Logo HHAD 2018 250
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
14,869,326
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Tâm Biết Sống

19 Tháng Ba 201300:00(Xem: 2534)
Tâm Biết Sống


ĐÔI LỜI TÂM SỰ

 Đạo Phật không phải là tôn giáo như chúng ta thường gọi bây giờ, mà là một con đường sáng để phá tan si mê, tối tăm, mờ mịt, là một phương pháp giáo dục phẩm chất sống có đạo đức, từ bitrí tuệ, giúp mọi người biết cách làm chủ bản thân, không lệ thuộc vào một đấng thần linh thượng đế ban phước, giáng họa; có chăng chỉ là thượng đế của chính mình, mình làm lành được hưởng phước báo an vui, mình làm ác chịu quả báo đau khổ; hạnh phúc hay khổ đau đều do ta tạo lấy.

 Đã làm người ai cũng có tình cảm, rồi dẫn đến hẹn hò, yêu thươnglập gia đình; bắt đầu từ đó, ta phải gánh lấy nhiều trách nhiệm nặng nề hơn; nếu ta thiếu phước và không biết cách tu tập, sẽ chịu nhiều phiền muộn, khổ đau trong cuộc sống hằng ngày.

 Như chúng ta đã biết, khi có yêu thương thì có luyến ái, muốn bảo vệ cho riêng mình, từ đó phát sinh lòng ham muốn, và không chỉ giới hạn ở tình yêu thương giữa hai người, mà còn tham muốn rất nhiều thứ khác nữa. Tất cả những thứ yêu thương, luyến ái đó đều phát xuất từ sự ham muốn khoái lạc cho chính mình. Hình như chúng ta chỉ yêu mến người nào đem lại hạnh phúc cho ta và sẽ oán giận, thù hằn người nào làm cho mình đau khổ.

 Từ sự thương yêu, luyến ái, muốn bảo vệ quyền lợi cho riêng mình để hưởng thụ khoái lạc cảm giác, cha mẹ thương yêu con mình nên phải lo lắng đủ cách để bảo đảm đời sống hiện tại và tương lai của nó. Nếu sau này con cái bất hiếu, không làm nên tích sự gì, sẽ làm cho cha mẹ thất vọngphiền muộn, khổ đau vô cùng. Cho nên,

Mới sinh ra, ta đã khóc, mọi người cười.
Ta phải sống thế nào để khi ra đi, mọi người khóc, còn ta cười.

 Tiếng khóc oe oe báo hiệu đau khổ cho một chúng sinh vừa mới chào đời, nhưng ai cũng vui tươi, phấn khởi đón nhận một vì sao sáng. Vì ai cũng có tâm, nên ta biết phân biệt, đặt tên cho nhau, biết đủ mọi thứ, đó gọi là phần tinh thần.

 Tâm khônghình tướng hay màu sắc gì, nên không thể dùng mắt mà thấy, không thể dùng tai để nghe, hoặc dùng tay chân sờ mó, đụng chạm được. Tâm tuy không có hình tướng cụ thể, nhưng do tác dụng thấy-nghe, phân biệt nên có biết, biết tức là tâm.

 Tâm được chia ra làm hai phần, chơn tâmvọng tâm. Đứng về chơn tâm thì không thể dùng lời nói để diễn tả cho mọi người biết được, nên chỉ nói “thường biết rõ ràng”.

 Phật dạy, chơn tâm giống như vàng còn nằm trong quặng, bị bùn đất, cát đá lẫn lộn, chưa được đào đãi, sàng lọc sạch; giống như ly nước chứa lẫn lộn bùn đất, khi ta lóng trong và đổ hết cặn cáu, bấy giờ nước trong ly đã thật sự thuần khiết, trong sạch, dù ta có làm cho nước dao động mạnh, cũng không vì thế mà nước bị vẩn đục, cũng như vàng sau khi đã gạn lọc hết đất cát, bùn đất lẫn lộn, lúc bấy giờ chỉ còn thuần một chất vàng.

 Phật cũng lại như thế, dù bị phong ba, bão táp cuộc đời làm hại, Phật vẫn sáng suốt, thanh tịnh, trong sạch, vì các tạp chất phiền não đã được chuyển hóa hết rồi. Cho nên, trong hội Linh Sơn, Phật đưa cành hoa sen lên, Ngài Ca Diếp mỉm cười, nhận ra chơn tâm trong sạch của mình nói không thể đến, nhưng vẫn thường biết rõ ràng, thanh tịnh, sáng suốtlặng lẽ chiếu soi.

 Có khi ta sống với chân tâm, nhưng không được lâu dài vì bị vọng tâm che lấp. Tuy nó vẫn thường hiện hữu ngay nơi thân này, nhưng vì gió nghiệp thức cuốn trôi, ta hay sống với vọng tâm mà sinh ra phân biệt ta, người, đủ thứ hết. Nếu ta không có tâm, làm sao biết đặt tên cho tất cả muôn loài vật?

 Vọng tâm là cái hiểu biết phân biệt, nhận thức tốt xấu, đúng sai, mọi âm thanh, hình sắc, nên ai sống với vọng tâm thì bị tham lam, si mê trói buộc, do chấp ta là mình mà muốn chiếm hữu tất cả. Ngược lại, khi ta sống với tâm chân thật thì thanh tịnh, sáng suốt, thấu rõ mọi sự vật, nên chuyển hóa được tham lam, sân giận, si mê.

 Do đó, chơn tâm không có hình tướng dài ngắn, vuông tròn, xanh đỏ, trắng vàng, nên không ai dùng mắt thấy, tai nghe, hay sờ mó được tâm; nhưng tâm chân thật nương nơi mắt thì thấy biết rõ ràng, không lầm lẫn, nương nơi tai thì thông suốt mọi âm thanh lớn nhỏ, mũi-lưỡi-thân-ý cũng lại như vậy.

 Trong một chuyến đi từ thiện ở Lâm Đồng, để giúp cho 300 hộ gia đình nghèo người dân tộc, chúng tôi vô tình đọc được một bài kệ 4 câu trên tảng đá mà không có tác giả, thấy hay nên tôi vội chép lại và cố gắng học thuộc:

Khi mê bùn chỉ là bùn
Khi ngộ mới biết trong bùn có sen.
Khi mê tiền chỉ là tiền
Khi ngộ mới biết trong tiền có tâm.

 Quả thật, từ ngàn xưa cho đến nay, loài sen chỉ mọc nơi bùn và vươn lên tỏa hương hoa thơm ngát. Chính vì vậy, trong các loài hoa, hoa sen tượng trưng cho sự tinh khiết, trong sáng, tuy sống và phát triển từ bùn mà không bị bùn làm ô nhiễm.

 Bùn là tượng trưng cho việc làm xấu xa, tội lỗi, nói đến bùn là nói đến sự nhơ nhớp của nó. Các loại cây sống nơi bùn thì khó mà cho ra hương thơm tinh khiết, riêng hoa sen có điểm đặc biệt hơn, vươn lên từ bùn lầy mà nở hoa thơm ngát. Do đó, khi ta chưa sống được với chơn tâm chân thật nên khi mê bùn chỉ là bùn.

 Thân ta cũng vậy, do đất-nước-gió-lửa hòa hợp lại mà thành, nên lúc nào cũng bị sinh-già-bệnh-chết chi phối. Tuy nhiên, ngay nơi thân ta có tính biết sáng suốt, hằng soi sáng muôn loài vật không bị ngăn ngại, nên ta nói “khi ngộ mới biết trong bùn có sen”. Thân ta cũng vậy, nếu không có thì ai biết, ai nghe đây? Gió thổi thì biết mát, trời nắng thì biết nóng, ta biết rõ ràng như vậy không lầm lẫn.

 Trong bùn có sen, trong thân có tâm, vậy thì tại sao ta chẳng chịu thừa nhận, để đến khi mê tiền chỉ là tiền. Tiền là phương tiện để ta sinh sống, là nhu cầu cần thiết không thể thiếu trong đời sống con người; nhưng nếu ta không chịu sống với con người tâm linh, khi mê tiền chỉ là tiền, nó sẽ sai sử, dẫn dắt ta chạy theo dòng đời nghiệt ngã, tranh giành hơn thua, phải quấy, tốt xấu, để kiếm tiền bằng cách gian dối, lường gạt người khác. Cho nên, chúng ta phải sống trong vòng lẩn quẫn tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ mà tranh đấu, sát phạt lẫn nhau.

 Từ đó, ta làm mất đi tình yêu thương chân thật mà kết thành tội lỗi, gây đau khổ cho nhau. Nhưng rõ ràng, đâu phải ai cũng vì tiền mà đánh mất đi lương tâm của chính mình. Nhiều người biết sử dụng đồng tiền đúng chỗ, nên làm lợi lạc cho số đông quần chúng. Tiền chỉ là giá trị để cân bằng sự sống, là vật vô tri do con người sắp đặt. Nếu ta không có tâm thì làm sao đặt tên cho nó là tiền; biết được như vậy, khi ngộ mới biết trong tiền có tâm.

 Nếu ta không có tâm, vậy ai biết đặt tên; có biết là có tâm, vì tâm đó không có hình tướng rõ rệt, không trong ngoài, trước sau, nên biến hiện không có ngần mé, mà vẫn sáng trong, chiếu soi muôn loài vật.

 Từ ngàn xưa cho đến nay, con người sở dĩ tồn tại là nhờ biết sống hòa hợp với nhau. Tương tự như thế, mắt-tai-miệng-chân-tay nhờ biết cảm thông nên sống vui vẻ, hòa thuận, không bao giờ biết tranh cãi hay hơn thua một điều gì; nhờ biết sống hòa hợp với nhau nên suốt một thời gian dài an lạc, hạnh phúc; bổng dưng một bữa nọ, một câu chuyện bắt đầu xảy ra:

 “Anh em, dòng họ chúng tôi từ trước đến nay có tiếng là biết sống yêu thương, nhường nhịn, giúp đỡ lẫn nhau, tuy có rày rà đôi chút nhưng không đáng kể. Bởi tôi là đứa con gái duy nhất trong nhà, nên lúc nào cũng hay làm duyên, làm dáng với đôi mắt bồ câu làm say đắm lòng người. Tôi được mọi người công nhận là cửa sổ tâm hồn, là nơi thu nhận tất cả mọi hình ảnh đẹp xấu trong cuộc đời. Mỗi ngày sau khi làm việc chăm chỉ, tôi cũng có được những giây phút ngắn ngủi để nghỉ ngơi, ngắm nhìn và say mê, thích thú vẻ đẹp của muôn loài vật; có khi vì ham muốn quá mà không được, tôi bị căng thẳngmệt mỏi vô cùng.

 Bên cạnh chúng tôi còn có bác Tai luôn biết cảm thông mọi âm thanh nhẹ nhàng, êm dịu, cho đến những lời hằn học, khó nghe. Bác hay lắng nghe tiếng nói của tha nhân, tùy duyên giúp đỡ mọi người, nên họ hàng nhà tôi ai cũng yêu thích bác hết.

 Riêng hai cậu Chân và Tay lúc nào cũng phải siêng năng cần mẫn, cậu Chân gánh đỡ cả con ngườihoạt động đi lại, để anh Tay làm việc phục vụ bên ngoài mà có tiền nuôi sống bản thân nhờ vào ăn uống. Ngày nào nhu cầu công việc cũng tiếp nốicần thiết nên làm cho hai cậu Chân và Tay vất vả nhọc nhằn. Do vì kế sinh nhai của cuộc sống, chúng tôi phải tất bật làm việc mỗi ngày, không có thì giờ ngơi nghỉ từ mờ sáng tinh sương cho đến khi chiều tối.

 Thỉnh thoảng, gia đình chúng tôi cũng ngồi lại bên nhau để họp mặt, bàn bạc, trao đổi, rút tỉa kinh nghiệm trong cuộc sống. Những lần như vậy, tôi hay ngồi lim dimmệt mỏi, hai cậu Tay và Chân cũng lừ đừ, chẳng buồn trò chuyện với ai. Riêng bác Tai nhà chúng tôi phải chăm chỉ chú tâm vào công việc, tuy không vất vả nặng nhọc như tôi, mất sức như hai cậu Tay và Chân, nhưng có khi bác bị đau và ê ẩm hết mình mẩy vì những ngôn từ chát chúa, thô lỗ, tục tằn, hằn học và khó nghe…

 Tuy nhiên, tất cả bốn người chúng tôi đều cố gắng siêng năng, tích cực làm việc, nhờ vậy mà cuộc sống có phần cơm no ấm áo, không phải lao đao, lận đận như những gia đình khác. Nhưng thời gian trôi qua, chúng tôi về sau lại sinh tâm so đo, tính toán quá nhiều; vì thấy anh chàng Miệng là sung sướng hơn hết, chẳng thèm làm gì mà vẫn được ăn sung mặc ấm, suốt ngày chỉ thong dong, đi chơi hết đầu trên xóm dưới, tán dóc, nói chuyện đâu đâu. Anh ta chờ chúng tôi làm việc xong, đến giờ cơm là chỉ việc xơi tái một cách ngon lành. Anh ta ăn một cách an nhàn, thoải mái, làm chúng tôi càng thêm tức tối, ganh tị và bực bội vô cùng.

 Chúng tôi làm việc cực nhọc, vất vả như vậy mà có bao giờ thưởng thức được món ngon, vật lạ nào, cuối cùng chỉ để cho anh chàng Miệng ăn không ngồi rồi, hưởng trọn vẹn hết; thử hỏi làm sao chúng tôi không tức tối, bực bội cho được.

 Vì suy nghĩ ích kỷ, không tới nơi, tới chốn, tôi tức giận quá, bèn rũ bác Tai và hai cậu Tay, Chân nói với anh chàng Miệng, chúng tôi từ nay không thèm làm gì hết, mọi việc để anh ta tự làm, tự sống.

 Bắt đầu từ hôm đó, chúng tôi không làm gì nữa mà chỉ ngồi chơi xơi nước. Rồi một ngày, hai ngày trôi qua, chúng tôi cảm thấy khó chịu, mệt mỏi, cảm thấy trời đất như đang quay cuồng, không còn thấy rõ mọi thứ được nữa; riêng hai cậu Chân và Tay không còn nhanh nhẹn, hoạt bát như xưa, chỉ muốn nằm lỳ một chỗ, không nhúc nhích, cục cựa gì.

 Lúc này, bác Tai không còn nghe rõ chính xác mọi âm thanh, chỉ nghe thấy tiếng ù ù như tiếng cối xay đá vậy. Chúng tôi sống như vậy gần suốt hai tuần lễ, nên tất cả gần như hết xí quách, ai cũng ủ rũ, rã rượi như kẻ mất hồn, nếu kéo dài thêm thời gian chắc sẽ chết hết cả đám.

 Đến giờ phút này, tôi mới nhận ra sai lầm lớn lao của mình, vì so đo tính toán quá nhiều nên sinh tâm bất mãn, bỏ liều hết mọi công việc, xuýt chút nữa tôi đã hủy diệt cả dòng họ, anh em mình; đúng là khùng tới nơi vậy, mọi việc đang trôi chảy, bình thường, tốt đẹp, tôi lại nảy sinh ý định oán giận, thù hằn, ganh ghét anh chàng nhà Miệng làm chi, để đến nỗi phải chịu khốn khổ, thân tàn ma dại như thế này.

 Tôi ăn nănhối hận vô cùng. Tuy anh chàng Miệng làm việc nhẹ nhàng hơn chúng tôi, chỉ có nhiệm vụ nhai thôi nhưng rất quan trọng, thiết yếu trong đời sống hằng ngày. Ngoài việc ăn để tiếp năng lượng cho chúng tôi, anh còn nói năng, chỉ đạo, sắp xếp mọi việc được vuông tròn, tốt đẹp. Không có anh, chúng tôi sẽ không biết cách làm việc chừng mực, giữ được sức khỏe để dấn thân, phục vụ lâu dài.

 Thế nên, vì hành động dại dột, thiếu ý thức, hiểu biết của mình, cả bọn chúng tôi đi nhanh đến nhà anh Miệng để nói lời xin lỗi. Thấy chúng tôi đến, anh Miệng mừng quá nói chẳng ra lời, vì đôi môi đã tái mét, tím sạm, chắc anh đã đợi chúng tôi từ lâu. Hai cậu Chân và Tay nhanh trí hơn nên vội tìm thức ăn cho anh Miệng; ăn xong, anh dần dần tỉnh lại, vui vẻ cười nói huyên thuyên như người chết đi, vừa sống lại.

 Lúc bấy giờ, chúng tôi cảm thấy vui tươi, phấn khởi lạ thường, như người ốm nặng đã lâu vừa được hồi phục. Kể từ đó, chúng tôi sống thân thiện, hòa hợp với nhau nhiều hơn, vì đã hiểu được nguyên lý duyên khởi theo lời Phật dạy, “trong bầu vũ trụ bao la này, từ con người cho đến muôn loài vật đều phải nương nhờ lẫn nhau mới bảo tồn mạng sống”. Nhờ vậy, chúng tôi bây giờ luôn thầm cảm ơn lời dạy của Phật, biết sống hết lòng bằng trái tim hiểu biết mà chan hòa tình yêu thương, cùng san sẻ nâng đỡ cho nhau, cùng nhau chia vui sớt khổ với tấm lòng biết ơn lẫn nhau.

 Riêng tôi thì rất xấu hổ vì đã gây ra biết bao lầm lỗi do tham lam, ích kỷ, ganh ghét, hẹp hòi, xém chút nữa tôi đã hại hết dòng họ nhà mình. Chính vì thế, tôi càng ý thức hơn trong việc kết nối yêu thương, sẻ chia cuộc sống, để đến với nhân loại bằng tất cả tấm lòng từ bi rộng lớn.

 Qua câu chuyện ngụ ngôn trên, chúng ta đã rút ra được một bài học quý báu về cuộc đời, không ai một mình có thể tự sống dù tài giỏi đến đâu. Dù ta không làm ruộng nhưng vẫn có cơm ăn, không dệt vải nhưng vẫn có quần áo mặc, không phải thợ hồ, thợ mộc nhưng vẫn có cửa nhà để ở, chỉ vì con người luôn nương tựa, hỗ trợ lẫn nhau cùng vui sống hài hòa. Ai cũng có khả năng, sở trường riêng để đóng góp, phục vụ cho cuộc sống ngày càng tốt hơn, tùy theo hoàn cảnhđiều kiện của mình, không có ai là người vô tích sự nếu biết trân quý, tận dụng thời gian để dấn thân đóng góp, an ủi và sẻ chia.

