Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
2,319,686,071,854,584,916

Bức Thông Điệp Muôn Đời

Monday, February 23, 201509:57(View: 7212)
Bức Thông Điệp Muôn Đời
BỨC THÔNG ĐIỆP MUÔN ĐỜI

Nguyên tác: HT. Piyadassi
Thích Nữ Giới Hương dịch

 


Bức Thông Điệp Muôn ĐờiĐức Phật là một bậc đạo sư thực tiễn. Mục tiêu duy nhất của Ngài là giải thích tất cả chi tiết trong vấn đề của khổ là thực tế phổ biến của cuộc đời, để làm cho con người cảm thấy sức mạnh lớn lao của khổ và làm cho họ nhận thức rõ về khổ. Ngài đã nói dứt khoát với chúng ta những gì cần, ngài đã giải thích và những gì không cần, ngài đã không giải thích.

***

Một số người thích gọi giáo lý của Đức Phật là một tôn giáo hoặc triết học; hoặc cả tôn giáotriết học. Tuy nhiên, nói đúng hơn Phật giáo là một phương thức sống. Nhưng điều này không có nghĩa là Phật giáo không có nghĩa gì khác hơn là khuôn mẫu đạo đức. Trái lại Phật giáo chính là một đường hướng giáo dục trí thức, tinh thầnđạo đức để dẫn đến sự giải thoát tâm một cách hoàn toàn. Chính Đức Phật gọi lời dạy của Ngài là "Pháp luật" nghĩa là giáo phápgiới luật. Trong ý nghĩa chính xác nhất, Phật giáo không thể gọi là một tôn giáo, vì nếu là tôn giáo thì có nghĩa là "Phạm vi hoạt động dựa vào niềm tin, lòng tôn kính và ứơc muốn làm vui lòng đấng quyền năng; việc thực hành các nghi lễ hoặc sự tuân thủ bao hàm điều này …, sự nhận thức về phần con người trong những năng lực siêu nhiên có thể thấy như là có quyền năng kiểm soát số phận con người, và có quyền được mọi người tuân phục, kính trọng và thờ phượng" Phật giáo dĩ nhiên không phải là một tôn giáo như vậy.

Trong tư tưởng Phật giáo, không có sự tồn tại của một đấng tạo hóa ở bất cứ hình thức nào có quyền năng thưởng phạt hành động tốt, xấu của chúng sanh do đấng thần linh tạo ra. Người Phật tử quy y với Đức Phật (Buddham saranam gacchami) thì không nghĩ rằng sẽ được Ngài cứu độ. Đức Phật chỉ là một bậc đạo sư chỉ đường và hướng dẫn cho chúng ta đi đến giải thoát. Chẳng hạn như bảng hiệu giao thông ở các ngã ba đã chỉ đường, người du lịch phải nương theo nó để đi đến đích. Dĩ nhiên những bảng hiệu này sẽ không chở vị ấy đến nơi mong muốn. Cũng như vị bác sĩ chẩn đoán, kê toa và bịnh nhân phải theo sự chỉ dẫn của toa thuốc mới hết bịnh. Thái độ của Đức Phật đối với các đệ tử của Ngài thì cũng giống như thái độ của bậc lương y hoặc bậc thầy từ bisáng suốt vậy.

Tôn kính những bậc giác ngộ, những bậc có tâm hồn cao thượng có thể hiểu sâu sắc về thực tại, đã xóa sạch vô minh và nhổ tận phiền não là sự tôn kính cao nhất. Người thấy được chân lý là người hộ trì chân lý nhưng Phật tử đã không để tâm đến việc này. Họ chỉ bày tỏ lòng tôn kính đối với những bậc đã giác ngộ chân lý vì đã chỉ con đường đưa đến hạnh phúcgiải thoát chân chánh. Hạnh phúc là cái mà chính mình phải tự đạt được, không ai có thể khiến cho mình tốt hơn hoặc xấu hơn.

"Thanh tịnh hay nhiểm ô là tùy mình
Không ai có thể làm thanh tịnh hoặc nhiểm ô người khác"

TÌM CẦU CHÂN LÝ

Khi nằm giữa hai cây Ta-la song thọ ở Kushinagar, trước khi nhập Niết-bàn, Đức Phật thấy hoa rơi xuống cúng dường ngài, Ngài mới bảo tôn giả A-nan rằng:

"Này A-nan, những ai chánh hạnh, sống đúng chánh pháp, đó là những người thật xứng đáng tôn trọng cung kính Đức Như Lai với lòng tôn kính bậc nhất. Vì vậy này A-nan, hãy tu tập, hãy sống theo chánh hạnhchánh pháp."

Lời sách tấn này của Đức Phật về việc sống đúng chánh pháp, tỏ cho thấy rằ讧 điều quan trọng bậc nhất là tu tập các đức hạnh của thân khẩu ý, chớ không chỉ dâng hoa cúng dường đến các bậc giác ngộ. Sự nhấn mạnh ở đây là sống đời sống chánh hạnh.

Đối với vấn đề liệu Phật giáo có phải là triết học hay không thì cần dựa vào định nghĩa của thuật từ này và liệu nó có thể đưa ra một định nghĩa bao quát tất cả các hệ thống tư tưởng triết học đang hiện hữu hay không, điều này đang còn đầy nghi vấn.

