Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,728,674
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Con Người Tâm Linh

14 Tháng Tư 201507:15(Xem: 3642)
Con Người Tâm Linh
CON NGƯỜI TÂM LINH

Thích Đạt Ma Phổ Giác



Con Người Tâm LinhCON NGƯỜI HAY TÌM CẦU BÊN NGOÀI MÀ QUÊN MẤT CHÍNH MÌNH

Phật dạy trong mỗi người chúng ta đều có phần tâm linh sáng suốt, nương nơi mắt thì thấy biết không lầm lẫn, sự vật như thế nào thì biết rõ như thế đó; tai-mũi-lưỡi-thân-ý cũng lại như thế. Thời gian qua, các nhà ngoại cảm đã giúp tìm hài cốt liệt sĩ hy sinh trong các cuộc chiến tranh giúp người sống tìm được người chết bị mất tích, Phật giáo Việt Nam kết hợp với chính quyền các cấp đã tổ chức nhiều đại lễ cầu siêu cho các hương linh, góp phần làm vơi đi nỗi đau mất mát của người còn sống, an ủi, hóa giải cho những người đã khuất.

Không một người nào khi đang còn sống trên thế gian này mà lại không có những mối liên hệ mật thiết giữa mình với thế giới xung quanh. Cuộc sống mỗi con người luôn có tâm linh sáng suốt nhưng vì ta bị gió nghiệp cuốn trôi nên chạy theo tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon, mặc đẹp, ngủ nhiều mà đánh mất chính mình. Sự hoảng sợ, nỗi lo âu mất mát và sợ chết là một trong những căn bệnh tâm lý khó chữa nhất của con người, là nguồn gốc của sự chấp ngã cho thân tâm này là thiệt có “cái ta”.

Thế nhưng, nếu chúng ta chỉ dừng lại ở đời sống phàm tục mà không hề biết tới đời sống tâm linh, không thừa nhận có tái sinh-luân hồi-sống chết thì chính điều ấy đã cản trở mọi người đi tới con đường bình yên, hạnh phúc theo lời Phật dạy. Lành thay cho chúng ta, đất nước Việt Nam đã chấp nhận mở mang, phát triển sinh hoạt tâm linh trên quy mô toàn xã hội. Nhiều người đã thừa nhận một cách có hiểu biết và nhìn nhận sáng suốt về học thuyết luân hồi tái sinh của đạo Phật, có niềm tin sâu sắc đối với nhân quả. Thừa nhậnhiện tượng tái sinh-luân hồi-sinh tử nghĩa là thừa nhận chết không phải là hết, chết chỉ là thay hình đổi dạng để có đời sống kế tiếp tốt hay xấu do nhân đã tạo trong hiện tại. Học thuyết tái sinh đã cho thấy sự thừa nhận chính thống về sự tồn tại của đời sống tâm linh, muốn sống tốt và bình an, hạnh phúc trong hiện tạimai sau ta phải dứt ác làm lành để được sống yêu thươnghiểu biết bằng tình người trong cuộc sống.

Nếu không tâm linh thì không có đời sống con người trong hiện tại, khoa học hiện đại thường chia đời sống con ngườixã hội thành hai lĩnh vực là đời sống vật chấtđời sống tinh thần. Chúng ta cần phải biết rằng, giáo dục Phật học chính là nền tảng giúp con người thấu rõ sức mạnh tâm linh đang hiện hữu nơi thân mỗi người. Hiện tại, ở miền Bắc đất nước Việt nam có đến 4 nhục thân của các Thiền sư tu hành theo đạo Phật đã tự tại ra đi với tư thế ngồi kiết già gần cả ngàn năm mà thân xác vẫn còn nguyên vẹn. Tại chù Phật Tích và chùa Tiêu mỗi chùa có 1 nhục thân, riêng chùa Đậu có đến 2 nhục thân của Thiền sư. Nhục thân của 4 vị đều đã được khoa học khám nghiệm và xác nhận không có chất ướp xác. Tại miền Nam, năm 1963, Hoà Thượng Thích Quảng Đức đã để lại trái tim bất diệt sau khi ngồi tự thiêu ở tư thế kiết già để nguyện cầu cho nhân loại sống yêu thương lẫn nhau bằng trái tim hiểu biết. Sư ông chúng tôi đã chứng kiến và thấy trái tim bất diệt đó sau khi đã được các nhà khoa học cho thiêu lại trên 4000 độ mà vẫn y nguyên. Sự tồn tại phần tâm linh của con người ngay nơi thân vật chất này là một sự thật, nhưng vì chúng ta bị gió nghiệp thức cuốn trôi nên dính mắc vào tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ thoải mái mà không nhận ra phần tâm linh nơi mỗi người.

Chúng ta được sinh ra và lớn lên trong một ngôi nhà, ai cũng ao ước có căn nhà đẹp, kiên cốvững chắc. Ngôi nhà tâm linh không như ngôi nhà bình thường nên ta không thể dùng mắt để thấy hay dùng tay mà sờ mó được. Ngôi nhà này không được xây dựng bởi vật chất mà bằng chính tuệ giác và sự tu tập qua sự nghiệm xét, quán chiếu bởi sự thanh tịnh, sáng suốt của chính mình. Sống ở đời chúng ta có thể nghèo tiền, nghèo bạc chớ đừng nghèo đói về đời sống tâm linh đang tiềm ẩn ngay nơi thân vật chất này. Ai nghèo đói về tâm linh thì người ấy đã đánh mất chất liệu của yêu thương bằng trái tim hiểu biết nên khó bao giờ có được tấm lòng từ bi rộng lớn để thương yêu bình đẳng tất cả chúng sinh. Không riêng gì con người Việt Nam chúng tamọi người trên thế giới đều cần có một ngôi nhà tâm linh vì nó là món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống nhân loại, nó là chỗ cho ta quay về nương tựa sau những cơn sóng gió của cuộc đời. Chính vì vậy, Phật dạy: “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, thắp lên với Chánh pháp”.

Chúng ta xây dựng ngôi nhà thế tục bằng cây, xi măng, gạch, đá, sắt, thép nhưng chất liệu giúp ta xây dựng vững chắc nền móng căn nhà tâm linh là giới-định-tuệ và từ-bi-hỷ-xả. Đối với người tại gia Phật dạy giữ gìn 5 giới và tu 10 điều thiện. Thọ trì 5 giới và tu 10 điều thiện là một trong những phương thức tạo nên đời sống bình yên, hạnh phúc trong hiện tạimai sau. Vậy chúng ta giữ giới chính là để xây dựng một cuộc sống an vui, hạnh phúc từ thể chất đến tinh thần chớ không phải vì ta bi quan, yếm thế, chán đời. Những chất liệu này còn vững chắc, bền bỉ và lâu dài hơn cả bê tông, cốt sắt.

Không sát sinh, hại vật mà ta còn hay phóng sinh mở rộng tấm lòng từ-bi-hỷ-xả. Đó là người có lòng nhân ái bởi giết hại là nhân gây ân oán, thù hằn không có ngày thôi dứt. Người giết người, người giết vật, vật giết người thành một cái vòng lẩn quẩn, từ đó chiến tranh không bao giờ chấm dứt. Con người vì nuôi thân mình nên đã sát sinh hại vật, một số người còn nói “vật dưỡng nhơn”, tức loài vật là do trời tạo ra để nuôi dưỡng con người và cúng tế thần linh. Ai theo truyền thuyết này sẽ cám ơn ông trời và vô tình khiến tâm giết hại càng chồng chất thêm mà dẫn đến giết người khi không làm chủ bản thân. Phật vì lòng từ bi thương xót nên cấm người xuất gia không được giết hại, người tại gia thì tùy hoàn cảnhcố gắng giữ giới sát sinh bằng ba cách: Không trực tiếp giết hại, không xúi bảo kẻ khác giết hại và không vui vẻ đồng tình khi thấy người khác giết hại. Người Phật tử hãy nên mua thịt cá đã làm sẵn hoặc nấu chín để không gieo thêm ân oán, thù hằn. Từ bi hơn nữa, ta hãy phát tâm ăn chay mỗi tháng tùy theo khả năng hay ăn chay trường để tránh việc chúng sinh bị giết hại.

Người trộm cướp luôn bất an, lo sợ bị truy tố trước pháp luật và chính lòng họ cũng thường bị ray rức, ân hận khi làm các việc xấu ác. Họ vì không có công ăn việc làm sinh sống, vì lỡ si mê nghiện ngập, vì không có tiền nên mới phải làm liều. Trái lại, người muốn ít biết đủ, biết nuôi mạng sống chân chính bằng mồ hôi, sức lực của mình thì không bao giờ phải lo sợ như thế. Không gian tham trộm cướp tức là ta sống một đời đạo đức, thánh thiện nên được mọi người mến thương, thích gần gũi.

Người xuất gia thì không dâm dục, người tại gia thì không tà dâm, như vậy sẽ đảm bảo hạnh phúc cho mình và người. Trong một gia đình nếu vợ chồng sống hòa thuận và luôn tin yêu, chồng giữ đúng bổn phận làm chồng, vợ biết lo tròn bổn phận làm vợ, không đứng núi này trông núi nọ và chung lo xây dựng gia đình thì đó chính là một gia đình hạnh phúc.

Không nói dối giúp ta rèn được đức tính thành tín, chân thật. Người chân thậtthành tín luôn được mọi người tín nhiệm, tin tưởng. Không nói dối hại người thì ta ở đâu cũng được người thương mến. Dĩ nhiên, trong công việc giao tiếp hằng ngày ai cũng muốn được tín nhiệm, tin tưởng vì đó là yếu tố thành công trên đường đời.

Không uống rượu hay dùng các chất độc hại như xì ke, ma tuý là những chất liệu tinh khiết giúp chúng ta không rơi vào si mê, cuồng tín. Vì người say sưa luôn tự hạ thấp phẩm cách của mình mà vướng vào nạn bạo hành gia đình và vòng xoáy của tệ nạn xã hội. Hơn nữa, theo y học, rượu làm tinh thần con người ngày càng bị tê liệt bởi các chứng bệnh thần kinh, dẫn đến điên loạn, bị tai biến, đột quỵ và rất nhiều bệnh khác.

Ta sống giữ được 5 giới trên sẽ giúp cho thân tâm trong sạch, hay nói cách khác là kiểm soát được hành động hằng ngày của mình. Chính vì thế, giới là nguồn an vui, hạnh phúc của nhân loại, là tài sản quý báu của con người. Ai gìn giữ được trọn vẹn sẽ giúp chính mình xây dựng tốt ngôi nhà tâm linh bền vữnglâu dài. Vậy tại sao chúng ta không noi theo gương hạnh của đức Phậtxây dựng tường vách vững bền cho ngôi nhà tâm linh bằng những sinh hoạt thiết thực là chia vui sớt khổ và tu hạnh lắng nghe theo tinh thần của Bồ tát Quán Thế Âm? Khi tâm ta thanh tịnh, lặng lẽ, sáng trong thì cuộc sống sẽ bình an, hạnh phúc. Chúng ta sẽ có tuệ giác tâm linh dẫn đường để vượt qua những chướng duyên, nghịch cảnh mà vươn lên vượt qua cạm bẫy cuộc đời.

Muốn tránh bị nhân quả xấu không gì khác hơn ta phải biết tu tâm dưỡng tánh để chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau mà vươn lên vượt qua số phận, làm mới lại chính mình. Ta không thể cầu xin Phật, Bồ tát giúp cho ta mà chính mình phải biết đóng góp, dấn thân và buông xả. Nếu muốn Phật tâm hiển lộ thì bắt buộc người đó phải sống tỉnh thức, biết tự chủ, từ bỏ lòng tham lam, sự sân giận, tính si mê để có nhận thức sáng suốt; phải biết đâu là chân thật, đâu là giả dối. Sự hiểu biết chân chính rất quan trọng, nhưng muốn nhận thức đúng đắn chúng ta phải biết thực hành phước-huệ song tu ngay trong đời sống hằng ngày. Làm phước là giúp đỡ vật chất hay giảng dạy Chánh pháp để khuyên mọi người tin sâu nhân quả, biết buông xả phiền não tham-sân-si. Tu huệ là biết quán chiếu, soi sáng lại chính mình nên biết được thật-giả phân minh của thân tâmhoàn cảnh; nhờ vậy mới biết cách buông xả những tham lam, sân giận, si mêthể nhập Phật tính sáng suốt nương nơi thân với mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý.

Khi nói đến tâm linh người ta thường nghĩ đến cái gì huyền bí, xa xôi ở phương trời nào đó. Thật ra, nói đến tâm linh là nói đến nhân cách sốngđạo đức của một con người cùng với sự dấn thân đóng góp và phục vụ. Đó chính là sự biểu hiện của một người qua ý nghĩ, lời nói, hành động; là chính những hành động sống lương thiện, hay giúp người, cứu vật có tác động đến mối quan hệ giữa người này với người khác, đến môi trường xã hội hoặc thiên nhiên, cuộc sống. Tuy nhiên, nói như vậy cũng chưa thật đầy đủ, bên cạnh đó còn phải đòi hỏi con người phải có kiến thức hiểu biết chân chính. Mọi sự ngu dốt cũng mang lại nhiều tai hại, muốn tránh những điều xấu xa, tội lỗi chúng ta phải có hiểu biết đúng đắn dựa trên nền tảng nhân quả. Chúng ta hiểu biết đời sống không phải là độc lập, riêng lẻ mà là sự nương dựa vào nhau trong mối tương quan chằng chịt; cái này sống thì cái kia sống, cái này chết thì cái kia chết; cái này chết để cái kia sống và cái này sống thì cái kia chết. Đó cũng là sự nương tựa vào nhau theo nguyên lý nhân duyên trùng trùng duyên khởi.

“Cái này chết để cái kia sống” cũng như khi con người sống phải nhờ vào lương thực thực phẩm, tức phải ăn uống; dù thánh thiện như ăn chay thì rau củ cũng phải nhổ lên, tức là có sự chết; nếu ăn thịt cá thì ta phải giết hại các loài súc vật để ăn. Đó là nguyên lý tương quan, tương duyên “cái này chết để cái kia sống”, cứ như thế mà sống chết đắp đổi, tiếp nối nhau không có ngày cùng. Chính nguyên lý duyên khởi này mà con người và muôn loài vật có sự liên hệ mật thiết với nhau. Con người vì lòng tham lam quá đáng mà khai thác bừa bãi sẽ tạo ra sự hủy diệt nhân loạithiên nhiên vừa cung cấp, nuôi nấng mà vừa bảo vệ cuộc sống con người. Vì lòng tham tài nguyên thiên nhiêncủa cải vật chất nên làm mất đi giá trị tâm linh nơi con người. Nếu con người không biết tôn trọng nhau trong tình thương yêu chân thật thì xã hội sẽ rơi vào cảnh hỗn loạn, chiến tranh; cũng như vì quyền lợi riêng tư mà chúng ta khai thác quá mức khiến tài nguyên cạn kiệt, môi trường sống bị ô nhiễm trầm trọng. Như vậy, những việc làm của con ngườiliên hệ tới thiên nhiênthế giới muôn loài vật. Nếu chúng ta không biết nương tựa vào nhau và quay lại chính mình để sống với con người tâm linh thì nhân loại sẽ không biết thương yêu đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau bằng tình người trong cuộc sống.

Ta thấy, tâm linh không phải là cái gì trừu tượng, khó hiểu mà nó là sự việc có thật và luôn sống động diễn ra trong mỗi phút giây của đời sống con người. Chúng ta sống cần phảiý thứchiểu biết, hằng ngày cần phải biết kiểm soát chặt chẽ từ suy nghĩ cho đến lời nói và hành động của mình. Sông Sài Gòn và nhiều dòng sông thơ mộng khác trong đất nước Việt Nam đang trở thành những dòng sông chết, bầu khí quyển toàn cầu cũng đang thoi thópô nhiễm do tầng ozon đã bị chọc thủng…, tất cả đang đe dọa nghiêm trọng sự sống của muôn loài vật trên thế gian này. Nguyên nhân chủ yếu chính vì lòng tham muốn quá đáng và sự ích kỷ, hẹp hòi của con người. Kinh tế thị trường không lành mạnh bởi những dịch vụ quảng cáo sai sự thật, chủ yếu là kích thích lòng tham của con người nên nhân loại ngày càng dính mắc vào vật chất nhiều hơn mà quên lãng phần tâm linh của chính mình.

Không ai có thể lường trước được tai họa nặng nề sẽ xảy ra trong nay mai của việc dùng hóa chất độc hại vào thức ăn, thức uống để con người tiêu thụ. Cứ trên đà phát triển toàn cầu hóa xã hội mà không có sự cân nhắc kỹ lưỡng vì thiếu hiểu biết và không tin sâu nhân quả thì con người sẽ phải gánh chịu nhiều loại dịch bệnh vì ô nhiễm môi trường, ô nhiễm thức ăn, ô nhiễm phim ảnh, sách báo đồi trị… Với khuynh hướng phát triển thiếu ý thức trách nhiệm này mà con người của thế hệ hiện tạimai sau sẽ gánh lấy hậu quả nặng nề. Người làm ngành y thì chế biến thuốc không đúng tiêu chuẩn như đã giới thiệu, kẻ thiếu lương tâm chuyên chế biến thuốc giả, thuốc lậu mà làm lũng đoạn nền kinh tế thị trường. Con người do lòng tham lam quá đáng chỉ biết làm sao có lợi cho riêng mình mà mặc tình làm cho bao người phải bệnh hoạn hay chết chóc.

Vậy chúng ta phải làm thế nào để được sống với con người tâm linh của chính mình? Tâm linh được biểu lộ qua ý nghĩ, lời nói, hành vi qua việc làm, qua sự va chạm tiếp xúc với người khác, qua cảm thọ, qua vật chấtđời sống hiện tại. Người ta ít ai để ý hoặc hiểu về mối quan hệ giữa tâm linh và thể xác. Chúng ta hãy thử dành ít phút giây lắng lòng lại để thể nghiệm chính mình. Khi cơn giận nổi lên ta cảm thấy tim đập mạnh, cũng như không thể ăn uống bình thường được. Như vậy, nếu ta giận dữ thường xuyên dễ đưa tới tổn thương nội tạng nặng nề, con người sẽ dễ bức xúc và cáu gắt. Hoặc người thích ăn món ngon vật lạ, tức thích hưởng thụ trong sự đau khổ của các loài vật, họ ăn uống vô độ nên bệnh béo phì phát sinh mà dẫn đến nhiều bệnh tật.

Bất kỳ ước muốn nào để thỏa mãn đều đưa tới lòng tham lam, ích kỷ. Khi lòng tham phát sinh người ta hay có khuynh hướng bảo thủ, cực đoan, rồi từ đó đánh mất chính mình. Như vậy, thân và tâm có quan hệ với nhau vì ý suy nghĩ, miệng nói năng, thân hành động tốt hay xấu. Chính vì vậy, tâm linh con ngườixã hội luôn gắn liền và liên quan mật thiết với nhau. Khi một con người không làm chủ được bản thân, không kiểm soát được tư tưởng, hành vi của mình, họ luôn hành động theo lòng tham muốn ích kỷ, theo cảm tính cá nhân để thỏa mãn sự cảm thọ của thân xác. Vậy chúng ta biết sống tỉnh giác trong từng phút giây là ta đã sống có tự chủ, kiểm soát được ý nghĩ mà hành động sáng suốt để giúp người cứu vật, nhờ đó mà tránh được nhiều quả xấu trong đời.

Do đó, nhân quả của một người hay cộng nghiệp của một quốc gia không phải tự nhiên mà có, mọi việc đều do chúng ta tạo tác mà tạo thành quả báo. Có thể nói, thói quen huân tập nhiều đời tốt hay xấu tạo nên tính tìnhthành nhân cách riêng của mỗi người. Cái riêng đó thành nhân quả cá nhân, nếu nhiều cái riêng tương đồng hợp lại sẽ thành cộng nghiệp nhân quả chung. Đời sống con ngườixã hội được hình thành là do sự diễn biến nhân quả chung và riêng mà trở thành một dân tộc, cộng đồng của đất nước đó.

