Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,710,025
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Ẩm Thực Và Những Giới Luật Liên Quan

03 Tháng Tư 201510:30(Xem: 2202)
Ẩm Thực Và Những Giới Luật Liên Quan
ẨM THỰC VÀ NHỮNG GIỚI LUẬT LIÊN QUAN

Thị Ngộ


Ẩm Thực Và Những Giới Luật Liên QuanVạn loại hữu tình và ngay cả loài vô tình tồn tạisinh trưởng đều phải nhờ có sự trao đổi chất. Sự trao đổi chất đối với loài động vật bao gồm con người không thể không kể đến vấn đề ẩm thực. Hai từ “ẩm thực” vừa có nghĩa là thức ăn, nước uống hay thực phẩm; vừa là cách thức ăn uống.

Từ ngàn xưa, vấn đề ẩm thực đã được xã hội loài người quan tâm bởi qua đó văn hóa được biểu hiện. Ngày nay, văn hóa ẩm thực đã trở nên phổ biến và mỗi quốc gia, thậm chí mỗi địa phương đều có văn hóa ẩm thực đặc trưng. Đó là sự biểu hiện về mặt tinh thần từ ẩm thực. Ngoài ra, ẩm thực còn liên quan đến sức khỏe con người qua câu nói “bịnh tùng khẩu nhập” nên nó trở nên rất quan trọng trong cuộc sống con người. Chế độ ăn uống, chế độ dinh dưỡng… đối với tầng lớp khá giả không còn là điều mới lạ nữa. Với Phật giáo, mặc dù vấn đề ẩm thực được khuyến khích chỉ để nuôi thân phục vụ tu tập, không nên tham đắm chấp mắc vào nó nhưng xem ra vấn đề này cũng đã gây ra không ít tranh luận trong giới tu sĩ và cả cư sĩ. Vì sự tranh luận phát sinh từ ẩm thực mà các giới luật được chế ra để hướng dẫn và điều chỉnh việc thực hành cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể. Bài viết sẽ đề cập một số vấn đề liên quan đến ẩm thựcgiới luật Phật giáo.

Thức ăn uống và cách được chúng

Như đã nói trên, ẩm thực có nghĩa là thức ăn uống và cách thức ăn uống. Trong Phật giáo, thức ăn chia ra làm hai loại là thức ăn mặn và thức ăn chay. Thức ăn mặn là thịt của tất cả các loài động vật dù là có máu hay không có máu, máu đỏ hay màu vàng… Thức ăn chay là thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật như trái cây, rau quả… Những loại thức ăn bao gồm sữa, mật ong được đa số thừa nhậnthực phẩm chay nhưng một số cũng không sử dụng. Các loại thực phẩm khác như trứng công nghiệp, ngũ vị tân (hành, hẹ, tỏi, kiệu/nén, hưng cừ) cũng thuộc vào thành phần bất phân rõ ràng. Thực phẩm chay trong Phật giáo, như thế, khác với thực phẩm chay theo quan niệm của Thiên Chúa giáo. Theo họ, thực phẩm chay là bao gồm tất cả thực phẩm như tôm, cá, trứng… chỉ trừ thịt của động vật có máu nóng. Về nước uống, Phật tử được dùng các loại nước uống như nước lọc, nước trái cây… trừ các loại rượu, bia hay các thứ có nồng độ làm say người.

Khi Phật còn tại thế, cách được thức ăn duy nhất của Tăng Nikhất thực. Truyền thống này vẫn còn được duy trì tại các nước Phật giáo theo truyền thống Nam tông như Thái Lan, Lào…. Khi thực hành hạnh khất thực, Tăng Ni đều phải hoan hỷ thu nhận phẩm vật cúng dường bất luận là chay hay mặn và không có tâm phân biệt. Do đó, Tăng Ni được phép ăn mặn. Đối với các nước Phật giáo theo Bắc tông như Trung Quốc, Nhật Bản... do truyền thống văn hóa khác nhau nên Tăng Ni không thể duy trì hạnh khất thực được mà phải tự cung tự cấp hay nhận thực phẩm cúng dường từ tín đồ tại các chùa. Chùa thời xưa được cấp đất để canh tác thu hoa lợi sinh hoạt. Ngày nay, nhiều chùa ở đô thị không có đất canh tác nên nhờ sự cúng dường của tín đồ Phật tử. Dù xưa hay nay, Tăng Ni cũng phải tự nấu ăn hoặc có nơi Phật tử đến chùa làm công quả phụ giúp chăm lo ẩm thực. Như vậy, có sự khác biệt giữa hai truyền thống Phật giáo. Một bên nhận thực phẩm từ cư sĩ không phân biệt chay mặn thông qua hạnh khất thực còn một bên phải tự lo thức ăn tại chùa. Vì tự cung tự cấp thức ăn nên truyền thống Bắc tông chỉ chế biến và sử dụng thực phẩm chay.

