Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
14,867,540
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Hạnh NguyệnSám Hối Quan Thế Âm

05 Tháng Tám 201513:00(Xem: 4396)
Hạnh Nguyện Và Sám Hối Quan Thế Âm

 HẠNH NGUYỆN & SÁM HỐI QUÁN THẾ ÂM


Thích Đạt Ma Phổ Giác


Hạnh Nguyện Và Sám Hối Quan Thế ÂmLỜI GIỚI THIỆU

Chúng tôi được phúc duyên tu theo Hòa Thượng Trúc Lâm với phương pháp biết vọng không theo, thấy biết là chơn tâm, một dòng Thiền hiện đại của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam dưới sự chỉ dạy trực tiếp của Hòa Thượng trụ trì Tổ đình Thiền Viện Thường Chiếu. Sau một thời gian tu học, chúng tôi nhận thấy Kinh là lời Phật dạy, Thiền là hành thẳng nơi tâm. Qua lời Phật dạy phẩm Quán Thế Âm Bồ tát Phổ Môn trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa và Thiền không hai, không khác. Đây là bài Kinh nói về hạnh nguyện độ sinh của Bồ tát Quán Thế Âm trong cõi Ta Bà giúp cho tất cả mọi người “quán chiếu cuộc đời” để đạt được giác ngộ, giải thoát.

Do đó, chúng tôi biên soạn lại và mạnh dạn đặt tên là “Kinh Hạnh Nguyện Bồ tát Quán Thế Âm” và nương theo đó để hướng dẫn áp dụng, hành trì nếu ai có nhân duyên với Bồ tát. Trong phần biên soạn chúng tôi giảm bớt phần trùng tụng nhưng vẫn giữ được yếu chỉ của Kinh. Thời gian tu học tại Thiền Viện Thường Chiếu chúng tôinhân duyên lớn hướng dẫn hoằng pháptừ thiện cho người bất hạnh tại trung tâm bảo trợ xã hội Chánh Phú Hòa - Tỉnh Bình Dương, thực hiện chương trình “Kết nối yêu thương-Sẻ chia cuộc sống”, tài trợ học bổng cho học sinh giỏi và giúp đỡ học sinh khó khăn tại các trường trung tiểu học Xã Thạnh An - Huyện Thạnh Hoá - Tỉnh Long An; hoằng pháptừ thiện tại các chùa vùng sâu vùng xa để giúp đỡ người bất hạnh, nghèo khổ, thiếu thốn, khó khăn.

Chủ trương của chúng tôihoằng pháptừ thiện như đôi cánh chim tung bay giữa bầu trời trí tuệtừ bi, nhờ phương tiện giúp đỡ vật chất để xoa dịu bớt nỗi đau bất hạnh. Chúng tôi còn chia sẻ một số kinh nghiệm để họ có đủ niềm tin trong cuộc sống, tin sâu nhân quả và vươn lên làm mới lại chính mình. Bởi vì người bất hạnh đa số không học hành tới nơi tới chốn, cuộc sống bấp bênh nên sự học hỏi, hiểu biết, nhận thức không được sáng suốt; do đó dễ oán trời trách đất, đổ thừa tại-bị-thì-là…, trách móc xã hội sao quá bất công, thù ghét người thân bạn bè sao không giúp đỡ. Những người này họ đáng thương hơn là đáng ghét.

Để có cơ hội giúp đỡ, hướng họ đi đến con đường sáng, chúng tôi phương tiện hướng dẫn phương pháp trì niệm danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm giúp cho mọi người có đủ niềm tin, cố gắng vươn lên vượt qua nỗi khổ niềm đau, làm mới lại chính mình để sống an vui và hạnh phúc. Phương pháp trì niệm danh hiệu Bồ tát đơn giản và dễ dàng nhờ thần lực nhiệm mầu Quán Thế Âm luôn xem xét, lắng nghe tiếng kêu cứu khổ để giúp mọi người được tai qua nạn khỏi. Nếu nói về chùa và tín ngưỡng của người Việt Nam thì hầu như hình ảnh Bồ tát Quán Thế Âm đã ăn sâu và thấm nhuần trong lòng mọi người. Từ khắp ba miền đất nước chùa nào cũng đều có thờ tượng Bồ tát Quán Thế Âm, thậm chí tại nhà mọi người đều có thờ riêng. Rõ ràng niềm tin vào Bồ tát Quán Thế Âm đã ăn sâu vào tàng thức của người dân nước Việt.

Đạo Phật đã truyền vào Việt Nam trên 2000 năm, trải qua rất nhiều thời đại vàng son, nhất là đời Lý, đời Trần. Nhờ chủ trương đưa Phật giáo vào áp dụng cho toàn dân nên mọi người sống có ý thứctrách nhiệm, biết thương yêu đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, do đó luôn sống trong bình yên, hạnh phúc. Song, bên cạnh đó không biết bao nhiêu cuộc thăng trầm, thịnh suy tùy theo vận mệnh đất nước, nhưng niềm tin của người dân nước Việt đối với Bồ tát Quán Thế Âm không bao giờ bị mai một. Một niềm tin dựa trên thần lực nhiệm mầu của Bồ tát Quán Thế Âm đi vào đời để cứu độ chúng sinh như “có cầu tất ứng”, Bồ tát Quán Thế Âm sở dĩ được tôn xưng với danh hiệu không thể nghĩ bàn nhờ ngài luôn ban bố niềm vui đến cho mọi người và sẵn sàng giúp cho tất cả chúng sinh vượt qua sợ hãi, khổ đau, đang chịu nhiều bất hạnh trong đời như thiên tai, hỏa hoạn, lũ lụt, sóng thần, động đất, bị yêu tinh tà ma hãm hại, bị giam cầm tù tội, cho đến bị nạn trộm cướp, bị vua quan chiếm đoạt và nghèo đói, thiếu thốn, khó khăn. Bồ tát Quán Thế Âmđiểm tựa tinh thần vững chắc để mọi người bắt chước noi theo, từ một con người phàm phu tục tử có thể trở thành một Thánh nhân cao quý nhờ biết cách trì niệm hồng danh Ngài.

Điểm đặc biệt để mọi người lưu ýbài kinh này mang ẩn dụ rất cao, nếu chúng ta không có trí tuệ soi sáng thì dễ lầm tưởng Ngài có thể “ban phước giáng họa” và “cầu gì được nấy”. Thái độ cầu nguyện, van xin tha lực của người tín ngưỡng không phải là nội dung chính mà Phật muốn chỉ dạy, hướng dẫn. Cốt lõi của bài Kinh ở đây đức Phật nói rõ con người do tưởng quá nhiều nên mới sinh ra đau khổ. Tưởng là nhân đau khổ của tất cả chúng sinh, vì có tưởng nên có khổ. Muốn hết đau khổ thì dứt bặt sự tưởng, tưởng hết thì mọi khổ đau đều hết. Nếu chúng ta kiên trì bền bỉ trì niệm danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm thì chắc chắn hết khổ.

Quán Thế Âm còn có nghĩa là Quán Tự Tại vì ngài soi thấy 5 Uẩn đều “không”, có nghĩa là thân tứ đại này do 4 chất đất-nước-gió-lửa hoà hợp lại mà thành nên bản chất của nó là “không thật ta”, vì phải già-bệnh-chết, thấy như thế thì liền qua hết thảy khổ ách. Trong kinh Lăng Nghiêm Phật dạy 6 căn là nhân của luân hồi sinh tử và 6 căn cũng là nhân của giải thoát. Sau khi Phật bảo 25 vị Thánh trình bày chỗ tu chứng của mình xong, Phật dạy Bồ tát Văn thù chọn lựa căn viên thông để tu. Cuối cùng, Bồ tát chọn lựa “Nhĩ căn” là viên thông hơn cả. Đây là lối tu “Phản Văn Văn Tự Tánh” của Bồ tát Quán Thế Âm, chữ “phản” ở đây có nghĩa là ngược lại. Thay vì từ xưa đến giờ chúng ta chạy theo âm thanh, có tiếng là có nghe, không tiếng là không nghe, quên mất tánh nghe thường hằng của mình. Bây giờ biết tu rồi chỉ nhớ mình có tánh biết sáng suốt, nghe tất cả mà không dính mắc vào âm thanh riêng biệt nào. Cho nên, Bồ tát Văn Thù khuyên đại chúng và ngài A nan: “Xoay cơ quan nghe của ông trở lại nghe tánh nghe của mình, thành tựu tánh nghe là đạo vô thượng. Đây là con đường vào cửa Niết Bàn của tất cả chư Phật nhiều như số vi trần.”

