Logo Hanh Huong
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,271,282
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Chương 10: Bồ Tát Hạnh

24 Tháng Mười Một 201000:00(Xem: 6542)
Chương 10: Bồ Tát Hạnh


BỒ TÁT HẠNH

Dù chỉ là một khởi niệm trong khía cạnh hy cầu của Bồ Đề Tâm và trong tự thể của một Thiện Hành không thôi cũng đã rất vượt thường; nhưng chỉ có thế thôi sẽ không vẹn toàn nổi tiêu đích viên mãn Phật quả.Mà trọng yếu là hãy đấn bước tu Bồ Tát Hạnh. Những hành vi này gọi là Lục Ba La Mật[1], kết hợp phương tiệntrí huệ, kiến tạo nên một chánh đạo chủ yếu và bao quát hướng đến giác ngộ. Chính Đức Phật đã từng dạy rằng: Bồ Tát sở dĩ xả bỏ được mọi phiền não là nhờ sức mạnh của Trí Huệ, nhưng các ngài miên viễn chẳng lìa bỏ chúng sanh là nhờ vào sức mạnh của phương tiện thiện xảo Từ Bi.Cả hai phương diện trên đây của Bồ Đề Đạo không bao giờ nên tách rời biệt lập mà cần phải luôn luôn liên kết lẫn nhau.Toàn bộ quá trình tu tập của Bồ Tát được phân hạng thành lục độ Ba La Mật:Bố Thí,Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định và Trí Huệ.

Nhằm viên mãn nguyện vọng của tha nhân,tu hạnh Bố Thí là điều rất quan trọng và hạnh Bố Thí tự nó cần phải được tôi luyện thêm bằng cách trì giới thanh tịnh để tránh hãm hại kẻ khác.Sự trì giới cần phải được hoàn mãn bằng hạnh nhẫn nhục,bởi vì bạn cần phải kham nhẫn nổi những hãm hại đến với bạn từ phía ngoại nhân..Bạn cần phải dõng mãnh tinh tấn để tu các hạnh nguyện như vậy. Sự tu hành của bạn cũng sẽ không được can cường nếu thiếu Định lực.Và nếu khôngtrí tuệ để tri hiểu tường tận tự tánh của vạn pháp, (bản chất của mọi hiện tượng) thì bạn sẽ không có khả năng dẫn đạo tha nhân một cách chân xác trên lộ trình hướng đến giác ngộ viên mãn. Bây giờ, tôi sẽ giảng giải chi tiết về Lục Ba La Mật.

Bố Thí

Bố thí là một tâm thái thiết tha ban phát với không một mảy may rít rắm bỏn xẻn các tài hữu,thân mạng,công đức của chính mình v.v… Bạn bố thí chính những sở hữu giàu sang,và ngay cả công đức tích lũy từ hạnh bố thí của mình cũng cần phải mang ra hồi hướng cho sự phước lợi của tha nhân.Bố thí Ba La Mật không tùy thuộc vào sự nhổ tận gốc rễ cảnh trạng nghèo cùng khốn khó của tất cả chúng sanh;mà là một loại phát triển cứu cánh của thái độ vị tha quảng đại.Kinh điển đề cập tánh cách quan trọng của sự bồi dưỡng ý niệm bố thí, đặc biệtbố thí thân thể mình cho người. Thân xác chính nó đầy dẫy tội lỗi và khuyết tật; nhưng với cái thể xác này,bạn có thể dùng nó để hoàn tất mục đích to lớn là giúp ích kẻ khác thay vì chỉ chiếm hữu nó.Và điều này cũng áp dụng luôn cho các tài vật của bạn. Nếu bạn chiếm chặt tài vật tùy thân,bạn sẽ tích lũy nhiều ác nhiệp hơn do vì bỏn xẻn keo kiệt. Nhưng nếu hiến tặng cho người các sở hữu của bạn,chúng sẽ phục vụ mục đích của nó và đồng thời gia tăng hạnh nguyện bố thí của bạn. Công đức lành do hạnh ban phát cho kẻ khác cũng nên được mang ra hồi hướng cho họ tất cả.Kinh điển dạy rằng: nếu tu hạnh bố thí như vậy,xả bỏ tài hữu,thân xác và xả bỏ luôn cả những thiện hành đã tích lũy thì công đức tích tập sẽ rất vĩ đại. Vì thế,không nên chiếm chặt các vật sở hữu,hoặc cũng không nên cật lực để dành dụm tích trữ càng ngày càng nhiều,bởi vì mọi sở hữu đều sẽ minh chứng là một chướng duyên cho hạnh tu bố thí. Đức Phật đã xả bỏ mọi sở hữu và vật tùy thân cho sự ích lợi của muôn loài và Ngài đã đạt được cứu cánh giác ngộ. Hiểu rõ được sự chiếm hữu là hoài công uổng phí; bạn hãy cố gắng gia tăng niệm cảm quảng đại vị tha của mình và ứng nghiệm bằng cách ban phát các tài vật của mình cho tha nhân.Kẻ đã tri hiểu được sự vô ích của lòng chiếm hữu mà xả bỏ mọi sở hữu của mình do ý nguyện thanh tịnh muốn giúp đỡ người khác, được gọi là một Bồ Tát.Kinh điển dạy rằng:do bởi bạn đã từng dâng hiến thân mạng,sở hữu và luôn cả các công đức tích lũy cho sự phúc lợi của tha nhân,nên khi cần sử dụng đến chúng,bạn hãy làm với một tâm thái vay mượn chúng từ người và làm như vậy cũng vì lợi ích cho người.

Khi tu hạnh bố thí, nguyện ước giác ngộ một cách vững chắckiên định cần nên là động cơ thúc đẩy của bạn.Bất cứ điều gì hiến tặng cần phải nhằm mục đích lợi lạc quần sanh.Tu hạnh bố thí cần phải được hành trì với một phương cách khéo léo nhắm đến sự phúc lạc của tha nhân; đó là,liễu tri rằng; tận cùng rồi thì không có tự ngã ban phát hoặc tự ngã nhận lấy.Tu hạnh bố thí cần phải được ban phát vì phúc lợi cho người; nhưng nó cũng đồng thời cần phải được hỷ cúng với điều được gọi là Thanh Tịnh Thù Thắng[2] có nghĩa là năm loại hạnh nguyện Ba La Mật kia cũng đồng thời cần phải được hiện diện.Chẳng hạn như, khi hiến cúng Phật pháp cho người,bạn nên trì giới để tránh rơi vào tâm thái tự kỷ và đồng lúc bạn cũng cần phải nhẫn nhục để kham chịu mọi gian khổ chướng duyên trên suốt lộ trình tu hành.Có ba loại bố thí: bố thí Pháp; Vô Úy thí-bố thí sự che chở hoặc ban phát sự không sợ hãi;và Tài thí.

Mục tiêu mà bạn tu hành bố thíý nguyện đạt đến toàn giácphúc lạc của muôn vạn hàm linh.Khi thật sự dấn thân vào việc bố thí,thì tâm thái của bạn đối với người nhận của ban phát không nên là một tâm thái trác ẩn thương cảm.Bạn hãy trông thấy nơi họ như là một lạch nguồn Đại Ân Sủng đang phụng hiến vào tiến trình tu đạo của mình.Dù rằng bạn không nên kỳ thị phân biệt,nhưng bạn cần phải chú tâm đặc biệt đến những kẻ thiếu thốn vật chất và đến những kẻ đang chịu nhiều khổ đau. Tóm gọn lại, bất cứ khi nào tu hạnh bố thí thì bạn cũng nên luôn nhìn thấy và đề cập đến các ưu điểm của người,và hãy tuyệt nhiên không nói lỗi của người. Tâm thái của bạn không nên bị ảnh hưởng bởi lòng mong muốn được tưởng thưởng hoặc danh thơm hoặc với lòng hy vọng được đền trả. Và sau khi cho rồi,bạn chớ bao giờ ôm lòng tiếc nuối là bạn đã bị tổn hao tài vật.Hãy nỗ lực thăng hoa niềm hỷ lạc trong hạnh bố thí,và hãy tuyệt nhiên không thối lui trước những trạng huống mà có thể bạn phải thật sự đích thân dấn bước nhằm xả bỏ ban phát.

Để tăng cường và phát huy ý niệm bố thí,bạn nên bắt đầu bằng cách ban phát một vài sở hữu nho nhỏ.Thực tập dần dần thì điều này sẽ đưa dẫn đến sự việc là bạn không còn một mảy may quan ngại hoặc chấp giữ lấy cả việc bố thí ngay chính thân mạng mình.Kinh điển dạy rằng trạng thái tâm linh của một con người luôn luôn tùy thuộc vào những gì người ấy thân quen. Ví dụ như ta bắt đầu học từ vần điệu chữ cái khi học một loại ngôn ngữ nào.Ban sơ dường như rất khó khăn.Chẳng có ích lợi gì nếu bấy giờ ta được trao truyền cho cả một bài văn phạm phức tạp. Nhưng nếu khởi sự với các mẫu tự một cách thuần thục thì chung cuộc rồi dù cho văn phạmphức tạp đi nữa cũng dường như rất giản đơn. Cùng thế ấy, nếu ta tự huấn luyện để ban phát các sở hữu vật chất,thì về sau dù cho có xả bỏ thân mạng đi nữa cũng sẽ dường như rất tự nhiên.

