chất độc này cảm nhiễm.

Gần đây chúng tôi nhìn thấy một số người nhất tâm chuyên chú, bất kể là già hay trẻ (lão cư sĩ Lưu Thừa Phù chín mươi mấy tuổi là thí dụ rõ ràng nhất), bạn hãy xem sự biến hóa trên thân thể, trên tinh thần, tướng mạo của họ. Điểm này chứng minh những gì Phật nói đều chẳng giả, đó gọi là chứng chuyển, một trong tam chuyển pháp luân -- chứng chuyển là làm chứng minh. Thế nên chúng ta muốn thân thể khoẻ mạnh, muốn được ít bịnh, ít phiền não, nếu chẳng tu tâm thanh tịnh, chẳng tu tâm từ bi thì chẳng có cách gì làm được hết.

31. Chuyển biến phước đức thành công đức (Buổi sáng 14-05-95)

Khi gặp chuyện trong thế gian thì chúng ta làm, đó là tu phước. Lúc làm việc thì đừng sợ chịu thiệt thòi, làm nhiều là tu nhiều phước, như vậy thì có gì chẳng tốt? Lúc làm chẳng nên chấp trước, chẳng nên để trong tâm, trong tâm một dấu vết gì cũng chẳng lưu giữ lại, như trong kinh Kim Cang có nói: ‘Nên không trụ vào đâu để sanh cái tâm ấy’ (Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm). Đó mới là phước báo chân chánh, phước đức biến thành công đức. Nếu trong tâm cứ thường nghĩ: ‘Tôi đã từng làm được bao nhiêu việc’, đó tức là pháp thế gian, là phước báo hữu lậu sẽ có quả báo rất nhỏ.

Lúc còn trẻ nên tu một chút phước, đến lúc tuổi già thì bạn sẽ hưởng phước, sẽ có rất nhiều người đến lo lắng cho bạn. Lúc trẻ chẳng chịu tu phước đến lúc già chẳng có ai lo lắng cho thì bạn vẫn phải lao nhọc, những nhân duyên quả báo này thiệt là tơ hào chẳng sai.

B. Luận sự sanh tử trọng đại

1. Liễu sanh tử (Buổi sáng 27-01-95)

Phổ Hiền Bồ Tát dạy:

‘Thị nhật dĩ quá, mạng diệc tùy giảm’

(Một ngày đã qua, mạng cũng giảm theo).

Người sáng mắt nhìn thấy quang âm mòn mỏi, thời gian mỗi ngày trôi qua, mỗi ngày giảm bớt. Nói một cách khác thì tức là ngày càng gần kề cái chết.

Đạo nghiệp của chúng tatiến bộ theo thời gian hay không? Chỉ có chân thật tu trì mới có thể liễu sanh tử, xuất tam giới. Nếu chẳng thể liễu sanh tử, xuất tam giới thì đời này sẽ luống uổng. Cho dù niệm Phật tu phước thì là như Phật thường nói ‘tam thế oán’ (oán ba đời). Oán ba đời chẳng phải là chuyện tốt, đời này niệm Phật tu phước, đến đời sau hưởng phước thì sẽ trở nên hồ đồ; khi hồ đồ sẽ tạo tội nghiệp, sẽ chịu khổ báo. Những người quyền quý giàu to đều là do đời trước trong nhà Phật từng niệm Phật tu phước nhưng chẳng thể liễu sanh tử. Trong đời này có quyền thế, làm xằng làm bậy, khi tạo tội nghiệp so với những người thường đều nặng hơn rất nhiều. Thế nên chúng ta phải nhìn xa một chút, một người chân chánh giác ngộ phải lấy việc liễu sanh tử làm mục tiêu.

Muốn được liễu sanh tử pháp duy nhất trong các pháp Đại thừachúng ta dám chắc [mình có khả năng thành công] là pháp niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Nếu muốn chân chánh làm được thì phải ghi nhớ lời của Phổ Hiền Bồ Tát -- học Bồ Tát đạo, tu Bồ Tát hạnh. Mỗi khi gặp một vị thiện tri thức trong năm mươi ba lần tham vấn Thiện Tài đồng tử đều hỏi về hai vấn đề này. Cái gọi là Bồ Tát đạo chính là cách giữ tâm, trong những bài giảng chúng ta thường nói: ‘Tâm, Nguyện, Giải, Hạnh phải giống Phật’. Tâm và Nguyện tức là Bồ Tát đạo, Giải và Hạnh tức là Bồ Tát hạnh.

Học Phật thì phải học giống Phật, cho dù chẳng thể làm giống y hệt thì cũng phải làm chẳng khác nhiều lắm, như vậy mới gọi là học Phật. Trong thế gian có một số người chuyên làm việc ‘Phật học’ chứ chẳng phải là học Phật. Phật học là gì? Tức là có Giải chẳng có Hạnh, chỉ nghiên cứu Phật pháp như một thứ học vấn nhưng chẳng thể làm theo, họ chẳng có tâm này, và cũng chẳng có cái nguyện này, đó là Phật học; người có Tâm, có Nguyện khi hiểu được bao nhiêu thì họ sẽ làm bấy nhiêu, như vậy mới là một người học Phật. Vì vậy ‘học Phật’ có thể liễu sanh tử, ‘Phật học’ chẳng thể liễu sanh tử, chúng ta phải hiểu rõ hai việc này.

Kinh giáo trong nhà Phật là dung thôngviên dung, thông đạt vô ngại, cho nên thông [đạt] một kinh thì hết thảy kinh đều thông. Không những kinh giáodung thông, pháp thế gian, xuất thế gian cũng thông, vì tất cả đều từ chân tâm bản tánh của mình biến hiện mà thành, nó đều có cùng một căn nguyên, không có đạo lý chẳng thông. Tại sao chẳng thông? Chẳng thông là vì có chướng ngại, chướng ngại chính là mê hoặc, điên đảo, phân biệt, chấp trước, chỉ cần phá trừ chướng ngại thì pháp thế gianxuất thế gian đều viên dungthông đạt vô ngại.

Quán Thế Âm Bồ Tát hiểu rõ đạo lý này nên được đại tự tại. Tại sao Ngài có thể biết được? Do quán chiếu mà hiểu được. Quán chiếu nghĩa là gì? Lúc sáu căn tiếp xúc với sáu trần bên ngoài chẳng có phân biệt, chẳng có chấp trước, chẳng có vọng tưởng, tất cả đều rõ ràng minh bạch, như vậy gọi là quán chiếu. Nếu có một chút ý tứ ở trong đó thì chẳng gọi là quán chiếu.

‘Quán chiếu’ thực ratự tánh tịnh, tức là ‘kiến văn giác tri’ (thấy - nghe - hay - biết) của tự tánh, cho nên có thể thấy được chân tánh. Phàm phu mê mất tự tánh, chỉ dùng tình thức – nghĩa là tám thức, năm mươi mốt tâm sở, đó là ‘tình kiến’ – tình kiến nghĩa là như người ta thường gọi: ‘có xen lẫn cảm tình’. Cảm tình là gì? Tức là phân biệt, chấp trước, vọng tưởng. Đem theo ‘kiến văn giác tri’ của những thứ này là kiến giải của phàm phu. Do đó có thể biết khi lìa khỏi hết thảy phân biệt, chấp trước, vọng tưởng thì là kiến giải của Phật, Bồ Tát. Kiến giải của Phật, Bồ Tát gọi là quán chiếu, gọi là chiếu kiến. Vì vậy nếu dùng kiến giải của phàm phu để tu hành thì tuyệt đối chẳng thể siêu việt lục đạo.

Phàm phu rất khó lìa khỏi tình kiến, nếu dùng tình kiến để tu học thì hết thảy pháp môn chẳng có pháp nào được thành tựu hết, chỉ có tu học Tịnh Độ mới có thể. Nhưng chúng ta nên biết tu Tịnh Độ là phải dùng công phu niệm Phật đè nén tình kiến, được vậy thì mới có thể vãng sanh. Nếu đè nén chẳng nổi thì không thể vãng sanh. Cũng có nghĩa là phiền não chưa đoạn, chỉ là tạm thời đè nén mà thôi. Nếu trong sát na lâm chungphiền não chẳng hiện hành thì sẽ thành công. Nếu phiền não khởi lên ngay lúc đó thì chẳng thể vãng sanh. Thật ra niệm Phật cũng là ‘quán chiếu’, người biết dụng công so với người tham thiền chẳng có gì khác nhau. Trong ‘Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương’ có dạy: ‘nhiếp trọn sáu căn’, nếu làm được nhiếp trọn sáu căn thì giống hệt như tham thiền; thí dụ chúng ta chỉ làm được ‘tịnh niệm tiếp nối’ mà chẳng biết làm thế nào để ‘nhiếp trọn sáu căn’ thì chẳng giống với tham thiền.

C. Khuyến khích thành kính nhân sanh

1. Thành kính (Buổi sáng 04-02-95)

Cầu học, cầu đạo đều dùng một chữ ‘cầu’, tự mình phải cầu cho được, nếu tự mình chẳng chịu [tìm cầu] thì chẳng có ai nói cho bạn đâu. Vì chúng sanh chẳng biết và cũng chẳng biết cầu nên chư Phật, Bồ Tát đại từ đại bi hiện thân thuyết pháp, thay thế chúng sanh thỉnh cầu. Trong kinh điển chúng ta thấy những người ‘đương cơ’ là người thay thế chúng sanh [thỉnh] cầu pháp. Trong kinh Vô Lượng Thọ, A Nan đứng ra khải thỉnh tức là thỉnh pháp thay cho chúng sanh.

Đạo và Học nhất định phải có cầu mới nói, dụng ý ở đây là ‘trọng đạo’ – tôn sư trọng đạo. Chỉ có ‘tôn’, có ‘trọng’ thì người học mới đạt được lợi ích. Cũng như Ấn Quang đại sư dạy: ‘Một phần thành kính được một phần lợi ích, hai phần thành kính thì được hai phần lợi ích’. Mười phần thành kính thì người ta sẽ khai ngộ, được lợi ích to lớn. Bởi vậy nên người xưa thường nói: ‘không thành thì không ngộ’. Chẳng có tâm thành kính thì lợi ích gì cũng chẳng đạt được, cho dù đến nghe thì chẳng qua chỉ là việc học thông thường mà thôi, chẳng thể nào đạt được lợi ích chân thật.

Lợi ích chân thật là điều mà nhà Nho gọi là ‘biến hóa thân thể’ (biến hóa khí chất) và nhà Phật gọi là chuyển thức thành trí. Nếu có thể biến hóa thân thể thì tức là chuyển phàm thành thánh. Nếu nghe không hiểu thì chỉ là nghe trên lời nói, văn tự, chẳng có liên quan gì đến tâm tánh của mình. Nếu chẳng có một chút xíu thành kính thì chỉ được một tí lợi ích bên ngoài mà thôi. Nếu mọi người lưu ý một chút thì sẽ thấy những hiện tượng này rất rõ ràng.

Có thể chúng ta tự mình sẽ nghĩ: ‘Tôi đích thật đối với lão sư rất cung kính, đối với Phật pháp cũng rất cung kính, bản thân cũng rất thâm nhập, vậy thì tại sao chẳng đạt được lợi ích?’. Hãy thử nghĩ: chúng ta đối với người ác thì sao? Đối với người mình ghét thì sao? Có thể cung kính hay chăng? Trong chân tâm chẳng có phân biệt, có phân biệt thì chẳng là chân tâm. Tôi đối với người này cung kính, đối với người kia chẳng cung kính, cái tâm này là giả, là hai tâm. Thế nên vấn đề phát sanh ở chỗ chẳng có tâm thành kính, chẳng có tâm cung kính.

Tâm cung kính chân chánh tức là nhất tâm, tức là tâm bình đẳng, tâm thanh tịnh. Bất luận biểu hiện được kiền thành như thế nào, nếu trong tâm còn phân biệt, chấp trước, thì chẳng phải là nhất tâm. Có phân biệt tức là chẳng bình đẳng; chấp trước tức là nhiễm ô, chẳng thanh tịnh, đây là mấu chốt tại sao nghe pháp, đọc kinh chẳng được lợi ích chân thật.

D. Khuyên tin sâu nhân quả

1. Nhân quả (Buổi sáng 26-01-95)

Bát NhãTịnh Độ đều đặc biệt nhấn mạnh nhân duyên quả báo – ‘nhân như vậy thì quả như vậy, duyên như vậy thì báo như vậy’ (như thị nhân, như thị quả, như thị duyên, như thị báo). Thế nên khi chúng ta khởi tâm động niệm nếu có thể nghĩ đến quả báo tương lai thì tự nhiên tâm sẽ thâu liễm, tự nhiên sẽ bình tĩnh lại. Nếu chúng ta tạo nhân gây chướng ngại cho người khác, tương lai nhất định sẽ nhận quả báo người khác chướng ngại mình, thiệt đúng là ‘một miếng ăn một miếng uống đều đã định sẵn’ (nhất ẩm nhất trác mạc phi tiền định). Là do ai định sẵn? Là do nhân mình đã tạo định sẵn. Thế nên Phổ Hiền Bồ Tát Thập nguyện vương dạy chúng ta phải tùy hỷ công đức. Tùy hỷ tức là tâm Bồ Tát, tùy hỷ tức là chẳng gây chướng ngại cho người khác.

Tâm đố kỵ, chướng ngại của phàm phu chúng ta rất nặng, vừa thấy người ta có một chút lợi lộc gì, chúng ta liền cảm thấy khó chịu. Có tâm niệm này thì đã là không đúng rồi, nếu còn tìm cách để phá rối họ, phá hoại họ, thì tội nghiệp sẽ rất nặng. Nếu thiện pháp này có thể đem lại lợi ích cho chúng sanh thì tội lỗi này còn nặng hơn nữa, vì đây chẳng phải chỉ gây chướng ngại cho một người mà là chướng ngại rất nhiều người, vì vậy nên chúng ta nhất định phải hiểu rõ những mối quan hệ nhân quả này.

2. Bố thí pháp (Buổi sáng 15-02-95)

Trong ‘Hoa Nghiêm Kinh Biệt Hành Sớ Sao’ có giảng về Quảng tu cúng dườngCúng dường tài vật chẳng bằng cúng dường pháp. Trong kinh văn có một đoạn khai thị vô cùng hấp dẫn của cư sĩ Duy Ma, trong đó quan trọng nhất là chân chánh bố thí pháp không như chúng ta hiện nay tặng vài quyển kinh sách, tặng vài cuồn băng thâu âm [thuyết pháp] thì gọi là bố thí pháp, chuyện này quá nhỏ bé. Cư sĩ Duy Ma nói: ‘Pháp bố thí là dùng thân làm mẫu mực, như pháp tu hành, làm gương tốt cho tất cả chúng sanh, như vậy mới là pháp bố thí chân chánh’. Đoạn khai thị này dạy cho chúng ta một điểm rất hay, như vậy chúng ta mới đạt được lợi ích chân thật của Phật pháp.

Thí dụ chúng ta thực sự bố thí tài vật, bố thí pháp, và bố thí vô úy, tu ba thứ nhân này thì sẽ được ba thứ quả báo -- được giàu sang, thông minh trí huệ, khoẻ mạnh sống lâu. Làm cho hết thảy chúng sanh nhìn thấy, để cho họ thấy những quả báo này và hỏi bạn: ‘Làm sao bạn được lợi ích thù thắng như vậy?’, bạn mới nói cho họ biết [muốn được quả báo như vậy thì] phải tu ba thứ nhân này. Cho nên nhất định phải làm cho người khác nhìn thấy. Khi trì giới thì tự mình hết lòng trì giới, đoạn hết thảy ác nghiệp, làm cho tận đáy lòng mình thực sự đạt được thanh tịnh, thiện lương. Cho đến nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, Bát Nhã đều phải thực sự làm cho được, như vậy chính là bố thí pháp.

Nếu bạn làm chẳng được mà nói cho người khác nghe, khuyên người thì chẳng có hiệu quả gì hết, người ta chưa chắc sẽ tin tưởng. Trong kinh đức Phật nói: ‘Chúng sanh sợ quả, Bồ Tát sợ nhân’. Chúng sanh nhìn thấy quả báo thì họ mới phản tỉnh. Nhìn thấy quả báo tốt thì họ sẽ ngưỡng mộ, nhìn thấy quả báo không tốt thì họ sợ hãi. Cho nên chúng ta phải làm hết lòng, đem quả báo bày trước mặt mọi người, để tự họ quan sát, phản tỉnh, sau đó sẽ phát tâm học tập, như vậy mới thực sự là pháp bố thí.

E. Hiểu rõ giáo dục Phật đà

1. Hiểu lý (Buổi sáng 29-01-95)

Việc quý báu nhất của đời người là có một phương hướng, mục tiêu chính xác trong đời sống của mình, tức là có sanh hoạt giáo dục tốt đẹp. Cổ thánh tiền hiền ở Trung Quốc dạy chúng ta làm người tốt, giữ tâm tốt, đây là giáo dục trong một đời. Tu được tốt thì đời sau có thể sanh lên trời, sáu tầng trời Dục giới đều là nơi những người tốt sanh đến.

Đức Phật dạy cho chúng ta phương hướng, mục tiêu đích thực là cứu cánh viên mãn -- viễn ly tam giới, vĩnh viễn thoát ly luân hồi. Nhưng nhất định phải hiểu rõ lý luận, hiểu rõ lý luậnhiểu rõ chân tướng sự thật. Nguồn gốc của tam giới luân hồivọng tưởng, chấp trước, đặc biệtngã chấp, có cái Ta (ngã), có cái của Ta (ngã sở) là nguyên nhân tạo nên lục đạo luân hồi. Muốn thoát ra tam giới thì phải phá ngã chấp, ngã sở. Ngã sở là những gì mình có, người ta khởi tâm động niệm gì cũng liên quan đến ‘cái mình có’, khi có quan niệm ‘cái của mình’ này thì sẽ chẳng thể thoát ra tam giới lục đạo luân hồi. Phật pháp Đại thừaTiểu thừa đều nhằm phá cái Ta này, người tu Tiểu thừa đoạn được ngã chấp thì có thể chứng quả A la hán, thoát ra được tam giới.

‘Ta’ còn không có thì làm sao có ‘cái của Ta’? ‘Danh văn lợi dưỡng của Ta’ đã làm hại chúng ta thê thảm. Từ vô lượng kiếp đến nay chúng ta chẳng phải là chưa gặp Phật pháp, và cũng chẳng phải chưa hết lòng tu học qua, vậy thì tại sao ngày nay phải ra nông nỗi này? Chính là bị cái ‘Ta’ này, ‘cái của Ta’ này hại đấy.

Chỗ cao minh của kinh điển Đại Thừa, đặc biệt là kinh Bát Nhã trong Đại Thừa dạy bạn mỗi khi khởi tâm động niệm gì cũng vì Phật pháp, vì hết thảy chúng sanh. Nhưng người thế gian thường đều lo sợ cho miếng cơm manh áo, đời sống sẽ gặp khó khăn, đây đều là ngã chấp -- chấp trước ‘Ta’, những gì ‘của Ta’. Nếu có tâm niệm này thì chẳng phải là người học Phật và sẽ chẳng đạt được lợi ích chân thật của Phật pháp.

Kinh Kim Cang nói rất hay: ‘Nếu Bồ Tát có tướng Ta, tướng Người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả tức chẳng phải là Bồ Tát’, hãy suy nghĩ coi ý nghĩa của câu này là gì? Ý nghĩa chân chánh của câu này là: ‘Nếu mỗi tâm niệm của chúng ta đều còn có ‘Ta’, ‘của Ta’ thì chúng ta chẳng phải là học trò của Phật, đích thực chẳng phải là người học Phật’. Vẫn còn ‘Ta’, còn ‘cái của Ta’ tức là còn lưu luyến thế gian này nên chẳng thể vãng sanh được.

Tại sao tín đồ Cơ Đốc giáo có thể sanh lên trời? Là vì tâm niệm của họ có thể đem hết thảy vinh dự đều hướng dâng lên Chúa, nếu họ đem hết thảy vinh dự đều cho là của mình thì họ chẳng thể sanh lên trời, vì cái ‘Ta’ của họ chưa phá hết. Thế nên mọi người hãy suy nghĩ kỹ đạo lý này.

2. Bản chất của Phật giáo (Buổi sáng 10-02-95)

Trong thời đại ngày nay Phật giáo cũng đang cải cách, nhưng nếu chẳng thể giữ vững tinh thần chân chánh của Phật giáo thì Phật giáo sẽ biến chất. Một khi biến chất thì Phật giáo chân chánh sẽ bị tiêu diệt, thế nên phải giữ vững bản chất này. Bản chất là những điều ghi trong tựa đề của kinh Vô Lượng Thọ: ‘Thanh Tịnh, Bình Đẳng, Giác’, đây là căn bản, không những là căn bản của Tịnh Tông, mà tất cả hết thảy Phật pháp Đại Thừa đều xây dựng trên căn bản này. Tất cả hết thảy pháp môn đều phải đạt đến mục đích này, tách lìa khỏi mục tiêu này sẽ chẳng là Phật pháp nữa.

Kinh điển trong Phật phápvô lượng kho báu, bản thân bạn phải biết đi tìm kiếm, phát hiện. Bất kỳ một bộ kinh luận nào cũng có kho tàng vô tận, hơn nữa hết thảy kinh luận đều hỗ [tương] thông [đạt] lẫn nhau. Thế nên thông đạt một bộ kinh thì sẽ thông đạt hết thảy kinh điển. Tại sao lại thông đạt hết? Vì mục tiêu của mỗi bộ kinh đều là ‘Thanh Tịnh, Bình Đẳng, Giác’. Chỉ cần bạn đạt được thanh tịnh, bình đẳng, giác thì bạn sẽ thông suốt hết thảy kinh, chẳng có chướng ngại gì hết.

Một bộ kinh cũng chẳng thông thì bất kỳ kinh nào cũng chẳng thông, đây là vì lý do gì? Vì chẳng đạt được tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, vẫn còn mê hoặc điên đảo cho nên chẳng thông. Nếu mọi người hiểu rõ chân tướng sự thật này thì mới hiểu Phật pháp chú trọng ở chỗ chân chánh tu hành, [có chân chánh tu hành] thì mới thông được. Chẳng tu hành chân chánh, nếu chỉ học trên chữ nghĩa, văn tự thì sẽ tuyệt đối chẳng thể thông được.

3. Giới định huệ (Buổi sáng 09-05-95)

Tu học Phật pháp chẳng thể tách rời ‘Giới Định Huệ’. Giới tức là giữ pháp luật, giữ quy củ, giữ những lời răn dạy của Thế Tôn ghi trong kinh điển, chúng ta tuân theo mà làm.

Mấu chốt quan trọng nhất trong việc tu hành là ‘Định’, Định chính là tâm thanh tịnh. Có thể tu tâm thanh tịnh trong mọi cảnh thuận, cảnh nghịch, chẳng bị hoàn cảnh nhân sự quấy nhiễu, ô nhiễm thì đạo nghiệp của bạn sẽ thành công.

Có Định thì sẽ có Huệ, Huệ tức là có khả năng biết rõ thị phi, thiện ác, tuy có thể biết rõ sự khác nhau nhưng tuyệt đối chẳng khởi tâm động niệm. Một khi khởi tâm động niệm thì đã lạc vào ý thức rồi, sẽ chẳng còn giới - định - huệ nữa. Vì vậy nên chư Phật, Bồ Tát đối với bất cứ ai đều chẳng oán hận, cho dù có người ác, việc ác đến chướng đạo, chư Phật, Bồ Tát đều xem như tự nhiên, chẳng khởi lên tâm oán hận. Tại sao vậy? Hy vọng người ác có thể sớm ngày giác ngộ, có thể quay lại. Vì người ác cũng có Phật tánh cho nên Phật, Bồ Tát đối xử với họ rất tôn kính.

F. Điển tích phải đọc

1. Ngũ kinh nhất luận (Buổi sáng14-05-95)

Học Phật và đã phát tâm xuất gia thì nhất định phải gánh vác sứ mạng hoằng pháp lợi sanh, nếu không thì thành tựu sẽ chẳng bằng người tại gia. Hoằng pháp lợi sanh, một đời có thể học một hai bộ kinh thì cũng đủ dùng rồi, chẳng cần phải học quá nhiều. Bộ kinh mà bạn chọn để tu học này, kinh văn và chú giải đều phải học thuộc lòng, nếu chẳng tuân theo phương pháp của các đại đức đời xưa truyền lại, thì sự thành tựu của chúng ta sẽ thua xa người đời trước.

Người đời trước học một bộ kinh không những phải học thuộc lòng kinh văn, mà còn phải học thuộc lòng chú giải. Như trong Tông Thiên Thai họ phải học thuộc lòng ba bộ -- kinh Pháp Hoa, ‘Pháp Hoa Kinh Huyền Nghĩa Thích Thiêm’, ‘Pháp Hoa Kinh Văn Cú’, những cuốn này tính là hai bộ; ngoài ra còn một bộ liên quan đến việc tu hành, đó là ‘Ma Ha Chỉ Quán’. Đây là điều kiện căn bản để học theo phái Thiên Thai; nếu chẳng học thuộc lòng ba bộ này thì chẳng có tư cách để học Thiên Thai. Cho nên người ngày nay chẳng chịu học thuộc lòng kinh sách thì chẳng có cách nào để vượt hơn chư vị tổ sư. Học kinh Vô Lượng Thọ không những phải học thuộc lòng kinh văn của kinh Vô Lượng Thọ mà còn phải học thuộc lòng chú giải của kinh Vô Lượng Thọ.

Trong cả đời tôi chỉ gặp được một người vẫn còn dùng phương pháp dạy học thời xưa này, -- đó là Hải Nhân lão pháp sư ở Hương Cảng. Năm 1977 tôi đến thăm ngài, qua năm sau thì ngài vãng sanh, vãng sanh lúc chín mươi mấy tuổi. Ở Hương Cảng ngài chỉ có sáu học trò mà thôi; ngài chuyên nghiên cứu kinh Lăng Nghiêm, chuyên hoằng Lăng Nghiêm, ở Hương Cảng ngài được xưng là Thủ Lăng Nghiêm Vương. Học trò của ngài phải học thuộc lòng kinh Lăng Nghiêm, phải học thuộc lòng chú giải nên học trò của ngài chỉ có sáu người mà thôi.