 Vì tham lam, ích kỷ, si mê, nên chúng ta sinh tâm giận hờn, ghét bỏ, để cuối cùng tìm cách triệt hại, bức giết lẫn nhau. Con người từ vua quan cho đến thứ dân bần cùng, ai cũng có trách nhiệm và bổn phận. Mỗi người đều có một việc làm tùy theo khả năng và sự hiểu biết, để dấn thân đóng góp và phục vụ, đem lại lợi ích thiết thực cho gia đìnhxã hội. Người nông dân phải phơi mình một nắng hai sương, đầu trần chân đất, chân lấm tay bùn, mới làm ra những hạt gạo thần tiên, giúp mọi người được sống no đủ. Kẻ thương gia sản xuất ra hàng hóa tiêu dùng mọi mặt. Người bán hàng quán, thức ăn, thức uống thì đáp ứng, phục vụ nhu cầu thiết yếu cho con người mỗi ngày. Người chiến sĩ phải hy sinh hạnh phúc gia đình riêng để bảo vệ biên cương bờ cõi, có khi phải chịu đau thương, chết chóc, hay bệnh hoạn, tật nguyền. Người lãnh đạo đất nước phải có tinh thần trách nhiệm, giúp dân chúng an cư lạc nghiệp trên tinh thần thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau bằng trái tim hiểu biết. Người tu sĩ thì giữ gìn phẩm chất đạo đức, làm cơ sở gương mẫu giúp mọi người ý thức được, sống là phải nương nhờ lẫn nhau, cùng san sẻ, giúp đỡ mỗi khi có việc cần thiết.

 Chỉ những kẻ ăn không ngồi rồi, biếng nhác, chây lười, làm ít mà muốn hưởng thụ nhiều, nên dễ rơi vào vòng tệ nạn, làm khổ người thân, gây thiệt hại cho gia đình, xã hội. Mỗi chúng ta là viên gạch tình thương xây nên căn nhà bao dung, độ lượng, sẻ chia và hiến tặng. Chính vì vậy, ai cũng có bổn phận và trách nhiệm thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau. Cụ thể như gia đình nhà cô Mắt, nếu cứ sống thân thiện, hòa hợp với nhau, mỗi người đều có trách nhiệm riêng, cùng hỗ trợ cho nhau, thì cuộc sống này an lạc, hạnh phúc biết dường nào.

 Cũng vậy, ta đang sống với bản tâm thanh tịnh sáng suốt, để được hưởng những giây phút an nhàn, siêu thoát thì lại không chịu, cứ khởi vọng động phân biệt, so đo, tính toán, nên vô tình làm tổn thấtthiệt hại cho nhau.

 Nếu cô Mắt có nhiệm vụ thâu nhận hình ảnh trung thực như thế nào thì biết rõ thế ấy, không thêm vào một thứ nào khác, thì cuộc sống này là thiên đường hạnh phúc. Hai cậu Chân, Tay thì lao động, làm việc, giúp thân này đóng góp công ích vào phúc lợi xã hội. Bác Tai phải điều hòa âm thanh lớn nhỏ cho nhẹ nhàng, êm thắm. Anh Miệng ngoài nhiệm vụ ăn để tiếp nguồn dinh dưỡng, giúp mọi ngườisức khỏe mà sống yêu thương, còn phải nói năng, hướng dẫn để mọi người biết sống tốt hơn.

 Nói tóm lại, cuộc sống trong bầu vũ trụ bao la này, từ con người cho đến muôn loài vật đều phải nương nhờ lẫn nhau. Cho nên, chúng ta phải có trách nhiệm dìu dắt, nâng đỡ để cùng nhau dấn thân đóng góp, cùng sẻ chia với tất cả mọi người.

 Đôi lời tâm sự chân thành, xin mọi người hãy cùng nhau kết nối yêu thương, sẻ chia cuộc sống, để chúng ta có cơ hội gần gũi, nâng đỡ cho nhau, cùng vươn lên làm mới lại chính mình, qua đề tài “Tâm biết sống”.

Kính ghi

Phong Trần Cuồng Nhân

CON MẮT THỨ HAI

 Nói đến con mắt thứ hai là nói đến cái thấy phân biệt của con mắt. Có ba người đi chợ cùng ghé vào hàng vải để mu, nhìn xấp vải cô A khen đẹp, chị B lại chê xấu, thím C thì thấy không đẹp mà cũng không quá xấu. Đẹp hay xấu tùy theo cách nhìn và sự phân biệt của mỗi người, vì sự hiểu biết, nhận thức không ai giống ai, nên có đẹp xấu khác nhau là vậy. Trong mỗi người chúng ta, ai cũng có hai con mắt, nhưng con mắt nào là mắt chánh, con mắt nào là con mắt thứ hai.

 Mắt chánh thì thấy biết đúng như thật mà không thêm một cái gì vào, nên thấy chỉ là thấy. Như chúng ta đi ra ngoài chợ, người-vật-đồ đạt được hiện bày trước mắt, đủ thứ sắc thái, hình ảnh xanh, vàng, đỏ, trắng, nhưng ta không chen vào một ý niệm nào, ta chỉ thấy như thế rõ ràng, không lầm lẫn.

 Có người hỏi thiền sư Bồ Tát Nghìn Tay Nghìn Mắt, “mắt nào là mắt chánh?”

 Thiền sư nói, “ví như người trong đêm tối, với tay ra phía sau tìm chiếc gối, ngay khi ấy là mắt chánh”.

 Trong đêm tối không có đèn, cái gì biết mà tìm gối? Khi chúng ta đã sống với con mắt chánh rồi thì con mắt thứ hai không thể tác động được. Vậy tất cả quý vị chọn mắt nào? - Dạ mắt chánh!

 Hai con mắt, nếu ta chỉ mắt trái hay mắt phải thì cả hai đều không đúng, vì cả hai đồng thời thấy thì bảo làm sao có con mắt thứ hai được? Vây ai trong chúng ta có thể chỉ ra được?

 Bồ Tát Nghìn Tay là tượng trưng cho việc làm không biết mệt mỏi vì lợi ích tha nhân, sẵn sàng dấn thân, đóng góp, chia sẻ và nâng đỡ để mọi người sống thương yêu nhau bằng trái tim hiểu biết. Ngàn mắt là tượng trưng cho trí tuệ sáng suốt, biết soi sáng lại chính mình và muôn loài vật mà không bị người-vật làm ngăn ngại, nhờ tâm định tĩnh sáng trong. 

 Để làm thế nào biết được con mắt thứ hai, chúng ta hãy nghe câu chuyện đức Phật trong một kiếp quá khứ, đang trên đường hành Bồ Tát đạo. Thuở ấy, Ngài đang làm vua trị vì thiên hạ, sống một đời vương giả, thụ hưởng cả cung vàng điện ngọc, vợ đẹp, con ngoan, và tất cả thần dân thiên hạ.

 Do túc duyên nhiều đời đã biết tu nhân tích đức, nhà vua chán ngán ngai vàng, không còn thiết tha, mong muốn những lạc thú trên trần gian này nữa. Ngài bỏ hết tất cả để đi vào rừng sâu, chuyên tu thiền định, mong được sớm giác ngộ, giải thoátcứu độ chúng sinh.

 Hoàng hậu hay tin nên đuổi theo và cuối cùng, gặp được nhà vua trên đường đi. Hoàn cảnh éo le như vậy, vua muốn tiến tu mà vẫn bị chướng ngại vì tình chồng, nghĩa vợ. Vua hết lòng năn nỉ và khuyên nhủ bà hãy quay về, tiếp tục hưởng vinh hoa phú quý, sống đời sung túc, dư dã. Lòng vua đã muốn, nhưng hoàng hậu không buông tha, ví ái ân sâu nặng nên nhất quyết một mực đòi đi theo, thà sống có đôi có lứa, giữ trọn vẹn một lòng chung thủy. 

 Trước tình thế ngặt nghèo đó, vua không biết giải quyết cách nào cho ổn thỏa. Trời Đế Thích muốn tiếp thêm sức mạnh cho ngài để vượt qua vòng luyến ái, nên mới hiện ra một người thợ mộc ở gần bên bìa rừng. Vua và Hoàng hậu vừa đi tới đã thấy anh thợ mộc đang cầm thanh gỗ, nhắm xem coi nó thẳng mực hay chưa? Nhưng anh ta chỉ nhắm bằng một con mắt, vua thấy lạ mới hỏi anh, “vì sao phải nhắm bớt một con mắt?”. Anh thợ mộc nói, “nếu có con mắt thứ hai thì hai con nó tranh nhau, khó nhìn chính xác được”.

 Vua nghe nói vậy, tâm ông bừng sáng ra, nên nghĩ rằng, “ta đã chán cảnh xa hoa, phù phiếm, đua chen, giành giựt của thế gian ái nặng, tình sâu, nên mới đi vào rừng sâu để tìm sự an tĩnh của nội tâm, một lòng muốn vứt bỏ hết mọi thứ trên cõi đời này. Nhưng bên cạnh ta còn có Hoàng hậu theo sau, đó cũng là con mắt thứ hai làm chướng ngại quá trình tu tập của ta”. Nghĩ vậy xong, nhà vua liền cám ơn anh chàng thợ mộc, rồi tiện tay bẻ một cành cây nhỏ đưa cho Hoàng hậu và hỏi rằng, “này, tiện thiếp có thể làm cho cành cây dính trở lại thân của nó như cũ được không?”

 Hoàng hậu thưa, “dạ thưa bệ hạ, không thể nào được ạ”.

 Nhà vua nói, “cũng vậy, khi nào cành cây dính trở lại thân như cũ, thì chúng ta sẽ sống trở lại với nhau, giờ thì chúng ta mỗi người có một con đường riêng”. Nói xong, nhà vua bỏ bà ở lại một mình rồi mất hút trong rừng sâu, để lại trong bà nỗi nhớ, niềm thương trong cô đơn, tiếc nuối và buồn khổ.

 Câu chuyện ngụ ngôn trên đã giúp chúng ta thấy được con mắt thứ hai chưa? Có nhiều người vì con mắt thứ hai nên sống ngu, chết dỡ suốt cả một đời, mà chưa có một ngày thật sự hạnh phúc. Tại sao chúng ta không dám can đảm nhắm bớt một con mắt, để được sống đời bình yên, hạnh phúc mà không bị phiền não tham-sân-si và mọi thứ ràng buộc của thế gian chi phối.

 Bây giờ, chúng ta hãy cùng nhau chiêm nghiệm lại lời nói của anh thợ mộc coi ý nghĩa sâu xa của nó như thế nào. Nếu có con mắt thứ hai thì hai con nó tranh nhau nên khó nhìn chính xác khúc gỗ thẳng hay cong. Người tu như chúng tôi đã phát nguyện trên cầu thành Phật, dưới cứu độ chúng sinh, từ bỏ gia đình người thân để kết nối yêu thương, sẻ chia cuộc sống nhằm thực hiện lý tưởng giác ngộ, giải thoát mà cùng nhau chia vui, sớt khổ.

 Nếu chúng ta không dứt khoát và có lập trường vững chắc, cứ để luyến ái tình thâm ràng buộc hoài, thử hỏi làm sao ta thực hiện ước mơ và hoài bão của mình. Tiền tài, danh vọng, vợ đẹp, con ngoan, uống ăn và ngủ nghỉ cứ như thế mà trở thành con mắt thứ hai, đeo bám ta dai dẵng từ đời này sang kiếp khác, không có ngày thôi dứt.

 Trên con đường tu học, nếu ta không can đảm bỏ bớt con mắt thứ hai, mà thậm chí còn thêm nhiều con mắt khác vào, ta không dứt khoát, không can đảm, không chịu buông xả, vậy làm sao ta có đủ khả năng để vươn lên, vượt qua cạm bẫy cuộc đời, trên cầu thành Phật, dưới cứu độ tất cả chúng sinh.

 Ta cũng phải mạnh dạn và can đảm dứt khoát như nhà vua thì họa may mình mới có thể thực hiện lý tưởng cao cả, trên cầu thành Phật, dưới cứu độ chúng sinh. Ta dám chấp nhận bỏ cha mẹ, xa lìa người thân yêu, để sống đời giác ngộ, giải thoát, nhưng ta lại không chịu buông tất cả, để được tất cả như đức Phật khi xưa.

 Ta bây giờ có gì để buông, sự nghiệp chưa có, tình yêu cũng không, mọi thứ ta đang sống đều nhờ vào tấm lòng của Phật tử bốn phương, họ phải nhín ăn, bớt mặc để ta có thời giantu học.

 Ta chỉ chuyên làm một việc như vậy, mọi cái, mọi thứ đều có người khác lo, nên khi mới xuất gia, trước tiên ta phải cắt ái, lìa người thân, để sống đời giải thoát, thế mà ta không chịu, cứ lình xình, lẹp xẹp, để cho tháng ngày trôi qua suông.

 Bây giờ, chúng ta hãy quán lại kỹ, coi thế gian này có gì là quan trọng để đáng cho ta luyến tiếc, đam mê, say đắm hay không? Người tu chúng ta phải lấy trí tuệ làm đầu, nhờ có trí tuệ, ta mới soi sáng được mọi vật mà biết rõ nguyên nhân, để ta không tham đắm, luyến tiếc, bị dòng đời cuốn trôi.

 Thân này già mà ta bảo nó không già được không? Thân này bệnh ta bảo nó không bệnh được không? Thân này chết ta bảo nó không chết được không? Cái mà nó theo ta hằng ngày, ta còn không giữ được, huống hồ là những thứ khác.

 Vậy mà ta vẫn sống với con mắt thứ hai hoài, ta phải can đảm như nhà vua mới được. Cầm nhánh cây đã bẽ gãy trên tay, vua hỏi người đẹp, “thiếp có thể làm dính cành cây với thân cây lại được không? Nếu không thì hai ta mỗi người có một con đường riêng, nàng hãy ở lại để tiếp tục con đường của nàng, ta phải đi để đến con đường của ta. Vì ta biết khi ta đến đó, ta vẫn ăn-uống-ngủ nghỉ-làm việc và phục vụ như bao người khác, nhưng ta có tâm trong sáng và định tĩnh, nhờ vậy ta hay soi sáng muôn loài vật mà không bị ai làm chướng ngại. Ta chấp nhận xa lìa người thân, dứt tình ân ái, để đi đến phương trời cao rộng mà không lúc nào bị con mắt thứ hai làm mê mờ”.

 Ngày xưa, thiền sư Triệu Châu trong một lần về thăm bổn sư, vị thầy thế phát xuất gia; gia đình, người thân hay tin đến thăm đông đảo. Sư biết vậy liền nói, “lưới ái trần tục không có ngày thôi dứt, ta đã từ bỏ để sống đời cao thượng, nên không muốn gặp lại”. Nói xong, sư liền mang bát ra đi liền trong đêm đó.

 Ta phải mạnh dạn và dứt khoát như vậy, mới có thể làm nên việc lớn mà cứu người, giúp thế gian. Sau nàu, thiền sư Triệu Châu nổi tiếng khắp thiên hạ và sống đến 120 tuổi, độ vô số người, không thể tính kể. Nhờ dứt khoát không chấp nhận để con mắt thứ hai làm lay động, nên thiền sư đã thành tựu đạo giác ngộ, giải thoát một cách dễ dàng.

 Thiền sư Hoàng Bá nói:

Vượt khỏi trần lao việc khó làm
Nắm chặt đầu dây giữ lập trường
Chẳng phải một phen sương lạnh buốt
Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương!

 Ta muốn sống đời an lạc, hạnh phúc với lý tưởng cao thượng, ta phải dứt khoát lìa khỏi con mắt thứ hai, để vượt qua phong ba, bão táp của cuộc đời. Nhưng muốn được như vậy thì ta phải làm sao? Nắm chặt đầu dây giữ lập trường, ta phải cương quyết, mạnh dạn hơn, một đi không trở lại, hai đi không trở về, ba đi vì quyết chí, vượt thoát mọi trần lao, để ta và người cùng nhau thưởng thức hương thơm và mùi vị của hoa mai. Vậy có ai dám dứt khoátcan đảm bỏ con mắt thứ hai, để thưởng thức hương vị của hoa mai không?

CÁI TÂM BIẾT YÊU THƯƠNG 

 Mẹ chúng tôi khi còn sống thường đố rằng, “cái gì quan trọng nhất trong cơ thể?” Khi còn nhỏ, chúng tôi thường cho rằng, âm thanh là quan trọng nhất của con người, nên nghĩ tai là số một.

 Mẹ tôi nói, “không phải đâu con ạ. Nếu con nói tai là quan trọng, vậy tại sao rất có nhiều người điếc trên thế gian này. Thôi con hãy chịu khó suy nghĩ tiếp đến khi nào trả lời được chính xác câu hỏi của mẹ”.

 Khi tôi lớn lên một chút, bao nhiêu hình ảnh thân thương đều hiện ra rõ ràng trước mắt, nên tôi cho rằng mắt là quan trọng. Tôi liền tìm đến bên mẹ, quả quyết rằng mắt là hơn hết.

 Mẹ âu yếm nhìn tôi và nói, “thời gian đã giúp cho con tiến bộ thêm quá nhiều, nhưng câu trả lời của con cũng chưa hoàn toàn đúng, vì trên thế gian này còn cả một khối người mù”.

 Rồi thời gian cứ thế trôi qua, tôi lại nghĩ miệng là quan trọng hơn hết, nên lần này khẳng định với mẹ.

 Nhưng lần nào cũng vậy, mẹ tôi đều nói “chưa đúng đâu, con ạ”. Tôi mới nói với mẹ, “miệng nói năng, giao tiếp để giữ mối quan hệ tốt đẹp trong cuộc sống và ăn, nhằm để nuôi sống bản thân, tiếp thêm năng lượng cho các bộ phận khác trong cơ thể cùng hòa hợp với nhau hoạt động và làm việc, nên miệng là quan trọng nhất”.

 Mẹ nói, “con càng ngày lớn khôn, có thêm sự hiểu biết, nhưng hãy suy nghĩ thêm một chút nữa đi con, để rồi một ngày nào đó, con sẽ nhận ra phần nào là quan trọng nhất trong cơ thể?”

 Cứ như thế, lần nào tôi đến bên mẹ để trình bày đều không được mẹ đồng ýchấp nhận. Mẹ chỉ khuyên tôi, “hãy nên dùng trí tuệ để soi sáng thì con sẽ từ từ thấu rõ, con sẽ biết cái gì là quan trọng nhất trong cơ thể?”

 Rồi đầu năm nay, mẹ tôi sau cơn bạo bịnh và mất tại chùa Giác Ngộ, tôi và một vài người trong gia đình khóc. Lúc bấy giờ, tôi mới chợt nhận ra, đôi vai là phần quan trọng nhất trong cơ thể. Vì khi mẹ còn sống, mẹ thường dùng đôi vai để bao bọc và che chở, nâng đỡ cho các con, nhờ thế chúng tôi có cơ hội khôn lớn và trưởng thành.