Bạn không nên trì hoãn trong việc bố thí hoặc trông chờ người khác làm việc thiện.Bạn không nên cho món quá này khi đã lỡ hứa tặng món quà khác và cũng không nên nghĩ đến công ơn của mình khi ban phát để khiến cho người nhận phải mang ơn mình.Khi bố thí,bạn nên hiến tặng với sự hoan hỷưu ái,thể hiện bằng tấm lòng phỉ lạc.Bạn hãy tự mình thực hành bố thí và khuyến khích kẻ khác cùng làm để giúp cho mọi người đều cùng phát nguyện bố thí. Điều gì có thể xúc hại dù trong nhất thời hoặc trường kỳ,mang đến thống khổ,bất an cho người đều không phải là quà tặng thích nghi hợp cách.

Những gì có thể mang lại an lạc trong đoản kỳ hay trường kỳ đều rất thích hợp để hiến tặng tha nhân.Khi thực hành hạnh pháp thí; trước hết bạn hãy phân tích căn cơ của người thỉnh pháp xem họ sẽ tìm được những lợi lạc gì trong giáo pháp mà bạn dự tính trao truyền.Nếu không,giáo pháp truyền ra, chẳng những không giúp ích gì, lại còn gây thương tổn cho họ và người thọ pháp còn có thể bị mất tín tâm. Ngoài ra,bạn cũng chớ nên hiến tặng các vật dụng giết thú hoặc chỉ bày các kỹ thuật giết thú cho những người thợ săn.Trong một đôi trường hợp,sự cự tuyệt,từ chối được chứng minhlợi lạc hơn cả bố thí hiến dâng.Bồ tát cần nên rất khéo léo trong những trường hợp như vậy.

Nếu bạn khám phá rằng tự mình không thể buông bỏ được tài vật thì nên tư duy đến sự vô ích của các sở hữu vật chất và hãy tri nhận lẽ vô thường ngắn ngủi tạm bợ của đời sống mình. Sớm hay muộn,bạn đều phải xa lìa các sở hữu của mình;do vậy,thay vì chết trong sự vây hãm kềm kẹp của lòng bỏn xẻn thì tốt hơn hãy buông bỏ ngay các sở hữu của mình để tránh khỏi sự đê tiện bủn xỉn.Hãy tự nghĩ rằng: “ta đã từng trải qua biết bao dày vò khổ đau trong vòng luân hồi này chỉ vì ta chưa hề quen thuộc với thái độ hiến tặng các của cải mình.Từ nay, ta phải thay đổi thái độ và phát triển tâm niệm bố thí của mình.” Để thực hiện công việc nầy,bạn hãy tưởng tượng đến đủ loại tài vật bất khả tư nghìquán tưởng rằng mình mang chúng ra để bố thí cho tha nhân.

Trì giới

Trì giớiBa La Mật thứ hai.Trì giới là một trạng thái nội tâm tránh kỵ vướng mắc vào các biến sự có thể gây tổn hại cho kẻ khác.Trì giới Ba La Mật sẽ hoàn mãn khi nào lòng xác tín không hãm hại kẻ khác của bạn được phát huy đến mức độ cứu cánh tuyệt đối.Giới luật ở đây, được liệt kê một cách rộng rãi dưới mười tiêu đích,tức là tránh kỵ mười ác nghiệp. Giới luật như trận mưa tươi mát,dập tắt ngọn lửa tham,ngọn lửa sân và ngọn lửa phẫn nộ trong chính tự thân bạn.Khi tu trì giới luật,chủ tâm của bạn nên là tâm vô chấp[3],vô hận[4] và chánh tri kiến[5].Nghiêm trì giới luật thanh tịnh cần được ảnh hưởng từ nỗi e sợ các quả báo mà bạn phải trực diện nếu gây tạo ác nghiệp.Và các ác báo ấy đã được giải thích từ trước rồi. Thủ trì giới luật thanh tịnh được xem như là một báu vật trang nghiêm thích hợp cho mọi người,bất kể cao thấp,mập ốm,tuổi tác và chủng tộc. Những trang sức vật chất có thể sẽ yêu kiều đối với người này nhưng lại không đẹp với kẻ kia.Trong khi ấy, sự trang hoàng giới luật lại được xem là rất đẹp với mọi hành giả bất luận dáng vẻ bề ngoài của họ thế nào.

Trì giới thanh tịnh,bạn sẽ tự khắc tạo niềm kính trọng ngay chính trong cộng đồng nhân loại.Với ảnh hưởng của giới luật,bạn sẽ tiếp xử nhân loại một cách hợp xứng và tiết tháo.Bạn cũng sẽ được phòng hộ để tránh gây nên ác nghiệp.Kinh điển dạy rằng: dẫu là hạt bụi do dấu chân của người trì giới thanh tịnh dẫm ngang cũng đã là một vật tôn kính; đấy chính là phẩm chất thù thắng vĩ đại của giới luật.Tâm niệm trì giới thanh tịnh của bạn không nên chỉ cục hạn nhằm tự bảo vệ mình tránh tạo nên ác nghiệp;mà cần phải được nêu ra như một ví dụ cho tha nhân để mọi người cũng đều được bảo hộ khỏi sự nguy tổn của ác nghiệp.

Nhẫn nhục

Nhẫn nhực là một trạng thái nhẫn nại tự chế khi đối diện với những hãm hại trừng phạt của kẻ khác.Có ba loại nhẫn nhục; điều đầu tiên là không phiền não trước những hãm hại của ngoại nhân; điều thứ nhì là tự nguyện gánh vác các khổ đau ách nạn và điều thứ ba là có khả năng kham nhẫn mọi cực khổ khi dấn thân tu hành theo giáo pháp của Phật.Tư duy đến các phẩm chất và lợi lạc thù thắng to lớn của hạnh nhẫn quả là một điều tối cực trọng yếu.Những ai không tu hạnh nhẫn nhục sẽ bị đoanh vây bởi niệm cảm hối hận sâu dày vào lúc lâm chung,vì những ác nghiệp đã từng tạo ra trong kiếp sống của họ.Trong khi ấy, những người nào tu được hạnh nhẫn nhục và kham chịu nổi ám hại của kẻ khác sẽ không bị ăn năn hối tiếc gì cả vào giờ phút lâm chung.Linh dược xảo diệu tối thượng nhất cho tâm thái hỷ xả đối với người khác,là thực hành hạnh nhẫn nhục.Hạnh nhẫn nhục còn sống đồng thời bảo hộ người tu tránh khỏi sự nguy hại của sân hận. Kinh điển dạy rằng: dù là một khởi niệm sân hận nhất thời đối với một vị Bồ Tát cũng có thể thiêu hủy tất cả mọi công đức tích tụ được từ nghìn kiếp.Do vậy, “nhẫn” cũng đồng thời bảo vệ bạn trong những tình huống mà cơn thịnh nộ của bạn có thể thiêu hủy toàn bộ công đức mà bạn đã tích tập. Đấy chính là món trang sức được chiêm ngưỡng bởi tha nhân; là giáp bào gìn giữ,giúp bạn tránh được lòng sân tức của chính mình và tránh được mọi sự hãm hại đến từ kẻ khác. Hậu quả tức khắc khi bạn nổi sân là sự đánh mất tâm thức bình tĩnh.

Những người chung quanh cũng sẽ không được an lạc vì sự sân tức đã gây tạo nên bầu không khí xấu xa quanh bạn.Phẫn nộsân hận thiêu đốt khả năng phán đoán của bạn; thay vì hồi báo ân đức,cuối cùng bạn lại phiền muộn và thậm chí sanh tâm trả thù.Nếu nội tâm chất chứa dẫy đầy thịnh nộsân hận,thì dẫu với những sung mãn vật chất,bạn cũng sẽ chẳng có mảy may vui sướng nào vì bạn sẽ liên tục bị tình cảm dày vò.Tri nhận được điều này,bạn hãy tận lực tu hạnh nhẫn nhục và hãy cố gắng lìa bỏ tâm sân và tâm hận.