Nếu muốn thực sự có thành tựu thì không thể không hạ thủ công phu ở chỗ này. Muốn học kinh Vô Lượng Thọ thì Chú giải kinh Vô Lượng Thọ của lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ rất hay, tốt nhất là có thể học thuộc lòng cuốn này.

Nếu học kinh Quán Vô Lượng Thọ thì chọn ‘Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ’, đây là Sớ của Thiện Đạo đại sư, phải học thuộc lòng cả kinh lẫn chú giải.

Nếu học kinh Di Đà, kinh Di Đà có hai thứ chú sớ: ‘Di Đà Sớ Sao’ và ‘Di Đà Yếu Giải’. ‘Sớ Sao’ tốt nhất nên thêm ‘Diễn Nghĩa’, Diễn Nghĩa là để chú giải cuốn Sớ Sao. Sớ Sao là do Liên Trì đại sư soạn, Diễn Nghĩa là do học trò của Liên Trì đại sư, Cổ Đức pháp sư soạn. Sách Yếu Giải thì tốt nhất nên học thêm cuốn Giảng Nghĩa của Viên Anh pháp sư soạn.

Học Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm thì tốt nhất nên chọn ‘Biệt Hành Sớ Sao’, học thuộc lòng hết hai cuốn này.

Học Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương thì chọn Sớ Sao của Quán Đảnh pháp sư.

Học Vãng Sanh Luận thì chọn chú giải của Đàm Loan pháp sư.

Phải có khả năng học một môn, theo một nhà thì mới được, nếu chẳng dồn hết sức như vậy thì chỉ là giỡn chơi với Phật pháp mà thôi, chẳng thể tự độ, độ tha. Thế nên đại đức thời xưa nói: ‘Năm năm học giới’, phục vụ thường trú trong vòng năm năm là tu phước, tu bố thí, tu nhẫn nhục; trong năm năm này bạn phải học thuộc lòng những kinh điển mà mình phải học. Trong tòng lâm tự viện ngày xưa, năm năm này bạn chẳng có tư cách để nghe kinh. Trong hoàn cảnh ngày nay, bạn có thể nghe kinh, nhưng bạn phải chú trọng vào việc học thuộc lòng kinh.

Năm kinh một luận nếu có thể học thuộc lòng càng nhiều thì càng tốt, chú giải thì tối thiểu phải chọn một loại. Bạn phát tâm tương lai hoằng dương bộ kinh nào thì phải dồn sức vào kinh ấy, mỗi ngày đều đọc, đọc quen rồi thì tự nhiên sẽ nhớ nằm lòng, chẳng cần phải học cũng thuộc, giới định huệ của bạn có thể hoàn thành bằng cách tu học này. Thực sự có thể dồn sức, dồn công phu vào việc này, thì bạn đâu còn thời gian để khởi vọng tưởng, kiếm chuyện thị phi? Vẫn còn vọng tưởng, thị phi thì bạn chẳng thể tu học bằng phương pháp này. Thế nên cổ đức xưa nay đều ‘chuyên công’ -- dồn sức vào học một môn, đều là một môn thâm nhập mà có được thành tựu.

G. Trả lời nghi vấn học Phật

1. Mục đích của việc xuất gia (Buổi sáng 04-01-95)

Người phát tâm xuất gia nói chung cũng đã giác ngộ chút ít rồi. Giác ngộ việc gì? Giác ngộ việc sanh tử luân hồi rất đáng sợ, lập chí muốn liễu sanh tử xuất tam giới ngay trong đời này, đây là như người xưa nói: ‘Thiệt vì sanh tử mà xuất gia’. Một người có giác ngộ như thế sẽ có thái độ chẳng giống như người thường, khi đối xử với người, với sự, với vật, họ sẽ chẳng tranh danh đoạt lợi, sẽ chẳng ganh ghét chống đối. Tại sao vậy? Họ biết đó là nghiệp nhân luân hồi. Hết lòng muốn liễu sanh tử, xuất tam giới chẳng phải là làm không được, nếu ‘chắc thật niệm Phật’ thì sẽ làm được, chúng ta phản tỉnh tự hỏi mình có ‘chắc thật’ hay không?

Chân chánh xuất gia phải nói đến nguyện vọng hoằng pháp lợi sanh, việc này sẽ bị chướng ngại hay chăng? Chướng ngại rất nhiều. Huynh đệ đại chúng ở chung trong một đạo tràng, nếu bạn là người muốn xuất sắc hơn kẻ khác, người ta sẽ đố kỵ, gây chướng ngại để dìm bạn xuống. Mức độ nghiêm trọng của sự đố kỵ, chướng ngại này đã bắt đầu từ thời đức Phật Thích Ca, nhóm sáu tỳ kheo kết bè kết đảng [1] (Lục Quần Tỳ Kheo) là thí dụ cho sự đố kỵ chướng ngại này. Trong ‘Lục Tổ Đàn Kinh’ [có nói] Lục Tổ Huệ Năng đại sư phải trà trộn trong nhóm thợ săn hết mười lăm năm, tại sao vậy? Vì để tránh sự đố kỵ chướng ngại của những kẻ khác. Họ chẳng thể thành tựu nên cũng không muốn ngài được thành tựu.

Tại sao người xuất gia còn những tâm niệm như vậy? Đây là con cháu của Ma Ba Tuần. Lúc Phật còn tại thế không phải trong kinh đã ghi lại rõ ràng hay sao: ‘Trong thời Mạt pháp, Ma Vương Ba Tuần kêu ma con, ma cháu đều xuất gia, đắp ca sa lên mình để phá hoại Phật pháp’, chắc họ là những người này. Nếu chúng tatâm niệm rằng: ‘Người khác giỏi hơn mình, họ làm sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh, mình ganh ghét họ, mình phải kiếm cách phá đám, cản trở họ’. Vậy thì mình đã là con cháu của Ma Vương, chuyên làm việc phá hoại Phật pháp. Nếu có người chân chánh phát tâm làm việc hoằng pháp lợi sanh, chúng ta sanh tâm hoan hỷ, dốc toàn tâm toàn lực để giúp đỡ họ, lo lắng cho họ, như vậy mới thực sự là Phật tử. Thế nên ngày nay chúng ta đã xuất gia, rốt cuộc chúng ta là con cháu của Ma hay là con cháu của Phật? Tự mình phản tỉnh, kiểm điểm thì sẽ biết liền. Con cháu của Ma Vương xuất gia quả báo tương lai nhất định sẽ ở trong ba đường ác, vì họ gây chướng ngại cho đạo pháp chứ chẳng hoằng pháp gì hết.

Thế nên chân chánh phát tâm hoằng pháp lợi sanh thì nhất định phải có thiện xảo phương tiện, đó tức là lúc tự mình dụng công, tư thế phải đặt ở những chỗ thấp nhất, tốt nhất là dụng công đừng để cho người khác biết. Ở những chỗ người ta không thấy thì mình dụng công; những chỗ người ta có thể thấy thì mình hòa đồng với đại chúng, hòa mình với mọi người, hằng thuận chúng sanh tùy hỷ công đức. Ở những chỗ người ta không thấy thì tự mình nỗ lực gắng sức. Buông bỏ hết thảy danh văn lợi dưỡng, tham - sân - si - mạn, đố kỵ chướng ngại. Buông bỏ những thứ này tức là buông bỏ lục đạo luân hồi, một lòng một dạ niệm Phật cầu sanh Tịnh độ, khuyên người niệm Phật, đây là con đường vãng sanh thành Phật.

Hôm nay nhìn người này chẳng ưa, ngày mai thấy người nọ chướng mắt, chúng ta phải biết như vậy là tạo nghiệp luân hồi. Hết thảy những gì trên thế gian đều tùy hỷ, tự mình làm tròn bổn phận của mình, như vậy mới đúng, ngay cả Khổng lão phu tử cũng dạy tông chỉ này – ‘phải làm tròn bổn phận của mình’. Bổn phận tu học của chúng tay theo kinh Vô Lượng Thọ, tu tập Thanh Tịnh, Bình Đẳng, Chánh Giác, Từ Bi; trong đời sống hằng ngày phải thực hiện được Nhìn Thấu, Buông Xuống, Tự Tại, Tùy Duyên. Thiện Đạo đại sư dạy: ‘Hết thảy phải làm từ tâm chân thật’, như vậy mới đúng.

Chương Gia đại sư dạy tôi, ở đây tôi cũng biếu tặng lại cho quý vị: ‘Người học Phật cả đời này bất cứ việc gì đều giao cho Phật, Bồ Tát, thần hộ pháp an bài’. Bản thân mình không cần lo lắng gì cả, được như vậy thì tâm mới thanh tịnh, bình đẳng. Gặp cảnh thuận là do Phật, Bồ Tát an bài; gặp cảnh nghịch thì cũng do Phật, Bồ Tát an bài. Do vậy trong cảnh thuận chẳng sanh tâm ưa thích, trong cảnh nghịch cũng chẳng sanh phiền não. Hết thảy đều do Phật, Bồ Tát xếp đặt một cách ổn thỏa nhất, dùng công việc để luyện tâm, thành tựu đạo nghiệp, vậy thì đâu có chuyện oán trời trách người.

2. Năm trăm năm sau (Buổi sáng 26-01-95)

Người chân chánh cầu sanh Tây phương Cực Lạc thế giới phải có tâm thanh tịnh. Nhưng chúng ta ai cũng là phàm phu chứ chẳng phải thánh nhân, phàm phu vẫn còn phiền não, tập khí tích lũy từ vô lượng kiếp đến nay. Chúng ta sanh trong thời đại này, thời đại ngày nay là thời đại gì? Là thời đại ‘đấu tranh kiên cố’. Trong kinh Kim Cang, Phật có nói đến ‘năm trăm năm sau’, [danh từ này] có nhiều cách giải thích, một trong những cách giải thích là năm lần năm trăm năm sau -- thời Chánh pháp dài một ngàn năm, Tượng pháp dài một ngàn năm, Mạt pháp mười ngàn năm; năm trăm đầu tiên của thời Mạt pháp tức là năm trăm năm này. Đức Phật nói đây là thời đại đấu tranh kiên cố.

Năm trăm năm thứ nhất – năm trăm năm đầu tiên sau khi Phật diệt độ -- là thời kỳ ‘giải thoát kiên cố’, lúc đó người tu hành chứng quả rất nhiều, kinh điển Phật pháp được kết tập trong thời đại này, cho nên những vị tham dự kết tập kinh điển tối thiểu cũng chứng được Tam Quả trở lên, phần đông đều là Tứ Quả A La Hán.

Năm trăm năm thứ nhì là thời kỳ ‘thiền định kiên cố’.

Năm trăm năm thứ ba là thời kỳ ‘đa văn kiên cố’. Đa văn nghĩa là chỉ chú trọng vào việc nghiên cứu, thảo luận kinh giáo, giảng kinh thuyết pháp mà chẳng chú trọng vào việc tu hành.

Năm trăm năm thứ tư là thời kỳ ‘tháp tự kiên cố’. Lúc đó chẳng còn tinh thần để thảo luận về Phật học, mọi người đều bận rộn công việc xây dựng chùa miếu.

Năm trăm năm thứ năm là thời kỳ ‘đấu tranh kiên cố’. Dựa vào sự ghi chép trong lịch sử Trung Quốc, đức Phật Thích Ca Mâu Ni diệt độ đến nay (1995) là ba ngàn lẻ hai mươi mốt năm (3021 năm), cũng tức là mở đầu của năm trăm năm thứ bảy. Đây là thời kỳ đấu tranh, đấu tranh không ngừng. Chúng ta suy nghĩ kỹ xem có chỗ nào chẳng đấu tranh? Thật ra lúc đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế có hết thảy chín mươi sáu nhóm ngoại đạo đối lập với Phật pháp; còn trong Phật mônĐề Bà Đạt Đa, nhóm sáu tỳ kheo kết bè kết đảng nhiễu loạn Tăng đoàn, phá hòa hợp tăng, thậm chí còn muốn ám hại đức Phật Thích Ca. Ngoài ra nhìn lại lịch sử Trung Quốcđạo tràng nào chẳng có đấu tranh? Trong đạo tràng có rồng rắn lẫn lộn, có người tu hành tốt và cũng có người cốt ý muốn phá hoại, đây là chuyện bất cứ đoàn thể nào cũng chẳng tránh khỏi. Đây là một sự bất hạnh của nhà Phật và cũng là hiện tượng chúng sanh phải gặp nạn và chịu khổ.

3. Công việc của người xuất gia (Buổi sáng 29-01-95)

Tại sao phải phát tâm xuất gia? Học Phật thì tại gia cũng có thể thành Phật. Xuất gia là vì chủ trì Phật pháp, tiếp nối huệ mạng của Phật, hoằng pháp lợi sanh, phát triển Phật pháp, đem lại lợi ích chân thật cho chúng sanh, đây mới là công việc của người xuất gia. Nếu mỗi người xuất gia đều có tâm niệm này thì Đài Loan sẽ thành hòn đảo trân quý, phước địa thật sự. Trong thời đại này nếu chẳng thật sự làm được sự nghiệp lợi ích chúng sanh thì nhất định sẽ làm sự nghiệp đấu tranh – tranh danh đoạt lợi, chẳng thể nhẫn nhường lẫn nhau, kình chống lẫn nhau và tạo nên những tội nghiệp này.

Nếu chúng ta đã xuất gia rồi nhưng chẳng thể tín, giải, thực hành theo lời giáo huấn của đức Phật, thì chúng ta sẽ là con cháu của Ma Vương, trong thời kỳ Mạt pháp trộn lẫn trong tăng đoàn để hủy hoại Phật pháp. Tuy trước mắt có được một chút lợi ích -- lợi íchdanh văn lợi dưỡng, hưởng thọ ngũ dục lục trần, nhưng đời sau nhất định sẽ đọa vào địa ngục A Tỳ.

Công việc hoằng pháp lợi sanh chỉ cần có tâm muốn làm thì ai cũng có khả năng làm, đều có thể làm được viên mãn, nếu chẳng làm thì cũng không có cách gì khác.

4. Chánh tri chánh kiến (Buổi sáng 06-02-95)

Tri kiến quan trọng nhất là chánh tri chánh kiến. Tổng cương lãnh tu hành của pháp môn niệm Phật là ‘Phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm’. Phát Bồ Đề tâm là chánh tri chánh kiến, thế nên nếu chẳng phát Bồ Đề tâm thì dù đã làm được nhất hướng chuyên niệm nhưng cũng rất khó vãng sanh, điểm này rất quan trọng. Thực tại mà nói nếu chẳng có chánh tri chánh kiến, tuy có nhất hướng chuyên niệm thì cũng rất khó thành tựu. Vì ‘nhất’ là nhất tâm, tâm có tạp niệm thì chẳng là nhất tâm, niệm A Di Đà Phật mà có xen tạp, tuy buông xuống những pháp môn khác thì hình như là có nhất tâm chuyên niệm nhưng thật sự chẳng phải, bạn còn xen tạp vọng tưởng, còn xen tạp phiền não nên vẫn không thể thành tựu. Do đó tri kiến vô cùng quan trọng trong sự tu hành.

Nếu dùng ngôn ngữ hiện nay mà nói thì ‘tri kiến’ có nghĩa là ‘nhận thức’ -- nhận thức đối với Phật pháp, nhận thức về thế gian pháp. Có nhận thức chính xác tức là chánh tri chánh kiến. Phật pháp trong thế gian giáo hóa chúng sanh chẳng có gì khác ngoài việc giúp chúng sanh xây dựng chánh tri chánh kiến, một khi đã có chánh tri chánh kiến thì tu hành rất dễ. Tu hành là việc của mỗi người, nếu mỗi người tu hành không thể khắc phục phiền nãotập khí thì vấn đề vẫn ở tại tri kiến. Cho nên vừa mở đầu kinh Pháp Hoa đức Thế Tôn liền chỉ rõ tông chỉ của sự giáo học: ‘Khai thị ngộ nhập Phật chi tri kiến’. Đức Phật khai thị cho chúng ta, chúng ta phải có khả năng ngộ nhập. ‘Ngộ’ tức là minh liễu, hiểu rõ, ‘nhập’ tức là thực sự làm được. Và cũng có nghĩa là ‘dung hóa’ chánh tri chánh kiến, có thể hòa thành một thể với đời sống của mình thì gọi là ‘dung hóa’, tục ngữ gọi là chứng quả, ‘nhập’ nghĩa là chứng.

Chúng ta tu học cũng phải có mục tiêutiêu chuẩn rõ ràng. Mỗi năm phải tiến bộ hơn năm trước thì thời gian mới chẳng uổng phí. Người học Phật có thể dùng hai điều sau đây để tự kiểm điểmphản tỉnh coi mình có tiến bộ hay không:

Thứ nhất là khai mở trí huệ và cũng là điều đã nói ở phía trước, chánh tri chánh kiến càng ngày càng rõ ràng, thông suốt. Những đạo lý nói trong kinh năm nay rõ ràng hơn năm ngoái, lãnh ngộ được nhiều hơn.

Thứ nhì là đoạn phiền não. Vọng tưởng, phiền não, và tập khí ít hơn lúc trước. Nếu trí huệ chẳng tăng trưởng, phiền não tập khí vẫn còn rất nặng thì cả năm nay đã trôi qua một cách vô ích, uổng phí.

5. Hoằng pháp (Buổi sáng 09-02-95)

Tu học Phật pháp, hoằng dương Phật pháp muôn vàn chẳng thể lấy danh nghĩa Phật pháp để lừa gạt chúng sanh, để tìm cầu danh văn lợi dưỡng, tham đắm hưởng thọ ngũ dục lục trần, nếu làm như vậy là sai lầm. Cho dù trước mắtthể tham được một chút tiện nghi nhưng đời sau nhất định phải đọa địa ngục A Tỳ, đạo lýsự thật này mọi người đều chẳng khó hiểu. Do đây có thể biết hết lòng tu học, dũng mãnh tinh tấn là một điều tất yếu.

Hoằng dương Phật pháp thì tự mình nhất định phải làm gương tốt, phải nhận thức rõ ràng thời đại này, phải có trí huệ, thiện xảo phương tiện, làm cho hết thảy chúng sanh tín thọ phụng hành dễ dàng, được vậy thì đời này mới chẳng luống uổng.

Chúng ta giúp đỡ người khác, bất luận là cá nhân, đoàn thể, hay đạo tràng đều phải ghi nhớ lời dạy của đại sư Thiện Đạo: ‘Hết thảy phải làm với tâm chân thật’, chẳng thể giả dối. Sự khác biệt giữa Phật phápThế pháp là ở chỗ chân và giả, Phật phápchân thật, tâm là chân thật, cho nên hết thảy đều là chân thật. Tâm người thế gianhư vọng giả dối nên hết thảy đều là hư vọng, đây cũng tức là: ‘vạn pháp duy tâm, vạn pháp duy thức’.

6. Đời sống của người xuất gia (Buổi sáng11-02-95)

Trong thời kỳ Mạt pháp, hoàn cảnh sinh sống của người xuất gia khác hẳn với lúc trước, hoàn cảnh sinh sống của người xuất gia lúc trước có bảo đảm. Giống như ở Trung Quốc đại lục ngày xưa, tự viện am đường đều có hằng sản, có ruộng đất, có rừng núi, có thể cho nông phu mướn ruộng đất trồng trọt, do tự viện thâu tiền mướn đất nên nguồn lương thực của đạo tràng rất ổn định, có tài nguyên kinh tế nên tâm thanh tịnh, tâm định, chẳng phan duyên theo tín đồ, tu hành cũng thành tựu dễ dàng hơn.

Trong xã hội ngày nay chùa chiền không có thâu nhập, chẳng có hằng sản, hoàn toàn phải nhờ tín đồ cúng dường. Vì vậy nên xem tín đồ như là ‘y thực phụ mẫu’ (cha mẹ cung cấp thức ăn áo mặc), tìm đủ mọi cách để lung lạc tín đồ, cũng vì vậy nên tâm phan duyên rất nặng và đạo tâm lơ là, tâm chẳng thanh tịnh, tâm đã bị ô nhiễm, đây là hoàn cảnh tu học ngày nay của chúng ta chẳng sánh bằng người đời xưa. Đây cũng là lý do tại sao ngày nay người tu hành nhiều nhưng thành tựu rất ít. Nếu chúng ta muốn thành tựu ngay trong một đời này thì phải hiểu rõ những vấn đề này, phải rất minh bạch, chẳng thể phạm sai lầm. Thế nên đạo tràng chẳng cần phải lớn, càng nhỏ càng tốt, chi phí ít thì sanh hoạt dễ dàng hơn; còn có khả năng dư thừa thì phải tận tâm làm công việc hoằng pháp lợi sanh.

‘Đạo’ tức là tâm thanh tịnh, nhất định phải ghi nhớ điều này. Đề kinh của kinh Vô Lượng Thọ là ‘Thanh Tịnh, Bình Đẳng, Giác’, đây tức là Đạo, chúng ta tu hành là tu việc này. Hễ những gì nhiễu loạn tâm thanh tịnh, phá hoại tâm thanh tịnh đều là chướng ngại, đều là ma. Nếu chúng ta ngăn ngừa cẩn thận thì sẽ có thêm ‘tăng thượng duyên’ (duyên phụ) để hướng về Đạo, cho dù đang ở trong thời loạn cũng có thể thành tựu được. Nếu chẳng để ý thì tập khí, bịnh cũ của chúng ta sẽ tái phát, tương lai nhất định sẽ đọa lạc.

Đã phát tâm xuất gia rồi chúng ta nhất định phải biết [nếu đọa lạc thì] sự đọa lạc của chúng ta sẽ nặng hơn và thê thảm hơn người thế gian rất nhiều. Người thế gian mê hoặc điên đảo, đọa lạc thì vẫn còn có thể tha thứ được; chúng ta ngày ngày được nghe Phật pháp, đều có trình độ hiểu biết tương đối khá nhiều đối với sự thậtđạo lý của nhân duyên quả báo, đã biết rõ rồi mà còn cố phạm cho nên tội lỗi sẽ tăng gấp bội, còn nặng hơn những người thường phạm lỗi rất nhiều, đây là lý do tại sao chúng ta chẳng thể không cẩn thận, chẳng thể không hiểu rõ.

7. Vãng sanh (Buổi sáng 11-02-95)

Chúng ta phải niệm niệm nhớ về cố hương (quê hương), cố hương là y báo, chánh báo trang nghiêmTây phương Cực Lạc thế giới. Phải ghi nhớ chuyện này trong lòng, những chuyện khác chẳng có liên hệ gì đến ta, phải luôn luôn mong muốn trở về quê hương, cái tâm niệm muốn vãng sanh này là chánh niệm.

Phần đông người thế gian không hiểu, cứ cho rằng: ‘Tại sao người này cứ muốn chết hoài?’. Đây là quan niệm sai lầm của người thế gian. Vãng sanh là sống mà đi chứ chẳng phải chết, vả lại còn là ‘sống mãi’ -- sẽ chẳng còn sanh tử, chẳng còn luân hồi nữa. Cho nên đó mới là sự mở đầu của sự ‘sanh’; nếu chẳng thể vãng sanh thì sẽ có sanh tử. Trong nhà Phật chúng ta thường nói: ‘Pháp thân huệ mạng’. Vãng sanh là bắt đầu chứng được Pháp thân huệ mạng, là sự bắt đầu của chân thường, chẳng phải vô thường, còn ở thế gian này đều là vô thường. Chúng ta phải luôn luôn có cái tâm này, có ý niệm này, như vậy mới tốt.

‘Thế duyên’ tức là làm lợi ích cho chúng sanh. Tuy phước báo của chúng ta rất mỏng, mỏng cũng chẳng thành vấn đề, cho dù chỉ là một chút thí xả, nhưng đó đích xác là lợi ích chân thật, đó cũng là công đức viên mãn.

8. Ma chướng (Buổi sáng 09-05-95)

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên nói rất hay: ‘Họa hay phước chẳng có lối vào, chỉ có người tự chiêu cảm lấy’ (Họa phước vô môn, duy nhân tự chiêu). Nếu chúng ta trong đời sống sanh hoạt hằng ngày, vô ý hay cố ý mắc lỗi [gây xích mích] với người ác sẽ đem đến những quả báo chẳng vừa ý, thì người tu hành chúng ta sẽ có nhiều ma chướng trên đường tu học Bồ Tát đạo. ‘Ma chướng’ là những chuyện cản trở do những người hay việc mà mình có xích mích, đụng chạm làm nên. Nếu chẳng mắc lỗi [xích mích] với người thì ma chướng sẽ ít. Mắc lỗi với người nhiều thì ma chướng sẽ nhiều.

Chúng ta phải khắc phục tâm sân khuể của mình, khắc phục lòng đố kỵ, chướng ngại của mình. Đây đều là phiền não tích lũy từ nhiều kiếp trước, khi thấy người khác giỏi thì trong lòng chẳng vui; khi nhìn người khác có thành tựu thì mình rất khó chịu, liền tìm đủ mọi cách để phá hoại người ta, gây trở ngại phá rối người khác, đâu biết đó là giúp họ thành tựu tâm nhẫn nhục, thành tựu cho định - huệ của họ, chỉ đem lại cho mình nhiều điều chẳng như ý mà thôi. Vì chuyện bạn đã tạo là ‘tánh tội’, tội này sanh từ tâm ác, bản thân của nó đã là tội, cho dù người ta chẳng báo phục thì tự mình cũng sẽ chịu lấy báo ứng.

9. Chánh tri chánh kiến (Buổi sáng 09-05-95)

Tông Thiên Thai có câu: ‘Có thể nói mà không thể làm là quốc sư; có thể nói và cũng có thể làm là quốc bảo’ (Năng thuyết bất năng hành, quốc chi sư dã, năng thuyết hựu năng hành, quốc chi bảo dã), ý nghĩa của hai câu này là điều mà đức Phật thường nói đến trong kinh; người phá giới còn có thể cứu được, phá kiến (người có tri kiến sai lầm) thì chẳng thể cứu được.