Do có sự khác biệt trên nên giới luật cho Tăng Ni thuộc hai truyền thống cũng có điểm giống và khác nhau. Hai truyền thống đều có giới liên quan đến việc sát sanh(1) - hành động trực tiếp sản xuất ra thịt. Hai truyền thống đều có giới không được uống rượu và các chất làm say người(2). Về sự khác nhau, bên Nam tông được ăn thịt nhưng thịt ấy có được phải từ nguồn không thấy, không nghe, không nghi gọi là tam tịnh nhục(3). Ngoài ra, Phật cũng chế là không được dùng 10 loại thịt gồm thịt người, voi, ngựa, chó, rắn, sư tử, hổ, beo, gấu, và chó sói; nếu ăn thì phạm tác ác (dukkata)(4). Ngược lại, bên Bắc tông, ngoài lý do truyền thống văn hóa, còn có giới Bồ-tát quy định không ăn thịt. Giới thứ nhất trong 10 giới trọng là giới sát sanh thay vì giới giết mạng người như phần giới Thanh văn của Tỳ-kheo. Ở phần 48 giới khinh, các giới thứ 2, 3, 4 quy định rõ không uống rượu, ăn thịt và ăn ngũ tân theo thứ tự(5). Về cách được thức ăn, trong Tỳ-kheo giới kinh của Bắc tông có các giới 29, 34, 40 thuộc 90 tội đọa(6).

Ẩm thực theo lời Phật dạy

Theo đạo Phật, mọi hành động phải nên dựa trên tinh thần từ bi, vô ngã. Nghĩa là không bám víu, chấp mắc vào bất cứ một thứ gì dù đó là thiện, huống chi là bất thiện. Mục đích của ăn uống là nuôi thân để tu tập hướng đến giác ngộ, giải thoát và làm lợi lạc tha nhân. Do đó, tham đắm chấp mắc vào việc ăn uống là vướng vào một trong 5 món dục (tài, sắc, danh, thực, thùy) làm cản trở con đường tu tập tâm linh và tiến thân của con người. Vì lẽ ấy, Phật dạy các đệ tử về thái độ khi ăn và cách thức ăn rất rõ ràng. Có thể nói đây là đỉnh cao của nghệ thuật ẩm thực nếu xét theo tinh thần trên.

Về thái độ khi ăn, trong kinh Jivaka thuộc kinh Trung bộ, Đức Phật dạy: Tỳ-kheo biến mãn hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới với tâm có lòng từan trú; tâm câu hữu với quảng đại, vô biên, không hận, không sân và an trú. Khi đó, vị ấy sẽ không nghĩ: “Thật tốt lành thay, người cư sĩ này thỉnh ta dùng các món ăn khất thực thượng vị. Mong rằng người cư sĩ này trong tương lai sẽ thỉnh ta dùng các món khất thực thượng vị như vậy.” Vị ấy thọ dụng các món khất thực với tâm không tham trước, không tham đắm, không đam mê, thấy rõ các tai họa, ý thức rõ rệt sự xuất ly…Và do đó, Tỳ-kheo ấy, trong thời gian ấy không có nghĩ đến tự hại, hay nghĩ đến hại người, hay nghĩ đến hại cả hai. Hơn nữa, Đức Phật còn dạy: “Này Jivaka, người nào vì Như Lai hay vì đệ tử Như Lai mà giết hại sinh vật, người ấy chất chứa nhiều phi công đức”(7). Như vậy, Đức Phật không ủng hộ việc giết hại sinh vật vì Ngài hay đệ tử của Ngài. Thái độ của một vị Tỳ-kheo khi ăn là không được tham đắm món ăn thượng vị, không tỏ ý chê bai hay chán ghét món ăn không hợp khẩu vị, và quan trọng là phải an trú trong khi ăn và nhận biết rõ nó. Đó cũng là một cách thực tập thiền vậy.