Khi có người nào hãm hại bạn,bạn chớ nên cáu giận và trả thù,mà hãy tri nhận rằng kẻ kia không tự kềm hãm được tình cảm của họ.Người đó chẳng làm như vậy vì cố ý mà chỉ tại vì bị ảnh hưởng bởi những tình tự tiêu cực đó thôi.Nguyên do chánh yếu khi người nào đó sân tức và hãm hại bạn là vì y đã không ngừng bị khống chế bởi phiền não.Bạn hãy phát khởi tâm niệm trắc ẩnbi tâm thay vì nổi giận. Điều giản đơn nhất là,nếu những người nào có thể chế phục được tình cảm của họ thì họ chẳng bao giờ hãm hại bạn bởi vì những gì họ tầm cầu cũng là an lạc hạnh phúc mà thôi.Họ cũng chẳng tự nỗ lực để bị sa đọa bằng cách tích tập các ác nghiệp do sự hãm hại kẻ khác.Ta không có lý do gì để phải sân tức bởi vì họ không thể chế phục được tình tự của họ mà thôi.

Bạn hãy phân tích xem vả chăng sự sân hận và khuynh hướng hãm hại là những bản chất chánh yếu của nhân loại.Nếu sự phẫn nộbản chất chánh yếu của nhân loại như hơi nóng là thể tánh của lửa,thì con người cũng không thể làm gì để khắc phục nó và cũng không có lý gì để báo thù khi bị ám hại.Mặt khác,nếu sự phẫn nộ không phải là đặc tính cơ bản của nhân loại mà nó chỉ là một đặc chất ngẫu nhiên thôi; thì ta lại một lần nữa không có lý do gì để sân tức và muốn báo thù bởi vì trên thực tế; khí giớicon người sử dụng như dao nhọn, côn chùy mới là vật gây nên thương tổn.Ta nên sân tức các khí giới này,thay vì sân tức con người.Và thực tế,ta đã không làm vậy.Chỉ như ta đã chẳng hề bộc phát sự giận dữ đối với các vật thể vô tri như côn chùy,thì ta hãy nên bình tĩnh và không nên tức giận gì cả.Trái lại,nên cố gắng thăm dò tìm hiểu nguồn cội sâu xa của sự thương tổn.Bạn sẽ phát hiện ra rằng chính những nghiệp báo xấu ác tạo ra từ quá khứ của bạn đã khiến xui người ta hãm hại bạn.Do vậy,nếu sẽ cáu giận và báo thù,thì bạn hãy cáu giận và báo thù ngay chính những phiền nãonghiệp báo của mình đi.Không có lý do gì để bộc phát sự giận dữ đối với ngoại nhân.Chính tự các phiền não của ta đã khiến ta trực diện với những hậu quả và khổ đau như vậy.

Nếu đối với các kinh nghiệm đau khổ nhỏ nhoi mà không thể nhẫn chịu để phải sanh tâm cáu giận và báo thù thì ta sẽ tích tập thêm nhiều nghiệp báo xấu ác có thể gây tác hưởng lâu dài cho tương lai.Ngược lại, đối với kẻ hãm hại; ta hãy cảm thấy như mang nợ y vì y đã giúp ta cơ hội khảo nghiệm sức nhẫn nhục.Nến cảm ơn kẻ hãm hại ta thay vì giận dữbáo thù.Khi bị đả thương sự nhức chính là kết quả bình đẳng của cả vết thương và của cả tự thân mình.

Nếu không có thân này thì ta không thực chứng được kinh nghiệm của niềm đau thể chất.Vì vậy,nếu phải sân giận thì ta nên sân giận với chính thân xác của ta.Hành trì hạnh nhẫn nhục là điều rất trọng yếu để khắc phục được lòng phẫn uất và lòng đố kỵ đối với sự thành cônghạnh phúc của tha nhân.Chúng ta nên vui mừng vì có một đôi người đã tự có khả năng mưu tìm được sự phúc lạc cho họ;thay vì chúng ta phải nỗ lực để tạo an vui cho tất cả mọi người.Khi chứng kiến sự thành công như vậy,ta nên vui mừnghoan hỷ.Ta cần phải khắc phục cảm thọ vui sướng khi nghiệm chứng được sự sa cơ thất thế của kẻ thù nghịch mình.Và ta cũng không nên phẫn uất hoặc buồn chán khi đối diện với sự thành công của kẻ thù mình.Sự căm phẫn không những chỉ gây tác hại cho người mà còn đồng thời khiến ta tích tập nhiều ác nghiệp hơn; những ác nghiệp này sẽ khiến xui cho tự thân chúng ta bị sa đọa trong tương lai.

Trong đời sống bình nhật,ta thường gặp nhiều khổ hoạn hơn vui. Điều rất trọng yếu là mình có khả năng quán chiếu để thấy được rằng tất cả những kinh nghiệm khổ đau này đều rất hữu ích trên bước đường hành trì chánh pháp của Phật.Nếu vun bồi được hành trì chánh pháp của Phật.Nếu vun bồi được hạnh nhẫn nhục; theo ý nghĩa tình nguyện tự gánh vác mọi khổ đau thì cho dù bản thân ta chưa có khả năng cưu mang lấy cái khổ của chúng sanh đi nữa thì ta cũng sẽ không tự làm mất tiềm năng phán đoán.Ngay trong đời sống hàng ngày, hai người dù bệnh tình giống nhau; nhưng vì thái độ và cách thức quán sát vạn pháp khác nhau;nên có một người sẽ cảm nhận khổ thị nhiều hơn vì y chưa được trang bị thái độ chánh đáng để đối phó với hoàn cảnh;trong khi người kia thì có thể trực diện với hoàn cảnh một cách tài ba hơn và y cũng đồng thời có khả năng tránh né được niềm khổ đau dày vò tâm linh khá hơn.Ta cần nên nhớ rằng nếu không thể sửa đổi được hoàn cảnh thì không có lý do gì để phiền muộn; trái lại ta hãy đơn giản dốc sức gắng công để thay đổi nó.

Nếu chẳng hề gặp khổ thì ta sẽ không ôm chí cầu đạt được thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi.Đó chính là một khía cạnh tích cực của khổ đau.Không khổ đau thì làm sao bạn có được kinh nghiệm muốn từ bỏ thoát ly?Trong tiêu đề này, quả thật trọng yếu để suy gẫm đến một sự thật rằng: từ vô thỉ kiếp đến nay, ta không ngớt bị đày đọa trong vòng luân hồi khổ đau dày xéo;chẳng bao giờ xả bỏ những xu hướng vị kỷ;tìm cách bám chặt vào sự quan trọng của tự kỷ,và nỗ lực cho những mục tiêu ích kỷ của chính tự thân.Giờ đây,ta hãy thấu triệt tầm mức quan trọng trong việc thay đổi thái độ và hãy nỗ lực phục vụ cho sự lợi lạc của tha nhân.Nếu ngay trong tiến trình ấy,ta cần phải trực diện với khổ đau thì ta sẽ có đủ năng lực để kham nhẫn mà không phải đánh mất sức phán đoán cũng như không bị suy suyển nản lòng vì những kinh nghiệm khổ đau như vậy.Xuyên qua những kinh nghiệm do từ các thói quen thông thường,cuối cùng rồi bạn có thể kham nhẫn mọi chướng duyên một cách dễ dàng.Nhẫn chịu các khổ đau trên tiến trình của chánh đạo giác ngộ là điều mà chúng ta có thể thông quen được.

Quả thật rất trọng yếu để phải cương quyết định đoạt can đảm và phấn khởi lên trong chí nguyện của bạn.Các vị anh hùng khi trông thấy máu mình tuôn ra giữa trận mạc,thay vì thối chí thất tâm,họ càng trở nên quyết liệt hơn; và điều đó đã phục vụ như là một động lực tác chiến dữ dội hơn. Đấy chính là loại tâm thái mà Bồ Tát nên sử dụng khi đối diện với những trạng huống phải kham nhẫn chịu khổ.Chúng ta cũng phải chấp nhận các khổ đau thể xác trên tiến trình tu hành.Và nhận chịu những muộn phiền gây nên từ những người mắng chửi hoặc chống bác mình.Và cũng nên chịu đựng cảnh bệnh khổlão khổ của chính bản thân mình.Không nên để các loại khổ đau này áp đảo,mà hãy kiên gan nhận chịu.Trên quá trình hăng say hành trì theo chánh pháp với ý nguyện mưu tìm phúc lạc cứu cánh cho muôn loài; chúng ta hãy chuẩn bị để đương đầu với những khốn đốn xảy ra.Vĩnh viễn không nên thối thất sự tinh tấn dõng mãnh mà hãy trì tục tu hành và không bao giờ nên căm phẫn trước nghịch duyên.Dựa trên nền tảng nhẫn nhục kiến cố này,ta đã có thể đắp xây được một sự thâm ngộ cho chính tương lai của mình.