Theo từ nguyên học, triết học có nghĩa là yêu thích (to Love, Gr. philein) và trí tuệ (Wisdom, Gr. Sophia) "Triết học bao hàm cả việc truy tầm trí tuệtrí tuệ đã đạt được." Trong tư tưởng Ấn Độ, triết học được gọi là darsana nghĩa là quán sát chân lý. Nói tóm lại, mục đích của triết họctìm ra chân lý tối hậu.

Phật giáo cũng chủ trương việc truy tầm chân lý, chớ không phải chỉ là ở lý thuyết suông, thuần lý và chỉ đòi hỏi và chứa đựng kiến thức. Đức Phật nhấn mạnh khía cạnh tu tập, áp dụng kiến thức vào đời sốngquán sát kỹ lưỡng đời sống.

Đối với Đức Phật, toàn bộ lời dạy của ngài chỉ là sự hiểu biết về bản chất hiện hữu của các pháp hiện tượng và sự trau giồi chánh hạnh để đưa đến trạng thái tâm hoàn thiện. Đây là triết học của Phật giáo.

Trong Phật giáo, trí tuệ là quan trọng bậc nhất, vì sự thanh tịnh đi ngang qua trí tuệ, ngang qua sự hiểu biết. Nhưng Đức Phật không bao giờ tán thán riêng về trí tuệ. Theo Ngài, trí tuệ (tri kiến) phải đi đôi với sự thanh tịnh tâmgiới hạnh (vijjacaranasam panna). Trí tuệ đạt được bởi sự hiểu biết và sự phát triển các đặc tính tâm và tâm là trí tuệ ưu việt (bhavanamaya panna). Đó chính là kiến thức tích tụ chứ không phải là lý thuyết suông. Vì vậy, rõ ràng rằng, Phật giáo không phải chỉ là tình thương, cũng không phải bao gồm tìm kiếm sau trí tuệ, cũng không phải là chỉ cầu nguyện (mặc dù chúng có ý nghĩaliên quan tới nhân loại), mà là sự khuyến khích áp dụng thực tiển lời dạy để trở nên vô tham, giác ngộgiải thoát.

Mặc dù chúng ta gọi lời dạy của Đức PhậtPhật giáo, vì bao gồm học thuyết "ologies" và chủ nghĩa "isms." Nó thực sự không có vấn đề những nhãn hiệu mà chúng ta dán cho nó. Đặt nó là tôn giáo, triết học, Phật giáo hay bất cứ tên gì mà ta thích, thì những nhãn hiệu này có ý nghĩa nhỏ cho những người đi tìm chân lýgiải thoát.

Khi Upatissa và Kolita (hai vị này sau đó trở thành đại đệ tử của Đức PhậtTrưởng lão Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên) đang lang thang đi tìm con đường giải thoát. Upatissa đã gặp Tỳ-kheo Assaji là một trong năm đệ tử đầu tiên của Đức Phật đang đi khất thực. Upatissa rất ngạc nhiên trước vẻ đoan nghiêm, trầm tĩnh và đầy siêu thoát của vị tôn giả này. Nghĩ rằng chưa phải lúc để hỏi han, Upatissa liền đi theo Assaji về nơi nghỉ của ngài. Sau đó Upatissa chào ngài và hỏi về giáo lý thầy của Assaji. Tôn giả Assaji khiêm tốn nói rằng "Tôi không thể giải nghĩa nhiều về pháp và luật, nhưng tôi có thể nói cho bạn nghe ý nghĩa tóm tắt." Upatissa đã trả lời một cách thích thú "Tốt lắm, này bạn, xin hãy nói ít nhiều, những gì tôi muốn chỉ là cốt lõi, không cần nhiều lời." Rồi tôn giả Assaji đáp lại bằng một bài kệ đơn giản nhưng bao quát toàn bộ giáo lý duyên khởi của Đức Phật:

"Bất cứ cái gì do nhân duyên sanh,

cái đó Như lai giải thích là nhân,

Như lai cũng giải thích sự đoạn diệt của chúng

Đây là lời dạy của bậc thánh tối thượng."

Upatissa ngay khi hiểu được ý nghĩa đã chứng được trạng thái giác ngộ đầu tiên (Tư-đà-hoàn), hiểu rõ rằng "bất cứ cái gì được sanh ra, thì cũng sẽ bị hoại diệt."

BẬC ĐẠO SƯ THỰC TIỂN

Bậc đạo sư hướng dẫn chân chánh, thì sẽ đưa chúng ta đến chân giải thoát. Điều cần thiết ở đây là chỉ đúng và hiểu đúng. Chúng ta ngay cả có thể nhận được sự hướng dẫn từ thiên nhiên, cây cỏ, núi sông, vì có nhiều trường hợp con người đạt giác ngộgiải thoát khỏi phiền não cấu uế, chỉ do thấy lá rơi, nước chảy, lửa rừng, đèn bị gió thổi tắt … điều này như đã chạm đúng chổ ngứa (tham công án) và vị ấy như chợt đốn ngộ bản chất vô thường của vạn pháp và họ liền giải thoát. Vâng ! Cũng giống như hoa sen chỉ đợi ánh nắng mặt trời, ngay khi mặt trời chiếu thì hoa sen liền nở và mang niềm vui đến cho mọi người.