 Bây giờ, sau khi được tu học tại Thiền Viện Thường Chiếu, tôi càng thấy rõ hơn sự san sẻ, giúp đỡ để làm vơi bớt nỗi đau bất hạnh là quan trọng hơn hết; vì trong thân, đôi vai chịu trách nhiệm để nâng đỡ đầu, mình, tay, chân và gánh vác toàn thân, cộng với sự ý thức của tâm biết bao dung, độ lượng, biết nâng đỡ, sẻ chia bằng trái tim yêu thươnghiểu biết.

 Nói cho dễ hiểu hơn, mỗi người chúng ta ai cũng có đôi bàn tay và khối óc, cùng với sự mầu nhiệm của hiểu biếttu tập. Cho nên, cuộc sống lúc nào cũng cần có sự yêu thương chân thành, biết chia vui, sớt khổ trong mọi hoàn cảnh. Giờ thì chúng ta thử luận bàn về thân có đầu, mình, tay, chân, mắt, tai, mũi, lưỡi, cùng với sự hiểu biết của tâm ý thức.

 Để duy trì cho thân được làm việc có lợi ích, chúng ta phải biết sắp xếp hài hòa, cái nào là bộ phận chủ đạo, và cứ như thế theo thứ tự sinh hoạt nhịp nhàng. Nếu trong ta chỉ một bộ phận chống trái lại thì mọi cái cũng đều bị đình trệ theo.

 Chỉ đạo điều hành chính là anh ý thức, cộng với nhận thức sáng suốt do biết tu tập, chuyển hóa, thì mọi việc sẽ dung thông, tốt đẹp; còn nếu ta chỉ sử dụng bằng ý thức thôi thì sẽ sinh ra lòng tham đắm, rồi chấp trước, bám vào đó mà muốn chiếm hữu, từ đó phát sinh ra tranh chấp, phân định, rồi dẫn đến chiếm giữ vì ta và của ta.

 Do đó, cảm thông nỗi đau của người khác và biết san sẻ cho nhau là quan trọng hơn hết; vì trên thế gian này, còn người cần đôi vai che chở, nhiều người đói tình thương, khát khao sự sống, họ bị đau thương và mất mát bởi sự tác động của nhân quả quá khứ.

 Chính vì vậy, ta không thể làm ngơ trước những mảnh đời bất hạnh, mà cần phải biết mở rộng tấm lòng sẻ chia, giúp đỡ, bao dungđộ lượng, biết cảm thông nỗi đau của người khác.

 Bản thân tôi đã từng sống trong si mê, sa đọa hơn 20 năm, vì hiểu biết sai lầm. Tôi có được người mẹ giúp đỡ, tạo điều kiện làm lại cuộc đời nhờ tấm lòng bao dung, độ lượng rộng lớn của bà. Nhờ vậy, tôi được xuất giatu học tại Thiền Viện Thường Chiếu cho đến ngày hôm nay.

 Nhớ về quá khứ khổ đau do thấy biết sai lầm, nên tôi cảm thấy xót xa não nề, bởi đứng giữa dòng đời nghiệt ngã, nhiều người đã chìm đắm trong si mêtội lỗi. Họ đáng thương hơn là đáng ghét, bởi họ đã đánh mất đi trái tim hiểu biết, nên họ nói lời thô lỗ, cộc cằn, khó nghe, họ làm những việc mà xã hội không thể chấp nhận được; vì mất lương tâmđạo đức, họ làm cho gia đình, người thân bị liên lụy và ảnh hưởng.

 Phật dạy, họ là những người đang sống trong cảnh tối tăm, mờ mịt, họ đang làm mất dần tình yêu thương của nhân loại. Nếu không có ai giúp đỡ và cứu vớt họ, cuộc đời của họ càng đi xa hơn chỗ ánh sáng yêu thương, và cuối cùng chỉ lẫn quẫn trong vòng tối tăm, mờ mịt, biết chừng nào mới ra khỏi.

 Phật dạy, đó là những người từ trong chỗ tối đi vào chỗ tối, nhưng tại sao họ phải nên nông nỗi như thế? Vì họ không có đủ niềm tin, hiểu biết về cuộc sống. Niềm tin ở đây không phải là niềm tin đối với thần linh thượng đế mà là niềm tin đối với Tam Bảo, niềm tin đối với nhân quả, và niềm tin đối với chính mình. Ta phải có niềm tin như thế nào để ta có hiểu biết bằng tình yêu thương chân thật, mà không bị rơi vào hố sâu của tội lỗi.

 Niềm tin đối với thần linh thượng đế chỉ phù hợp khi con người còn ăn lông, ở lỗ; vì khi đó, ta cảm thấy con người quá nhỏ bé với bầu vũ trụ bao la này. Ta cứ nghĩ rằng, cuộc đời của ta có một bàn tay sắp đặt, định đoạt; và cứ như thế, ta an phận nơi niềm tin đó mà không cần tìm hiểu.

 Bây giờ, chúng ta thử suy nghĩ cho chín chắn, nếu thượng đế có đủ quyền năng ban phước thì phải cho đều hết, vì cớ sao có người được, có người không? Rõ ràng niềm tin này không còn phù hợp nữa; vì hiện nay, khoa học đã khám phá ra mọi sự hình thành trong bầu vũ trụ bao la này do nhiều nhân duyên kết hợp, không có gì do một nhân mà tồn tại được. Khám phá của khoa học phù hợp với lời dạy của Phật khi xưa đã cách nay trên 2600 năm.

 Vậy niềm tin đó là gì? Trước nhất, ta phải có niềm tin đối với Tam Bảo, tức tin vào Phật-Pháp-Tăng. Phật là một con người giác ngộ, có tình thương yêu bình đẳng bằng trái tim hiểu biết, có trí tuệ, có từ bi và sẵn sàng chia vui, sớt khổ với tất cả muôn loài chúng sinh. Vì thế, chúng ta gọi là Phật Bảo; và ta phải tin rằng, nếu ta thực tập những lời dạy chân chính đó, ta sẽ mở rộng được sự hiểu biết, yêu thương, để tiếp nhận bình an, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ.

 Ta phải tin chính mình có Phật tính sáng suốt, nương nơi mắt thì thấy biết rõ ràng, không lầm lẫn, tai-mũi-lưỡi-thân-ý cũng lại như thế. Nếu ai không có niềm tin đó thì không bao giờ có đủ khả năng, để trên cầu thành Phật, dưới cứu độ chúng sinh.

 Con người của ta có khả năng yêu thương bằng trái tim hiểu biết, nên mình dễ dàng tiếp nhận bình an, hạnh phúc thật sự ở cõi lòng, mà không hề có sự van xin, cầu cạnh từ bên ngoài. Niềm tin này không phải là sự mê tín, mà là niềm tin bằng sự giác ngộ, do trí tuệ khai mở và phát sáng, ta thấy trong mình có khả năng mở rộng sự hiểu biết, làm lớn thêm lòng thương yêu bình đẳng, không phân biệt người thân hay kẻ thù.

 Nhờ vậy, ta biết cách chuyển hóa tất cả mọi phiền não, khổ đau, và ta có quyền làm chủ bản thân để tạo dựng một đời sống bình yên, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ mà chẳng phải tìm cầu đâu xa.

 Đó là ta tin vào tính biết sáng suốt ngay nơi thân của mỗi người, mà trong kinh gọi là Phật tánh. Niềm tin này không phải là niềm tin mù quáng bằng lý thuyết suông, mà là một thực tại nhiệm mầu, có sự tu tậpthường xuyên quán chiếu, xem xét rõ ràng. Nhờ vậy, ta thấy ai có hiểu biết, có yêu thương, có trí tuệ, có từ bi và hay làm lợi ích cho nhiều người mà không bao giờ tính toán, so đo tốt xấu, đúng sai, thì mình biết người đó có bình yên và hạnh phúc thật sự.

 Niềm tin của ta được trải nghiệm qua cuộc sống thực tế bằng cách tu học và dấn thân, chứ không phải ngồi không mà hưởng nhàn, với quan niệm ta là thầy của thiên hạ. Khi ta có ý chí, có niềm tin, có lý tưởng vì lợi ích tha nhân bằng trái tim yêu thương, hiểu biết, thì mình sẽ có đủ sức mạnh để đi tới phương trời cao rộng, cho đến khi nào đạt được chí nguyện đó mới thôi.

 Lời nguyện chân chính luôn giúp cho ta đem lại rất nhiều năng lượng có ích, để mình không thất chí, nản lòng mà vững niềm tin hơn mỗi khi gặp việc không được tốt đẹp theo ý muốn. Người tu là người có chí nguyện cao cả vì sự sống còn của nhân loại, ta bình yên, hạnh phúc mà không an phận hưởng nhàn, luôn vì lợi ích tất cả chúng sinh. Đó là tâm Bồ Đề kiên cố của những con người đi theo con đường hiểu biếtthương yêu, để được chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc.

 Ta phải sống làm sao để cho chí nguyện của mình ngày thêm lớn mạnh, vững vàng. Ta càng lớn tuổi thì chí nguyện càng thêm bền bỉ, chắc thật, không bị mọi thế lực bên ngoài làm suy giảm. Nếu chí nguyện của ta bị lung lay bởi những danh vọng, lợi dưỡng, sắc đẹp, tiếng tăm chi phối, thì mình sẽ không thành công trên con đường tu tập, và có khi bỏ cuộc nửa chừng. Ta phải giữ vững ý chílập trường, theo đuổi chí nguyện không một giây phút nào lơ là trong hiện tại, và phải biết sử dụng những giây phút đó để làm tròn ước nguyện.

 Thế gian này là một dòng đời nghiệt ngã với vô vàn khổ đau, bởi do tham đắm, luyến ái, thương tiếc, nhớ nhung; vì yêu thươngxa lìa nên khổ, oán ghét mà gặp nên khổ, nên ta tu là chuyển khổ thành vui, chuyển mê thành ngộ, chuyển xấu thành tốt. Ta học hỏi Phật pháptu tập để giúp mọi người cùng nhau sống, có yêu thương bằng trái tim hiểu biết.

 Tâm nguyện hay chí nguyện là một nguồn năng lượng rất lớn không thể thiếu trong ta. Không có tâm nguyện đó thì mình khó bề vượt qua cạm bẫy cuộc đời, bởi sự hấp dẫn của lợi dưỡng, danh vọng, sắc đẹp và sự cung kính.

 Ta hãy nên tự hỏi rằng, mình có đủ sức mạnh và nguồn năng lượng đó hay chưa? Nếu chưa đủ thì ta vẫn phải thường xuyên quán chiếu, xem xét từng ý nghĩ, lời nói và hành động của mình; bằng không, chỉ cần một ngọn gió thổi tới, ta lại sẽ ngã quỵ như thường.

 Vậy chí nguyện của ta là gì? - Trên cầu thành Phật, dưới cứu độ tất cả chúng sinh. Ta có thật sự muốn đạt được những chí nguyện đó hay không? Nếu thật sự muốn hoàn thành chí nguyện lớn lao và cao cả đó, thì tại sao mình cứ dễ duôi buông trôi theo ngày tháng?

 Vậy chí nguyện của ta là biết kết nối yêu thương, sẻ chia cuộc sống và mong mỏi tất cả mọi người cùng muôn loài đều được sống bình yên, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ.

CÁI TÂM THƯƠNG GHÉT

 Có một chú bé hay ngỗ nghịch, phá phách, nên thường xuyên bị mẹ chỉ dạy và khiển trách. Một ngày nọ, vì giận mẹ quá, cậu chạy đến hang đá trong khu rừng gần nhà. Đang trong cơn hậm hực, cậu ta lấy hết sức mình hét lớn, “tôi ghét người”, nhưng từ trong khu rừng có tiếng vọng lại, “tôi ghét người”.

 Cậu bé sợ quá, hoảng hốt chạy nhanh về nhà, tìm đến mẹ mà khóc nức nở, nghẹn ngào. Cậu bé cảm thấy chao dao và sợ sệt, nên ôm chầm lấy đôi vai mẹ, mong được che chở. Cậu bé lại nghĩ rằng, “tại sao nơi rừng sâu lại có người ghét mình?”.

 Thấy con đang lo lắngsợ hãi, người mẹ an ủi, vỗ về và đưa con trở lại khu rừng. Bà nói, “này con thân yêu của mẹ, bây giờ con hãy bình tĩnh hét thật to, tôi thương người”.

 Cậu bé nghe theo lời mẹ, dùng hết sức bình sinh hét lớn lên, “tôi thương người”. Mầu nhiệm thay, cậu vừa dứt lời thì có tiếng vọng lại vang dội hết cả rừng xanh, “tôi thương người”.

 Giáo dục gia đìnhyếu tố quan trọng làm nên an vui, hạnh phúc qua cách hành động có ý thức của mình. Nếu ta không ý thức cuộc sống này cần phải có sự yêu thươngnâng đỡ cho nhau bằng trái tim hiểu biết, thì mình sẽ tạo ra nỗi khổ, niềm đau cho người khác.

 Cậu bé trong lúc bực bội nên cảm thấy ghét ai làm phiền mình, may mà cậu ta có được người mẹ hết sức tuyệt vời, biết bao dungđộ lượng. Bà chẳng những không giận con, mà còn tìm cách dạy dỗ để cậu ý thức được sự sống của mình cần có hiểu biếtyêu thương. Nhờ vậy, cậu bé sau này lớn khôn sẽ biết sống tốt hơn để không làm người khác phiền muộn, khổ đau, mà có sự thương yêu, sẻ chia và nâng đỡ.

 Để chỉ cho con mình có thêm hiểu biết chân chính và sâu sắc về đạo lý nhân quả, người mẹ giải thích cho con hiểu thêm, “con à, đó là định luật vay trả công bằng trong cuộc sống của chúng ta. Con cho ai điều gì, con sẽ nhận được điều đó. Ai làm lành thì được hưởng phước, ai gieo gió thì gặt quả, ai làm ác thì chịu khổ đau, nhân quả rất công bằng và không biết thiên vị một ai. Khi ta đã gieo nhân, dù trăm kiếp, ngàn đời vẫn không mất, Khi hội đủ nhân duyên, quả báo hoàn tự hiện. Con à, nếu con biết sống yêu thương và san sẻ với mọi người, thì mọi người cũng sẽ biết sống yêu thươngan ủi con trở lại. Nếu con thù ghét ai thì người cũng thù ghét con trở lại; và cứ như thế, ân oán, hận thù, vay trả không có ngày thôi dứt. Vậy con phải biết khôn ngoan sáng suốt, chọn lựa nhân nào dẫn đến an vui, hạnh phúcứng dụng, hành trì; nhân nào dẫn đến sa đọa khổ đau thì chúng ta dứt khoát không làm”.

 Thương và ghét là hai điều kiện làm cho con người khổ đau hay hạnh phúc, thương quá cũng khổ, ghét quá càng khổ hơn. Ta muốn được người thương thì ta phải biết thương người. Người dễ thương là người lúc nào cũng ngọt ngào, êm dịu, nhẹ nhàng và sống khiêm tốn trước mọi người. Trong mối quan hệ tình yêu, ta thương yêu người ấy vì người ấy biết lo lắng, thương tưởng đến mình.

 Đúng ra ta rất khó thương một người chưa từng thương mình, có khi họ thù ghét mình và đã làm cho mình đau khổ. Thương yêubản chất của con người, nhưng đa số chỉ thương yêu trong sự ích kỷ, hẹp hòi và có điều kiện, nên không bao giờ có lòng khoan dung, độ lượng, cảm thôngtha thứ. Chính vì sự thương yêu hẹp hòi đó mà dẫn đến ghen tuông, ganh ghét mà làm hại lẫn nhau.

 Sự thương yêu mà không cần đền đáp lại chỉ có nơi bậc cha mẹ, hay các vị tu hành chân chính, đạt đến trình độ không còn thấy ta, người, chúng sinh. Sự thương yêu ấy không còn hơi hướm của lòng vị kỷ, nên lúc nào cũng đem lại niềm an lạc, hạnh phúc đến với tất cả mọi người bằng trái tim hiểu biết.

 Tình thương yêu chân thật được hiến tặng bởi trái tim hiểu biết, nên không phải là thái độ lăng xăng của những kẻ lấy vải thưa che mắt Thánh. Nếu ta không biết mở lòng để bao dungđộ lượng, thì ít ra mình cũng có chút tình thương mà không cần sự đền đáp lại. Đó mới chính là tình yêu thương chân thật.

 Trong cuộc sống, khi con người không có tình yêu thương chân thật với nhau, mà chỉ sống trong căm ghét, hận thù, thì thế gian này sẽ là bãi chiến trường đẫm máu, vì ai cũng muốn tranh danh, đoạt lợi, mà tìm cách hủy diệt lẫn nhau.

 Thật ra, sống để yêu thươnghiểu biết và đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau mới là tình người trong cuộc sống. Vậy chúng ta hãy theo lời Phật dạy mà sống biết yêu thương, kính trên nhường dưới, vui vẻ, thuận thảo với nhau, quý kính, tôn trọng nhau.

 Trong cuộc sống, sự thất bại trong giao dịch làm ăn có thể làm con người ta dễ buồn phiền, chán nản, nhiều khi dẫn đến cô đơn, buồn tủi, tuyệt vọng. Bởi trong hoàn cảnh đó, họ mất hết sự yêu thương từ gia đình, người thân, bạn bè và xã hội, nên họ cảm thấy đau thương, buồn tủi, mà dễ dàng sa ngã vào vòng tội lỗi.

 Tình yêu thương chân thành luôn đem đến niềm an vui, hạnh phúc và sẻ chia, nâng đỡ sẽ làm vơi bớt nỗi đau bất hạnh. Làm người ai cũng có thể vướng vào bất hạnh, khổ đau, nhưng họ sẽ bớt đau thương, buồn tủi, bớt cô đơn, tuyệt vọng khi bên cạnh họ vẫn có người san sẻ và an ủi. Nhờ vậy, họ có thêm ý chínghị lực để vượt qua nghịch cảnh cuộc đời mà vươn lên làm mới lại chính mình.

 Nếu ta không có tình thương chân thật thì không thể giúp họ thoát ra vũng bùn đau khổ, nhưng ít ra mình phải có chút tấm lòng động viên, an ủi, sẻ chia, để họ có thêm niềm tin mà từng bước vượt qua cạm bẫy cuộc đời.

 Nhưng trớ trêu thay, khi ta yêu thương mà chịu sự chia lìa, ta sẽ buồn, sẽ khóc, sẽ thở than vì người đó lo cho ta quá nhiều. Người đó giờ không còn nữa, vậy ai sẽ lo cho mình đây? Chính vì thế mà nhiều người cảm thấy lạc loài, chơi vơi, vì mất đi phần nương tựa vất chất lẫn tinh thần, nên tiếc nuối, nhớ thương mà sinh ra buồn khổ.