Nên Kinh nói trì niệm danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âmcông đức thù thắng hơn tất cả. Vậy chúng ta trì niệm bằng cách nào? Bằng cách phản quán lại tánh nghe chân thật của mình, do đó không bị âm thanh bên ngoài chi phối mà hằng sống với tánh nghe. Trì niệm danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âmphương pháp tu tập, quán chiếu cuộc đời để thấy rõ được bản chất thực hư của nó nên mỗi hành giả tự độ mình vượt qua các khổ đau đang có mặt.

Mục đích chính của Kinh là độ thoát tất cả chúng sinh trừ 7 tai nạn trong đờithực hiện 2 sự cầu vi diệu mà trong Kinh nói: “Cầu con trai thì được con trai, cầu con gái thì được con gái.” Vì bài Kinh mang ẩn dụ cao siêu, chỉ cần người tin tưởng niệm danh hiệu Bồ tát là đã có lợi lạc ngay tại đây và bây giờ, huống hồ là chúng ta “nhất tâm chí thành niệm” tinh chuyên, miên mật, không gián đoạn thì kết quả sẽ được y như nguyện.

Theo sự hiểu biết của chúng tôi, cầu con trai là cầu được trí tuệ rộng lớn vì con trai tượng trưng cho lý trí, mà muốn có trí tuệ thì phải tu tập Thiền định chứ không thể nào cầu nguyện, van xin suông mà được. Đạo Phật là nền tảng của nhân quả, muốn được quả tốt thì phải gieo nhân tốt, nếu chúng ta không thành tâm khẩn thiết thì làm sao có cảm ứng giao thoa. Cầu con gái là cầu được phước đức, mà phụ nữ tượng trưng cho tình cảm dạt dào. Muốn giúp chúng sinh thoát khỏi khổ đau, bất hạnh, nghèo đói, thiếu thốn, khó khăn, Bồ tát phải có nhiều tiền của, nhờ vậy mới đủ sức chia sẻ nỗi khổ niềm đau cho tất cả mọi người. Khi giúp chúng sinh mà không có trí tuệ rộng lớn thì còn thấy mình là kẻ ban ơn, người là kẻ thọ ơn và vật để thọ thí. Nếu thấy như vậy thì sinh phiền muộn, khổ đau, chấp trước, dính mắc và dễ dàng thối Bồ Đề tâm. Do đó, Bồ tát muốn vào đời để độ sinh thì phải Quán Tự Tại mới được.

Ngoài ra, Kinh này còn nói lên tình thương bao la, rộng lớn của một vị Bồ tát Quán Thế Âm trong mỗi hành giả với cách thức độ sinh đa dạng của 32 ứng thân khác nhau. Bồ tát độ sinh dưới nhiều hình thức từ một ông vua, hay tể tướng, cho đến kẻ bần cùng. Chúng sinh cần nhu cầu nào thì Bồ tát ứng hiện điều kiện đó để phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của mọi người. Hay nói rõ hơn, Bồ tát đi vào đời là tùy bệnh cho thuốc, do đó người hành đạo muốn độ sinhhiệu quả phải biết căn cơsở thích của từng chúng sinh. Chúng tôi xin chân thành nói rộng pháp tu Bồ tát Quán Thế Âm theo nhiều cấp độ như sau:

Bước 1: Trì niệm danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm

_ Câu trì niệm: “Nam mô đại từ đại bi Quán Thế Âm Bồ tát”. Phương pháp niệm danh hiệu Bồ tát giống như niệm Phật A Di Đà, cũng lấy Tín-Hạnh-Nguyện làm Tông chỉ. Nhưng niệm Bồ tát Quán Thế Âm khác ở chỗ là không cầu về cõi Tây Phương Cực lạcphát nguyện đi vào đời để cứu khổ chúng sinh, luôn xem xét, lắng nghe, sẵn sàng chia sẻ tình yêu thương chân thật nhằm xoa dịu bớt nỗi đau bất hạnh giúp mọi người chuyển hoá nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc.

+ “Nam mô” có nghĩa là cung kính, tôn trọng. Chúng ta cung kính, tôn trọng niệm danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm để bắt chước tấm lòng vị tha từ bi cứu khổ chúng sinh lâu dài.

+ “Đại từ” có nghĩa là mở rộng tấm lòng đem niềm vui, tình thương vô lượng vô biên đến với tất cả chúng sinh mà không phân biệt thân sơ, bình đẳng đối với tất cả mọi người dù đó là kẻ thù; khi thấy họ gặp bất hạnh, khổ đau Bồ tát vẫn một lòng thương xót dang tay giúp đỡ mà không một niệm oán trách.

+ “Đại bi” có nghĩa là mở rộng tấm lòng sẵn sàng chia sẻ nỗi khổ, niềm đau đối với người cơ nhỡ, bất hạnh; chỉ biết một bề giúp đỡ, sẻ chia khi có nhân duyên, khi có điều kiện.

+ “Quán Thế Âm” có nghĩa là quán sát, xem xét, lắng nghe tiếng khổ của tha nhân để tùy duyên cứu độ. Ngài luôn quán chiếu cuộc đời, lắng nghe âm thanh theo nguyên lý duyên khởi “vô ngã-vị tha”, nhờ vậy biết cách giúp chúng ta vượt qua lo lắng, sợ hãi, thoát khỏi sự ràng buộc của khổ đau.

_ Quán chiếu cuộc đời thực tế có 5 cách. Một là quán chân thật, hai là quán thanh tịnh, ba là quán trí tuệ rộng lớn, bốn là quán tình thương, năm là quán cứu khổ. Mỗi hành giả nương vào năm pháp quán này mà vươn lên làm mới lại chính mình vượt thoát mọi khổ đau ràng buộc trong cuộc đời.

+ Quán chân thật để thấy rõ bản chất cuộc đời là một dòng chuyển biến theo nguyên lý duyên khởi “vô ngã, vô thường” - “Cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không. Cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt.”

+ Tất cả mọi hiện tượng, sự vật không có thực thể cố định, nhờ quán chiếu như vậy nên chúng ta dễ dàng buông xả, không chấp trước dính mắc về thân tâm-ta-người-hoàn cảnh. Quán thanh tịnh để thấy rõ bản chất của các pháp không nhơ sạch-đúng sai-tốt xấu, nhờ vậy chúng ta dứt tưởng nên hành giả sống lạc quan, không dính mắc hai bên.

+ Quán trí tuệ rộng lớn là pháp quán cần yếu của mỗi hành giả. Không có trí tuệ chúng ta dễ rơi vào si mê, lầm lạc, muốn có trí tuệ mỗi hành giả phải biết Thiền định để loại trừ rác rưởi tà niệm. Cho nên, đất tâm nếu “không” thì mặt trời trí tuệ tự sáng. Hành giả khi có trí tuệ thì thấy 5 Uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách nên gọi là Quán Tự Tại.

+ Hai pháp quán sau gộp chung lại gọi là quán từ bi, tâm từ bi có thể phát xuất từ tấm lòng vị tha của mỗi con người. Nhờ quán từ bi mỗi hành giả thấu suốt nguyên lý duyên khởi “vô ngã, vô thường” - tính không thực thể của các pháp, nhưng có tính biết sáng suốt hằng tri hằng giác; nương nơi mắt thì thấy biết rõ ràng không lầm lẫn, thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe; tai-mũi-lưỡi-thân-ý cũng lại như thế. Do biết rõ thật giả phân minh nên Bồ tát đi vào đời luôn đem niềm vui, tình thương chân thật, bình đẳng đến với tất cả chúng sinh dù đó là người thù. Bồ tát sẵn sàng chia sẻ nỗi khổ, niềm đau để làm vơi bớt nỗi đau bất hạnh cho tất cả chúng sinh. Nhờ Bồ tát thấu rõ chân lý cuộc đời nên không thấy mình là kẻ ban ơn, không thấy người nhận thí và kẻ thọ ơn nên bình đẳng kết nối yêu thương, mở rộng tấm lòng không phân biệt người thân hay kẻ thù.