Đức Phật không có quan tâm đến các vấn đề siêu hình, vì vấn đề siêu hình này chỉ làm rối sự thăng bằng tâm lý của con người. Giải pháp của vấn đề siêu hình học chắc chắn sẽ không giải phóng con người khỏi khổ đau và bất hạnh. Đó là lý do tại sao Đức Phật do dự khi trả lời những vấn đề như vậy và nhiều lúc Ngài không giải thích những điều mà thường bị nêu ra một cách sai lầm. Đức Phật là một bậc đạo sư thực tiễn. Mục tiêu duy nhất của Ngài là giải thích tất cả chi tiết trong vấn đề của khổ là thực tế phổ biến của cuộc đời, để làm cho con người cảm thấy sức mạnh lớn lao của khổ và làm cho họ nhận thức rõ về khổ. Ngài đã nói dứt khoát với chúng ta những gì cần, ngài đã giải thích và những gì không cần, ngài đã không giải thích.

Một thời Đức Phật đang sống ở Kosambi (Allahabad) trong rừng Simsapa, Ngài cầm một ít lá trong tay và nói với các Tỳ-kheo rằng:

- "Này các Tỳ-kheo, các ông nghĩ sao cái nào nhiều hơn, lá Simsapa trong tay ta hay số lá ngoài rừng"

- "Bạch Thế tôn, không nhiều là lá trong tay Thế tôn và nhiều là lá ở trong rừng"

- "Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, nhiều là những gì ta đã giác ngộ hoàn toàn nhưng không tuyên bố, không giảng cho các ông. Tại sao, này các Tỳ-kheo, ta đã không tuyên bố chúng, giảng dạy chúng. Này các Tỳ-kheo, những điều đó thực sự không có ích, không cần thiết cho đời sống thanh tịnh, chúng không đưa đến vô tham, đoạn diệt, định tỉnh, toàn giácgiác ngộ Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, đó là lý do tại sao ta không giảng giải pháp này và những gì, này các Tỳ-kheo, ta đã giảng gỉai?

Đây là khổ là điều ta đã giảng giải

Đây là nguyên nhân của khổ là điều ta đã giảng giải

Đây là sự chấm dứt khổ là điều ta đã giảng giải.

Đây là con đường dẫn đến sự đoạn diệt đau khổ là điều ta đã giảng giải."

- "Và tại sao, này các Tỳ-kheo, ta đã gỉang giải những chân lý này? Vì chúng thực sự hữu ích, thiết thực cho đời sống thanh tịnh, chúng đưa đến vô tham, vô sân, đoạn diệt, định tĩnh, toàn giácgiác ngộ Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo đó là lý do tại sao ta đã giảng giải chúng."

Đức Phật đã tuyên bố những lời như vậy, tuy nhiên một vài học giả không đánh giá đúng thái độ này của Đức Phật, họ nghi ngờ sự giác ngộ của Ngài và gán cho Ngài là người theo thuyết bất khả tri (không thể biết). Các nhà học giả luôn tranh luận và tư biện. Và những tranh luận này không phải là những vấn đề của hôm nay và ngày mai, mà chúng đã phổ biến ngay trong thời Đức Phật, chẳng hạn Ngài Sakuludayi (bậc du hành khất sĩ) đã hỏi về quá khứ và tương lai và đã được Đức Phật trả lời minh bạch rằng:

"Hãy để quá khứ thuộc về quá khứ.

Hãy để tương lai thuộc về tương lai."

Ta sẽ dạy ông pháp này:

"Khi cái này có thì cái kia có

Khi cái này sanh thì cái kia sanh

Khi cái này không thì cái kia không

Khi cái này diệt thì cái kia diệt."

Đây là toát yếu giáo lý duyên khởi của Phật giáo (Paticca-samuppada) và điều này hình thành nền tảng của Tứ đế, khái niệm trung tâm của Phật giáo.

BẬC LƯƠNG Y VÔ SONG

Đức Phật được biết như là bậc lương y tuyệt vời (bhisakko), nhà phẩu thuật thượng hạng (sallakatto-anuttaro).

Đức Phật thực sự là bậc lương y vô song. Phương pháp trình bày về Tứ diệu đế của Đức Phật có thể so sánh với phương pháp của một bậc lương y. Giống như vị lương y, đầu tiên Đức Phật chẩn đoán bịnh, kế đến xét đoán nguyên nhân phát sanh ra bịnh, rồi xem xét sự chuyển biến của nó để cuối cùng áp dụng cách điều trị.

Khổ (dukkha) là bịnh. Khát ái (tanha) là nguyên nhân sâu xa của bịnh (samudaya), ngang qua việc loại bỏ khát ái thì bịnh cũng được diệt trừ và đó là hết bịnh (nirodha=Niết-bàn). Bát chánh đạo là phương thuốc chữa bịnh.