‘Có thể nói mà không thể làm’ là phá giới -- người đó biết nói nhưng làm chẳng được, những gì họ nói đều đúng, nói chẳng sai, tri kiếnchính xác, cho nên người này vẫn còn có thể cứu được. Giả sử [người này] trì giới rất nghiêm mật, làm rất tốt, nhưng tri kiến sai lầm thì chẳng thể cứu nổi. Thí dụ chư Phật Như Lai, lịch đại tổ sư đại đức đều dạy chúng ta phải nên cầu sanh Tịnh độ, không những người niệm Phật phải cầu sanh Tịnh độ, tu học bất cứ pháp môn nào đến cuối cùng cũng nên hồi hướng cầu sanh Tịnh độ, kiến giải này tức là chánh tri chánh kiến.

Tự mình có thể một lòng một dạ cầu sanh Tịnh độ và còn giới thiệu chánh pháp cho mọi người, người như vậy tức là quốc bảo. Cho nên làm thế nào hoằng pháp lợi sanh mới có hiệu quả tự độ, độ tha? Phải đem lời dạy trong kinh thực sự làm được trong đời sống hằng ngày. Nếu làm chẳng được, tuy những chuyện mình nói là chánh pháp thì cũng chẳng nói được thấu suốt, triệt để. Tại sao sẽ không thấu triệt? Vì đó chẳng phải sự thể nghiệm của chính mình mà chỉ là những gì mình nghe được; dù cho biết được từ trong kinh thì cũng thuộc về ‘chuyện mình nghe được’ – là nghe đức Phật Thích Ca nói, nghe chư Bồ Tát nói, chẳng phải là do mình đích thân nhìn thấy. Phải làm sao mới có thể đích thân nhìn thấy? Phải tự mình đích thân làm, phải đoạn ác tu thiện, tích công lũy đức, phải mỗi ngày phản tỉnh, kiểm điểm lỗi lầm của mình. Chúng ta đều đã đọc cuốn Liễu Phàm Tứ Huấn, ông Viên Liễu Phàm là một tấm gương rất tốt.

Trong quá trình chuyển ngữ chắc không tránh khỏi thiếu sót, xin các bậc thức giả hoan hỷ phủ chính cho.
Xin thành thật cám ơn.
Một nhóm Diệu Âm cư sĩ, 4-9-2005

[1] Lục Quần Tỳ Kheo: Chữ Phạn là sad-vargīka-bhiksu, chỉ sáu tỳ kheo ác tâm kết bè kết đảng vào thời Phật còn tại thế; họ chẳng giữ giới luật và làm nhiều chuyện ác, đức Phật chế giới luật phần nhiều cũng vì sáu người này. Tên của họ ghi trong các bộ luật chẳng giống nhau, thí dụ như Tứ Phần Luật quyển 22 ghi sáu tỳ kheo gồm: Nan Đà (Nanda), Uất Nan Đà (Upananda), Ca Lưu Đà Di (Kalodayin), Chan Đà (Chanda), A Thuyết Ca (Asvaka, hay còn gọi là Mã Túc, Mã Sư), Phất Na Bạt (Punarvasu, dịch là Mãn Túc). (Lược trích từ Phật Quang Sơn Từ Điển)

==========


HỌC VI NHÂN SƯ, HÀNH VI THẾ PHẠM

Những bài khai thị buổi sáng của Hòa thượng Tịnh Không
Chuyển ngữ theo bản in của Vân Lâm Tịnh Tông Học Hội, tháng 9-2003
------------------------------------------------------------------------------------------------------
TẬP II

Mục Lục

A.Khai thị về phương pháp tu trì
1. Đến cũng không không, đi cũng không không
2. Phương pháp khai ngộ
3. Khỏe mạnh là căn bản của việc tu đạo
4. Làm thế nào mới được công phu đắc lực
5. Làm thế nào hàng [phục] ma
6. Làm thế nào để đối xử hòa mục với tất cả chúng sanh
7. Nói chuyện với đồng tu tại Niệm Phật Đường
8. Học Phật tức là học làm người
9. Cầu cảm ứng
10. Làm đệ tử Di Đà
11. Mở rộng tâm lượng, bao dung kẻ khác
12. Người làm công tác giáo dục xã hội tình nguyện.
13. Căn nguyên của bịnh tật
14. Phương pháp tu hành
15. Làm thế nào để tiêu tai miễn nạn
16. Lý của việc niệm Phật thành Phật
17. Nhìn thấu, Buông xuống
18. Làm thế nào để giữ gìn công phu
19. Khống chế và chiếm lấy
B. Luận sự tử sanh trọng đại
1. Tử sanh đại sự
2. Kể chuyện vãng sanh
C. Khuyên tin sâu nhân quả
1. Chư Phật, Bồ Tát giúp đỡ chúng sanh đang bị khổ nạn như thế nào.
2. Nói về nhân quả và chuyển cảnh giới.
D. Hiểu rõ giáo dục Phật đà
1. Mục đích của giáo dục Phật đà
2. Tam Quy Y
3. Giáo - Lý - Hạnh - Quả
4. Sứ mạng của Giáo dục Phật đà trong thế kỷ hai mươi mốt
Bài giới thiệu sáng lập Tập San Giáo Dục Phật Đà
5. Cảm tưởng sau khi thăm viếng Hồi Giáo
E. Truyền bảo thiện tín tại gia
1. Làm thế nào để hướng dẫn quyến thuộc học Phật
2. Nói chuyện với Tịnh Tông Học Hội Mỹ Quốc
F. Điển tịch phải đọc
1. Nói về ‘Hoa Nghiêm Giản Sử’ và điển tịch Tịnh Tông.
G. Trả lời nghi vấn học Phật
1. Làm thế nào để giải quyết vấn đề xã hội trước mắt.

Phụ lục
Giải thích thêm về danh từ ‘Tam Cương Bát Mục’ dưới lăng kính Phật pháp.



HỌC VI NHÂN SƯ, HÀNH VI THẾ PHẠM
Những bài khai thị buổi sáng của Hòa thượng Tịnh Không
TẬP II

Đây là những bài khai thị buổi sáng của hòa thượng Tịnh Không cho đồng tu khắp nơi, chưa được hòa thượng giám định. Chỉ là do nhóm ghi chép bài giảng đích thân nghe băng thâu âm, ghi lại những điểm chính yếu, chỉnh lý cho gọn rồi viết thành bài nháp này để cúng dường độc giả.

A. Khai thị về phương pháp tu trì

1. Đến cũng không không, đi cũng không không (Buổi sáng 21-11-98)

Tôi cùng Lý hội trưởng đi thăm lão cư sĩ Hồng Cung Lan và tặng cho ổng một xâu chuỗi. Lão cư sĩ nói lúc bình thường ông có rất nhiều vọng niệm, sau khi có được xâu chuỗi này thì vọng niệm ít đi. Ông nằm mộng thấy một nam một nữ đến thăm ông, họ nói là do Ngọc Hoàng Đại Đế phái đến để bảo hộ cho ông, khuyên ông phải nhẫn nại, và nói: ‘Đến cũng không không, đi cũng không không’. Cả đời lão cư sĩ Hồng chẳng có tâm nhẫn nại, tính tình nóng nảy; nghe xong, ông hiểu được và rất hoan hỷ. Sau khi ông tỉnh dậy thì hai người này biến mất. Ông nói ông đã tám mươi tuổi rồi, nhất định không lừa gạt người, đây là cảnh giới thật.

‘Đến cũng không không, đi cũng không không’, hai câu này nói toạc hết nghĩa thú của kinh Bát Nhã. Không những trước lúc chúng ta đến đã không không, đi rồi cũng không không, hiện tại [chẳng phải] cũng không không đó sao? Đức Phật nói chân tướng sự thật là như ‘mộng, huyễn, bọt, bóng’. Mộng, huyễn, bọt, bóng đều chẳng chân thực, đều là giả tướng, thời gian giả tướng này tồn tại rất ngắn, trong kinh hình dung ‘như sương, như ánh chớp. Như sương là nói tướng tương tục -- tiếp nối, như ánh chớp là nói ‘sát na tế’ -- rất nhanh, nói rõ thật tướng chư pháp đích thật như vậy. Người hiểu rõgiác ngộ thì được xưng là Phật, Bồ Tát; người mê hoặc và chẳng giác ngộ cho rằng chuyện này không thật, đây là phàm phu. Cho nên sự sai khác giữa Phật, Bồ Tátphàm phu là ở tại một niệm giác hay mê. Người giác ngộ trong mộng, huyễn, bọt, bóng được tự tại, người mê hoặc thì rất đau khổ.

Do đó có thể biết đây là ‘duyên sanh’, duyên khởi tánh không. Nghiệp duyên rất phức tạp, gồm có ba thứ: thiện, ác, và vô ký (vô ký là chẳng thiện, chẳng ác). Chỉ có người giác ngộ chân chánh mới có thể vận dụng một cách thích hợp, giúp đỡ những chúng sanh chưa giác ngộ có thể khai ngộ, đây tức là chư Phật, Bồ Tát phổ độ chúng sanh. Hiểu rõ chư phápvô sở hữu, ‘không không’ cũng là vô sở hữu, liễu bất khả đắc (trọn chẳng thể có được); cái tâm niệm có thể đắc và những vật đắc được đều là ‘không không’, tâm chúng ta mới chân chánh trở lại bình tịnh, trở lại thanh tịnh, bình đẳng. Thanh tịnh bình đẳngchân tâm bản tánh của chúng ta, và cũng là ‘minh tâm kiến tánh’ nói trong Tông Môn, [hiểu được như vậy] chúng ta mới thể hội tại sao cả đời giảng kinh thuyết pháp, Thế tôn phải dùng hết hai mươi hai năm để giảng kinh Bát Nhã là vì hết thảy chúng sanh chẳng biết chân tướng sự thật, chẳng biết các pháp đều không, chẳng thể hành Bồ Tát đạo. Bồ Tát đạocon đường giác ngộ, phàm phu đi con đường mê hoặc nên mới xuất hiện thập pháp giới, lục đạo, tam đồ. Mê nặng thì là hiện tượng tam đồ, nhẹ hơn thì là lục đạo, nhẹ hơn nữa là tứ thánh pháp giới. Hết thảy tam đồ, lục đạo, tứ thánh pháp giới đều là mê, đều chẳng khế nhập vào ‘lý không’, khế nhập vào ‘lý không’ thì sẽ chứng được Nhất Chân pháp giới.

Nhất Chân cũng là danh tướng nói một cách miễn cưỡng, nếu chúng ta chấp trước có một cái ‘Nhất’, chấp trước có một cái ‘Chân’ thì cũng sai luôn. Đối ngược của một là nhiều, đối ngược của chân là giả, Huệ Năng đại sư nói: ‘Một và nhiều, chân và giả là Nhị pháp, Nhị pháp chẳng phải Phật pháp’. Cho nên chẳng có ý niệm của ‘nhất’, của ‘chân’ thì mới thực sự là Nhất Chân pháp giới. Do đó có thể biết vừa khởi tâm động niệm một chút thì đã sai mất rồi.

Học Phật thì phải học như thế nào? Tông Môn thường nói: ‘Tu từ căn bản’, căn bản tức là một niệm chẳng sanh, tâm địa thanh tịnh chẳng khởi một tâm niệm gì hết. Nếu nghĩ: ‘hiện giờ một niệm cũng chẳng sanh’ thì đã sanh lên cái tâm ‘một niệm chẳng sanh’, vậy thì cũng sai rồi. Lúc mới bắt đầu học, Tông Môn dùng phương pháp ngồi xếp bằng quay mặt vào vách để tập ‘không khởi tâm, không động niệm, chẳng phân biệt, chẳng chấp trước’. Sau khi học thành công rồi thì phải thao luyện trong đời sống, khi lục căn tiếp xúc cảnh giới lục trần phải không khởi tâm, không động niệm, không phân biệt, không chấp trước, vậy thì mới thành công, lúc bấy giờ mọi cảnh giới đều là Nhất Chân pháp giới. Nhất Chân pháp giới chẳng tách lìa thập pháp giới, lục đạo, tam đồ; làm sao có thể gọi là Nhất Chân pháp giới? Do chuyển biến nơi tâm, chuyển biến ở chỗ nhận biết, nhận thức chân tướng của cảnh giới, tức là nhận thức được chân tướng của vũ trụ nhân sanh.

Ý nghĩa của câu ‘Đến cũng không không, đi cũng không không’ rất sâu, nếu nhận thức rõ thì sẽ rất vui vẻ mà nắm lấy duyên, thành tựu vô lượng công đức, đó là tích công lũy đức. Phàm phu nhận lầm cảnh giới, tạo thành tội nghiệp nhưng chẳng phải là cố ý tạo tội. Đức Phật nói nguồn gốc của hết thảy tội nghiệpngu si, si tức là chẳng hiểu rõ chân tướng sự thật nên làm sai, dùng duyên sai lầm. Người giác ngộ hiểu rõ chân tướng sự thật nên khi khởi tâm động niệm, hết thảy hành động đều là tích công lũy đức. Tích công lũy đức là khái niệm của người thế gian, người giác ngộ chẳng có tâm niệm này. Chúng sanh trong thập pháp giớitâm niệm này, Phật, Bồ Tát trong Nhất Chân pháp giới chẳng có tâm niệm này, đó là ‘làm mà không làm, không làm mà làm’.

Chúng sanh có ‘cảm’ thì Phật, Bồ Tát liền ‘ứng’, tự nhiên cảm ứng đạo giao, nhất định chẳng có khởi tâm động niệm. Cổ đức dùng thí dụ đánh khánh, gõ khánh thí dụ cho cái ‘cảm’ của chúng sanh, âm thanh phát ra từ cái khánh thí dụ cho sự ‘ứng’ của Phật, Bồ Tát. Trên thực tế cái ‘ứng’ của Phật, Bồ Tátcảm ứng của tự tánh. Chúng ta xem Phật, Bồ Tát thành người, xem hết thảy các pháp thành thực thể, tinh nghĩa của Đại thừa chúng ta chẳng có cách nào thể hội được nên chẳng biết hết thảy sự vật trong tận hư không trọn khắp pháp giới đều là tự tánh. Người giác ngộ trong Tông Môn thường nói: ‘Đâu cũng là đạo, trái phải đều về nguồn’ (Đầu đầu thị đạo, tả hữu phùng nguyên), câu này nói toạc chân tướng sự thật, hư không pháp giới đều chỉ là một cái tự tánh mà thôi. Tự tánhnăng biến (chủ thể có thể biến), cảm ứng là sở biến (cái được biến), chỗ nào có cảm thì chỗ đó có ứng, cảm ứng đạo giao, tơ hào chẳng sai. Lý Sự của cảm ứng sâu rộng vô cùng, chúng ta phải thể hội kỹ càng, sau khi hiểu rõ thì sẽ biết học Phật như thế nào, làm người như thế nào, làm thế nào sinh sống qua ngày, đạt được hạnh phúc chân chánh mỹ mãn.

Thế pháp nói đến ‘chân - thiện - mỹ - huệ’, Phật pháp nói đến ‘thường - lạc - ngã - tịnh’, những thứ này đều là thật; nhưng chúng sanh trong thập pháp giới chẳng có, Phật, Bồ Tát trong Nhất Chân pháp giới mới có; cũng có thể nói người khởi tâm động niệm chẳng có, người không khởi tâm động niệm mới có. Phật thí dụ tâm như nước, lúc nước bình tịnh chẳng khởi sóng giống như một cái kiếng, soi những cảnh giới bên ngoài rõ ràng, nước này ví như chân - thiện - mỹ - huệ, thường - lạc - ngã - tịnh. Nhưng lúc nước khởi sóng tuy vẫn có thể chiếu soi cảnh giới nhưng rời rạc, tan nát, cho nên chân thiện mỹ huệ, thường lạc ngã tịnh cũng mất luôn. Từ đây có thể biết dù tâm của Phật, Bồ Tát ứng hóa trong lục đạo, tùy loại hiện thân, tùy cơ thuyết pháp nhưng vẫn bình tịnh. Lúc thuyết pháp thì ‘nói mà chẳng nói, chẳng nói mà nói’, lúc thị hiện thì ‘hiện mà chẳng hiện, chẳng hiện mà hiện’ vĩnh viễn trụ trong cảnh giới nhất chân, tâm vĩnh viễn giữ được bình tịnh như nước. Tự tánh công đức tức là ánh sáng của nước có thể chiếu kiến hết thảy vạn pháp. Trong thập pháp giới càng đi xuống thì cường độ rung động của làn sóng tâm càng lớn, càng lên trên thì làn sóng càng nhỏ. Đến lúc nào trong cảnh giới tâm chẳng động nữa, dùng kinh Hoa Nghiêm mà nói thì mức thấp nhất là Viên Giáo Sơ Trụ Bồ Tát, lúc đó Bát Nhã, giải thoát, pháp thân của tự tánh sẽ hiện tiền.

2. Phương pháp khai ngộ (Buổi sáng 24-11-98)

Cách dạy học thời xưa trong Phật phápthế pháp đại khái tương đồng, đều theo quan niệm dùng phương cách khơi gợi, chú trọng ngộ tánh của học sinh. Cách dạy học của nhà Phật là nhằm giúp đỡ học sinh khai ngộ, cách dạy học của Nho gia, Đạo gia cũng vậy, chẳng đề xướng cách học ký vấn, đích thật chẳng giống với cách dạy học ngày nay. Ngày nay chú trọng cách học thuộc lòng và học tràn lan nhiều môn để tích tụ thường thức phong phú, đây là thuộc cách học ký vấn. Người xưa chú trọng học thuộc lòng nhằm mục đích tu định, chứ không coi trọng ký ức; người xưa dùng cách học thuộc lòng để đoạn dứt vọng tưởng, phân biệt, khôi phục tâm thanh tịnh, đây là phương pháp khai mở cánh cửa khai ngộ tốt nhất. Vì cánh cửa khai ngộ bị bế tắc nên chúng sanh chẳng thể khai ngộ, nếu dẹp bỏ phân biệtchấp trước thì trí huệ sẽ hiện tiền, đó tức là ‘mở tung cái nút chặn’ (mao tắc đốn khai).

Do đây có thể biết phân biệt chấp trước càng nghiêm trọng thì càng chẳng thể khai ngộ; phân biệt chấp trước nhẹ mỏng thì dễ khai ngộ hơn, đây là lý do tại sao thế phápPhật pháp đều coi trọng ‘một môn thâm nhập’. Trong một giai đoạn nào đó, chẳng kể là học trình dài ngắn, chỉ cho phép học một môn, bất kỳ khóa trình của một môn nào cũng mong cầu có chỗ ngộ, ngộ nhập trong một môn này thì sự dạy học thành công. Ngược lại nếu chẳng có lãnh ngộ, chẳng khai ngộ, sự dạy học này được kể là thất bại. Do đó giáo học đích thực chú trọng trên trí huệđức hạnh, người sơ học thì đức hạnh đứng hàng đầu, trí huệ đi sau. Một người có trí huệ nhưng chẳng có đức hạnh rất dễ tạo nên chuyện ác to lớn, gây hại xã hội, thế nên đức hạnh đứng hàng đầu. Vừa có đức hạnh lẫn trí huệ thì làm việc gì cũng là đại phước, có thể đem lợi ích cho xã hội, lợi ích cho chúng sanh.

Giáo học của nhà Nho lấy Khổng Lão Phu Tử làm tiêu chuẩn, Khổng Lão Phu Tử dạy bốn khoa: thứ nhất là đức hạnh, thứ nhì là ngôn ngữ, thứ ba là chánh sự (năng lực kỹ thuật), thứ tư là văn học. Lúc đức hạnh và kỹ năng đã được thành tựu, nếu có dư sức lực thì mới học văn học nghệ thuật, đề cao đời sống tinh thần. Thứ tự này rất hợp lý, giáo học của nhà Phật cũng chẳng ngoại lệ, là đoạn phiền não trước sau đó mới học pháp môn; đoạn phiền não tức là đức hạnh, học pháp môn tức là chánh sự. Tuy trên phương thức vận dụng có thể biến hóa nhưng nguyên lý và nguyên tắc thì vĩnh viễn chẳng biến đổi, đó là triết lý giáo dục.

Xã hội ngày nay có thể nói là hoàn toàn chẳng giống ngày xưa. Nếu quan niệm giáo học và nguyên tắc sanh hoạt ngày xưa có thể thích ứng và dung hợp với thời đại hiện nay thì chúng sanh sẽ thực sự đạt được hạnh phúc. Đây cũng là điều những người có lòng tốt, trong Phật pháp gọi là những Bồ Tát có tâm đại từ bi muốn tìm cách giúp đỡ chúng sanh. Thế nên Bồ Tát nhất định phải thông suốt hết thảy pháp trong thế gian mới có thể làm thầy của trời và người, mới có năng lực chỉ đạo xã hội, giáo hóa chúng sanh. Năng lực này tức là trí huệ chân thậtthiện xảo phương tiện. Chân thật trí huệ là thể, thiện xảo phương tiện là vận dụng, nếu chẳng có chân thật trí huệ thì chẳng thể vận dụng được thiện xảo phương tiện.

Lấy thí dụ: Xã hội thời xưa truy cầu hòa bình, xã hội ngày nay lại khuyến khích cạnh tranh, bề ngoài hai bên hoàn toàn xung đột thì phải làm thế nào để dung hợp? Nói từ mặt Lý thì dung hợp nhất định có thể làm được vì cả hai đều cùng chung một pháp tánh. Kinh Đại thừa nói tận hư không trọn khắp pháp giới đều cùng chung một lý thể, ngay cả pháp giới địa ngụcpháp giới Phật cũng có thể dung hợp, huống gì là những pháp giới khác? Do đó trên mặt Lý như vậy thì trên mặt Sự đương nhiên cũng có thể làm được. Trên Sự tướng chúng ta gặp phải khó khăn, nguyên nhân ở tại phân biệt, chấp trước. Đặc biệtngã chấp nặng nề, niệm niệm đều vì ‘lợi ích của tôi’, người nào cũng chấp trước ‘lợi ích của tôi’, đây là cội rễ của vấn đề, tạo thành chẳng thể dung hòa lẫn nhau, và cũng tạo nên vô lượng vô biên tội nghiệp. Nếu ‘tôi’ là thật thì còn có thể chấp nhận được; nào ai biết cái ‘tôi’ này chỉ là một khái niệm trừu tượng, hư giả mà thôi.

Khóa trình cơ bản của Pháp Tướng Tông là ‘Bách Pháp Minh Môn Luận’, trình độ của bộ luận này rất cao, là chỗ nhập môn của pháp Đại thừa, nói rõ về chân tướng của vũ trụ nhân sanh. Bộ luận này thuộc về ‘Tông Kinh Luận’, giải thíchtông chỉ của [những gì] đức Phật nói, trên thực tếgiải thích một câu nói của đức Phật. Đức Phật nói: ‘Hết thảy pháp vô ngã’, Bách Pháp Minh Môn Luận lấy câu này làm tông chỉ, quy nạp hết thảy pháp thành một trăm pháp, bách pháp này tức là hết thảy pháp. ‘Vô ngã’ nói rõ ‘người vô ngã’, ‘pháp vô ngã’, nếu có thể khai ngộ hai việc này thì sẽ hoàn toàn buông xuống ngã chấppháp chấp, liền có thể siêu phàm nhập thánh. Phàm phu chấp trước có ngã, có pháp; Phật, Bồ Tát thì giác ngộ ‘vô ngã và vô pháp’ nên Phật, Bồ Tát trong y báo, chánh báo trang nghiêm của thập pháp giới có thể ‘lý sự vô ngại, sự sự vô ngại, viên dung tự tại’.

Chúng sanh chấp trước có ngã, có pháp thì vĩnh viễn sẽ không thể giải thoát, vĩnh viễn chịu sanh tử luân hồi, khổ chẳng thể tả nổi. Người mê hoặc chẳng hiểu chân tướng sự thật này, chỉ có người giác ngộ hiểu được. Cho dù học tập Phật pháp, nghiên cứu Phật pháp, nhưng họ vẫn còn chấp trước ngã và pháp, vẫn còn khen mình chê người (tự tán hủy tha). Đây là vì còn ngã chấp, chẳng biết chư pháp bình đẳng, chư pháp không tịch, chư pháp duyên sanh nên mới có hành vi này. Phàm những pháp duyên sanh đều chẳng có tự thể, chẳng có tự tánh, ‘đương thể tức không, liễu bất khả đắc’. Tướng thì có mà Thể thì không, Sự thì có mà Lý thì không cho nên Tướng là huyễn tướng, Sự như mộng, huyễn, bọt, bóng, đây đều là chân tướng sự thật.

Sau khi hiểu rõ chân tướng rồi thì tâm sẽ định, sẽ thanh tịnh; lúc đó sự cảm thọ, hưởng thọ trong Phật pháp được gọi là ‘chánh thọ’, chánh tức là chánh thường. Hưởng thọ của người thế gian chẳng chân thường, có ‘khổ, vui, sầu, hỷ, xả’; chánh thọ của Phật pháp chẳng có ‘khổ, vui, sầu, hỷ, xả’. Chư Phật, Bồ Tát ứng hóa trong thế gian tuy là có ‘khổ, vui, sầu, hỷ, xả’ nhưng đó là thị hiện, biểu diễn, du hý thần thông, chẳng phải là thiệt. Phàm phu thiệt có ‘khổ, vui, sầu, hỷ, xả’, chẳng phải diễn tuồng, cho nên tạo nghiệp. Người chân chánh giác ngộ thì sẽ giống hệt chư Phật, Bồ Tát, du hý thần thông, tự tại vô ngại.