Ngoài việc chỉ dạy thái độ ăn uống, Đức Phật còn hướng dẫn cách ăn uống để thể hiện oai nghi tế hạnh và nét văn hóa trong ẩm thực. Sự hướng dẫn được ghi trong các giới gồm 4 giới trong 4 tội hướng bỉ hối, các giới từ 31 đến 37 trong 90 tội đọa và các điều 26 đến 31, 33 đến 48 trong 100 pháp chúng học thuộc giới Tỳ-kheo Bắc tông(8).

Thời gian ẩm thực

Thời gian thọ thực được thực hành rất nghiêm túc trong truyền thống Nam tông. Thời Phật còn tại thế, một ngày chỉ ăn một bữa. Thời gian được ăn là sau khi khất thực xong và không quá giữa ngày hay không quá giờ ngọ (chánh thời). Sau giờ ngọ gọi là phi thời. Quy định không được ăn phi thời là giới thứ 37 trong 90 tội đọa của Tỳ-kheo. Giới ăn phi thời cũng là giới thứ 9 trong 10 giới Sa-di và giới thứ 8 trong 8 giới Bát quan trai. Trong truyền thống Bắc tông, sau giờ ngọ được khai cho phép ăn nhưng với điều kiện là phải sanh lòng hổ thẹn và “quán” thức ăn như là lương dược (thuốc hay) để chữa bịnh đói khát(9). Do đó, ngày nay đa số các chùa Bắc tông đều có bữa ăn chiều. Ngoài ra, cũng có một số vị theo Nam tông hay Bắc tông phát nguyện ăn chay một ngày một bữa kết hợp giới của hai truyền thống.

Sự phân phái liên quan ẩm thực

Tưởng chừng ẩm thực trong Phật giáo là chuyện nhỏ có thể dàn xếp được nhưng thực sự nó cũng góp phần gây ra những tranh luận khá lớn. Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) đã từng đề nghị Phật giao Tăng đoàn cho ông lãnh đạo. Không được chấp nhận, ông lập phe nhóm và đến thách đố với Phật nhằm hạ uy tín Ngài. Một trong 5 điều ông yêu cầu Tăng đoàn của Phật thực hành là “Không ăn cá thịt cho đến trọn đời, vị nào ăn cá thịt thì vị ấy phạm tội”(10). Sau khi Phật nhập diệt khoảng hơn 100 năm, sự phân phái thành Thượng tọa bộ (Phật giáo Nguyên thủy hay Nam tông) và Đại chúng bộ (tiền thân của Phật giáo Đại thừa hay Bắc tông) xảy ra do bất đồng về giới luật, trong đó có các giới liên quan đến ẩm thực. Trong 10 điều được cho là trái giới luật thì hết 5 điều liên quan đến thực phẩm(11).

Trong thời hiện đại, Phật giáo Nam tôngBắc tông có sự chia rẽ phần lớn cũng vì ẩm thực. Phật giáo Nam tông khó chịu với bữa ăn chiều của Bắc tông trong khi Bắc tông thì chưa cảm thông được với việc ăn mặn của Nam tông. Trong một bài thuyết trình tại hội thảo với chủ đề “Truyền bá Phật giáo Nam truyền (Theravada) thế kỷ XXI” tại Trường Đại học Mahamakut, Thái Lan, giáo sư Gombrich đã có đề cập một việc mà theo giáo sư là tổn thương cho Phật giáo. Đó là việc Phật tử Sri Lanka không xem Phật tử Bắc tôngđồng đạo chỉ vì lý do duy nhất tiêu thụ thực phẩm vào buổi chiều(12). May thay, trong những năm gần đây Tăng-già của hai truyền thốnghợp tác với nhau cũng như tổ chức nhiều hội thảo về Phật giáo nên vấn đề vừa nêu đã giảm thiểu. Hai bên đã có sự cảm thông lẫn nhau và biết tôn trọng truyền thống khác nhau. Ít ra, đó cũng là dấu hiệu đáng mừng cho Phật giáo.