 Đi ngược lại với thương yêu là sự thù hằn, ghét bỏ. Không có gì đau khổ bằng thù ghét mà gặp nhau hoài. Thương và ghét là hai vế đối nghịch nhau, đã thương thì không ghét, đã ghét thì không thương; nhưng vì ta hay ích kỷ, hẹp hòi, nên khi thương không được thì sinh ra thù hằn, ghét bỏ, và từ sự ganh ghét đó mà mình có thể hãm hại người kia bằng mọi cách. 

 Thù ghét sẽ làm cho ta xấu xí, khổ đau hơn, vì tâm niệm ích kỷ, oán giận, hờn mát trong lòng, nên lúc nào cũng mong muốn người ấy bị hại, bị khổ, bị mất mát, bị đau thương, thậm chí còn muốn người đó mau chết đi càng sớm càng tốt.

 Khi ta thù ghét ai, trước tiên ta khổ trước, vì thái độ bực tức không bằng lòng với hiện tại. Người kia chưa khổ, nhưng ta đã tự tàn phá sắc đẹp của mình, thậm chí có khi ta không giằng được cơn nóng giận, nên đánh đập, hành hạ người thân, vì không biết cảm thôngtha thứ. Ta cứ muốn người kia như bản sao của mình, khác đi một chút thì mình không chịu, mình bám víu, chấp trước, thậm chí nhiều khi mình còn ngoan cố, ép buộc người kia phải làm theo.

 Ta bây giờ đâu phải như đứa trẻ khi còn tấm bé, ta đang lớn khôn và trưởng thành, nên khi mất mát hay bị tổn thất vấn đề nào đó, ta phải biết bình tĩnh để suy xét, nhận định. Nhờ vậy, mình không bị mê mờ bởi thói quen ích kỷ, hẹp hòi mà sinh ra thù ghét.

 Thế giới con người do không có tình thương chân thật, nên lúc nào cũng oán giận, thù hằn, ghét bỏ nhau mà sinh ra chiến tranh, binh đao, tàn sát, giết hại lẫn nhau không thương tiếc. Có khi ta nhân danh đấng thần linh thượng đế để trừng phạt thiên hạ, tạo ra biết bao nỗi khổ, niềm đau,làm tổn hại cho nhau.

 Vì ta thương yêu trong ích kỷ, hẹp hòi do không có hiểu biết, nên mình dễ dàng hành hạ, đánh đập người thân khi không làm chủ được cơn sân hận. Ai có tâm niệm thù ghét như thế sẽ không bao giờ tìm được sự an lạc nội tâm, vì trong lòng lúc nào cũng chất chứa bao phiền muộn, đau khổ.

 Khi ta thương yêu, quý trọng lẫn nhau một cách chân tình, tình thương đó có sự bù đắp lâu dài, nên mình tìm cách bảo vệgìn giữ chúng, đến khi cảm thấy bị người phụ bạc, ruồng bỏ, tìm đến người bạn khác, mình cảm thấy bơ vơ, lạc lỏng giữa chợ đời yêu thương, nên tiếc nuối, khóc lóc, hờn giậncuối cùng dẫn đến thù hằn, ghét bỏ.

 Một khi ai đã ôm cảm xúc đó vào lòng, thì giống như một lưỡi dao bén đang từ từ cứa vào thân thể, làm ta thất vọng, đau khổ đến tột cùng. Ta không còn sáng suốt nữa mà điên cuồng trong vô vọng. Nếu đã dùng hết cách mà không chuyển hóa được cảm xúc thù ghét, ta phải biết rằng, mình đang rơi vào hố sâu của ngục tù tội lỗi.

 Ai dại gì phải chịu như thế trong khi ta có trái tim biết yêu thương, hiểu biết, trái tim tha thứ, biết cảm thông. Ta chỉ nhớ, biết mình như thế thì bao nhiêu cảm xúc oán giận, thù hằn, ghét bỏ không có chỗ ẩn núp. Như ta đã biết, mình là chủ nhân của bao điều họa phúc, mình có trái tim hoàn hảo và đẹp nhất, tại sao phải tự trói buộc lấy nhautâm niệm thù ghét đó, để làm cho gia đình, người thân, bè bạn không có cơ hội gần gũi, sống yêu thương nhau.

 Người mẹ đó đã thật sự có tình thương chân thật, nên đã chỉ cho cậu bé hiểu được nhân nào quả nấy, để sau này lớn khôn trưởng thành, cậu biết chọn cho mình một hướng đi trong sáng bằng trái tim yêu thương, hiểu biết.

 Ai nắm được chiếc chìa khóa của sự yêu thương và ghét bỏ nhờ biết tin sâu nhân quả, tin chính mình là chủ nhân của bao điều họa phúc, sống thành thật, biết sẻ chia và quý kính, tôn trọng lẫn nhau bằng tình người trong cuộc sống, thì thế gian này sẽ là thiên đường của hạnh phúc.

TÂM BIẾT LẮNG NGHE 

 Bồ Tát Quán Thế Âm trong Phật giáo được mọi người tôn vinh và tán thán với công hạnh chia vui, sớt khổ, nhờ giữ giới, từ bi và nhẫn chịu mọi oan gia bất hạnh, nhằm giúp chúng sinh được bình yên, hạnh phúc. Bồ tát tu hạnh lắng nghe và sẵn sàng san sẻ, nâng đỡ, không phân biệt người thân hay kẻ thù, làm vơi bớt nỗi đau bất hạnh của người khác. Chúng ta tu theo hạnh Quán Thế Âm sẽ chữa lành bệnh cho mình và cứu chữa được nhiều người khác.

 Đa số chúng ta hay thích nói mà không không thích nghe người khác nói, nên mới có sự tranh chấp, cãi vả, dẫn đến sống với nhau mà không được hòa hợp. Ta thích nói nhiều hơn và bắt ai cũng nghe theo ý mình, thậm chí ai không nghe thì mình bắt họ phải nghe, nếu không nghe, mình sẽ hăm dọatìm cách làm hại.

 Bồ Tát Quán Thế Âm nhờ tu hạnh chia sẻ và lắng nghe, nên làm lợi lạc cho vô số chúng sinh. Bồ Tát biết nghe tâm sự của người khác để hiểu rõ hoàn cảnh, tâm tư, mà biết rõ nghiệp của họ để tìm cách giúp đỡ và sẻ chia.

 Trên bước đường tu của chúng ta, hạnh lắng nghe rất quan trọng và cần thiết. Nếu ta không biết mở rộng tấm lòng từ bi, thương xót nỗi khổ, niềm đau của người khác, thì làm sao mình có thể gần gũi mà sẻ chia hay nâng đỡ họ.

 Cuộc sống hiện tại có quá nhiều áp lực, công việc bộn bề với những điều không được hài lòng, vừa ý, nên ta dễ dàng mất bình tĩnh mà không làm chủ được bản thân, nhất là khi mình bị những mất mát, đau thương bất ngờ về vật chất lẫn tinh thần.

 Trong những lúc như vậy, tâm ta rối bời, hoảng loạn, mất sự định tĩnh, mình luôn mơ ước và khát khao có một người bên cạnh để sẻ chia, nâng đỡ. Dù người đó chẳng giúp được gì nhiều, nhưng có họ bên cạnh, ta bớt thêm lo lắng, phiền muộn, khổ đau.

 Chỉ cần một thái độ lắng nghe chân thành cũng làm cho ta vơi bớt nỗi đau bất hạnh, nên được lắng nghe và biết chia sẻ nỗi đau của người khác là nhu cầu cần thiết không thể thiếu trong đời sống hằng ngày. Nhất là trong thời buổi kinh tế thị trường, sự cạnh tranh quyết liệt, chúng ta phải sống vội vã, tất bật mà không có thời gian ngơi nghỉ, làm việc gì cũng phải tính toán, so đo; đôi khi, ta phải dùng nhiều thủ đoạn để triệt tiêu và hủy diệt lẫn nhau.

 Và cứ như thế, có kẻ thắng thì phải có người thua. Kẻ thắng thì tự hào, hãnh diện, nên sinh tâm cống cao ngã mạn, khinh khi người. Người thua thì sinh tâm oán giận, thù hằn, nên tìm cách trả đũa. Chính vì vậy, dòng đời lúc nào cũng mang theo hai tâm niệm khổ đau và hạnh phúc. Kẻ mất thì sinh phiền muộn, khổ đau, tức tối, thù hằn, nên lúc nào cũng oán hận người khác, cuộc sống do đó luôn phải vay trả, trả vay, không có ngày thôi dứt.

 Ta đang sống với những người thân yêu nhất, mà đôi khi cũng sợ phải nghe nhiều vì những lời chát chúa, hằn học, nhai đi nhai lại mỗi ngày. Áp lực nơi công sở càng làm cho ta thêm mệt mỏi, chán chường. Vậy mà mỗi ngày, mình còn phải nghe những âm thanh mong cầu, ham muốn của người thân quá đáng.

 Có những người lớn tuổi không được sự lắng nghe của con cháu, nên phải mượn bàn trà và thú chơi cây cảnh để tâm sự, giải bày. Nhiều người vì không biết buông xả, cứ chấp trước vào sự hiểu biết của mình mà bắt mọi người phải làm theo.

 Nhưng ta phải biết suy xét lại, thế hệ của mình và con cháu có việc làmhiểu biết khác nhau, thử hỏi làm sao có sự nhất quán về vật chất lẫn tinh thần cho được. Chỉ có ta biết cảm thôngtha thứchấp nhận sống với nhau bằng sự yêu thương chân thành mà thôi.

 Nhiều khi ta đang sống với người thân yêu mà mình lại không bằng lòng với những chuyện nho nhỏ đâu đâu, nên đành lòng ôm vào nỗi khổ, niềm đau, tự mình sống trong cô đơn, tuyệt vọng.

 Hạnh lắng nghe luôn giúp mọi người vơi bớt nỗi đau bất hạnh, để vươn lên vượt qua dòng đời ngang trái. Như vị thầy thuốc trước khi bắt mạch, kê toa phải luôn lắng nghe lời trình bày và quan sát sắc diện của bệnh nhân. Nhờ biết lắng nghe như vậy, sau khi bắt mạch, vị thầy một mặt trị thân bệnh và đồng thời an ủi người bệnh để trị tâm bệnh, tránh nỗi lo lắng, sợ hãi của bệnh nhân.

 Chữ lắng nghe ở đây có ý nghĩa rất hay, vì ta lắng lặng tâm tư nên mình lắng lòng xuống trong yên tĩnh, không dao động, nhờ vậy mà tất cả mọi tâm tư lăng xăng, vội vã, bức xúc không làm mình phải mất bình tĩnh. Chính vì thế, khi lắng nghe như vậy, ta mới thấu suốt được nguồn tâm của người mà giúp họ an tâm, bình thản trước mọi biến động của cuộc đời.

 Chúng ta lắng nghe, tức là sự yên lặng sâu sắc của trái tim hiểu biếtBồ Tát Quán Thế Âm đã trao cho mình. Ta lắng lòng để nghe, hay nghe hết lòng, nghe thật sâu vào từng nhịp thở của con tim. Khi người có thiện chí biết lắng nghe nhờ giữ giới, từ bi và biết nhường nhịn, thì những giận hờn, bực tức, lo ra không thể phát sinh, nhờ vậy ta nghe thật sâu tận đáy lòng của mình.

 Ta hãy tập lắng nghe bằng chính con tim của mình nhờ biết giữ giới không giết hại, trộm cướp, lường gạt của người, và dùng những chất say sưa, độc hại như xì ke, ma túy…. Nhờ không giết hại nên ta mới mở rộng tấm lòng từ bi rộng lớn, mà chia sẻ và nâng đỡ người khác. Ta không đưa vào cơ thể những chất độc hại, nên mình sáng suốt, tỉnh táo, mà làm những việc có ích cho mình và người bằng trái tim yêu thương, hiểu biết.

 Ta học và tu theo hạnh lắng nghe, nếu không biết giữ ba điều trên thì không bao giờ thành tựu được trọn vẹn, vì đó là nhịp cầu nối kết yêu thương, sẻ chia cuộc sống mà ai cũng phải biết, để mình và người sống bình yên, hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại.

 Cho nên, khi lắng nghe, ta phải hiểu thấu chính mình, thì mới nghe được trong sâu thẳm con tim, mà biết cách làm vơi bớt nỗi đau, để ta và người có sự cảm thông và càng yêu thương nhau.

 Vậy ngay từ bây giờ, ai muốn tu theo hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm, để được lắng nghe thật sâu bằng trái tim yêu thương và hiểu biết? Chúng ta hãy chiêm nghiệm hình ảnh Bồ Tát mà ta đang tôn thờ, kính trọng. Tay trái của Bồ Tát cầm bình thanh tịnh, trong đó chứa nước cam lộ, nước này được rưới tới đâu thì mát mẻ tới đó, tượng trưng cho tấm lòng từ bi rộng lớn. Tay phải cầm cành dương liễu, tượng trưng cho sự bình yên, hạnh phúc. Mỗi khi nghe những lời nói hằn học, chát chúa, thô lỗ, chửi mắng, đánh đập phát ra, Bồ Tát nhẹ nhàng chuyển hóa bằng cách an nhẫn với trái tim thương yêu, hiểu biết, nhờ lắng nghe hết lòng. Cành dương liễu mềm dẻo, nên dù có sóng to gió lớn cũng không thể làm gãy được. Nhờ vậy, ta và người cùng vui sống hòa hợp với nhau mà kết nối yêu thương bằng tất cả tấm lòng.

 Lắng nghe như một nhịp cầu cảm thông, giúp cho ta định tĩnh, sáng suốt, nên phát sinh trí tuệmở rộng lòng từ san sẻ nỗi khổ, niềm đau, để mỗi người chúng ta cùng nhau vươn lên, vượt qua nghịch cảnh cuộc đời.

 Nếu ta muốn tu theo hạnh lắng nghe của Bồ Tát Quán Thế Âm, thì trước hết không nên nghe nhiều các chuyện tạp của thế gian, nhất là phim ảnh, sách báo đồi trụy. Vì thấy, nghe nhiều như vậy, ta khó lòng quay lại chính mình mà lắng dịu tâm tư. Ta chỉ đến chùa nghe phápcố gắng học hỏi lời Phật dạy bằng sự quán chiếu và suy xét.

 Do đó, khi ta đi chùa tụng kinh, nghe pháp vì sự hiếu kỳ, bởi những lời đồn đãi linh ứng, nên mình đâu có thật sự lắng nghe. Khi nghe lời Phật dạy với tâm lắng nghe, nhờ vậy tâm mình lắng trong, nên sáng suốt tiếp nhận những điều hay lẽ phải, nhờ vậy mình mới biết cách chữa lành bệnh cho bản thân và cứu chữa bệnh cho người khác.

 Tóm lại, chúng ta muốn tu theo hạnh từ bitrí tuệ thì chỉ cần im lặng lắng nghe, đừng vội can thiệp hay phán xét một điều gì, hãy để mọi thứ sâu lắng trong từng trái tim và thớ thịt của mình.

 Ta muốn làm chủ được bản thân nhờ tu hạnh lắng nghe thì phải giữ giới trong sạch, sau đó mở rộng tấm lòng từ bi mà chia vui, sớt khổ, không oán giận, ghét bỏ một ai dù đó là người thù, trong tâm mình chỉ có người với người chưa thông cảm với nhau mà thôi.

 Ta lắng nghe từ trái tim hiểu biết, nên những người mình thân yêu nhất, dù thời gian đã trôi qua lặng lẽ, mình vẫn nghe mọi người sống an vui, hạnh phúc nhờ biết yêu thương và lắng nghe hết lòng.

TÂM BIẾT BUÔNG XẢ

 Buông xả là một nghệ thuật làm cho thân tâm được bình an, hạnh phúc. Tiền tài, sắc đẹp, quyền cao chức trọng, và đầy đủ các tiện nghi vật chất khác, nếu không biết đủ sẽ là nhân trói buộc ta vào vòng si mê, tội lỗi.

 Thời Phật còn tại thế, các vị tỳ kheo chỉ ba y một bát, không cầm nắm thêm hay giữ một điều gì, nên người tu chứng quả vô số, ngàn người tu, ngàn người chứng.

 Một người chủ có một trang trại nuôi bò rất lớn, một hôm ông hớt hãi chạy tìm dáo dát vì có một số bò vừa bị thất lạc. Lão ta vừa đi, vừa chạy với vẻ thểu não mà hỏi quý thầy rằng, “này các ông thầy tu ơi, hồi nãy đến giờ có thấy đàn bò của tôi gần 50 con chạy ngang qua đây không?”

 Đức Phật nhẹ nhàng êm ái trả lời, “thưa ông, từ trưa đến giờ chúng tôi không thấy con bò nào chạy ngang qua đây cả. Ông thử chạy qua phía đồi bên kia, xem coi có chúng ăn cỏ ở đấy không.”

 Ông lão nghe nói vậy vẻ mặt thêm buồn hiu, tức tối dậm chân kêu khóc gào thét lên, “trời ơi, cả sự nghiệp của tôi có bao nhiêu đó thôi, bây giờ đã tiêu tan hết rồi”. Ông lão vừa chạy, vừa khóc, trông tội nghiệp làm sao.

 Đợi đến khi ông lão đi xa, Phật mới quay sang các vị đệ tử mà nói rằng, “quý thầy rất là có phước, nên không phải mất thời gian, bận tâm lo lắng về cuộc sống được mất, hơn thua, thành bại, do đó đâu có con bò nào để mất”.

 Ngày xưa, khi Phật còn là một hoàng thái tử có cả cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, cùng thân dân thiên hạ. Ngài đã dám từ bỏ tất cả, nên được tất cả. Nhờ vậy, ngày nay chúng ta được thừa hưởng cả một gia tài tâm linh mà không cần phải mệt nhọc tìm kiếm, tốn hao gì nhiều, đó là bình yên và hạnh phúc.

 Trong cuộc sống bề bộn với bao nỗi lo toan để duy trì mạng sống, con người phải cật lực làm việc để có miếng ăn, thức uống. Nhờ vậy, ta khỏi phải nhọc nhằn vất vả lo lắng chén cơm, manh áo, mà có cơ hội để học và tu được đến nơi tới chốn.

 Bởi ta đâu có gì để buông, để xả, ấy thế mà càng tu ta càng dính mắc, vì sự nghiệp chùa to Phật lớn, lợi dưỡng và sự cung kính. Ta khuyên bảo và chỉ dạy mọi người hãy biết buông xả, nhưng ta lại chất chứa nhiều hơn, có ai góp ý “sao huynh tu mà càng ngày càng tăng trưởng thêm tham-sân-si?” thì lại nóng, “ông im đi, ta vì phương tiện độ khắp chúng sinh, bởi họ còn mê, nên ta mới khuyên như vậy, còn ta đâu còn gì để mê nữa”, nhưng khi gặp việc, mới chưa được nửa gió bát phong thôi thì đã bị cuốn bay mất tiêu rồi.