Học Phật phải gánh vác trách nhiệm tiếp nối huệ mạng của Phật, gánh vác sứ mạng hoằng pháp lợi sanh, muốn đảm đương sứ mạng này thì nhất định phải ngộ nhập. Phương pháp ngộ nhập chẳng có gì khác ngoài buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp trước mà thôi. Lúc xử thế, đãi người, tiếp vật trong cuộc sống hằng ngày phải buông xuống ngã chấp. Kinh Kim Cang nói đến ‘ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tưởng, thọ giả tướng’, chỉ cần buông xuống một tướng này thì sẽ hoàn toàn buông xuống hết. Bốn tướng này có sự liên hệ mật thiết, có một tướng thì bốn tướng sẽ đều có, buông xuống một tướng thì sẽ buông xuống cả bốn. Sau đó đoạn hết thảy ác, tu hết thảy thiện tức là công đức chân thật, đây là điều mà chư Phật, Bồ Tát đều tán thán, khen ngợi. Chúng ta cần phải biết có đủ bốn tướng này là chướng ngại nghiêm trọng cho sự tu học Phật pháp.

Bạn phát tâm từ bi muốn cứu độ hết thảy chúng sanh, muốn cứu chúng sanh thì trước hết phải độ mình cái đã, nếu tự mình chẳng độ được thì sẽ chẳng có năng lực độ chúng sanh. Cho nên tự tu học và tương lai giúp đỡ chúng sanh đều phải nhờ vào chính mình, tuy chư Phật, Bồ Tát từ bi nhưng cũng chẳng giúp được. Chư Phật, Bồ Tát chỉ giúp chúng ta trên việc dạy dỗ, nói rõ sự thật chân tướng cho chúng ta nghe, cung cấp phương pháp cho chúng ta tham khảo, nhưng khế nhập vào cảnh giới nhất định phải là sự việc của chính mình, hy vọng mọi người phải hết lòng nỗ lực.

3. Khỏe mạnh là căn bản của việc tu đạo (Buổi sáng 25-11-98)

a. Khỏe mạnh là căn bản của việc tu đạo

Bất luận là pháp thế gian hay xuất thế gian, nếu chẳng có thân thể cường tráng thì làm việc gì cũng không thể thành tựu. Đời xưa bất luận là trong thiền đường, niệm Phật đường, đả thất là việc rất bình thường, hơn nữa là bảy ngày bảy đêm chẳng ngủ chẳng nghỉ. Cho nên hơn phân nửa là những người trẻ tuổi tham gia, họ có khả năng và thể lực làm việc này, bốn mươi mấy tuổi trở lên thì thể lực đã suy rồi, việc nghiên giáo (nghiên cứu giáo lý) cũng chẳng ngoại lệ. Cho nên thời kỳ thanh thiếu niên là [thời gian] để củng cố cội rễ của học thuật, sự nghiệp.

Tôi sanh vào thời chiến tranh loạn lạc, suốt cả đoạn đời niên thiếu tốt đẹp nhất tôi phải bôn ba, chạy nạn, cho nên cơ sở giáo dục chẳng được củng cố, dù cho ngày nay siêng năng nỗ lực tu học cũng chẳng có thành tựu bằng người đời xưa. Nếu thể chất kém một chút, thân thể suy yếu, nhiều bịnh thì càng khó khăn hơn. Cho dù có ý muốn học, vẫn cảm thấy tâm có dư nhưng sức chẳng đủ, đây là một chuyện vô cùng đáng tiếc. Thế nên trong đời sống thường ngày nhất định phải chú ý đến thân thể của mình.

Phương pháp thay đổi thể chất nhanh chóng và có hiệu quả nhất là tu tâm thanh tịnh, đoạn trừ hết thảy vọng tưởng, tạp niệm, sống cuộc đời đơn giản và có quy luật. Đời sống đơn giảnđời sống khỏe mạnh. Thực sự có thể làm được thiểu dục tri túc, hết lòng hướng về đạo, hết lòng nghĩ đến chúng sanh khổ nạn, dốc toàn tâm toàn lực để giúp đỡ chúng sanh khổ nạn, đó là đại từ bi. Nhân quả đều có thể chuyển. Có thân tâm khỏe mạnh thì mới có thể phục vụ cho xã hội đại chúng, làm thêm một số việc tốt.

b. Nhân quả

Miền đông bắc Trung Quốc nước sông tràn ngập lênh láng, có rất nhiều người gần chết đói, hy vọng được cứu giúp. Chúng tôi gởi mười vạn bộ áo lạnh và lương thực cho họ, và giúp họ xây dựng lại trường học. Những thời gian chịu đựng khổ nạn này có thể cảnh giác mọi người đừng nên tạo ác nghiệp nữa. Họ tự mình phản tỉnh là do trước kia bắt cá, sát sanh quá nhiều, ngày nay nghĩ lại cái được chẳng bù nổi cái mất. Có câu ‘Ở gần núi thì ăn [đồ ở] núi, ở gần sông thì ăn [đồ ở] sông’, ở ven biển hay sông thì làm nghề chài lưới sinh sống, đời sống được no ấm thì liền biết đủ, như vậy còn có thể tha thứ. Nếu tham hưởng thụ, hy vọng lợi dụng việc sát sanh để phát tài, vậy thì là tạo tội nghiệp, gia đạo làm sao có thể hưởng lâu dài được? Trong lịch sửhiện thực cuộc sống, nếu chúng ta quan sát kỹ càng thì đích thực nhân quả báo ứng tơ hào chẳng sai.

Từ nghiệp sát này chúng ta liên tưởng đến người hiện nay tạo bốn thứ nghiệp: giết hại, trộm cắp, dâm dục, nói dối; trong Phật pháp đây là bốn giới trọng, bất luận là xuất gia, tại gia đều phải tuân thủ. Nhìn vào xã hội ngày nay những gì trong tâm mọi người suy nghĩ, lời nói, hành động đều là giết hại, trộm cắp, dâm dục, nói dối, rượu chè (sát, đạo, dâm, vọng, tửu), mỗi ngày đều tạo nên năm thứ tội nghiệp này, trên thực tế tức là tạo ra mười ác nghiệp, tai nạn trên thế gian làm sao tránh nổi?

Nếu muốn cứu mình thì phải hạ quyết tâm ngay tại chỗ này, giữ gìn cấm giới nghiêm túc, y giáo phụng hành. Có thể cứu mình thì mới có thể giúp đỡ người khác, phương pháp duy nhất giúp đỡ người khác cũng chỉ là khuyên nhủ. Những gì đời sống người xuất gia cần thì phải nhờ vào người tại gia cúng dường, cũng chẳng còn sức lực dư thừa để giúp người khác, duy chỉ có thể dùng thân mình làm gương, khuyên mọi người trong xã hội và những người có phước báo lớn nên phát tâm tu phước. Nếu tư tưởnghành vi của chúng ta chẳng ngay thẳng thì làm sao khuyên người ta cho được, làm sao làm cho người khác tin tưởng? Thế nên phải bắt đầu từ mình mà làm, tâm và hạnh của mình chân chánh thì mới ảnh hưởng người khác được.

Đặc biệt là khuyên những người phú quý, hy vọng họ giác ngộ, đây là duyên đời trước họ tu phước đời này mới hưởng phước, lúc hưởng phước phải tiếp tục tu nhân thì phú quý mới đời đời kiếp kiếp tiếp nối chẳng dứt; nếu trong đời này hưởng hết phú quý thì đời sau nhất định sẽ đọa lạc. Người bần cùng hưởng nhiều khổ nạn vì đời trước chẳng tạo thiện nhân, đời này chưa gặp được thiện duyên, vì vậy nên ngu muội vô tri, tạo tác rất nhiều ác nghiệp. Chúng ta cũng nên khuyên các người nghèo khổ phải giác ngộ, quay trở lại, đoạn ác tu thiện thì đời sau mới được phước báo. Được vậy thì người phú quý hay nghèo khổ gì cũng đều được độ. Chư Phật, Bồ Tát xuất hiệnthế gian đều là vì công việc này, toàn tâm toàn lực giúp đỡ chúng sanh giác ngộ, đây là sự nghiệp của Phật, Bồ Tát. Chúng ta làm học trò, đệ tử của Phật, phải học tập và bắt chước tâm nguyện từ bi của Phật, Bồ Tát, phát huy mạnh mẽ sự nghiệp của Phật, Bồ Tát.

c. Mở rộng tâm lượng.

Trong thời đại ngày nay chúng ta phải mở rộng tâm lượng. Vì thông tin phát đạt, giao thông tiện lợi nhanh chóng, những gì phát sanh khắp nơi trên thế giới lập tức liền có thể biết được, thế nên phạm vi hoạt động của chúng ta bằng cả trái đất. Chúng ta phải quan tâm thương mến bất cứ địa khu nào trên trái đất, chẳng thể gò bó trong một phạm vi nhỏ hẹp, như vậy thì tâm lượng quá nhỏ. Ngoài trái đất này ra tâm lượng của chúng ta còn phải mở rộng đến khắp hư không pháp giới thì chúng ta mới có khả năng xuất ly. Nếu chẳng có tâm niệm này thì làm càng nhiều việc tốt cũng chỉ là phước báo nhân thiên. Có hiểu được lý này thì mới biết tận hư không khắp pháp giới hết thảy chúng sanh hữu tình đều là đồng bào của chúng ta, những đồng bào này có cùng chung một pháp tánh, đều là chân tâm bản tánh của mình biến hiện ra. Kinh Hoa Nghiêm nói: ‘tình và vô tình đều viên thành chủng trí’ (tình dữ vô tình đồng viên chủng trí). Chỉ có thành Phật mới thực sự nhìn thấy ‘tình và vô tình đều là đồng bào’. Sau khi hiểu rõ thì mới biết trong đời này mình nên làm như thế nào, làm sao nỗ lực mới có thể tương ứng với chư Phật, Như Lai thanh tịnh từ bi.

4. Làm thế nào mới được công phu đắc lực (Buổi sáng 29-11-98)

a. Nhìn thấu. Buông xuống

Trong kinh Di Đà, đức Thế Tôn ba lần khuyên chúng ta phải nên phát tâm cầu sanh Tịnh Độ, sáu phương Phật khuyên chúng ta nên tin kinh này và cũng khuyên chúng ta phải tin tưỏng lời của đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Sáu phương Phật đại biểu cho mười phương ba đời hết thảy chư Phật, do đó mới biết Thế Tôn khuyên chúng ta cầu sanh Tịnh Độ cũng tức là mười phương hết thảy chư Phật đều khuyên chúng ta cầu sanh Tịnh Độ, lời khuyên này là lời chân thật, chẳng thể nghĩ bàn, khẩn thiết đến cùng cực.

Tại sao Phật lại khuyên như vậy? Đức Phật giáo hóa chúng sanh là vì muốn chúng sanh phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui mà vãng sanh đến Cực Lạc thế giới mới là phá mê khai ngộ viên mãn, được niềm vui rốt ráo, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển mãi cho đến khi thành Phật. Đó là đại nguyện viên mãn của chư Phật thành Phật đạo, độ chúng sanh, thế nên hết thảy chư Phật mới đau lòng mỏi miệng khuyên [như vậy]. Chúng ta đọc kinh, nghiên giáo phải thể hội được ý chỉ này một cách sâu sắc, hết lòng nỗ lực, thật thà niệm Phật thì mới chẳng phụ lòng hết thảy chư Phật.

Chúng ta đều có tâm niệm này nhưng tại sao công phu vẫn chẳng đắc lực? Đây là do phiền não tập khí đang hoành hành, chướng ngại đạo nghiệp và sự tinh tấn của chúng ta. Kinh Kim Cang dạy cho chúng ta nguyên tắc vô cùng quan trọng, phương pháp phá trừ chướng ngại là ‘nhìn thấu, buông xuống’. Không những thế pháp phải nhìn thấu, buông xuống, Phật pháp cũng phải nhìn thấu, buông xuống. Nhìn thấu tức là hiểu rõ chân tướng sự thật. Nếu chúng ta dựa trên nguyên lý, nguyên tắc dạy trong kinh rồi quan sát kỹ càng tất cả hiện tượng trong thế gianxuất thế gian thì sẽ hiểu rõ. Hiểu rõ chân tướng sự thật, đối với pháp thế gianxuất thế gian chẳng khởi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nữa chính là buông xuống. Sau khi buông xuống không những trên sự tu hành chẳng có chướng ngại, lúc xử sự, đãi người, tiếp vật trong đời sống sanh hoạt hằng ngày cũng được đại tự tại, cùng chư Phật, Bồ Tát ứng hóa trong thế gian du hý thần thông, không hai không khác. Kinh Kim Cang nói Ta, Người, Chúng sanh, Thọ giả đều là giả, toàn là mộng, huyễn, bọt, bóng, thời gian tồn tại như sương và như chớp, đó là chân tướng sự thật.

Ba Mươi Bảy Đạo Phẩm là tổng nguyên tắc, tổng cương lãnh của sự tu hành. Ba Mươi Bảy Đạo Phẩm chia thành bảy khoa, khoa đầu tiên là ‘Tứ Niệm xứ’ dạy cho chúng ta nhìn thấu. Nội dung của Tứ Niệm Xứ và ‘Ta, Người, Chúng sanh, Thọ giả đều là giả’ nói trong Kinh Kim Cang hoàn toàn là cùng một đạo lý. Kinh Kim Cang dạy cho người Đại Thừa còn Tứ Niệm Xứ dạy cho người Tiểu Thừa. Cho nên Ba Mươi Bảy Đạo Phẩm giống như sáu chữ hồng danh, tam căn phổ bị (bao trùm hết ba hạng căn tánh: thượng, trung, hạ), lợi độn gồm thâu, chín pháp giới chúng sanh tu học cũng chẳng rời nguyên tắc này.

Trong Tứ Niệm Xứ: thứ nhất là ‘Quán thân bất tịnh’: quán sát thân này chẳng tịnh. Thứ nhì: ‘Quán thọ thị khổ’. Thứ ba: ‘Quán tâm vô thường’. Suy nghĩ kỹ càng một người đến thế gian này mấy chục năm ngắn ngủi cho dù trường thọ đến một trăm tuổi thì cũng ngắn ngủi như thời gian búng một ngón tay, trong mấy sát na mà thôi. Thứ tư: ‘Quán pháp vô ngã’ bao gồm ‘Tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả’; quán thân, quán thọ, quán tâm đều thuộc về ‘tướng ta’ (ngã tướng), hoàn toàn tương đồng với chỉ thú của kinh Kim Cang. Sau khi nhìn thấu thì phải buông xuống. ‘Tứ Như Ý Túc’ trong ‘Ba mươi bảy Đạo Phẩm’ tức là buông xuống, chẳng còn nắm giữ pháp thế gian và pháp xuất thế gian trong tâm nữa.

b. Tu Tam Học, Lục Độ, Thập nguyện

Phật dạy chúng ta đã được thân người, phải trú ở thế gian này mấy chục năm, đúng là ‘đã đến rồi thì hãy ở yên’ (ký lai chi, tắc an chi). Thế nên người thông minh, có trí huệ biết tích công lũy đức, vì họ hiểu được ‘vạn pháp đều không, nhân quả chẳng không’. Tích công lũy đức như thế nào? Đây là lời dạy trong ‘Tứ Chánh Cần’, đoạn hết thảy ác, tu hết thảy thiện. Đoạn ác nhất định phải đoạn phiền não tập khí của mình, tu thiện nhất định phải tu Giới - Định - Huệ Tam Học, tu Bồ Tát Lục Độ, tu Thập Nguyện Vương. Biến Tam Học, Lục Độ, Thập Nguyện thành kiến giải và hành trì trong đời sống của mình tức là tích công lũy đức.

Hoàn toàn trái ngược với Tam Học: Giới - Định - Huệ là tam độc: tham - sân - si. Phật dạy chúng ta lấy Giới để đoạn tham, lấy Định để đoạn sân, lấy Huệ để đoạn si, biến tham - sân - si thành Giới - Định - Huệ, đây là đoạn ác tu thiện. Bồ Tát Lục Độ nói càng rõ hơn, dùng Bố Thí đoạn trừ tham lam, lấy Trì Giới đoạn trừ ác nghiệp, lấy Nhẫn Nhục đoạn trừ sân khuể, lấy Tinh Tấn đoạn trừ giải đãi, lấy Thiền Định đoạn trừ tán loạn, lấy Trí Huệ đoạn trừ ngu si. Nếu có thể tuân theo sáu nguyên tắc này khi xử sự, đãi người, tiếp vật trong đời sống hằng ngày thì người đó là Bồ Tát. Bồ Tát khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác, nhất định phải tương ứng với những nguyên tắc này.

Phổ Hiền Thập Nguyệnđại hạnh viên mãn của Bồ Tát, trong kinh nói Bồ Tát không tu Phổ Hiền hạnh thì chẳng thể viên thành Phật đạo. Cốt tủy của Phổ Hiền hạnh là tâm lượng viên mãn, ‘tâm bao trùm thái hư, lượng gồm thâu các cõi nhiều như cát’ (tâm bao thái hư, lượng châu sa giới), đây là tâm lượng của Phổ Hiền Bồ Tát; dùng tâm lượng to lớn này tu hết thảy thiện phápPhổ Hiền hạnh. Kinh Hoa Nghiêm quy nạp vô lượng hạnh môn của Phổ Hiền thành mười cương lãnh, tức là Phổ Hiền thập đại nguyện vương, mười điều này là tổng cương lãnh của Phổ Hiền hạnh. Mười điều này phải thuận theo thứ tự, chẳng thể thay đổi lộn xộn, thứ nhất là Lễ Kính Chư Phật, đây là căn bản của hạnh môn. Đối với hết thảy người, sự, vật, tận hư không trọn khắp pháp giới hết thảy chúng sanh đều phải cung kính. Trong kinh nói: ‘Hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ quá khứ, chư Phật vị lai’. Dùng tâm hiếu thuận cha mẹ để hiếu thuận hết thảy chúng sanh, dùng tâm tôn kính sư trưởng để tôn kính hết thảy chúng sanh, người này sẽ là Phổ Hiền Bồ Tát. Việc tu học này được gọi là Phổ Hiền hạnh. Đây là cốt lõi của Phổ Hiền hạnh, là cội rễ của Phổ Hiền hạnh.

Dùng Lễ Kính làm cơ sở, điều thứ hai là Xưng Tán Như Lai. Cổ thánh tiền hiền dạy người ta dấu ác, bày thiện, đây là tu dưỡng đức hạnh của mình, và cũng vì xã hội an định, hy vọng mọi người đều nhìn thấy mặt tốt mà thôi. Phiền não tập khí của hết thảy chúng sanh đều chưa đoạn trừ, đều có mặt xấu ác, xấu ác thì chẳng cần phải nói đến, mặt tốt đẹp thì phải tận lực đi tuyên dương, làm cho hết thảy chúng sanh đều giác ngộ đến phải đoạn ác tu thiện. Nếu bạn tạo ác, người ta tha thứ cho bạn, một câu nói cũng chẳng nói đến, bạn sẽ sanh tâm xấu hổ; khi bạn làm một chút chuyện thiện, người khác biểu dương, khen ngợi bạn, đây là để cổ võ việc tu thiện. Cách dụng tâm này rất thiện, rất tốt.

Thứ ba là Quảng Tu Cúng Dường, hết thảy chúng sanh bất luận là trên phương diện vật chất hay tinh thầnthiếu thốn, nếu chúng ta có khả năng thì hãy tận tâm tận lực chủ động giúp đỡ, chẳng cần người ta lại cầu, đây là bố thí cúng dường. Từ Bồ Tát mà nói thì đây là bố thí, sự bố thí của Phổ Hiền Bồ Tát thì gọi là cúng dường. Phổ Hiền Bồ Tát coi hết thảy chúng sanhcha mẹ quá khứ, chư Phật vị lai, vì vậy nên gọi là cúng dường, đây là sự tôn kính hết thảy chúng sanh đến cùng cực. Thứ tư là Sám Hối Nghiệp Chướng, đây là nói về sự tu hành của mình.

Trong Phổ Hiền thập nguyện vương mỗi một nguyện đều bao hàm hạnh môn viên mãn, nguyện nào cũng như vậy, hàm nhiếp lẫn nhau. Niệm Phật như vậy thì làm sao có việc niệm Phật chẳng đắc lực được? Niệm Phật như vậy thì làm sao chẳng vãng sanh được? Cho nên Phật dạy những nguyên lý, nguyên tắc này, chúng ta nhất định phải nắm chắc [và áp dụng vào] trong đời sống hằng ngày thì mới thật sự thành tựu cho mình, chẳng phụ kỳ vọng của chư Phật Như Lai đối với chúng ta.

5. Làm thế nào hàng [phục] ma (Buổi sáng 30-11-98)

Ngạn ngữ có câu: ‘Chuyện tốt có nhiều trắc trở’ (Hảo sự đa ma), và: ‘Đạo cao một thước, ma cao một trượng’. Ma là chướng ngại trong đời sống và sự tu hành của chúng ta. Muốn giải quyết vấn đề này chỉ có học theo phương pháp của đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Trong bát tướng thành đạo Thế Tôn thị hiện ‘hàng phục ma ngoại’ đáng để chúng ta học tập. Phương pháp Thế Tôn hàng phục ma chẳng phải là đối ngoại mà là đối nội. Ma quân tới nhiễu loạn, uy hiếp, Thế Tôn chẳng chống lại, ma nữ đến dụ hoặc Thế Tôn cũng chẳng trốn tránh mà dùng Giới Định Huệ Tam Học để giải quyết.

Từ đây chúng ta rút ra được một bài học, khi gặp phải bất kỳ uy hiếp dụ hoặc, hay chướng nạn có bao lớn đi chăng nữa thì chỉ cần tiêu trừ ma oán trong nội tâm, cảnh giới bên ngoài sẽ là ‘chẳng có Phật mà cũng chẳng có ma’. Cũng như Ngẫu Ích đại sư nói: ‘Cảnh duyên chẳng có tốt xấu, tốt xấu là ở nơi tâm’. Ma cảnh bên ngoài thật ra là do tâm ma biến hiện ra, có thể biến thành ma cảnh là do tà tri tà kiến của chính mình, phiền não tham - sân của mình, cảnh giới bên ngoài là cảnh bị biến ra (sở biến). Thế Tôn dạy chúng ta phương pháp là phải hàng phục cái tâm năng biến của mình, ma cảnh được biến ở bên ngoài sẽ chẳng gây chướng ngại gì cả.

Kinh Bát Đại Nhân Giác chia Ma thành bốn loại, đó là Ngũ Ấm Ma, Phiền Não Ma, Tử Ma, Thiên Ma. Ngũ Ấm Ma, Phiền Não Ma, Tử Ma đều thuộc về tâm ma của mình; chỉ có Thiên Ma là ở phía ngoài. Thiên Ma từ đâu tới? Cũng là do tâm ma của mình biến hiện ra thôi. Người đời chẳng biết đạo lý này nên khi gặp yêu ma quỷ quái thì liền tìm mọi cách để kháng cự, khắc phục, như vậy vĩnh viễn chẳng thể giải quyết vấn đề. Phương pháp giải quyết vấn đề là phải hóa giải. Bản thân mình có phiền não, tà tri tà kiến, đây là gốc rễ của hết thảy ma chướng. Thế nên chỉ cần làm được ‘tri kiến chánh, trừ phiền não’, ma ngoại cũng sẽ thành Phật luôn. Trong bốn hoằng thệ nguyện có nguyện ‘chúng sanh vô biên thệ nguyện độ’, ma cũng là chúng sanh, độ ma thành Phật thì mới đúng là phổ độ chúng sanh.

Chánh tri chánh kiến là từ Tam Muội mà được. Một người tu hành có định công tương đương thì cũng chẳng biết mìnhchánh định hay tà định, thế nên chúng sanh trong chín pháp giới tu hành chẳng thể tách lìa kinh điển. Nếu lý luận, phương pháp tu họccảnh giới hiện ra trong công phu tương ứng với kinh điển thì là chánh tri, chánh kiến, tức là chánh hạnh, chánh thọ; chánh thọ tức là Tam Muội. Phạm vi của Tam Muội rất rộng lớn, chỉ cần là ‘chánh’ thì là Tam Muội, cho nên chánh tri, chánh giải, chánh hạnh, chánh thọ đều thuộc về Tam Muội.

Chúng ta xem trong kinh khi Phật thuyết pháp cho chúng sanh trước hết phải thị hiện nhập định, kinh Hoa Nghiêm cũng chẳng ngoại lệ. Kinh Lăng già nói: ‘Na Già thường tại định, vô hữu bất định thời’[1], Pháp Thân đại sĩ cũng thường ở trong định, Phật còn phải nhập định hay sao? Phật thị hiện nhập định là muốn thuyết minh: thuyết pháp độ sanh dùng Tam Muội làm căn bản, hết thảy pháp đều từ Tam Muội lưu lộ ra; Tam Muội rộng lớn vô cùng, tức là tánh đức lưu xuất.

Cảnh giới trong định là Nhất Chân pháp giới, chẳng có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, chẳng có trước sau, lớn nhỏ, hết thảy khái niệm và sự tướng tương đối đều chẳng tồn tại. Nhất Chân tức là sự thật chân tướngNhư Lai chứng được, điều Như Lai sở chứng tức là tướng cảnh giới được hiện ra trong khi nhập Tam Muội. Cảnh giới này đối với phàm phu chẳng thể nghĩ bàn. Thí dụ trong kinh có nói: ‘Hạt cải chứa Tu di’ (Giới tử nạp Tu Di), hạt cải nhỏ cũng như hạt mè vậy, hạt cải chẳng có phóng đại, núi Tu Di cũng chẳng thâu nhỏ, làm sao bỏ núi Tu Di vào trong hạt cải? Là vì chẳng có lớn nhỏ cho nên có thể tương tức, tương dung (có thể chính là nhau, dung chứa lẫn nhau). Chúng ta biết phân biệt lớn nhỏ, chấp trước lớn nhỏ, nhỏ chẳng thể chứa lớn, đây tức là ma cảnh. Ma cảnh là từ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước sanh ra; nếu xa lìa vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thì chẳng có lớn - nhỏ, trong - ngoài, hạt cải sẽ có thể chứa núi Tu Di.