Ngu dốt là sự không hiểu biết của con người nên ngu dốt cũng đem tới nhiều tai hại cho bản thân, gia đìnhxã hội. Nếu ta sống chung với nhiều người ngu dốt thì bản thân sẽ gánh lấy nhiều hậu quả không thể lường được. Có thể nói, ngu dốt là không có kiến thức, không tin sâu nhân quả, không hiểu biết chân chính về mối tương quan trong thế giới mình đang sống. Ngu dốt cũng có thể là cố chấp, không chịu học hỏi hay lắng nghe. Chính vì lẽ đó, con người ngu dốt vì thấy biết sai lầmđưa tới hành động tội lỗi làm tổn thương cho người và vật. Ngu dốt sẽ dẫn dắt chúng ta vào con đường tối tăm, khi ta sống trong sự vô minh che lấp thì suốt cuộc đời phải chịu đau khổ lầm mê mà không biết chừng nào mới thoát được. Người không học thức đương nhiên là ngu dốt, nhưng người thiếu học hỏi, không chịu lắng nghe, không chịu bàn bạc, tham khảo, cố chấp, độc đoán cũng thuộc hạng người siêu ngu dốt. Cho nên, chúng ta không biết phát huy con người tâm linh, không có ý chí mạnh mẽ thì không thể nào vượt qua cạm bẫy cuộc đời mà vươn lên làm mới lại chính mình. Một người không có trí tuệ thì không sao có nhận thức đúng đắn, nhưng có trí tuệcố chấp, không chịu buông xả thì sẽ bị vấp ngã trở lại. Khi chúng ta đã đánh mất con người tâm linh của chính mình thì ta sẽ bị sa đọa, khổ đau bởi si mê, nghiện ngập đủ thứ.

Không có gì giá trị và đẹp bằng sự thật. Trong thực tế cuộc sống ít ai dám nói sự thật, phô bày sự thật nên sự thật dù có xấu đến mấy vẫn đẹp hơn sự dối trá. Không có gì đẹp và cao thượng bằng sự thật. Sự thật thì không thể nào né tránh được, nhưng con người ta vẫn cố tình che giấu vì sợ mọi người biết. Có những sự thật mà chỉ khi nào con người đủ lớn khôn và có hiểu biết chân chính nhờ biết nghiệm xét, tư duy mới hiểu được giá trị thật của nó. Cuộc đời không chỉ có màu hồng mà lúc nào bên cạnh nó vẫn có những màu đen đan xen lẫn nhau. Người có học thức cao thì càng khéo léo che giấu, bưng bít những sự thật không được trong sáng vì ai cũng thích được khen hơn bị chê.

Một mình chúng ta không thể hiểu biết hết mọi lĩnh vực trong cuộc sống nên sự sống của mọi người cần phải nương nhờ lẫn nhau qua nhịp cầu tương quan, tương thân, tương trợ mật thiết không thể tách rời nhau. Vì tình thương yêu nhân loại bằng trái tim hiểu biếtcon người có thể đóng góp và hỗ trợ cho nhau về mọi phương diện giáo dục, kinh tế, chính trị và đời sống tâm linh. Thế gian là một trường đời hỗn hợp mang nhiều sắc thái đa dạng, phức tạp, chúng ta không biết đối xử với nhau bằng con người tâm linh thì dễ dẫn đến oán giận, thù hằn vay trả không có ngày thôi dứt.

Điều quý giá và thiêng liêng, cao cả nhất mà các bậc hiền Thánh luôn quan tâmlo lắng là mối quan hệ xã hội bằng tình người trong cuộc sống cùng với trái tim yêu thươnghiểu biết. Do chúng sinh tạo nghiệp bất đồng nên mọi ngườihiểu biếtcách sống khác nhau tùy theo nghiệp huân tập. Luật pháp do con người đặt ra tùy vào một số người nắm cán cân công lý nên con người có thể thay đổi và dễ dàng bẻ cong luật pháp nhờ những thế lực cầm quyền. Đối với luật nhân quả nghiệp báo thì không đơn giản thế, chúng ta đừng bao giờ hy vọng qua mặt được nhân quả vì khi hội đủ nhân duyên dù trăm kiếp ngàn đời cũng không thể trốn thoát. Dù ta đang ở địa vị cao nhất của loài người thì khi phước hết ắt họa ập đến mà phải gánh lấy hậu quả khổ đau do chính mình gây tạo. Chỉ khi nào ta thanh toán hết món nợ nhân quả chính mình đã gieo dù cố ý hay vô tình thì mới không còn bị ràng buộc bởi nghiệp quả.

Do đó, chúng ta hãy nên suy ngẫm, chiêm nghiệm, kiểm tra chặt chẽ từ ý nghĩ, lời nói cho đến hành động để không làm tổn hại đến muôn loài vật thì mới có thể chuyển hóa khổ đau hay buông xả dính mắc. Khi có được tấm lòng yêu thương chân thật ta sẽ cảm thấy ấm áp và bình yên, hạnh phúc; nhưng khi bị người ghét bỏ mình sẽ phải sống trong cô đơn, lo lắngsợ hãi. Cuộc đời này chúng ta sống là để yêu thương, an ủi, giúp đỡ, sẻ chia bằng tình người trong cuộc sống. Ta cho đi cái gì sẽ được nhận lại cái đó theo quy luật nhân nào quả nấy. Bởi thế, ta hãy luôn vui vẻ, hân hoan, phấn khởi với những gì mình đã cho đi bằng trái tim hiểu biết. Tất cả mọi ngườixuất gia hay tại gia cũng đều là đệ tử Phật, ai cũng đang hướng về cuộc hành trình tâm linh của chính mình để sống đời giác ngộ, giải thoát. Vì vậy, chúng ta không nên đi theo con đường du lịch tâm linh của người thế gian bằng cách cầu khẩn, van xin mà không chịu gieo nhân tốt để gặt quả tốt và tu tập để chuyển hoá phiền não tham-sân-si thành vô lượng trí tuệtừ bi.

Trên bước đường tu học hay trên cuộc hành trình trở về cội nguồn tâm linh Phật dạy nhiều phương pháp giúp chúng ta tiến tu tùy theo căn cơ, hoàn cảnh của mỗi người. Điều này thường được gọi là Ngũ thừa Phật giáo, hay Tam thừa Phật giáo, hoặc Nhất thừa Phật giáo. Đây chính là những con đường tâm linhĐức Phật đã trải nghiệm mà đạt đến kết quả cao nhất. Là đệ tử Phật chắc chắn chúng ta cần đi theo con đường tâm linh này vì không có con đường nào khác dẫn chúng ta đến giải thoát sinh tử khổ đau.

Hoàn cảnh, sự sống của mỗi người không giống nhau vì chúng ta huân tập và gây tạo nghiệp báo bất đồng nên tùy theo nhân duyên thuận nghịch mà mỗi người chọn lựa pháp tu thích hợp. Nói cho dễ hiểu, trong xã hội nào cũng có hai hạng người là giàu và nghèo. Tuy có nhiều người nghèo nhưng cũng có mức độ chênh lệch khác nhau, những người giàu cũng có sự không đồng đều về tài sản vật chất sở hữu. Hai giới giàu nghèo tuy có cuộc sống khác nhau, một bên có nhiều tiền bạc của cải, một bên thiếu thốn mọi bề; nhưng họ đều có chung một điều là sự khổ đau vì luôn bị sự giàu nghèo làm cho dính mắc. Thiếu thốn vật chất thì muốn có được đầy đủ, khi có rồi thì sợ hao hụt, mất mát nên bằng mọi cách cố gắng gìn giữ, do đó phát sinh tham lam, bỏn sẻn. Những người giàu có ta đừng tưởng họ sung sướng, hạnh phúc. Có khi họ còn khổ sở hơn người nghèo bởi tiền bạc, của cải nhiều không mang lại cuộc sống an vui, hạnh phúc. Tâm người giàu luôn lo sợ bị mất mát của cải, vật chất họ đang có nên họ khổ. Cũng vậy, những người nghèo lại quá khó khăn nên cuộc sống luôn vất vả, nhọc nhằn mà không có một ngày no đủ. Chính vì vậy, nỗi khổ, niềm đau đối với họ là lẽ đương nhiên.

Trong hai hạng người giàu và nghèo thuộc giới cư sĩ tại gia chúng ta vẫn nhìn thấy nhiều gương người tốt, việc tốt với tinh thần dấn thân, đóng góp, phục vụ vì lợi ích cộng đồng xã hội. Họ có thể làm vua, làm thủ tướng, làm giám đốc, làm bác sĩ, làm luật sư, làm giáo viên, hay chỉ là những người dân bình thường với đủ thứ ngành nghề khác; nhưng nhìn kỹ vào việc làm của họ ta mới biết họ là những vị Bồ tát đem chất liệu bình an đến cho tha nhân, họ sống thương người, giúp đời một cách bình đẳng mà không bao giờ nghĩ đến quyền lợi riêng tư. Đó là những vị Bồ tát theo tinh thần của Kinh Pháp Hoachúng ta cần phải thấu suốt để cùng hợp tác trên bước đường tu học chuyển hóa tham-sân-si. Thế giới con người chúng ta luôn có những vị Bồ tát như vậy thì xã hội mới giảm bớt sự tối tăm, mờ mịt. Các vị Bồ tát luôn hiện thân ở đời với nhiều hình thức để ủng hộ, duy trì, gìn giữ Phật pháp; đem nước mát từ bi rưới khắp nhân gian nhằm chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc.

Đối với hai hạng người tại gia giàu và nghèo Phật cũng tùy theo căn cơ mà hướng dẫn cho họ tu học để được lợi lạc. Người giàu có tượng trưng cho chư Thiên đã tạo quá nhiều phước ở đời trước nên đời này được hưởng phước báu đầy đủ tiện nghi vật chất. Người nghèo vì không biết bố thí, cúng dường, giúp đỡ, sẻ chia trong nhiều đời nên hiện tại phải chịu quả báo thiếu thốn, khó khăn. Nếu người giàu ỷ lại mình có nhiều phước báovui chơi sa đọa thì đến khi phước hết họa đến cũng chịu nhiều bất hạnh, khổ đau. Cũng vậy, tuy nghèo trong hiện tại nhưng nhờ biết tin sâu nhân quả mà ta cố gắng làm lành, tránh dữ thì trong tương lai cũng có thể chuyển được kiếp nghèo khó và ngày càng hoàn thiện chính mình. Nhưng cuộc sống của thế gian nếu có hạnh phúc lắm cũng chỉ là tạm bợ trong 3 cõi 6 đường luân hồi-sinh tử. Vì lòng từ bi vô hạn Phật chỉ ra những phương pháp cho người tại gia dù giàu hay nghèo đều được học hỏitu tập để chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc lâu dài.

Xã hội ngày nay có rất nhiều vị Bồ tát ủng hộ xây chùa, in Kinh, đúc tượng, truyền bá Phật pháp và giúp đỡ người bất hạnh, khó khăn trong mọi hoàn cảnh. Một phần nhờ vào sự giúp đỡ của chính quyền các cấp cho phép và nhất là các cư sĩ Bồ tát tại gia hoan hỷ, vui vẻ, hết lòng đóng góp, hỗ trợ nên mọi việc mới được thực hiện tương đối dễ dàng. Đối với những Bồ tát chọn cuộc sống tại gia để hộ trì Tam bảo Đức Phật hướng dẫn con đường tu Nhân thừa siêu thoát. Đó là 5 giới pháp nhiệm mầu giúp chuyển hóa si mê, tối tăm, mời mịt thành trong sáng, hiện thực bằng tấm lòng từ bi rộng lớn.

Đức Phật thường quan tâm thương xót đến hai hạng người giàu và nghèo tại gia để tìm cách giúp đỡ họ vượt qua biển khổ sông mê, hướng họ đến đời sống thánh thiện bằng cách quy hướng Tam bảothọ trì 5 giới pháp. Hai giới tại giaxuất gia sống tốt đẹp như vậy nhờ biết kết hợp hài hoà làm cho đạo Phật được phát triển và hưng thịnh. Nếu chỉ có giới xuất gia tu học mà không có người tại gia ủng hộ tích cực về mọi phương diện thì đạo Phật sẽ không thể phát triển rộng rãi được. Ngược lại, giới tại gia hết lòng hộ trì Phật pháp nhưng không có các bậc hiền Thánh Tăng tu học chân chính để hướng dẫn, chỉ dạy thì cũng không thể làm cho đạo Phật được duy trì lâu dài. Phật giáo thịnh hay suy là do ý thức tu học của mỗi người biết kết hợp hài hoà giữa đạo và đời để làm lớn mạnh thêm sự yêu thương bình đẳng bằng trái tim hiểu biết.

Việc thực hành 5 giới và 10 điều thiện lành giúp chúng ta sống có nhân cách đạo đức tốt mà hoàn thiện chính mình. Song, bên cạnh đó ta phải biết kết hợp hài hoà với Tam thừa giải thoátThanh văn (nhờ nghe Phật thuyết pháp mà tu tập pháp Tứ Đế khổ-tập-diệt-đạo và 37 phẩm Bồ đềđược giải thoát), Duyên giác (còn gọi là Bích Chi Phật- Những bậc Thánh sinh vào thời không có Phật, nhờ tu pháp 12 nhân duyên vô minh-hành-thức-danh sắc-lục nhập-xúc-thọ-ái-thủ-hữu-sinh-lão-tử mà chứng đạo giải thoát ra khỏi sinh tử) và Bồ tát (bậc Thánh tu nhân-thiên đạo và giải thoát đạo, nghĩa là giải thoát khỏi sinh tử mà vẫn không lìa sinh tử để có thể hóa độ những chúng sinh có duyên). Hàng Thanh văn, Duyên giác chỉ tu lợi ích cho mình nhiều hơn mà ít đi vào đời để dấn thân đóng góp và giúp đỡ, sẻ chia. Chính yếu vẫn là hàng Bồ tát xuất giaBồ tát tại gia với thân-miệng-ý thanh tịnh, trong sáng nhờ biết buông xả phiền não tham-sân-si mà làm lợi ích cho đời với tinh thần chia vui sớt khổ bằng tình người trong cuộc sống. Thế gian này nếu thiếu hai hạng Bồ tát vừa kể trên sẽ là bãi chiến trường đẫm máu vì sự tham lam, ích kỷ của con người.

Trong hàng Tam thừa Phật giáo Bồ tát vẫn hơn Thanh vănDuyên giác về công hạnh độ tha bền bỉ, lâu dài; nhưng chúng ta lại thường nghĩ 2 giới người tại gia tu là Nhân thừaThiên thừa (tu giữ 5 giới và làm 10 điều lành để có thể tái sinh cõi người hay cõi trời) thấp hơn giới Tam thừa giải thoát (tu để giải thoát khỏi luân hồi sinh tử) của người xuất gia. Theo sự hiểu biết của chúng tôi, con người là quan trọng chính yếu vì tất cả sự thay đổi nơi thế gian để mở mang, phát triển nhằm phục vụ lợi ích cho nhân loại đều từ bàn tay, khối óc con người mà nên. Chúng ta có được an vui, hạnh phúc, được vật chất đầy đủ không phải để an hưởng cho riêng mình mà phải sẵn sàng chia vui sớt khổ vì lợi ích chúng sinh.

Phật dạy trong 6 đường luân hồi sống chết con người là một chúng sinh cao cấp hơn hẳn các loài khác nhờ biết suy nghĩ, tư duy sáng suốtphân biệt đúng-sai nên dễ thành tựu hạnh sẻ chia và buông xả viên mãn với nhiều hình thức độ sinh. Bồ tát Quán Thế Âm ứng hiện nhiều thân, nhất là ở Việt Nam đâu đâu cũng thờ Ngài dưới hình tướng một người nữ mà không thờ dưới hình thức thầy tu. Ta tu theo hạnh Bồ tát lợi tha để thành tựu Phật đạo thì phải dấn thân chia sẻ và nâng đỡ mọi người vươn lên vượt qua cạm bẫy cuộc đời để sống bình yên, an vui và hạnh phúc. Cho nên, trong số người đời ta có thể biết được ai là Bồ tát hiện thân, tức là người có lòng từ bi, có trí tuệ và luôn đóng góp, giúp đỡ, sẻ chia, làm được những việc khó làm.

Chúng ta xuất giathực phẩm tiêu dùng hằng ngày và được yên ổn tu hành thì phải nhớ đến những người đã tạo ra thực phẩm, những người giữ an ninh trật tự, những đàn na tín thí hỗ trợ, đóng góp mà luôn cố gắng, nỗ lực tu hành chuyển hóa phiền não tham-sân-si, trên cầu quả Phật, dưới cứu độ tất cả chúng sinh. Các vị Bồ tát đi vào đời dưới nhiều hình thức xuất gia lẫn tại giaphát nguyện thành tựu Phật đạo bằng con đường hành Bồ tát đạo sẽ tái sinh trở lại để dấn thân đóng góp và làm việc phục vụ lợi ích tha nhân. Có vị là chân tu thạc đức, có vị làm vua, làm tướng, làm người nữ, người nam hay đủ mọi hình tướng, hoàn cảnh để phục vụ nhân loại. Hai chúng Bồ tát xuất giaBồ tát tại gia hợp tác với nhau mật thiết thì Phật sự dễ dàng thành tựu theo chiều hướng tốt đẹp.

Riêng Phật giáo Nam tông hay Phật giáo nguyên thủy của người Việt Nam thì không thọ giới Bồ tát. Giáo lý được phân làm hai truyền thống theo địa lý truyền thừa và được gọi là Phật giáo Bắc tôngPhật giáo Nam tông. Phật Giáo Bắc tông theo khuynh hướng phát triển lời Phật, còn Phật Giáo Nam tông theo khuynh hướng bảo thủ nguyên xi lời Phật và các Thánh Tăng đệ tử thuyết trong 5 bộ Kinh truyền thống. Truyền thống Bắc TôngNam Tông có những khác biệt. Tuy nhiên, những khác biệt ấy không cơ bản. Trái lại, những điểm tương đồng lại rất cơ bản. Cả hai đều nhìn nhận Đức Phật Thích ca là bậc Đạo sư, đều chấp nhậnhành trì giáo lý Tứ thánh đế, Bát chánh đạo, Duyên khởi...; đều chấp nhận Tam pháp ấn Khổ-Không-Vô ngã; đều chấp nhận con đường tu tập Giới-Định-Tuệ. Tuy nhiên, Nam tông có khuynh hướng giải thoát ngay tại kiếp này bằng cách đạt Niết Bàn ngay trong đời hoặc nếu tu chưa đạt thì tiếp tục tu trong các lần tái sinh kế tiếp cho tới khi viên mãn. Phái Bắc tông thì theo Bồ Tát Đạo, là đạo không đạt Niết Bàn ngay hiện tại mà tu các hạnh Ba La Mật cho đến vô số kiếp rồi mới thành Phật Chánh Đẳng Giác như Phật Thích Ca.

Chúng xuất gia chuyên học hỏi, tu tập, thuyết pháp giảng Kinh, xây dựng con người đạo đức, tâm linh. Chúng tại gia hộ trì Tam bảo và cùng chúng xuất gia tu tập chuyển hóa và hỗ trợ lẫn nhau. Hai chúng tại giaxuất gia phải biết cách hợp tác để làm lợi ích cho đời, nhưng phải có tu tập mới chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc. Vì vậy, để tránh hai cực đoan trên các vị Bồ tát tùy theo tâm nguyện mà làm nhà sư, làm thủ tướng, làm kẻ trồng trọt hoa màu hay làm nhà kinh doanh… để hỗ trợ nhau cùng thành tựu Phật pháp. Chúng xuất gia giữ gìn Chánh pháp của Phật và tu tập làm gương cho nhân thế, vừa học, vừa tu, vừa hướng dẫn giúp mọi người thoát ra biển khổ sông mê mà làm người có ích. Tấm gương sáng của người xuất gia là không kẹt vào danh vọng, lợi dưỡng, tiền bạc và sự cung kính. Họ là người tu theo hạnh giác ngộ, giải thoát nên muốn ít biết đủ, sống đời đơn giản, đạm bạc. Giới cư sĩ tại gia thì hộ trì Chánh pháp, giúp Tam bảo trường tồnthế gianduy trì giống nòi nhân loại.