 Cho nên, trong kinh Phật đã chỉ dạy rất rõ ràng và tường tận, “người tu phải xa lìa ba thứ cung kính, lợi dưỡng, và ta chưa chứng mà nói rằng mình tu chứng. Ba thứ này sẽ làm hại đời tu của chúng ta”. Ngày xưa, Phật thấy sự tác hại của việc chứa chấp tài sản. Đó là nhân dẫn đến tham lam, ích kỷ, hẹp hòi, không rộng lượng, làm cho tâm mình bị vẫn đục theo thời gian.

 Phật trước kia buông tất cả để được tất cả, còn ta từ không có gì mà lại có tất cả. Nếu ta có phước báu, mình làm việc thiện nhằm mục đích san sẻ bằng trái tim yêu thươnghiểu biết, thì việc có phước ấy sẽ được lợi cho chúng sinh, nhưng mình lúc nào cũng có ông luật sư tâm bào chữa, nên mình tuy có phước mà cũng như không phước.

 Đức Phật dạy qua bài kinh bị mất bò của ông lão, ta có diễm phúc hơn nên sống trong môi trường thuận lợi là không có gì để mất mà phát triển, mở mang gia tài tâm linh. Một môi trường có bậc minh sư chân chính, có thầy lành bạn tốt, có những người biết buông xả thật sự những được, mất, khen, chê, cung kínhlợi dưỡng. Nhờ vậy, ta bình yên, hạnh phúc để sống biết dung hòa đạo và đời.

 Ta bây giờ khỏi phải nhọc nhằn lao khổ mà kiếm miếng ăn, mọi cái, mọi thứ đã có đàn na tín thí lo cho hết rồi, từ ăn uống, thuốc men, y phục, tiền bạc. Ta chỉ còn một việc duy nhất là học và tu, vừa học, vừa tu, vừa hướng dẫn để nhiều người cùng tu theo.

 Nên tu nhà, tu chợ sẽ khó hơn tu chùa rất nhiều. Bởi ngoài việc lo tròn nhiệm vụ đối với người thân và gia đình, người tại gia còn phải đóng góp cho xã hội, và cuối cùng là có trách nhiệm hộ trì Tam Bảo. Quý thầy cô chỉ lo một việc học và tu thôi, nên dễ dàng buông xả, do đó biết chia vui sớt khổ trên tin thần vô ngã, vị tha.

 Ngày xưa, sự hưởng thụ tiện nghi vật chất không nhiều như thời nay nên dễ tu, vì ta đâu có gì để dính mắc. Quý thầy phải khiêm tốn thấp mình để xin ăn, nhờ vậy mà dễ dàng buông xả vì không có gì để chất chứa. Do đó, muôn người tu, muôn người chứng là vậy.

 Còn ta bây giờ thì sao? Chùa to Phật lớn được xây dựng kiên cố với nhiều sắc thái, kiến trúc đẹp mắt, nên so với ngày xưa mình khó tu hơn nhiều. Chính vì vậy, muôn người tu chỉ được vài người chứng là cùng, nhưng mình không chịu tu thì càng tệ hại hơn. Dấn thân tu học để đạt được bình yên hạnh phúcgiác ngộ, giải thoát, nhằm đem lại lợi ích cho nhiều người là một việc làm khó khăn, đòi hỏi ta phải biết kiên trì, bền bỉ trong việc tu học, mới có đủ khả năng vượt qua cạm bẫy cuộc đời.

 Trong suốt con đường tu tập để vượt qua các chướng ngại, giống như khúc gỗ trôi giạt trên biển, không dính mắc chỗ này, chỗ kia. Ta muốn không bị si mê, tà kiến, tham ái nhận chìm, không bị người thế gian chi phối, thì người tu phải dùng cây cung thiền định và cây kiếm trí tuệ để vượt qua mọi trở ngại mà đến bờ giác ngộ, giải thoát.

 Người tu nên buông xả tâm dính mắc vào vật chất, còn người cư sĩ tai gia có quyền làm giàu bằng đôi bàn tay và khối óc của mình. Ta chỉ buông xả tâm tham lam, ích kỷ, hẹp hòi, si mê, nóng giận, thù hằn, ghét bỏ, mà quay trở về sống với tâm chân thật, không có ta-người-được mất, nhờ vậy mà mình an lạc, hạnh phúc.

 Hầu như ta vẫn thích bám víu vào vật chất nhiều hơn, những nhu cầu vật chất thông thường ta còn không muốn bỏ, huống chi là các tiện nghi vật chất quan trọng khác; thử hôm nào ban tri nhật nấu ăn dở một chút là mình đã cảm thấy không hài lòng; hoặc ta đã quen ngồi xe hơi rồi, hôm nào phải đi xe Honda hay xe buýt thì cảm thấy khó chịu hơn. Đó chỉ là những thứ đơn giản thôi mà ta còn chưa buông xả được, huống hồ khi đi sâu vào đời sống tâm linh.

 Người tu thời nay khó lòng buông xả, vì nhu cầu tiện nghi vật chất quá hưng thịnh. Một phần do Phật tử quá quý trọngcung kính cúng dường quá nhiều, nên dễ làm cho quý thầy xao lãng việc tu học của mình.

 Rồi nạn tranh nhau thụ hưởng vật chất vì sự cung kính, lợi dưỡng, nên càng ngày, việc tu học của chúng ta giảm sút rõ rệt. Cho nên, việc buông xả để tâm không dính mắc vào vật chất đã khó, huống chi chuyển hóa những thói quen thâm căn cố đế hay tập khí nhiều đời sẽ lại càng khó hơn.

 Một khi ta đã thích tiện nghi vật chất quá nhiều, thì chí xuất trần thượng sĩ của mình bị chựng lại, mình không còn đủ sức nhìn sâu vào nội tâm để chuyển hóa tham lam, sân giận, si mê. Muốn ít biết đủ là phương pháp nhiệm mầu nhằm giúp ta trị liệu các bệnh tật tham lam, ích kỷ, hẹp hòi. Dù ta có nhiều phước báu, nhưng không phải để thụ hưởng, mà chỉ để sẻ chia hay nâng đỡ mọi người khi cần thiết mà thôi.

 Từ ngàn xưa cho đến nay, biết bao tu sĩ đã gục ngã chỉ vì không đủ khả năng vượt qua sự hấp dẫn của vật chất. Phật dạy ba việc thường chớ đủ, một là ăn, hai là mặc, ba là ngủ nghỉ, tức thiếu một chút về những nhu cầu này thì ta nhẹ nhàng an nhiênchuyển hóa những nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc.

 Có một điều mầu nhiệm là khi ta càng buông xả thì tâm ta càng an ổn, nhẹ nhàng, bình yên hơn. Nó hoàn toàn ngược lại với thói quen tham lam chất chứa, khiến mình thường lo lắng, bất an, vì sợ bị hao hụt, mất mát, bị người khác cướp đi.

 Thực tế, thế gian này còn rất nhiều người đói tình thương, thiếu thốn về mọi phương diện, ta chỉ cần xả bớt một chút vật chất hay chia sẻ tinh thần, là cơ hội để mình sống yêu thương bằng trái tim hiểu biết, làm mọi người được an vui hơn.

 Khi ta biết buông xả, mình luôn mở rộng tấm lòng để nâng đỡ người khác, làm cho họ được vui là mình đã biết kết nối yêu thương, sẻ chia cuộc sống, làm mọi người an tâm, không lo lắng, sợ hãi, biết quý trọngtôn kính lẫn nhau.

 Cuộc đời này nếu ai cũng khư khư ôm giữ cho riêng mình, không có lòng yêu thương chân thành, biết giúp đỡ, sẻ chia, thì sự sống đâu còn giá trịý nghĩa gì nữa. Có những thứ ta đáng được thụ hưởng, nhưng lại không thụ hưởng; có những thứ ta đáng được khen ngợi nhưng lại không hãnh diện tự hào mà coi thường kẻ khác; mình vẫn luôn khiêm tốn và ý thức rằng, ai cũng có cái hay riêng của họ.

 Nhiều khi, ta đáng được an nhàn, thảnh thơi, nhưng không đành lòng thừa hưởng một mình, mà còn dấn thân chia sẻ, để mọi người cùng vui. Nhờ vậy, ta buông xả được những dây mơ rễ má đang còn tiềm ẩn bên trong, có tính cách tàn phá, hủy hại tâm mình.

 Buông xả các tiện nghi vật chất đã khó, buông xả tâm chất chứa lại càng khó hơn gấp vạn lần. Cho nên, người tu là phải nắm chặt đầu dây, giữ vững lập trường, “thà sống đời đơn giản để trên cầu thành Phật, dưới cứu độ chúng sinh”.

 Để có thể thực hiện được hoài bão và ước mơ cao thượng, ta phải biết buông xả từ những cái nhỏ nhặt nhất. Ta tập theo dõi tâm mình một cách tự nhiên mà không cần phán xét, mình đang tham thì biết tham, chỉ cần biết rõ ràng như vậy.

 Dù ta biết chắc mình vẫn chưa thực sự buông xả hết những tâm xấu ác có tính cách hại người hại vật, nhưng mình vẫn quyết tâm duy trì bền bỉ và không ngừng quán sát nó, ắt sẽ có ngày ta làm chủ được nó hoàn toàn mà không cần trông đợi thời gian.

 Ta có rất nhiều con bò như ông chủ mất bò trên, con bò tham lam, con bò chất chứa, con bò ích kỷ, con bò hẹp hòi, con bò si mê và con bò vô cảm. Khi ta sống với những loài bò này, ta sẽ đồng hóa với loài quỷ đói, dù mình đang có tiền muôn bạc vạn. Dù nhiều tiền của, ta vẫn chất chứa, tìm cách vơ vét thêm mà không giúp gì cho ai, thì mình chẳng khác nào loài quỷ đói, nên phải quyết tâm tu theo lời Phật dạy, nương thầy tổ mà tìm cách để những con bò trở về chỗ ban đầu, là con bò chân thật.

 Khi ta biết từng cảm xúc trong mình, như thế nào thì biết rõ như thế đó, thì những nỗi lo về con bò không còn tái hiện trong ta nữa. Con đường dấn thân của các bậc hiền Thánh tuy làm việc, phục vụ nhưng rất an lạc, thảnh thơi, nhờ biết soi sáng trở lại với tình thương chân thật bằng trái tim hiểu biết.

TÂM BIẾT TÙY HỶ

 Trong thời đại phát triển kinh tế thị trường bề bộn, cuộc sống sau những giây phút đua chen, giành giựt để tìm miếng ăn, thức uống, ta rất cần được nghỉ ngơi và thư giãn. Tùy hỷ là biết vui theo với niềm vui của người khác, ta bày tỏ lòng hân hoan, vui tươi, phấn khởi khi thấy họ thành công hay làm lợi ích cho nhân loại.

 Trong kinh Phật dạy, người biết hoan hỷ vui theo khi thấy người khác gieo trồng phước đức, giúp đỡ sẻ chia người bất hạnh qua cơn khốn khó, người làm phước và người tán thán vui theo đều có công đức bằng nhau.

 Một vị tỳ kheo mới thắc hỏi Phật, “tại sao có chuyện lạ lùng như vậy?” Phật dạy, “người biết bố thí cúng dường, sẻ chia, giúp đỡ sẽ được phước báu giàu có, nhiều tài sản. Người tùy hỷ vui theo sẽ được công đức vì không ganh ghét, tật đố”. Phật đưa ra một ví dụ, “như có một ngọn đèn đang cháy, được mòi cho trăm ngọn đèn khác nhưng vẫn cháy sáng bình thường”.

 Tâm niệm của chúng sinh thường hay tham lam, ganh ghét, tật đố, nên dễ dẫn đến nhiều oan gia trái chủ mà tàn sát, giết hại lẫn nhau. Ta chỉ nên tùy hỷ với những việc làm tốt đẹp, có lợi ích trong hiện tạimai sau. Ta không nên tùy hỷ với những việc làm xấu ác, có tính cách hại người hại vật. Thí dụ như mình thấy một người đang vô cớ giết hại nhiều con ốc, vì chúng bò tràn lan chung quanh nhà. Khi thấy họ giết, ta không đủ can đảm khuyên răn họ thì thôi, chớ nên tán đồng theo. Phật dạy, “người cố ý giết, xúi bảo người khác giết thì tội bằng nhau. Việc hoan hỷ thấy người khác giết cũng có tội, vì tâm hoan hỷ là tâm có cố ý, tội sẽ thành khi ta có tâm cố ý.

 Cho nên, tâm hoan hỷ với việc làm tốt của người khác giúp ta chuyển hóa được thói quen ganh ghét, tật đố, từ ganh ghét sẽ dẫn đến thù hằn, từ thù hằn sẽ sinh tâm giết hại.

 Khi Phật thành đạo, Ngài giáo hóa rộng rãi, nên nhiều người tu theo, hành trìlợi lạc thiết thực. Số người theo Phật bắt đầu đông, nên ngoại đạo bị mất lợi dưỡng, sinh tâm thù hằn, ghét bỏ. Chúng dùng mọi mưu mô xảo quyệt để làm hại Phật không được. Cuối cùng, chúng đánh ván cờ quyết định nhằm tẩy chay Phật luôn, bèn bày mưu cho một cô gái đẹp thường xuyên đến Tịnh xá nghe pháp, để nhiều người biết đến. Một đêm nọ, chúng mướn người giết cô gái, rồi chôn trong Tịnh xá của Phật. Chúng báo cáo lên vua quan việc cô gái bị mất tích, và nhờ mở cuộc điều tra, tìm ra tông tích. Sáng hôm đó, vua quan, ngoại đạo cùng tìm kiếm và họ phát giác cô gái bị giết chôn trong Tịnh xá. Tang chứng vật chứng rõ ràng, mọi người đều bàng hoàng, sững sốt trước một sự thật không thể ngờ được.

 Nhờ ông vua là Phật tử thuần thành, nên ông âm thầm cho người theo dõi, tìm kiếm kẻ hại Phật. Lệnh giới nghiêm được thi hành nơi lầu xanh, bọn chúng đang vui vẻ nhậu nhẹt, vì không ăn chia đồng đều nên có sự tranh cãi dữ dội. Âm mưu đã bị lộ tẩy, chúng khai có người mướn giết cô gái để hại Phật.

 Qua câu chuyện trên, ta rút ra một bài học thiết thực của cuộc đời. Sự không hoan hỷ với người khác sẽ dẫn đến tâm thù hằn, ghét bỏ, và cuối cùng bản án nhân quả đã kết liễu đời mình trước; nhất là cô con gái cuồng đạo phải bị giết trước, rồi những người chủ mưu cũng bị đưa ra ánh sáng từ từ.

 Một điều đặc biệt ta phải khâm phục và quý kính đức Phật là, trước cảnh tượng vu oan giá họa động trời như vậy, Phật vẫn sáng suốt, bình tĩnh, không minh oan, giãi bày, mà tự để cho luật nhân quả tác động, đem lại ánh sáng cho sự thật.

 Cho nên, vui theo với việc làm tốt của người khác, giúp ta mở rộng tấm lòng yêu thương, nhờ vậy tâm được bình yên, hạnh phúc, mà không dấy khởi các tạp niệm xấu ác, do đó không gây tạo tội lỗi.

 Thế gian chúng ta đang sống bây giờ rất nhiều vụ án do ganh ghét, thù hằncon người đành lòng giết hại lẫn nhau không thương tiếc. Ẩn ác, dương thiện hay tán thán công đức, tìm những cái hay, cái tốt, cái đẹp của người để tán dương khen ngợi. Tinh thần ẩn ác, dương thiện không có nghĩa là bao che, giấu diếm với người sai phạm, đó là thói quen của những người mê muội, chấp trước. Thay vì phê bình, chỉ trích quá thẳng thắn, làm đối phương cảm thấy tự ái trước mặt mọi người, nhất là những người có quyền hành, họ lúc nào cũng bảo vệ sĩ diện bản ngã, thì ta chỉ góp ý nhẹ nhàng, kín đáo, tránh để nhiều người biết đến.

 Ta góp ý, giúp đỡ một cách chân thành như vậy thì họ sẽ biết ơn mà không hại ngược lại mình. Bởi tâm phàm phu hay chấp ngã nặng, nên dễ tự ái, có khi phản phé ngược lại, vì không dằn được cơn nóng giận.

 Chúng ta tùy hỷ vui theo, khen ngợi việc làm thiện của họ, là đang học theo hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền. Có một số quan niệm cho rằng, vui theo với việc làm phước của người khác, thì ta cũng được hưởng phước như người bố thí, nghĩ như vậy thì không đúng. Người làm phước được quả nhiều tiền của, người tùy hỷ vui theo được phước không ganh ghét, tật đố, nên không có tâm niệm hại người. Chính thái độ ganh tị, vạch lá tìm sâu là chủ nghĩa cá nhân, là kẻ thù của mọi niềm vui. Tán dương, khen ngợi để khích lệ cho người có thêm tinh thần cầu tiến, là nghệ thuật giúp ta càng thêm gắn bó, sống với nhau bằng tình yêu thương chân thật nhiều hơn.

 Chúng ta không nên chia vui với những việc làm xấu ác, như thấy người giết hại, thấy người say xỉn, thấy người trộm cướp, thấy ngưởi mê tín và còn vô số sự tai hại khác. Bởi khi vui theo với những điều ác, thì mình cũng đã đồng tình với việc làm đó, rồi lâu ngày trở thành thói quen, khiến chính mình trực tiếp làm ác như vậy.

 Cho nên, tùy hỷ với việc làm tốt của người khác giúp ta dần hồi tập thói quen chia sẻ, giúp đỡ, do đó từng bước chuyển hóa thói quen ganh ghét, tị hiềm. Nhờ vậy, mình không làm tổn hại cho ai.

 Có một cô bé ăn mày, nhờ hoan hỷ với việc làm thiện của nhiều người nhân mùa an cư kiết hạ của chư Tăng. Nhờ vậy, cô tự chiêm nghiệm lại kiếp sống nghèo hèn của mình, chắc do nhiều đời không biết làm việc phước thiện nên bây giờ phải chịu ăn xin khổ sở như vậy. Nghĩ như vậy xon, cô phát tín tâm, nguyện trong ngày hôm nay, nếu xin được gì thì đều dành hết để cúng dường chư Tăng. Ngày đó, cô chỉ xin được hai đồng tiền xu, và dùng số tiền đó mua bịch muối, nhờ người nấu ăn trong chùa chia đều cho mọi người.