Phàm phu sanh hoạt trong thời gian, không gian tương đối, khoa học gia gọi là ‘tương đối luận’, tương đối tức là phân biệt chấp trước, chẳng phải thật. Phật, Bồ Tát chẳng có phân biệt chấp trước, chẳng có tương đối, ngay cả Lý Sự cũng chẳng có, cho nên các Ngài không có chướng ngại. Trong cái nhìn của Phật, Bồ Tát, dù là yêu ma quỷ quái thì cũng là cha mẹ quá khứ, chư Phật vị lai, đều dùng tâm hiếu thuận, cung kính để đối đãi, chẳng có giảm bớt chút nào.

Đây là Thế Tôn thị hiện bản lãnh hàng phục ma, dụng ý là cho chúng ta học tập. Chỉ cần có tà kiến, phiền não thì nhất định sẽ có ma chướng, yêu ma quỷ quái sẽ thường thường bao quanh bên mình. Nếu có thể diệt trừ tà kiến, phiền não thì yêu ma quỷ quái cũng sẽ thành Phật. Từ đây có thể biết Phật và Ma chỉ ở tại một niệm mà thôi. Một niệm mê thì Phật sẽ biến thành Ma; một niệm giác thì Ma sẽ thành Phật. Vì vậy gút mắt ma chướng chẳng ở bên ngoài mà ở trong nội tâm. Người thế gian mê muội gặp yêu ma quỷ quái thì mời đạo sĩ vẽ bùa, niệm chú để trừ tà ma, vậy là dùng võ lực để kháng cự. Cho dù bạn có thể thắng họ thì vấn đề vẫn chưa được giải quyết; tâm oán hận của họ, tâm báo thù vẫn còn, họ vẫn sẽ quay lại trả thù, vả lại sẽ còn mạnh mẽ hơn, như vậy thì sẽ dây dưa chẳng dứt, vấn đề sẽ ngày càng trầm trọng. Cho nên Thế Tôn chẳng chống đối mà dùng tâm chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, từ bi để bao dung, cảm hóa. Biến đổi Ma thành Phật là một việc tốt, hai bên đều có lợi. Sau khi Ma thành Phật thì sẽ vĩnh viễn cảm kích bạn, khi bạn thị hiện thành Phật độ sanh, Ma sẽ thị hiện đủ mọi thân phận để hộ pháp, đây mới là cách thực sự giải quyết vấn đề. Phàm ai làm hỏng vấn đề đều là do ngu si tạo nên. Do đó mới biết trí huệ là đáng quý.

Phật pháp từ đầu đến cuối đều truy cầu trí huệ, chỉ có trí huệ mới có thể giải quyết hết thảy vấn đề một cách viên mãn. Tất cả những vấn đề thế gianxuất thế gian đều có thể giải quyết viên mãn, vì trên Lý là cùng chung một pháp tánh, pháp tánhcứu cánh viên mãn. Hết thảy sự vật đều y pháp tánh làm tự thể, tự thể viên mãn, tự thể hiện ra tướng cũng nhất định viên mãn. Phàm chẳng thể giải quyết đều là vì trí huệ chẳng đủ, phương pháp chẳng hoàn hảo, phải quay lại tu trí huệ. Phương pháp tức là quyền trí, nhà Phật gọi là thiện xảo phương tiện; quyền trí y vào thực trí, thực trí chính là Tam Muội. Cho nên mới nói tự mình thành Phật rồi nhìn thấy núi sông, sơn hà đại địa chúng sanh ‘tình và vô tình đều viên thành chủng trí’ (tình dữ vô tình, đồng viên chủng trí). Từ đó có thể biết giải quyết bất kỳ nghi nan tạp chứng trong thế gian, xuất thế gian đều ở tại nội tâm. Phật pháp xưng là Nội Học, chẳng hướng ngoại, hướng ngoại là ngoài tâm cầu pháp, là ngoại đạo. Ngoại đạo chẳng thể giải quyết vấn đề, chỉ có Nội học mới có thể giải quyết vấn đề.

Do đó trong giai đoạn sơ học nhất định phải đọc thuộc Đại Thừa, đặc biệt là những người phát tâm hoằng pháp lợi sanh, không những phải đọc tụng mà còn phải khế nhập vào cảnh giới. Khế nhập tức là ‘tùy văn nhập quán’. Mở quyển kinh ra tùy lời dạy trong kinh mà chuyển biến quan niệm của mình thì gọi là ‘tùy văn nhập quán’. Nhập tức là khế nhập, ý nghĩa của ‘nhập’ bao gồm ‘tín - giải - hành - chứng’. Nhập tức là chứng, có hành mới có chứng, hành là thay đổi quan niệm; thay đổi quan niệm là vì hiểu rõ đạo lý, hiểu lý tức là tin tưởng lời dạy của Phật. Phật nói về ‘Giáo - Lý - Hạnh - Quả’, chúng ta có thể làm được tín - giải - hành - chứng, cảnh giới liền chuyển, đây tức là ‘tùy văn nhập quán’, đây là chân thật tu hành, có thể đạt được thọ dụng chân thật. Phương pháp tu hành vô lượng vô biên, tùy văn nhập quánphương pháp tu hành của Giáo Hạ, tức là mở ra cuốn kinh có thể nhập vào cảnh giới Phật. Nhập cảnh giới quan trọng nhất là ở trong sanh hoạt hằng ngày, trong lúc xử sự, đãi người, tiếp vật, lúc nào cũng giữ được, chẳng đánh mất tức là chẳng thoái chuyển. Có bản lãnh này thì khi gặp yêu ma quỷ quái chúng ta sẽ chẳng kinh sợ, chúng ta có khả năng giúp đỡ họ cùng thành Phật đạo, đây là cách giải quyết viên mãn nhất. Đây là lời Phật dạy, đây mới là chân thật, cứu cánh, mỹ mãn.

6. Làm thế nào để đối xử hòa mục với tất cả chúng sanh (Buổi sáng 01-12-98)

Từ xưa đến nay giáo dục của nhà Phật, nhà Nho đều chẳng ra ngoài hai việc: thứ nhất là dạy chúng ta nhận thức quan hệ giữa chúng tađại vũ trụ, đây tức là ‘chư pháp thật tướng’. Hiểu rõ chân tướng của vũ trụ nhân sanh một cách chính xáctông chỉ chủ yếu của giáo dục, đây là Thể. Thứ nhì là dạy chúng ta làm thế nào đối người, đối sự, đối vật và cũng nghĩa là trong sanh hoạt làm sao xử sự, đãi người, tiếp vật, đây là Dụng. Hai cái Thể và Dụng này bao gồm toàn bộ giáo học, đây chẳng phải chỉ là lời dạy của Phật Thích Ca Mâu Ni mà thôi, mười phương ba đời hết thảy chư Phật giáo hóa tất cả chúng sanh đều chẳng ngoại lệ.

Trên mặt tác dụng tại sao chúng ta không thể đối xử hòa mục với hết thảy chúng sanh? Là vì chẳng hiểu chân tướng sự thật. Chư Phật, Bồ Tát đại thánh đại hiền hiểu rõ chân tướng cho nên có thể đối xử hòa mục với hết thảy chúng sanh. Đức Phật dạy chúng ta phải coi tất cả chúng sanh như cha mẹ quá khứ, chư Phật vị lai; Bồ Tát Giới Bổn trong kinh Phạm Võng cũng nói: ‘Hết thảy người nam là cha ta, hết thảy người nữ là mẹ ta’, những chuyện này đều là sự thật, chẳng phải là thí dụ. Kiến giải, tâm tư, thường thức của phàm phu hơn phân nửa giới hạn trong một đời, chẳng biết đời quá khứ và đời vị lai, cho nên sanh ra rất nhiều hiểu biết sai lầm. Phật, Bồ Tát dùng định công thâm sâu đột phá giới hạn của thời giankhông gian, đối với quá khứ vô thỉ, vị lai vô chung hết thảy đều hiểu rõ, cho nên biết hết thảy chúng sanh đời đời kiếp kiếp đều là quyến thuộc lẫn nhau.

Chư Phật, Bồ Tát dùng tâm gì để đối đãi hết thảy người, sự, vật? Là dùng tâm Hiếu Kính. Câu đầu tiên của Tam Phước trong Quán Kinh: ‘Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng’. Dùng hiếu thuận, tôn kính đối đãi hết thảy người, sự, vật, đó tức là Phật, Bồ Tát, đại thánh nhân. Tâm tư, quan niệm, hành động của phàm phu hoàn toàn trái ngược lại. Tương ứng thì là tùy thuận tự tánh, tánh đức, tùy thuận thật tướng của chư pháp. Có thể tùy thuận một cách viên mãn thì là Nhất Chân pháp giới. Nếu chẳng thể tùy thuận, trái ngược lại với những điều trên thì là lục đạo phàm phu; hoàn toàn trái ngược thì là tam ác đạo. Cho nên làm thánh làm phàm, thiên đường địa ngục đều ở ngay tại một niệm của mình mà thôi. Nếu một niệm này tương ứng với pháp tánh thì là Phật, Bồ Tát; niệm này trái ngược với tánh đức thì là chúng sanh, ác đạo.

Do đây có thể biết cảnh giới bên ngoài thực sự như chư Phật đã nói: ‘mộng, huyễn, bọt, bóng’, cảnh giới biến hóa tùy theo tâm niệm của chúng ta, cũng như kinh Hoa Nghiêm nói: ‘Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến’. Phật còn nói cho chúng ta biết: ‘hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh’, tâm là năng biến (cái có thể biến), pháp là sở sanh (cái được sanh ra). Những pháp được sanh này chẳng như ý là vì cái tâm năng sanh chẳng tương ứng với pháp tánh. Thế nên hết thảy cảnh giới chẳng phải người khác biến hiện ra cho bạn hưởng thụ mà do tự mình biến ra cho mình hưởng dùng, đây là chân tướng sự thật. Sau khi hiểu rõ chân tướng nếu chúng ta muốn sinh hoạt trong một hoàn cảnh thích hợp với mình thì phải tuân theo lời dạy của Phật. Nói thật ra, tuân theo lời Phật dạy tức là tuân theo tánh đức của tự tánh, pháp tắc của tự tánh. Những gì chư Phật, Bồ Tát nói đều là pháp tắc của tự tánh chúng ta, chẳng phải của riêng Ngài. Thế nên Phật nói Ngài chưa từng nói qua một lời, những gì Ngài nói đều là tánh đức của tự tánh chúng ta khai phát. Chỉ có chân chánh hiểu rõ đạo lý này mới thực sự hoàn toàn tiếp nhận và khâm phục Phật pháp đến năm vóc sát đất.

Cho nên học Phật tức là tùy thuận tự tánh, Phật đại biểu cho tự tánh của chúng ta, Bồ Tátđại thánh đại hiềnthị hiện của tánh đức, là tánh đức lưu lộ, là tự mình chẳng phải người khác, đây tức là ‘ta người không hai’ (tự tha bất nhị). Chúng ta phải lãnh hội cái ý tưởng này, từ đó xây dựng lòng tin. Nếu có thể khế nhập thì mới hoảng nhiên đại ngộ, chư Phật, Bồ Tát vốn là tánh đức của mình lưu xuất, thập pháp giới y báo, chánh báo trang nghiêm cũng là tự tánh lưu lộ. Sau đó mới chân chánh thể hội đến tận hư không trọn khắp pháp giới chỉ là chính mình mà thôi, ngoài chính mình ra, đích thực chẳng có pháp nào cả. Lòng đại từ Vô Duyên, lòng đại bi Đồng Thể tự nhiên sẽ hiện ra, từ bi là tánh đức, tánh đức sẽ hiện ra, lưu lộ viên mãn. Chúng ta hiếu kính đối với Phật, Bồ Tát, đại thánh đại hiền, hiếu kính cha mẹ, sư trưởng, sau đó từ từ sẽ hiếu kính đối với hết thảy chúng sanh, thậm chí đối với oan gia đối đầu của mình, rắn độc thú dữ, địa ngục ngạ quỷ đều hiếu kính như nhau, nhất định sẽ dùng tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng đối đãi với họ.

Nếu nhập vô cảnh giới này thì bạn đã thành Phật rồi. Cho dù chẳng thành Phật thì cũng là Pháp Thân đại sĩ, trí huệ đã khai mở. Đối với hết thảy vạn pháp trong hư không pháp giới, bạn đã giác ngộ, hiểu rõ rồi, biết được phải làm như thế nào. Đối với những chúng sanh chưa giác ngộ thì cũng biết làm thế nào để giúp đỡ, đây tức là giữ tâm Bồ Tát, hành Bồ Tát đạo. Cho nên bất cứ thân phận gì, ngành nghề gì, nam nữ, già trẻ đều có thể tu Bồ Tát đạo viên mãn. Bồ Tát tuyệt đối chẳng giới hạn trong một pháp giới nào, hết thảy pháp giới đều là pháp giới Bồ Tát. Kinh Hoa Nghiêm nói: ‘Một tức là nhiều, nhiều tức là một, một và nhiều không hai’ tức là ý nghĩa này.

Chúng ta đời đời kiếp kiếp tiếp xúc với hết thảy chúng sanh đã kết thiện duyên và cũng có ác duyên. Có nhiều người rất hợp với mình, có duyên và rất thích mình, đây là thiện duyên từ đời quá khứ. Có nhiều người là oán gia đối đầu của mình, đem lại cho mình rất nhiều điều chẳng như ý, đây là oan nghiệp từ kiếp trước. Quá khứ mê hoặc điên đảo nên gây ra oan nghiệp này, hiện nay giác ngộ hiểu rõ rồi, phải hóa giải oan kết này thì cũng dùng ‘hiếu kính’ như lời Phật dạy. Hiếu thuậntôn trọng bằng tâm chân thành, oan kết tự nhiên sẽ được hóa giải.

Cho nên đối với hết thảy oán ghét, chúng ta phải tùy thuận, thực sự làm được hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức; trong sự tủy hỷ thành tựu trí huệ chân thật cho mình, giới - định - huệ chân thật, đây là công đức. Tùy thuận làm sao có thể thành tựu công đức? Tâm thanh tịnh quan trọng, tâm trí huệ quan trọng, bạn dùng tâm chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi tức là tùy thuận, đây là có công. Có thể thành tựu, tăng thêm lòng chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi của bạn là đức.

Cho nên nếu có một niệm oán trời trách người thì là sai lầm quá đỗi. Khi gặp hết thảy cảnh giới, nghịch duyên không như ý, đều phải quay lại tự mình phản tỉnh, nhất định là do nghiệp chẳng thiện của mình tích lũy lại tạo thành, lỗi lầm chẳng ở tại người khác. Quay đầu lại tự mình chân thật sám hối, sửa sai đổi mới, đây là chân tu hành. Là do mình chẳng xem họ như cha mẹ, sư trưởng, chẳng có hiếu thuận, tôn trọng họ, là lỗi của mình, chẳng phải của họ. Chư Phật Như Lai dùng phương pháp này được thành tựu, chúng ta muốn làm Phật, làm Bồ Tát thì cũng chẳng ngoại lệ, vẫn phải dùng phương pháp này. Chúng ta phải thực hiện ‘kính người, kính sự, kính vật’ trong đời sống, niệm niệm chẳng được tách lìa; một niệm tách lìa là một niệm mê, một niệm tương ứng là một niệm giác, cho nên phải dụng công trong từng tâm niệm. Chẳng thể không đọc kinh điển Đại thừa, chẳng thể không thâm giải ý thú, được vậy chúng ta mới có thể giữ gìn giác chứ không mê, mới có thể đạt được đời sống hạnh phúc mỹ mãn chân chánh.

7. Nói chuyện với đồng tu tại Niệm Phật Đường (Buổi sáng 06-12-98)

Từ lúc khai giảng đến nay Niệm Phật Đường đã từ từ đi vào nề nếp, mọi người đều cảm nhận công đức thù thắng của sự niệm Phật một cách sâu sắc, sanh tâm hoan hỷ. Nhưng cũng có một số đồng tu nói với tôi rằng trong đại chúng còn một số ý kiến. Vấn đề này chúng ta không thể không để ý. Cổ đức thường nói lúc cùng nhau tu tập (cộng tu) nếu có nghi hoặc, xen tạp thì sẽ phá hoại công phu niệm Phật. Mục đích của sự niệm Phật là để đạt được ‘nhất tâm bất loạn’, nhất tâm tuy không dễ đạt được, chỉ cần đạt đến cảnh giới này thì nhất định nắm chắc vãng sanh bất thoái thành Phật.

Công phu thành phiến tức là chẳng có nghi hoặc, xen tạp, bất luận là ở chỗ nào lúc nào, dù lúc nửa đêm nằm mộng cũng chẳng quên A Di Đà Phật, đó tức là hình dáng của công phu thành phiến. Ngoại trừ A Di Đà Phật ra, lúc tiếp xúc với hết thảy người, sự, vật phải luôn luôn cảnh giác cao độ, nhất định chẳng để ngoại cảnh dụ hoặc, lay động, đó tức là công phu. Chúng ta muốn đạt được công phu này nhưng tại sao niệm Phật mãi trong Niệm Phật Đường cũng làm không được?

Có hai nguyên nhân:

Một là phiền não tập khí từ vô lượng kiếp đến nay quá nặng; tập khí tức là tri kiến, phần nhiều gọi là thành kiến, thành kiến rất nặng, ý kiến quá nhiều, đây là một chuyện rắc rối.

Hai là không thật thà, thật thà cũng chẳng dễ, người có thể làm được thật thà bất luận tu học pháp môn nào đều nhất định có thể thành tựu.

Phương pháp bổ khuyết, bù đắp là đọc kinh, nghe giảng. Đọc kinh nghe giảng giúp cho chúng ta có thể nhìn thấu, buông xuống, giúp cho chúng ta hiểu rõ chân tướng sự thật của vũ trụ nhân sanh. Nói một cách khác hiểu rõ chân tướng mình đến thế gian trong đời này. Nếu thực sự hiểu rõ triệt để sinh hoạthoàn cảnh xung quanh trong đời này thì tự nhiên sẽ buông xuống. Thế Tôn đã đau lòng mỏi miệng nói hết bốn mươi chín năm, luôn luôn nhắc nhở nhưng chúng ta thực sự đã mê quá sâu đậm. Không ngừng nhắc nhở là hy vọng có một ngày nào đó chúng ta có thể hoảng nhiên đại ngộ, biết được mình đến thế gian chỉ là để thọ báo mà thôi.

Nghiệp đã tạo trong những đời kiếp trước thì đời này đến để thọ nhận quả báo, đây là nhân quả tuần hoàn. Tạo thiện nghiệp nhiều thì đời này hưởng được một chút phước; tạo ác nghiệp nhiều thì đời này phải chịu rất nhiều đau khổ. Nhưng chẳng có người nào trong lúc thọ báo bèn cam chịu thọ báo, vẫn cứ tạo nghiệp y như cũ. Thọ báo rồi tạo nghiệp, tạo nghiệp xong lại thọ báo, vĩnh viễn cứ tuần hoàn. Hiện tượng tuần hoàn này chẳng nâng lên trên mà là từ từ đi xuống, đời này chẳng bằng đời trước, như vậy đau khổ biết bao! Tại sao lại có hiện tượng này? Tại chúng ta tạo ra những nghiệp chẳng thiện. Thế Tôn nói rõ cho chúng ta biết tạo thiện nghiệp thì đi cõi thiện siêu sanh, tạo ác nghiệp thì đi vào cõi ác đọa lạc, đây là chân tướng sự thật của nhân sanh. Thử suy nghĩ kỹ thì đích thực là như vậy. Phật từ bi thương xót những chúng sanh thọ khổ thọ nạn này vì ngu muội vô tri mê mất tự tánh, cho nên mới nói rõ chân tướng sự thật, hy vọng chúng sanh có thể vượt thoát tam giới, lục đạo luân hồi, cùng các Ngài làm Phật, làm Bồ Tát.

Vào Niệm Phật Đường và muốn công phu được đắc lực thì phải buông xuống hết thảy thân tâm thế giới. Không buông xuống nổi là vì không hiểu giáo lý nên phải dùng phương pháp giảng kinh để bổ cứu. Thời xưa Niệm Phật Đường chẳng có giảng kinh, nhưng mỗi cây hương lúc chỉ tịnh[2] đều có giảng khai thị, dụng ý cũng giống với giảng kinh, là giúp mọi người đoạn nghi sanh tín, công phu đắc lực. Đặc biệt là ngày nay thời gian chúng ta nghe kinh ngắn, chẳng đủ căn cơ, tuy là có duyên trụ tại Niệm Phật Đường thù thắng như vầy mà vẫn sanh phiền não, vẫn còn nhiều ý kiến, vẫn gây chướng ngại cho công phu tu học của mình. Do đó có thể biết chẳng thể không đọc kinh, chẳng thể không nghe giảng, mọi người phải hết lòng nỗ lực dụng công.

Sau khi Làng Di Đà xây xong, Niệm Phật Đường có thể chứa từ một đến hai ngàn người. Đồng tu trụ tại Làng Di Đà đều là Phật, Bồ Tát vì những người đến chỗ này chỉ có một mục đíchlàm Phật. ‘Niệm Phật là nhân, làm Phật là quả’. Niệm Phật Đường nhất định niệm Phật chẳng gián đoạn suốt hai mươi bốn giờ, ngày ngày đều như vậy, năm nào cũng đều như vậy. Chúng taphàm phu nghiệp chướng nặng nề muốn ngày đêm niệm Phật chẳng gián đoạn, nhưng thể lực có trở ngại, có trở ngại cũng phải khắc phục. Khi xưa Đế Nhàn lão hòa thượng dạy phương pháp niệm Phật cho đồ đệ của Ngài -- người làm thợ vá nồi: ‘Niệm mệt rồi thì nghỉ, nghỉ mệt xong liền niệm tiếp tục’. Nhất định chẳng thể làm biếng, giải đãi, đây chính là vì mình mà cũng vì chúng sanh; bạn thành Phật rồi thì có thể phổ độ chúng sanh, đây là tự lợi, lợi tha. Hy vọng mọi người tự động, tự phát đừng để người ta phải đốc thúc. Trong Niệm Phật Đường mặc áo hải thanh (áo tràng), lúc nghỉ mệt cũng đừng cởi áo hải thanh, khi cởi áo hải thanh thì sợ ngủ mê, làm ngưng trệ công phu niệm Phật; mặc luôn áo mà ngủ thì có thể đề cao cảnh giác, tận lực ngăn ngừa cho mình đừng làm biếng. Tu học trong đạo tràng như vậy thì làm sao chẳng thành Phật cho được!

Trụ ở Làng Di Đà đều miễn phí, một đồng cũng chẳng nhận, vì các bạn là Phật, Bồ Tát, chúng tôi đương nhiên phải cúng dường. Một trong mười đức hiệu của Phật là ‘Ứng Cúng’, các bạn trú ở đây thì đương nhiên phải nhận sự cúng dường của hết thảy chúng sanh. Bạn sẽ làm Phật nên chúng tôi dùng tâm cúng dường chư Phật để cúng dường các bạn, giúp các bạn ngay trong một đời này viên thành Phật đạo, cái duyên này vô cùng thù thắng! Nơi đây xin chúc các bạn ngay trong một đời ngắn ngủi này nhất định sẽ thành tựu.

8. Học Phật tức là học làm người (Buổi sáng 07-12-98)

Học Phật tức là học làm người, học làm một người tốt, học làm một người minh bạch. Nhà Nho nói: ‘Đạt đến mức tốt lành tột bậc” (Chỉ ư chí thiện), Phật pháp đích thật đã làm câu này được viên mãn. Chí thiện là thiện đến mức cùng cực, đạt đến cứu cánh viên mãn. Nhà Nho và nhà Phật đều có phương pháp đạt đến chí thiện, cơ sở của phương pháp này có thể nói là hoàn toàn tương đồng. Nhà Nho dạy học trước hết đề ra ‘Tam Cương, Bát Mục’[3]. Nhà Phật dạy học trước hết đề ra ‘Tứ Hoằng, Lục Độ’, tinh thần và nội dung của hai thứ này rất giống nhau. Thế nên tư tưởng, kiến giải, giáo học, hành trì của Khổng Lão phu tử và Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng hẹn mà hợp với nhau, đúng là ‘Cái nhìn của anh hùng đại lược giống nhau’.

Việc đầu tiên trong sự tu học là phải phát nguyện, nhà Nho nói phải lập chí, lập chí làm thánh hiền, làm đại sự, chẳng phải lập chí làm quan phát tài, hưởng vinh hoa phú quý. Đại sự là gì? Nhà Phật nói: ‘Tử sanh đại sự’, câu này nói rõ ý nghĩa của đại sự. Trong Phật pháp, đại sự nhân duyên nói đến chỗ cứu cánh viên mãn tức là phổ độ chúng sanh và cũng là nguyện thứ nhất trong Tứ hoằng thệ nguyện: ‘Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ’. Độ là ví dụ, độ qua biển khổ sanh tử, độ qua lục đạo luân hồi, đây mới là đại sự.

Vô lượng kiếp đến nay chúng sanh kẹt mãi trong sanh tử luân hồi đời này sang kiếp khác, vĩnh viễn chẳng thể thoát ly; trong kinh gọi chúng sanh trong lục đạo là ‘người đáng thương xót’. Tình trạng trong lục đạo chỉ có Phật, Bồ Tát mới rõ ràng, phàm phu mê trong đó và chẳng hiểu rõ chân tướng sự thật. Chân tướng sự thật này tức là chân tướng của sanh tửchân tướng của đời sống chúng ta.