Thay lời kết

Ẩm thựcvấn đề sinh tử của con người. Nó là nỗi lo của bao người nghèo khó nhưng lại là đối tượng hưởng thụ của giới khá giả, giàu sang. Vì ẩm thực con người có khi trở nên tồi tàn(13) nhưng cũng chính ẩm thực biểu hiện văn hóa con người cao thấp giữa các quốc gia, các dân tộc. Người Phật tử ăn uống không vì hưởng thụ và luôn thể hiện tầm mức văn hóa ẩm thực rất cao. Ăn trong chánh niệm, ăn trong sự biết ơn những người nông phu cực khổ (nhựt thực tam san, mỗi niệm nông phu chi khổ) là một nét văn hóa tri ânbáo ân rất đáng trân trọng. Những giới luật liên quan đến ẩm thực nhằm hướng dẫn thái độhành vi khi ăn uống của người xuất gia nói riêng và người Phật tử nói chung. Bản thân nó không phải là nguyên nhân gây nên sự tranh luận, bất hòa hay chia rẽ. Do vậy, hành xử linh độngtùy duyên với nó là cách khôn ngoan để tạo sự đoàn kết và bảo vệ Phật giáo. Bởi lẽ, chúng ta chưa từng nghe một đấng giác ngộ hay tiên tri chỉ vì ăn uốngthành tựu sự nghiệp tâm linh.

Chú thích

(1) Giới thứ nhất trong 10 giới của Sa-di và Sa-di-ni; giới thứ nhất trong 8 giới của người tu Bát quan trai; và giới thứ nhất trong 5 giới của người cư sĩ. Đối với Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni thì giới thứ 3 trong 4 giới hay 8 giới Ba-la-di (giới trọng) không phải là giới sát sanh mà là giới giết mạng người.

(2) Giới thứ 51 trong 90 tội đọa (Bắc tông) và giới thứ 51 trong 92 ưng đối trị (Nam tông); giới thứ 5 của Sa-di, của cư sĩ tu Bát quan traicư sĩ ngũ giới.

(3) HT Thích Minh Châu dịch, Kinh Trung bộ: kinh Jivaka 55, TP.Hồ Chí Minh: NXB. TP. HCM, 1999.

(4) Đại Phẩm, http://www.budsas.org/uni/u-luat-daipham/dp-06.htm

(5) HT.Thích Trí Tịnh, Kinh Phạm võng Bồ-tát giới, Hà Nội: NXB. Tôn Giáo, 2006, tr.19, 26-7.

(6) HT.Thích Thiện Hòa, Tỳ-kheo giới kinh, Hà Nội: NXB. Tôn Giáo, 2005, tr. 41-3.

(7) HT. Thích Minh Châu dịch, kinh Trung bộ: kinh Jivaka 55, TP. HCM: NXB. TP.HCM, 1999.

(8) HT.Thích Thiện Hòa, sđd, tr.41-3, 53-5, 57-9.

(9) HT.Thích Thiện Hòa, sđd, tr.12.

(10) http://www.budsas.org/uni/u-luat-tieupham/tp-07.htm.

(11) http://vi.wikipedia.org/wiki/đại-hội-kết-tập-kinh-điển-Phật-giáo-lần-thứ-hai.

(12) Richarch Gombrich, Dissemination of Theravada Buddhism in the 21st Century, http://www.ocbs.org/lectures-a-articles-ocbsmain-121/144-comfort-or-challenge?showall=1.

(13) “Miếng ăn là miếng tồi tàn; mất đi một miếng, lộn gan lên đầu”.