THẾ GIAN NẶNG VỀ VẬT CHẤT HƠN TINH THẦN

Tất cả chúng ta vì bị vô minh che lấp nên khi có mặt trên thế gian đều không có nhận thức sáng suốt, do đó ta thường lo cho phần ngọn nhiều hơn là phần gốc. Có những việc cần thiếtchúng ta không lo, chỉ cố tâm lo phần không quan trọng mà lãng quên phần lợi ích lâu dàitài sản quý giá của chính mình. Trong cuộc sống chúng ta có ba việc quan trọng là ăn-uống-thở, thường thì chúng ta lo việc nào nhiều nhất. Đa số mọi người trên thế gian này lo ăn-uống là chính. Tối ngày làm lụng vất vả chỉ để lo ăn, lo uống nên tham đắm, dính mắc vào đó. Ăn thì phải món ngon vật lạ hoặc cao lương mỹ vị. Làm vua thì bắt người khác cung phụng đầy đủ, dù ở tận rừng sâu hay biển cả mênh mông cũng bắt người tìm kiếm. Nhưng xét cho kỹ nhịn ăn trên 60 ngày trở lên mới chết. Còn xét về uống thì người có hiểu biết chỉ cần dùng nước tinh khiết hoặc nước đun sôi để nguội là được. Vì không hiểu biết nên chúng ta phải đưa các thứ nước ngọt, rượu bia vào nhiều để thoả mãn cảm giác trong khi vừa tốn tiền, hao phí mà lại bệnh tật; kèm theo đó là nghiệp si mê, nhất là với cánh đàn ông. Thật ra, ta phải nhịn uống trên 10 ngày mới chết.

Vấn đề thở là điều quan trọng nhất trong cuộc sống, nhưng ít ai nghĩ đến mình nhịn thở bao lâu mới chết. Trong tích tắc thở ra mà không thở vào là chết ngay. Vậy mà người đời lại quan trọng việc ăn với uống, còn thở ra sao không cần biết. Rõ ràng, việc tối quan trọng chúng ta lại lơ là, việc không chính đáng thì ta nỗ lực, làm việc nhọc nhằn, vất vả để thỏa mãn bản thân. Như vậy hằng ngày ta chỉ lo việc bồi bổ thân này mà quên đi làm thế nào để được phước đức lâu dài, quên đi tài sản quý giá không bao giờ bị mai một.

ĂN-UỐNG-THỞ CÁI NÀO QUAN TRỌNG HƠN

Cuộc sống của chúng ta trong thời đại hiện nay có quá nhiều thứ bệnh thuộc bộ máy tiêu hóahô hấp phát sinh từ sự ăn uống, hít thở không đúng đắn. Một số người ít hoạt động tay chân nên phát sinh rất nhiều bệnh tật. Chính vì thế, muốn thân khỏe mạnh, tâm an ổn nhẹ nhàng, chúng ta cần phải biết điều hòa trong ăn uống, hít thở đúng cách và vận động thân thể nhiều bằng cách lạy Phật, Bồ tát, vừa sám hối nghiệp tập nhiều đời, vừa rèn luyện sức khoẻ để khí huyết lưu thông đều đặn toàn thân. Theo sự hiểu biết của chúng tôi, cơ thể mỗi người có nhu cầu tiêu thụ thức ăn uống khác nhau nên cần tổ chức cho đại chúng ăn theo cách tự chọn hoặc ăn kiêng. Người bình thường ít bệnh thì ăn theo tiêu chuẩn chung. Người có thân bệnh nhiều cần phải ăn kiêng theo sức khoẻ của mình, vừa hợp vệ sinh, vừa hợp khẩu vị mà lại không tốn kém.

Nói về thức ăn, Phật dạy chúng ta rất kỹ lưỡng. Theo Ngài, người xuất gia hay tại gia có bốn món ăn là Đoàn thực, Xúc thực, Tư niệm thựcThức thực. Đoàn thựcthức ăn vật chất được ăn bằng miệng để nuôi cơ thể sống còn mà tu hành. Đối với thức ăn vật chất, Đức Phật dạy không nên ăn nhiều, chỉ ăn vừa đủ giúp cơ thể khỏe mạnh, không nên ăn những gì không thích hợp với cơ thể. Đó là cách ăn của chư vị Tổ sư đã thể nghiệm nên đưa ra pháp tu tương ứng nhằm duy trì mạng sống chúng Tăng được khỏe mạnh. Cách thức ăn uống của người Việt tương đối lành mạnh, nhưng chế độ ăn uống thường mang tính cách thói quen, ngon miệng, hợp khẩu vị mà có thể thiếu các chất bổ dưỡng cần thiết hoặc dư chất bổ dưỡng.

Đại đa số chúng ta không ý thức được tầm quan trọng của nước đối với cơ thể con người nên thường uống quá ít nước hoặc có uống thì dùng các chất khác như các loại nước ngọt hay rượu bia. Cách tốt nhất là uống nước mỗi ngày từ 2 lít đến 2,5 lít bằng nước đun sôi để nguội. Thân thể thiếu nước nên sinh ra nhiều bệnh tật như táo bón, nhức đầu, trĩ, sạn thận, thận suy, áp huyết cao, viêm gan siêu vi B và bụng hay sình chướng, khó tiêu… Từ đó chúng ta dễ trở nên giận dỗi, cáu gắt, hay nóng nảy, khó chịu, khiến cho không khí gia đình trở nên căng thẳng, mất tươi vui, hạnh phúc. Lượng nước trong cơ thể chiếm 70% dưới mọi hình thái của nó do đó các tế bào và mọi bộ phận trong thân thể cần có lượng nước nhất định. Ngoài việc tắm rửa hằng ngày để da dẻ sạch sẽ, mịn màng, chúng ta ta cần uống lượng nước cần thiết để điều hoà thân thể khoẻ mạnh. Muốn tránh các thứ bệnh nói trên chúng ta cần phải uống nhiều nước, chừng hai ba ly ngay sau khi ngủ dậy mỗi sáng và trước khi đi ngủ buổi tối để giúp bộ máy tiêu hóatuần hoàn hoạt động tốt, dễ dàng lọc máu và thải mọi cặn bã ra ngoài.

Người cư sĩ tại gia nên ăn nhiều rau và trái cây, ăn ít thịt, nhiều cá, nhưng phải biết chọn lựa loại nào ít nhiễm độc. Một số lớn các bệnh tật phát xuất từ việc ăn uống không điều độ hay không biết chọn lựa thức ăn. Giảm bớt chất béo trong máu sẽ tránh được bệnh tim, huyết áp cao và ung thư gan. Để quân bình trong cuộc sống ăn uống hằng ngày, cơ thể chúng ta cần có đủ chất bổ đến từ thịt, cá và chất xơ trong các thứ rau, đậu và trái cây. Chất xơ giúp tiêu hóa dễ dàng và loại bỏ các thứ mỡ không cần thiết cho cơ thể. Nói chung, thức ăn kho và luộc tốt hơn là chiên, xào, nướng. Ngoài ra, chúng ta nên để ý cách dùng các gia vị âm dương trong nghệ thuật nấu nướng và ăn uống của người Việt Nam. Theo đó, các loại thịt cá thuộc loại âm thường được nấu nướng hay ăn với các thứ gia vị và rau thuộc loại dương, và ngược lại. Rất nhiều bệnh tật phát xuất từ tình trạng máu huyết lưu thông không đều đặn, do ít hoạt động chân tay nên không chuyển tới các cơ phận mọi chất liệu cần thiết, nhất là hồng huyết cầu và dưỡng khí. Do đó, một trong những cách phòng bệnh hữu hiệu nhất là hay siêng năng hoạt động chân tay, uốn éo thân mình, tập thể dục, đi bộ, bơi lội, làm vườn, lau dọn nhà cửa và lạy Phật, Bồ tát mỗi ngày.

Một hôm, Phật hỏi các vị Tỳ kheo: “mạng người sống trong bao lâu”? Một thầy trả lời: “mạng người sống chừng 80 năm”. Phật hỏi vị khác, thầy đó trả lời:” mạng người sống trong bữa ăn”. Hai vị thầy trả lời Phật đều không chấp chận. Ngài hỏi tiếp vị thứ ba và vị này trả lời “mạng người sống trong hơi thở”. Phật nói, “đúng thế, đời người chỉ dài bằng một hơi thở”, bởi thở vào mà không thở ra thì xem như mất mạng. Ta có thể quên ăn một hai chục ngày vẫn được mà không chết, chính chúng tôi những năm nhiều bệnh phải nhịn ăn mỗi lần ba bốn tuần, hai ba lần như vậy mỗi ngày chỉ uống nửa lít nước đun sôi để nguội. Vấn đề nhịn uống cũng phải trên 10 ngày mới chết, bằng chứng là có một thầy nhịn ăn uống hai tuần chỉ mất sức đi không nỗi, sau ăn uống lại thầy vẫn lao động, làm việc nặng nhọc mà chẳng áp phê gì; nhưng thở ra mà không thở vô là chết ngay liền tức khắc.

Chúng tôi có đứa em gái kế thầy Nhật Từ làm việc bên Ủy ban nhân dân Quận Thủ Đức, đang đứng nói chuyện trước mặt nhiều người thì bỗng nhiên nói nhức đầu rồi ngã lăn ra chết. Vì sao? Vì không còn thở nữa! Thở là một nghệ thuật sống nhưng ít ai quan tâm đến, suốt ngày này đến tháng kia, năm nọ chỉ lo ăn với uống mà quên đi hơi thở của mình. Ngày xưa đức Phật đa số dạy các tỳ kheo quán hơi thở, thở vô mình biết thở vô, thở ra mình biết thở ra, đến khi thuần thục không cần theo dõi hơi thở nữa mà chỉ nhìn hơi thở vô ra dài sâu, nhờ vậy tâm an địnhtrí tuệ phát sinh. Khi tâm an định, rỗng rang, bớt đi tạp niệm thì trí nhớ phát triển, tuệ giác tâm linh khai mở, nhờ vậy ta nhận biết cuộc sống vô thường, mạng sống vô thường và muôn loài vật cũng lại như thế. Mạng sống chúng ta ngắn như một hơi thở, nhờ thường xuyên quán sát như thế ta sẽ thấy biết đúng như thật nên dễ dàng buông xả phiền não tham-sân-si mà tự tại, giải thoát.

ĂN UỐNG NHƯ THẾ NÀO MỚI ĐÚNG

Chúng ta thường nghe nói "có thực mới vực được đạo", tức có ăn mới tu hành được. Đây không chỉ là một câu nói vui đùa bâng quơ mà là một sự thật. Chính vì vậy, ăn uống đã trở thành nhu cầu cần thiết trong đời sống hằng ngày của dân tộc Việt Nam. Điều này được thể hiện qua câu nói “miếng trầu làm đầu câu chuyện”. Ông cha ta nhận thấy ăn uống là sự tự do của mỗi người nên dân gian có câu "trời đánh còn tránh bữa ăn". Xã hội thường coi việc mời ăn, mời uống, tặng quà cáp cho nhau như một vấn đề giao tế trong mực thước đo lòng người. Do đó, “bánh ít đổi đi, bánh quy đổi lại” hay “có đi, có lại mới toại lòng nhau”. Dĩ nhiên, đó cũng là một nhu cầu cần thiết trong mối tương giao cuộc sống. Chúng ta cũng thường nói về đạo làm người, lòng tôn kính ông bà tổ tiên qua việc ăn uống như "ăn quả nhớ kẻ trồng cây"; hay nói về sự biết ơnđền ơn như "uống nước nhớ nguồn"; phê phán những kẻ bội bạc như "ăn cháo đá bát". Dân gian còn có câu “nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà” hay “qua cầu rút ván”, “vắt chanh bỏ vỏ” để nói về hạng người này.

Để thể hiện địa vị và tầm quan trọng của con người trong xã hội nên có câu “mâm cao cỗ đầy” dùng để miêu tả bữa ăn của giới thượng lưu quyền thế. Việc cưới hỏi, lấy vợ gã chồng phải làm tiệc ăn mừng là lẽ đương nhiên; nhưng đầy tháng, thôi nôi, sinh nhật, thi đỗ, làm ăn phát đạt, thậm chí mua nhà tậu đất, thăng quan tiến chức cũng tổ chức ăn mừng thiết đãi gia đình người thân, bạn bè và bà con lối xóm. Ăn uống, tiệc tùng như thế lâu ngày đã trở thành văn hóa tín ngưỡng trong dân gian mà "phép vua cũng thua lệ làng". Nói cho cùng, ăn uống là một nhu cầu cần thiết và cũng là phương tiện để bày tỏ tình thân hữu hay mối quan hệ giữa con người với nhau trong xã hội, nhưng do lối văn hóa ăn uống của người Việt đã ăn thì phải ăn cho đã, đã uống thì phải uống cho say, ăn với uống phải no say nên dần hồi mới như thế.

Người dân các miền thôn quê có ba nhu cầu chính trong việc ăn uống là đám giỗ, đám cưới, đám ma. Ba đám này đã trở thành nhu cầu thiết thực trong cuộc sống. Người thành thị thì ăn uống lu sà bù, đâu đâu cũng thấy quán nhậu làng nướng, đủ thứ món ngon vật lạ được phơi bày. Ở quê nhà nào có người thân chết thì họ làm đám thiết đãi bà con cô bác đến viếng cho đến ngày chôn hoặc thiêu rồi tiếp tục giải quyết những thứ còn tồn đọng. Người dân quê cho rằng vào những ngày này họ có cơ hội trả nợ miệng. Bà con đến để phúng điếu, chia buồn cùng gia đình, sau đó chén thù chén tạc bằng rượu hay bia, cùng thức sáng đêm đàn ca hát xướng, vui vẻ ăn nhậu để làm không khí tang thương, mất mát trở thành nhộn nhịp. Đám ma thì có ăn, có uống. Đám giỗ còn long trọng hơn, ngày này bà con quyến thuộc nội ngoại hai bên tề tựu về rất đông. Người dân quê nặng về lễ giỗ ông bà cha mẹ, với họ vào những ngày này rất quan trọng nên mới có câu “ai ơi ngày giỗ nhớ về”; do vậy ngày giỗ thường được tổ chức long trọng và đôi khi còn lớn hơn cả đám cưới.

Dân gian có câu “ăn được ngủ được là tiên, không ăn không ngủ mất tiền thêm lo", nhưng quan trọng hơn hết chúng ta có thể đánh giá con người qua cách ăn, cách uống. Hay nói cách khác, ăn uống phản ánh phạm trù sống, phương thức sống, cách thức sống và phép tắc sống, nhìn vào cách ăn uống ta có thể biết người đó có lòng từ bi hay không. Khi xưa lúc chưa đi tu bản thân chúng tôi là kẻ đam mê ăn uống, ngày nào cũng phải có rượu hay bia và gái gú. Con vịt chưa cắt cổ làm tiết canh thì đã có mồi nhậu lai rai bằng cách thẻo miếng mỡ bầu diều bóp gỏi làm chua khi con vịt còn sống. Loại ăn nhậu như chúng tôi ngày trước là hạng người sống không có nhân cách đạo đức, thử hỏi làm sao biết thương yêu gia đình, người thân nên mới bịp bợm, gian trá, xảo quyệt và ác độc; giờ ngồi ngẫm lại trong khi đang viết sách mà cảm thấy nổi da gà. Phật pháp quá hay, quá tuyệt vời nên chúng tôi mới có được ngày hôm nay. Ý chí quyết tâm nhận thức rõ được bản chất sai lầm nhờ sự chỉ dạy của thầy tổ, gần gũi thiện hữu tri thức và có niềm tin nhân quả, tin chính mình là những yếu tố quan trọng giúp ta vươn lên vượt qua cạm bẫy cuộc đời mà làm mới lại chính mình.

Là người Phật tử chân chính chúng ta phải biết chọn lựa những thức ănthức uống không làm ảnh hưởng xấu đến cơ thể. Người xuất gia nhưng lại thích ăn đồ giả mặn, loại thức ăn này rất có hại và lại mắc hơn những loại rau cải, nếu tiêu thụ thường xuyên e rằng dễ bị nhiễm mặn và nhiễm độc. Ăn chay trong thời buổi này phải cao thượng và có ý thức, như vậy sẽ ít bệnh. Trước khi ăn những món hiền lành và bổ dưỡng ta cũng nên nói, "chỉ xin ăn những thức ăntác dụng nuôi dưỡngngăn ngừa tật bệnh". Đó là ta biết áp dụng chánh niệm trong khi ăn và khi nấu ăn. Đời sống tu hành thức ăn uống là do đàn na tín thí đóng góp, ủng hộ. Thiền Viện Thường Chiếu có trên 300 thầy, Phật tử gần xa đóng góp, ủng hộ mỗi lần ăn có trên 400 suất, vì phải nấu bằng cái chảo lớn nên rất khó bảo đảm an toàn sức khoẻ, có khi rau cải quá nhiều ăn không kịp nên tiêu thụ rất dễ bệnh. Thời đại ngày nay nấu nướng số lượng quá lớn cũng khó đảm bảo an toàn thực phẩm, do đó mọi người phải tự ý thức trong ăn uống. Ăn kiêng, ăn những thứ cần thiết cho cơ thể là cách ăn tốt nhất.

Ngoài những thức ăn vật chất để nuôi thân tồn tại, thức ăn tinh thần mới thực sự quan trọng đối với mọi người trên thế gian này. Xúc thực, Tư niệm thựcThức thực được coi là ba món ăn tinh thần của người xuất gia hay tại gia. Xúc thực là sự tiếp xúc hàng ngày với cuộc đời bằng mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý. Nếu sống trong tu viện thì mỗi ngày đọc kinh, sám hối, ngồi Thiền, được gần gũi các bậc tu hành kiểu mẫu, trông thấy đức hạnh của họ sẽ giúp chúng ta sống tốt theo. Thật vậy, thức ăn nuôi dưỡng tinh thần chúng ta là Thiền ăn và Pháp hỷ thực. Mỗi ngày trước khi ăn đại chúng luôn nhắc nhở nhau “Thiền duyệt vi thực, Pháp hỷ sung mãn”. Vì vậy, bằng mọi cách phải làm cho Thiền và Pháp trở thành món ăn tinh thần thực sự của chúng ta. Người tu mà không thích ăn cơm Thiền, uống nước Pháp thì không thể sống đời tu hành viên mãn.

Ăn không có chánh niệmý thức cũng giống như hai vợ chồng và đứa con đi qua sa mạc mà hết lương thực đem theo, không còn cách nào khác họ phải ăn thịt đứa con để đủ sức đi ra khỏi sa mạc, nếu không làm vậy thì cả ba đều chết. Khi ăn như thế hai vợ chồng đó rất đau khổ nhưng không còn cách nào khác hơn. Khi ăn thiếu ý thức ta sẽ tạo nỗi khổ, niềm đau cho các loài vật khác và chính bản thân mình sẽ gánh lấy hậu quả khổ đau. Khi hút thuốc, uống rượu, ăn nhiều đồ nướng, chiên xào là đang hủy hoại từng làn da, thớ thịt của mình. Ta đang ăn thịt của chính ta từ từ vì thuốc làm hại phổi, rượu làm hại gan, đồ béo làm cao huyết áp, đột quỵ và ung thư. Thành ra ta ăn như thế nào để đừng tạo ra nỗi khổ, niềm đau cho các loài vật và ăn trên sự khổ đau của kẻ khác, tức là ta ăn trong vội vã, vật vờsi mê. Vì vậy, mỗi khi ăn thịt, ăn cá ta hãy ý thức có thể mình đang ăn thịt cha mẹ hay con cái vì luân hồi sống chết qua lại vô số kiếp. Do đó chúng ta phải tập ăn chay và tập không sát sinh hại vật để mở rộng tấm lòng từ bi, thương xót tất cả chúng sinh.