Đức Phật nói khi chúng ta ở trong luân hồi thì nhất định thời gian trong ba ác đạo dài, thời gian trong ba thiện đạo ngắn. Thọ mạng dài nhất trong tam thiện đạo là cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứtrời Vô Sắc Giới, thọ mạng là tám vạn đại kiếp; một đại kiếp bằng thời gian thế giới chúng ta trải qua ‘thành - trụ - hoại - không’ một lần, tám vạn đại kiếpthời gian thế giới chúng ta thành, trụ, hoại, không tám vạn lần, họ có thọ mạng dài như vậy. Thời gian dài trong ác đạo càng dễ sợ hơn. Kinh Địa Tạng dạy: ‘Thọ mạng trong địa ngụcvô số kiếp’. Cho dù là trong cõi súc sanh tuy thọ mạng chẳng dài nhưng súc sanh ngu si, kiên cố chấp trước thân hình này là của mình cho nên rất khó thoát ra. Lúc Thế Tôn còn tại thế, tại Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên có một ổ kiến, Thế Tôn nói với đệ tử: ‘Đã trải qua bảy vị Phật rồi, cả ổ kiến này cũng chưa thoát thân làm kiến, đời đời kiếp kiếp cứ làm kiến hoài’. Thời gian này dài hơn thọ mạng của Phi Phi Tướng Xứ Thiên quá nhiều, quá nhiều!

Cho nên Phật, Bồ Tát thường nhắc nhở chúng ta, cảnh cáo chúng ta, tam ác đạo tuyệt đối chẳng thể đi vào, đọa tam ác đạo rất dễ dàng, thoát ly tam ác đạo thì quá khó. Tuy Phật, Bồ Tát từ bi ứng hóa trong ác đạo độ chúng sanh, nhưng ác đạo chúng sanh ngu si đến cùng cực, còn thêm vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nặng nề, so với độ người còn khó gấp nhiều lần. Tuy vậy nhưng Phật, Bồ Tát cũng chẳng xả bỏ, các Ngài thực sự là từ bi đến cùng cực.

Trong lục đạo chúng sanh dễ độ nhất là loài người, thế nên Bồ Tát thị hiện thành Phật cũng ở tại cõi người. Nguyên nhân là gì? Phật, Bồ Tát thị hiện ở chỗ nào là do cảm ứng đạo giao với chúng sanh nơi đó, chúng sanh có cảm, Phật, Bồ Tát liền có ứng. Do đó mới biết cõi người có sức cảm ứng rất lớn với chư Phật, Bồ Tát, thế nên quý Ngài ứng hóa trong cõi người, thị hiện làm Phật, làm Bồ Tát, đây là chân lý.

Đời này chúng ta có thể sanh vào cõi người, cơ hội này vô cùng hiếm hoi và quý báu, quý ở chỗ cõi người dễ giác ngộ, dễ được độ, cho nên chúng ta nhất định phải nắm vững cơ duyên. Vả lại cơ duyên này chẳng lâu dàithọ mạng của cõi người rất ngắn, cho dù sống đến một trăm tuổi thì cũng như búng ngón tay, một sát na ngắn ngủi mà thôi. Thọ mạng ngắn nói lên cơ duyên này đặc biệt quý báu, vì vậy được thân người nếu chẳng nghe được Phật pháp thì rất đáng tiếc. Số người được thân người nhưng chẳng có cơ duyên nghe Phật pháp đích thật là chiếm đại đa số. Trong thời đại hiện nay Phật pháp nương vào khoa học kỹ thuật phổ biến truyền đến khắp thế giới, bất luận là tin hay không, chỉ vì ‘một phen lọt vào tai, vĩnh viễnhạt giống đạo’, đây là người thế gian có phước. Nếu ở trong đời này thiệt có thể thoát ly lục đạo luân hồi thì là thực sự thành tựu. Ngược lại đời này chẳng thể thoát ly lục đạo, đời sau không cách chi tránh khỏi luân hồi như cũ; một khi đã luân hồi thì chẳng biết phải trôi lăn đến kiếp nào mới có thể gặp được Phật pháp. Nhất định chẳng thể đời nào cũng gặp được Phật pháp, nếu đời nào cũng được gặp thì chúng ta đã thành Phật sớm rồi, bởi vậy mới biết việc này chẳng dễ.

Gặp được Phật pháp mọi người đều hy vọng ngay trong đời này được thành tựu, chuyện này cũng chẳng phải khó, đích thực mỗi người đều có thể làm được, mấu chốt là ở chỗ giác ngộ. Biết được khuyết điểm của mình chính là giác ngộ; sửa khuyết điểm cho đúng trở lạitu hành. Nếu chẳng biết khuyết điểm của mình thì không biết bắt đầu sửa đổi từ đâu. Nhưng một người biết được khuyết điểm của mình rất khó, ai cũng tưởng là mình đúng hoàn toàn. Lý do phàm phu vẫn cứ là phàm phu vì họ chẳng biết lỗi lầm của mình, cứ cho rằng mình đúng. Bồ Tát khác với phàm phu là vì Bồ Tát chẳng có quan niệm mình đúng, chỉ biết rằng lỗi lầm của mình quá nhiều, mỗi ngày đều phản tỉnh, ngày ngày đều sửa lỗi, đây là người giác ngộ. Người mê thì cứ tưởng là mình đúng, cho dù phản tỉnh thì cũng nghĩ mình chẳng có lỗi, lỗi đều ở nơi người khác. Nhưng họ chẳng biết khi nhìn thấy lỗi người khác thì chính là lỗi của mình; khi nào chẳng nhìn thấy lỗi của người khác thì lỗi của mình cũng chẳng còn.

Huệ Năng đại sư dạy: ‘Nếu là người tu đạo chân thật chẳng thấy lỗi thế gian’. Nhìn thấy người khác có lỗi tức là phiền não tập khí của mình hiện hành. Bên ngoài là duyên, duyên giúp cho phiền não tập khí của mình khởi lên, đây là lỗi lầm lớn. Cho nên người biết tu hành, hết thảy ngoại duyên đều là thiện tri thức, gặp người thiện chuyện thiện thì có thể học tập, gặp người ác chuyện ác giúp mình phản tỉnh sửa lỗi lầm, thuận hay nghịch đều là thiện tri thức. Trong lúc phản tỉnh ‘có lỗi thì sửa, không thì nhắc nhở để đừng phạm’, lý do Bồ Tát tu hành có thể thành Phật là ở tại điểm này.

Nếu chẳng hiểu đạo lýchân tướng sự thật, học Phật mà chẳng thực sự thay đổi trên tâm địa, tức là học Phật nhưng vẫn tạo tội nghiệp y như cũ thì đúng như lời người xưa nói ‘Trước cửa địa ngục có nhiều Tăng sĩ’ (Địa ngục môn tiền Tăng đạo đa). Chữ Tăng này không nhất định chỉ người xuất gia, người tại gia cũng bao gồm trong đó; Tăng là đoàn thể, bất luận là xuất gia hay tại gia, đoàn thể học Phật đều xưng là Tăng đoàn.

Hiện nay tu học pháp môn Niệm Phật có thể giúp chúng ta đoạn phiền não, tăng trưởng trí huệ, thoát ly sanh tử luân hồi, viên thành Phật đạo. Trong vô lượng pháp môn đây là pháp môn hy hữu thù thắng hạng nhất, chẳng dễ gì gặp được. Đặc biệtđạo tràng có tổ chức tu tập chung như vầy chẳng phải do sức người tạo nên, mà là do chư Phật, Bồ Tát gia trì nên đạo tràng có chư Phật hộ niệm, Long thiên ủng hộ. Mọi người ở trong đạo tràng này tu học phải đặc biệt trân trọng cái nhân duyên hiếm có, khó gặp này, phải hết lòng nỗ lực, nhất định nội trong một đời này viên mãn thành tựu.

9. Cầu cảm ứng (Buổi sáng 08-12-98)

a. Học Phật tức là học giác ngộ.

Phật pháp quý ở chỗ giác ngộ, cổ thánh tiền hiền cũng nói: ‘chế ngự được niệm thì thành thánh’ (khắc niệm tác thánh), thế nên thánh hay phàm chỉ ở tại một niệm giác hay mê mà thôi. Một niệm giác, ngay lúc đó tức là Nhất Chân pháp giới; một niệm mê thì đâu phải chỉ có mười pháp giới không thôi? Người giác ngộ thực sự có thể buông xuống, chỉ có người mê mới có chấp trước. Chư Phật, Bồ Tát là tấm gương tốt cho chúng ta, cho nên học Phật, Bồ Tát tức là học giác ngộ, học nhìn thấu, buông xuống, thực sự làm được ‘chẳng tranh với người, chẳng cầu với đời’ thì tự nhiên thân tâm tự tại, trí huệ tăng trưởng.

Người học Phật chẳng thể khế nhập vào cảnh giới là vì một niệm tình chấp chưa tiêu trừ. Nếu muốn thành tựu thì chẳng thể không biết đạo lý này, chẳng thể không hết lòng học tập ‘chẳng tranh, chẳng cầu’, học tập từ bi, nhiệt thành giúp người. Trong quá trình giúp người, nhất định chẳng thể chấp trước danh - văn - lợi -dưỡng, ngũ dục lục trần, phải vĩnh viễn bảo trì tâm thanh tịnh, bình đẳng; đây là Bồ Tát hạnh, Bồ Tát hạnh là hạnh giác ngộ.

Chúng ta phải quan sát kỹ và thể hội cả đời hành trì của đức Thế Tôn. Thế Tôn hoằng pháp lợi sanh giảng kinh thuyết pháp, chẳng có danh phận, cũng chẳng có chức vị, đối với chúng ta chỉ là quan hệ thầy trò. Quan hệ này vẫn còn là kiến giải phàm phu, Thế Tôn tuyệt chẳng có khái niệm này; nếu Ngài có khái niệm này thì chẳng thể thành thánh, thành Phật. Vì thầy trò là nhị pháp, nhị pháp chẳng phải là Phật pháp, đây là lời Lục Tổ Huệ Năng đại sư nói.

b. Nhị đế

Thế Tôn cả đời giảng kinh thuyết pháp y cứ theo nguyên lý, nguyên tắc Nhị Đế; mười phương ba đời hết thảy chư Phật Như Lai thuyết pháp cũng dựa trên Nhị Đế. Nhị Đế tức là Chân ĐếTục Đế. Chân Đế hoàn toàn nói về chư pháp thật tướng, chẳng có tơ hào phân biệt chấp trước, người thế gian khó hiểu việc này. Tục Đế tức là thế gian pháp, y theo tri kiến và thường thức của chúng sanh, mọi người đều dễ hiểu. Nhưng trí huệ của Phật cao, thiện xảo phương tiện đạt đến cực điểm, nói Tục Đế cũng bao gồm Chân Đế, nói về Chân Đế nhưng cũng chẳng lìa Tục Đế, Chân và Tục viên dung, được đại tự tại. Người thế gian không những mê Chân Đế mà cũng mê Tục Đế. Phật có thể viên dung cả Chân lẫn Tục, tức là Chân Đế nhìn thấu rồi, thì Tục Đế cũng buông xuống. Nhìn thấu và buông xuống là một chứ chẳng phải hai, đây mới là trí huệ chân thật. ‘Trụ chân thật huệ’ trong kinh Vô Lượng Thọ tức là cảnh giới này. Những việc làm cả đời của chư Phật, Bồ Tát chỉ có một mục đíchhoằng pháp lợi sanh, ban cho chúng sanh lợi ích chân thật. Dù ban lợi ích chân thật nhưng Ngài cũng chẳng cầu một cái gì, và cũng chẳng phân biệt chấp trước. Những chỗ này chúng ta phải rõ ràng, thấu hiểu triệt để, hết lòng học tập.

c. Cầu cảm ứng

Sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh chẳng thể không cầu cảm ứng. Đối với việc này, nếu có thể thể hội được Chân Tục viên dung thì sẽ có chánh tri, chánh kiến, chánh giải, và sẽ chẳng nghiêng lệch về một bên. Người thế gian chấp trước trên Tục Đế, thực sự niệm niệm đều mong cầu, niệm niệm mong cầu thì liền lọt vào trong ý thức. Cầu mong chư Phật, Bồ Tát là làm một cách đúng lý, đúng pháp, có nguyện cầu nhưng chẳng có tâm mong cầu, như vậy mới viên dung, mới có cảm ứng.

Nhà Nho nói: ‘lập chí’, nhà Phật nói ‘phát nguyện’, hai thứ này có khác nhau không? Trong ‘chí’ có mong cầu, có cầu thì sẽ lọt vào tình thức; trong ‘nguyện’ chẳng có mong cầu. Nói một cách khác ‘lập chí’ có mang theo cảm tình, ‘phát nguyện’ thuần túytrí huệ, chẳng có tình thức. Thực ra chúng ta chỉ cần làm đúng như lý, như pháp, chư Phật Như Lai sẽ tự nhiên hộ niệm, đây tức là ‘cầu’, ‘cầu’ như vậy thìcảm ứng. Chúng ta cầu mà chẳng cầu, chư Phật, Bồ Tát ứng mà chẳng ứng, thế thì sẽ cảm ứng đạo giao chẳng thể nghĩ bàn, không những Phật, Bồ Tát hộ niệm, long thiên thiện thần cũng sẽ ủng hộ. Nếu có tâm mong cầu thì tuyệt đối sẽ chẳng có cảm ứng, tại vì tâm này là tình thức, gây trở ngại cho sự cảm ứng giữa chúng ta và chư Phật, Bồ Tát. Thế nên có nguyện nhưng chẳng có tâm mong cầu, chỉ cần hết lòng nỗ lực như lý như pháp mà làm thì tự nhiên sẽ có cảm ứng.

Tự mình tu tập phải đoạn phiền não tập khí, phải khai trí huệ, giúp đỡ người khác cũng có mục đích này, nhưng thủ đoạn phương pháp phải tùy cơ ứng biến, vì cơ duyên chẳng giống nhau, phương thức sẽ chẳng đồng, có câu ‘phương tiện có nhiều cửa, đường trở về chẳng hai’. Tự mình thành tâm thành ý mà làm, chướng ngại của mình chẳng còn nữa nhưng chúng sanh còn chướng ngại, tức là duyên chưa chín muồi. Duyên chưa chín muồi thì tự mình phải dưỡng đạo, cũng tức là tiến tu, không ngừng nâng cao cảnh giới của mình, chờ đợi cơ duyên của chúng sanh chín muồi, việc này chẳng thể miễn cưỡng chút nào.

Nếu muốn dời cơ duyên độ chúng sanh đến sớm hơn thì tự mình phải hết lòng nỗ lực tu pháp sám hối, sửa lỗi đổi mới, hết thảy đều cầu về hướng tự tánh. Thế nên Phật pháp được gọi là Nội Học, hoàn toàn khác với thế gian pháp. Người thế gian hướng về bên ngoài mà mong cầu, Phật pháp thì hướng về tự tánh mà mong cầu, chẳng hướng ngoại. Cầu chư Phật, Bồ Tát gia trì thì cũng là từ tự tánh mà cầu. Nếu chúng ta thực sự cùng tâm, cùng nguyện, cùng đức, cùng hạnh với Phật, đây tức là ‘cầu’, cầu như vậy chẳng hướng ngoại, hết thảy Như Lai làm sao chẳng gia trì? Như vậy cũng giống như tiếp nối đường điện, chẳng có chướng ngại, nhất định sẽ có cảm ứng đạo giao. Nếu có một tâm niệm riêng tư, đường điện sẽ đứt mất và sẽ chẳng có cảm ứng.

Nếu có tâm riêng tư, có tình [chấp] dục [vọng] mà cầu thì cũng có cảm ứng, đây là ma cảm ứng, trong xã hội ngày nay, những chuyện này rất nhiều. Yêu ma quỷ quái cũng có thể làm cho bạn có thần thông, làm cho bạn phát cuồng, cho bạn một số khả năng đặc biệt, bạn cũng có thể mê hoặc chúng sanh, nhưng đây đều là tạo nghiệp. Năm mươi loại Ấm Ma giảng trong kinh Lăng Nghiêm rất rõ ràng. Những thứ thần thông, đạo lực này là do ma nhập vào người, ma gia trì họ; sau khi ma rời khỏi thì hoàn toàn mất hết, sau cùng bản thân người đó cũng sẽ gặp nạn. Cho nên nhà Phật nói về đạo lý ‘cầu’ chúng ta nhất định phải hiểu; pháp thế và xuất thế gian đều hướng về tâm tánh, như vậy mới đúng.

d. Hoằng phápHộ pháp.

Chư Phật hộ niệm, long thiên thiện thần ủng hộ, hiển thị tại đâu? Khắp xung quanh chúng ta sẽ có rất nhiều bạn tốt giúp đỡ, hộ trì, đây là hộ pháp. Hộ pháp gồm có nội hộngoại hộ, nội hộ là do người xuất gia hộ trì, ngoại hộ do hai chúng tại gia hộ trì, được vậy chánh pháp mới được xây dựng, thường trụ tại thế gian. Tuy được hộ trì cả trong lẫn ngoài, tâm địa chúng ta vẫn phải thanh tịnh, vẫn phải mảy trần chẳng nhiễm y như cũ.

Giống như Cư Sĩ Lâm Tân Gia Ba và Tịnh Tông Học Hội đích thực có thiện hữu giúp đỡ mạnh mẽ, nhưng chúng ta đối với họ chẳng có tiếp đãi đặc biệt. Lúc ăn cơm ở Cư Sĩ Lâm, họ tự động lấy dĩa đi gắp thức ăn, tự kiếm chỗ ngồi, chẳng nhận một sự tiếp đãi đặc biệt nào cả, đây mới thật sự là thiện hữu chân thật. Có câu ‘Một vị Phật ra đời, ngàn Phật ủng hộ’, những người này đều là Phật, Bồ Tát, cho nên đạo tràng này có thể thành lập, là mọi người có phước. Chúng ta rất may mắn gặp được nhân duyên này và cũng rất hoan hỷ dốc toàn tâm toàn lực để hợp tác, ủng hộ, cống hiến một chút sức hèn mọn. Vì giúp họ là giúp hết thảy chúng sanh, giúp họ tức là giúp chư Phật Như Lai.

Cho nên người xuất gia tốt nhất đừng quản lý sự vụ, đây là do Thế Tôn thị hiện cho chúng ta thấy. Người xuất gia quản lý sự vụ là bất đắc dĩ, là đã biến dạng rồi. Nếu người xuất gia quản lý sự vụ thì là hộ pháp, chẳng phải là hoằng pháp, vậy thì phải toàn tâm toàn lực bồi dưỡng những người đi sau (lớp đàn em), chiếu cố những pháp sư hoằng pháp. Quản lý sự vụ cũng giống như hiệu trưởng trong trường học, phải quản lý giáo vụ, tổng vụ, đây là [chức vụ] Chấp Sự, có tánh cách phục vụ. Hoằng pháp là giáo viên, chẳng đảm nhiệm Chấp Sự. Phía trong Chấp Sựnội hộ, bên ngoài Chấp Sựngoại hộ.

Nếu chúng ta có thể hiểu rõ quan niệm này, mỗi người đều tận tâm làm tròn trách nhiệm của mình, Phật pháp nhất định sẽ hưng vượng, chúng sanh mới thực sự có phước. Nhất định chẳng tranh giành chức vị Chấp Sự, sau đó tác oai tác phước để hưởng thọ, chướng ngại cho pháp sư hoằng pháp, chẳng bồi dưỡng huấn luyện hậu học, đây là tạo ra vô lượng vô biên tội nghiệp, tạo tội nghiệp này phải đọa A Tỳ địa ngục. Chúng ta phải rõ ràng minh bạch, phải tu phước trong nhà Phật, đừng nên tạo nghiệp.

Chúng ta làm tròn nội hộngoại hộ, tự nhiên sẽ có chư Phật Bồ Tát đến hoằng pháp lợi sanh. Nội hộngoại hộ làm chẳng đúng như pháp, nhất định sẽ chẳng có Phật, Bồ Tát đến thuyết pháp vì duyên chưa chín muồi. Công tác hộ pháp làm được viên mãn thì là duyên chín muồi, tự nhiên sẽ cảm được chư Phật, Bồ Tát đến thị hiện giáo hóa chúng sanh.

10. Làm đệ tử Di Đà (Buổi sáng 09-12-98)

a. Gặp duyên rất quan trọng.

Những năm đầu Dân quốc, Thái Hư pháp sư đề xướng ‘Bồ Tát Học Xứ’, ý tưởng này rất tốt. Hiện nay chúng ta đề xướng làm ‘Đệ Tử Di Đà’. Đệ tử Di Đà đương nhiên cũng là Bồ Tát. Như thế nào mới làm được? Đây là vấn đề của giáo dục. Thánh nhân thế gianxuất thế gian dạy: ‘Người ta ai cũng có thể làm thánh hiền, ai cũng có thể làm Nghiêu, Thuấn’, mấu chốt là ở tại giáo học. Dùng Phật pháp mà nói, giáo học là trợ duyên, tăng thượng duyên, nếu gặp được tăng thượng duyên tốt, người có tài năng hạng trung cũng có thể làm thánh làm hiền, trong nhà Phật có chuyện này, trong các triều đại Trung Quốc cũng có. Đặc biệt là trong Phật pháp, hạ hạ căn cũng có thể làm A La Hán, làm Bồ Tát, đây là chỗ cao minh của nền giáo học Phật pháp. Trong nhóm đệ tử của Thế Tôn, Châu Lợi Bàn Đà Già là một thí dụ rất hay. Ngay cả người hạ hạ căn cũng có thể chứng quả vị A La Hán, có thể thành đại Bồ Tát, huống chi là người trung, thượng căn?

Phần đông người ta cả một đời chẳng thể thành tựu, pháp thế gianxuất thế gian chẳng thành, hoặc có được chút ít thành tựu nhưng sau cùng lại thất bại đều là vì gặp duyên chẳng tốt. Phật thuyết pháp: ‘Hết thảy pháp do nhân duyên sanh’ rất có đạo lý. Một duyên phần tốt thì chỉ có thể gặp mà chẳng thể cầu. Vậy thì đời này chúng ta có thể gặp duyên tốt chăng? Câu trả lời là khẳng định được tại vì ‘trong nhà Phật chẳng xả một người nào hết’, vấn đề ở tại phát tâm. Nếu chúng ta phát tâm thuần chánh, chư Phật Bồ Tát nhất định sẽ đến làm tăng thượng duyên cho chúng ta, sẽ đến giúp đỡ chúng ta.

b. Phát tâm.

Nhà Phật nói chữ ‘thuyết pháp’, cơ duyên chín muồi mà bạn chẳng thuyết pháp cho họ nghe thì đánh mất cơ hội, là mất đi thời tiết nhân duyên; nếu cơ duyên chẳng chín muồithuyết pháp cho họ thì là không đúng lúc. Phật hiểu rõ thời tiết nhân duyên nên Phật thuyết pháp được ví như ‘hải triều âm’. Hải triều chỉ thủy triều dâng (nước lên) và xuống có thời gian nhất định, nhất định chẳng bao giờ sai. Đức Phật giáo hóa chúng sanh cũng vậy.

Đây là nói rõ một sự thật: chúng sanh có Cảm thì Phật sẽ Ứng, cảm ứng đạo giao. Do đó có thể biết thành tựu hay không là thao túng trong tay của chính mình. Nếu mình hy vọng làm thánh làm hiền, làm Phật, làm Bồ Tát thì cái tâm này là Cảm, Phật, Bồ Tát nhất định sẽ có Ứng. Nếu niệm này chẳng sanh khởi thì là chẳng có Cảm; chẳng có Cảm thì đương nhiên Phật, Bồ Tát chẳng có Ứng, cho nên bạn sẽ chẳng gặp được cơ duyên. Nếu nguyện vọng của bạn là chân thật thì cảm ứng sẽ rất nhanh chóng; nếu nguyện vọng rất yếu ớt, khi có khi không, thì cảm ứng cũng sẽ yếu ớt. Cho nên một đời này của bạn có thành tựu hay không là do sự ‘phát tâm’.

Nguyên nhân ‘Bồ Tát Học Xứ’ của Thái Hư pháp sư chưa thực hiện thành công là vì người chân chánh phát tâm làm Phật, làm Bồ Tát quá ít. Chân chánh phát tâm làm Bồ Tát thì nhất định chẳng bị danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần trong thế gian dụ hoặc; nếu còn bị dụ hoặc thì sẽ chẳng làm Bồ Tát nổi. Chuyện này phải nhờ tự mình khắc phục phiền não tập khí thì mới có được cảm ứng, có được trợ duyên.

Hiện nay ngoại duyên ở Tân Gia Ba đã chín muồi, đây là cảm ứng của Phật, Bồ Tát. Chúng ta từ sự ‘ứng’ của Phật, Bồ Tát thì có thể biết được trong nhóm đồng tu có Cảm; nếu chẳng có Cảm thì làm sao có Ứng được? Cho nên trong các vị đồng tu nhất định có người chân chánh phát tâm muốn làm Bồ Tát, muốn làm đệ tử Di Đà nên duyên này mới chín muồi, chẳng có chút gì miễn cưỡng, đây là chân thật chẳng hư dối. Chúng ta gặp được thời tiết nhân duyên vô cùng thù thắng như vậy thì càng tăng thêm tín nguyện của chúng ta, và từ đó chúng ta cũng thành tựu theo. Đúng như lời của cư sĩ Bành Tế Thanh ‘vô lượng kiếp đến nay hiếm có, khó gặp’, chúng ta nhất định phải trân quý cái duyên phần này. Nếu trong nhân duyên thù thắng như vậy mà vẫn chẳng chống nổi phiền não tập khí, chẳng chống nổi danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần dụ hoặc, bỏ lỡ cơ duyên quý báu thì thiệt rất đáng tiếc!