_ Người tu niệm danh hiệu Bồ tát thì phải lấy Tín-Hạnh-Nguyện làm nền tảng, nhưng Tín-Hạnh-Nguyện của người niệm Quán Thế Âm khác với niệm Phật cầu vãng sinh.

+ “Tín” có nghĩa là tin thần lực nhiệm mầu của Bồ tát Quán Thế Âmđủ khả năng giúp chúng sinh chuyển hoá nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc, đạt được kết quả như ý muốn. Nhưng tại sao có người nhờ niệm Quán Thế Âmvượt qua hoạn nạn, tai ương; cũng có người khi niệm chẳng thấy linh ứnghiệu nghiệm là vì sao? Người phát tâm trì niệm danh hiệu Bồ tát điều đầu tiên cần phảilòng tin sâu sắc với Bồ tát, luôn cung kính chí thành niệm tinh chuyên, ròng rặc. Ai đặt hết niềm tin tưởng và thành khẩn cầu sự cứu độ của Bồ tát Quán Thế Âm thì được cảm ứng không thể nghĩ bàn, “có cầu tất ứng”.

+ “Hạnh” có nghĩa là thực hành niệm danh hiệu Bồ tát một cách tinh chuyên, ròng rặc, miên mật, thường xuyên mỗi ngày không lơ là, giải đãi. Chúng ta cung kính chí thành niệm danh hiệu Bồ tát trong mọi hoàn cảnh, trong 4 oai nghi đi-đứng-nằm-ngồi mà không bị ngoại cảnh chi phối làm thất niệm. Cuộc sống thế gian vốn nhiều đau khổ bất an, tham lam, thù hận, đố kỵ, tranh chấp, xung đột, sợ hãi và sẵn sàng triệt tiêu lẫn nhau vì quyền lợi riêng tư. Nếu chúng ta không thường xuyên cung kính niệm Bồ tát, chờ đến khi gặp hoạn nạn mới khẩn cầu thì e rằng sẽ không có kết quả như nguyện; vì lúc này tinh thần không sáng suốt, khủng hoảng, sợ hãi, mất bình tĩnh thì làm sao đủ khả năng cầu sự gia hộ của Bồ táthiệu quả.

+ “Nguyện” ở đây có nghĩa là chí nguyện độ sinh, cứu vớt chúng sinh tai qua nạn khỏi, vượt thoát khổ đau và luôn đem niềm vui đến với tất cả muôn loài. Bồ tát sau khi thành tựu đạo quả, nguyện dấn thân đi vào đời để làm lợi ích chúng sinh, cùng đồng hành, cùng làm việc, cùng đóng góp, cùng gánh vác, cùng sẻ chia, cùng chia vui và cùng sớt khổ với tất cả chúng sinh. Chúng ta phải thường xuyên quán chiếu thế gian lúc nào cũng đầy dẫy khổ đau, bất hạnh như đang sống trong nhà lửa, chịu sự nóng bức của phiền não trong từng phút giây. Tu và học theo hạnh nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm như nhịp cầu nối kết yêu thương, sẻ chia cuộc sống, luôn giúp mọi người sống gần gũi, gắn bó với nhau bằng sự thương yêuhiểu biết, dấn thân và phục vụ, bao dungđộ lượng, cảm thôngtha thứ, sẻ chia và giúp đỡ; nhưng không thấy ai là người thù, chỉ có người chưa thông cảm với nhau mà thôi.

_ “Bồ tát” có nghĩa là người giác ngộ, nhưng chỉ giác ngộ từng phần, chưa được viên mãn như Phật. Vì thấy chúng sinhcõi Ta Bà này vui ít, khổ nhiều, bị phiền não, khổ đau chi phối nên động lòng thương xót đi vào đời lấy Tứ nhiếp pháp để ban vui, cứu khổ theo đúng tâm tư, nguyện vọng của chúng sinh. Một là bố thí, hai là ái ngữ, ba là lợi hành, bốn là đồng sự.

+ Bố thí: Bồ tát thấy chúng sinh tham lam, bỏn sẻn, keo kiệt, ích kỷ, nhỏ mọn, chất chứa riêng tư là nhân của đau khổ nên rộng rãi phát tâm bố thí, giúp đỡ sẻ chia để diệt trừ tâm địa hẹp hòi, san tham. Bồ tát sẵn sàng đem tài sản, của cải hoặc sức lực của mình bố thí, giúp đỡ mỗi khi cần thiết. Nhờ sự giúp đỡ tận tình nên Bồ tát dễ dàng gần gũi và được nhiều người mến thương, do đó dễ nhiếp phục họ bằng cách bố thí, chia sẻ.

+ Ái ngữ: Bồ tát phải dùng lời ngon ngọt, hòa nhã, dịu dàng, nhỏ nhẹ, dễ thương, không nói lời cộc cằn, thô bạo; nếu giúp người mà như thế dễ làm họ chán ghét, phiền muộn, khổ đau. Bồ tát khéo dùng lời nói từ ái, hiền hòa nhưng chân thật nên dễ thành công trong công cuộc độ sinh.

+ Lợi hành: Bồ tát phải tích cực làm việc gì đó có lợi ích cho chúng sinh chứ không phải nói suông vô ích, nhờ vậy ngài được chúng sinh tin tưởng và sau đó dùng Chánh pháp để giúp chúng sinh hướng thiện, dứt ác làm lành.

+ Đồng sự: Bồ tát phải siêng năng, giỏi biết nhiều ngành nghề để cùng làm, cùng sống với chúng sinh. Nhờ sống gần gũi thường xuyênBồ tát có cơ hội dùng Chánh pháp để thuyết phục chúng sinh tin sâu nhân quả, tự tin chính mình và giúp chúng sinh đi theo con đường hướng thượng luôn chia vui, sớt khổ trong thương yêu bình đẳng.

_ Ai có duyên với Bồ tát thì ngay từ bây giờ hãy nên thành tâm niệm danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm để cầu sự cứu độ của Ngài. Chúng tôi hướng dẫn cách thức niệm danh hiệu Bồ tát theo điệu nhạc để vừa thư giãn, vừa nhẹ nhàng, vừa dễ định tâm; miệng niệm, tai lắng nghe danh hiệu Bồ tát. Giai đoạn một là miệng niệm, tai lắng nghe. Giai đoạn hai là miệng niệm, tâm lắng nghe, giai đoạn ba tâm niệm, tâm lắng nghe và thể nhập tánh nghe thường hằng: “Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát… Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát… Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát…” và cuối cùngtrở về vô niệm. Nhờ thần lực gia hộ của Ngài nên chúng ta dễ dàng nhiếp tâm, không bị tạp niệm chi phối, do đó dễ thành tựu đạo pháp.

Bước 2: Quán chiếu, soi sáng các pháp duyên sinh

Sau khi niệm danh hiệu Bồ tát thuần thục rồi, chúng ta dùng pháp quán chiếu, xem xét, soi sáng các pháp duyên sinh vô ngã, vô thường; nhờ vậy hành giả biết được lẽ thật của các pháp không thực thể cố định nên dễ dàng buông xả tâm dính mắc, do đó hằng sống với tâm thanh tịnh, sáng suốt, không nhơ, không sạch. Muốn vậy Bồ tát phải quán trí tuệ rộng lớn để chuyển hóa tối tăm, si mê và sống với tính biết sáng suốt; nương nới mắt thì thấy nghe không lầm lẫn, thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe; tai-mũi-lưỡi-thân-ý cũng lại như thế; từ đó phát khởi lòng từ bi rộng lớn đi vào đời cứu độ chúng sinh mà không thấy mình ban cho, người được cho và vật đã cho.