Tinh Tấn

Thứ đến là Tinh Tấn Ba La Mật.Tinh tấn là một trạng thái nội tâm hảo lạc đối với các thiện hành.Tinh tấn đã giúp tạo một nền tảng tu đạo,nhờ vào đấy chúng ta tránh khỏi bị đọa xuống cảnh giới thấp hơn.Kinh điển dạy rằng: tinh tấn là người đi tiên phong trong mọi thiện nghiệp.Tất cả mọi nghiên tầm sở học và tu hành đều sẽ được thành tựu nếu bạn được trang bị bằng sức chuyên cần tinh tấn bởi vì bạn sẽ chẳng hề mang một khởi niệm hoặc ý nghĩ nản chí thối lòng hoặc ý niệm không thể ứng hợp được thì không có bất kỳ sở nguyện nào mà bạn không thể thành đạt.Mặt khác,nếu ràng buộc bởi lười biếng giải đãi,bạn sẽ chẳng thể nào tấn bước nổi trên phương diện phát triển tuệ giác hay bất cứ trên phương cách tu hành nào cả.Thiếu mất tinh tấn sẽ mang đến suy vi không phải chỉ cho hiện đời mà còn cho nhiều kiếp dài lâu nữa.

Trên quá trình phụng sự cho công ích của tha nhân, áo giáp tinh tấn sẽ có năng lực giúp bạn chịu đựng nổi bất cứ hình thái đau khổ hay khốn khó nào.Sự tinh tấn sẽ bảo vệ bạn tránh khỏi thối thất và buồn chán khi trực diện với những cam go khốn khổ.Chiếc áo giáp tinh tấn của bạn cần nên dõng mãnh đến mức độ rằng:nếu phải sinh vào địa ngục trong vô lượng kiếp chỉ để thỏa mãn nguyện vọng của một cá nhân thôi,thì bạn cũng sẵn lòng làm.Nhằm đạt được mức tinh tấn cần thiết để tích lũy công đức; trước hết,bạn phải xác định chướng ngại vật của đức tinh tấn, đó là sự lười biếng giải đãi.

Có ba loại giải đãi: 1/giải đãi của sự biếng nhác,muốn kéo dài trì hoãn việc phải làm; 2/giải đãi vì cảm thấy thấp kém, đó là ý niệm rằng mình không đủ khả năng hành sự; 3/ giải đãichấp thủ vào các hành động tiêu cực hoặc tận sức gây nên ác nghiệp.Nhằm vượt qua sự giải đãi biếng nhác,bạn phải tư duy rằng hành trì theo giáo pháp Phật, bạn sẽ có được những thiện báo thù thắng.Bạn phải trông thấy được sự tổn hạivô bổ chỉ dính líu đến các thị phi bỉ thử vô nghĩa…Sự luận bàn vô căn cứthường xuyên xao lãng hay cuốn hút theo thế sự đã chứng minh là tảng đá chướng ngại to lớn nhất của quá trình tu hành.Nhằm vượt qua được mặc cảm tự ti,bạn phải tư duy rằng,xuyên qua quá trình tinh tấn mà tất cả chư Phật quá khứ đã thành tựu mục tiêu giác ngộ tối hậu.Từ nguyên thủy,các ngài cũng chưa thành Phật mà chỉ là các chúng sanh bình thường như chúng ta.Nhưng nhờ nỗ lực tinh tấn hành trì theo giáo pháp mà các ngài đã tựu thành sở nguyện sau cùng. Để khắc phục được lòng thiếu tự tin,nên thấu hiểu rõ ràng,vì cầu Phật quả,chúng ta cần phải chuẩn bị hy sinh.Nếu nhận thấy rằng mình chưa tinh tấn đủ để có thể xả bỏ được mọi tài vật,thì hãy tri nhận một cách thấu đáo rằng sớm muộnchúng ta cũng phải lìa xa các tài hữu và luôn cả thân mạng mình.Ta hãy buông bỏ thay vì bị cưỡng bách phải rời xa chúng vào lúc lâm chung,mà điều này cũng chẳng giúp ích vào đâu cả. Ít ra thì ta cũng sẽ rút tỉa được một vài điều lợi lạc xuyên qua ý lực bố thí ấy.Tỷ như khi lâm bệnh,bạn phải nhẫn chịu các loại dày vò khổ đau thể xác do y sĩ chích thuốc.Cùng thế ấy,nhằm khắc phục nỗi khổ đau to lớn của sự phiền nhiễu luân hồi sinh tử,trên bước đường hướng đến bến bờ giải thoát,bạn phải kham nhẫn chịu đựng một số những nguy khốn và đau đớn thể chất.

Chúng ta không nên buồn nản và thối thất vì sự thể rằng: chúng ta phải tích lũy nhiều công đứctrí huệ trong vô lượng vô biên kiếp số nhằm đạt được giác ngộ.Mục tiêu hy cầu giác ngộ của chúng ta là niềm an vui hạnh phúc của muôn vạn hàm linh.Con số chúng sanh thì vô hạn mà khổ đau của họ thì vô tận.Quá trình cứu rỗi vô lượng vô biên chúng sanh thoát khỏi vô lượng vô biên đau khổ chắc chắn là một lịch trình dài đăng đẳng và nhiều gian khổ.Chúng ta cần phải chuẩn bị để hy sinh trên bước đường đi ấy.Bồ Tát là một chúng sanh; do từ bi,yêu thươngtrắc ẩn đối với mọi khổ đau của muôn loài mà chẳng hề dấy lên một niệm hối tiếc,buồn chán nhỏ nhất nào khi phải trực diện với thương đau và nguy khốn.Sẽ chẳng bao giờ có trường hợp mà một người nào đó sẽ đạt thành được bất cứ sự việc gì bằng tinh thần thiếu tự tin cả.Trái lại,nếu phát khởi sự dũng cảm và tận dụng mọi năng lực; cho dù vốn là việc phức tạp khó khăn,nhưng cuối cùng rồi cũng sẽ biến thành đơn giản dễ dàng.Khi dấn bước để gánh vác việc gì, điều tiên khởi vô cùng trọng yếu, đó là cần phải thẩm định trạng huống,phân tích tình thế và tự lượng sức mình xem có đủ khả năng hoàn tất công việc hay không.Nếu khám phá thấy việc đó vượt quá khả năng hiện tại của mình:thay vì cố sức lao đầu vào ngay tức khắc thì tốt hơn,hãy lùi trở lại và chờ đợi;còn hơn là bỏ dở nửa đường.Nhưng một khi đã quyết định nhập cuộc thì bạn hãy kiên trì làm cho đến nơi đến chốn thay vì buông xuôi dang dở nửa chừng.

Tục ngữ có câu:mạo hiểm nếu muốn thành công,trọng yếucần phảilòng tin.Lòng tin ở đây không hàm chứa bất cứ sự tiêu cực nào mà chỉ giản đơn là một loại dũng khí.Lòng tin của bạn phải kiên cường đến độ,bạn sẵn sàng tự làm bất cứ điều gì mà không cần tùy thuộc vào sự đóng góp hay giúp đỡ của kẻ khác.Bạn hãy suy nghĩ rằng: do bởi ảnh hưởng của phiền não mà tất cả các chúng sanh kia đã không đủ khả năng hoặc sức lực để hành sự cho họ. Bạn phải có lòng tin đủ để cảm nhận được sự tổn hại của phiền não, để rồi bạn không thể cho phép mình bị nghiêng ngả ảnh hưởng bởi phiền não; và bạn có khả năng cũng như sức lực để phụng hiến cho quyền lợi của tha nhân.Nên có lòng tintuyệt đối không tự đế cho mình bị nghiêng ngả lay động vì phiền não; mà hãy luôn trực diện,chống trả đánh bại chúng.Nếu co rút lại,dù đó chỉ là một hãm hại nhỏ nhất cũng có thể tiêu hủy xô dìm hoặc đánh gục bạn.Khi con rắn chết thì lũ chim quạ cũng hành xử như loài chim ưng,kênh kênh thôi.

Bạn cũng nên bồi dưỡng năng lực hoan hỷ (power of joy).Sự tu hành cần phải được hòa nhịp trong niềm phỉ lạc khi bạn khởi sự dấn bước để nhập cuộc là điều rất quan trọng.Đối với tu hành,tâm thức hân hoan tịnh lạc của bạn phải giống như trẻ em đang hồn nhiên vui chơi.Cái năng lực hân hoan tịnh lạc trong công việc tu hành theo giáo pháp Phật của bạn sẽ lấn át luôn cả sự mãn nguyện của bạn đối với một vài thành tựu nho nhỏ.Nhưng đồng thời bạn cũng chẳng nên thờ ơ đối với quan năng được thư giãn nghỉ ngơi.Trong nỗ lực tu hành của bạn,nếu cảm thấy mỏi mệt chán nản thì điều quan trọng là hãy nghỉ ngơi để bạn tìm lại được sự sáng suốt,sảng khoái,hồi tỉnh và sẵn sàng tu tiếp.Nếu không,thì sự kiệt sức của thể xác sẽ đưa đến buồn nản.Kinh điển dạy rằng,năng lực tinh tấn phải giống như dòng sông,mà dòng sông thì miên miên bất tuyệt.