 Với sự tùy hỷ khi thấy người khác làm thiện, cộng với lòng thành, nên sau này cô được làm Hoàng hậu. Khi được làm Hoàng hậu, cô càng tin sâu nhân quả hơn nữa, nên khuyên nhà vua giúp đỡ hạt giống cho người làm ruộng, cấp vốn cho người trồng trọt hoa màu, giúp đỡ người bất hạnh, xây chùa chiền, mở trường học, khích lệ mọi người tích cực tăng gia sản xuất bằng đôi bàn tay và khối óc, khuyên nhủ người giàu chia sớt, giúp đỡ kẻ nghèo, và khích lệ toàn dân quy hướng Tam Bảo, giữ gìn năm điều đạo đức. Nhờ vậy, từ trên vua quan cho đến thứ dân bần cùng đều sống an vui, hạnh phúc, theo tinh thần chia vui sớt khổ, đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau.

 Hạnh tùy hỷ vui theo việc làm tốt của người khác giúp cho ta ý thức được sự sống là phải nương nhờ lẫn nhau, nên có trách nhiệm, bổn phận yêu thương, đùm bọc, san sẻ cho nhau bằng tình người trong cuộc sống.

 Cô bé ăn mày kia nhờ niệm tùy hỷ vui theo việc làm tốt của người khác mà biết quay về chiêm nghiệm, soi sáng lại chính mình, nên biết rõ nguyên nhân gốc nghèo khổ là không biết bố thí, cúng dường, giúp đỡ, sẻ chia. Từ đó, cô phát khởi tín tâm tin kính Tam Bảo mà hướng về Phật pháp để học đạo hiền Thánh, sẵn sàng vui vẻ giúp đỡ người bất hạnh, khổ đau, hoặc cúng dường người tu hành chân chính với tâm thành kính của mình.

 Nhờ vậy, một thời gian sau, cô đã chuyển được kiếp ăn mày nghèo đói của mình, nhờ một ông quan nhân hậu nhận cô làm con nuôi, cho ăn học, dạy dỗ đàng hoàng; rồi cuối cùng, cô được làm Hoàng hậu với phước báu vô lượng, vô biên, và càng có điều kiện hơn để giúp dân chúng an cư, lạc nghiệp theo tinh thần Phật dạy.

 Ý thức được sự sống của muôn loài là quan trọng và cao quý, nên ta phải biết gieo trồng phước đức, để ổn định đời sống gia đình cho đủ ăn, đủ mặc, ăn ở được dư dã một chút. Nhờ vậy, gia đình biết kính trên nhường dưới, sống hiếu thảo với ông bà cha mẹ, anh chị em thuận thảo, sống vui vẻ với nhau.

TÂM THAM MUỐN QUÁ ĐÁNG

 Tham có nghĩa là tham lam, ích kỷ, nhỏ mọn, làm cái gì cũng muốn đem về cho riêng mình, có của dư thà để mục nát, không dám đem ra giúp đỡ ai hết.

 Có hai loại muốn mà ai cũng có thể bị nó chi phối, là tham muốn và mong muốn. Tham muốn là sao? Là nhất quyết muốn cho bằng được, nếu không được thì bất mãn, tức tối, khó chịu, phiền muộn, giận dỗi phát sinh, tìm cách chiếm đoạt cho bằng được. 

 Ai cũng biết, đã làm người, khi lớn lên cũng cần có tình yêu thương, rồi dẫn đến lập gia đình, và từ đó bắt đầu gánh lấy nhiều trách nhiệm nặng nề. Nếu không có đủ phước báo thì cuộc sống thiếu thốn, khó khăn và chịu nhiều phiền muộn, khổ đau bởi những đau thương, buồn tủi.

 Như chúng ta đã biết, khi có yêu thương thì có luyến ái, muốn bảo vệ cho riêng mình, từ đó phát sinh lòng ham muốn, và nó không giới hạn chỉ có tình yêu thương giữa hai người, mà còn tham muốn nhiều thứ khác nữa.

 Do đó, tham muốn càng nhiều thì càng phát sinh các thứ phiền não, vì tham muốn mà không được như ý thì sẽ sinh buồn khổ, nếu được thì tham càng thêm tham, nếu tham không được thì sinh ra tức tối, giận hờn, nóng giận, rồi tìm cách trả thù và có thể giết hại lẫn nhau.

 Ít ai trong cuộc đời này mà không tham muốn. Có sự sống là có tham muốn, nhưng tham muốn nhiều hay ít là tùy theo sở thích của mỗi người mà thôi. Có người ham sắc đẹp, có người ham tiền tài, có người ham danh vọng và có nhiều người tham đủ thứ hết, cái gì cũng muốn.

 Có hai vợ chồng già không có con, sống nghề đánh cá, ở một túp lều đơn sơ, mộc mạc và nuôi một chú heo con. Bà vợ ở nhà may vá lưới và lo công việc trong nhà. Hôm đó, gần hơn một buổi mà chỉ có chú cá vàng vào lưới; nhưng lạ thay, con cá ấy lại biết nói tiếng người, nó nài nỉ, van xin khiến ông lão hiền lành động lòng thương xót nên thả cá đi. Cá vàng mừng quá, cám ơn ông lão rối rít và từ biệt bơi đi.

 Ngày hôm đó, ông lão về nhà chẳng có con cá nào, và ông nói thiệt với bà vợ, “trong lưới chỉ có con cá vàng duy nhất, nhưng nó xin tôi tha mạng và hứa sau này có dịp nó sẽ trả ơn tôi”.

 Bà vợ nghe nói vậy liền động lòng tham muốn, nên tức tối mắng cho ông lão một trận ra hồn, rồi bắt ông phải ra chỗ đánh cá, đòi con cá vàng ấy bù cho cái máng nuôi heo và thức ăn, thức uống trong ngày hôm nay. Ông lão hiền lành nghe lời vợ chẳng dám cãi lại, nên một mình thui thủi đi. Ra tới nơi, ông ngồi bên bờ sông mà than thở với cá vàng như vậy, cá ta nghe được liền giúp ông toại nguyện như ý muốn.

 Lần đầu tiên, hai vợ chồng già chứng kiến cảnh tượng cái máng mới thật đẹp và chứa rất nhiều thức ăn. Từ khi có điều mầu nhiệm đó, bà vợ già sinh tâm khởi lòng tham đắm, muốn được nhiều thứ khác hơn nữa.

 Bà ta bảo chồng, “nhà mình chỉ có túp lều xiêu vẹo dột nát, sao ông không đi xin con cá giúp ta có được căn nhà khang trang, đẹp đẽ. Nói xong, bà ta la lối, chửi mắng um sùm, rồi bảo ông nhanh chân đi ra chỗ cá mà xin cho được căn nhà, nếu không thì ông hãy đi luôn đi, đừng về đây nữa. Ông già lần ra đến nơi mới ngồi than thở với cá vàng như vậy, và điều mầu nhiệm kế tiếp căn xảy ra, ba gian nhà hiện lên đồ sộ đúng như bà vợ mong muốn.

 Thế là hai vợ chồng già được sống trong căn nhà khang trang với đầy đủ các tiện nghi cần thiết, không thiếu một thứ gì. Bà vợ mừng quá nói, “đã gần hơn 60 năm, chúng ta mới thật sự sống hạnh phúc trong căn nhà đầy đủ tiện nghisang trọng thế này”.

 Nhưng bà vợ vẫn không hài lòng với những gì mình đang có trong hiện tại. Đúng là lòng tham con người như giếng sâu không đáy, tuy hiện giờ đang sống trong nhà cao cửa rộng, được voi đòi tiên, bà lão được nước làm tới, muốn có người giúp việc để bà sống có kẻ hầu, người hạ, bù lại lâu nay làm lụng vất vả.

 Ước nguyện và mong muốn đó của bà cũng được đáp ứng đầy đủ. Thế là từ rày sắp tới, bà khỏi phải nấu nướng, giặt giũ, quét dọn, làm việc nữa, mọi cái đã có người giúp việc lo hết rồi.

 Nhưng tưởng tới đây bà biết bằng lòng với hiện tại, mà cố gắng gieo trồng phước đức, để nhân quả tốt phát triển tiếp tục. Lòng tham không đáy đã khiến con người rơi vào hố sâu của tội lỗi mà không có ngày ra khỏi. Người xưa nói, có phước chỉ nên hưởng một nửa hoặc tối đa là bảy phần thôi, còn lại để dành dụm, thủ hậu mai sau và giúp đỡ người khác.

 Khi con người quá nghèo bỗng nhiên trúng số độc đắc, từ nhỏ đến giờ chưa từng có số tiền lớn như vậy, họ bắt đầu bị lòng tham sai sử, nên mặc tình vui chơi, hưởng thụ. Cuối cùng, mèo cũng trở lại hoàn mèo, vì phước hết thì nghèo khổ đến. Đó là quy luật nhân quả từ xưa đến nay.

 Cái gì ta ăn uống, tiêu xài thì có lúc hết, còn cái ta san sẻ, giúp đỡ cho người khác mới thật là của ta. Giống như người có tiền gửi vào ngân hàng, tuy thấy không có, nhưng khi cần tiền thì rút ra xài. Chính vì vậy, ăn thì hết, cho thì còn.

 Từ một gia đình nghèo khó với túp lều xiêu vẹo, cuộc sống thiếu thốn, khó khăn đủ thứ mà bây giờ đã có tất cả, nhiều người không biết bằng lòng với hiện tại, vì lòng tham muốn quá mức, nên tiếp tục mua bán, đầu tư một cách bất chính, mà cứ nghĩ rằng vận mệnh ta đã tới thời rồi.

 Nhưng sau một đêm ngủ dậy, mọi thứ đều thay đổi, vật giá leo thang do sự khủng hoảng của nền kinh tế toàn cầu, ngân hàng cắt viện trợ, ngưng cho vay, nhà cửa không ai mua, hàng hóa ế ẩm, người sản xuất nhiều mà không có người tiêu dùngchủ nghĩa tiêu thụ vật chất quá lừng lẫy làm cho nhân loại phải tích cực làm việc nhọc nhằn, không có thời gian ngơi nghỉ.

 Có những cái ta không cần xài cũng phải bị xài, nên nó buộc con người ta phải lệ thuộc vào đó quá nhiều. Cuối cùng, ta bị chủ nghĩa vật chất điều hành, sai sử, mà càng ngày càng quên lãng với đời sống tâm linh; do đó, tình người trong cuộc sống không còn nữa.

 Ba thế hệ ông bà, cha mẹ, con cái sống tách rời nhau do áp lực bề bộn của công việc; và từ đó, con người không có thời gian để quay lại chính mình, mà chuyển hóa những nỗi khổ, niềm đau thành an vu,i hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ.

 Cuộc sống hai vợ chồng già đang êm đềm, hạnh phúc với căn nhà khang trang, có người giúp việc đàng hoàng, rồi ước muốn được làm hoàng hậu-đệ nhất phu nhân khởi lên trong tâm ý bà. Chỉ trong thoáng chốc, một tòa lâu đài tráng lệ nguy nga với vô số cung phi, mỹ nữ xinh đẹp đang đứng hầu hai bên. Một bộ váy mềm mại, lấp lánh với những hạt kim cương quý giá, sáng ngời làm chói cả mắt mọi người. Bây giờ, bà không phải là một mụ già tầm thường, vợ của một ông lão đánh cá nghèo nàn, lạc hậu như xưa nữa. Bà ta liền gọi, “cung nữ đâu, ra hầu quạt cho bà nhanh lên”.

 Bà đang sống trong cung vàng điện ngọc, có kẻ hầu người hạ, có cả thần dân thiên hạ và muốn gì được nấy. Bà đứng trên thềm cao có bệ rồng bên dưới, sai bảo việc này, việc nọ một cách răm rắp, trông thật oai phong, cao quý làm sao.

 Sống với cương vị là hoàng hậu vẫn dưới quyền điều khiển của vua, nên bà không bằng lòng mà muốn làm nữ hoàng cao nhất trong thiên hạ. Ước muốn đó đã trở thành hiện thực, bà bây giờ đang ngồi thưởng thức với các món cao lương mỹ vị, có hàng trăm ngàn gã đàn ông quỳ bên chân, phục vụ hầu hạ.

 Nhưng thời gian dài cũng chán, bà lại muốn làm bá chủ hoàn cầu, cai quản cả trời đất này. Nhưng đến khi giựt mình tỉnh giấc, bà thấy mình đang lạnh cóng vì gió rét mùa đông, đang lạnh đến thấu xương, thấu tủy. Mọi thứ mà bà đang hưởng bây giờ không còn gì nữa, bà đang sống trở lại với kiếp bà lão nghèo bên túp lều xiêu vẹo năm xưa.

 Câu chuyện ngụ ngôn trên nói lên lòng tham của con người như giếng sâu không đáy, được voi đòi tiên, để rồi cuối cùng chuốc lấy quả khổ vào thân mà sống trong si mê, lầm lạc. Kẻ tham lam quá đáng thường chuốc lấy khổ đau, là nhân dẫn đến thiếu thốn, đói khát như loài quỷ đói. Tham lam, bỏn sẻn, ích kỷ, hẹp hòi, không rộng lượng đó là thói quen thâm căn cố đế của chúng ta từ vô thủy kiếp đến nay.

 Người giàu có nhiều tiền của do nhiều đời đã gieo trồng nhân giúp đỡ, sẻ chia nhiều cho nhân loại, nên hiện đời mới được phước báu đầy đủ như thế. Nếu ngay nơi đây, ta dừng nhân bố thí, chỉ một bề tham đắm, vơ vét về cho riêng mình, chất chứa để cho của cải hư hao, mục nát mà không giúp gì được cho ai; trong khi đó, còn biết bao người chịu thiếu thốn, đói tình thương, sống trong hoàn cảnh cơ cực, bần hàn, thì tuy mình có nhiều tiền của, mà dửng dưng, lạnh lùng, vô cảm như vậy, ắt có ngày phước hết, họa đến, cuộc sống khốn khổ, thiếu trước, hụt sau.

 Tiền bạc của cải là vật vô tri, nó có là do chúng ta tạo ra. Con người vì lòng tham không đáy nên ham muốn đủ thứ, muốn được quyền cao chức trọng, muốn được giàu sang, nhiều tài sản, muốn được vợ đẹp, con ngoan, muốn được sống lâu để hưởng thụ, tất cả những cái muốn đó đều được thúc đẩy bởi tâm tham lam quá đáng.

 Chúng ta không biết rằng, muốn được nhiều tài sản, của cải, thì phải biết bố thí, cúng dường, hoặc giúp đỡ, chia sẻ khi gặp người bất hạnh, khó khăn, không được gian tham, trộm cướp, lường gạt của người khác, phải tinh cần, siêng năng làm việc, phải biết tiết kiệm, tiêu xài đúng chỗ. Đó là những nguyên nhân dẫn đến giàu có trong hiện tạimai sau, nhiều người không muốn gieo nhân tốt mà đòi gặt quả tốt, thử hỏi làm sao có thể được.

 Khi mong muốn được thỏa mãn thì lòng tham lại càng thêm tăng trưởng, và sự kiêu căng, tự hào, hãnh diện càng cao, có một muốn mười, có mười muốn trăm, ít ai chịu muốn ít biết đủ, bằng lòng với hiện tại, khi có rồi lại sợ hao hụt, mất mát, nên cố gắng tìm cách cất giữ; do đó, ta luôn sống trong lo âu, sợ hãi.

 Khi ta tham muốn không được như ý thì sinh ra oán giận, thù hằn, rồi phiền não, trách móc đủ thứ, dẫn đến không làm chủ bản thân, nên hành động xấu ác, mắng chửi, đánh đập, tìm cách mưu hại người làm trái ý mình, cuối cùng mang họa vào thân. Thế giới ngày nay sở dĩ lúc nào cũng xảy ra chiến tranh, binh đao tàn sát lẫn nhau là bởi do nhân tham lam, ích kỷ, hẹp hòi, nên sinh tâm trộm cướp lường gạt của người khác, và từ đó bắt đầu giết hại để chiếm đoạt bằng nhiều hình thức

 Phàm là con người, khi sống lúc nào cũng tìm kiếm hạnh phúc, nên họ cho rằng có nhà cao cửa rộng là hạnh phúc, kẻ thì nói có nhiều tiền củahạnh phúc. Nói chung, có sức khỏe, sắc đẹp, tình yêu, sống lâu, giàu có là mơ ước chung của nhiều người.

 Cho nên, tùy theo cách nhìn của mọi người mà cảm nhận hạnh phúc khác nhau, và ngược lại là khổ đau. Dân gian thường nói rằng, nghèo là một cái tội vì sự khó khăn, thiếu thốn của nó. Ai cũng nói nghèo là khổ, mà ít ai nói giàu là khổ.

 Trong khi đó, người giàu có vô số cái khổ, vì sợ nghèo trở lại nên khổ, sợ người khác trộm cướp, sợ bị hao hụt và rất nhiều cái sợ khác do thiên tai, sóng thần, động đất, lũ lụt, hỏa hoạn và con cái bất hiếu, phá sản. Nếu ta phân tích tỉ mỉ thì với người giàu sự khổ của họ có nhiều cái còn khó nói hơn.

 Có hai người bạn cùng ở kế bên nhau, một người thì quá giàu, một người thì quá nghèo. Một hôm, người bạn nghèo mới đến than vãn vì sự nghèo khó của mình để mong bà bạn giàu giúp đỡ.

 Bà bạn nghèo vừa mở miệng thì bị bà bạn giàu gạt ngang ra, “bộ chị tưởng tôi sướng lắm sao. Gia đinh tôi phải làm đầu tắt mặt tối gần 30 năm, tôi phải chắt chiu, nhín ăn, bớt mặt, dành dụm, nên mới có được sự nghiệp như ngày hôm nay. Thú thật với chị, tôi cũng đâu có sung sướng gì, bởi giàu có nên tôi lo sợ đủ thứ, nên ngày làm việc mệt nhọc mà tối không ngủ được yên thân. Tôi lo sợ đủ thứ, sợ bị vua quan tịch thâu, sợ bị trộm cướp, sợ bị hao hụt và mất mát, sợ bị con cái phá của, nói chung là lúc nào cũng lo lắng và sợ hãi”.

 Chị nhà nghèo nghe nói vậy mừng quá, “thôi chị giao hết cho tôi đi, để một mình tôi chịu khổ cho”. Bà nhà giàu nghe nói vậy liền phản đối, “thà tôi chịu khổ thêm một chút cũng không sao, miễn có đầy đủ các thứ tiện nghi vật chất là được rồi”. 

 Nhưng trên thực tế, nghèo có cái khổ của người nghèo, giàu có cái khổ của người giàu. Người nghèo phải khổ vì vất vả, nhọc nhằn, đói khát, thiếu thốn, khó khăn, nợ nần chồng chất. Người giàu phải khổ vì lo lắng mất mát, sợ người khác giành giựt, chiếm đoạt. Người nghèo vì không chấp nhận cái nghèo, oán ghét cái nghèo, muốn được giàu, nên khổ. Nói chung, giàu hay nghèo đều có nỗi khổ riêng, tùy theo sự chấp trước, bám víu của họ nhiều hay ít mà thôi. Người muốn ít biết đủ luôn biết bằng lòng với hiện tại, nên sống hạnh phúc nhiều hơn những người tham muốn quá đáng.