Thị Ngộ




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 3820)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 2549)
Từ nơi bản thể tịch tĩnh của Đại Niết-bàn mà đức Thế-Tôn thiết định Sīla: học xứ, học giới,.. nên học xứ ấy là nghiệp dụng của bản thể...
(Xem: 17926)
Toàn bộ Đại Tạng Kinh tiếng Việt trên 203 tập đã dịch và in xong...
(Xem: 4400)
Bài Văn Cảnh Sách Của Đại Viên Thiền Sư ở Núi Quy; Tác Giả: Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu; Thánh Tri phỏng Việt dịch
(Xem: 2682)
Trì giới này thời như đi đêm tối gặp đèn sáng, như người nghèo được của báu, như người bệnh được bình phục, như người tù được tự do, như kẻ đi xa được trở về.
(Xem: 2326)
Những người hộ trì giới pháp này, không nên sinh khởi tưởng nghĩ là thời tượng pháp hay mạt pháp, vì sự trì giới nghiêm cẩn sẽ ...
(Xem: 2394)
Sau khi đã thọ giới, nếu chúng ta có thể dựa trên căn bản “chỉ ác phòng phi, chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành” mà làm theo, thì đó chính là chúng ta đang giữ giới vậy.
(Xem: 3483)
Đức Phật không có cái tâm tưởng nào khác ngoài tâm đại Từ đại Bi, ban vui cứu khổ cho tất cả chúng sinh. Vì vậy Đức Phật ra đời, cũng không ngoài mục đích ấy.
(Xem: 4422)
Sanh tử cũng là việc lớn, vì cơn vô thường (chết) chóng mau! Thế, người học đạo, với mỗi giờ, mỗi phút phải lấy đó làm điều nhớ lo.
(Xem: 2668)
Thập Thiệnpháp môn căn bản, là thềm thang cho mọi pháp môn. Hành giả dù có chí mong cầu phước báu hữu lậu ở cõi nhân thiên, hay hướng về vô lậu giải thoát Niết Bàn, cho đến Vô Thượng Giác, đều phải khởi điểm từ Thập Thiện.
(Xem: 9448)
Hiện nay tôi giảng Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới Bổn để cho quý vị biết dù rằng muôn pháp đều không, nhưng lý nhân quả rõ ràng, không sai một mảy, cũng không bao giờ hư hoại.
(Xem: 6546)
Tâm hiếu thuậntâm từ bi giống nhau, vì hiếu thuận của Phật pháp không giống như hiếu thuận của thế gian.
(Xem: 2508)
Giới luậtyếu tố cần thiết để một Tỳ-kheo làm mô phạm cho trời người, bước đi trên con đường giải thoát được vững chãi.
(Xem: 2416)
Luật tạng: 律藏, tiếng Phạn: vinaya-pitaka, bộ thứ hai trong Tam Tạng, nhưng chính thức ra đời vào lần Kết tập thứ 2.
(Xem: 2190)
Những giáo nghĩa Bụt dạy phải được nhận thức như những pháp môn hướng dẫn thực tập để phát khởi tuệ giáctừ bi...
(Xem: 4388)
Thiện namthiện nữ, nay các người lãnh thọ giới pháp rồi thì phải tôn kính mà vâng giữ, không được vi phạm giới pháp cần phải phụng trì.
(Xem: 2322)
Ý thức được những khổ đau do sự sát hại gây ra, con xin học theo hạnh đại bi để bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài.
(Xem: 2248)
Khi phát nguyện thọ trì dù chỉ một giới, quyết định mạnh mẽ nảy sinh từ tuệ giác ấy sẽ đưa ta đến tự dohạnh phúc đích thực.
(Xem: 2467)
Mục đích của người tu hành là hướng đến giải thoátgiác ngộ, mà muốn được giải thoát, giác ngộ thì đương nhiên phải tuân thủ một số nguyên tắc.
(Xem: 6783)
Nếu có duyên mà thọ và đắc từ Chư Phật và Bồ Tát thì sự thành tựu giới thể rất là vượt bực.
(Xem: 8739)
Trì Giớithực hành những luật lệđức Phật đặt ra cho Phật tử xuất gia thi hành trong khi tu hành, và cho Phật tử tại gia áp dụng trong cuộc sống để có đời sống đạo đức và hưởng quả báo tốt đẹp;