Trong khi vận dụng sức tinh tấn,không những bạn phải nỗ lực để chiến đấu với các chướng duyên mà bạn còn phải đồng thời tự bảo trọng để đừng dính mắc vào các hành động xấu ác khác.Ví dụ như,khi lưu tâm đến cách diệt trừ vô minh,và nỗ lực không ngừng để phân định và chiến đấu với vô minh; thì có thể bạn sẽ hoàn toàn quên mất các loại phiền não khác để rồi cuối cùng lại bị vướng mắc vào một loại nghiệp xấu khác nữa, đó là sự luyến chấp.Khi bảo kiếm rơi xuống,người chiến sĩ sẽ tức thì cúi nhặt một cách không do dự.Cùng thế ấy,trong khi dõng mãnh tinh tấn,bạn cũng phải đồng thời thường xuyên giữ chánh niệm để tránh bị ảnh hưởng bởi nhiều trạng thái tâm lý khác.Chánh niệm cần phải phục vụ như là một yếu tố căn để nhằm giúp bạn tránh được bao điều phiền não trên quá trình tinh tấn.Bởi vì, dù là những hành động xấu ác nhỏ nhiệm cũng có thể đưa đến những quả báo nghiêm trọng.Vết thương sẽ rất bé khi mũi tên nhỏ đâm trúng nhưng nọc độc lan tỏa khắp chân thân sẽ cuối cùng giết chết bạn.Mọi trạng thái tâm lý xấu xa đều cùng khả năng như thế.Một vài trạng thái dường như không đến nỗi trầm trọng, nhưng tất cả mọi tình tự kể trên đều có cùng một khả năng.Sự cẩn tắc của bạn phải giống như một người bị ép buộc để ly sữa trên đầu,và bị dọa giết chết cho dù chỉ một giọt sữa rơi rãi. Người đó sẽ tự khắc rất cẩn thận để tránh đổ tháo.Tu hành theo giáo pháp Phật,sự cẩn trọng của bạn cũng phải tỉ mỉ y hệt như vậy.Trong mọi hoàn cảnh,quả thật rất trọng yếu để sám hối đối với những ác nghiệp quá khứphát khởi một quyết tâm dõng mãnh là không bao giờ tái phạm nữa. Điều này đã phục vụ như một sự thường xuyên nhắc nhở không nên để mất chánh niệm.Tựa như mảy lông cuốn theo chiều gió,thân tâm của bạn cũng nên được thấm nhuần bởi sức dõng mãnh tinh tấn và niềm hoan lạc trên bước đường tu.

Thiền Định

Thiền Địnhtrạng thái tâm lý chuyên tâm nhất trí đối với thiện cảnh.Trạng thái tâm lý thường tình của chúng tavọng tưởng tán loạn.Tâm thức bình thường của ta rất yếu đuối và khó bề chế phục để có thể tri hiểu được bản chất đích thật của thực tại giới.Nếu muốn giải phóng được bất cứ ai,mình và người, thoát khỏi mọi khổ đau sinh tử luân hồi; căn bản nhất là am hiểu bản chất của thực tại giới.Vì thế cần biến chuyển tâm thức thành một dụng cụ thích nghi như là một loại kính hiển vi cực mạnh nhằm thẩm định thực tại giới.Cần chuyển tâm thức thành một loại khí giới thích hợp như một bảo kiếm sắc bén để cắt tận gốc mọi khổ đau.Thiền địnhphương cách thực tậptừ tâm thức bình thường, tán loạn,không thể chế phục được của một con người; tâm thức ấy sẽ được chuyển hóa, để đạt đến mức độ mà người đó dù đối diện với bất cứ ngoại cảnh nào cũng đều giữ được sự mạnh mẽ và không cần tốn hao tâm sức để chuyên tâm nhất trí đến đề mục đã chọn.Bồ Đề Tâm cần phải được đặt trên nền tảng của sự thực tập thiền quán.Ngài Tsong-Kha-pa dạy rằng: tâm thức của chúng ta từ vô thỉ đã chịu ảnh hưởng của phiền não.Công dụng của thiền địnhkiểm soát tâm thức của bạn để có thể nhắm đến bất cứ thiện cảnh nào mà mình chọn lựa. Mãi đến giờ này,ta cứ bị tùy thuận theo sự áp chế của tâm thức,mà tâm thức thì cứ mãi bị phiền não thống trị.Vì thế,ta bị lôi cuốn đắm chìm theo các ác nghiệp.Kết quả là ta phải kham chịu những khổ đau ngoài ý muốn. Để chấm dứt cái vòng nhân duyên xấu ác của khổ đau luân hồi sanh tử,ta cần phải chuyển hoáchế phục tâm thức.Tâm thức như con ngựa cần phải được hướng dẫn theo các sinh hoạt đạo đức hơn là theo các sinh hoạt bất thiện.Ta không nên để tâm thức chỉ giản đơn ngao du vào các thiện nghiệp một cách tình cớ. Để cho sự thiền định của bạn có hiệu quả,bạn phải thiền quán một cách có hệ thống,với một trình độkiểm soát và có kềm chế.Nếu không, dù cho ngẫu nhiên bạn có thể bắt đầu kinh nghiêm được một vài ảo cảnh linh hoạt nào đó;nhưng điều này cũng chẳng giúp ích gì nhiều khi mà tâm thức bạn còn chưa được điều phục một cách tinh xác.Bạn sẽ phát triển một tập thói xấu để cho tâm thức rong ruổi vận hành bất cứ nơi nào nó muốn.Ngược lại, khi thực hiện được sự tiến bộ một cách xác thực thì bạn có thể có được sự dễ dàng và vô chướng ngại khi muốn đem tâm linh mình đặt để vào một tiêu đích nào đó.

Quả thật rất quan trọng để phải tiến hành theo một tiến trình thích ứng cho đến khi đạt tới giai đoạn này; cũng giống như bạn phải đặt nền móng cho căn nhà một cách chính xác trước khi xây dựng các vách ngăn kiên cố.Bạn phải hoạch định một chương trình ngay từ lúc khởi đầu và phải quyết định trước khi bạn bắt đầu tịnh tọa.Ngay trong giữa giai đoạn chánh yếu của sự tọa thiền;bạn phải có khả năng vận dụng cả chánh niệm lần chánh tri để có thể quan sát thử xem nội tâm có bị suy nghĩ vẩn vơ đến các đề mục khác không.Sách dạy rằng: tốt hơn là hãy tọa thiền với những thời khóa ngăn ngắn khi khởi đầu thực tập; bởi vì sẽ có nguy cơ bị hôn trầm[6] hoặc trạo cử[7] nếu thời khóa của bạn quá dài.Nếu thời khóa của bạn kéo dài hai hoặc ba giờ đồng hồ thì dù bạn có cố công gắng sức nhưng nếu tâm thức không được chuyên chú,lại còn bị hôn trầmtrạo cử thì sự thiền định của bạn cũng chẳng mang đến hiệu quả theo như thời gian dự định.Sách cũng dạy rằng: điều quan trọng là hãy bắt đầu với những thời khóa tịnh tọa ngắn để bạn tìm được sự hỷ lạc.Nếu không, với thời gian tịnh tọa dài,kết quả chẳng những không mang lại lạc thú mà còn sẽ có nguy cơ bị nản chí.Và bạn sẽ cảm thấy nhàm chán,hoặc gượng ép mỗi khi nhìn thấy vị trí tịnh tọa của mình sau đó.Nhưng,nếu tiến hành từng thời khóa ngắn; bạn sẽ thật sự yêu thích khi bắt đầu thực tập thiền quán trở lại,lý do là vì ảnh tượngtâm thức hỷ lạc mà bạn tiếp xúc với khóa thiền trước đó vẫn chưa hề mờ nhạt.

Khi tu hành,giấc ngủ sẽ đóng vai trò như thế nào? Điều quan trọng là không nên ngủ ngày hoặc ngủ vào đầu hôm hoặc gần sáng.Người Tây Phươngthói quen rất lạ,họ ngủ khuya dậy trễ.Nếu vì lý dođặc biệt thì miễn bàn,nếu không thì ngủ sớm dậy sớm thì tốt hơn. Điều cần nói ở đây: giấc ngủ là một thứ nhân tố tâm lý có thể sửa đổi được.Nếu mang thiện niệm vào giấc ngủ thì sách vở bảo rằng;toàn thể cảnh mộng sẽ được đổi thành những niệm tưởng lương thiện.Nên đi ngủ vào một giờ giấc nhất địnhtrước tiên hãy bồi dưỡng một vài thiện niệm như Đại Bi Tâm chẳng hạn thì sẽ có một giấc ngủ ngon,hừng tâm, với những mộng cảnh hoàn toàn tốt đẹp an lạc.Ngủ nhiều đủ sẽ thật sự giúp duy trì thể năng và cơ thể nhằm góp sức nâng đỡ cho việc tu hành của bạn.Nếu dựa theo thói quen của người Ấn Độ,thì hãy rửa chân trước khi lên giường.Vì thời tiết giá băng, tôi hoài nghi sẽ không có bao nhiêu vị sư Tây Tạng chịu làm theo như vậy.Sách vở nói rằng: khi ngủ, nên nằm nghiêng bên phía tay mặt như thế nằm của một con sư tử.Tư thế này được truyền tụng là có nhiều ưu điểm,chẳng hạn như toàn thân bạn sẽ không buông thả quá đáng.Thế là bạn sẽ chẳng bị mất năng lực chánh niệm,không bị ngủ mê,và không bị ác mộng dù với giấc ngủ say sưa.