Bịnh nhân nên nhận biết sự khổ sở của mình, nên chú ý nó đừng để nó trở nên khó trị. Vị ấy nên nghĩ cách diệt trừ nguyên nhân của nó, với sự suy nghĩ này vị ấy đi tới gặp vị lương y tài giỏi để có thể chẩn đoánđiều trị. Ngang qua hiệu quả của việc chữa trị, bịnh nhân thoát khỏi đau đớn và đó là phương pháp điều trị. Vì vậy, chúng ta không nên làm lơ khổ mà chúng ta cần phải biết rõ nó, vì nó là bịnh trầm kha (abhinneyya) (Khổ đế). Khát áinguyên nhân phải được loại bỏ (pahafabba) (Tập đế). Bát chánh đạo phải được tu tập trau giồi (bahavetabba) vì nó là cách chữa bịnh (Đạo đế). Với sự biết rõ khổ, với sự loại bỏ khát ái ngang qua thực tập Bát chánh đạo này, sự giác ngộ Niết-bàn (saccikatabba) (Diệt đế) là chắc chắn. Đó là phương pháp điều trị hoàn toàn không chấp thủ và giải thoát khỏi khát ái.

Câu trả lời thú vị của Đức Phật cho Sela, một người Bà-la-môn đã nghi ngờ về sự giác ngộ của Đức Phật như sau:

"Ta biết những gì cần biết, những gì cần tu tập ta đã tu tập. Những gì cần từ bỏ ta đã từ bỏ. Từ đây, này Bà la môn, ta là Phật, là bậc thức tỉnh."

Vì những chân lý này liên quan mật thiết với nhau, cho nên thấy một hoặc nhiều về Tứ đế thì bao hàm các chân lý khác. Đối với người chối bỏ khổ đau, thì con đường đưa đến giải thoát khổ đau trở nên vô nghĩa. Tóm lại, phủ nhận một đế tức phủ nhận ba đế kia và toàn bộ lời dạy của Đức Phật.

Một nhà duy vật tín thành sẽ nói: "Tôi không muốn nuốt những điều vô nghĩa này." Lời nói này thật là không sáng suốt, và gây hoang mang. Nhưng đối với những người cố gắng trau giồi lý tưởng cuộc đời hiện thực, thì điều này không có gì hoang đường, không phải là chuyện tưởng tượng để nói với người thiếu sáng suốt.

Đối với những người mà quan niệm thế giới hữu tình từ góc độ đúng đắn, nghĩa là với sự nhận thức khách quan thì mỗi điều sẽ trở nên rất rõ ràng và sẽ biết chỉ có một vấn đề lớn trong cuộc đời đó là khổ. Như Đức Phật đã nói thế gian thiết lập trên sự khổ, được xây dựng trên sự khổ (dukke loko patithito). Nếu bất cứ điều gì trở thành vấn đề thì điều đó là khổ, là không như ý, hoặc nếu chúng ta thích thì đó là mâu thuẫn. Sự mâu thuẫn giữa tham muốn của chúng ta với các sự thật khổ đau của cuộc đời.

Đối với vấn đề này, chúng ta có thể liệt kê các tên khác nhau: những vấn đề về kinh tế, xã hội, chính trị, tâm lý và ngay cả tôn giáo. Tất cả những vấn đề này có phải xuất phát từ một vấn đề duy nhất là khổ (dukkha) có nghĩa là bất như ý hay không? Nếu khôngbất như ý tại sao chúng ta lại cố để giải quyết chúng? Việc giải quyết vấn đềbao gồm việc giảm bớt sự bất như ý này không? Mọi vấn đề đều gây ra sự bất như ý và sự nỗ lực này là để chấm dứt chúng, nhưng chúng thường nảy sinh lẫn nhau. Nguyên nhân thường không phải từ bên ngoài mà chính trong vấn đề đó là sự chủ quan. Chúng ta thường nghĩ rằng chúng ta đã giải quyết những vấn đề đến triệt để, nhưng chúng thường nảy ra trong những hình thức khác đa dạng hơn. Dường như chúng ta liên tục bị đối mặt với những cái mới và chúng ta cố gắng những nỗ lực mới để giải quyết chúng. Vì vậy, khổ và việc giải quyết khổ đã liên tục không ngừng. Như vậy bản chất của khổ là đặc tính phổ biến của chúng hữu tình. Các khổ nảy sinh và tiêu diệt chỉ là sự tái hiện trong những hình thức khác. Chúng vừa là thân vừa là tâm và vài người có khả năng chịu đựng cái này hơn là cái khác và ngược lại, có người chịu đựng cái khác hơn là cái này.

SỰ THẬT CUỘC ĐỜI

Theo Phật giáo đời sống là khổ và khổ thống trị suốt cuộc đời. Đó chính là vấn đề nền tảng của cuộc đời. Thế gian này là khổ và ưu phiền, không ai tránh khỏi sự ràng buộc này của khổ. Đây là chân lý phổ quát mà người không có nhận thức (tức thấy các pháp như thật) có thể phủ nhận. Tuy nhiên, giác ngộ sự thật phổ quát này thì không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn hạnh phúc. Đức Phật, bậc thoát khổ, không bao giờ phủ nhận hạnh phúc của cuộc đời khi Ngài nói về tính phổ quát của khổ. Trong Tăng chi bộ kinh có một bản liệt kê dài về những hạnh phúcchúng sanh có thể thọ hưởng.