Loại thức ăn thứ hai là Xúc thực. Chúng ta có sáu căn là mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý, khi chúng tiếp xúc với sắc-thanh-hương-vị-xúc-pháp ta phải thấy việc tiếp xúc đó có đem chất độc vào người hay không, chất độc này sẽ làm tâm ta bị ô nhiễm; như khi ta xem truyền hình, mắt ta tiếp xúc với hình sắc, tai nghe âm thanh đủ mọi sắc thái. Chúng ta phải thực tập chánh kiến trong khi xem truyền hình, phải biết lựa chọn kênh giải tríđạo đức, nhân cách sống hoặc y học đời sống. Chúng ta không nên đưa những phim ảnh có độc tố như giết hại, sợ hãi, căm thùbạo động vào đầu; nên xem những bộ phim mang lại cho mình sự hiểu biết, lòng từ bi, sự san sẻ hay nâng đỡ, vượt lên chính mình, quyết tâm không làm những điều lầm lỗi. Nhiều người tối ngày chỉ xem phim bạo lực, chiến tranh, tình cảm ủy mị mà không biết chọn lựa những đề tài lợi ích. Chúng ta phải biết có những chương trình chứa đựng rất nhiều độc tốtác hại lớn như bạo động, căm thùkích thích dục vọng. Những dịch vụ quảng cáo ngày nay cũng kích thích lòng tham lam và sự thèm khát dục vọng. Khi đọc một cuốn tiểu thuyết chúng ta có thể tiếp nhận rất nhiều độc tố làm cho mình càng thêm dính mắc và tham muốn. Đọc xong ta có thể mơ mộng ảo huyền một khung trời mới xa xôi, sẽ chán nản, lo lắng, thèm khát làm mệt cả thân tâm.

Nếu mỗi ngày ta không tỉnh giác thì những câu chuyện đời thường cũng có thể mang lại cho mình nhiều độc tố. Mỗi ngày từ khi mở mắt thức dậy cho đến khi đi ngủ ta đều thấy-nghe và tiếp xúc với mọi việc, nếu khi tiếp xúc ta thấy thân khỏe, tâm an ổn, nhẹ nhàng thì phải quyết gìn giữ chúng. Những thứ làm ta mệt, buồn phiền, lo lắnggiận dữ thì phải tránh để không tiếp xúc nhiều. 5 giới là cội nguồn của an vui, hạnh phúc khi chúng ta đã lãnh thọhành trì, giới là những bộ da vững chắc bao bọc lấy thân thểtâm định tĩnh, sáng suốt của ta. Người không gìn giữ 5 giới sẽ đánh mất lòng nhân ái vì đã đưa quá nhiều độc tố như giết hại, căm thù, bạo động, sợ hãi và làm tổn thương cho người và vật.

Loại thức ăn thứ ba là Tư niệm thực. Đó là những ước mơ, hoài bão ta đang khao khát, mong muốn được thực hiện trong tương lai. Ta muốn được làm thủ tướng hay bộ trưởng, hay chí ít cũng làm giám đốc, đậu bằng tiến sĩ để đem những hiểu biết ứng dụng vào đời, những mong muốn như thế thấm vào người ta giống như một loại thức ăn. Mong muốn chính là một loại thực phẩm làm cho con người không ngừng phấn đấu và rèn luyện. Ước muốn mạnh mẽ sẽ giúp ta có thêm năng lực để thực hiện những hoài bão, nhưng có những ước muốn sẽ làm ta bất hạnh, khổ đau suốt cuộc đờitham lam, dính mắc như quyền cao chức trọng, nhiều tiền bạc của cải, tài năng xuất chúng hay sắc đẹp hơn người. Muốn được mạnh khỏe và an vui, hạnh phúc để làm tròn trách nhiệm, bổn phận với gia đình, đóng góp cho xã hội; hay ước muốn trở thành bậc giác ngộcứu độ tất cả chúng sinh là loại thức ănniệm thực chúng ta cần phải có.

Thiền viện thiếu món ăn tinh thần thì chúng đói, còn tìm thức ăn không tốt sẽ bị nhiễm độc, bị nhiễm độc thực phẩm thì chết thân mạng, bị nhiễm độc tinh thần thì chết Giới thân Huệ mạng, dù còn trong đạo nhưng không dùng được việc có ích cho mọi người. Trên thực tế, các Thiền viện sinh hoạt tốt đẹp nhờ các vị lãnh đạo đều sống phạm hạnh thanh tịnh, do đó đại chúng nương theo mới thăng hoa đạo đức tâm linh. Nếu hàng ngày ta thường tiếp xúc với người phải trái, đúng sai, được mất, hơn thua, buồn thương, giận ghét, tiếp xúc với trần cảnh do thấy-nghe trong phân biệt, dính mắc thì ý thức bắt đầu suy nghĩ theo đường danh lợi, bị sự cúng kính làm mờ mắt, dẫn đến hư hỏng một đời tu.

Khi tu hành ta phải nên nhận rõ tầm quan trọng của Xúc thực, không cho sáu căn tiếp xúc với sáu trần để không bị chúng làm ô nhiễm và không lưu giữ điều xấu vào kho tâm thức. Chúng ta tu là biết chọn con đường tốt đẹp, không đi con đường xấu xa. Con đường hiền thánh không mở ra thì con đường tội lỗi sẽ làm ta mờ mắt mà quên cả lối đi của bậc hiền thánh Tăng và chư Phật. Dòng nước chảy xuôi thường gây ra lũ lụt, ngập úng nên người ta phải ngăn nó bằng cách mở đập cho nước chảy vào để chuyển thành dòng điện mang lại lợi ích cho nhân loại. Dòng đời cũng thế, vì đa số không biết giữ năm giới của nhà Phật nên ba đường dưới địa ngục, quỷ đói, súc sinh rộng mở và đang chờ đón những người thiếu hiểu biết không tin sâu nhân quả.

Suy nghĩ của con người lúc nào cũng như dòng nước chảy khó thể ngăn được nên ta chỉ tiếp xúc với những gì tốt đẹp, lợi ích và cao quý, nhưng phải thích hợp với trình độnghiệp lực của mình. Thiền là sự sống của con người, ta biết Thiền trong mọi hoàn cảnh thì an ổn, nhẹ nhàng, trí tuệ phát sinh. Chính vì vậy, khi đọc Kinh, sám hối hay tham Thiền, chúng ta cảm nhận niềm vui nên dần hồi buông xả được phiền não, tham-sân-si từ từ nhẹ bớt, không còn nặng như ngày xưa. Xúc thực là sự tiếp xúc hàng ngày giữa ta và cuộc đời, nếu chúng ta huân tập đầy đủ Phật pháp thì tất cả nhiễm ô thế gian sẽ được tiêu hóa dần hồi theo thời gian, từ kiến thức chuyển thành trí tuệ nhờ biết cách buông xả.

Loại thức ăn thứ tư gọi là Thức thực. Thân thể chúng ta được hình thành ngày hôm nay đẹp hay xấu là do tác động của ý thức, trong đó gồm có Chánh báoY báo. Chánh báothân thể này gồm có thân và tâm. Y báo thuộc hoàn cảnh chung quanh ta đang sống. Vì thói quen được huân tập lâu ngày từ nhiều kiếp xưa nên bây giờ ta có Chánh báoY báo. Chánh báoY báo đều là sự biểu hiện của tâm thức được hình thành qua nền tảng nhân quả. Loại thức ăn thứ tư này rất quan trọng vì nó là phần tinh thần. Tâm tư sáng suốt, hành động lương thiện sẽ giúp chúng ta tiếp nhận các món ăn trong sáng, từ bitrí tuệ. Nếu trong quá khứ tâm thức đã tiếp nhận thức ăn độc hại quá nhiều thì ngày nay tâm thức ta biểu hiện ra Chánh báo, Y báo không lành mạnh mà còn tối tăm, mờ mịt. Những gì ta suy tư trong thấy-nghe-ngửi-nếm và tưởng tượng là những thứ được cất gữ trong kho chứa tâm thức. Nếu kho tâm thức này chứa vô minh, tham lam, ích kỷ, oán giận, thù hằnphiền muộn, khổ đau thì khi đủ duyên chúng sẽ phát sinh.

Chính vì vậy, chúng ta phải biết phân loại những thức ăn đưa vào kho tâm thức, phải nên đưa từ-bi-hỷ-xả, lòng bao dung độ lượng, giúp đỡ và sẻ chia, yêu thươnghiểu biết bằng tình người trong cuộc sống để nuôi dưỡng tâm thức mỗi ngày. Đức Phật đã dùng phương tiện hình ảnh một người tử tù đang bị vua hành hình để nói về Thức thực. Buổi sáng vua ra lệnh lấy 300 cây kim đâm vào thân thể người tử tội, đến chiều tối vua hỏi, “kẻ tử tù đó bây giờ ra sao?” Viên cai ngục trả lời, “tâu bệ hạ, nó vẫn còn sống nhưng rên la thê thảm lắm!” Phật dùng ví dụ này để nhắc nhở chúng ta đừng nên hành hạ tâm thức của mình y như thế, đừng đâm 300 mũi kim của độc tố tham lam, giận dữ, si mê, ganh ghét, tật đố, hận thù, bạo độngsợ hãi vào kho tâm thức của chúng ta mỗi ngày.

Bốn thí dụ trên được ghi lại trong Kinh Tử Nhục. Tử Nhục là thịt của đứa con. Hai vợ chồng và đứa con cùng đi qua sa mạc nhưng nửa đường hết thức ăn, nếu không có cả ba đều chịu chết, cuối cùng hai người đành phải giết con để ăn mà vượt khỏi sa mạc. Bốn ví dụ nghe rất khiếp đảm và ghê sợ, mục đích chính nhằm răn bảo chúng ta phải sáng suốt gìn giữ thân-miệng-ý để đừng làm tổn hại cho mình và người. Ăn uống là nhu cầu chính yếu hằng ngày, khi ăn ta phải tỉnh giác biết rõ thức ăn nào không làm tổn hại thân tâm, trong khi ăn phải biết mình đang ăn, thức ăn ngon hay dở đều biết rõ; mặn, lạt, chua, cay ta đều biết nhưng không để tâm bị lôi kéo về quá khứ hay mơ mộng đến tương lai hoặc quá lo lắng mà đánh mất mình trong hiện tại.

Trước khi ăn mọi người nên quán tưởng như sau: Cơm ngày ba bữa thường nhớ công khó nhọc của kẻ nông phu. Thân mặc ba y hằng xét nghĩ sự nhọc nhằn của người may dệt. Thuốc thang giường chõng bởi do sự nhín ăn bớt mặc của tín thí khắp nơi. Học đạo tiến tu nhờ lòng từ dạy răn của thầy Tổ. Nguyện cho thí chủ và tất cả chúng sinh phước huệ song tu, nhân tròn quả giác, kẻ mất người còn đều trọn thành Phật đạo. Trước khi ăn ta quán tưởng như thế để tâm hằng nhớ ghi huân vào kho tâm thức, do đó khi đưa thức ăn vào miệng ta nhìn thấy rõ thức ăn ấy với con mắt tỉnh giác. Ta ăn để mà sống, ăn vì thành tựu đạo nghiệp chứ không phải sống để mà ăn. Khi ăn ta nhìn miếng đậu hũ như một dược liệu thuốc thang để chữa bệnh đói khát, nhờ vậy ta thấy rau cải, nước tương là đại sứ của đất trời đến với ta để nuôi dưỡng thân này. Lòng ta tràn đầy niềm biết ơnhoan hỷ, vui vẻ với những người đã gieo mầm sống để chúng ta dưỡng thântu tập. Khi nhai ta nhai trong ý thức, ta biết rằng mình đang tiếp xúc với những chất liệu trong sáng, lành mạnh. Thường khi ăn nếu không tỉnh giác ta sẽ nhai những buồn thương, giận ghét, phải quấy, tốt xấu, hơn thua và lo lắng. Vô tình ta đang nhai quá khứ và tương lai mà đánh mất mình trong hiện tại. Ta nhai đều đặn thức ăn rau cải được trộn chung với cơm sẽ trở thành chất loãng, nhờ vậy rất dễ tiêu và bổ dưỡng, không bị bón kiết. Như thế ta không cần phải ăn quá nhiều mà dinh dưỡng vẫn đầy đủ để nuôi dưỡng thân khỏe, tâm an.

THỞ ĐỂ NHÌN THẤY CHÍNH MÌNH

Dưỡng khí là cái tối cần thiết cho cơ thể con người, nếu thở ra mà không thở vào coi như mạng sống chấm dứt. Không ăn uống con người có thể sống được vài tuần, nếu thiếu dưỡng khí chỉ trong 5 phút con người sẽ chết ngay. Dưỡng khí rất cần thiết cho nhu cầu cuộc sống con người nhưng chúng ta thường ít lưu ý đến và cũng không biết cách hít thở để có lượng dưỡng khí đầy đủ giúp cơ thể khoẻkhoắn, lành mạnh. Chính vì thế, trong đạo Phật nguyên thủy Phật dạy Pháp quán hơi thở là một trong những Pháp đầu tiên để chúng ta tu. Đó là ý thức trở lại sự cần thiết của dưỡng khí đối với sức khỏe trong thân thể con người. Tập hít thở đúng đắn là hít thở dài và sâu, hít vô thở ra đều bằng mũi. Đây là lý do giải thích nguyên nhân của nhiều thứ bệnh bởi lượng dưỡng khí cần thiết cho não bộ, phổi và các cơ phận khác quá ít. Tình trạng thiếu dưỡng khí lâu ngày khiến cho các cơ phận suy yếu, hoạt động không bình thường và dễ lâm bệnh. Thiếu dưỡng khí là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều tật bệnh, trong đó có bệnh nhức đầu và mệt mỏi. Bản thân chúng tôi là một bằng chứng thiết thực, khi mới vào Thiền Viện chúng tôi chỉ chú trọng tu tâm chớ không quan trọng tu thân, do đó bị rất nhiều bệnh. Trong vài năm gần đây tôi mới nhận ra sai lầm đó và áp dụng quán hơi thở trong đi-đứng-nằm-ngồi nên sức khoẻ ngày càng được tốt hơn.

Điều đầu tiên chúng ta cần làm nếu ở nhà lầu là mỗi ngày nên lên xuống cầu thang nhiều lần để máu huyết lưu thông, nhịp tim đập mạnh và nhanh hơn bắt buộc chúng ta hít vào nhiều dưỡng khí và thải ra nhiều khí độc hại. Mỗi ngày ta nên đi bộ bước nhanh hay lạy Phật-Bồ tát sám hối tối thiểu khoảng 30 phút hoặc hơn nữa càng tốt. Quan trọng hơn hết ta phải tập cách hít-thở bằng mũi chậm, dài và sâu, thực hiện nhẹ nhàng như nước chảy. Hít vô tới đâu ta biết tới đó và thở ra cũng như vậy. Đầu óc hoàn toàn trống rỗng, không toan tính, suy nghĩ gì cả. Càng tập lâu hơi thở càng dài, chúng ta càng hít vào nhiều dưỡng khí cho cơ thể thì càng thải ra nhiều khí độc hại. Chính nhịp thở chậm, dài và sâu; đầu óc trống rỗng, thanh thản sẽ làm các bộ phận trong cơ thể được mạnh khỏe vì nhận được dưỡng khí bồi bổ dồi dào và thải hết khí độc cặn bã ra ngoài. Để thở như trên chúng ta có thể ngồi trên ghế hay nằm trên giường hoặc bất cứ đâu, miễn là trong tư thế hết sức tự nhiên, thả lỏng toàn thân thoải mái.

Tư thế ngồi thở này là một trong các cách thức nghỉ ngơi và lấy lại sức lực rất công hiệu, có thể áp dụng tại khắp mọi nơi và trong mọi lúc. Chỉ cần vài phút là chúng ta có thể phục hồi sinh lực cho tâm trí và cơ thể. Toàn thân trong tư thế hoàn toàn thư giãn và đầu óc không nghĩ tưởng lăng xăng là hai yếu tố rất quan trọng. Chỉ cần chúng ta nhiếp tâm vào hơi thở, thở vô biết mình thở vô, thở ra biết mình thở ra. Ta cần chú ý phải thở chậm, dài và sâu trong tư thế hoàn toàn nghỉ ngơi và an ổn, nhẹ nhàng. Khi đã tập quen và thường xuyên hơi thở của ta sẽ dài và sâu, lượng dưỡng khí hít vào sẽ nhiều hơn và lượng khí độc được thải ra cũng nhiều hơn.

Tư thế nằm thở cũng y như vậy, đây là một dạng Thiền định hết sức đơn giản, dễ dàng mà tất cả mọi người đều có thể thực hiện. Điều quan trọng nhất là lắng tâm vào hơi thở để tạo sự thoải mái cho chính mình, ngay tức thì đầu óc sẽ hoàn toàn thanh thản, nhẹ nhàng. Phương pháp hành Thiền bằng cách hít thở chậm, dài và sâu này rất hữu hiệu trên toàn tâm trí và cơ thể con ngườicung cấp dồi dào dưỡng khí và đồng thời thải hết thán khí cùng căng thẳng ra ngoài. Nó giúp chúng ta phục hồi sức lực; thân khoẻ, tâm an và định tĩnh, sáng suốt; tái lập thế quân bình cho bộ máy hô hấp, tuần hoàn; trấn an tinh thần, giúp bình tĩnh và không lo lắng, sợ hãi; có thể chữa bệnh tim, nóng nảy, âu lo, huyết áp cao, khó thở, mất ngủ, nhức đầu, khó tiêu, mệt mỏi… Đặc biệt, nếu chúng ta thực hiện hít thở dài và sâu mỗi ngày đều đặn khoảng 15-60 phút mỗi sáng và mỗi tối thì dần dần thân khỏe, tâm an ổn, nhẹ nhàng.

Hơi thở là nhịp cầu nối kết thân và tâm, là một quá trình sống tự nhiên của cơ thể hoạt động liên tục cho đến khi mạng sống chấm dứt. Dù chúng ta không quan tâm đến hơi thở nhưng hơi thở vẫn luôn hiện hữu. Cuộc sống thế gian với bộn bề công việc làm cho chúng ta ít để ý đến những việc bình thường và gần gũi nhất. Ta chỉ thường nhận biết hơi thở khi nó bị trục trặc, giống như khi chúng ta lên cơn suyễn hoặc lúc bị cơn đau tim đột ngột khiến cho mình khó thở.

Phương pháp quán niệm hơi thở giúp chúng ta dễ dàng nhiếp tâmđi vào Thiền định. Cách thức quán niệm hơi thở rất đơn giản, chúng ta không cần cố gắng làm cho hơi thở dài hơn hay điều khiển nó theo một phương thức nào. Ta chỉ đơn giảnngồi yên theo dõi hơi thở ra vào một cách bình thường, thở vô ta biết mình thở vô, thở ra ta biết mình thở ra. Quán sát hơi thở không cần trình độ chuyên môn, không cần học thức uyên bác, không cần sự thông minh mà chỉ cần nhận biết hơi thở ra vào của chính mình.

Khi quán sát hơi thở chúng ta thấy thiếu sự hấp dẫn hoặc lôi cuốn như khi nghe nhạc hay xem phim, do vậy ta có thể trở nên chán ngán mà không thích rồi bỏ cuộc nửa chừng. Nhịp điệu của hơi thở bình thường rất đơn giản và không có sức thu hút. Hơi thở rất yên tĩnh, nhẹ nhàng nên ít ai để ý tới. Với cách quán niệm hơi thở chúng ta không cần phải thích hay không thích, chỉ cần chú tâm để biết rõ từng hơi thở ra vào, khi thở vô biết mình thở vô, khi thở ra biết mình thở ra. Hơi thở nhẹ nhàng sẽ làm tâm ta yên lắng, đưa chúng ta về với sự tĩnh lặng và cảm nhận được niềm vui an ổn, nhẹ nhàng.