Khi lên giường,bạn hãy cố gắng tưởng tượng trông thấy hào quang để tránh khỏi bị chế ngự bởi bức màn u tối của vô minh.Bạn cũng đồng thời nên giữ chánh niệm và chánh tri cùng ý nguyện thức dậy sớm. Để giữ được chánh niệm; khi đi ngủ bạn cần hồi tưởng hoặc mặc tưởng trong lòng những sinh hoạt và sự tu tập trong ngày.Nếu tiến hành một cách thuận lợi như vậy thì bạn sẽ không bị mất quân bình tự chủđang khi ngủ.Giấc ngủ của bạn không chỉ trở nên thuần lương không thôi,mà nó còn đồng thời có thể đượm đầy mỹ ý.Khi thức dậy vời đầu óc tỉnh giác nhưng vì tâm thần chưa hoàn toàn hồi phục nên đôi khi tâm thức bạn sẽ rất rõ ràng sáng suốt.Nếu bạn có thể dùng trí óc minh mẫn ấy để nghiên tầm phân tích thì nó thật sự có một năng lực phi thường.Do vậy,bạn nên cố giữ khuynh hướng thức dậy vào một giờ giấc nào nhất định, và giống như động vật,ngủ với một giấc ngủ nhẹ nhàng an lạc thảnh thơi.

Với ý chí đó, bạn sẽ có khả năng thức dậy như bạn trù định.Ngài Tsong-Kha-pa dạy rằng: nếu khéo dụng việc ăn ngủ thì bạn có thể biến những sinh hoạt ăn uống ngủ nghỉ theo chiều hướng thuần thiện và rất nhiều ác nghiệp sẽ được ngăn ngừa.

Ngài Stong-Kha-pa cũng bảo: điều quan trọng là tri nhận được rằng có hai loại Thiền định:An Trú Tu[8] và Nghiên Chiết Tu[9]. Và trong hai loại tu hành kể trên thì sự quyền biến khéo léo thực hành năng lực phân tích của tâm thức rất là trọng yếu.Ví dụ như: để có thể sử dụng được bạc vàng; người thợ bạc phải trước tiên nung nóng,lau chùi và rửa sạch chúng,sau đó phải làm đủ mọi cách để có thể dùng chúng tạo thành những món trang sức với bất cứ hình dạng nào.Tương tự như thế, vì để khắc phục những phiền não chánh và thứ yếu; điều quan trọng trước hết là hãy tư duy đến mọi sai lầm cùng bản chất tổn hại của phiền não; sau đó là cách thức mà phiền não đã dẫn đưa đến các hành vi bất thiện và cách thức mà do vì hậu quả của các hành vi bất thiện này nên con người đã phải lăn lộn mãi trong vòng luân hồi sanh tử.Phàm những loại này, đều phải vận dụng đến năng lực phân tích của tuệ giác để liễu tri, và chỉ có như vậy mới hy vọng thành tựu được những thệ nguyện tu hành trên con đường giải thoát giác ngộ.Tất cả quá trình phân tích kể trên đều tương tự như động tác chủ yếu nhằm chuẩn bị cho tâm thức đạt được ích lợi từ sự xung kích chánh yếu của pháp quán tu.Chỉ sau khi đã bồi đắp được một nền tảng chân xác và phong phú hóa nội tâm bằng vào các quá trình phân tích như vậy rồi, thì bạn mới có thể tiến hành bất cứ pháp quán tu nào dù đó là pháp chỉ[10] hay pháp quán[11].

Khi tu thiền ta phải vạch ra một mục tiêu ta hãy nỗ lực tinh tấn.Sự tinh tấn ấy sẽ được tăng trưởng do bởi nhìn thấy được tiêu đích, mà tiêu đích của pháp quán tu của chúng ta cần phải được liễu giải một cách tận tường rốt ráo.Càng am tường mục đích bao nhiêu thì bạn càng gắn bó với pháp tu của bạn bấy nhiêu.Ngài Tsong-Kha-pa dạy rằng: tất cả kinh văn có ứng hiện như lời khuyến dạy cá nhân hay không,còn tùy thuộc rất nhiều vào khả năng có nhìn thấy được tầm mức cần thiết và quan trọng của cả hai phương pháp tu: Nghiên Chiết Tu và An Trú Tu.Ngài bảo: Quả thật đáng buồn không phải chỉ đối với các hạng người không nghiên tầm, học hỏi một cách chân xác,mà ngay cả đối với những người đã từng học cao hiểu rộng; đến khi thật sự dấn bước tu hành thì họ đã bỏ mặc mọi sở học để rồi chỉ tự hài lòng xứng ý với chủ thuyết “vô khái niệm”. Đáng thương thay!

Nếu bạn không tìm cách khai phát năng lực phân tích tâm thức, mà chỉ tiếp tục trầm mình để được nhuần thắm trong pháp an chỉ quán tu; và để chỉ giản đơn bảo trì đoạn kiến thì bạn sẽ trở nên càng ngày càng bớt mẫn tiệp, tinh anhtrí huệ phân biệt đúng sai cũng theo đó mà giảm dần.Đây là điều vô cùng nguy hiểm.

Trí Huệ

Trí huệ phân tích bản chất của mọi hiện tượng.Có nhiều loại Trí Huệ khác nhau,chẳng hạn như ngũ minh: Nội minh và bốn loại Ngoại minh bao gồm Nhân minh,Y phương minh, Thanh minh, Công xảo minh. Ở đây,tôi chỉ bàn đến Nội minh.Loại Trí Huệ này là nền tảng của mọi ưu tính thiện bảo.Thiếu vắng sự hướng dẫn của Trí Huệ thì tất cả các Ba La Mật kia như Bố thíTrì giới đều như một tập thể thiếu người lãnh đạo.Tu hành các Ba La Mật khác mà thiếu mất năng lực của Trí Huệ thì sẽ không thể đưa dẫn nổi đến mục tiêu truy cầu hướng về sự thành tựu giác ngộ.So sánh với các loại Ba La Mật khác như tín tâm,như chánh niệm,như tinh tấn v.v…thì Trí Huệ được truyền rằng nó quan trọng hơn cả bởi vì chỉ có xuyên qua thành trì của Trí Huệ, khi phối hợp với các loại Ba La Mật khác thì con người mới thật sự có khả năng đối trị phiền não.Các loại Ba La Mật khác, chẳng hạn như Bố thíTrì giới, đều tùy thuộc rất nhiều vào sự liễu giải của Trí Huệ.

Năng lực của Trí Huệ tựa như năng lực của một quốc vương đầy uy quyền.Quân vương sẽ chẳng phạm phải bất cứ sự sai lầm nào nếu ông được phò trợ bởi các cận thần quyền xảo và minh triết.Cùng thế ấy,và dường như mâu thuẫn: ví dụ như: khi ta có được lòng yêu thươngtừ bi mạnh mẽ nhưng lại không bị nhiễm tạp bởi những chấp trướcluyến ái thì đó là do nhờ vào sự trợ lực của Trí Huệ.Sẵn có Trí Huệ rồi thì dẫu rằng, bạn đối với tha nhân có khởi phát lòng từ ái mãnh liệt đi chăng nữa thì cũng tuyệt nhiên không có luyến áichấp thủ gì cả.Bạn sẽ không thể rơi vào lập trường triết học vĩnh hằng (thường kiến) cực đoan hoặc chủ nghĩa hư vô nếu được trang bị bằng sức mạnh của Trí Huệ.