Trong kinh Lăng Nghiêm Phật dạy: “Nhĩ căn viên thôngthù thắng hơn hết. Bồ tát Quán Thế Âm do tu “phản văn văn tự tánh” - xoay cái hay nghe trở lại tánh nghe thường hằng của mình nên thành tựu đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Giác. Vậy chúng ta làm sao xác định được tánh nghe thường hằng của mình?

Có người hỏi: “Bạn đang làm gì đó?” “Tôi đang nghe”. Như vậy thì bạn đâu có quên mình theo vật, đâu có bị môi lưỡi của người khác lừa mình. Như thế là bạn đang sống với tánh nghe thường hằng của mình. Nếu bạn khi nghe ai hỏi “anh đang làm gì đó” mà trả lời tôi làm cái này, tôi làm cái kia là bạn đang quên mình theo vật, bạn đã chạy theo âm thanh, sắc tướng bên ngoài.

Có một câu chuyện nói về tánh nghe, xin mời quý vị hãy cùng chúng tôi suy nghiệm: Thiền sư Cảnh Thanh đang ngồi trong thất, cạnh ngài có một vị Tăng đứng kế bên. Sư hỏi: “Bên ngoài có tiếng gì?” Tăng thưa: “Tiếng con nhái bị con rắn bắt kêu.” Sư nói: “Sẽ bảo chúng sinh đau khổ, lại có khổ chúng sinh.” Rắn bắt nhái là chúng sinh khổ vì con lớn hiếp con bé, song lại có khổ chúng sinh, chính là vị Tăng quên mất mình chạy theo ngoại cảnh. Đây là chiêu thuật của các vị Thiền sư để khám phá những người học đạo có sống được với tâm chân thật của mình qua tánh nghe hay không?

Hằng ngày từ sáng sớm đến chiều tối, tai chúng ta chỉ lắng nghe tiếng lớn, tiếng nhỏ êm dịu hay chát chúa bên ngoài. Chính vì vậy mà bị âm thanh làm cho khỗ não do ta không chịu thừa nhận mình có tính biết sáng suốt nương nơi tai. Vừa nghe tiếng liền khởi niệm phân biệt phải quấy, đúng sai rồi sinh tâm yêu ghét; cho nên nói “chúng sinh khổ, lại có khổ chúng sinh” là vậy. Người không biết tu thì khổ đã đành mà người đang tu cũng lại như thế.

Sáng hôm sau, Thiền sư hỏi vị Tăng khác: “Bên ngoài có tiếng gì?” Vị Tăng quá thành thật nên trả lời: “Tiếng mưa rơi!” Thiền sư bảo: “Chúng sinh điên đảo quên mình theo vật.” Chỉ có người đã thật sự sống với tâm chân thật của mình mới không chạy theo âm thanh lớn nhỏ bên ngoài. Tai nghe tiếng thì biết mình đang nghe mà không chạy theo tiếng, lại biết mình có tính nghe thường hằng là pháp tu của Bồ tát Quán Thế Âm. Âm thanh lớn nhỏ, xa gần lúc nào cũng có, tính nghe hiện hữu nên mới thường nghe. Nếu tính nghe bị gián đoạn thì tai ta có lúc nghe, lúc không.

Như trong Kinh Lăng Nghiêm Phật bảo ngài A Nan đánh tiếng chuông rồi hỏi ngài có nghe không, ngài A Nan trả lời có. Đợi khi tiếng chuông im bặt một hồi lâu, Phật hỏi lại: “Ông có nghe không?”. Ngài A Nan trả lời: “Không nghe!”, liền bị Phật quở: “Tại sao ông quên mình theo vật?” Phật nói tiếp: “khi có tiếng nghe có tiếng, khi không tiếng nghe không tiếng”. Tính nghe luôn thường hằng nên có tiếng biết có tiếng, không tiếng biết không tiếng, vậy mà chúng ta không chịu thừa nhận nên luôn sống trong đau khổ lầm mê.

Qua câu chuyện Phật dạy trong Kinh Lăng Nghiêm cho ngài A Nan và những Thiền sư tu theo cách hành thẳng nơi tâm không thông qua phương tiện, không hai không khác. Mỗi hành giả tu theo hạnh nguyện Bồ tát Quán Thế Âm cần phải thể nghiệm sâu sắc lời dạy trên để được giác ngộ, giải thoát. Trong Thiền môn có một câu chuyện nổi tiếng về Bồ tát Quán Thế Âm như sau:

Một Thiền sinh trên đường đi tham vấn đến một chùa nọ thấy thờ Bồ tát nghìn tay nghìn mắt mới hỏi Thiền sư: “Bồ tát có nghìn tay nghìn mắt, vậy mắt nào là mắt chánh?” Thiền sư nói: “Như người ngủ ban đêm với tay ra sau tìm chiếc gối, ngay khi đó mắt chánh hiện tiền.” Chỗ này mọi người tự biết, tôi không thể biết “cái gì biết tìm chiếc gối trong đêm tối”.

Bồ tát nghìn tay là tượng trưng cho sự dấn thân làm việc không biết mệt mỏi, không biết nhàm chán vì lợi ích chúng sinh. Con mắt trong mỗi bàn tay tượng trưng cho trí tuệ thấy biết đúng như thật, nhờ vậy Bồ tát thương yêu bằng trái tim hiểu biết, giúp đỡ chúng sinh một cách bình đẳng, không phân biệt người thân hay kẻ thù.

Trong Kinh Lăng Nghiêm Phật dạy “Phản Văn Văn Tự Tánh” là xoay cái hay nghe nghe lại tự tánh mình thì được đạo vô thượng. Hòa Thượng chúng tôi dạy “thấy biết” là chơn tâm, “nghe biết” là chơn tâm, mũi-lưỡi-thân-ý cũng lại như thế. Vậy Thiền và Kinh đâu có khác, Phật và Tổ không hai, đồng một con đường sáng.

Chúng tôi biên soạn Kinh Hạnh Nguyện Bồ tát Quán thế Âm dựa theo các bản dịch của chư vị Hòa Thượng lão thành cùng các chư vị Tôn đức khác để lập ra một pháp tu trì niệm danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm. Nếu ai có nhân duyên với Bồ tát xin hãy cùng chúng tôi đồng hành để được kết nối yêu thương, sẻ chia cuộc sống, được cho và nhận với tinh thần chia vui sớt khổ với tấm lòng vô ngã vị tha.

Phần sau của bản Kinhnghi thức sám hối để làm mới lại chính mình, chúng tôi cũng trích lược lại cho đơn giảndễ hiểu, mỗi câu lạy Phật đều có chú giải để các thế nhân mới vào đạo không có điều kiện đến chùa tu học mà ở tại nhà tụng đọc cũng đem lại nhiều lợi lạc, an vui. Chúng tôi xin chân thành hồi hướng tất cả công đức lành này đến với pháp giới chúng sinh đều thành tựu Phật đạo.

Pháp Lạc Đường mùa an cư kiết hạ năm Tân Mão

Kính ghi

Phong Trần Trúc Giác

KINH HẠNH NGUYỆN QUÁN THẾ ÂMNGHI THỨC SÁM HỐI

NGUYỆN HƯƠNG

Nam mô Thập phương thường trụ Tam bảo tác đại chứng minh.
Nam mô Phật bổn sư Thích Ca Mâu Ni tác đại chứng minh.
Nam mô Thánh đức Bồ tát Quán Thế Âm tác đại chứng minh.
Hương giới, hương định, cùng huệ hương.
Hương giải thoát, giải thoát tri kiến.
Đài mây sáng rỡ trùm pháp giới.
Cúng dường Tam bảo khắp mười phương. O
Nam mô Bồ tát hương cúng dường. (3 lần)


Hôm nay là ngày …, tất cả đệ tử chúng con thành tâm quỳ trước Phật đài tác lễ sám hối cầu an, tụng kinh hạnh nguyện Bồ tát Quán Thế Âm, cung kính bậc thầy ba cõi, chí tâm, chính thành cầu xin sám hối tất cả tội lỗi cố ý hay vô tình đã tạo ra trong quá khứ cũng như hiện tại hết thảy đều được tiêu trừ. Cúi mong Tam Bảo thường ở mười phương quang giáng đạo tràng chứng minh cho lòng thành của chúng con, khiến chúng con oan khiên dứt sạch, bệnh căn thuyên giảm, gia quyến an khang, lòng tin Tam Bảo càng sâu, tâm từ đối với chúng sinh tăng trưởng. Nguyện cho Chánh pháp được lan truyền khắp chốn, lời Phật dạy được phổ biến muôn nơi, người người từ bỏ tham giận, si mê, tưới tẩm từ bi, hạnh phúc, thương yêu đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, làm lành lánh dữ, thế giới dứt nghiệp binh đao, muôn loài an vui giải thoát.
Tất cả đệ tử chúng con thành tâm quỳ trước Phật đài đồng sám hối cầu siêu, hồi hướng cho các hương linh, vong linh, các oan hồn uổng tử được thính Pháp nghe Kinh, được thừa tư công đức, phát tâm tỉnh giác, lìa khổ tối tăm, khởi niệm từ bi, xa rời đường dữ, tin sâu Tam Bảo, tin cõi Phật an vui.
Khắp nguyện kẻ mất siêu thăng, người còn phúc lạc, chúng sinh được thấm nhuần mưa pháp, mọi người đều chứng ngộ Phật thừa.
Nam mô Phật bổn sư Thích Ca Mâu Ni.