(Xem: 7187)
Năm Giới Tân Tu là cái thấy của đạo Bụt về một nền Tâm LinhĐạo Đức Toàn Cầu, mà Phật tử chúng ta trong khi thực tập có thể chia sẻ với những truyền thống khác trên thế giới
(Xem: 2343)
Trong Học pháp có một giới cần phải nhận định cho rõ là giới phá hòa hợp Tăng. Tăng từ 4 vị trở lên, không biết chúng mà đồng một Kiết-ma, đồng một thuyết giới, gọi là Tăng hòa hợp.
(Xem: 2816)
Giới luật là mạng mạch của Phật pháp, Giới luật còn là Phật pháp còn; Giới luật mất là Phật pháp mất.
(Xem: 6840)
Giới bản tân tu này tuy cũng có 348 giới điều như giới bản cổ truyền nhưng đáp ứng được một cách thỏa đáng cho nhu yếu thực tập của người xuất gia trong thời đại hiện tại.
(Xem: 6198)
Giới bản tân tu này tuy cũng có 250 giới điều như giới bản cổ truyền nhưng đáp ứng được một cách thỏa đáng cho nhu yếu thực tập của người xuất gia trong thời đại hiện tại.
(Xem: 10219)
Tỳ Kheo GiớiTỳ Kheo Ni Giới do HT Thích Trí Quang dịch và giải
(Xem: 7889)
Hán dịch: Tam tạng Phật-đà Da-xá và Trúc-phật-niệm. Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh và Thích Đức Thắng. Hiệu chính và chú thích: Tỳ-kheo Thích Nguyên Chứng
(Xem: 5999)
Tác phẩm này có thể là hành trang cần thiết cho những ai muốn thực hành Bồ Tát giới theo đúng lời Phật dạy. Vì vậy, tôi trân trọng giới thiệu đến Tăng, Ni, Phật tử.
(Xem: 7632)
Luật học hay giới luật học là môn học thuộc về hành môn, nhằm nghiên cứuthực hành về giới luật do đức Phật chế định cho các đệ tử
(Xem: 6847)
Là Bộ Luật trong hệ thống Luật-Tạng do Bộ Phái Nhất Thiết Hữu thuộc hệ Thượng Tọa Bộ Ấn Độ kiết tập...Đại Tạng No. 1451
(Xem: 7735)
Bộ chú giải này là một trong năm bộ luận giải thích về luật trong Luật bộ thuộc Hán dịch Bắc truyền Đại tạng kinh lưu hành tại Trung quốc và được đưa vào Đại chính tân tu Đại tạng kinh N.1462, tập 24 do Nhật bản biên tập.
(Xem: 10655)
Bát-nhã tâm kinh (prajñāpāramitāhṛdayasūtra) là một bản văn ngắn nhất về Bát-nhã ba-la-mật (prajñā-pāramitā). Trong bản Hán dịch của Huyền Trang, kinh gồm 262 chữ.
(Xem: 6582)
Hán dịch: Hậu Hán, Tam tạng An Thế Cao người nước An Tức; Việt dịch: Tì-kheo Thích Nguyên Chơn.
(Xem: 6868)
Có thể xem đây là "tập sách đầu giường" hay "đôi tay tỳ-kheo"; rất cần thiết cho mỗi vị Tỳ-kheo mang theo bên mình để mỗi ngày mở ra học tụng cho nhuần luật nghi căn bản.
(Xem: 10390)
Không Sát Sanh là giới thứ nhất trong Ngũ Giới. Chúng ta đang sống trong một thế giới bất toàn, mạnh hiếp yếu, lớn hiếp nhỏ, giết chóc tràn lan khắp nơi.
(Xem: 10493)
Kể từ khi đạo Phật truyền vào nước ta, hàng Phật tử tại gia trong bất cứ thời đại nào và hoàn cảnh nào cũng đã có những đóng góp thiết thực trong sứ mạng hộ trìhoằng dương chánh pháp.
(Xem: 6361)
Tạng Luật (Vinayapiṭaka) thuộc về Tam Tạng (Tipiṭaka) là những lời dạy và quy định của đức Phật về các vấn đềliên quan đến cuộc sống...
(Xem: 6014)
Sau khi Đức Phật nhập diệt, Trưởng lão Māhakassapa (Ma-ha Ca-diếp) triệu tập 500 vị Tỳ-khưu A-la-hán để trùng tụng Pháp và Luật.
(Xem: 8353)
Vị Tăng, lấy Phật làm tính, lấy Như-Lai làm nhà, lấy Pháp làm thân, lấy Tuệ làm mệnh, lấy Thiền-duyệt làm thức ăn.
(Xem: 10368)