Trả lời cho Mahali Licchavi, Đức Phật nói rằng:

Này Mahali, nếu sắc thanh hương vị xúc pháp (như ngươi đã biết những trần này là đối tượng của các căn con người) đều bị chi phối bởi khổ, bủa vây bởi khổ, hoàn toàn mất an lạc hạnh phúc thì chúng sanh sẽ không có sự thích thú trong các trần này. Nhưng này Mahali, bởi vì có dục lạchạnh phúc trong các trần này mà chúng sanh đã thích thú và bám chặt lấy chúng, bởi vì sự tham đắm này mà họ làm ô nhiễm chính họ.

Ngang qua các căn, con người tham đắm các trần, các dục lạc (assada) và thọ hưởng các dục lạc ấy. Đây là một sự thật không thể chối bỏ vì chúng ta là người đang trải qua nó. Tuy nhiên không có các trần vui thú, cũng không có sự cảm thọ đang diễn ra vì chúng chịu sự thay đổi liên tục. Bấy giờ khi một người không thể nắm giữ hoặc bị mất các dục lạc mà vị ấy đang thọ hưởng thì sẽ trở nên sầu bi, ưu não. Vị ấy không thích sự buồn tẻ, trong sự thiếu vắng các điều vui thích và sẽ đi tìm niề譠vui mới, giống như súc vật đi tìm cỏ tươi, nhưng những niềm vui mới này cũng đang lướt qua và biến mất. Vì vậy tất cả những lạc thú, liệu chúng tathích thú nó hay không? Khi mà nó mở đầu và chấm dứt với khổ đau chán chường. Tất cả những lạc thú trần gian đang lướt qua như viên thuốc độc bọc đường, chúng lừa gạt và hại chúng ta.

Một món ăn không khoái khẩu, một thức uống không vừa lòng, một cử chỉ không thân thiêﮠvà hàng trăm những chuyện khác mang khổ đau và bất như ý đến với chúng ta, dù Phật tử hay không phật tử, giàu hay nghèo, sang trọng hay thấp hèn, thông minh hay ngu dốt. Nhà đại văn hào Shakespeare chỉ nói lại những lời của Đức Phật khi ông ta viết trong tác phẩm Hamplet "Khi buồn rầu đến, chúng không đến một mình mà đến cùng với những nỗi khổ khác" (Phước bất trùng lai, họa vô đơn chí).

Bấy giờ nếu con người không nhìn thấy các khía cạnh này của cuộc đời thì sự phù du của lạc thú này sẽ làm vị ấy trở nên thất vọng và thậm chí có thể hành xử một cách ngu gốc, không có suy nghĩxét đoán cũng như mất thăng bằng trong tâm. Đây là sự nguy hiểm, hậu quả xấu ác (adinava). Nhân loại thường đối diện với hai mặt của cuộc đời. Nhưng con người nỗ lực để từ bỏ sự tham đắm sâu nặng đối với các pháp hữu và vô tình, nhìn cuộc sống với sự buông xả, thấy các pháp đúng như nó đang là. Việc tu tập trau giồi giúp cho vị ấy tự tại đối với các thăng trầm của đời, vị ấy có thể mỉm cười khi các pháp bất như ý đến và giữ vững tâm thoát khỏi tất cả niềm yêu ghét … vị ấy không quan tâm điều gì khác ngoại trừ sự giải thoát (nissarana). Ba điều này – lạc (assada), khổ (adinava), và giải thoát (nissarana) – là những thực tế hiện hữu, bức tranh thật của cái mà ta gọi là cuộc đời.

Đức Phật tiếp tục trả lời các câu hỏi của Mahali:

"Này Mahali, nếu sắc thanh hương vị xúc phấp bị chi phối bởi lạc, bủa vây bởi lạc, không bị trói buộc với khổ, thì sẽ không bị nhàm chán với các trần. Nhưng này Mahali, vì có khổ và không có lạc thú lâu dài trong các trần này, chúng sẽ thấy nhàm chán, do bị nhàm chán nên không có niềm vui và chấp thủ trong chúng. Do không có chấp thủ thì chúng sẽ tự thanh tịnh."

Khổ có ba phương diện:

  1. Khổ khổ (dukkha-dukkhata): là hình thức khổ thông thường dễ thấy nhất.
  2. Hành khổ (sankhara-dukkhata): là sự không thõa mãn đối với các pháp hữu vi.
  3. Hoại khổ (viparinama-dukkhata) là sự khổ do vô thường.

Tất cả khổ về thân và tâm như là sanh, lão, bịnh, tử, phải tiếp xúc với những người và hoàn cảnh trái ý, phải xa lìa những người và hoàn cảnh mến yêu, không được những gì mà mình ưa muốn, buồn thương đau khổ tất cả những hình thức khổ thể xác và tinh thần. Tóm lại tám điều khổ này gọi là khổ khổ. Vì nó dễ hiểu và là kinh nghiệm thông thường trong cuộc sống hằng ngày.