CA NGỢI TAM BẢO

Phật là đấng giác ngộ mình,
Độ người thoát khỏi tử sinh bao đời.
Từ bi, trí tuệ rạng ngời,
Là thầy ba cõi trời người xưa nay.
Pháp là phương thuốc diệu thay,
Chữa lành bệnh khổ muôn loài chúng sinh.
Như vầng trăng sáng lung linh,
Soi đường ra khỏi u minh mê mờ.
Tăng là những bậc chân tu,
Biết đời huyễn mộng, giã từ ra đi.
Thấm nhuần trí tuệ từ bi,
Độ đời thoát khỏi tham, si, khổ sầu.
Nam mô hoan hỷ tạng Bồ tát. (3 lần)

TÁN PHẬT

Đại từ đại bi thương chúng sinh.
Đại hỷ đại xả cứu muôn loài.
Tướng đẹp sáng ngời cùng trang nghiêm.
Chúng con chí tâm thành đảnh lễ.

ĐẢNH LỄ TAM BẢO

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư Phật ba đời thường trú trong mười phương. (Lạy một lạy) O
Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Chánh pháp ba đời thường trú trong mười phương. (Lạy một lạy) O
Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Tăng bậc Hiền Thánh ba đời thường trú trong mười phương. (Lạy một lạy) OO
Bắt đầu vô chuông mõ: 1 tiếng chuông, 3 tiếng mõ; 1 tiếng chuông, 1 tiếng mõ; 1 tiếng chuông, 1 tiếng mõ; 1 tiếng chuông, 5 tiếng mõ.

TÁN DƯƠNG GIÁO PHÁP

Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn
Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp
Nay con nghe thấy xin trì tụng
Nguyện hiểu chân Kinh nghĩa nhiệm mầu
Nam mô khai Pháp tạng Bồ tát. (3 lần)

SÁM CẦU NGUYỆN QUÁN THẾ ÂM

Con quỳ lạy Phật chứng minh,
Với lòng thành kính tụng Kinh, nguyện cầu.
Cầu cho người vật hiện tiền,
Muôn loài thoát khổ, bình yên, an lành.
Mười hai nguyện lớn Quan Âm,
Phát tâm vào đời để độ chúng sinh.
Lòng thành tín nữ, thiện nam,
Cùng nhau niệm Phật, ăn chay làm lành.
Quan Âm xem xét, lắng nghe,
Cứu người chìm nổi lênh đênh sông dài.
Hãy mau niệm Đức Quán Âm,
Tai qua nạn khỏi, hiểm nguy không còn.
Người người bị lửa đốt thiêu,
Niệm danh Bồ tát hóa ra sen vàng.
Biển to, sóng lớn chìm thuyền,
Niệm danh Bồ tát sóng to hết liền.
Yêu tinh, ma mị, điên khùng,
Niệm danh Bồ tát bình yên cõi lòng.
Vào rừng, thú dữ chực chờ,
Niệm danh Bồ tát chúng liền tránh xa.
Bị tù, bị tội khảo tra,
Niệm danh Bồ tát hết cơn nguy nàn.
Bị trù, bị yếm mê man.
Niệm danh Bồ tát tâm thần sáng trong.
Quán Âm nguyện lớn vào đời,
Tùy duyên cứu khổ, rãi ban phước lành.
Nương theo Bồ tát Quán Âm,
Thấy mình thể nhập cũng y như Ngài.
Tay cầm bình nước Tịnh bình,
Tay cầm nhành liễu ung dung vào đời.
Cam lồ chan rãi khắp nơi,
Vui tươi, mát mẻ chúng sinh muôn loài.
Quán Âm thị hiện vào đời,
Giúp người thoát khổ, an vui lâu dài. OO

PHÁT NGUYỆN TRÌ KINH

Lạy đấng thầy ba cõi
Quy mạng Phật mười phương
Nay con phát nguyện lớn
Thọ trì Kinh Hạnh Nguyện
Bồ tát Quán Thế Âm.
Trên đền bốn ơn nặng
Dưới cứu khổ muôn loài
Nguyện cho người thấy nghe
Đều phát tâm Bồ đề
Sống an vui, giải thoát.
Nam mô Phật bổn sư Thích ca Mâu ni. (3 lần) O

KINH HẠNH NGUYỆN BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM

Tôi nghe như vầy. Có vị Bồ tát, hiệu Vô tận Ý, ở trong pháp hội, hoa sen chánh pháp, chấp tay bạch Phật, cung kính thưa rằng: Bạch đức Thế tôn, ngài Quán Thế Âm, do nhân duyên gì, được danh hiệu ấy? - Này Vô Tận Ý! Này các Bồ tát! Nếu có muôn ức, các loài chúng sinh, chịu nhiều khổ nạn, khi nghe được tên, Bồ tát Quán Âm, một lòng xưng danh, thọ trì miên mật, đều được an vui, giác ngộ giải thoát. O

Nếu ai bất hạnh, bị lửa đốt thiêu, xưng niệm Quán Âm, nhờ sức oai thần, lửa chẳng đốt cháy. Lại nếu có người, bị nước cuốn trôi, niệm danh Bồ tát, nhờ sức oai thần, liền đến chỗ cạn. Nếu ai đi thuyền, để tìm châu báu, vàng bạc lưu ly, trân châu mã não, hỗ phách xà cừ, san hô ngọc quý, lênh đênh biển lớn, giông gió cuốn trôi, vào nước La sát, thì nên thành tâm, trì niệm Quán Âm, nhờ sức oai thần, bình yên vô sự. O

Lại nếu có người, sắp bị hãm hại, bằng dao gậy kiếm, thì nên thành tâm, niệm danh Bồ tát, do đó dao gậy, liền biến thành không, và được cứu thoát. Nếu bị các loài, La sát Dạ xoa, làm hại thân này, hãy niệm Quán Âm, nhờ sức oai thần, quỷ dữ bỏ đi.

Lại nếu có người, bị tù bị tội, xiềng xích gông cùm, khổ đau trói buộc, khắp cả toàn thân, nhờ niệm Quán Âm, thoát khỏi tù đày, dứt lìa oan nghiệt.

Lại nếu có người, mang nhiều châu báu, bị cướp tấn công, thì nên thành tâm, niệm danh Bồ tát, nhờ sức oai thần, bọn cướp khiếp sợ, không dám hãm hại.

Này Vô Tận Ý! Bồ tát Quán Âm, có sức oai thần, nhiệm mầu như thế, công đức sâu dày, không thể nghĩ bàn, rộng độ chúng sinh. Vì thế, các ông nên thường, niệm danh Bồ tát, một lòng tinh chuyên.

Nếu có chúng sinh, tham lam ích kỷ, giận hờn ngu si, phải thường cung kính, niệm danh Bồ tát, thì tham sân si, thảy đều tan biến.

Lại nếu có người, cầu xin con trai, thì nên thành tâm, niệm danh Bồ tát, nhờ sức oai thần, liền sinh con trai, phước đức đầy đủ, trí tuệ hơn người.