Tôi được Tăng sai phụ trách hướng dẫn Bồ tát Học xứ cho chúng Giới tử tân thọ Bồ tát giới...
(Xem: 6793)
Trong Luật tạng, bộ Luật đầu tiên theo trong sử nhắc đến là bộ Bát thập tụng luật do Tôn giả Ưu-ba-li tám mươi lần ngồi tụng thì mới xong bộ Luật của Phật dạy.
(Xem: 25680)
Tăng đoàn thực hành đúng Pháp và Luật của Phật đã chế định trong sự cùng nhau cộng trú hòa hợpthanh tịnh, cùng nhau giải tán trong sự hòa hợpthanh tịnh.
(Xem: 8457)
Chủ ý đó là muốn Tỷ kheo phải là bậc Chúng trung tôn, thân miệng ý, cả 3 nghiệp ấy đừng có những tội lỗicử động bất xứng... Hòa thượng Thích Trí Quang dịch giải
(Xem: 16224)
Bộ Luật Tứ Phần khởi nguyên do bộ phái Đàm-vô-đức (Dharmagupta, Pháp Tạng bộ) truyền trì... Hòa thượng Thích Trí Thủ dịch (1983)
(Xem: 6892)
Là một bộ luật quan trọng trong sáu bộ luật của ngài Nam Sơn, bắt nguồn từ bộ luật của ngài Đàm-vô-đức. Vào cuối đời Đường ở núi Thái Nhứt, sa môn Đạo Tuyên chú thích. Việt dịch: Thích Thọ Phước
(Xem: 104673)
Đại Tạng Việt Nam bao gồm 2372 bộ Kinh, Luật và Luận chữ Hán và tất cả đã kèm Phiên âm Hán Việt...
(Xem: 14931)
Tại Gia Bồ Tát Giới Bổn - 3 ngôn ngữ Anh, Việt, Hoa - Nhiều Tác Giả
(Xem: 14160)
Giới luậtsinh mệnh, là sự sống của Phật tử, nhất là của hàng Tỳ kheo thừa Như lai sứ, hành Như lai sự... HT Thích Trí Thủ
(Xem: 12117)
Ba học Giới, Định, Tuệ là những nhân tố then chốt nhất của người học Phật, như chiếc đỉnh ba chân, thiếu một tất không thể đứng vững. Nhưng giới học, hay là giới luật học, lại là căn bản nhất... HT Thích Thanh Kiểm
(Xem: 9557)
Luật Học Tinh Yếu - Muốn qua sông phải nhờ thuyền bè, muốn vượt bể khổ sinh tử phải nương nhờ Giới pháp... HT Thích Phước Sơn
(Xem: 16080)
Cúi đầu lễ chư Phật, Tôn Pháp, Tỳ-kheo Tăng, Nay diễn pháp Tỳ-ni, Để Chánh pháp trường tồn... HT Thích Trí Thủ dịch
(Xem: 16815)
Luật Tứ Phần - Việt dịch: HT Thích Đổng Minh; Hiệu chính và chú thích: Thích Nguyên Chứng, Thích Đức Thắng
(Xem: 18395)
Luật nghi của Đức Thế Tôn chế định vì bảo hộ Tăng-già, thanh qui của Tùng Lâm đặt định để thành tựu pháp khí cho già lam, pháp thức hành trì cho cư gia phật tử để xây nền thiện pháp...
(Xem: 22360)
Trải qua nửa thế kỷ thuyết pháp độ sinh, Ðức Ðạo sư đã hóa độ đủ mọi hạng người, không phân biệt màu da, chủng tộc, giai cấp, sang hèn... Thích Phước Sơn
(Xem: 29297)
Sự kiện Đức Phật chấp nhận thành lập giáo hội Tỳ kheo ni, nâng vị trí người nữ đến mức quan trọng nhất, là việc làm duy nhất và chưa từng thấy trong lịch sử tôn giáo...
(Xem: 23706)
Cách tốt nhất để mang lại sự an ổn cho bản thân là hướng về điều thiện, và quy y Tam bảo là nền tảng đầu tiên cho một cuộc sống hướng thiện.
(Xem: 20024)
Phật tử có nghĩa là tự nguyện theo Tam quy (ti-sarana), Ngũ giới (pañca-sila), tức là nương tựa vào Tam bảo (ti-ratana) và giữ gìn năm giới căn bản của đạo Phật.
(Xem: 21539)
Đức Phật thấy rõ bản chất của phiền não tham, sân, si là nguồn gốc khổ đau, Ngài chế ra ba phương thuốc Giới-Định-Tuệ để chữa tâm bệnh tham, sân, si cho chúng sinh...
(Xem: 16991)
Trong lời phàm lệ của quyển Tứ phần giới bổn như thích, Luật sư Hoằng Tán (1611-1685) nói: "Tam thế chư Phật câu thuyết Kinh-Luật-Luận tam tạng Thánh giáo.
Quảng Cáo Bảo Trợ