Chướng ngại vật của Trí Huệvô minh.Và nguyên nhân đưa dẫn cũng như làm cho vô minh tăng trưởng là sự thường xuyên dính mắc vào các sinh hoạtmục đích như ngủ quá nhiều hay giải đãi lười biếng.Vô minh cũng đồng thời xuất phát từ chỗ không cảm thấy vui thú hoặc hỷ lạc với năng lực của Trí Huệ.Phương cách đối trị vô minhxuyên qua nghiên tầm học hỏi để gia tăng kiến thức. Đối với những người quyết tâm tu hành theo giáo pháp Phật,thì quả rất quan trọng để tri hiểu rằng Trí Huệ để minh biện được thể tính của các pháp,là nguyên nhân chủ yếu cho sự tựu thành giác ngộ.Nếu người nào chỉ quan tâm đến việc giảng kinh thuyết pháp,chứ không quan tâm đến sự hành trì thì họ không cần phải cầu đạt một kiến thức quảng bác; nhưng thay vì chỉ giảng kinh thuyết pháp không thôi thì những người như vậy, nếu chỉ giữ sự thầm lặng tu hành xét ra còn lợi lạc hơn.Cả hai, sự học tập và sự thầm lặng mặc tưởngtư duy đều rất quan trọng đối với một hành giả nghiêm túc.Sự tiến bộ trên đường tu hành của bạn cần phải xứng hợp với sự tăng trưởng của kiến thức Phật học.Có được thân người hiếm quý lại được phú cấp cho một não bộ kỳ tạp,ta phải tận dụng mọi phẩm chất đặc thù của nó và phải áp dụng cái năng lực duy nhất đã được ban phát cho, đó là năng lực minh biện đúng sai.Thực hiện được điều này do nhờ vào sự tăng trưởng của tầm hiểu biết và lý giải của ta.Kiến thức của bạn càng tăng trưởng bao nhiêu thì sự hiểu biết và lý giải của bạn càng gia tăng bấy nhiêu.Trong nỗ lực tiến đến sự thành tựu Trí Huệ, điều quan trọng là bạn phải tuyệt đối không nên tách ly sự tu huệ của mình ra khỏi các Ba La mật kia.Một hành giả nỗ lực để đạt được sự thành tựu giác ngộ,chính thật ra cần phải liễu ngộ tất cả Lục Độ Ba La Mật .Ta có thể tìm được nguồn cảm hứng ấy từ tấm gương sáng chói của Đức Phật.Trên quá trình tu hành,trước tiên Ngài phải trải qua nhiều khổ hạnh cam go và nhẫn chịu nhiều khổ nạn to lớn.Sau cùng,dưới cội cây Bồ Đề,Ngài đã giác ngộ,và đã mang tất cả những gì Ngài đã tự tu chứng ra để giảng giải cho muôn loài.Dẫu rằng thiên khó vạn khó cho chúng ta để nhập cuộc thực hành Lục Độ Ba La Mật ngay từ sơ khởi; quan trọng hơn cả là trước tiên hãy phát huy lòng hân ngưỡng để rồi hãy dần dần gia tăng sự hiểu biết về Lục Độ Ba La Mật. Điều này,sẽ chung cuộc dẫn đưa ta đến một sự thật nghiệm tu trì, sẽ giúp ta tìm được giải thoát ngay chính từ trong muôn trùng khó khăn của xích chuyền luân hồi và sẽ giúp ta tìm được an vui trong quả vị cứu cánh giác ngộ.

Xin nguyện hồi hướng công đức này để cầu siêu cho hương linh thân phụ Nguyễn Văn Đại, nhạc phụ Nguyễn Văn Tống,thân mẫu Nguyễn Thị Mới pháp danh Quảng Nguyện và cầu an cho nhạc mẫu, Nguyễn Thị Xổi pháp danh Huệ Liên.

Và cũng xin hết lòng tri ân phu quân Nguyễn Thành Tài, hai trưởng và thứ nam Nguyễn Bảo Châu, pháp danh Nhật Quang; Nguyễn Bảo Quốc, pháp danh Nhật Bảo đã khuyến khích và hỗ trợ để tạo nhiều thiện duyên cho tâm nguyện dịch thuật kinh sách Phật giáo của dịch giả được tựu thành viên mãn.

Nguyễn Thúy Phượng
Nguyệt Tuệ Huy

P.L.2543-D.L.1999

 



 
[1] Lục Ba La Mật/ Lục độ: The six perfections.

[2] Thanh Tịnh Thù Thắng:sublime purity

[3] Vô chấp:non attaxgment

[4] Vô hận: Non hatred

[5] Chánh tri kiến:right view

[6] Hôn trầm:trạng thái buồn ngủ,hôn mê không sáng suốt tỉnh thức.

[7] Trạo cử:trạng thái tâm thức lăng xăng loạn động,không an định.

[8] An Trú Tu: stabilizing pratice: phương pháp thực tập để giữ cho tâm được an trú trong chánh định (dịch giả chú thích)

[9] Nghiên Chiết Tu: analytical pratice: phương pháp thực hành năng lực phân tích để thấy được thật tướng các pháp (dịch giả chú thích)

[10] Pháp chỉ: quiescience: đình chỉ,chấm dứt mọi điên đảo vọng tưởng (dịch giả chú thích)

[11] Pháp quán: insight: quán chiếu vào một đối tượng nào đó.Ví dụ như: quán không,quán hơi thở,quán vô ngã v.v…(dịch giả chú thích)