Lại nếu có người, muốn cầu con gái, thì nên thành tâm, niệm danh Bồ tát, nhờ sức oai thần, hạ sinh thục nữ, xinh đẹp kiều diễm, thì được nhiều người, yêu thích mến thương.

Thần lực Quán Âm, nhiệm mầu như thế. Ta khuyên mọi người, cung kính đảnh lễ, niệm danh Bồ tát, tán thán thọ trì, để được lợi lạc, khắp cả chúng sinh.

Sau khi nghe xong, ngài Vô Tận Ý, liền hỏi Phật rằng: Bồ tát Quán Âm, phát tâm vào đời, cứu độ chúng sinh, bằng phương tiện gì, giúp cho muôn loài, thảy đều tỏ ngộ?

Này Vô Tận Ý! Nếu có chúng sinh, thích dùng thân Phật, để được độ thoát, chứng nên quả giác, thì Quán Thế Âm, thị hiện thân Phật, vì họ thuyết pháp.

Tương tự như thế, tùy theo sở thích, của các chúng sinh, Bồ tát Quán Âm, ứng hiện nhiều thân, như thân Thanh Văn, thân Bích Chi Phật, hoặc Trời Đế Thích, hoặc Trời Phạm Vương, thân Tự Tại Thiên, đại Tự Tại Thiên, Trời đại tướng quân, hoặc Tỳ Sa Môn, tiểu vương trưởng giả, vua quan cư sĩ, hoặc Bà la môn, tín nữ thiện nam, hoặc làm Tăng Ni, hoặc thân công chúa, nữ hoàng tôn quý, đồng nam đồng nữ, hoặc ứng hiện thân: Trời, Rồng, Dạ xoa, hoặc Càn thát bà, hoặc A tu la, hoặc Câu lâu la, hoặc Khẩn na la, Ma hầu na già, thần Chấp Kim Cang, cả ba mươi ba, ứng thân sai khác, giúp cho mọi người, an vui giải thoát, thì Quán Thế Âm, sẵn sàng hóa thân, không chút quản ngại. O

Này Vô Tận Ý! Bồ tát Quán Âm, ứng hiện nhiều thân, cứu độ chúng sinh, khắp cả thế gian, không thể nghĩ bàn. Vì thế các ông, hãy nên một lòng, tán thán cúng dường, Bồ tát Quán Âm. O

Này Vô Tận Ý! Thí không sợ hãi, trong chốn trần gian, cứu khổ chúng sinh, tai qua nạn khỏi, chính là nguyện lớn, Bồ tát Quán Âm, nên cõi Ta Bà, thảy đều gọi ngài, là Quán Tự Tại. O

Sau khi nghe xong, ngài Vô Tận Ý, xin thưa đức Phật, cho con cúng dường, Bồ tát Quán Âm. Nói xong ngài đem, chuỗi ngọc như ý, tặng làm pháp thí, giá trị ngàn vàng, cung kính cúng dường, Bồ tát Quán Âm. Bồ tát Quán Âm, không dám chịu nhận, chuỗi ngọc như ý. Phật liền dạy rõ, về pháp cúng dường, khuyên Quán Thế Âm, hãy vì bốn chúng, tám bộ trời rồng, và Vô Tận Ý, nhận chuỗi pháp thí, lợi ích trời người.

Phật vừa dứt lời, Bồ tát Quán Âm, vui vẻ đón nhận, chia làm hai phần, một phần dâng cúng, đức Phật Thích ca, còn lại phần kia, cúng tháp Đa Bảo. O

Bấy giờ trong hội, có vị Bồ tát, tên là Trì Địa, chấp tay thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, nếu có chúng sinh, nghe được Kinh này, cũng như công đức, ứng hiện các thân, tùy duyên giáo hóa, của ngài Quán Âm, thì phước người ấy, vô lượng vô biên. O

Khi nghe Phật nói, hạnh nguyện Quán Âm, tám mươi bốn ngàn, các loại chúng sinh, thảy đều phát tâm, Vô Thượng Chánh Giác.

Nam mô Pháp Hoa hội thượng Phật Bồ tát. (3 lần) OOO

KỆ TÁN QUAN ÂM

Cành dương liễu nước tịnh nhiệm mầu,

Rưới tắt muôn vàn cảnh khổ đau.

Chư thiên mát mẻ, tâm thanh tịnh,

Nhân thế vui tươi cảnh an nhàn.

Cam lồ rưới khắp trần gian,

Não phiền dứt sạch, sen vàng nở hoa. OOO

TÂM KINH TRÍ TUỆ CỨU KÍNH RỘNG LỚN

Khi Bồ tát Quán Tự Tại hành sâu Bát Nhã Ba La Mật Đa, Ngài soi thấy 5 Uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách. Này Xá Lợi Phất! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ-tưởng-hành-thức cũng lại như thế.

Này Xá Lợi Phất! Tướng không của các pháp không sinh không diệt, không nhơ không sạch, không thêm không bớt. Cho nên trong tướng “không” không có sắc-thọ-tưởng-hành-thức. Không có mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý, không có sắc-thinh-hương-vị-xúc-pháp, không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới, không có vô minh cũng không có hết vô minh, cho đến không có già-chết cũng không có hết già-chết, không có khổ-tập-diệt-đạo, không có trí huệ cũng không có chứng đắc. Vì không có chỗ được, nên Bồ tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại nên không sợ hãi, xa hẳn điên đảo mộng tưởng, đạt đến cứu cánh Niết Bàn. Chư Phật trong ba đời cũng nương Bát Nhã Ba La Mật Đa được đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nên biết, Bát Nhã Ba La Mật Đađại thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là vô đẳng đẳng chú, hay trừ được hết thảy khổ chân thật không dối. Vì vậy, nói chú Bát Nhã Ba La Mật Đa, liền nói chú rằng: Yết đế, yết đế, Ba La yết đế, Ba La tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha”. (3 lần) OOO

MƯỜI HAI NGUYỆN LỚN

Một nguyền khi hành Bồ tát đạo,

Danh hiệu tôi Tự Tại Quán Âm.

Sáu căn thanh tịnh viên thông,

Chỗ nào khốn khổ liền tìm đến nơi.

Hai nguyền không sợ gian nan,

Vớt người chìm đắm biển sông lâu dài.

Ba nguyền ứng hiện Ta Bà,

U minh, đau khổ mau mau giải trừ.

Bốn nguyền ma quỷ yêu tinh,

Hãy mau thức tỉnh hồi quy Phật Đà.

Năm nguyền dương liễu Tịnh bình,

Cam lồ rưới mát, nhân thiên an lành.

Sáu nguyền bình đẳng xót thương,

Không còn phân biệt thân sơ mọi loài.

Bảy nguyền dứt khổ ba đường,

Chúng sinh thoát nạn, không còn trầm luân.

Tám nguyền cứu khổ tội tù,

Chúng sinh vui vẻ, an nhiên thanh nhàn.

Chín nguyền cứu khổ thế nhân,

Thảy đều thể nhập, Niết Bàn vô sinh.

Mười nguyền hỗ trợ Tây Phương,

Muốn cho tất cả biết đường về Tây.

Mười một nguyền Di Đà thọ ký,

Cảnh Tây Phương tuổi thọ lâu dài,

Chúng sinh muốn sống an lành,

Niệm danh Bồ tát, Tây Phương mau về.

Mười hai nguyền tinh tấn tu hành,

sắc thân lao khổ trăm bề,

Thành tâm nỗ lực không ngừng,

Mười hai nguyện lớn độ sinh đời đời. OOO

KỆ SÁM HỐI

Con đã gây ra bao lầm lỗi

Khi nói, khi làm, khi tư duy.

Tham lam, hờn giậnngu si,

Nay con cúi đầu xin sám hối.

Một lòng con cầu Phật chứng tri,

Bắt đầu hôm nay nguyện làm mới,

Nguyện sống đêm ngày trong tỉnh giác,

Nguyện không lặp lại lỗi lầm xưa.

Cúi xin các Phật Thế tôn

Nhủ lòng thương xót chúng sinh mê mờ.