Về phương diện triết lý, hành khổ là quan trọng nhất trong khổ đế. Để hiểu nó, ta cần giải thích và phân tích cái mà ta gọi là "tôi," tức là danh sắc (nama-rupa), là một sự phối hợp những năng lực hằng biến của tâm lývật lý được chia thành năm nhóm hay năm uẩn (panca-khandhakka). Rupa là sắc bao gồm uẩn thuộc về thân và namma là danh bao gồm 4 uẩn còn lại thuộc về tâm. Sự kết hợp năm uẩn này tạo thành một chúng hữu tình. Đức Phật dạy "Tóm lại, năm uẩn trói buộc là khổ"(Samyutta, V, PTS, p. 421).

Một chúng sanhthế giới kinh nghiệm thì bị biến đổi liên tục. Chúng tồn tại và mất đi. Tất cả sự quay cuồng, không có một vật gì thoát khỏi sự thay đổi liên tục không ngừng nghỉ, và bởi vì bản chất tạm bợ này, thì không có gì thật sự là niềm vui mãi mãi. Có hạnh phúc nhưng chỉ trong chốc lát, nó chóng tan như bọt tuyết và tạo nên sự buồn chán.

Hoại khổ là loại khổ bất như ý do sự vô thường đem đến. Mọi cảm giác vui sướngcon người có thể tìm thấy thì dễ mờ nhạt và biến mất. Như Đức Phật đã nói ngay cả các cảm thọ mà thiền giả đạt được do chứng đắc tứ thiền cũng thuộc về loại hoại khổ này. Bởi vì chúng vô ngã (anicca), khổ (dukkha), vô thường (viparinamadhamma). Nhưng khổ được đề cập không nhất thiết là khổ đau con người đang chịu đựng mà ý của Đức Phật ở đây là các pháp vô thường đều là khổ.

Chúng ta bị vô thường trong từng sát na và sự biến đổi này gây ra khổ; vì bất cứ cái gì vô thường đều là khổ (yadaniccam tam dukkham) đều đó có nghĩa là không có hạnh phúc lâu dài.

Đức Phật không tỏ lộ sự bi quan khi Ngài giải thích chân lý khổ cho các đệ tử và xem đấy là một trở ngại cho sự thực hiện chân lý. Ngược lại Ngài luôn luôn vui vẻ mĩm cười để trình bày rằng:

"Thật sự chúng ta đang sống đầy hỷ lạc,
Chúng ta không có nhiều gánh nặng.
Với hỷ lạc này, chúng ta được nuôi dưỡng,
Giống như chư thiên sáng chói."

Đức Phật khuyến khích các đệ tử không nên bi quan, buồn rầu, phiền muộn, u ám mà phải trau giồi đức tính hỷ (piti) là yếu tố chính yếu để đến đạt giác ngộ. Việc nghiên cứu đúng đắn về Phật giáo sẽ nói với chúng ta rằng đây là thông điệp lạc quan và đầy hy vọng đang chiếu sáng, chứ không phải là một triết lý bi quan yếm thế.

***

[Phỏng dịch từ nguyên tác tiếng Anh "The Timeless Message," của HT. Piyadassi đăng trong tác phẩm "Các Viên Ngọc của Trí Tuệ Phật Giáo" (Gems of Buddhist Wisdom), CBBEF, Taiwan, 1996, trang 35-49].