Khi mới bắt đầu quán hơi thở tâm thức của ta hay đi lang thang vào nhà người này, người nọ. Một khi chúng ta nhận biết mình đang dính mắc vào buồn thương, giận ghét làm mất tỉnh giác thì ta chỉ cần trở về nhìn lại hơi thở một cách nhẹ nhàng. Ta phải kiên trì, bền chí, kiên nhẫndứt khoát, luôn luôn quyết tâm chỉ biết mỗi hơi thở mà thôi. Mới đầu tâm thức của ta không quen bị kiềm chế nhưng dần hồi nó sẽ quen, chú tâm một chỗ thì việc gì cũng xong. Tâm ta xưa nay quen chạy rong như con trâu hoang hay ăn lúa mạ của người, nay ta chỉ cần xỏ mũi nó dẫn đi, tuy nó nổi giận ghì kéo lại nhưng cuối cùng cũng sẽ ngoan ngoãn theo ta.

Chúng ta quán sát hơi thở để tâm thức quay trở về với thực tại, cũng giống như người mẹ dạy dỗ con mình. Một đứa trẻ hay chạy nhảy rong chơi nếu người mẹ nổi giận sẽ đánh nó, đứa trẻ sẽ sợ hãi và có thể trở nên lì lợm. Một người mẹ khéo léo sẽ không như vậy mà luôn xem chừng đứa trẻ và để ý đến nó, nếu nó đi lang thang bà sẽ đưa nó trở về bên mình. Quan sát hơi thở tuy không có gì thú vị nhưng vì chúng ta thiếu kiên nhẫn, muốn làm cái gì cũng được nhanh lẹ nên dễ chán nản. Nhiều người rất sợ khi người khác biết các tật xấu của mình, nhất là những người có quyền chức. Những ai có thiện chí đóng góp và tu hành sẽ thường thấy lỗi của mình mà tìm cách chuyển hóa, điều phục chúng. Vì sĩ diện nên ta hay ém nhẹm các thói hư tật xấu và hay khoe khoang những cái tốt. Chúng ta cần phải mạnh mẽ trong việc chống lại các thói quen xấu như si mê, tham ái, sân giận và các thứ vọng tưởng khác.

Phương cách tốt nhất giúp ta tỉnh giác khi hành Thiền là ta biết giữ hơi thở trong tâm. Chúng ta có thể kiềm chế không cho nó phát khởi khi ta có đề mục Thiền quán làm chỗ nương trú trong tâm. Chỗ nương trú bên ngoài của tâm là thân, gồm các yếu tố vật chất. Quay về với thực tại chính mình cũng là chỗ nương trú bên trong của tâm, điều này giúp tâm không chạy lang thang theo suy nghĩ này, vọng tưởng nọ. Chúng ta đừng để tâm chạy theo những mối ưu tư của nó giống như những người bình thường chưa biết quán sát hơi thở là gì. Một khi ta đã có chỗ an trú để giữ con khỉ tâm thức thì nó ngày càng bớt ngang ngạnh và từ từ bớt rong rủi chạy tìm.

Bây giờ ta nói đến phương cách thực hành Thiền quán hơi thở. Các Kinh sách dạy rằng, thở vô mình biết thở vô, thở ra mình biết thở ra, thở vô dài và sâu, thở ra dài và nhẹ nhàng. Đó là những bước khởi đầu trong việc thực hành quán hơi thở. Khi thực tập một thời gian và bắt đầu có sức định tĩnh ta không còn chú tâm đến độ dài-sâu-ngắn của hơi thở nữa mà chuyển sang bước kế tiếp. Chúng ta sẽ tập trung ý thức để nhìn hơi thở ngay nơi lỗ mũi của mình và tiếp tục làm như thế cho đến khi tâm lắng dịu, trong sáng, nhẹ nhàng. Khi tâm đã yên lắng chúng ta sẽ tập trung vào sự tĩnh lặng của tâm, đơn giản là ta trụ nơi tâm thanh tịnh nhưng quán sát nó với mỗi hơi thở vào ra như các bước sau:

_ Tâm: Tập trung ý thức chú tâm vào hơi thở, theo dõi hơi thở vô ra hoặc trụ hơi thở tại mũi hay môi trên. Nếu cảm thấy khó chịu hay căng thẳng quá chúng ta có thể chuyển sự chú tâm vào vùng dưới rốn nơi huyệt đan điền. Sự chú tâmtheo dõi trong lúc ngồi Thiền phải đầy đủ ba yếu tố ý thức, chú tâmtỉnh giác.

_ Hơi thở: Chúng ta cứ để hơi thở vô ra tự nhiên, không cố làm cho hơi thở dài thêm hay ngắn lại. Thở đều đặn, nhẹ nhàng một cách tự nhiên và chỉ cần theo dõi hơi thở vô ra là đối tượng duy nhất trong suốt thời gian hành Thiền. Thỉnh thoảng, nếu nghĩ đến chuyện khác chúng ta chỉ kiên trì, bền chí quay lại theo dõi hơi thở ra vô mà thôi. Khi bắt đầu Thiền quán sát hơi thở, việc đầu tiên chúng ta cần nhớ là phải ngồi giữ lưng cho thẳng và giữ mình trong tỉnh giác, thở vô ta biết mình đang thở vô, thở ra ta biết mình đang thở ra. Hãy giữ hơi thở êm ái, nhẹ nhàng; đừng gồng tay chân hay bất cứ cơ khớp nào; giữ thân ở tư thế phù hợp với hơi thở.

Chúng ta chỉ làm một việc duy nhất là chỉ đơn thuần theo dõinhận biết hơi thở rõ ràng, thở vô mình biết mình đang thở vô, thở ra mình biết mình đang thở ra. Hơi thở dài hay ngắn là tùy theo khả năng của mỗi người. Chúng ta phải biết rõ sự vận hành của từng hơi thở một cách cụ thể để giữ tâm tỉnh giác, không suy nghĩ lung tung bởi các tạp niệm buồn thương, giận ghét và cuối cùng đạt đến sự định đĩnh. Khi tâm trở nên yên tịnh, trong sánghơi thở trở nên nhẹ nhàng ta sẽ cảm giác toàn thân được tịnh lạc.

Hành giả duy trì trạng thái tỉnh giác về hơi thở một cách rõ ràng thì chỉ nhìn hơi thở mà không cần sự chú tâm, cảm giác thân tâm an ổn, nhẹ nhàng. Lúc này, hơi thở thường trở nên rất vi tế, khó nhận diện, có lúc nó dường như không hiện hữu, nhưng đấy chỉ là cảm giác an tịnh của hơi thở.

Có 5 chướng ngại lớn trong việc thực tập Thiền định là:

_ Dục: còn gọi là các loại tham muốn, luyến ái.

_ Sân: còn gọi là nóng giận, bực tức, khó chịu.

_ Hôn trầm: còn gọi là sự lừ đừ, buồn ngủ; tâm mê mờ, dã dượi.

_ Trạo hối: còn gọi là tâm dao động, bất an.

_ Nghi: sự nghi ngờ không biết pháp mình đang tu có thật sự an lạc không.

Chúng ta có thể ứng dụng các bước thực tập Thiền niệm hơi thở vào đời sống hàng ngày trong mọi lúc, mọi nơi như đi-đứng-nằm-ngồi. Ta nên nhớ quán niệm hơi thở là nền tảng của thực tại nhiệm mầu giúp mỗi hành giả cảm nhận bình yên, hạnh phúc, an ổn, nhẹ nhàng. Khi thực tập phép quán sát hơi thở, mỗi hành giả từng bước ý thức được mạng sống trong hơi thở mà biết cách buông xả phiền não tham-sân-si và dần hồi thành tựu được bốn lĩnh vực quán niệm về thân-thọ-tâm-pháp.

_ Khi hành giả thở vào biết mình thở vào hoặc thở ra biết mình thở ra. Hơi thở dài hay ngắn mà ta có ý thức về hơi thở đang vận hành trong thân sẽ cảm thấy toàn thân an tịnh, biết rõ và nhận diện từng tâm niệm thương-ghét. Đó là lĩnh vực quán niệm thứ nhất - quán thân trong tâm.

_ Khi mỗi hành giả thở vào hoặc thở ra mà cảm nhận được niềm vui trong an ổn, nhẹ nhàng, vui thích trong niềm vui đó thì mọi tâm tư chán ghét hay ưu phiền tự nhiên tan biến. Những cảm thọ được chứng nghiệm trong hơi thởý thức ấy thuộc lĩnh vực quán niệm thứ hai là cảm thọ.

_ Khi hành giả thở vào hoặc thở ra làm cho tâm ý an tịnh sẽ tạo ra sự phỉ lạc trong tâm cảm, nhận được tâm ý tự do, giải thoát, không bị giới hạn bởi một sự ràng buộc nào. Không quán niệm về hơi thở thì sẽ không phát triển được tuệ giác và sự hiểu biết chân chính. Đây là bước thứ ba - tập trung vào việc hơi thở ảnh hưởng đến toàn thân như thế nào bằng cách quán sát tất cả những cảm nhận về hơi thở ở các bộ phận của thân, đặc biệt là những cảm nhận liên quan đến hơi thở vô ra.

_ Khi hành giả thở vào hoặc thở raquán chiếu về tính cách vô thường, hoặc tính cách không đáng tham cầu, vướng mắc của vạn pháp về bản chất không sinh diệt và về sự buông bỏ thì hành giả khi ấy thấy rõ bóng dáng của sáu trần cảnh chỉ là ảo giác không thật. Thân tâm sẽ tự nhất như rồi thể nhập tính biết sáng suốt, nương nơi mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý mà thành tựu viên mãn pháp quán hơi thở.

THÂN VÀ TÂM CÁI NÀO QUAN TRỌNG

Thân và tâm, tức thể xác và tinh thần, cái nào quan trọng hơn? Đa số chúng ta thường lo cho thể xác hay lo cho tinh thần? Chúng ta ai cũng lo cho thân làm sao được sạch đẹp, sung mãn, đầy đủ; còn phần tinh thần ít ai quan tâm tới. Nhưng thử hỏi, chúng ta lo cho thể xác được sung mãn, đầy đủ thì nó có bền bỉ, lâu dài được không? Rất tiếc, dù ta lo cho nó cách mấy thì thân này cũng phải già-bệnh-chết. Ta lo cho thân đầy đủ để rồi ngày mai nó sẽ mất. Vậy lo cho thân như thế là mình khôn hay dại? Ấy vậy mà ai cũng lo, lo giữ cái không thể bền bỉ, lâu dàivô tâm, không để ý đến phần chủ động để mặc tình nó ra sao thì ra. Chúng ta như vậy là sáng suốt hay si mê? Ta nào là lo nhà cửa, lo cơm ăn áo mặc, lo tiền bạc của cải làm sao cho có thật nhiều; nhưng khi nhắm mắt ta chỉ mang theo nghiệp tốt hoặc xấu, tất cả những thứ đó ta đều phải bỏ lại hết, mà nghiệp tốt hay xấu là do tâm tạo tác mà ra. Khi muốn làm gì thì ý phải nghĩ trước rồi thân này mới hành động. Tinh thần là cái chỉ huy, sắp đặt mọi việc trong cuộc sống nên chúng ta phải làm sao lo cho nó được thánh thiện, tốt đẹp, cao quý mới phải. Thân này vốn dĩ tạm bợ, thân chỉ là phần phụ vì tâm đoan chánh, ngay thẳng mới quyết định nghiệp tốt hay nghiệp xấu.

Lâu nay chúng ta cho thân người là thật, tâm suy tư nghĩ tưởng cũng là thật. Do mê lầm, chấp chặt như vậy nên chúng ta cứ lo tìm cách gom góp tài sản, của cải cho mình và con cháu mai sau. Đầu tiên ta chấp cảnh, sau mình chấp thân và tâm là thường, là ngã. Vì chấp như thế nên Phật dạy thân người do bốn chất đất-nước-gió-lửa giả hợp mà có, song bốn chất này thường xung khắc nhau; đất ngăn ngại nước, nước xói mòn đất, nước làm tắt lửa, gió thổi thì đất rung rinh. Chúng xung khắc mà phải hợp lại nên thường sanh ra những hiện tượng bất hòa như đau yếu, bệnh hoạn. Khi chúng không dung hợp nhau được nữa thì tan rã, tứ đại phân ly; nên mới nói “có thân là có khổ”. Ai cũng có thể biết vậy nhưng làm việc gì cũng lo cho thân, ăn uống bồi bổ cũng vì thân.

Thân chúng ta những chất cứng như da, thịt, gân, xương, tóc, răng thuộc về đất. Những chất lỏng như máu, mủ, mồ hôi, nước mắt thuộc về nước. Những vật có tính động như hơi thở vô, hơi thở ra thuộc về gió. Nhiệt độ trong thân như hơi ấm thuộc về lửa. Khoa học hiện đại ngày nay phân tích thân người có hằng hà vô số tế bào, song cũng từ bốn chất đất-nước-gió-lửa hợp thành. Từ lâu chúng ta lầm tưởng thân này là thật tôi, là của tôi, rồi cứ chấp chặt vào đó. Nếu ai đụng chạm đến “cái tôi” này thì ta liền phản ứng chống trả lại hoặc tìm đủ mọi cách để bảo vệ, vun bồi cho nó được đầy đủ, thỏa mãn.

Nhưng với tuệ giác của Phật thì Ngài thấy rõ thân do đất-nước-gió-lửa hợp lại mà thành, nếu thiếu một trong bốn chất ấy thì thân này tan rã. Song, mỗi ngày chúng ta muốn duy trì thân để được tồn tại phải ăn cơm, uống nước, hít thở không khí. Cứ thế ta vay mượn đất-nước-gió-lửa bên ngoài để bồi bổ, thay thế cho đất-nước-gió-lửa bên trong. Suốt cả cuộc đời chúng ta sống bằng sự vay mượn liên tục, khi hết vay mượn thì mạng sống dừng. Hơi thở trả về với gió. Hơi ấm trả về với lửa. Máu, nước miếng, nước mắt trả về với nước. Da, thịt, gân xương trả về với đất. Tất cả đều rã tan, trở thành một cái xác thúi chẳng còn gì gọi là thân mạng nữa. Vậy mà ai cũng cố tâm lo cho chúng mà quên hẳn phần tinh thần.

Trong Kinh Bách Dụ có kể một câu chuyện như sau: Thuở xưa có một ngôi nhà cũ bỏ hoang, mọi người đồn có quỷ dữ trong ấy nên ai cũng kinh sợ, không dám ghé vào đó ngủ. Bấy giờ có một chàng trai tự cho mình đủ bản lĩnh bèn tuyên bố với mọi người: “Tôi không sợ gì cả, ma quỷ là cái quái gì, tối nay tôi sẽ vào đó ngủ.” Quả thật, tối đến anh ta vào nhà ngủ. Đồng thời lúc ấy cũng có một người tự cho mình can đảm hơn người nên cũng hiên ngang vào nhà đó ngủ. Người đến sau tới nơi xô cửa vào, người đến trước tưởng quỷ về xô cửa bèn rinh tấm phên ngăn ngang cửa không cho vào. Người phía ngoài tưởng có quỷ bên trong nên ráng sức xô cánh cửa bật ngã để vào chiến đấu với quỷ. Hai người gặp nhau trong đêm tối và đánh nhau dữ dội nhưng bất phân thắng bại. Trời vừa sáng ra hai người thấy nhau rõ ràng mới vỡ lẽ con quỷ mà mình đánh suốt đêm qua là người chớ không phải quỷ. Phật nói bài Kinh này để dụ sự lầm mê, chấp trước của con người là trời tối. Vì tối tăm mê mờ nên không thấy đúng lẽ thật, thân này giả có mà chúng ta lầm tưởng là thật nên làm cái gì cũng lo cho thân hết.

Trong Kinh A-hàm, Phật dạy người chấp thân tứ đại là ta còn dễ phá trừ hơn những người chấp linh hồn là thật ta. Họ nghĩ cái hồn sáng này vẫn trước sau như một, không biến đổi. Họ tin đời này mình giàu thì đời sau cũng giàu, mang thân người thì trở lại thân người; đời nay ra sao, thế nào thì khi chết đời sau như thế đó. Chấp trong thân này có linh hồn còn hoài là quan niệm thần ngã, thần ngã là chủ của thân này nên không bao giờ thay đổi. Những người mê chấp như vậy rất có hại vì họ cho rằng thần ngã là cố định, họ không chịu tu tâm sửa tánh mà mặc tình ăn chơi, tạo các nghiệp xấu ác, đến khi phước hết họa đến phải chịu quả báo khổ đau không có ngày cùng.

Phật dạy tâm người là cội nguồn của thiện-ác, thân người là rừng tội lỗi hay là rừng công đức. Khi tâm chúng ta khởi nghĩ một điều gì thì ta cho đó là chân lý, nếu có ai không chấp nhận và chống đối lại ta sẽ tức giận, mắng chửi, la hét um sùm… Từ đó, tất cả mọi mầm mống đấu tranh đều từ tâm mà ra, tâm bảo vệ, tâm chấp ngã và tâm si mê quyết ăn thua đủ. Như vậy, tâm rõ ràng là cội nguồn của tội ác. Tuy nhiên, đến khi tâm có ý thức thấy được mầm đấu tranh sẽ dẫn đến sự chống đối và tìm cách sát phạt nhau, thấy được sự tác hại của nó thì tâm sẽ quay lại chính mình. Thân này khi muốn ăn một bữa ngon miệng thì phải mua tôm, cua, gà vịt về cắt cổ nhổ lông, chiên xào luộc nướng để bồi bổ thân này. Có người vì nuôi thân mà phải làm những nghề đồ tể như giết heo, bò, trâu, dê. Vì tham vọng cho bản ngã mà thân tạo vô số việc ác, nên nói thân là rừng tội lỗi.

Nhưng thân này gây tội lỗi là do đâu? Do tâm điều khiển, tức tâm là ông chủ chỉ huy. Người Phật tử thấy rõ tâm là chủ nhân ông của bao điều họa phúc thì mỗi khi tâm khởi nghĩ những điều bất thiện hại mình, hại người ta liền dừng ngay. Không phát ra lời nói hay hành động thì làm gì phát sinh tội lỗi. Chúng ta theo lời Phật dạy biết quán xét và thấy rõ tâm là người điều khiển nên thân mới hành động. Tâm hiểu đúng, phát ra lời nói chân chính sẽ dẫn đến hành động thiện ích. Thông thường, chúng ta thấy người nghèo đói thì cho cơm gạo để họ được no lòng; thấy người lạnh rách ta cho áo chăn để họ được lành ấm; thấy người đau bệnh ta cho thuốc men để họ được khỏe mạnh; đó là cứu khổ, cứu người. Nhưng nếu tâm tham lam, ích kỷ, keo kiết thì làm sao mở lòng giúp đỡ cho người được?