 Trước tiên, ta chiếm đoạt tài nguyên để đem về phục vụ cho mình, gia đình mình, kế đến là đất nước mình, chiếm không được thì tìm cách giết hại lẫn nhau bằng nhiều hình thức, cuối cùng gây thù chuốc oán, làm khổ đau cho nhau không có ngày thôi dứt.

 Bởi ngu si chấp ngã, thấy thân này là thật, nên ta muốn sự vật phải theo ý mình; nhưng vì ta không hiểu, tất cả mọi hiện tượng, sự vật trên thế gian này xảy ra theo luật nhân duyênnhân quả, đủ nhân và duyên thì cho ra kết quả tốt hay xấu, còn thiếu nhân và duyên thì quả không thể trổ được.

 Hiện nay, đa số người nghèo vì khó khăn, túng thiếu, nên mong muốn được giàu có mà ham mua vé số, đánh đề, cờ bạc để mong được giàu, nhưng rốt cuộc nghèo lại càng nghèo thêm, vì giàu đâu chẳng thấy, chỉ thấy nợ nần càng thêm chồng chất, cuối cùng túng quẫn, làm chuyện không tốt, trộm cướp lường gạt của người khác, nên rơi vào cảnh tan nhà nát cửa, mà dẫn đến tù tội.

 Người nghèo thiếu là do nhiều đời trước không biết gieo nhân bố thí cúng dường, hoặc không biết giúp đỡ, chia sẻ khi gặp người thiếu thốn, khó khăn. Chúng ta không gieo nhân giàu có, mà muốn được nhiều tiền của là chuyện không thể có được trong hiện tạimai sau. Nhiều người chưa có đủ niềm tin về nhân quả, nên suốt ngày chỉ cầu khẩn, van xin trời Phật, miếu Bà, miếu Ông, nếu xin không được thì oán giận, trách móc trời đất. 

 Nhưng tại sao có nhiều người đang nghèo khổ túng thiếu, vẫn trúng số độc đắc và trở nên giàu có, vậy có phải là do thần linh, thượng đế ban cho hay không? Theo luật nhân quả, hiện tại ai giàu có là do nhiều đời trước đã từng gieo trồng phước đức như bố thí cúng dường, hoặc giúp đỡ, sẻ chia khi thấy người khác gặp khó khăn, bất hạnh. Nhân tốt hay xấu, khi chúng ta đã gieo thì dù trăm kiếp, nghìn đời vẫn không bao giờ bị mất, khi hội đủ nhân duyên, quả báo hoàn tự hiện. Ai trong hiện đời làm gì cũng được như ý muốn, mà ít khi bị thất bại, là do nhân gieo trồng phước đức, biết giúp đỡ, sẻ chia nhiều cho nhân loại trong quá khứ.

 Đời sống của chúng ta là một dòng luân hồi vô tận, không phải chết là hết, mà nó chỉ thay hình đổi dạng tùy theo nghiệp nhân tốt xấu của mình. Sự thay hình đổi dạng này diễn ra liên tục, chằng chịt từ quá khứ và sẽ tiếp tục tái diễn trong tương lai.

 Chính chúng ta đã gieo trồng phước đức trong nhiều kiếp về trước, nên bây giờ được thừa hưởng mà không cần phải làm lụng nhọc nhằn, vất vả. Nhân quả rất công bằngbình đẳng khi hội đủ nhân duyên, hội đủ điều kiện.

 Biết vậy, người con Phật cần phải cố gắng nhiều hơn nữa trong việc làm phước cúng dường, hoặc mở rộng tấm lòng tùy hỷ, giúp đỡ người khó khăn bất hạnh tùy theo khả năng của mình. Tuy nhiên, có phước thì đời sống vật chất sung túc, đầy đủ, nhưng thiếu tu thì không có trí tuệ, nên phần đông phải chịu nhiều phiền muộn, khổ đau trong cuộc đời.

 Chúng ta khổ vì người thân mất mát mà phải chịu xa lìa, khổ vì không ưa mà phải gặp nhau hoài, khổ vì mong cầu mà không được như ý muốn, và còn rất nhiều nỗi khổ, niềm đau khác nếu ta không biết tu tập, hành trì để chuyển hóa chúng.

 Người Phật tử tại gia muốn quân bình phước-huệ song tu không phải là chuyện đơn giản, dễ dàng, vì còn phải có bổn phận, trách nhiệm đối với gia đình, vuông tròn mọi việc trong xã hội, và còn phải làm hậu cần để hộ trì Tam Bảo. Quả thật là điều rất khó khăn! Chúng ta phải học theo hạnh những vị Bồ Tát, để luôn mở rộng tấm lòng từ bi với tinh thần vô ngã, vị tha, biết bao dungđộ lượng, biết cảm thôngtha thứ, sẵn sàng chia sẻ và nâng đỡ tha nhân, giúp mọi người vượt qua cạm bẫy cuộc đời.

 Thật ra, trong cuộc sống này, không có việc gì mà ta không thể làm được, chỉ sợ mình không đủ ý chí, nghị lực dũng mãnh, tin sâu nhân quả, tin tưởng chính mình, để vươn lên làm mới lại cuộc đời.

 Chúng tôi kính cẩn khuyên nhủ mọi người, hãy nên chín chắn suy tư, quán chiếu, để thấy rõ sự tác hại của tham lam quá đáng, mà cố gắng tu tập, nhằm chuyển hóa khổ đau, bất hạnh thành an vui, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ.

TRÁI TIM THỜI GIAN

 Thời gian bao giờ cũng quý giá đối với nhân loại. Các bậc vĩ nhân, danh nhân, bác học, khoa học, các bậc hiền Thánh, và các vị Bồ Tát làm nên việc lớn, lợi ích chúng sinh không thể nghĩ bàn, là nhờ vào biết sử dụng thời gian hợp lý.

 Thời gian cho ta cuộc sống, nhưng thời gian không chờ đợi một ai, trên từ vua quan cho đến thứ dân bần cùng, đều phải biết quý trọng, gìn giữ thời gian, để làm tròn trách nhiệm, bổn phận đối với gia đình, xã hội. Con người tiến hóa, đổi thay theo nhịp sống chung của nhân loại, nhưng vẫn bị sự chi phối của già-bệnh-chết; còn thời gian không vì thế mà ngừng nghỉ, nó vẫn cứ âm thầm lặng lẽ trôi. Cho nên,

 vothuong_0Trăm năm trước khi ta chưa có
 Thời gian vẫn trôi qua lặng lẽ.
 Trăm năm khi ta đang có mặt
 Thời gian vẫn âm thầm qua mau.
 Trăm năm sau khi ta chết
 Thời gian không vì thế mà buồn rầu.
 Ta chỉ tiếc để thời gian suông
 Mà buông lung làm việc vô nghĩa.

 Ta đang sống hạnh phúc hay khổ đau đều không liên quan gì đến thời gian. Con người hay phân định và mong mỏi thời gian theo như ý muốn, nhưng thời gian đâu của riêng ai. Ai có lòng tốt và nhiệt tình để phục vụ cho con người bằng trái tim yêu thương, hiểu biết, thì thời gian đối với họ rất có giá trịquý báu. Thời gian không có điểm khởi đầu và kết thúc, không trước cũng không sau, và cứ như thế mà âm thầm trôi qua lặng lẽ.

 Một nhà tâm linh sau nhiều năm tu tập và trải nghiệm đã rất thành công trong việc hướng dẫn, sẻ chia, nên uy tín của ông ngày càng được nhiều người biết đến. Một hôm, ông nói chuyện về giá trị cuộc sống bằng sự diễn thuyết và hành động thực tế. Ông ta lấy ra một chiếc bình và một túi chứa nhiều hòn đá cuội lớn bằng cùm tay. Ông lần lượt bỏ tất cả hòn đá vào đầy bình, cho đến khi không còn chỗ nào bỏ được nữa, rồi hỏi mọi người “cái bình này đầy chưa?”

 Cả đám người đều đồng thanh đáp, “dạ thưa, đã đầy”. Ông hỏi lại mọi người, “phải chắc là thật đầy chưa?” Miệng nói, tay hành động, ông lấy ra một cái túi chứa các viên sỏi nhỏ, bỏ từ từ vào bình và lắc cho các hòn sỏi chen vào chỗ trống của các hòn đá cuội.

 Lúc này, mọi người đều ồ lên một tiếng mà khen ngợi việc làm của ông. Ông chỉ mĩm cười và hỏi lại mọi người một lần nữa, “cái bình này đã đầy chưa?”

 Bấy giờ, không ai dám quả quyết để trả lời rằng bình đã đầy, nên họ nói chắc là chưa đầy với vẻ mặt hoài nghi. Ông nói, “đúng lắm, không sai”. Sau đó, ông lấy ra một túi cát và tiếp tục đổ vào bình, vì cát nhỏ mịn nên chen đầy các khoảng trống của hòn đá cuội và những viên sỏi.

 Mọi người thì thầm nói, “à, thì ra là như vậy!” Ông lại hỏi tiếp, “cái bình đã thật sự đầy chưa?”

 Lúc bấy giờ, mọi người đều im lặng hết, để chờ kết quả thực tế ra sao.

 Một lần nữa, ông lại khẳng định với mọi người rằng, “chưa đầy”, và với tay lấy bình nước gần đó, rồi chế nước từ từ vào cho đến khi nước đầy bằng miệng bình mới thôi. Xong xuôi rồi, ông mới hỏi tất cả mọi người việc làm hôm nay nói lên ý nghĩa gì?

 Có hai điều khi mất đi ta sẽ không bao giờ tìm lại được, đó là thời gian và những việc làm thiếu trách nhiệm về đạo đức. Ai cũng có ước mơ, hoài bão, luôn muốn mình mai sau có một tương lai tươi sáng, tốt đẹp, nên ta cần phải biết định hướng cuộc đời bằng những việc làmlợi ích cho nhiều người. Ta không nên chìm đắm trong quá khứ mà quên đi những giờ phút trong hiện tại, hoặc quá mơ mộngảo tưởng về tương lai.

 Ta hãy biết cách sống trọn vẹn từng ngày của đời mình bằng trái tim yêu thươnghiểu biết. Vì quá khứ đã qua, tương lai thì chưa đến, thời gian không chờ đợi một ai nếu ta không biết sống vì người, thì ta cũng nên trân trọng gìn giữ mình, để không làm hại người khác.

 Trở lại câu chuyện trên, một nhà kinh doanh trả lời, “kế hoạch làm việc theo thời khóa biểu của mỗi người dù không có thời gian trống, nhưng ta biết tranh thủ thì vẫn làm thêm nhiều việc khác nữa. Thường thì chúng ta cố gắng làm hết sức mình để làm được nhiều việc, nhưng quan trọng hơn là việc làm đó có ý nghĩagiá trị hay không?” 

 Có nhiều người để thời gian trôi qua suông suốt gần một quãng đời, rồi mong muốn thời gian quay trở lại để làm việc này, việc kia. Thời gian lúc nào cũng luôn nhắc nhở và khuyên nhủ mọi người chúng ta, hãy nên cố gắng nỗ lực liên tục để không ngừng rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức mà sống lợi ích cho đời.

 Kiến thứchiểu biết không thể thiếu trong đời sống con người, nhưng nếu ta không có trái tim yêu thương chân thật thì khó mà hoàn thiện chính mình, nói chi việc giúp đỡ người khác. Ta nên nhớ rằng, thời gian không bao giờ biết chờ đợi một ai cả, mỗi một ngày mình chỉ có 24 tiếng đồng hồ, 8 giờ dành cho làm việc, phục vụ, 8 giờ ăn uống sinh hoạt, và 8 giờ dành cho ngủ nghỉ. Nếu ta để một ngày trôi qua mà không làm việc gì có ích cho mình và người, thì mình đã vô tình đánh mất đi một ngày thời gian; và cứ như thế, mỗi ngày trôi qua, nếu ta không biết tận dụng thời gian làm việc có ích, thì chính mình là người chịu thiệt thòi trước tiên, và thời gian cũng không thể nào quay ngược trở lại. Vì vậy, ta phải biết đầu tư thời gian một cách khôn ngoan và sáng suốt, để có sức khỏe tốt, sống hạnh phúc, thành đạt, và đóng góp lợi ích thiết thực cho nhiều người. Đó là người biết cách sử dụng thời gian hợp lý nhất.

 Đồng hồ thời gian vẫn đều đều trôi qua một cách âm thầm, lặng lẽ. Thời gian là món quà của cuộc sống, tùy người sử dụng làm sao cho phù hợp để lòng không hổ thẹn khi duyên đời đã hết. Sức khỏe đối với ta vô cùng quý giá và quan trọng, nếu ta cứ mãi vui chơi trác táng, hưởng thụ quá đáng, đến nỗi thân thể phải suy hao, kiệt quệ, khi bệnh tật đến, mình không giúp gì được cho ai, mà còn làm khổ người khác vì phải lo lắngcưu mang mình.

 Sự sống này, trên từ vua quan, thiên tài, vĩ nhân, cho đến kẻ bần cùng, khốn khổ, có ai sống mãi và trọn vẹn với thời gian đâu? Họ đã sinh ra và chết đi, nhưng thời gian vẫn còn đó, cứ thế âm thầm, nhắc nhở mọi người, hãy sống và làm việc bằng trái tim yêu thươnghiểu biết.

 Hạnh phúc thay cho những ai đang nắm bắt được thời gian, sử dụng được thời gian và đang sử dụng thời gian để làm việc lợi, giúp mình và người được an vui, hạnh phúc bằng sự sẻ chia, an ủi, cùng nâng đỡ cho nhau.

 Trong từng sát na, thời gian đang âm thầm lặng lẽ trôi qua, nên thời gian rất quý giá vô cùng, ta phải biết thường xuyên suy xét, chiêm nghiệm, quán chiếu, để không buông lung, làm việc vô nghĩa.

 Ta có trái tim hiểu biết, trái tim yêu thương, trái tim thời gian, trái tim biết cảm thông và chia sẻ nỗi đau với người khác, ta nắm được thời gian, biết tận dụng thời gian, và phải biết làm sao cho hợp lý, để mọi việc được vuông tròn, tốt đẹp mà không mất thời gian.

 Trong cuộc sống với bộn bề công việc, con người phải biết sắp xếp hài hòa theo trình tự logic. Khi còn nhỏ, ta phải học ăn để sống; lớn lên một chút, ta học để trau dồi, mở mang kiến thức, nâng cao trình độ hiểu biết, nhận thức đúng đắn, để sau này lớn lên, chọn lựa nghề nghiệp chân chính nhằm phục bản thân, gia đìnhxã hội.

 Học là điều kiện căn bản để có kiến thứchiểu biếtđi vào đời, dấn thân, đóng góp, phục vụ tốt cho xã hội. Nhỏ thiếu học thì lớn lên chỉ làm việc vặt vảnh, thân mình còn lo chưa xong thì làm sao giúp ích cho ai, nhưng ta phải học như thế nào để có được một kết quả tốt đẹp?

 Có một nhà văn lẫy lừng, nổi tiếng, sau khi lớn tuổi, ông ẩn cư, sống đời an nhàn, thanh thản để chuyên tu hạnh giác ngộ, giải thoát. Một thư sinh tìm đến ông, xin chỉ dạy cách học tập. Sau khi gặp được nhà ẩn cư, cậu thư sinh thưa, “thưa lão bối, con nghe nói Ngài có một phương pháp học kỳ diệu khi còn nhỏ, nên mới làm nên việc lớn. Xin Ngài từ bi chỉ dạy cho con, con nguyện suốt đời ghi nhớ ơn Ngài”.

 Nhà ẩn cư nghe xong, liền mĩm cười nói, “trên đời này làm gì có phương pháp học kỳ diệu thần tiên, muốn học cho tốt và giỏi thì chỉ có một cách duy nhất, là siêng năng, chăm chỉ, cần cù, kiên trì, bền bỉ, miệt mài sôi kinh nấu sử, không bỏ cuộc nửa chừng dù hoàn cảnh khó khăn. Siêng năng chăm chỉ thì tiến, lười biếng, ỷ lại thì dốt nát, quê mùa, lớn lên chẳng giúp ích được gì cho ai”.

 Chàng thư sinh nghe nói vậy thì chưa hiểu hết lời chỉ dạy, nên đứng trầm ngâm suy nghĩ. Nhà ẩn cư liền kéo tay đưa cậu đi ra một bờ ruộng gần đó, rồi ông chỉ vào một cây lúa mà hỏi, “cậu có thấy bụi lúa này không? Hãy nhìn cho thật kỹ, nó đang lớn trong từng phút giây”.

 Cậu thư sinh cố mở đôi mắt to ra, nhưng nhìn mãi chẳng thấy nó cao lên tí nào, bèn nói với lão bối, “con nhìn thật kỹ mà chẳng thấy lớn thêm, dù chỉ một tí”. “Tuy cậu không thể thấy nó cao thêm, nhưng sau một thời gian, từ cây mạ biến thành bụi lúa. Thật ra, nó đang tăng trưởng trong từng khoảnh khắc đó chứ, chỉ vì đôi mắt ta không đủ sức nhìn thấy nó lớn thêm mà thôi”.

 Việc học hỏitích lũy kiến thức cũng lại như thế. Siêng năng, chăm chỉ học hỏi từng ngày một, tuy khó nhận ra sự tích lũy của nó trong từng ngày, nhưng thời gian dài lâu, nguồn kiến thức sẽ nằm trong trí óc, chúng ta chỉ cần kiên lòng, bền chí mà thôi.

 Rồi hai thầy trò tiếp tục làm cuộc thí nghiệm mới, lão bối mới dẫn cậu thư sinh ra chỗ đá mài, hỏi chàng thư sinh, “vì sao đá bị lõm và khuyết sâu vào trong, con biết không?” Chàng thư sinh đáp, “đó là vì bị dao mài mòn”.

 Lão bối hỏi, “vậy mài lúc nào?” Cậu ấy không trả lời được. Lão bối nói, “ngày nào dân làng cũng đến đây mài liềm, mài dao từ ngày này qua tháng nọ, nên hòn đá mới bị mòn như vậy. Việc học cũng lại như thế, nếu ta không biết kiên trì, bền chí, để mỗi ngày trôi qua vô ích, cũng giống như đá bị bào mòn. Ai biết siêng năng chăm chỉ thì sau này lớn lên, đem sự hiểu biết cùng với việc rèn luyện nhân cách đạo đức mà dấn thân, đóng góp, phục vụ xã hội được tốt đẹp.