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 73)
Muốn thực hiện một đời sống đạo đức, mang lại hạnh phúc cho bản thân cũng như tha nhân thì trước hết con người ấy phải được giáo dục.
(View: 98)
Như chúng ta đã biết, từ xưa lắm các triết gia và sử gia phương Tây từng đưa ra những định nghĩa về con người,
(View: 190)
Sám hối là một thực hành tu tập quan trọng và phổ biến trong Phật giáo. Sám hối là...
(View: 198)
Chúng ta hãy khởi đầu đọc kinh Kim-cang như một tác phẩm văn học. Giá trị văn học là sự biểu hiện thẩm mỹ của nội dung tư tưởng.
(View: 216)
“Bà lão nghèo ngộ pháp Duyên khởi” là bản kinh chúng tôi giới thiệu kỳ này. Nguyên tác “Phật thuyết lão nữ nhơn kinh 佛說老女人經
(View: 191)
“Kinh Căn Tu Tập / Indriya bhàvanà sutta” là bài kinh cuối cùng trong số 152 bài kinh đăng trong Trung Bộ Kinh do...
(View: 218)
Theo Phật giáo, pháp có nghĩa là giáo pháp của Phật. Những lời dạy của Đức Phật chuyên chở chân lý.
(View: 221)
Như Đức Phật đã dạy, một đặc điểm của Giáo Pháp thuần túy là những hiệu ứng phải được thể nghiệm tức khắc lúc này và nơi này, ngay trong cuộc đời này
(View: 222)
Căn cứ thông tin từ tác phẩm Ni trưởng Huỳnh Liên - cuộc đời và đạo nghiệp do Ni giới hệ phái Phật giáo Khất sĩ ấn hành vào năm 2016 thì...
(View: 317)
Từ khi đạo Phật du nhập vào Việt Nam, chúng ta thấy rõ là bất cứ khi nào truyền thống dân tộc nép mình để đi trong dòng sinh mệnh của đạo Phật thì...
(View: 331)
Dựa vào lịch sử Đức Phật, chúng ta được biết, Thái tử Sĩ Đạt Ta (Siddhattha) khi chào đời, bước đi bảy bước, có bảy hoa sen đỡ chân
(View: 629)
Giới, Định và Tuệ là ba môn tu học quan trọng trong Phật giáo. Ta thường hay nói “Nhân Giới sanh Định, nhân Định phát Tuệ”.
(View: 463)
Theo nghĩa đen của khái niệm, độc nhất là chỉ có một, mang nghĩa duy nhất. Trong kinh tạng Nikāya, khái niệm con đường độc nhất (ekāyana magga) là
(View: 440)
Bốn mươi chín ngày sau khi đạt giác ngộ, Đức Phật bi mẫn và thiện xảo đã thuyết Tứ Diệu Đế cho năm vị đệ tử may mắn tại Varanasi.
(View: 631)
Nếu có ai đó yêu cầu tóm tắt toàn bộ giáo lý Phật giáo trong một vài từ ngữ gọn gàng, không cần dài dòng văn tự, tôi sẽ không do dự trả lời rằng, đó là : Ngũ uẩn giai không.
(View: 505)
Bằng sự tu tập lâu dài, vượt qua vách sắt thành đồng của địa ngục Thiết Vi hay sự co duỗi của bàn tay trước mắt mà ta vươn tới sự giải thoát thời đoạn, cuối cùngsự giải thoát hoàn toàn.
(View: 451)
Đức Di Lặc tiếp tục giảng cho đồng tử Thiện Tài về Bồ đề tâm: “Tại sao vậy? Vì nhân nơi Bồ đề tâm mà xuất sanh tất cả Bồ tát hạnh.
(View: 1707)
Cộng đồng Tăng Già gồm tứ chúng Tăng NiPhật tử tại gia Nam Nữ với một hội đồng gồm ít nhất là bốn vị Tăng, hay một cộng đồng Tăng Ni sống hòa hiệp với nhau trong tinh thần lục hòa.
(View: 554)
Đến nay, vấn đề xác định kinh điển Phật thuyết hay phi Phật thuyết vẫn là nội dung được các học giả quan tâm nghiên cứu
(View: 1334)
Nhiều học giả phương Tây nhận định rằng khái niệm Niết bàn, tức nirvāṇa trong Sanskrit hay nibbāna trong Pali, có thể xem là ...
(View: 811)
Hãy thử tưởng tượng một đoàn người đang ngồi trên một chiếc thuyền trôi giữa biển, trong đêm tối. Sự nhỏ nhoi của con thuyền...
(View: 696)
Vũ trụ này thực sự là gì? Tại sao có những thế giới nhiễm ô của chúng sanh? Làm gì để “chuyển biến” thế giới nhiễm ô thành thế giới thanh tịnh?
(View: 1173)
Tôi không cần giải thích tại sao bạn cần phải thực hành Pháp; tôi nghĩ bạn hiểu điều đó.
(View: 874)
Thế giới chúng ta đang sinh sống ắt phải nằm trong “Hoa tạng thế giới”, tức là thế giới Hoa Nghiêm
(View: 1748)
Việc thẳng tiến bước trên con đường đạo lý thanh cao hầu đạt đến chân lý hạnh phúc chẳng khác nào bơi ngược dòng đời là một vấn đề...
(View: 1729)
Chúng ta thấy một sự vật bằng cách thấy màu sắc của nó và nhờ màu sắc ấy mà phân biệt với những sự vật có màu sắc khác
(View: 2661)
Tiếng Sankrit là Drama (tiếng Tạng là: cho) nghĩa là giữ lấy hoặc nâng đỡ. Vậy Pháp nâng đỡ hoặc duy trì cái gì?
(View: 1792)
Trong những nhà phiên dịch kinh điểnthời kỳ đầu của Phật giáo Trung Quốc, ngài Đàm-vô-sấm (曇無讖) hiện ra như một nhà phiên kinh trác việt[1].
(View: 2493)
Khi chúng ta mới học lần đầu rằng cứu cánh của sự tu tập đạo Phật có tên gọi là Nibbana (Nirvana, Niết-bàn),
(View: 906)
“Đức Phật nói: Như vậy, như vậy, như lời ông nói. Tu Bồ Đề! Nhất thiết chủng trí, chẳng phải là pháp tạo tác, chúng sanh cũng chẳng phải là pháp tạo tác.