Đức Phật trước kia ở trong hoàn cảnh cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con xinh. Vật chất quá đầy đủ nhưng tại sao Ngài từ bỏ tất cả để vượt thành xuất gia? Vì Ngài thấy rõ ngôi vua, quyền thế, của cải là những hạnh phúc tạm bợ. Có khi vì thế mà con người giết hại lẫn nhau nhưng cuối cùng ai cũng phải chết với hai bàn tay trắng. Con ngườimê lầm nên làm cái gì cũng để hưởng thụ, bồi bổ thân này mà không biết tu tâm dưỡng tánh. Thành ra đại đa số con người thế gian chỉ lo cho phần vật chất mà lãng quên phần tinh thần. Phật có đầy đủ tất cả nhưng tại sao Ngài không hưởng, ngay khi đã thành tựu đạo pháp ngài cũng chỉ tuỳ duyên khất thực xin ăn để gieo phước điền cho nhân loại? Có được tinh thần sáng suốt, minh mẫn, định tĩnh nên Phật không thấy ai là kẻ thù, chỉ có người chưa thông cảm với nhau mà thôi. Cái thân vật chất này lúc nào cũng làm chúng ta lo lắng, tìm cách vun bồi, xây đắp, thỏa mãn nó; nhưng nó lại do tứ đại hòa hợp giả có nên rồi cũng phải chịu già-bệnh-chết. Phật dạy chúng ta phải luôn thấy rõ thân này giả hợp, thân chỉ là phương tiện còn tâm mới là cứu cánh để chuyển ba nghiệp thân-khẩu-ý cho thanh tịnhđược giải thoát luân hồi-sinh tử. Thấy biết đúng như vậy là người giác, thấy ngược lại là người mê. Từ trước chúng ta mê lầm không nghe, không thấy, không biết nên làm cái gì cũng lo cho thân bất chấp có tội hay không có tội. Thân này tạo tác, làm việc là do ai điều khiển? Do tâm điều khiền chứ còn ai? Tâm biết phục thiện, tin sâu nhân quả thì chỉ huy, điều hành thân này làm nhiều việc thiện ích giúp người, cứu vật.

CON NGƯỜI THAM MUỐN DỤC VỌNG QUÁ LỪNG LẪY

Nhân quả rất công bằng, hễ vật chất thịnh hành thì dục vọng của con người càng được củng cốtăng trưởng mạnh mẽ. Chính tham muốn dục vọng quá đáng đã tạo cho con người dính mắc vào “cái ta” ích kỷ này. Nào tài sản sự nghiệp, tiền bạc của cải, khi có đầy đủ rồi lại tìm cách được điạ vị danh vọng, tiếng tăm để tô bồi bản ngã của mình. Dĩ nhiên, khi có được hai điều kiện trên thì việc hưởng thụ sắc đẹp, ăn sung mặc sướng và ngủ nghỉ thoải mái đã làm cho tất cả chúng sinh thân tâm phải bị bức bách, khổ sở.

Con ngườisi mê lầm chấp, không thấy đúng lẽ thật nên luyến ái thân mạng; chấp thân tứ đại giả hợp cho là ta, là của ta, con ta, tài sản ta, gia đình ta, đất nước ta và ta là trung tâm của vũ trụ nên từ đó ông trời ra đời để ban phước giáng họa. Chúng ta vì thấy thân này là thật nên lúc nào cũng muốn nó được ăn ngon mặc đẹp, ra sức sắm sửa nhà cao cửa rộng, tài sản tiện nghi, vật chất đầy đủ, xe cộ, tiền của, tôi tớ phục dịch để chứng tỏ đẳng cấp giàu sang. Muốn có được đời sống vật chất đầy đủ như thế chúng ta phải làm việc nhọc nhằn vất vả, phải tính toán công ăn việc làm để tích lũy tiền bạc, của cải vật chất cho nhiều. Sự tham muốn đó không phải chỉ riêng một ai mà tất cả chúng ta ai cũng muốn được lợi phần mình nên tranh đua, giành giật để được phần hơn. Không ai chịu thua ai mà lúc nào cũng muốn chiếm ưu thế về mình. Đã đi vào trường đời thì phải tranh đua, giành giật nên có kẻ được người mất, kẻ thắng người thua. Người được thì vui trên sự đau khổ của kẻ khác, còn người mất thì đau khổ vô cùng.

Lòng tham con người như giếng sâu không đáy không bao giờ biết chán, biết đủ, biết dừng. Người có quyền cao chức trọng thì lợi dụng chèn ép, bóc lột kẻ dưới. Người không được thì tìm cách trộm cướp, lường gạt của người khác. Kẻ bần cùng thì oán trời trách đất, oán ghét xã hội, bạn bè, người thân. Có nhiều gia đình cha mẹ vừa nằm xuống thì trong nhà anh em ruột thịt đã tranh nhau đòi chia gia tài, so bì với nhau từ lằn ranh bờ đất, chửi bới thưa kiện nhau ra tòa để giành của về mình. Anh em ruột thịt còn như thế thì huống chi là người dưng nước lã, làm sao có thể thương yêu giúp đỡ nhau bằng tình người trong cuộc sống. Người có tiền của còn tham như vậy thì nói gì đến người nghèo khổ, thiếu trước hụt sau. Trong cảnh túng quẫn có khi họ phải ăn trộm, cướp giật, lường gạt của người khác. Người Phật tử chân chính phải biết tạo dựng cho mình một đời sống trong sạch, miễn sao có miếng ăn thức uống vừa đủ mà trau dồi đạo đức tâm linh; biết nhường cơm xẻ áo, nhín ăn bớt mặc để giúp đỡ những mảnh đời bất hạnh trên tinh thần của ít lòng nhiều.

Người thế gian trước tiên muốn thỏa mãn tiền bạc của cải rồi mới đến sự quyến rũ của sắc đẹp. Sắc đẹp cũng là vị ngọt mà cũng là vị đắng. Nó là một thứ men say tình ái khiến con người phải đam mê, thích thú, đắm say. Sự mến luyến khoái lạc cảm giác rồi mơn trớn, vuốt ve đã làm đa số anh hùng đều chết dưới lỗ chân trâu. Tai hại của lòng đam mê sắc dục làm biết bao người phải hao tài tốn của, tán gia bại sản. Hạnh phúc gia đình đổ vỡ cũng vì sự tham muốn quá đáng mà vợ chồng gây gỗ, đánh đập nhau vì ghen tuông, hờn mát. Tình chồng nghĩa vợ bấy lâu bị mất mát, đổ vỡ có thể làm con người ta đau khổ đến tột cùng. Lòng khát ái của con người không bao giờ biết đủ vì họ không bao giờ thấy thỏa mãn trong cuộc tìm kiếm, săn đuổi tình yêu; cũng giống như người khát nước mà uống nước muối nên càng uống lại càng khát. Họ cứ đi tìm những thụ hưởng cảm giác mới lạ có tính cách dị hợm, thậm chí có một số nước họ chơi trò đổi vợ qua lại để tạo thú vui thấp hèn, trụy lạc.

Vì thấy rõ tai hại của lòng đam mê sắc dục nên Phật chế giới “không tà dâm” để người Phật tử tại gia biết sống chung thủy một vợ một chồng, thương yêu nhau đến trọn đời, không được ngoại tình với kẻ khác để bảo vệ hạnh phúc cho nhau. Khi có được đầy đủ tiền bạc, của cải và sắc đẹp thì con người ta lại muốn củng cố quyền lực, danh vọngđịa vị. Danh vọng là một trong những nấc thang cuối cùng của đời người để thỏa mãn bản ngã được trở thành nhân vật quan trọng ăn trên ngồi trước, có kẻ hầu người hạ. Đó cũng là miếng mồi ngon béo bở mà người đời ai cũng thèm muốn được tận hưởng đầy đủ và vì sợ mất nên họ phải dùng tất cả thủ đoạn để bảo vệ nó. Cuối cùng thì đó cũng chỉ là mộng ảo phù hoa, cũng như những bong bóng nước khi rơi xuống chúng sẽ tự vỡ. Không ai có thể giữ mãi được danh vọng, địa vị hay quyền uy, thế lực. Người muốn ít biết đủ sẽ tùy duyên làm việc, không tranh đua danh lợi nên không sợ mất mát; không sợ ai tranh chấp, mưu hại nên cuộc sống lúc nào cũng được bình yên, hạnh phúc.

Ngay đến các thức ăn uống ngon miệng cũng chỉ có giá trị khi còn ở đầu lưỡi, chúng ta nuốt qua khỏi cổ rồi thì mọi thứ như nhau. Xét lại mới thấy việc ăn ngon chỉ có cảm giác nhất thời, vậy mà chúng ta phải hao tiền tốn của, vất vả cực khổ để có được món ngon vật lạ, sơn hào hải vị. Sự đam mê ngủ nghĩ cũng làm cho ta phải bận tâm không kém. Nhiều người suốt đời chỉ thích nhàn hạ, thảnh thơi, ăn không ngồi rồi, không muốn làm gì động đến chân tay. Họ sống chỉ biết thụ hưởng, vui chơi, bồi bổ tấm thân cho thỏa mãn, sung sướng nên cứ hết ăn rồi ngủ, hết ngủ rồi ăn, chẳng khác gì loài heo. Hạng người như thế chỉ biết lo cho thân này còn gia đình, người thân hay ngoài xã hội ai khổ đau mặc kệ.

Ngày xưa khi thế giới loài người mới hình thành, dòng họ nhà ma vì ghen ghét loài người nên cùng bàn bạc sẽ đem giấu đi thứ quý giá nhất của con ngườihạnh phúc. Chúng tranh luận, bàn bạc với nhau nên đem giấu hạnh phúc của con người ở đâu. Trên núi cao, trong rừng thẳm, dưới biển sâu hay trong lòng đất? Cuối cùng, chúng thấy những nơi đó loài người có thể phát giác ra nên đã quyết định sau khi cân nhắc kỹ là đem hạnh phúc giấu ngay nơi thân con người. Cả lũ quỷ đều vui vẻ đắc thắng vì nghĩ đó là nơi con người khó có thể tìm ra mà có hạnh phúc thật sự.

Con người chúng ta thường cho rằng cuộc sống sẽ tốt đẹp và có ý nghĩa hơn khi được ăn học đàng hoàng, lập gia đình rồi sinh con đẻ cái cùng sống hạnh phúc bên nhau. Đến khi thành lập gia thất và bắt đầu có con ta lại vỡ mộng vì con còn quá nhỏ nên tự an ủi mọi việc sẽ tốt đẹp hơn khi các con khôn lớn. Và đến lúc ấy ta lại thất vọng hơn nữa vì con đến tuổi đi học nên phải chăm sóc, lo lắng cho chúng vất vả hơn. Rồi ta lại tự an ủi mai này các con trưởng thành và có gia đình riêng thì chắc chắn ta sẽ được hạnh phúc. Cho đến khi ấy thì mình đã già và có khi chẳng còn sống được bao lâu để thụ hưởng hạnh phúc. Suốt một chặng đường từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường cho đến khi tốt nghiệp, cưới vợ lấy chồng, có con và nghỉ hưu; tất cả đều thoáng qua nhanh và từng giai đoạn là từng nỗi lo toan vất vả, bộn bề. Hạnh phúc thiết thực, thật ra là ở ngay trong giờ phút hiện tại. Cuộc sống vốn dĩ luôn bị vây quanh bởi các thứ lo toan quay cuồng cứ nối tiếp nhau không một phút giây ngừng nghỉ. Hiện tại nếu chúng ta biết trân quý thời gian thì đó là thời điểm hạnh phúc nhất dù cuộc sống lúc nào cũng khó khăn và nhiều phiền muộn, khổ đau.

Vì muốn tìm kiếm hạnh phúc nên chúng ta cứ phải làm lại từ đầu. Cứ như thế công việc này giải quyết chưa xong thì những việc kia lại tiếp nối, đôi khi ngồi mà tiếc nuối chuyện đã qua và công việc khác lại bắt đầu. Rốt cuộc, chúng ta cứ nằm trong vòng lẩn quẩn mà quên đi những giây phút sống ngay trong hiện tại, đây mới chính là điều ta đang tìm kiếm bấy lâu nay. Hạnh phúc chính là ta đang làm việc gì thì biết việc đó, ta phải sống với những gì trong hiện tạihiện tại chính là đây. Chúng ta hãy trân quý và tận hưởng những gì mình đang có ngay trong giờ phút hiện tại và đừng nên chờ đợi nữa. Ta đừng chờ cho tới khi tốt nghiệp ra trường, chờ khi có việc làm tương xứng, chờ được tăng lương, chờ có công việc mới, chờ một mẫu người lý tưởng để gá nghĩa vợ chồng, chờ đến ngày thứ bảy hay sáng chủ nhật để sum họp gia đình, chờ lãnh lương cuối tháng và chờ cho xuân-hạ-thu-đông bốn mùa thay đổi, chờ mãi chờ mãi cho đến ngày ta nhắm mắt lìa đời thì hạnh phúc thật sự có khi cũng chưa tìm đến. Chúng ta muốn được hạnh phúc nhưng ta phải hiểu hạnh phúc thật sự là gì? Hạnh phúc là sự biết cảm nhận giá trị sống trong mỗi hoàn cảnh ngay tại đây và bây giờ chứ hạnh phúc không phải là điểm đến mà ta đang mong đợi. Chúng ta hãy thường xuyên suy nghĩ về điều này, cuộc sống lúc nào cũng ngắn ngủi và thoáng qua nhanh, thở ra mà không thở vào thì ta còn gì nữa? Tại sao ta không biết trân quý những gì đang có ngay giờ phút hiện tại?

Và thật đúng như thế! Sức mạnh của loài người có thể chinh phục được vũ trụ nhưng lại không thể dễ dàng chiến thắng được thói hư tật xấu và vượt qua chính bản thân mình. Đúng là hạnh phúc nằm ngay trong bản thân con người nhưng con người lại không chịu thừa nhận, bởi hạnh phúc không có hình dáng, tướng mạo, không xúc chạm được nên khó thấy, khó biết. Cũng như sức mạnh tâm linh của mỗi người chính là nội tâm thanh tịnh, sáng suốt; nương nơi mắt thì thấy biết rõ ràng không lầm lẫn, tai-mũi-lưỡi-thân-ý cũng lại như thế. Chúng ta hãy kiểm lại ba điều. Một là mạng sống trong hơi thở. Hai là thân này hư dối tạm bợ, không có gì quan trọng. Ba là tâm là ông chủ nhân của bao điều họa phúc. Ta thường nhớ và thấy như vậy thì sẽ dễ dàng tập trung vào việc tu học để chuyển hoá, gạn lọc tâm buồn thương, giận ghét thành tâm thanh tịnh, sáng suốt. Làm chủ được thân tâm rồi thì các thứ hình thức vật chất trong cuộc sống không thể hấp dẫn và lôi kéo ta được nữa.

Người Phật tử chân chính tu học cho đến thấy được lẽ thật thì đời sống mới được bình yên, hạnh phúc. Lúc nào chúng ta cũng nhớ rằng từ si mê, tham đắm thân này nên sinh ra tham lam; từ tham không được rồi sinh ra nóng giận; nóng giận lâu ngày trở thành nội kết mà dẫn đến thù hằn, ghét bỏ. Ba thứ này là phiền não kiên cố chúng ta cần phải tìm cách chuyển hóa chứ không thể nuôi dưỡng, chất chứa chúng lâu dài. Chúng ta thử nhìn lại trên thế gian này từ người giàu cho tới kẻ nghèo có ai sống mà không có đau khổ hoặc vui vẻ hết. Mỗi người đều có nỗi khổ riêng; có người khổ vì thiếu thốn đói khát; có người khổ vì không cha không mẹ, không gia đình người thân; có người tuy giàu nhưng cũng khổ vì gia đình không hạnh phúc. Chúng ta phải dám nhìn vào sự thật và luôn nhớ mạng sống này chỉ trong hơi thở thì sẽ bớt tham lam, ích kỷ. Khi thấy thân này nhơ nhớp, không trong sạch thì bớt kiêu căng, ngã mạn; thấy rõ bản chất nó là vô thường nên dần hồi phá được chấp ngã về thân. Chúng ta muốn chuyển hoá, gạn lọc làm cho tinh thần được trong sáng, tốt đẹp thì phải biết xem xét lại chính mình từ những tâm niệm đang dấy khởi thầm kín. Hầu như ai cũng biết tham lam, nóng giận, si mê là xấu ác nhưng bỏ không được vì thói quen chất chứa nhiều đời. Con người thật là mâu thuẫn! Lúc nào cũng mong cho mình được sáng suốt, thanh tịnh mà những thói xấu không chịu bỏ. Người tham lam có 1 triệu thì muốn 2 triệu, có 2 triệu lại muốn 3 triệu, có 3 triệu thì lại muốn nhiều hơn mà không bao giờ biết dừng lại.

Nói đến việc tu để tâm được thanh tịnh, sáng suốt thì nhiều người bảo ăn chay, lạy Phật nhiều là tu. Ăn chay chỉ là bước đầu thể hiện lòng từ bi đối với các loài vật, lạy Phật cũng thuộc về phần thể xác nhưng biết cách lạy sẽ thực sự có nhiều lợi ích. Lạy Phật là cách thức tu trong hoạt động vì thân này luôn phải làm việc, ăn uống, tắm rửa, đi tiểu đi đại nên cách thức tu lạy Phậtgiá trị thiết thực về hai mặt thể xác lẫn tinh thần. Toàn thân năm vóc lễ lạy, đứng lên quỳ xuống, thân tâm cung kính nhất như làm cho thân khoẻ, tâm an. Tu bằng hình thức tạo phước, tạo duyên, từ từ buông xả được bao nhiêu thì tốt bấy nhiêu. Hoặc ta tu bằng cách lọc bỏ các vọng tưởng cho tâm được trong sáng, thanh tịnh. Thân và tâm không tách rời nhau và luôn cùng nhau hoạt động, nếu tâm biết tỉnh giác thì thân miệng làm các việc tốt mà cảm nhận được niềm vui. Ta biết đóng góp vật chất thì có phước nhưng tâm còn phiền não, vọng động thì vẫn còn luân hồi sanh tử.

Vì lòng tham muốn của con người không bao giờ biết thỏa mãn nên tâm cứ luôn rong rủi tìm cầu, chạy theo ngũ dục không bao giờ biết chán, biết đủ. Người ta nói “ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn”, nhưng xét lại đời sống con người từ khi sinh ra thì tất cả mọi sinh hoạt trong xã hội đều do chạy theo ăn-uống-mặc-ở và các tiện nghi sinh sống khác… Người nghèo thì tìm cách tranh thủ làm lụng để có cái ăn cái mặc. Người đã dư ăn dư mặc thì muốn kiếm thêm để dành dụm cho con cháu mai sau. Khi đã có đầy đủ vật chất thì con người lại muốn tranh thủ để có danh vọng, địa vị, kẻ hầu người hạ, ăn trên ngồi trước, mọi người kính nể. Rốt cuộc, cả một đời lao đao, lận đận chạy theo ngũ dục rồi cuối cùng đi đến già-bệnh-chết và mang theo chỉ hai bàn tay trắng. Cha mẹ, vợ con, nhà cửa cũng không ai dám phát tâm đi theo. Quả thật, lòng tham con người không bao giờ biết chán, biết dừng và muốn ít biết đủ.

Từ si mê mới cho rằng đời sống dài cả trăm năm nên lo tạo dựng sự nghiệp, gia đình, công danh, tài sản, của cải để con cháu đời sau hưởng đến khi tắt thở cũng chưa mòn. Vì vậy mà cả một đời mấy chục năm ròng ta cứ lao vào hình thức vật chất mà không nghĩ đến tâm tư của mình trong sáng hay tối tăm; không màng đến việc trau dồi nhân cách, đạo đức mà chỉ đuổi theo những cái tạm bợ, phù phiếm bên ngoài. Đời này tạo lập, xây dựng mà nếu lỡ phải chết giữa chừng thì khi ra đi tâm tiếc nuối dấy khởi, ta không cam tâm nên mới phải tái sinh, có khi phải đọa làm chó giữ nhà để trông của. Thế cho nên, Phật nói si mê là gốc của luân hồi sống chết không có ngày cùng, chúng sanh phải thăng lên lộn xuống mãi trong ba cõi sáu đường gốc cũng từ si mê mà ra. Ta đam mê sự sống, danh vọng, sắc đẹp, quyền lực, tiền bạc, của cải. Ta thường sống với những ảo tưởng, nhớ nghĩ về quá khứ hoặc mơ mộng đến tương lai. Chính đó là gốc rễ của si mê. Cho nên, chúng ta phải thường xuyên quán chiếu mới có thể biết rõ mạng sống vô thường, thân này không thật có. Biết thân này không có giá trị chân thật thì chúng ta không còn tham ái, luyến mến nó nữa. Được như vậy ta sẽ biết cách làm chủ thân tâm.