Hoặc tội ác tự tay tạo tác,

Hoặc xúi bảo kẻ khác từng làm,

Hoặc thấy việc ác không can,

Lại còn hoan hỷ sinh tâm đồng tình.

Những tội ác tự mình trộm cướp

Của chùa chiền, bảo tháp, chư Tăng.

Tự tay mình lấy giả lầm,

Hoặc xui người lấy mừng vui trong lòng.

Hoặc tự tay gây tạo tham tàn,

Làm mười điều ác lại coi thường.

Hoặc dùng thế lực ép oan,

Đều sa địa ngục A-tỳ đáng khinh.

Làm quỷ đói, súc sinh đau khổ,

Hoặc giam mình nẻo dữ không thôi.

Làm loài hèn hạ nhất đời,

Nếu được làm người làm người thấp kém.

Nay con nguyện thật thà sám hối

Biết bao điều tội lỗi xưa nay.

Cúi xin chư Phật chứng minh,

Xót thương cho nỗi khốn cùng của con.

Xin chư Phật rủ lòng thương xót,

Nay con xin quỳ trước Phật đà

Phát tâm thệ nguyện thật thà

Đời đời kiếp kiếp trồng gieo căn lành.

Xin phát nguyện làm lành lánh dữ

Kể từ đây muôn kiếp không thôi.

Con nhất tâm nguyện sống đời lành,

Đem thân mạng nương nhờ Tam Bảo,

Lên thuyền Từ vượt qua biển khổ,

Cầm đuốc tuệ ra khỏi rừng mê,

Thân-miệng-ý luôn luôn trong sạch,

Đi-đứng-nằm-ngồi trong tỉnh giác.

Lạy Phật tổ soi đường chỉ lối,

Hôm nay đây khẩn thiết thề nguyền,

Sám hối xong rồi lòng nhẹ nhõm,

Không còn vương vấn chuyện xưa nay,

Nam mô cầu sám hối Bồ tát ma ha tát.

CHÚNG CON TỤNG TAM QUY VÀ VÂNG GIỮ NĂM ĐIỀU ĐẠO ĐỨC.

  • TỤNG TAM QUY Y

Chúng con nguyện suốt đời quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. (3 lần)

Quy y Phật chúng con nguyện suốt đời tôn trọng, kính thờ, tu theo đức Phật Thích Ca Mâu Ni là vị thầy giác ngộ sáng suốt của chúng con. Quy y Phật rồi chúng con không tu theo trời, thần, quỷ vật.

Quy y Pháp chúng con nguyện suốt đời tôn trọng, học hỏi và tu theo lời dạy của Phật. Quy y Pháp rồi chúng con không tu theo ngoại đạo, tà giáo.

Quy y Tăng chúng con nguyện suốt đời tôn trọng tu theo Tăng sĩ hướng dẫn đúng theo Chánh pháp Như Lai. Quy y Tăng rồi chúng con không si mê làm thân với nhóm dữ, bạn ác.

  • TỤNG NGŨ GIỚI

Con nguyền từ bỏ sát sanh,

Tôn trọng sự sống, rải ban tâm lành.

Thương yêu người, vật, môi sinh

Cho đời hạnh phúc, muôn loài an vui.

Con nguyền từ bỏ trộm gian,

Mánh mung cướp của, tham lam xin chừa.

Sống chân thật, chẳng lọc lừa

Cho tròn nhân nghĩa, cho vừa nhân sinh.

Con nguyền từ bỏ ngoại tình,

Một chồng một vợ tấm lòng trinh nguyên.

Thương yêu, tôn trọng, cảm thông,

Ngọt bùi chia sẻ, thủy chung trọn đời.

Con nguyền từ bỏ nói sai,

Bớt lời chửi tục, móc moi hai đầu.

Nói như Chánh pháp cao sâu,

Im như bậc Thánh nhiệm mầu thấy-nghe.

Con nguyền từ bỏ rượu chè,

Say sưa nghiện ngập, thân mê trí mờ.

Để không bệnh hoạn thẫn thờ,

Để cho tâm trí lặng lờ, sáng trong.

Từ nay con nguyện với lòng

Giữ gìn năm giới, quyết không phạm lầm.

Để cho con sống thanh cao,

Để đời an lạc, dạt dào tình thương.

KINH HÀNH NIỆM DANH HIỆU BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM. (Hoặc ngồi tại chỗ niệm)

Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát. (108 lần)

Nam mô Đại Thế Chí Bồ tát. (3 lần)

Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ tát. (3 lần)

Nam mô đại hạnh Phổ Hiền Bồ tát. (3 lần)

Nam mô Địa Tạng Vương Bồ tát. (3 lần )

Nam mô Thanh Tịnh đại hải chúng Bồ tát. (3 lần)

SÁM MƯỜI NGUYỆN

Một nguyền kính lễ Như Lai.

Hai nguyền xưng tán công dày Thế Tôn.

Ba nguyền tu phước cúng dường.

Bốn nguyền sám hối tiêu tan nghiệp trần.

Năm nguyền vui vẻ an lành.

Sáu nguyền thỉnh chuyển pháp luân độ người.

Bảy nguyền thỉnh Phật ở đời.

Tám nguyền học Phật sáng ngời tâm linh.

Chín nguyền hằng thuận chúng sinh.

Mười nguyền hồi hướng phước lành khắp nơi.

HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC

Sám hối công đức khôn tính kể,

Thắng phước vô biên đồng hướng về.

Nguyện khắp pháp giới các chúng sinh

Thảy đều thể nhập vô sinh nhẫn.

Nguyện tiêu ba chướng sạch phiền não,

Nguyện được trí tuệ thật sáng ngời,

Nguyện cả tội chướng thảy tiêu trừ,

Đời đời thường hành Bồ tát đạo.

Nguyện đem công đức tu hành này

Chan rải mười phương khắp tất cả

Con và cha mẹ, ông bà

Chúng sinh giác ngộ, cõi đời an vui.

PHỤC NGUYỆN

Nam mô thập phương thường trụ Tam bảo tác đại chứng minh.

Nam mô Phật bổn sư Thích ca Mâu Ni tác đại chứng minh.

Nam mô Thánh đức Bồ tát Quán Thế Âm tác đại chứng minh.

Cửa Thiền thường nghiêm tịnh,

Toàn chúng mãi thuận hòa.

Phật huệ chiếu sáng ngời,

Mưa pháp hằng nhuần gội.

Phật tử lòng tin sâu,

Ruộng phước càng tăng trưởng.

Chúng sinh sống an lạc,

Vui hưởng cảnh thái bình.

Nơi nơi dứt đao binh,

Mỗi mỗi đều thành Phật.

Nam mô Phật bổn sư Thích Ca Mâu Ni.

ĐẢNH LỄ BA NGÔI BÁU

Con xin nương tựa Phật,

Bậc phước trí vẹn toàn.

Cầu tất cả chúng sinh

Giác ngộ, phát tâm lành. (một lạy)

Con xin nương tưa Pháp,

Nguồn tuệ giác Từ bi.

Cầu tất cả chúng sinh

Hiểu đạo, tỏ nguồn tâm. (một lạy)

Con xin nương tựa Tăng,

Đoàn thể sống an vui.

Cầu tất cả chúng sinh

Hòa hợp, thương mến nhau. (một lạy)

HỒI HƯỚNG

Nguyện đem công đức tu hành này

Chan rải mười phương khắp tất cả

Con và cha mẹ, ông bà

Chúng sinh giác ngộ, cõi đời an vui.

SÁM HỐI LẠY HỒNG DANH PHẬT VÀ BỒ TÁT

Nam mô thập phương thường trụ Tam bảo tác đại chứng minh.

Nam mô Phật bổn sư Thích Ca Mâu Ni tác đại chứng minh.

Nam mô Thánh đức đại từ đại bi Bồ Tát Quán Thế Âm tác đại chứng minh.

NGUYỆN HƯƠNG

Hương giới, hương định, cùng huệ hương,

Hương giải thoát, giải thoát tri kiến,

Đài mây sáng rỡ trùm pháp giới,

Cúng dường Tam bảo khắp mười phương.