(View: 1867)
Đức Phật cho rằng, bạn phải quan sát hơi thở như nó đang là-yathabhuta. Nếu hơi thở dài, bạn biết nó dài, nếu hơi thở ngắn, bạn biết nó ngắn.
(View: 2443)
Tâm là kinh nghiệm cá nhân, chủ quan về “điều gì” luôn luôn thay đổi, từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc khác.
(View: 2201)
“Cánh cửa bất tử đã mở ra cho tất cả những ai muốn nghe”, đây là câu nói của Đức Phật sau khi Ngài giác ngộ.
(View: 1391)
Trong các kinh thường ví chân tâm là viên ngọc, như viên ngọc như ý, viên ngọc ma ni, lưới Trời Đế Thích…Bài kệ này chỉ thẳng Viên Ngọc Tâm
(View: 1442)
Trong Nguồn thiền, Tổ Khuê Phong Tông Mật nói: “Người ngộ ngã pháp đều không, hiện bày chân lý mà tu là thiền Đại thừa”.
(View: 1970)
Trong Kinh Văn Thù quyển hạ có chép: Ngài Văn Thù thưa rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết bàn thì đệ tử của Ngài phân hóa bộ phái như thế nào?
(View: 2877)
Vấn đề Nam tôngBắc tông là một vấn đề tương đối rất cũ – cũ đến hơn một ngàn năm trăm năm kể từ ngày con người có được cái hạnh phúc biết đến giáo pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
(View: 2307)
Trước những sự kiện diễn ra trong cuộc sống hằng ngày, tôi đã từng ngày đêm thao thức với biết bao câu hỏi “ Tại sao ?”
(View: 3126)
Khổ đau và hạnh phúc là nỗi trầm tư hàng đầu trong kiếp nhân sinh. Nhiều người cho rằng hai cảm thọ ấy là do nghiệp quyết định.
(View: 2142)
Mất 11 năm khổ công tầm đạo, Đức Phật Thích Ca đã đạt đại giác ngộ sau 49 ngày quyết tâm thiền định dưới cội cây bồ đề.
(View: 1499)
Trước những sự kiện diễn ra trong cuộc sống hằng ngày, tôi đã từng ngày đêm thao thức với biết bao câu hỏi “ Tại sao ?”...
(View: 2228)
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao?
(View: 2414)
Chí đạo vốn ở tâm mình. Tâm pháp vốn ở vô trụ. Tâm thể vô trụ, tánh tướng tịch nhiên, chẳng phải có chẳng phải không, chẳng sanh chẳng diệt.
(View: 1812)
Trước khi nhập Niết-bàn, đức Phậtdi giáo tối hậu cho các chúng đệ tử: “Pháp và Luật mà Ta đã thuyết và qui định, là Đạo Sư của các ngươi sau khi Ta diệt độ.”
(View: 2046)
Phật giáo là một tổ chức cộng đồng (Samasambhaga) ra đời sớm nhất trong lịch sử nhân loại (-5 CN).
(View: 2981)
Đức Phật, một nhân vật lịch sử 3000 năm về trước, ra đời tại Bắc Ấn, là bậc giác ngộ toàn triệt, là bậc đạo sư với nghi biểu đặc biệt xuất hiện ở đời.
(View: 2319)
Con người sanh ra để hưởng thụ qua lục dục như tài, sắc, danh, thực, thùy (Ngủ nghỉ), .v.v. Con người trải qua một chu kỳ già, bệnh và cuối cùng là chết.
(View: 1040)
Nguyên bản: Teachings On The Eight Verses On Training The Mind. Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma . Anh dịch: Thupten Jinpa. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(View: 1182)
Phật tánh với thành Phật là hai vấn đề khác nhau, không thể đồng nhất được.
(View: 1382)
Kinh Tiểu Duyên (Aggaññasutta) trong tiếng Pali có nghĩa là kinh nói về nguyên nhân hay bài giảng về khởi nguyên các pháp.....
(View: 1229)
Đức Phật đã dạy về những sự thật này ngay khi ngài đạt đến Giác Ngộ như một phần của những gì được biết như Chuyển Pháp Luân Lần Thứ Nhất.
(View: 2705)
“Thiên đường có lối sao chẳng đi Địa ngục không cửa dấn thân vào”
(View: 3397)
Khổ đau và hạnh phúc là nỗi trầm tư hàng đầu trong kiếp nhân sinh. Nhiều người cho rằng hai cảm thọ ấy là do nghiệp quyết định.
(View: 1311)
Kính lễ đạo sư và đấng bảo hộ của chúng con, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát! Sự thông tuệ của ngài chiếu soi như mặt trời, không bị che mờ bởi vọng tưởng hay dấu vết của si mê,
(View: 2734)
Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa, đã được chính Đức Thế Tôn tuyên dương là Bổn Kinh Thượng Thừa, bao gồm
(View: 1487)
Trong phẩm Ứng Tận Hoàn Nguyên kinh Đại Bát Niết Bàn, nói về sự nhập Niết bàn của Đức Phật.
(View: 1624)
Trong số các vị Tổ sư của Thiền phái Vô Ngôn Thông, Viên Chiếu được xem là vị Thiền sư danh tiếng, lỗi lạc bậc nhất.
(View: 2576)
Nguyên tử giải phóng trở thành nguyên tử năng là đánh dấu thời đại đại phát minh của nhân loại. Là họa hay là phước tạm thời không bàn luận đến.
(View: 3219)
Luân hồinhân quả là hai sự kiện tương quan. Bởi chúng sanh còn nghiệp trái của nhân quả thiện ác nên mới bị luân hồi.
(View: 2872)
“Tướng” là cái gì? “Tướng” chính là tướng trạng của sự vật biểu hiện nơi ngoài và tưởng tượng ở nơi trong tâm chúng ta.
Quảng Cáo Bảo Trợ