Cư sĩ Lý Mộc Nguyên phát tâm chân thật, chẳng có một chút tâm riêng tư, cho nên làm việc hoằng pháp được thành công, làm tăng thượng duyên cho mọi người. Nếu ổng có một chút tâm riêng tư thì công chuyện sẽ nhất định thất bại, vì nếu có tâm riêng tư thì sẽ chẳng được Tam Bảo cảm ứng. Nếu vẫn có cảm ứng thì nhất định là ma đến ứng, chẳng phải Phật đến ứng. Ma và Phật khác nhau chẳng ở cảnh bên ngoài mà là ở nội tâm. Một niệm chân thành, Phật đến cảm ứng; một niệm tự tư tự lợi thì ma đến cảm ứng. Thế nên trong tâm chẳng có một chút tâm niệm ham muốn riêng tư mới cảm được chư Phật đến ứng.

c. Tâm chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, từ bi

Trong đời sống hằng ngày lúc đối người, đối sự, đối vật chẳng thể có ‘tôi đúng anh sai’, ‘tôi chánh anh tà’. Nếu vẫn còn tâm niệm tự tư tự lợi, cứ cho là mình đúng thì đó là phiền não tập khí, tâm như vậy sẽ chẳng thanh tịnh, chẳng bình đẳng, đó là chướng ngại cho sự cảm ứng đạo giao với chư Phật, Bồ Tát. Chuyện tốt cuối cùng biến thành ma cảnh là ở tại một niệm sai trái này. Tâm Phật, Bồ Táttâm chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, từ bi, nhìn hết thảy chúng sanh đều bình đẳng, đối với hết thảy chúng sanh đều chân thành, cung kính. Chúng ta phải học tập những tâm này thì mới có được cảm ứng, có được trợ duyên. Có được trợ duyên rồi thì tự hành hóa tha sẽ rất thuận tiện.

Cứ thường nhìn thấy lỗi người khác, cứ cho là mình đúng, đây là lỗi lầm lớn nhất. Cho dù người khác tạo nên tội ngũ nghịch, thập ác, chúng ta vẫn phải học Phật, Bồ Tát dùng con mắt từ bi mà quán, họ chỉ vì một lúc mê hoặc nên tạo thành lỗi lầm, họ chẳng dùng chân tâm, trong chân tâm chẳng có lỗi lầm, họ dùng vọng tâm nên bị phiền não tập khí chi phối. Chư Phật Bồ Tát nhìn thấy những người này sẽ dùng tâm thương xót, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng để đối đãi; tại vì chân tâm Phật tánh của họ chẳng bị giảm mất chút nào, Phật, Bồ Tát đối với họ vẫn hoàn toàn cung kính. Phổ Hiền Bồ Tát dạy chúng ta ‘Lễ kính chư Phật’, cho nên đối với những người làm ác đa đoan, lễ kính vẫn chẳng giảm bớt mảy may.

Chuyện này chúng ta có thể làm được hay không? Nếu có phân biệt, chấp trước thì sẽ làm không được. Làm không được thì là chúng sanh, chẳng phải Bồ Tát. Muốn học làm Bồ Tát thì phải bắt đầu học từ chỗ này, phải chân chánh làm được đối với người cực ác thì cũng hoan hỷ khen bề tốt, mặt thiện của họ, tuyệt đối chẳng đề cập đến bề ác, mặt xấu của họ. Không những không đề cập, trong tâm cũng chẳng lưu lại dấu vết, tâm như vậy mới thực sự thanh tịnh, tâm thanh tịnh sẽ được đại tự tại. Chúng ta xem họ cũng giống như một vị Phật, vì ‘hết thảy chúng sanh vốn thành Phật’, Phật đối đãi với người như vậy đó. Chúng ta học Phật thì cũng phải đối đãi với người như vậy. Bây giờ họ làm ác chỉ bất quá là vì một lúc hồ đồ, hồ đồ rồi một ngày nào đó cũng sẽ minh bạch; chúng ta có nghĩa vụ giúp đỡ họ, làm cho họ sớm hiểu rõ; khi hiểu rõ rồi thì họ cũng sẽ phổ độ hết thảy chúng sanh, chúng sanh sẽ có phước.

Trong tâm đừng nên nghĩ về thị - phi, nhân - ngã, ân - ân, oán - oán, phải thường nghĩ đến lời dạy của Phật, thường nghĩ đến ý nghĩa của kinh. Dùng kinh Vô Lượng Thọ làm chánh thì phải thường nghĩ đến nghĩa lý của kinh Vô Lượng Thọ, đem nghĩa lý đó biến thành sự suy nghĩ chân chánh của mình, ứng dụng trong đời sống, dùng mắt Phật quán thế gian, chúng ta mới chân chánh thành đệ tử Di Đà, chân chánh làm Bồ Tát, chuyển phàm thành thánh. Chuyển từ trong tâm, chuyển trên hành vi, đây là công đức chân thật, hy vọng mọi người cùng nhau khích lệ.

11. Mở rộng tâm lượng, bao dung kẻ khác (Buổi sáng 14-12-98)

Quyển hai của kinh Hoa Nghiêm vừa mở đầu liền hiện lên cảnh giới: ‘tâm bao trùm thái hư, lượng gồm thâu các cõi nhiều như cát’. Câu nói của Lão Tử: ‘Có bao dung thì mới rộng lớn, chẳng ham muốn thì sẽ mạnh mẽ’ (Hữu dung nãi đại, vô dục tắc cương) cũng thể hiện trong đoạn kinh văn này. Trong kinh nói đến ‘đại nhẫn’ tức là chân nhẫn, là dùng chân tâm mà nhẫn, tâm lượng của chân tâm lớn, không có gì chẳng bao dung. Chỉ có hiểu rõ triệt để chân tướng sự thật thì mới có tâm lượng lớn như vậy. Cảnh giới đó là vốn có, chẳng phải là do học mà được, cũng chẳng phải có được dần dần, cho nên Phật mới nói ‘hết thảy chúng sanh vốn thành Phật’. Chúng ta vốn có đại nhẫn, vốn là Phật, giống y như Tỳ Lô Giá Na Phật, A Di Đà Phật, hiện nay lại biến thành như vầy là vì đã mê mất tự tánh, chân tâm. Giáo học Phật giáo chẳng có gì khác ngoài sự giúp đỡ chúng sanh khôi phục bộ mặt vốn có (bổn lai diện mục) mà thôi; ngoài chuyện này ra, Phật chẳng có một pháp gì để dạy chúng sanh. Cho nên thánh và phàm, Phật và chúng sanh khác nhau ở tại một niệm mê - ngộ mà thôi. Phật thường than tiếc chúng sanh mê hoặc là ‘người đáng thương xót’, chỉ vì mê mất tự tánh nên tâm địa hẹp hòi, chẳng thể bao dung người khác, thậm chí hai người sống chung cũng có ý kiến bất đồng, chẳng thể hòa hợp, đúng là đáng thương xót đến mức cùng cực. Kinh Hoa Nghiêm vừa mở đầu liền triển hiện lên tận hư không trọn khắp pháp giới mọi chúng tạp thần, có thiện thần, có ác thần, có bát bộ quỷ thần trong thập pháp giới, còn có chư thiên, thiên vương, tổng cộng có hai trăm hai mươi tám đoàn thể chủng tộc khác nhau. Thiệt là chẳng gì chẳng bao gồm, dung chứa, tâm lượng như vậy quá lớn! Chúng ta cũng phải khôi phục lại tâm lượng lớn như vậy. Nếu chẳng thể dung nhẫn, kết oán cùng người, tạo thành oan oan tương báo, bạn gây chướng ngại cho người khác thì người khác sẽ chướng ngại bạn; bạn phá hoại kẻ khác thì kẻ khác sẽ phá hoại bạn, tạo ra nhân gì thì sẽ chịu quả báo đó, quả báo thông ba đời, rất đáng sợ. Cho nên khi bạn bao dung kẻ khác, thì kẻ khác bao dung bạn; bạn giúp đỡ người khác thì người khác giúp đỡ bạn, đây là chân lý vĩnh viễn chẳng biến. Đây là trong kinh Hoa Nghiêm Phật hiện thân thuyết pháp, biểu diễn cho chúng ta coi, để cho chúng ta thể hội.

Chỗ vĩ đại của Phật, Bồ Tát là ở chỗ chẳng đối địch với người, ngay cả đối với ác quỷ cực ác cũng cung kính, ái hộ, vì biết [hết thảy đều] cùng một căn bản, cùng một tự tánh. Tào Thực nói: ‘Vốn cùng sanh một rễ, nấu nhau sao quá gấp?’ (Bổn thị đồng căn sanh, tương tiễn hà thái cấp[4]), tận hư không trọn khắp pháp giới hết thảy chúng sanh đều cùng một cội rễ, cái cội rễ này chính là chân như tự tánh.

Một đoàn thể chủng tộc chẳng thể bao dung những chủng tộc khác thì sẽ có đấu tranh giữa các đoàn thể chủng tộc, một quốc gia chẳng thể bao dung quốc gia khác thì sẽ sanh khởi chiến tranh. Muốn giải quyết những vấn đề này thì tâm lượng nhất định phải lớn, khi khởi tâm động niệm đều nghĩ đến hết thảy chúng sanh, phải tôn trọng, kính ái, hợp tác lẫn nhau, thì mới tiêu trừ những sự hiểu lầm, mâu thuẫn, ngăn cách, kỳ thị, thế giới mới chân chánh đạt được hòa bình an định. Nếu niệm niệm đều vì lợi ích của mình, xem thường lợi ích của đối phương, xem thường lợi ích của toàn thể nhân loại, cho dù mỗi ngày đều hô hào thế giới hòa bình, thì đó cũng chỉ là một câu khẩu hiệu, chẳng thể thực hiện. Do đó người tâm lượng hẹp hòi chẳng có cách gì để giải quyết vấn đề. Các đoàn thể chủng tộc trên thế giới, người lãnh đạo quốc gia nhất định phải mở rộng tâm lượng, niệm niệm đều vì hết thảy chúng sanh khổ nạn trên thế giới, hòa bình an định mới có thể thực hiện.

Giả sử mọi người đều nghĩ đến lợi ích của hết thảy chúng sanh trên trái đất, vấn đề vẫn chẳng thể giải quyết y như cũ vì tâm lượng này vẫn còn quá nhỏ. Chúng ta chỉ thương yêu quả đất này, chẳng thương yêu những tinh cầu khác thì tương lai chiến tranh giữa các tinh cầu vẫn có thể xảy ra. Thế nên tâm lượng phải mở rộng, phải học Phật, Bồ Tát khi khởi tâm động niệm phải quan tâm đến tận hư không, trọn khắp pháp giới, chẳng xả bỏ một chúng sanh nào hết. Nếu chưa có tâm lượng lớn như vậy thì làm sao mới làm được câu ‘chúng sanh vô biên thệ nguyện độ’? Nếu tâm lượng nhỏ bé chẳng thể dung nạp một người nào, mỗi ngày phát nguyện [như vậy] thì chẳng phải là tự sỉ nhục hay sao, lừa gạt Phật, Bồ Tát hay sao? Đó là nói dối. Nói nghe rất hay, nhưng làm toàn những chuyện phản đạo, đều là tạo nghiệp, nên cổ đức thường nói: ‘Trước cửa địa ngục, tăng đạo nhiều’, nguyên nhân người học Phật vẫn còn đọa địa ngục là ở tại chỗ này.

Người chẳng nghiên cứu giáo lý làm sai thì còn tha thứ được; chúng ta mỗi ngày đều nghiên cứu Phật lý, chẳng tìm hiểu rõ ràng những đạo lý này, vẫn còn mê trong danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần, việc này ngay cả mình cũng chẳng tha thứ mình được. Nếu từ chỗ này chúng ta có thể tỉnh ngộ thì đó là sự giác ngộ chân chánh. Lúc đó đọc kinh Hoa Nghiêm mới có thọ dụng chân thật, quan niệm tư tưởng mới chuyển biến được, sẽ ‘nhập tri kiến Phật’. Hiểu rõ y báo, chánh báo trang nghiêm của thập pháp giới vốn có cùng một gốc rễ, đó tức là tri kiến Phật.

Trong cuốn ‘Địa Tạng Kinh Luân Quán’ Thanh Liên pháp sư giảng: ‘Không tướng không tên, dứt bặt suy nghĩ” (Vô tướng vô danh, tuyệt tư tuyệt nghị), đây tức là nghĩa lýtinh hoa của kinh Kim Cang, đây là chân tướng sự thật. Nếu chúng ta thể hội đến ý nghĩa chân thật của câu này thì quan niệm tư tưởng, ngôn ngữ hành vi sẽ chuyển biến, chuyển phàm thành thánh. Hiểu được một phần thì chuyển biến một phần; hiểu được hai phần thì chuyển biến hai phần; mức độ chuyển biến bao lớn đi đôi với mức độ lý giải sâu hay cạn. Đây cũng có thể dùng làm phương pháp đo lường công phu tu học của mình, nếu có chỗ tiến bộ thì tâm địa sẽ ngày càng thanh tịnh, trí huệ ngày càng tăng trưởng, phiền não cũng sẽ ngày càng giảm bớt. Đến lúc phiền não nhẹ, trí huệ tăng thì những kinh luận thế gianxuất thế gian bày ra trước mặt, vô lượng vô biên nghĩa thú tự nhiên sẽ tuôn trào ra. Thế nên chân tu tức là làm một sự chuyển biến to lớn trên quan niệmtâm lý.

Chúng tachúng sanh mê hoặc, chỗ nương dựa duy nhất để chuyển biếnthánh giáo, dựa vào phương hướngmục tiêu của thánh giáo chỉ đạo, hết lòng làm việc chuyển biến, chuyển thức thành trí, chuyển phiền não thành Bồ Đề, chuyển sanh tử thành Niết Bàn, chuyển mê thành ngộ, siêu phàm nhập thánh, chúng ta phải làm công tác này. Đối với chúng sanh có duyên cũng phải hết lòng hết sức giúp đỡ họ chuyển biến; tuy giúp đỡ chúng sanh nhưng tâm địa vẫn giữ thanh tịnh như cũ, tuyệt chẳng chấp tướng; chấp tướng sẽ sanh phiền não, tâm sẽ bị ô nhiễm. Phật, Bồ Tát dạy dỗ hết thảy chúng sanh có thể giữ gìn tâm thanh tịnh, chẳng bị ô nhiễm, nếu chúng sanh có thể chuyển biến tư tưởng quan niệm, thì tán thán hoan hỷ; nếu chẳng thể chuyển biến thì tâm địa của Phật, Bồ Tát cũng vẫn thanh tịnh, chẳng lưu lại dấu vết, đây chính là ‘tam luân thể không’ nói trong kinh Bát Nhã, thế nên Phật, Bồ Tát vĩnh viễn tự tại, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển, đạo lý là ơ ở tại chỗ này.

Chúng ta tu học tiến bộ ít, thoái lui nhiều là vì niệm niệm đều bị ô nhiễm. Khi chỉ dạy người ta, nếu họ chịu tiếp nhận thì sanh tâm hoan hỷ, vậy là bị hoan hỷ ô nhiễm rồi; ngược lại khi người ta không chịu tiếp nhận hoặc chẳng thể làm được, thậm chí những gì họ làm đều trái ngược với lời dạy thì sanh phiền não, vậy là bị phiền não ô nhiễm rồi, bị ô nhiễm thì sẽ thoái chuyển. Nếu có thể làm được như lời dạy trong kinh Kim Cang: ‘chẳng chấp vào tướng, như như chẳng động’ (bất thủ ư tướng, như như bất động), tâm chẳng bị ô nhiễm thì sẽ chẳng thoái chuyển.

Những gì Phật dạy chúng ta câu nào cũng là lời chân thật, phải dựa vào lời dạy của Phật, tự tìm cầu nhiều phước đức. Phước đức chân thật là giúp đỡ hết thảy chúng sanh, tức là hết lòng nỗ lực tu bố thí tài vật, bố thí pháp, bố thí vô úy, đây là những người biết tìm cầu nhiều phước đức, hy vọng mọi người lưu ý thêm những lời dạy trong Đại Kinh, được vậy thì sự thọ dụng trong đời này sẽ vô cùng tận.

12. Người làm công tác giáo dục xã hội tình nguyện (Buổi sáng 15-12-98)

Nếu có thể thể hội kỹ càng kinh Vô Lượng ThọKinh Hoa Nghiêm, y giáo phụng hành thì có thể khế nhập vào Bồ Tát đạo, làm một sự chuyển biến trọng đại. Chẳng những có thể đem lại phước báo chân thật cho mình trong đời này, khai triển quang minh cho tương lai, trên Bồ Đề đạo sau này ắt cũng sẽ thuận buồm xuôi gió.

Gần đây nhiều đồng học trích lục một bài ‘Nhân sanh cam lộ’, nếu có thể đích thật làm được [như trong bài văn ấy nói], nói theo thế pháp thì là thánh hiền quân tử, nói theo Phật pháp thì là Bồ Tát chân thật. Trong việc tự hành hóa tha, hoằng pháp lợi sanh nhất định sẽ được hết thảy chúng sanh hoan nghinh và kính yêu. Cho dù chỉ làm được vài điều trong đó, đời này cũng sẽ thọ dụng chẳng hết. Chẳng những tự mình làm mà còn phải khuyến khích hết thảy chúng sanh tận hết trách nhiệm của mình làm một phần tử hoàn hảo trong công việc giáo dục xã hội tình nguyện.

Trong sanh hoạt bình thường ráng hết sức để tránh tạp niệm, tránh tán gẫu, lúc nói chuyện với người thì luận đạo, lúc chẳng nói chuyện thì đọc kinh, như vậy mới là tích công lũy đức. Hạnh phúc nhất trong đời người là ngày ngày cùng những bạn bè có chung chí hướngtâm đạo cùng nhau thuyết kinh, luận đạo, đây là đời sống vô cùng thù thắng. Hoàn cảnh sanh hoạt như vậy là [hoàn cảnh] ở Tây phương Cực Lạc thế giới. Chúng ta thấy được trong kinh, người ở cõi Cực Lạc đến từ mười phương, ba đời, họ buông bỏ tập khí đến để thân cận đức Phật A Di Đà cùng chư Phật Như Lai. Mỗi ngày cùng đồng tham đạo hữu hoặc trên mặt đất, hoặc trên không trung, hoặc đi kinh hành đều là thuyết kinh luận đạo. Hoàn cảnh tu họcTây phương Cực Lạc thế giớihoàn mỹ hạng nhất, đây là đời sống chúng ta mong mỏi, ngưỡng mộ. Cho nên chúng ta phải xây dựng một mô phạm, điển hình, biểu diễn cho người đời xem, nếu họ có thể hiểu được thì cũng sẽ phát tâm hết lòng đến học tập.

Ở Tân Gia Ba chúng tôi đi thăm viếng những người Hồi Giáo, đây là lần đầu tiên chúng tôi tiếp xúc với họ, hy vọng có thể tìm hiểu, tôn trọng lẫn nhau, tiêu trừ các sự hiểu lầm, ngăn cách. Làm công tác đa nguyên văn hóa được viên mãncông đức to lớn, là chuyện tốt thực sự đối với xã hội. Hồi trước tôi đã từng quen biết với các lãnh tụ Phật giáoHồi giáo ở vùng biên cương Trung Quốc, sự quan hệ của họ vô cùng hòa hài, hợp tác lẫn nhau, tôn trọnglễ kính lẫn nhau. Hy vọng quan niệmtinh thần này có thể đẩy mạnh đến toàn thế giới, làm cho mọi người đều đối xử hòa mục, hỗ trợ hợp tác, cùng nhau xây dựng đời sống hạnh phúc mỹ mãn. Đây là công việc của những người tình nguyện làm công tác giáo dục xã hội, là việc mà trách nhiệm chẳng thể thoái thác cho người khác được. Nói một cách khác, cả đời chúng ta đều vì một việc này, Phật pháp gọi là ‘Phật sự’, đây tức là công việc giác ngộ chúng sanh.

Chúng ta phải hết lòng đẩy mạnh công việc này, phát triển rộng rãi. Đặc biệt giao thiệp với những đoàn thể và nhân vật có sức ảnh hưởng đến xã hội, nói theo Phật pháp thì những người này có đầy đủ thiện căn phước đức. Thế nên những người có sức ảnh hưởng hoặc có địa vị lãnh đạo đều là do quả báo đời trước tu phước tích thiện. Nếu chúng ta có thể dùng Phật pháp để giao thiệp với họ thì nhất định sẽ ảnh hưởng họ, tăng trưởng thiện căn phước đức của họ, như vậy sẽ có thể đem lại hòa bình an định, phồn vinh hưng vượng cho thế giới, tiêu trừ hết thảy các tai hại tự nhiên hoặc do người đem đến.

Không những như vậy thôi đâu, chúng ta vẫn phải tiếp tục mở rộng tâm lượng, đức Phật dạy chúng ta ‘tâm bao trùm hư không, lượng gồm thâu các cõi nhiều như cát’, phải hết lòng nỗ lực thực hiện. Tâm lượng mở rộng đến viên mãn thì cho dù làm một việc thiện nhỏ bé nhưng nương theo tâm lượng cũng có thể biến trọn khắp hư không pháp giới, đây là đạo lý vun trồng phước báo to lớn, làm chuyện đại thiện thì cảnh chuyển tùy theo tâm. Trong tự viện khi cúng thí thực đều niệm ‘bảy hạt biến thập phương’, nếu tâm lượng của bạn biến trọn khắp mười phương pháp giới, bố thí một hạt gạo sẽ có thể biến trọn khắp mười phương pháp giới, hết thảy chúng sanh đều có thể được thọ dụng; nếu tâm lượng nhỏ bé, niệm Chú cũng chẳng ích lợi gì, cảnh chẳng chuyển theo Chú. Chú là tăng thượng duyên (duyên phụ), tâm là thân nhân duyên (duyên chánh), nếu chẳng có duyên chánh thì duyên phụ chẳng giúp gì được. Nếu thực sự ‘tâm bao trùm hư không, lượng gồm thâu các cõi nhiều như cát’ thì tăng thượng duyên của Chú sẽ khởi tác dụng rất lớn. Thế nên căn bản là ở nơi tâm địa, tâm địa phải lương thiệnchân thành. ‘Tâm thành’ thì hành vi tự nhiên sẽ đoan chánh, công phu chân thực là ở chỗ này.

Chúng ta nói được nhất định phải làm được, vả lại khi gặp ai cũng nói. Nhưng nói pháp phải khế cơ. Trong kinh Hoa Nghiêm có nói mười thứ cơ [duyên], quan sát kỹ lưỡng hết thảy chúng sanh chẳng ai là không ở trong mười thứ cơ [duyên] này. Nếu chúng sanh chẳng đạt được lợi ích trước mắt, chúng ta có thể trồng nhân cho tương lai, đó chính là ‘một khi lọt vào tai thì vĩnh viễn thành hạt giống đạo’. Từ điểm này quan sát thì ai cũng là người đương cơ trong Phật pháp.

Trong kinh nói vận may nhất của người ta trong một đời là có thể thấy được tượng Phật, có thể nghe đến danh hiệu của Phật, Bồ Tát. Không kể là họ biết hay không biết, đối với Phật, Bồ Tát cung kính hoặc hủy báng đều được phước lớn. Cho dù là hủy báng thì khi chịu hết quả báo ác này, khi gặp duyên hạt giống kim cang sẽ khởi tác dụng, cũng do vậy nên được độ, được độ tức là được liễu sanh tử, thoát khỏi tam giới. Thế nên chúng ta tuyệt đối không thể vì họ hủy báng mà không giúp đỡ, đây là sự thiếu sót của chúng ta. Họ hủy báng, chúng ta bèn niệm một câu danh hiệu Phật, Bồ Tát cho họ nghe, làm nhân duyên cho họ đời sau được độ.

Thế nên phải biết cách kết pháp duyên rộng rãi, vui vẻ thân thiết với người, thường thường nên mang theo lễ vật nho nhỏ để có thể kết duyên với người ta, sau đó mới giảng giải khái niệm của nền giáo dục Phật Đà, việc này quan trọng phi thường. Chúng ta chẳng nói kết thiện duyênthiện duyênác duyên đều là tương đối, pháp duyên thì vượt ra ngoài thiện và ác, duyên này mới thực sự thù thắng. Ác duyên chiêu cảm ác báo, thiện duyên tuy có thiện báo nhưng cũng chẳng tốt. Vì vậy nên chư Phật Như Lai trong sanh hoạt thị hiện ba chiếc y, một cái bình bát chính là thiện ác hai bên đều chẳng tiêm nhiễm. Nếu chư vị lắng lòng thể hội thì mới biết đó là cách sống rốt ráo viên mãn bậc nhất, đáng được học tập, hy vọng chúng ta cùng nhau nỗ lực.

13. Căn nguyên của bịnh tật (Buổi sáng 19-12-98)

a. Đạo dưỡng sanh.

Khi bác sĩ Hoàng khám sức khỏe cho mọi người biết được thân thể của những người trẻ tuổi quý vị chẳng bằng người già như tôi. Nghe xong tôi rất buồn. Thân thể của tôi có thể bảo trì khỏe mạnh là được Tam Bảo gia trì, tôi tuyệt đối chẳng dùng những phương pháp bảo trì sức khỏe hiện đại. Tôi tin câu của Phật dạy ‘Hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh’, tâm địa thanh tịnh, từ bi, lương thiện thì cho dù chẳng bảo dưỡng thân thể và chẳng vận động cũng vẫn khỏe như thường.

Từ xưa đến nay đa số người tu hành trong nhà Phật mỗi ngày nếu không tọa thiền thì đi kinh hành, niệm Phật, thân tâm đều giữ trong trạng thái tịnh; hãy khoan nói đến võ thuật của Thiếu Lâm tự. Người thế gian đều ưa chuộng vận động, đạo dưỡng sanh ở trong trạng thái ‘tịnh’ thì chẳng có nhiều người biết đến. Chúng ta hiểu được đạo lý ấy, biết được tâm thanh tịnh, chân thành, từ bi mới là đạo dưỡng sanh chân chánh.

b. Ngã chấp

Nếu nâng cao cảnh giới thêm một tầng như trong kinh Kim Cang có nói: ‘Chẳng có ngã tướng, chẳng có chúng sanh tướng, chẳng có thọ giả tướng’, [lúc đó] không có ‘tôi’ thì ai sanh bịnh? Có ‘tôi’ thì tôi mới sanh bịnh, do đó mới biết ‘vô ngã’ (chẳng chấp có tôi) không những đã nhổ tận gốc rễ của bịnh khổ, mà cũng nhổ tận gốc rễ sanh tử luôn.