Tuy nhiên, chúng sinh can cường với bản tánh tham lam, mới tu vài ba năm hoặc hai ba chục năm mà cứ đòi thành Phật; do đó, nghe ai nói tu ba tháng đến sáu tháng thành Phật liền thì ham quá mới bán hết nhà cửa mà dâng cúng cho người đó. Tu một thời gian không có kết quả mới té ngửa ra tại mình si mê, đần độn nên đã “giao trứng cho ác” mà không biết. Lời Phật dạy từ trước đến nay chính yếu tu là biết cách gạn lọc nội tâm; giống như một lu nước đục muốn nước được trong phải có thời gian gạn lọc, tuy thấy nước trong nhưng cặn bã vẫn còn dưới đáy lu, gặp duyên thì nước sẽ đục trở lại. Phiền não tham-sân-si là cặn cáu, tuy có định tĩnh đôi chút nhưng vẫn còn mờ tối. Muốn nước thật sự được trong ta phải đổ nước trong sang lu khác, khi cặn bả hết thì có quậy nước vẫn trong. Tâm ta trong sáng thì mọi thứ phiền não, khổ đau cũng tan hòa vào hư không.

Phật dạy phàm cái gì có hình tướng đều do duyên hợp giả có, vậy mà chúng ta chỉ thích sống với cái giả mà bỏ quên cái thật chính là tâm thường biết rõ ràng nương nơi mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý. Cả ngày chúng ta chỉ biết lo lắng, đem hết sức lực để gìn giữ cái thân sẽ già-bệnh-chết. Phần tâm thức thuộc về tinh thần ta cũng chỉ giữ những buồn thương, giận ghét, hơn thua, phải quấy, tốt xấu, được mất và cho đó là tâm mình; nên mới nói “tâm tôi suy nghĩ như thế này, tâm tôi muốn làm như thế kia”. Đủ thứ tâm thương ghét, buồn vui lẫn lộn mà ta cứ chấp chúng là tâm mình dù chúng chợt có chợt không, thay đổi liên tục. Chúng sinh do gây nghiệp thiện ác mà đi trong sanh tử luân hồi không có ngày thôi dứt. Khi ý nghĩ điều không tốt thì miệng nói xấu, thân làm bậy nên bị đọa vào ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Nếu ý nghĩ chân chính, miệng nói lời chân thật từ ái, thân làm điều lợi ích sẽ được đi trong ba đường lành, hưởng phước báu cõi trời, người, a-tu-la.

Như vậy, nguyên nhân dẫn chúng ta đi trong luân hồi sinh tửý thức, tức những ý nghĩ thiện-ác, tốt-xấu. Chính tâm là chủ tạo nghiệp, muốn thoát khỏi sanh tử khổ đau ta phải xa lìa hai ý nghĩ tốt-xấu và thiện-ác. Chúng ta có hai thứ tâm, tâm sanh diệt tùy duyên chạy theo tình cảm của thế gian và tâm thường biết rõ ràng hằng sáng suốt, lắng trong. Khi ta buồn, lúc ta thương, rồi lại giận, lát lại vui. Tâm luôn thay đổi theo hoàn cảnh là tâm sanh diệt tùy duyên. Duyên thuận thì tâm vui vẻ, thích thú, muốn bám giữ mãi. Duyên không vừa ý thì bực tức, phiền muộn. Tâm như vậy ta gọi là sáng nắng chiều mưa, thay đổi liên tục, mới khóc đó rồi cười nên nó không phải là tâm chân thật. Chúng ta nên nhớ, bước đầu tu là dẹp bớt những tâm niệm xấu-ác mà giữ những tâm niệm hiền lành, tốt đẹp. Bước thứ hai khi tâm không còn suy nghĩ việc xấu-ác nữa mà hay làm các việc thiện lành, tốt đẹp thì đến đây mỗi hành giả phải buông luôn tất cả niệm thiện dù đó là niệm Phật, niệm Bồ tát để thể nhập tính biết sáng suốt nương nơi mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý.

Chúng ta hiện nay có ai không thấy, không nghe, không biết không? Tại sao ta không thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe? Tại sao ta không chịu thừa nhận để mãi trôi lăn trong luân hồi sinh tử hoài? Người biết tu thì tìm cách sửa đổi sai lầm, luôn sống trong tỉnh giác và hay nhắc nhở mọi người cùng ý thức tin sâu nhân quả, tin chính mình và cố gắng chuyển hóa phiền não tham-sân-si thành vô lượng trí tuệ, từ bi. Tuy chúng ta học đạo nên biết thân này hư dối, giả tạm nhưng nếu biết lợi dụng nó để tu hành thì có ngày sẽ vượt khỏi sinh tử khổ đau. Người tu có hai trường hợp. Hạng người thứ nhất là nhớ biết cuộc đời vô thường nên tâm buồn rầu, chán nản, không muốn làm gì. Hạng người như vậy là đã vô tình phỉ báng lời Phật dạy. Hạng người thứ hai cũng biết thân tâm và hoàn cảnh đều vô thường nhưng vẫn vui vẻ, cố gắng tu tập chuyển hoá để vươn lên vượt qua biển khổ sông mê.

Tóm lại, chúng ta muốn sống được với con người tâm linh của chính mình thì phải biết buông xả bớt, việc gì đáng lo thì mình lo; như sống hiếu thảo với ông bà cha mẹ, sống có trách nhiệm với gia đình; vợ chồng con cái sống thương yêu, nhường nhịn lẫn nhau, quan tâm lo lắng cho nhau; nuôi dạy con cái biết tin sâu nhân quả, tin tâm mình là chủ nhân ông của bao điều hoạ phúc. Ngoài những trách nhiệm và bổn phận trên thì những việc không quan trọng khác ta nên buông xả dần. Người khéo tu lúc nào cũng nhớ quay lại chính mình, từng bước nhận ra và sống được với tâm hằng biết nương nơi mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý.

TÂM LÀ CHỦ NHÂN CỦA BAO ĐIỀU HỌA PHÚC

Tâm là gốc của thân, tâm có yên thì gốc mới vững vàng. Thân thể này sở dĩ bị bệnh hoạn là do tâm bị vô minh che lấp nên tâm hồn u tối, mê mờ. Muốn thân này khỏe mạnh, ít bệnh hoạn chúng ta chỉ cần nỗ lực làm cho tâm lặng lẽ, sáng trong. Tâm tham lam ích kỷ, giận hờn trách móc, ganh ghét tật đố, cuồng si điên dạilo lắng sợ hãi tất nhiên làm cho thân thêm bệnh hoạn vì tâm đã bị vẩn đục. Chính vì vậy mà ngài Thần Tú nói:

Thân là cây Bồ Đề

Tâm như đài gương sáng

Luôn luôn siêng lau chùi

Chớ để dính bụi bặm.

Ngài Thần Tú ví thân này như cây Bồ đề cũng đúng, nếu không có thân làm sao mình có cơ hội làm những điều thiện ích. Chính đức Phật cũng nói sở dĩ ta được tu hành viên mãn là nhờ có thân này. Nhưng thân này từ đâu có? Nhờ mẹ sinh, cha nuôi dưỡng. Người không tu sẽ chấp vào thân mà làm các việc xấu ác như những người chấp thần ngã, chấp có cái ngã lâu dài; đời này như thế, đời sau cũng vậy nên mặc tình gây tạo tội lỗi; đến khi phước hết họa đến phải chịu khổ sở vô cùng. Tuy thân này rất quý nếu biết sử dụng đúng chỗ sẽ được lợi lạc lâu dài, nhưng không có tâm thân này coi như phế bỏ. Do đó, ngài Thần Tú nói “tâm như đài gương sáng”. Thân và tâm không thể tách rời nhau, thân làm việc tốt hay xấu là do tâm điều khiển, chỉ đạo.

Mặc dù tâm như đài gương sáng, trong sạch, tinh khiết, thuần nhất nhưng nếu ta cứ để cho lòng tham lam, ích kỷ, hờn giận, si mê, ghen ghét, hận thù chen vào thì sẽ dẫn đến tranh đấu, giành giựt, tìm cách sát phạt, triệt buộc lẫn nhau để vơ vét về cho riêng mình mà làm tổn hại cho người và vật. Tâm si mê, mù quáng do thấy biết sai lầm nên đưa thân đi tới những hành động nông nổi, thấp hèn mà tạo nghiệp tày trời làm khổ đau nhân loại. Tâm nóng giận, hờn mát dẫn đến ăn không tiêu, khó ngủ, lâu ngày phát sinh bệnh suy nhược thần kinh. Bởi vậy, tâm là chủ nhân của bao điều họa phúc, thiện ác, nên hư, thành bại trong cuộc đời.

Chính vì thế, muốn thân đứng vững mà không làm các việc xấu ác để sống lâu dài thì phải an tâm. Tâm an thì họa trở thành phúc, ngu trở thành trí, khổ đau phiền muộn trở thành an lạc hạnh phúc. Tâm không an thì họa khổ đau sẽ làm cho thân dễ bị nghiêng ngã. Cho nên từ xưa đến nay các bậc hiền thánh đều tu tâm trước rồi mới lập thân, nhờ đó mà thân đứng vững vàng để đi vào đời làm lợi ích cho tha nhân mà không bị dòng đời cuốn trôi. Ngài Thần Tú cũng vì thế mới chỉ dạy phải luôn luôn dọn dẹp phiền não tham-sân-si, muốn vậy ta phải siêng năng lau chùi bụi bặm bám dính đầy nơi thân.

Lời dạy của ngài Thần Tú phù hợp với số đông nên dễ hành trìchúng sinh nghiệp tập sâu dày. Bản chất của tâm được ví như đài gương sáng nhưng vì bị bụi phiền não dính vào, ta chỉ việc lau chụi bụi bám dính trên mặt gương, khi bụi hết gương sẽ trong sáng trở lại. Bài kệ của ngài Thần Tú khi được viết trên vách khi được Ngũ tổ đọc xong liền nói chỉ để lại một bài kệ này cho mọi người đọc tụng, thọ trì y như bài kệ này mà tu hành khỏi bị đọa vào ba đường ác địa ngục, quỷ đói, súc sinh. Những ai y bài kệ này mà tu hành thì lợi ích rất lớn. Tất cả mọi người trong chùa khi tụng đọc bài kệ thảy đều khen hay. Rõ ràng, nếu nhìn ở chiều có sự quán chiếu thực thể hai mặt, kẻ si mê chấp thân là thật ta, rồi đến của ta. Tất cả đều vì “cái ta” thật này mà làm những việc xấu ác. Nhất là những ông vua trong thời kỳ phong kiến tham lam, chấp trước, tự cho mình là Thiên tử tức con trời nắm quyền hành sinh sát trong tay nên muốn giết ai thì giết, muốn phong quan tiến chức cho ai thì phong. Ai đụng chạm đến gia đình, dòng họ của vua đều bị giết chết đến 7 đời. Ngược lại với kẻ si mê là những người trí tuệ, tuy biết thân này giả có, không thực thể cố định nhưng không vì thế mà họ bi quan, chán nản. Họ biết lợi dụng thân này để tu tập chuyển hóa, nhờ vậy biết kết hợp nhuần nhuyễn tu thân-miệng-ý, do đó đạt được lợi ích thật sự. Kẻ mê thì bám víu vào thân để gây tạo những điều tội lỗi, người trí tỉnh giác nương nơi thân để làm những việc thiện lành, tốt đẹp mà giúp người, cứu vật. Trong Kinh Pháp Cú Phật dạy:

Trong các pháp do tâm làm chủ

Tâm dẫn đầu tạo đủ các duyên

Tâm mê tạo nghiệp chẳng lành

Như xe lăn bánh, khổ liền theo sau.

Tâm giác tạo nghiệp thiện lành

Như hình với bóng, vui liền theo sau.

Đức Phật nói tâm làm chủ, tức là nói đến cái biết của con người; cái biết phân biệt do ý thức và cái biết thường hằng, tức là cái thường biết rõ ràng. Bài kệ xác định tâm làm chủ tạo ra các duyên tốt hay xấu, nếu biết cách vận dụng nó chúng ta sẽ thoát khỏi khổ đau luân hồi-sinh tử, bằng không sẽ sống trong đau khổ lầm mê. Một số người cho rằng thân là thật và quan trọng hơn hết. Ngược lại, Phật cho rằng nghiệp ý là quan trọng. Khi ý suy nghĩ, miệng nói năng rồi thân mới hành động. Cho nên, đức Phật nói tâm làm chủ, tâm tạo tác tất cả. Chính yếu của sự tu hành là tu ngay nơi thân-miệng-ý mà tâm là chính vì sự tu hành của chúng ta phát xuất từ tâm. Tâm suy nghĩ chân chính rồi mới phát sinh ra hành động tốt đẹp. Tâm suy nghĩ tà vạy thì phát sinh ra những hành động xấu ác. Vậy thân này hành động tốt hay xấu đều do tâm chủ động điều hành nên tâm là quan trọng hơn hết, không có tâm thân này như phế bỏ.

Đi xa hơn nữa, ngài Lục tổ Huệ Năng đi thẳng vào phần tinh thần, có nghĩa là trực chỉ nơi tâm mà thể nhập cái gốc ban đầuPhật tính sáng suốt nương nơi mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý. Chính vì vậy mà Ngài nói bài kệ:

Bồ đề vốn không cây

Gương sáng chẳng phải đài.

Xưa nay không một vật

Chỗ nào dính bụi bặm?

Bồ đề là chỉ cho cái biết sáng suốt nương nơi mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý, cái biết ấy không có hình tướng mà chỉ thường biết rõ ràng thì làm sao thân là cây Bồ đề được. Thân tuy hiện hữu nhưng lại không có thực thể cố định nên có sinh-già-bệnh-chết thì làm gì có hình tướng thật. Cho nên, ngài Thần Tú nói thân là cây Bồ đề, còn Lục tổ nói Bồ đềtính giác sáng suốt. Qua câu nói này ta thấy thân tâm không tách rời nhau. Tâm trong sáng, thanh tịnh thì biến hiện ra thân đẹp đẽ, trang nghiêm. Câu nói “tâm như đài gương sáng” của ngài Thần Tú ý nói gương thì nó tự sáng chớ không phải do đài mà gương được sáng trong. Cái gì thật thì trước sau như một, không cần thứ gì tô điểm thêm cho nó. Bản chất của gương xưa nay là tự sáng, chỉ vì bị bụi lâu ngày bám dính nên bị lu mờ, khi bụi hết thì gương sáng rỡ chiếu khắp cả nhân gian. Ngài Huệ Năng lại nói chỗ đó không hình tướng nên xưa nay không có vật nào. Vậy chỗ nào dính bụi bặm? Lục tổ Huệ Năng thể nhập tính biết thanh tịnh, sáng suốt nên chỗ thấy của ngài trong sạch, lặng lẽ, sáng trong mà hay soi sáng muôn loài vật. Cái thấy của Lục tổ Huệ Năng là nói theo thể tánh không có hình tướng đối đãi, đó là đỉnh cao của Phật pháp. Chúng ta bị dính mắc đủ thứ nên phải xả bỏ từ từ, chính vì vậychúng ta phải siêng năng lau chùi, bữa nào làm biếng thì lại để bụi dính bám đầy.

Ngài Thần Tú và cả Lục tổ Huệ Năng đều nói đúng. Ngài Thần Tú thì chỉ dạy theo thứ lớp để số đông dễ tiếp thucố gắng kiên trì bền bỉ lau chùi, dọn dẹp cho đến khi bụi phiền não hết rồi cũng đồng một chỗ sáng. Ngày nay, có một số người không chịu tu sửa mà chỉ biết lấy lời tổ để dẫn chứng lý luận suông nên rơi vào Thiền trên miệng lưỡi, thực tế thì phiền não tham-sân-si đầy dẫy. Người sau này lại có bệnh người xưa nói sao mình nghe vậy mà không có sự chiêm nghiệm, quán xét, chiếu soi. Kinh điển lời Phật, tổ dạy chỉ là tấm bản đồ hướng dẫn người chưa được thì phải tiệm tu thứ lớp, người được rồi thì không cần phải lý luận nhiều mà chỉ y theo đó mà thể nhập cho đến khi thành tựu viên mãn mới thôi. Do vậy mà có tổ nói: “Việc lớn chưa sáng như đưa ma mẹ, nhưng việc lớn sáng rồi cũng như đưa ma mẹ.” Bởi vì chúng ta mới thấy biết Phật nhân mà thôi, còn quá trình sống với Phật quả cần phảithời gian lâu dài mới được. Chính vì vậyLục tổ phải mất 18 năm mới thành tựu viên mãn và mới bắt đầu ra giáo hóa.

Lại có hạng người tuy giàu có, dư dả nhưng lại sống khổ sở hơn cả người nghèo vì chẳng dám tiêu xài, nói chi đem ra giúp đỡ những người khác. Họ sống trong tham lam ích kỷ, lao tâm nhọc sức để tích chứa cho riêng mình. Muốn cho xã hội được phát triển vững mạnh, lâu dài, con người cần phải làm giàu tri thứcđạo đức. Tri thức giúp ta phát triển xã hội, đạo đức giúp con người sống có hiểu biếtyêu thương hơn. Tri thứcđạo đức như đôi cánh chim tung bay khắp cả bầu trời rộng lớn bồi đắp cho nhân loại sống có tình người, biết yêu thương, nương tựa vào nhau. Thiếu tri thức thì ta không thể giúp ích gì được cho ai. Ngược lại, có tri thức mà không có nhân cách đạo đức thì ta dễ dàng bị tha hóa, tiêu cực bởi sự hấp dẫn của tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon, mặc đẹp mà làm thiệt hại cho nhau.

Con người là chủ nhân của bao điều họa phúc, bất hạnh hay an vui đều do chính mình tạo nên. Chúng ta hãy vì tình thương của nhân loại mà cùng nâng đỡ và chia sẻ cho nhau. Con người hơn hẳn các loài khác là vì có hiểu biết, có tri giác nên dễ dàng cùng nhau chia vui sớt khổ, thiết lập tình yêu thương chân thật theo nhịp cầu tương thân tương ái trong cuộc sống. Những người không hiểu Chánh pháp có thể nói rằng: "Cái anh đó dại quá! Tại sao bị chửi, bị nói nặng, bị đàn áp như vậy mà không có phản ứng, không có la mắng trở lại, dại chi mà dại quá vậy!" Một nền giáo dục chân chính là biết cách hướng dẫn con người từ suy nghĩ, lời nói cho đến hành động đều mang tính chất đạo đức, tình thương và giúp họ thoát khỏi con đường sa đọa, trụy lạc để sống đời bình yên, hạnh phúc. Vấn đề then chốt là làm thế nào để xã hội có thể xây dựng nền giáo dục chân chính, hướng dẫn con người biết cách làm chủ bản thânvượt qua mọi thứ cám dỗ, dục vọng thấp hèn và có trách nhiệm cao cả, thiêng liêng với cuộc đời.

Mục đích giáo dục chân chính là làm sao thiết lập được chất liệu của tình thương để khai mở con người tâm linh của chính mình mà đánh bật đi bóng dáng tự ngã của “cái tôi” ích kỷ; xây dựng một con người đạo đức có khả năng bao dungtha thứ, yêu thương và chia sẻ, biết nâng đỡ cho nhau bằng tình người trong cuộc sống. Suy cho cùng, những ai biết quay lại chính mình để nhìn thấy rõ ràng từng tâm niệm phát sinh mà tìm cách chuyển hoá để sống với tâm chân thật ban đầu thì đó là thấy-nghe-hay-biết mà thường lặng lẽ, sáng trong. Tâm hồn của chúng ta lâu nay bị đóng khung bởi những bức tường xã hội, bởi những định kiến hẹp hòi của một số người thấy biết sai lầm. Giờ đây, qua con đường giáo dục tâm linh và sự trải nghiệm trong đời sống gia đình, chúng ta có thể xây dựng tâm mình bằng niềm tin nhân quả trong nhịp cầu tương thân tương ái. Đồng thời, mỗi cá nhân tự phấn đấu vươn lên để biết cách làm chủ bản thân, đừng để bị lôi cuốn vào những bức tường thành đen tối do tham lam, sân hậnsi mê chi phối.