 Có một chàng trai đứng giữa thị trấn đông người mà tuyên bố dõng dạc rằng, mình có trái tim hoàn hảo nhất, chẳng hề có một tì vết, hay bị rạn nứt. Mọi người đứng nghe chàng thanh niên nói mà ai cung thầm ước mơ, làm sao mình có được trái tim như vậy. Ai cũng trầm trồ khen ngợi trái tim này có một không hai và đẹp nhất. Trong lúc mọi người đang bàn tán về trái tim đẹp nhất, thì bỗng có một ông già xuất hiện, nói rằng, “trái tim của anh không đẹp bằng trái tim của già này đâu”.

 Nghe nói vậy, chàng trai và mọi người quay sang ngắm nhìn trái tim của ông già ra sao. Nhịp đập của nó như đang thổn thức một điều gì, nên nghe rất mạnh mẽ; nhưng ngược lại, trái tim ấy đầy những vết sẹo sần sùi, lởm chởm. Có một điều là trái tim của ông già rất nhiều màu sắc khác nhau, bởi sự lắp ghép nhiều mảnh của các loại trái tim khác. Nhìn hình dáng bên ngoài của nó thì khó ai chấp nhận đó là trái tim, vì nó sần sùi, lởm chởm như có sự chắp vá không đồng đều, nên lộ ra vẻ xấu xí hẳn hòi.

 Chàng trai liền mĩm cười, nói với vẻ cao ngạo, “chắc là cụ chỉ đùa vui đôi chút với mọi người. Trái tim của tôi mới thật sự hoàn hảo, còn trái tim của cụ là những hình thù quái dị được chấp vá vào đó, nên nó không còn là trái tim nguyên vẹn nữa”.

 Ông già bảo rằng, “cậu chưa thật sự trải nghiệm trong tình yêu, chưa hiểu hết thế nào là hạnh phúc và khổ đau, thì làm sao trái tim của cậu có thể hoàn hảo được. Này chàng thanh niên, mỗi vết cắt của trái tim tôi đều chứa đựng một tình yêu thương chân thật, sâu sắc và hiểu biết. Mỗi một mảnh vá tượng trưng cho một người mà tôi yêu thương, không phải chỉ có những cô gái xinh đẹp dễ thương, mà trong đó còn có ông bà, cha mẹ, người thân, bạn bè, anh em. Khi tôi kết nối yêu thương với ai, tôi cắt đi một mảnh tim của mình và thế vào một mảnh tim của họ. Do đó, trong người tôi có nhiều trái tim yêu thươnghiểu biết, mặc dù nó chẳng hoàn toàn giống nhau, vì mỗi người có một tấm lòng vô ngã, vị tha mà cùng nhau chia vui, sớt khổ. Trái tim của cha mẹ lớn hơn của con cái, nên khi ghép lại không đồng đều, đã tạo ra sự sần sùi mà tôi hằng yêu thương, trìu mến. Chúng luôn nhắc nhở và an ủi, sẻ chia trong sự hiểu biết. Có đôi lúc, tôi vẫn trao mẫu tim của mình cho người khác mà không được nhận lại, nên tạo ra những vết lởm chởm như thế này. Tình yêu thương chân thật cũng vậy, đôi khi cũng chẳng cần đền đáp, chỉ cho ra mà không cần nhận lại, mặc dù những chỗ khuyết đó đã làm tôi đau đớn tột cùng; nhưng tôi vẫn tràn đầy hy vọng, sẽ có một ngày nào đó, có những mẫu tim lấp đầy khoảng trống mà tôi đã chờ đợi từ bấy lâu nay”.

 Chàng trai nãy giờ như chết lặng cả người, vì đang nghe con tim của cụ an ủi, sẻ chia bằng tất cả tấm lòng. 

THAY LỜI KẾT

 Trong suốt quá trình sống để tiến hóa, con người đã tìm ra phương pháp làm chủ bản thân để đạt được an lạc, hạnh phúc, đó là sự ý thức nhận biết của chính tâm ý mình. Từ những ý thức đó, nhờ sự chiêm nghiệm, quán chiếu, suy xét, tìm tòi, ta biết rõ sự thật, giả trong cuộc đời, mà chuyển kiến thức hiểu biết thành trí tuệ. Nhờ trí tuệ đó, ta biết cách soi sáng muôn loài vật để giúp mình sống an lạc, hạnh phúc.

 Thói quen của con người luôn hướng tới để tìm kiếm sự hưởng thụ, nên cần phải có nhiều tài sản, của cải, danh vọng, sắc đẹp, sống lâu, ăn ngon, mặc đẹp, ngủ nhiều, và yêu thích cảm xúc thoải mái khoái lạc, ghét bỏ cảm xúc khó chịu. Cho nên, chúng ta muốn duy trì trạng thái bình an, hạnh phúc lâu dài, thì phải biết buông xả những cảm xúc không tốt, không cần thiết.

 Đó là sự trải nghiệm quý báu của các bậc hiền Thánh đã đi trước, nhờ siêng năng tinh cần tu tập bằng nhận thức sáng suốt, và phải trả một giá rất đắc, để ta ngày nay có cơ hội thực tậplãnh hội.

 Chúng ta muốn sống được an lạc, hạnh phúc thì phải từ nơi tâm mình, để khỏi phải mất thời gian tìm tòi. Khi quay lại chính mình, ta ít để xảy ra những lỗi lầm đáng tiếc mà làm mình và người đau khổ. Chính vì vậy, ai sống được như thế thì khỏi phải bận bịu lo toan những thứ được mất, hơn thua, thành bại trong cuộc đời, mà chỉ tùy duyên làm lợi ích để chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại.

 Ai cũng có thói quen sống và quan niệm khác nhau, nên ta muốn sống hòa hợp, vui vẻ cùng nhau không phải dễ dàng và đơn giản tí nào. Mỗi người đềi có một suy nghĩnhận thức riêng, vả lại tâm tính con người thường xuyên thay đổi bất thường, nên ta khó mà cân bằng cảm xúc, do đó phải lấy hạnh dung hòa làm nền tảng, hòa mà không đồng và có sự cảm thông cho nhau.

 Chính vì tâm ý và tập nghiệp mỗi người khác nhau, không ai giống ai, nên nhu cầu sinh hoạt càng đông và lớn, ta phải có nguyên tắc cần thiết nhất định để trở thành tiếng nói chung mà bảo vệ cho nhau. Có những nguyên tắc được ghi chép thành văn bản được mọi người biết đến rõ ràng, có những nguyên tắc mọi người cần phải ý thức và có lòng tự trọng cao mới giữ cho nhau được.

 Do đó, nguyên tắc có những cái bất di bất dịch, có những cái phải được thay đổi để phù hợp với hoàn cảnh sống hiện tại. Con người luôn tiến bộ và không ngừng đổi mới, những người sống có nguyên tắc và biết bảo vệ hợp lý là người có bản lĩnh, biết đặt mình vào khuôn phép mà vẫn sống an lạc, hạnh phúc, và biết hòa hợp với mọi người.

 Chúng ta thử giả sử, thế gian này nếu khôngpháp luật thì con người sẽ sống ra sao. Ai muốn làm gì thì làm mà không có khuôn phép chung, thì chắc chắn, nó sẽ thành một bãi chiến trường đẫm máu vì sự si mê chấp ngã và lòng tham của con người.

 Một số người bê tha, tùy tiện sống không có ý thức, thích thì làm, không thích thì thôi, họ sống bằng cảm tính nên bất chấp mọi hậu quả. Gia đình, xã hội nào có nhiều con người như thế thì thế gian này sẽ bất an, loạn lạc. Do đó, cuộc sống của chúng ta cần phải có nguyên tắc để giúp mọi người từng bước thuần thục thói quen xấu mà biết sống hòa hợp với nhau.

 Dân gian Việt Nam có câu: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Nếu ta không chiêm nghiệm kỹ càng thì thấy nó rất thông thường, nhưng đó là một nguyên tắc rất cần thiết cho những người còn đầy dẫy tham-sân- si, dễ bị lây nhiễm thói quen xấu.

 Nói chung, ai đã thật sự trưởng thành hoặc đã vượt qua biển khổ, sông mê nhờ trải nghiệm và tự tại, làm chủ bản thân, thì đối với họ, những nguyên tắc đó không cần thiết nữa. Chính vì vậy, các vị Thiền sư tay cầm bình rượu, tay xách cá chép hòa nhập vào cuộc đời, vượt khỏi khuôn phép, để có cơ hội gần gũi, nhằm thực hiện lý tưởng cao cảmục đích to lớn.

 Chúng ta sống để được tự dohạnh phúc, nhưng phải có hiểu biếtnhận thức đúng đắn, chứ không phải chấp trước, nắm giữ, tôn sùng nguyên tắc quá đáng. Khi ta cảm thấy còn yếu kém, chưa đủ sức vượt qua rào cản của si mê, tội lỗi, thì ta phải biết tôn trọng nguyên tắc để giúp mình kìm hãm bớt những thói quen xấu còn đang tiềm ẩn trong tâm. Cho đến khi ta đã làm chủ được các cảm xúc tốt, xấu, không còn bị những thứ này chi phối, thì có thể ung dung, tự tại, đi vào đời hóa độ chúng sinh mà không phải lo toan, bận bịu ta người, được mất, hơn thua, phải quấy, vì ta đã sẵn sàng chịu trách nhiệm về mọi hành vi của mình qua thân- miệng-ý.

 Có một chú tiểu, tuy đã được xuất gia trong chùa nhiều năm, nhưng có cố tật hay ăn cắp vặt. Các huynh đệ lớn đã nhiều lần nhắc nhở, khuyên nhủ và cũng đã trình lên Thiền sư, nhưng chẳng thấy thầy chỉ dạy gì hết mà chỉ nói một câu, “thôi, các chú hãy ráng bao dungđộ lượng một chút”.

 Một hôm, vẫn chứng nào tật nấy, chú lấy trộm một món đồ có giá trị, nên các huynh đệ liền dẫn giải chú đến gặp Thiền sư, đồng thanh kiến nghị, dứt khoát phải đuổi chú đi ngay lập tức, “nếu sư phụ không giải quyết thì huynh đệ chúng con sẽ bỏ đi hết”.

 Ở vào vị thế chủ đạo, Thiền sư vẫn bình tĩnh, an nhiên, chỉ nói một câu đơn giản, nhẹ nhàng mà đầy đủ ý nghĩa, “các con muốn đi đâu thì đi, vì các con đã có ý thức về mọi suy nghĩ, nói năng, cho đến hành động của mình, nên các con đi đâu và ở đâu cũng sống được an ổn mà không làm phiền lòng người khác; còn chú tiểu này phải ở lại để ta hướng dẫn và dạy dỗ thêm”.

 Cả đại chúng đều bàng bàng hoàngsửng sốt trước lời nói của Thiền sư, tất cả chỉ để đánh đổi một mình chú tiểu hư đốn. Nhưng khi mọi người bình tâm lại, chiêm nghiệm lời dạy của Thiền sư, mới thấy rõ tấm lòng bao dungđộ lượng của Người. Nhờ sự bao dungđộ lượng ấy mà vị Thiền sư đã giúp chú tiểu hồi tâm phục thiện, sau này trở thành bậc Pháp khí trong Thiền môn.

 Thiền viện là nơi để mọi người đến học hỏitu tập, nhằm thay đổi những lỗi lầm, chuyển hóa tham lam, sân giận, si mê và cái thói quen xấu khác thành vô lượng trí tuệ, từ bi. Ở ngoài đời cũng có những nguyên tắc nhất định của nó, để giúp mọi người ngăn ngừa tội lỗi vì lòng tham lam, ích kỷ, hẹp hòi; còn giới luật trong nhà chùa nhằm để nhắc nhở chúng ta ngăn ngừa và không rơi vào hố sâu của tội lỗi, từng bước thay đổi thói quen xấu để chuyển ba nghiệp thân-miệng-ý được thanh tịnh, sáng suốt, mà ngày càng sống tốt hơn để làm vuông tròn đạo và đời.

 Nhiều người quá cố chấp, chỉ lấy khuôn vàng thước ngọc, tôn thờ nguyên tắc, ai làm khác đi thì không chịu, vô tình tạo nên bức tường thành kiên cố, làm con người ta không có cơ hội chuyển hóa được lỗi lầm.

 Như những người bị vướng vào vòng tệ nạn xã hội, nhẹ thì được đưa vào các trung tâm để cải hóa, nặng thì bị xử án tù một năm, cho đến chung thân hoặc tử hình. Những người đang bị như vậy, họ đang ở trong tâm trạng oán giận, thù hằn và luôn trách móc, oán ghét xã hội. Nếu ta chỉ dùng biện pháp thích đáng để trừng trị thì không còn gì để giáo dục và giúp họ chuyển hóa những lầm lỡ khi xưa, còn làm tăng thêm lòng oán giận, hận thù. Vì trong họ chỉ có ý nghĩ duy nhất là ta đã cùn đời rồi, quan niệm cùi không còn sợ lở, nên khi có cơ hội làm ác là họ sẵn sàng làm ngay.

 Ta muốn làm một người tốt để có sự hiểu biết chân chính và thật sự tin sâu nhân quả, là cả một quá trình học tập và chuyển hóa. Thế gian trồng cây phải mất ít nhất 10 năm mới có thể sử dụng, còn chúng ta trồng người phải mất cả trăm năm mới có thể thay đổi và buông xả các thói quen thâm căn cố đế như tham lam, ích kỷ, hẹp hòi và lường gạt, trộm cướp của người.

 Ta oán giận, thù hằn, ghét bỏ, nên chửi mắng, đánh đập, giết hại lẫn nhau. Ta si mê mờ mịt, nên rơi vào chỗ tối tăm, do uống rượu say sưa, hay dùng các chất kích thích độc hại như xì ke, ma túy. Cho nên, muốn giúp người phạm lỗi ý thức được sự tác hại của nó mà từng bước cố gắng làm lại cuộc đời, thì ta phải giáo dục họ tin sâu nhân quả, làm lành được hưởng phước, làm ác chịu khổ đau, và tự tin chính mình có khả năng sáng suốt để làm lại cuộc đời.

 Nguyên tắc làm người tốt là phải có nền tảng quan trọng là ý thứchiểu biết, giúp chúng ta biết được điều hay lẽ phải, đùm bọc, san sẻ, nâng đỡ cho nhau bằng tình người trong cuộc sống. Trước tiên, chúng ta phải ý thức rằng, khổ đau do sự giết hại gây ra, mình không giết người và hạn chế tối đa việc giết hại các loài vật, bảo vệ môi trường, thiên nhiên, không khai thác bừa bãi. Ta không trực tiếp, xúi bảo, hay hoan hỷ, vui vẻ khi thấy người khác gây hại.

 Giết hại là nhân gây thù chuốc oán, làm khổ đau cho nhau không có ngày thôi dứt. Cuộc sống của chúng ta vô cùng quý giá, ai cũng tham sống sợ chết, cớ sao ta đành lòng nhẫn tâm giết hại người và vật một cách vô cớ.

 Chúng ta ý thức được như vậy là nhân mở rộng và phát triển lòng từ bi, nên lúc nào mình cũng khởi lên tâm niệm chia vui, sớt khổ mà sống yêu thương, cùng san sẻ và nâng đỡ cho nhau. Quả báo của sự giết hại là nhân dẫn đến chết yểu, chết bất đắc kỳ tử, chết do tai nạn bất ngờ và sống dưới sáu mươi tuổi, đều gọi chung là sống không thọ.

 Chúng ta ý thức được khổ đau do gian tham, trộm cướp, lường gạt lấy của người bằng nhiều hình thức. Trộm có nghĩa là lén lấy hay canh me, rình rập, không cho người khác thấy. Cướp có nghĩa công khai lấy, hoặc dùng sức mạnh để tước đoạt, khống chế lấy. Cân non bán thiếu, trốn thuế, lường gạt đều gọi chung là trộm. Lợi dụng quyền cao tham ô, hối lộ, ăn chặn, bắt chẹt người phải đưa tiền đều gọi là cướp.

 Nhân gian tham trộm cướp có quả báo dẫn đến nghèo cùng, khốn khổ, làm thuê, làm mướn, nô lệ, ở đợ mà vẫn thiếu trước, hụt sau, nếu giàu có, nhiều tài sản, của cải, nhưng vẫn không được thụ hưởng, mà phải sống như người nghèo khổ.

 Chúng ta ý thức được sự khổ đau do sống không chung thủy, một vợ-một chồng, hay dan díu, ngoại tình, làm khổ đau gia đình người khác. Ai tham đắm về hưởng thụ khoái lạc xác thịt quá đáng sẽ dễ làm mất hạnh phúc gia đình vì ghen tuông, giận dỗi, mắng nhiếc, đánh đập và trả thù bằng nhiều hình thức. Quả báo hiện đời không bao giờ có mái ấm gia đình hạnh phúc, và mai sau sẽ chịu hậu quả không bao giờ có được đời sống gia đình trọn vẹn.

 Chúng ta ý thức được khổ đau do lời nói dối để lường gạt hại người. Nói dối là việc có nói không, việc không nói có, hay hứa với người rồi mà không giữ lời, hoặc lạc lọng, tráo trở. Quả báo hiện đời nói không ai tin, và mai sau bị người gạt lại.

 Chúng ta ý thức được khổ đau do si mê gây ra bởi uống rượu, say sưa, hay dùng các chất kích thích có hại, hoặc sử dụng xì ke, ma túy. Rượu tác hại mười, còn xì ke, ma túy tác hại gấp trăm ngàn lần. Quả báo hiện tạimai sau sẽ bị si mê, khờ dại, bệnh thần kinh, và lý trí ngu ngơ, mờ mịt, sống không hiểu biết, và khó có cơ hội được trở lại làm người bởi nghiệp si mê này.

 Nói tóm lại, muốn làm người tốt trong hiện tạimai sau, chúng ta phải biết ý thức trong từng suy nghĩ, lời nói và hành động của mình, làm thế nào để không tổn hại cho người khác. Khi ta đã có ý thức rồi thì mỗi cử chỉ, hành động, lời nói của mình đều được lợi lạc.

 Đối với thế gian, cuộc sống chỉ có chiến trường và thương trường, nên lúc nào cũng sử dụng nguyên tắc cứng ngắt, theo quan niệm, có công thì thưởng, có tội thì trừng. Nếu ai cũng bám chặt vào quan điểm trên thì trái tim hiểu biếtđộ lượng của mình sẽ bị chai cứng, bởi thiếu tâm lượng từ bi.

Cho nên, các nước tiến bộ bãi bỏ hình thức tử hình, để kẻ tử tội ý thức được hành động sai trái của mình mà biết ăn năn, sám hối, làm lại cuộc đời. Do đó, có những cái ta phải dùng pháp luật để trừng trị thích đáng, có những cái ta phải dùng sự bao dungđộ lượng, để giúp người kia vượt qua mặc cảm tội lỗiý thức được rằng, ai cũng là người tốt, nên cố gắng làm lại cuộc đời.

(CÙNG TÁC GIẢ)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
Quảng Cáo Bảo Trợ