Phá ngã chấp tương đối khó nhưng vô cùng cần thiết. Có ‘tôi’ thì sẽ có các hiện tượng sanh tử, bịnh khổ, luân hồi; không có ‘tôi’ thì những hiện tượng này mất hết. Trong pháp Đại thừa đức Phật dạy chúng ta phương pháp phá ngã chấp vô cùng khéo léo. Trong cuốn Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa, cư sĩ Giang Vị Nông nói: ‘Biến đổi thành rộng lớn’ (đại nhi hóa chi), câu này nói rất hay, đây là từ chỗ phát Bồ đề tâm mà có, cho nên tâm lượng phải lớn. ‘Tâm bao trùm hư không, lượng gồm thâu các cõi nhiều như cát’ là tâm lượng vốn sẵn có của chúng ta, của mỗi chúng sanh, chẳng sai khác gì với quả địa của chư Phật Như Lai. Nhưng ngày nay chúng ta ra nông nỗi này là vì vọng tưởng, phân biệt, chấp trước tạo nên, đây là gốc bịnh thực sự. Trong vô lượng kiếp qua chúng ta mãi trôi lăn trong sáu nẻo và không thể thoát khỏi là vì chẳng tìm ra được gốc bịnh, chẳng biết chữa trị từ căn bản này.

Hết thảy hiện tượng trong thế pháp đều là hư ảo chẳng thật, không gì chẳng phải ‘mộng, huyễn, bọt, bóng’, thế nên giàu sang chẳng đáng ngưỡng mộ, bần tiện cũng chẳng cần phải đau xót. Hiểu rõ nhân tố của những hiện tượng này là do nghiệp nhân quả báo biến hiện ra, nếu tự mình nắm chắc nghiệp nhânnghiệp duyên, sự biến hóa của quả báo sẽ có thể tùy theo ý mình, đó là được đại tự tại. Người được đại tự tại biết cách nắm lấy ‘duyên’, biết được cái nút để tạo nên thiên biến vạn hóa ở tại ‘duyên’. Quả báo thiện là do nhân thiện và duyên thiện. Quả báo ác là do nhân ác và duyên ác. ‘Nhân’ đã tạo rồi chẳng thể thay đổi, ‘duyên’ còn có thể khống chế [thay đổi] được.

Đây vẫn còn là pháp thế gian chứ chưa phải là ‘đệ nhất nghĩa’, đệ nhất nghĩa thì phải ‘quán không’. Nói một cách khác phải thoát ra khỏi luân hồi, siêu việt thập pháp giới, như vậy mới là anh hùng hảo hán. Chỗ chúng ta cúng Phật gọi là ‘Đại Hùng Bảo Điện’, ‘đại hùng’ là đại anh hùng. Chuyện người thế gian làm chẳng nổi mà Ngài làm được nên xưng Ngài là anh hùng. Người thế gian chẳng có cách chi thoát khỏi luân hồi, siêu việt thập pháp giới, Phật có thể làm được; không những làm mà còn dạy cho chúng ta làm thế nào để đạt được.

c. Tự tư tự lợi

Pháp môn niệm Phật của chúng ta đang tu tập là ‘dị hành đạo’, đạo dễ thực hành mà chẳng thể thành tựu, nguyên nhân là vì không thể buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, niệm niệm vẫn còn tự tư tự lợi. Dùng tâm niệm này tu học thì đúng như người xưa đã nói: ‘Hét bể cổ họng cũng uổng công’! Thế nên chỉ cần buông xuống ý niệm tự tư tự lợi thì niệm Phật nhất định sẽ đắc lực, thân tâm sẽ khinh an. Cho dù có một chút bịnh thì cũng chỉ vì ăn uống chẳng cẩn thận nên phát ra cảm mạo phong hàn mà thôi, sẽ chẳng sanh bịnh nặng.

Nếu thật sự nhìn thấu, buông bỏ tự tư tự lợi, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, trong kinh Di Đà nói: ‘Nếu [niệm] từ một ngày đến bảy ngày’ sẽ được thành công. Những người y giáo tu hành xưa nay niệm Phật vãng sanh rất nhiều, phổ biến nhất là từ hai đến ba năm thì vãng sanh. Tại sao có người chẳng nhiều hơn bảy ngày, có người lại phải niệm hai ba năm? Người tin sâu nguyệt thiết, thực sự niệm đến khi mất hết những tâm niệm tự tư tự lợi thì tự nhiên cảm ứng hiện tiền, công phu thành tựu.

Chúng ta xem trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, Vãng Sanh Truyện, vào đời nhà Tống pháp sư Oánh Kha tin sâu nguyện thiết niệm ba ngày liền thành công. Nếu lòng tinnguyện lực chưa đạt đến mức khẩn thiết thì phải niệm hai, ba năm. Thế nên những người này ‘sanh tử tự tại’, chẳng phải là thọ mạng chấm dứt mà là thọ mạng hãy còn nhưng họ bỏ ra đi sớm, đạo lý là như vậy.

Chúng ta nhìn thấy có nhiều người ra đi rất tiêu sái (tiêu sái nghĩa là nhàn hạ, chẳng vướng bận) tự tại, chẳng có bịnh khổ, [làm cho người khác] vô cùng hâm mộ. Tôi thường nhắc nhở mọi người, chúng ta nhất định phải làm được. Nếu làm chẳng được thì trong lúc bịnh nặng, thân thể chịu sự sắp đặt của người khác, tự mình chẳng thể làm chủ, sẽ chẳng nắm chắc việc vãng sanh, thế nên bây giờ phải dự bị cho tương lai. Phương pháp tốt nhất là chẳng cần người khác chăm sóc, có thể dự biết trước ngày giờ ra đi, muốn đi lúc nào thì ra đi lúc đó. Nhất định phải hạ quyết tâm làm việc này cho bằng được thì đời này mới chẳng luống uổng. Những việc còn lại toàn là giả, chỉ có việc này là thật mà thôi. Chúng ta nói về ‘tự lợi’, đây mới thực sự là tự lợi.

Nhưng ‘tự lợi’ phải được xây dựng trên cơ sở của ‘lợi tha’. Trong đời sống sinh hoạt thường ngày, khởi tâm động niệm đều vì chúng sanh chứ chẳng vì mình. Suy nghĩ cho mình là sai lầm, phải nghĩ cho chúng sanh, quên mất cái ‘tôi’ đi. Nhất định phải vì chúng sanh thì tâm niệm tự tư tự lợi mới có thể đoạn trừ; chỉ cần đoạn trừ thì công phu tu học mới có thể nắm chắc.

Chúng ta niệm niệm nghĩ đến chúng sanh, chúng sanh là chúng duyên hòa hợp mà sanh, bao gồm cả động vật, thực vật, và khoáng vật. Thí dụ cái bàn không sạch thì mình chùi cho sạch; cái ghế không ngay ngắn thì mình sắp cho nó ngay ngắn, như vậy đều là vì chúng nó. Cách làm này tức là Lễ Kính Chư Phật trong mười nguyện Phổ Hiền, kính người, kính sự, kính vật.

Đừng nên có tâm riêng tư, dục vọng, tâm niệm muốn chiếm hữu (chiếm đoạt), tâm niệm chiếm hữu này là căn bản của sanh tử luân hồi, là nguồn gốc của hết thảy tội nghiệp; chúng ta phải nhổ trừ tội căn này. Tại sao không được chiếm hữu? Phật dạy ‘Hết thảy pháp đều không’, ngạn ngữ cũng nói: ‘Sanh chẳng mang đến, chết chẳng mang theo’, vậy thì tại sao có thể chiếm hữu được? Đây là từ trên hiện tượng thô thiển mà nói. Đi sâu thêm thì Phật dạy: ‘Hết thảy các pháp do nhân duyên sanh, chẳng có tự tánh, đương thể tức không, trọn chẳng thể được’ (Nhất thiết chư pháp, nhân duyên sở sanh, vô hữu tự tánh, đương thể tức không, liễu bất khả đắc), chẳng những các vật ngoài thân chẳng thể được, ngay cả thân thể này cũng chẳng thể được. Chẳng có tâm chiếm lấy, chiếm hữu những vật ngoài thân, đối với thân thể cũng chẳng có ý niệm là thân ‘của mình’, như vậy thì vấn đề sẽ được giải quyết. Lúc đó ‘Một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật’, quyết định sẽ sanh Tịnh Độ. Đó là giải thoát ra khỏi lục đạo luân hồi, ra khỏi thập pháp giới. Được vậy thì may mắn lắm!

Từ vô thỉ kiếp đến nay chúng ta chẳng gặp được duyên thù thắng, đời này rất may đã gặp được. Trong Quán Kinh chú giải Thiện Đạo đại sư nói: ‘Cửu phẩm vãng sanh đều là do gặp được duyên khác nhau’ (Cửu phẩm vãng sanh, tổng tại ngộ duyên bất đồng). Nói một cách khác khi gặp duyên thù thắng thì phàm phu cũng có thể vãng sanh thượng thượng phẩm; Bồ Tát nếu chẳng gặp duyên thù thắng thì lại vãng sanh vào phẩm trung, hạ. ‘Duyên’ rất khó gặp, ấy là ‘có thể gặp mà chẳng thể cầu’. Trong kinh giảng ‘thiện tri thức là duyên’. Nếu được thiện tri thức hướng dẫn, thiện hữu nâng đỡ, đồng tham đạo hữu tốt, đạo tràng tu hành tốt, thì tu hành sẽ chẳng có chướng ngại. Hiện nay chúng ta đã có đầy đủ duyên này, đã được nhưng vẫn chẳng thể thành tựu, vậy thì chỉ có thể trách mình, không thể trách kẻ khác. Nhất định phải biết cơ duyên thù thắng như vậy ‘trăm năm, vạn kiếp khó gặp được’, ‘trong vô lượng kiếp hiếm hoi khó gặp’, có thể thành tựu được hay không, mấu chốt nằm ở chỗ đột phá, phá trừ ‘tự tư tự lợi’.

Phương pháp đột phá là niệm niệmchúng sanh, nhất định chẳng vì chính mình; nếu vì mình thì nên vãng sanh Tịnh Độ sớm hơn. Thân thể còn lưu lại nơi thế gian này, mỗi ngày đều phải phục vụ cho chúng sanh, như vậy là hoàn toàn giống với hạnh nguyện của chư Phật Như Lai, [làm vậy] bạn sẽ được đại tự tại. Đạo lýsự thật này chúng ta phải hiểu tường tận, y giáo tu hành.

14. Phương pháp tu hành (Buổi sáng 21-12-98)

Hôm nay mở đầu Phật thất ở Dallas, thầy [Ngộ] Khải gởi fax cho tôi hy vọng trong thời gian Phật thất này, [tôi có thể] dùng mạng Internet mỗi ngày nói chuyện vài câu với mọi người.

Trong những năm gần đây không kể cư trú ở đâu chúng ta đều cảm thấy thế giới càng ngày càng không an toàn, tai nạn xảy ra khắp nơi, vả lại ngày càng nghiêm trọng. Nhân tình lãnh đạm, không biết ân nghĩa, không những tự hủy diệt mà không hay biết, lại còn tạo ra những tội hủy diệt Phật pháp, hủy diệt thế gian. Chúng ta không nói đến người khác, chỉ nói những người học Phật trong bốn chúng đệ tử, có ai không tạo ra những tội này? Ngày xưa người ta tạo tội nhẹ, ngày nay tạo tội nặng; khi tạo tội thiệt nặng nhưng tự mình lại không biết, như vậy là ngu si. Những người ngu si hằng ngày nghe giảng kinh, hằng ngày đọc kinh, vẫn không giác ngộ như cũ, đây là vì ‘chướng sâu nghiệp nặng’; nếu không tiêu trừ nghiệp chướng sâu nặng này thì tuyệt đối không thể tránh khỏi đọa lạc vào tam ác đạo.

Nếu chúng ta muốn cải thiện đời sống, công phu tu học được đắc lực, biện pháp duy nhất là phải nghe [giảng] kinh cho nhiều thiệt nhiều. Lúc còn tại thế đức Phật Thích Ca giảng kinh trên ba trăm hội, thuyết pháp ròng rã bốn mươi chín năm, đức Phật Thích Ca chưa từng hướng dẫn đại chúng niệm Phật lần nào, hoặc tham thiền một lần nào cả. Phải nên biết đức Phật không hướng dẫn chúng ta tu hành là vì tu hành dễ dàng, giác ngộ khó khăn. Cũng vì giác ngộ quá khó cho nên đức Phật khổ tâm mỏi miệng phải thuyết pháp mỗi ngày, khuyến đạo mỗi ngày. Chúng sanh ngu si, tuy mỗi ngày nghe Phật thuyết pháp nhưng vẫn mê mờ như cũ.

Tuy vậy đức Phật đại từ đại bi vẫn giảng kinh mỗi ngày; chúng sanh đọa lạc trong lục đạo thì Phật thị hiện trong lục đạo, vẫn đi theo không nỡ bỏ rơi, đây gọi là ‘Trong nhà Phật không xả bỏ bất cứ người nào’. Chúng sanh tạo tội nghiệp, phỉ bángsỉ nhục Phật, Bồ Tát, thậm chí hãm hại các ngài, nhưng các ngài không màng đến, vẫn thương xót chúng sanh, giảng kinh thuyết phápchúng sanh, đây là lòng đại từ đại bi của chư Phật, Bồ Tát. Đời đời kiếp kiếp trong vô lượng kiếp qua vẫn không bỏ rơi chúng sanh, đây là việc không phải một số người thường có thể làm được, từ điểm này chúng ta có thể hiểu được ân đức của Phật là bao lớn.

Hàn Quán Trưởng hộ trì chúng ta trong suốt ba mươi năm, xây dựng nền móng vững chắc cho chánh pháp. Có người nói Hàn Quán trưởng có công và cũng có lỗi lầm, nhưng theo tôi nghĩ thì bà chỉ có công chứ không có lỗi lầm chi hết. Nếu quý vị bình tỉnh quan sát kỹ càng thì sẽ biết công đức của bà vô lượng vô biên. Đây là một vị Bồ Tát tái lai, thị hiện cho chúng ta xem, người trong thế gian làm sao biết được?

Trong kinh nói người ở Tây Phương Cực Lạc thế giới cho dù hạ hạ phẩm vãng sanh đều có ‘thiên nhãn nhìn suốt, thiên nhĩ nghe thấu, tha tâm đều biết’ (thiên nhãn đổng thị, thiên nhĩ triệt thính, tha tâm biến tri), năng lực của sáu căn hầu như bằng với đức Phật A Di Đà, cho nên khi chúng ta khởi tâm động niệm, ngôn ngữ hành động, chư Phật, Bồ Tát nhìn thấy rõ rõ ràng ràng. Chúng ta mong cầu vãng sanh thì khi khởi tâm động niệm, ngôn ngữ hành động nhất định phải tương ứng, phù hợp với lý luậnphương pháp của sự vãng sanh, điểm này vô cùng quan trọng. Tây phương Cực Lạc thế giới là ‘Nơi tụ tập của các người thiện nhất’ (Chư thượng thiện nhân câu hội nhất xứ), cho nên chúng ta niệm Phật thì cũng phải tu ‘thượng thiện’. Nếu tâm không thiện, ngôn ngữ không thiện, cho dù một ngày niệm mười vạn câu Phật hiệu thì cũng không vãng sanh được. Giống như lời của hai vị tôn giả Hàn SơnThập Đắc đã nói: ‘Hét bể cổ họng cũng luống công’ (hai vị này là hóa thân của Văn ThùPhổ Hiền Bồ Tát).

Chúng ta đã phát tâm cứu mình thì cũng phải [phát tâm] cứu người xung quanh; sự sanh hoạt và tu học nhất định phải đúng như lý, như pháp, vì vậy phải hiểu rõ nội dung của kinh Phật. Nội dung này có bốn điểm: ‘Giáo, Lý, Hành, Quả’.

Lời dạy của đức Phật được người đời sau ghi chép lại thành kinh điển, những ngôn ngữ, văn tự, lời chép trong kinh này gọi là ‘Giáo’.

Hàm ý chứa đựng trong ‘Giáo’ gọi là ‘Lý’, ‘Lý’ này là lý luận giải thíchchân tướng sự thật của vũ trụ, nhân sinh. Chỉ có đức Phật mới có thể nói rõ những chân tướng sự thật này vì đây là cảnh giớiđức Phật [đích] thân chứng [được], là cảnh giới hiện lượng (đích thật từng trải qua) chứ không phải do suy đoán, vọng tưởng.

Không những đức Phật nói rõ ràng đạo lýsự thật này, Ngài còn dạy chúng ta phương pháp để khế nhập vào cảnh giới của chư Phật Như Lai, đây tức là ‘Hành’ (phương pháp thực hành).

Noi theo lý luận phương pháp trong kinh điển mà làm, đạt được sự lợi ích thù thắng, việc này tức là ‘Quả’.

Chúng ta hiểu rõ tính chất của kinh điển thì mới khâm phục Phật pháp, bái phục đến năm vóc sát đất.

Đức Phật dạy chúng ta khi tu học phải kiến lập một khái niệm căn bản, đó là ‘Tín, Giải, Hành, Chứng’.

‘Tín’ là tin sâu, không nghi ngờ những lời giáo huấn của đức Phật.

‘Giải’ là hiểu rõ, thấu triệt lý luận trong kinh điển.

‘Hành’ tức là làm theo lý luận phương pháp này.

‘Chứng’ tức là đích thân chứng được cảnh giới giống y như chư Phật Như Lai.

Ngày nay chúng ta còn tạo nghiệp, còn vọng tưởng, còn nói vọng ngôn tức là không hiểu thấu lý luận, không biết được sự lợi hại nên mới tạo ra những nghiệp tội nặng nề thậm chí hủy diệt Phật pháp, chướng ngại Phật pháp, làm cho người ta thoái tâm (sụt lùi).

Phải biết khi gặp nghịch cảnh Thanh Văn, Duyên Giác, Quyền Giáo Bồ Tát còn có thể thoái tâm; chỉ có Pháp Thân Đại Sĩ mới không thoái tâm. Chướng nạn của chúng ta rất nhiều, bao gồm cả trong lẫn ngoài. Những việc làm của Hàn Quán Trưởng và cư sĩ Lý Mộc Nguyên ở Tân Gia Ba đều là hành vi của đại Bồ Tát, Pháp Thân Đại Sĩ. Hàn Quán Trưởng hộ trì chánh pháp suốt ba mươi năm vẫn không sụt lùi; luôn luôn không bị ảnh hưởng bởi những lời phỉ báng, rao đồn, kiếm chuyện phá rối, đều như như bất độngxem như không có việc gì xảy ra, điều này vô cùng hiếm có, quý báu! Khi Lý cư sĩ gặp phải bất cứ chướng nạn gì, bất cứ lời hủy báng gì đều không thoái tâm, xây dựng đạo tràng ở Tân Gia Ba thành một đạo tràng điển hình, gương mẫu. Nếu không phải là hóa thân của chư Phật, Bồ Tát, Pháp Thân Đại Sĩ ứng hiện thì không thể làm được. Chúng ta có được nhân duyên thù thắng này tức là gặp được hộ pháp chân chánh. Cho nên mặc cho người ta hủy báng, phá hoại, làm gì thì làm, chúng ta đều được sự hộ trì của chư Phật, Bồ Tát.

Ngày nay Tịnh Tông có thể hoằng truyền khắp thế giới, những người niệm kinh Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đàtu học theo lý luận của kinh này theo thống kê một cách bảo thủ thì ít lắm cũng được hơn hai chục triệu người. Tịnh Tôngthể đạt được thành tích như vậy là công đức của Hàn Quán Trưởng, chúng ta uống nước phải nhớ nguồn, tri ân báo ân (biết ơn đền ơn). Nếu thiệt thấy rõ, hiểu thấu thì mới biết đây là Bồ Tát thị hiện, cảnh thuận hay nghịch đều là tăng thượng duyên (trợ duyên), đều để thành tựu Phật pháp, thành tựu cho chúng sanh.

Lúc trước thầy Lý nói với tôi muốn thực sự thành tựu trong việc hoằng pháp lợi sanh, nhất định phải [cư] trú lâu dài tại một nơi nhất định. Hiện nay chúng ta an tâm lưu tại Tân Gia Ba, toàn bộ nhân lực, tài lực, vật lực đều tập trung tại đây nên có thể thành lập được một đạo tràng gương mẫu, tuyệt đối không thể phân tán lực lượng, tinh thần. Cho nên chúng ta gặp được rất nhiều Bồ Tát ở nơi đó, thiệt đúng là ‘những người thiện nhất tụ hợp ở một chỗ’ (chư thượng thiện nhân câu hội nhất xứ). Vì mục đích khuyếch trương nền giáo dục của Phật Đà, chúng ta dùng thân phận của người quét dọn, người làm công để làm việc cho đức Phật A Di Đà, chư Phật Như Lai. Đừng tưởng là mình đã làm được việc gì cả, tất cả những thứ này đều là Phật, Bồ Tát an bài, là do chư Phật, Bồ Tát làm nên đấy, chúng ta chỉ bất quá chấp hành theo mà thôi. Cho nên thầy Lý dạy tôi phải ‘tin Phật’, tin Phật thiệt quá khó. Nhưng phải tin thiệt nghe!

Trong thời đại nhiều tai nạn này, con đường duy nhất của chúng taniệm Phật cầu sanh Tịnh Độ; dự Phật thất cũng lấy việc này làm mục tiêu. Chúc quý vị Phật thất lần này được thành tựu viên mãn.

15. Làm thế nào để tiêu tai miễn nạn (Buổi sáng23-12-98)

Giáo hội Thiên Chúa Giáolời tiên tri nói rằng năm 1999 thế giới sẽ có tai nạn lớn, khuyên các bạn đồng đạo nên đọc kinh, phải thật lòng sám hối, hy vọng có thể thoát khỏi tai nạn này. Và nói: tai nạn có thể xảy ra hay không còn dựa trên ‘nhân tâm’, nếu nhân tâm có thể hướng thiện thì tai nạn có thể hóa giải, có thể trì hoãn về sau. Cách nói này rất có lý.

Một ngày trước khi vãng sanh lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam dặn dò các vị đồng học: ‘Thế giới đã loạn rồi, cho dù chư Phật, Bồ Tát, thần tiên trở lại cũng không cứu nổi. Chỉ có con đường sống sót duy nhấtniệm Phật cầu sanh Tịnh Độ’, cho nên tai nạn càng ngày càng gần, chúng ta không còn nhiều thời gian nữa, phải nên buông xuống vạn duyên, nhất tâm niệm Phật.

Đạo Thiên Chúa khuyên người ta cầu lên thiên đường, họ nói không có Cực Lạc thế giới, chỉ có thiên đườngđịa ngục. Ngay cả người trên cõi trời cũng không có cách gì nhìn thấy toàn bộ tình huống phức tạp trong đại vũ trụ. Chúng ta hiểu rõ đích thật là có Cực Lạc thế giới, Hoa Tạng thế giới, cùng quốc độ của chư Phật. Làm thế nào để biết vậy? Đó là ‘duy tâm sở hiện, duy thức sở biến’, nếu hiểu được đạo lý này thì sẽ tin ngay.

Thật ra y báo, chánh báo trang nghiêm trong thập pháp giới cũng không có, Phật pháp nói: ‘Tam tâm bất khả đắc’, ‘Chư pháp vô sở hữu’; nói có thì chỉ là tạm có, huyễn có, giả có, trong kinh dùng chữ ‘diệu hữu’. Thế nên thiên đường, địa ngục cũng là diệu hữu; cõi này, cõi nọ cũng là diệu hữu, Cực Lạc thế giới cũng không ngoại lệ. Nếu dùng ngôn ngữ hiện nay của khoa học gia thì đây chỉ là không gian duy thứ (duy có nghĩa là chiều, là phương vị) khác nhau mà thôi, thí dụ như không gian ba chiều [của loài người chúng ta], không gian bốn chiều, năm chiều. Khoa học gia đã chứng minh có mười một chiều không gian tồn tại, nhưng trên lý luận thì không gianvô số chiều.

Những người vừa mới hiểu Phật pháp đều khẳng định có không gian vô số chiều tồn tại. Nếu bạn không thể đột phá những thời gian, không gian này thì không thể hiểu rõ sự thật. Vô số không gian có duy thứ không giống nhau tức là vô lượng vô biên thế giới, đức Phật nói [những thế giới này] đều từ tâm tưởng sanh. Kinh Hoa Nghiêm nói: ‘Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến’ tức là từ tâm tưởng sanh. Vô lượng vô biên chúng sanhvô lượng vô biên vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nên biến đổi ‘Nhất Chân pháp giới’ trở thành vô lượng vô biên không gian khác nhau, vô lượng vô biên cảnh giới, đạo lý là như vậy.

Đức Phật dạy chúng ta có thể đột phá những không gian này bằng cách xa lìa vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Lục đạo [luân hồi] là do vọng tưởng, phân biệt, chấp trước biến hiện ra; nếu xả bỏ chấp trước, chỉ còn vọng tưởngphân biệt thì lục đạo luân hồi sẽ không còn nữa, tức là Tứ Thánh pháp giới. Nếu cả phân biệt cũng xả bỏ thì Tứ Thánh pháp giới (Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật) cũng không còn, tức là không còn thập pháp giới nữa. Không còn thập pháp giới tức là Nhất Chân pháp giới. Do đây có thể biết thập pháp giới là từ phân biệt, chấp trước biến hiện ra. Xa lìa phân biệt chấp trước thì thập pháp giới sẽ không còn tồn tại. Việc này cũng giống như nằm mộng, khi tỉnh dậy những cảnh giới trong mộng đều không còn. Người ta thường nói đến danh từ ‘tu hành chứng quả’, chứng quả nghĩa là chứng được Nhất Chân pháp giới, khế nhập vào Nhất Chân pháp giới. Tây phương Cực Lạc thế giới thuộc về Nhất Chân pháp giới. Do đó có thể biết nếu chúng ta còn phân biệt, chấp trước thì nhất định sẽ không nhìn thấy Nhất Chân pháp giới.

Trong kinh Hoa Nghiêm chúng ta thấy Nhất Chân pháp giới vẫn có bốn mươi mốt cấp bậc, đó là Thập Trụ, Thập Hạnh,