Muốn được như vậy chúng ta phải học hỏitu tập cho thấu đáo lẽ thật-giả trong cuộc đời. Chúng ta cần phải biết lắng nghe tiếng chim hót, biết nhìn dòng sông chảy, biết lắng nghe tiếng con người than thở trong nỗi khổ niềm đau của cuộc sống. Chính vì vậy, ngay bây giờ chúng ta hãy nên tìm cho mình một lối sống thanh cao, thánh thiện vượt ngoài những giáo điều cứng ngắt mà vươn lên làm đẹp cuộc đời. Có nhiều điều chúng ta cũng cần phải học nơi bản thân mình qua những lần vấp ngã để biết cách chuyển hóa phiền não tham-sân-si thành vô lượng trí tuệ từ bi, nhờ vậy cuộc sống của ta được bình yên, hạnh phúc.

Trong những nỗi lo lắng, sợ hãi, đau buồn, chán nản khi gặp khó khăn, thất bại con người thường mất hết niềm tin mà lao vào những canh bạc đỏ đen rồi dìm chết đời mình trong đêm tối. Vì muốn có được danh vọng hay nắm giữ quyền lực cho đến hơi thở cuối cùngcon người nghĩ ra nhiều mưu mô, kế độc nhằm đạt đến ngưỡng cửa của tham vọng. Dù đó không phải là năng lực của chính bản thân nhưng ta vẫn ôm giữ mãi không chịu nhường cho ai. Chuyện này thường xảy ra nhan nhãn trong đời sống hằng ngày. Chúng ta chỉ vì lòng tham lam, ích kỷ, hẹp hòi mà tối ngày tranh giành địa vị, nuôi mộng đấu tranh để được quyền lực tối cao.

Nhân loại trên đà phát triển nhìn vào thực tế cuộc sống chúng ta thấy rõ thế giới con người đang phát triển, mở mang đến mức cực thịnh với nhiều hình thái rất phong phú, đa dạng, huyền bí và phức tạp đến vô cùng. Nền văn minh khoa học kỹ thuật phát triển đã đem đến cho con người một cuộc sống sung túc, phồn thịnh. Ăn uống sung sướng, quần áo sang trọng, trang sức hợp thời trang, nhà cao cửa rộng đầy đủ tiện nghi, thuốc thang trị liệu đa dạng, phương tiện đi lại dễ dàng, đường phố ngập tràn những chiếc xe hơi bóng loáng… Sự văn minh tiến bộ vượt bậc của nền khoa học kỹ thuật đã đem đến cho con người mọi nhu cầu thoả đáng, đời sống vật chất sung mãn, đầy đủ. Tuy nhiên, vật chất càng sung mãn thì càng làm sự tham muốn của con người không bao giờ biết đủ, biết chán, biết thỏa mãn để dừng lại và cuối cùng là không biết bằng lòng với hiện tại.

Tất cả mọi tiện nghi vật chất sung mãn vẫn không mang đến cho con người có được một cuộc sống bình yên, an vui và hạnh phúc thực sự. Ngược lại, chúng ta đều mang sẵn một nỗi niềm ưu tư, lo lắng, sợ hãi, bất anphiền muộn. Con người cứ luôn đi tìm những cảm giác mới lạ để được tận hưởng những thú vui trong ngũ dục cuộc đời. Sự mong muốn này vừa được đáp ứng thì con người lại thấy không hài lòng, thỏa mãn và liền chạy tìm một nhu cầu mới khác có hiệu quả cao hơn để tận hưởng cảm giác lâu bền rồi tự giết đời mình trong vô minh mê muội. Một khi con người đã chạy theo dục vọng thì không biết chỗ dừng như túi tham không đáy, lúc nào cũng cảm thấy thiếu thốnthèm khát. Sự văn minh tiến bộ về tiện nghi vật chất làm cho tinh thần con người bị sa sút bởi sự đam mê, quyến rũ của dục vọng.

Nhưng chúng ta phải làm thế nào để trở thành một con ngườiđạo đức tâm linh hoàn chỉnh? Muốn trở thành con người tâm linh không phải đơn giản, dễ dàng. Nó đòi hỏi chúng ta đối với bản thân phải luôn biết xét nét, nhìn kỹ lại chính mình để thấy được những lỗi nhỏ nhặt nhất mà tìm cách khắc phục, chuyển hóa chúng. Người có đức hạnh phải biết làm chủ bản thân qua các cảm thọ, xúc chạm để thấy biết rõ ràng sự thật nơi thân này. Biết cảm thôngtha thứ, bao dungđộ lượng cho những ai đã từng làm cho mình đau khổ tột cùng; luôn sống vì lợi ích chung, lấy niềm vui thiên hạ làm niềm vui chính mình. Ai sống được như vậy là người đức hạnh, đạo đức và đang đi trên con đường giác ngộ. Chúng ta hãy nên học theo hạnh lắng nghe của Bồ tát Quán Thế Âm mà sẵn sàng chia vui, sớt khổ vì lợi ích tha nhân; sẵn sàng chấp nhận khổ đau để mọi người được an vui, hạnh phúc. Thế gian này có năm loài cùng chung ở trong sáu nẻo luân hồi nhưng con người là một chúng sinh cao cấp nhờ có suy nghĩ, nhận thức, biết phân biệt đúng sai. Nếu biết vận dụng đi theo chiều hướng tốt đẹp thì không ai bằng và ngược lại thì vô cùng cực ác.

Lịch sử nhân loại đã chứng minh cho chúng ta thấy rõ điều đó. Chỉ có con người tâm linh mới có đủ khả năng giúp nhân loại vượt qua rào cản của si mê, tội lỗi nhờ có hiểu biếtthương yêu trong tinh thần bình đẳng. Ai làm người cũng phải một lần biết thao thức, trăn trở để mở rộng tấm lòng mà cùng nhau kết nối yêu thương, sẻ chia cuộc sống. Đời sống con người luôn song hành hai phần thân và tâm, tức thể xác và tinh thần. Nhưng đa số chúng ta chỉ chú trọng về phần vật chất nên cung phụng cho thân nhiều mà quên lãng đi yếu tố tinh thần, tuy sống trong giàu có, tiện nghi mà lại nghèo nàn tâm linh nên thường thất vọng, đau khổ. Tóm lại, thân và tâm không thể tách rời nhau, thân hành động tốt hay xấu đều do tâm điều khiển. Những ai đã sống được với bản tâm chân thật rồi thì làm việc gì cũng đều có lợi ích.

Tôi lúc trước si mê cùng lầm lỗi
Gây biết bao khổ não cho nhiều người
Nhờ Tam bảo, mẹ hiền đã tế độ
Tôi vượt qua bao tăm tối, ưu phiền
Để rồi đây kết nguyện với muôn loài
Hầu đền đáp, sẻ chia cùng tất cả
Để cùng nhau kết nối tình yêu thương
Cùng vui sống bằng trái tim hiểu biết.

 


 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 89)
Nguyên bản: Meditating while dying; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 253)
Ba Mươi Hai Cách ứng hiện của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Bởi vì Quan Thế Âm Bồ Tát đồng một Sức Từ với đức Phật Như Lai cho nên ngài ứng hiện ra 32 thân, vào các quốc độ mà độ thoát chúng sanh
(Xem: 202)
Thể tánh của tâm là pháp giới thể tánh, bởi vì nếu không như vậy thì tâm không bao giờ có thể hiểu biết, chứng ngộ pháp giới thể tánh.
(Xem: 192)
Trong kinh tạng Nikāya, khái niệm con đường độc nhất (ekāyana magga) là một khái niệm thu hút nhiều sự quan tâm của học giới từ phương Tây cho đến phương Đông
(Xem: 170)
Thuật ngữ pháp (dharma, có căn động tự là dhṛ có nghĩa là “duy trì, nắm giữ”; Pāli: dhamma; Tây Tạng: chos) mang nhiều ý nghĩa và ...
(Xem: 207)
Trì danh là pháp tu Tịnh Độ phổ thông nhứt hiện nay. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm, có Mười cách trì danh khác nhau
(Xem: 225)
Phật dạy tất cả pháp hữu vi đều là vô thường sanh diệt không bền vững, như vậy thì ở thế gian cái gì có tạo tác có biến đổi đều là vô bền chắc.
(Xem: 311)
Nguyên bản: Removing obstacles to a favorable death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 252)
Mối liên hệ giữa hình thức sớm nhất của Phật giáo và những truyền thống khác mà chúng đã phát triển về sau là một vấn đề luôn tái diễn trong lịch sử tư tưởngPhật giáo.
(Xem: 367)
Nghiệp và Luân hồi là hai ý niệm đã có trong Ấn độ giáo, được giảng giải trong các Kinh Veda và Upanishad vào khoảng 1500 năm trước CN.
(Xem: 8661)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 739)
Mục tiêu cao cả của đạo Phật là dạy con người tu tập để thoát khổ, giác ngộgiải thoát.
(Xem: 268)
Phật giáo du nhập Nhật Bản vào thế kỷ thứ VI, sau đó trải qua thời kì Nara (710~785), thời kì Heian (794~1192) cho đến thời kì Kamakura (1192~1380), trước sau khoảng 700 năm, rồi phát sinh rất nhiều tông phái.
(Xem: 267)
Tổ Quy Sơn dặn: “Nói ra lời nào phải liên hệ với kinh điển. Đàm luận gì, phải xét lại lời người xưa”.
(Xem: 276)
Nhiều học giả phân vân là làm thế nào và tại sao những nhà Đại chúng bộ (Mahāsāṅghika) đã hình thành nên khái niệm về một Đức Phật siêu việt...
(Xem: 424)
Hoa Sen Diệu Phápgiáo pháp được thuyết giảng trong Kinh Pháp Hoa. Quang Trạch giải thích Diệu Pháp là nhân của đạo Nhất Thừa, là quả của đạo Nhất Thừa.
(Xem: 233)
Con người sống qui tụ lại thành một xã hội, và phát triển tập thể này rộng lớn dần dần thành một quốc gia.
(Xem: 1356)
Trước khi xác định Phật Giáo như là một hệ thống tư tưởng triết học (Buddhism as a philosophy) hay như là một tôn giáo (Buddhism as a religion), chúng ta sẽ tìm hiểu triết học là gì ? và Phật giáo là gì ?
(Xem: 328)
Lục độ Ba-la-mật-đa/ Sáu phương pháp tu Ba-la-mật-đa (Six Paramitas) là 6 pháp tu để giải trừ các khổ ách của Đại thừa Phật giáo.
(Xem: 320)
Theo quan điểm của Đại hoàn thiện thì ánh sáng trong suốt hiển hiện một cách tự nhiên và được gọi là "hoàn-toàn-tốt"
(Xem: 501)
Đức Phật ra đời vào năm 624 trước tây lịch tại nước Ấn Độ. Ngài thuyết pháp 49 năm. Phật giáo đã trở thành quốc giáo, vì các vua, các quan và dân chúng đa phần đều theo đạo Phật.
(Xem: 500)
Y Kinh Kinh Cang Bát Nhã Ba La Mật: Đức Thế Tôn Như Lai hỏi ngài Tu Bồ Đề: Như Lainhục nhãn không? Ngài Tu Bồ Đề thưa:
(Xem: 1341)
Cuốn sách “Luân Hồi trong Lăng Kính Lăng Nghiêm” được ra mắt cách đây 9 năm (2008), in lần thứ hai, ba và tư vào năm 2012, 2014 & 2016 tại Nhà xuất bản Phương Đông, và năm nay (2018) cũng tại NXB Hồng Đức
(Xem: 772)
điều chắc chắn là làm người, ai cũng có ý thức về tội lỗi. Điều này là không đúng, điều này là không tốt, điều này là không đẹp.
(Xem: 488)
Tựa đề của khảo luận này phát xuất từ tồn nghi của một pháp hữu trong khi dịch lại bản kinh Tập (Sutta Nipāta) ở văn hệ Nikāya.
(Xem: 885)
Khái niệm ‘nghiệp’, thật ra, đã có mặt trong văn học Bà-la-môn giáo từ rất lâu trước khi Đức Phật xuất hiện ở đời.
(Xem: 460)
Vũ trụ, con người hình thành như thế nào và tương lai sẽ ra sao? Câu hỏi chưa bao giờ được xếp lại. Khoa học lượng tử luôn tiên phong...
(Xem: 421)
rong lịch sử tư tưởng Ấn-độ, thuyết Trung đạo đã mang lại cho tư tưởng giới đương thời một không khí hoạt bát[1].
(Xem: 591)
Bản chất của ánh sáng trong suốt, mang tính cách nền tảng và rạng ngời, là cội nguồn tối hậu của tất cả mọi cấp bậc tri thức...
(Xem: 649)
Chánh Pháp là gì? Phật Pháp được chia thành ba thời kỳthời Chánh Pháp, thời Tượng Pháp, và thời Mạt Pháp.
(Xem: 1110)
Ông trị vì từ năm 269 TCN đến năm 232 TCN thuộc đời thứ 3 của triều đại Maurya. Đế chế của ông rộng lớn gần như tất cả tiểu lục địa Ấn Độ trãi dài từ Đông sang Tây.
(Xem: 776)
Trong Kinh Kim Cang, Phật dạy có 4 tướng: “Ngã – Nhân – Chúng Sanh – Thọ Giả”. Khi còn phàm phu, chấp thân này là thật là bền vững,
(Xem: 762)
Đạo Phật đang phát triển rộng rãi đến nhiều tầng lớp. Rất nhiều các bậc tri thức, các nhà khoa học chân chính, đến cả những người ...
(Xem: 1431)
Kiếp sống của mỗi con người sinh ra ở thế giới Ta Bà này, dù thọ mạngdài hay ngắn, nhìn chung có thể phân chia làm nhiều giai đoạn.
(Xem: 910)
Kể từ thời điểm Phật giáo khai sinh và nở hoa khắp mọi miềnthế giới, hễ mỗi khi nói đến hình ảnh một vị Phật xuất hiện trong tương lai,
(Xem: 642)
Phép luyện tập thiền định được hỗ trợ bởi sự thực thi các hành động vị tha, các hành động đó đồng thời cũng được thúc đẩy bởi tình thương yêu và lòng từ bi.
(Xem: 536)
Nếu đủ sức duy trì một cách đúng đắn sự nhận biết tâm thức thần bí nhất thì kết quả mang lại từ phép luyện tập đó sẽ trợ lực các bạn rất nhiều
(Xem: 705)
Thời-không vũ trụ chứa hàng triệu, tỉ, hàng ức cho đến không máy móc nào đếm hằng hà sa số hành tinh như trái đất mới biết con ngườimột sinh thể gần như bằng không.
(Xem: 875)
Trong các bài kinh thuộc hệ A Hàm hay kinh Đại Bát Niết Bàn v.v… Phật có nói đến địa ngục. Đề Bà Đạt Đa, Tì kheo Thiện Tinh, vua Lưu Ly v.v… đều đọa vào địa ngục ngay khi chết.
(Xem: 639)
Xét về niên đại, bản kinh có mặt ở thời Hậu Hán (23-220), xuất hiện trong Cao Tăng Truyện quahành trạng của ngài Nhiếp-ma-đằng (攝摩騰)[2].
(Xem: 605)
Thể dạng lắng sâu thường xuyên bên trong tâm thức thần bí nhất chỉ có thể thực hiện được với những người có một khả năng thật bén nhạy.
(Xem: 1334)
Bài viết này sẽ khảo sát một số thắc mắc thường gặp về Thiền Tông, hy vọng sẽ tiện dụng cho một số độc giả còn nhiều nghi vấn.
(Xem: 922)
Thức Thứ Tám hay A Lại Ya là thức chủ trong 8 thức. Thức nầy có nhiều cách gọi khác nhau để chỉ về nhiệm vụ của mình. Tựu chung thức nầy có 3 việc chính là: Năng tàng, Sở tàng và Ngã ái chấp tàng.
(Xem: 988)
Khi còn vướng mắc trong sự tạo tác triền miên của khái niệm, chẳng hạn như suy nghĩ về cái đúng, cái sai, v.v. , thì các bạn sẽ không thể nào bước vào con đường tu tập về
(Xem: 902)
Học phái dịch thuật xưa của Phật giáo Tây Tạng đưa ra nhiều cách luyện tập dựa vào các phương pháp khác biệt nhau, gọi là các "cỗ xe"/thừa.
(Xem: 1805)
Thần tài trong Phật giáo, cụ thểPhật giáo Bắc truyền đã vay mượn giữa hình ảnh Bố Đại hòa thượng và các truyền thuyết về thần tài Trung Hoa, để tổng hòa nên một vị thần tài có nguồn gốc ngoài Phật giáo.
(Xem: 1391)
Thời Đức Phật tại thế, Ấn Độít nhất mười sáu tiểu vương quốc, mỗi vương quốc đều có ngôn ngữ hay phương ngữ riêng, nhưng có lẽ người dân của mỗi nước đều có thể giao tiếp và hiểu nhau được.
(Xem: 923)
Trong các kinh sách thừa hưởng từ [Phật giáo] Ấn Độ thì nguyên tắc căn bản đó lúc thì được gọi là "tâm thức tự tại
(Xem: 1509)
Kinh Hoa Nghiêm tiếng Sanskrit là Avatamsaka, tiếng Nhật là Kégon Kyo. Kinh nầy bằng tiếng Sanskrit do Bồ Tát Long Tho (Nagarjuna) soạn vào khoảng thế kỷ thứ 2 Tây Lịch.
(Xem: 953)
Con người muốn có cuộc sống an lạchạnh phúc, cần phải tu nhơn tạo phước, chứ không phải chỉ cầu nguyện...
(Xem: 931)
Phát huy sự chú tâm đúng đắn hướng vào một điểm nhằm mục đích gì? Việc luyện tập đó không nhất thiết là chỉ để giúp tâm thức đạt được một mức độ tập trung thật cao...
(Xem: 1334)
Đức Đạt Lai Lạt Ma Nói Về Phật Giáo Ứng Dụng - Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 1313)
A Dục, Asoka (Sanskrit). Khi đức Phật Thích ra đời, Vua A Dục là một đứa trẻ, trong lúc đang chơi đức Phật đi ngang qua, đứa trẻ đem cát mà coi như cơm cúng dường đức Phật...
(Xem: 1469)
Hàng ngày các Phật tử có thể “Xưng danh hiệu” hay “Niệm danh hiệu” của chư Phật, tức là đọc tên của chư Phật và tưởng nhớ đến các ngài.
(Xem: 1121)
Trong Phật giáo, giải thoát hay thoát khỏi luân hồi là một đề tài vô cùng lớn lao. Ngay cả những người Phật tử đã học qua giáo lý, cũng mường tượng sự giải thoát như ...
(Xem: 1215)
Như Lai có thể diễn tả những gì Ngài muốn bằng bất kỳ ngôn ngữ nào
(Xem: 1236)
Thuật Ngữ nầy có liên hệ đến rất nhiều Thuật Ngữ khác trong Kinh Điển Phật Giáo như: Thủy Giác, Chân Như, Như Lai Tạng, Pháp Tánh, Pháp Giới, Niết Bàn, Pháp Thân, Phật Tánh, Giải Thoát Thực Chất, Toàn Giác v.v…
(Xem: 877)
Chánh pháp của Đức Phật hay Đạo Phật được tồn tại lâu dài, đem lại hạnh phúc an lạc cho chúng sanh, chư thiênloài người.
(Xem: 851)
“Đạo Phật nhấn mạnhtu tập giúp chúng ta loại bỏ những tà kiến, chứ không phải là nơi tập hợp các hí luận”.
Quảng Cáo Bảo Trợ