Source: thuvienhoasen


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 941)
Cuốn sách “Luân Hồi trong Lăng Kính Lăng Nghiêm” được ra mắt cách đây 9 năm (2008), in lần thứ hai, ba và tư vào năm 2012, 2014 & 2016 tại Nhà xuất bản Phương Đông, và năm nay (2018) cũng tại NXB Hồng Đức
(Xem: 242)
Có điều chắc chắn là làm người, ai cũng có ý thức về tội lỗi. Điều này là không đúng, điều này là không tốt, điều này là không đẹp.
(Xem: 209)
Tựa đề của khảo luận này phát xuất từ tồn nghi của một pháp hữu trong khi dịch lại bản kinh Tập (Sutta Nipāta) ở văn hệ Nikāya.
(Xem: 535)
Khái niệm ‘nghiệp’, thật ra, đã có mặt trong văn học Bà-la-môn giáo từ rất lâu trước khi Đức Phật xuất hiện ở đời.
(Xem: 278)
Vũ trụ, con người hình thành như thế nào và tương lai sẽ ra sao? Câu hỏi chưa bao giờ được xếp lại. Khoa học lượng tử luôn tiên phong...
(Xem: 250)
rong lịch sử tư tưởng Ấn-độ, thuyết Trung đạo đã mang lại cho tư tưởng giới đương thời một không khí hoạt bát[1].
(Xem: 416)
Bản chất của ánh sáng trong suốt, mang tính cách nền tảng và rạng ngời, là cội nguồn tối hậu của tất cả mọi cấp bậc tri thức...
(Xem: 375)
Chánh Pháp là gì? Phật Pháp được chia thành ba thời kỳ là thời Chánh Pháp, thời Tượng Pháp, và thời Mạt Pháp.
(Xem: 880)
Ông trị vì từ năm 269 TCN đến năm 232 TCN thuộc đời thứ 3 của triều đại Maurya. Đế chế của ông rộng lớn gần như tất cả tiểu lục địa Ấn Độ trãi dài từ Đông sang Tây.
(Xem: 554)
Trong Kinh Kim Cang, Phật dạy có 4 tướng: “Ngã – Nhân – Chúng Sanh – Thọ Giả”. Khi còn phàm phu, chấp thân này là thật là bền vững,
(Xem: 598)
Đạo Phật đang phát triển rộng rãi đến nhiều tầng lớp. Rất nhiều các bậc tri thức, các nhà khoa học chân chính, đến cả những người ...
(Xem: 1055)
Kiếp sống của mỗi con người sinh ra ở thế giới Ta Bà này, dù thọ mạngdài hay ngắn, nhìn chung có thể phân chia làm nhiều giai đoạn.
(Xem: 579)
Kể từ thời điểm Phật giáo khai sinh và nở hoa khắp mọi miềnthế giới, hễ mỗi khi nói đến hình ảnh một vị Phật xuất hiện trong tương lai,
(Xem: 468)
Phép luyện tập thiền định được hỗ trợ bởi sự thực thi các hành động vị tha, các hành động đó đồng thời cũng được thúc đẩy bởi tình thương yêu và lòng từ bi.
(Xem: 405)
Nếu đủ sức duy trì một cách đúng đắn sự nhận biết tâm thức thần bí nhất thì kết quả mang lại từ phép luyện tập đó sẽ trợ lực các bạn rất nhiều
(Xem: 555)
Thời-không vũ trụ chứa hàng triệu, tỉ, hàng ức cho đến không máy móc nào đếm hằng hà sa số hành tinh như trái đất mới biết con ngườimột sinh thể gần như bằng không.
(Xem: 632)
Trong các bài kinh thuộc hệ A Hàm hay kinh Đại Bát Niết Bàn v.v… Phật có nói đến địa ngục. Đề Bà Đạt Đa, Tì kheo Thiện Tinh, vua Lưu Ly v.v… đều đọa vào địa ngục ngay khi chết.
(Xem: 489)
Xét về niên đại, bản kinh có mặt ở thời Hậu Hán (23-220), xuất hiện trong Cao Tăng Truyện quahành trạng của ngài Nhiếp-ma-đằng (攝摩騰)[2].
(Xem: 467)
Thể dạng lắng sâu thường xuyên bên trong tâm thức thần bí nhất chỉ có thể thực hiện được với những người có một khả năng thật bén nhạy.
(Xem: 1210)
Bài viết này sẽ khảo sát một số thắc mắc thường gặp về Thiền Tông, hy vọng sẽ tiện dụng cho một số độc giả còn nhiều nghi vấn.
(Xem: 811)
Thức Thứ Tám hay A Lại Ya là thức chủ trong 8 thức. Thức nầy có nhiều cách gọi khác nhau để chỉ về nhiệm vụ của mình. Tựu chung thức nầy có 3 việc chính là: Năng tàng, Sở tàng và Ngã ái chấp tàng.
(Xem: 835)
Khi còn vướng mắc trong sự tạo tác triền miên của khái niệm, chẳng hạn như suy nghĩ về cái đúng, cái sai, v.v. , thì các bạn sẽ không thể nào bước vào con đường tu tập về
(Xem: 737)
Học phái dịch thuật xưa của Phật giáo Tây Tạng đưa ra nhiều cách luyện tập dựa vào các phương pháp khác biệt nhau, gọi là các "cỗ xe"/thừa.
(Xem: 1286)
Thần tài trong Phật giáo, cụ thểPhật giáo Bắc truyền đã vay mượn giữa hình ảnh Bố Đại hòa thượng và các truyền thuyết về thần tài Trung Hoa, để tổng hòa nên một vị thần tài có nguồn gốc ngoài Phật giáo.
(Xem: 1213)
Thời Đức Phật tại thế, Ấn Độít nhất mười sáu tiểu vương quốc, mỗi vương quốc đều có ngôn ngữ hay phương ngữ riêng, nhưng có lẽ người dân của mỗi nước đều có thể giao tiếp và hiểu nhau được.
(Xem: 766)
Trong các kinh sách thừa hưởng từ [Phật giáo] Ấn Độ thì nguyên tắc căn bản đó lúc thì được gọi là "tâm thức tự tại
(Xem: 1335)
Kinh Hoa Nghiêm tiếng Sanskrit là Avatamsaka, tiếng Nhật là Kégon Kyo. Kinh nầy bằng tiếng Sanskrit do Bồ Tát Long Tho (Nagarjuna) soạn vào khoảng thế kỷ thứ 2 Tây Lịch.
(Xem: 764)
Con người muốn có cuộc sống an lạchạnh phúc, cần phải tu nhơn tạo phước, chứ không phải chỉ cầu nguyện...
(Xem: 782)
Phát huy sự chú tâm đúng đắn hướng vào một điểm nhằm mục đích gì? Việc luyện tập đó không nhất thiết là chỉ để giúp tâm thức đạt được một mức độ tập trung thật cao...
(Xem: 1152)
Đức Đạt Lai Lạt Ma Nói Về Phật Giáo Ứng Dụng - Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 1146)
A Dục, Asoka (Sanskrit). Khi đức Phật Thích ra đời, Vua A Dục là một đứa trẻ, trong lúc đang chơi đức Phật đi ngang qua, đứa trẻ đem cát mà coi như cơm cúng dường đức Phật...
(Xem: 1292)
Hàng ngày các Phật tử có thể “Xưng danh hiệu” hay “Niệm danh hiệu” của chư Phật, tức là đọc tên của chư Phật và tưởng nhớ đến các ngài.
(Xem: 942)
Trong Phật giáo, giải thoát hay thoát khỏi luân hồi là một đề tài vô cùng lớn lao. Ngay cả những người Phật tử đã học qua giáo lý, cũng mường tượng sự giải thoát như ...
(Xem: 830)
Như Lai có thể diễn tả những gì Ngài muốn bằng bất kỳ ngôn ngữ nào
(Xem: 1115)
Thuật Ngữ nầy có liên hệ đến rất nhiều Thuật Ngữ khác trong Kinh Điển Phật Giáo như: Thủy Giác, Chân Như, Như Lai Tạng, Pháp Tánh, Pháp Giới, Niết Bàn, Pháp Thân, Phật Tánh, Giải Thoát Thực Chất, Toàn Giác v.v…
(Xem: 729)
Chánh pháp của Đức Phật hay Đạo Phật được tồn tại lâu dài, đem lại hạnh phúc an lạc cho chúng sanh, chư thiênloài người.
(Xem: 708)
“Đạo Phật nhấn mạnhtu tập giúp chúng ta loại bỏ những tà kiến, chứ không phải là nơi tập hợp các hí luận”.
(Xem: 713)
Kinh Niệm Xứ (satipaṭṭhānasutta) là kinh thu gọn của Kinh Đại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhānasutta). Kinh này là một kinh rất quan trọng trong việc giải thích cách thực hành bốn phép quán
(Xem: 1409)
Bài viết này sẽ phân tích Bát Nhã Tâm Kinh dưới cái nhìn bất nhị, hy vọng sẽ làm sáng tỏ bài kinh cốt tủy này như một lối đi của Thiền Tông
(Xem: 1104)
Đọc “Chú Lăng Nghiêm-Kệ và giảng giải“ Của Hòa Thượng Tuyên Hóa, do TT Thích Minh Định dịch từ Hoa ngữ sang Việt ngữ
(Xem: 1164)
Đa số Phật Tử cầu được cứu độ, giải thoát khỏi khổ đau, và giác ngộ nhưng vẫn mâu thuẫn, chấp luân hồi, luyến tiếc cõi trần nên nghiệp thức luôn luôn muốn trở lại cái cõi đời, chấp khổ đau rồi tính sau.
(Xem: 916)
Đạo Phật khai sinh ở Ấn Độ mà cũng hoàn toàn biến mất ở Ấn Độ; nhưng nhiệt tâm hoằng pháptruyền bá của thế hệ các tăng sĩ tiền bối...
(Xem: 1096)
Bài viết này để nói thêm một số ý trong Bát Nhã Tâm Kinh, cũng có thể xem như nối tiếp bài “Suy Nghĩ Từ Bát Nhã Tâm Kinh”
(Xem: 1020)
Nhân duyên là thực lý chi phối thế gian này. Không có một pháp nào hiện khởi hay mất đi mà không theo qui luật “Có nhân đủ duyên mới có quả”.
(Xem: 1124)
Việc dịch lại Tâm Kinh của Thiền sư Nhất Hạnh tuy theo ý thầy là dành riêng cho các đệ tử của thầy trong Làng Mai khi thầy nói với “các con” của thầy...
(Xem: 941)
Sau khi Đức Phật tịch diệt được khoảng 150 năm thì giáo pháp của Ngài tách ra hai đường hướng:
(Xem: 1129)
Giúp đỡ người nghèo khó là một phẩm tính cố hữu của con ngườixã hội loài người. Phẩm tính này vốn tồn tại từ thời xa xưa và vẫn được duy trì trong xã hội hiện đại.
(Xem: 1495)
Làm Thế Nào Có Được Trí Tuệ Lớn Để Đạt Đến Bờ Giải Thoát - Đó phải là quán chiếu, thực hành, tu tập theo giáo lý bát nhã
(Xem: 792)
Nhiều người trong chúng ta đã theo dõi sự phát triển về di truyền học mới đã tỉnh thức về sự băn khoăn lo lắng sâu xa của công luận đang tập họp chung quanh đề tài này.
(Xem: 881)
Trong các nước thuộc truyền thống Phật giáo Bắc truyền, có một vị Bồ-tát thường được gọi là Quan Âm hay Quán Âm.
(Xem: 880)
Theo kinh, luật quy định, chư Tăng thời Đức Phật không được nhận kim ngân bảo vật. Nói rõ hơn là không được nhận tiền bạc hoặc quý kim tương đương.
(Xem: 1160)
Bấy giờ bỗng nhiên đức Thế Tôn yên lặng. Một lát sau, Ngài lại nói: “Thôi đủ rồi, Xá-lợi-phất, không cần nói nữa. Vì sao ?
(Xem: 814)
Trong Phật giáo cũng có giới luật do Đức Phật chế định. Nhưng những luật này không bắt buộc mọi người phải tuân theo mà nó ...
(Xem: 842)
Trong kinh Tăng nhất A-hàm Đức Phật nhận định: “Ta không thấy một pháp nào tối thắng, tối diệu, nó huyền hoặc người đời khiến không đi đến nơi vĩnh viễn tịch tĩnh
(Xem: 735)
Nguyên lý làm tư tưởng nền tảng cho lập trường Pháp hoa chính là cở sở lý tính duyên khởigiáo nghĩa Phật tính thường trú, được biểu hiện qua...
(Xem: 881)
Trong sự trổi dậy của khoa học về thức và sự khảo sát về tâm cùng những thể thức đa dạng của nó, Phật giáo và khoa học nhận thức có những sự tiếp cận khác nhau.
(Xem: 1107)
Đối với mọi người nói chung thì lúc chết là khoảng thời gian quan trọng nhất.
(Xem: 755)
Nếu nói về việc học, việc tu của chư Tăng Ni Phật Giáo thì tự ngàn xưa Đức Phật đã là một bậc Thầy vĩ đại đảm trách làm một Hướng đạo sư cho mọi người quy về.
(Xem: 980)
Bài viết này ghi lại một số suy nghĩ về Bát Nhã Tâm Kinh, một bản kinh phổ biến trong Phật giáo nhiều nước Châu Á, trong đó có Việt Nam.
Quảng Cáo Bảo Trợ