Nam mô Bồ tát hương cúng dường (3 lần)

Hôm nay là ngày ... tháng … năm …, tất cả đệ tử chúng con đồng tâm quỳ trước Phật đài (hoặc Thánh đức Bồ Tát Quán Thế Âm) tác lễ sám hối lạy hồng danh Bồ tát Quán Thế Âm. Ngưỡng mong Tam bảo thường ở mười phương quang giáng đạo tràng chứng minh cho lòng thành của chúng con, khiến chúng con oan khiên dứt sạch, bệnh căn thuyên giảm, gia quyến an khang, lòng tin Tam bảo càng sâu, tâm từ đối với chúng sinh tăng trưởng.

Thứ nguyện cầu siêu cho các hương linh, vong linh, các oan hồn uổng tử được thính Pháp nghe Kinh, được thừa tư công đức, phát tâm tỉnh giác, lìa khổ tối tăm, khởi niệm từ bi, xa rời đường dữ, tin sâu Tam bảo, tin cõi Phật an vui.

Khắp nguyện kẻ mất siêu thăng, người còn phúc lạc, chúng sinh được thấm nhuần mưa pháp, mọi người đều chứng ngộ Phật thừa.

Nam mô Phật bổn sư Thích Ca Mâu Ni. O

Chúng ta ứng dụng phương pháp sám hối lạy hồng danh Phật và Bồ tát nhằm mục đích thấy được lỗi lầm của mình từ vô thủy kiếp đến nay, do cố ý hay vô tình đã tạo ra trong quá khứ cũng như trong hiện tại, làm cho người và vật chịu nhiều đau khổ. Do chúng ta thấy biết sai lầm nên si mê, chấp ngã, chiếm hữu; chính vì vậy làm cái gì cũng muốn bóc lột, vơ vét về cho mình thật nhiều, mặc kệ mọi người bất hạnh, khổ đau.

Chúng ta chí tâm, chí thành sám hối để biết rõ cách thức ngăn ngừa tội lỗi không cho chúng tái phạm, trong hiện đời không gây tạo thêm nghiệp xấu ác nữa mà hay làm các việc thiện lành tốt đẹp để giúp đỡ mọi người sống an vui, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ.

Sám hối để chúng ta chuyển hóa các nghiệp không được tốt đẹp như nghèo, dốt, bệnh, xấu. Có ai muốn mình nghèo đâu, sao mà cái nghèo cứ đeo đẳng mãi, thôi thì ta bán quách cái nghèo đi để được hưởng lấy sự giàu sang, sung sướng. Có một bà già nghèo khổ suốt 80 năm gặp được Bồ tát chỉ cách bán đi cái nghèo, nhờ thành tâm cung kính cúng dường một bát nước sông mà sau này bà chết đi và được tái sinh làm một Thiên nữ muốn gì được đó.

Cũng tương tự như thế, muốn không ngu dốt thì phải học hỏi, quán chiếu soi sángtu tập; muốn không bệnh khổchết yểu thì không nên giết hại làm khổ người và vật; muốn có dung sắc đẹp đẽ, hình dáng trang nghiêm thì không nên nóng giận, phiền muộn quá mức.

Chúng ta sám hối lạy Phật, Bồ tát để làm sao chuyển hóa nghèo khổ, khó khăn, thiếu thốn thành giàu sang, sung sướng, đầy đủ, dư dã; chuyển ngu mê, tối tăm thành sáng suốt, thanh tịnh, trí tuệtừ bi; chuyển bệnh hoạn, đau yếu thành khỏe mạnh, sống lâu dài; chuyển xấu xí, bất hạnh thành đẹp đẽ, trang nghiêm.

Sám hối lạy Phật, Bồ tát là một nghệ thuật thẩm mỹ làm cho thân tâm ta được thay hình đổi dạng nhờ ngăn dừng nghiệp xấu ác của quá khứ, luôn ý thức làm mới lại chính mình nhờ những việc làm tốt đạo, đẹp đời, có ích cho người trong hiện tại; vừa là một phương pháp rèn luyện thân thể hoàn chỉnh với tinh thần nhiếp niệm, nhiếp tâm điều hòa; nhờ vậy cơ thể được vận động theo chiều thông suốt làm cho thân tâm nhất như, trở về một thể tính sáng suốt, nhiệm mầu. Do đó, chúng ta cảm thấy an lạc, nhẹ nhàng sau khi sám hối lạy Phật, Bồ tát; nhờ vậy căn lành thêm tăng trưởng, cá nhân luôn lạc quan yêu đời, sống hiểu biếtyêu thương hơn nên gia đình trên thuận dưới hòa, xã hội giảm bớt si mê lầm lạc, thế giới cùng nhau chung hưởng an vui, thái bình.

Nam mô cầu sám hối Bồ tát ma ha tát. OO

(Vô chuông mõ)

TÁN PHẬT

Đại từ đại bi thương chúng sinh,

Đại hỷ đại xả cứu muôn loài,

Tướng đẹp sáng ngời cùng trang nghiêm,

Chúng con chí tâm thành đảnh lễ.

_ Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư Phật ba đời thường trú trong mười phương. (Lạy một lạy xong chủ lễ đọc)

Một lạy này chúng con tưởng nhớ công ơn cao cả của chư Phật vô lượng vô biên, nguyện cầu chư Phật luôn có mặt ở đời để hướng dẫn và dìu dắt chúng con vượt qua cạm bẫy cuộc đời, được thành tựu đạo quả giác ngộgiải thoát.

Người Phật tử tu theo hạnh nguyện Bồ tát Quán Thế Âm lạy sám hối hồng danh Bồ tát cầu sự gia hộ của ngài để chúng ta có thêm nghị lực và đủ niềm tin trong cuộc sống nhằm chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ.

Đầu tiên, chúng ta phải chí tâm, chí thành, cung kính đảnh lễ chư Phật khắp mười phương cầu sự gia hộ của các đấng đại hùng, đại lực, đại từ, đại bi. Nhờ sự ra đời của chư Phật mà chúng ta biết được điều hay lẽ phải trong cuộc sống, biết được đạo lý làm người để sống có nhân cách đạo đức tốt và dấn thân làm việc không biết mệt mỏi, không biết nhàm chán vì lợi ích của tất cả chúng sinh.

Cho nên, chúng ta cung kính đảnh lễ chư Phật để tỏ lòng biết ơn các Ngài đã chỉ cho ta biết được con đường hướng thượng tốt đẹp, trọn vẹn để chuyển hóa si mê, tối tăm, mờ mịt thành trong sáng, thanh tịnh; chuyển hóa phiền muộn, khổ đau thành an vui, hạnh phúctrí tuệ từ bi. Do đó, mọi người sống với nhauhiểu biếtyêu thương, cảm thôngtha thứ với tinh thần vô ngã, vị tha; nhờ vậy chúng ta thoát khỏi mê lầm từ muôn kiếp.

_ Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Chánh pháp ba đời thường trú trong mười phương.

Một lạy này chúng con xin nguyện cầu lời dạy chân chánh của chư Phật luôn hiện tiềnthế gian để giúp mọi người ý thức được sự sống của chúng ta là phải “tương thân, tương trợ, nương nhờ lẫn nhau.” Chính vì nguyên lý tương quan, tương duyên này mà chúng ta phải có trách nhiệm, bổn phận đoàn kết, yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau với tinh thần từ-bi-hỷ-xả và tấm lòng vô ngã, vị tha.

Chánh pháp là lời dạy vàng ngọc quý báu của chư Phật giúp chúng ta hiểu biết chân lý cuộc đời chính là nền tảng nhân quả, hay nói cho đủ là nhân-duyên-quả, gieo nhân gặt quả. Mình làm lành được hưởng phước báu trời người, giàu sang sung sướng, phúc lạc vô biên. Mình làm ác chịu quả bất hạnh, khổ đau, đọa ba đường dữ địa ngục, ngạ quỷsúc sinh. Do đó, chúng ta có thể biết rõ cội nguồn của an vui và hạnh phúc.

Người con Phật luôn ý thức được khổ đau do sự giết hại, trộm cướp, lường gạt, làm điều phi pháp, tà dâm, nói dối và uống rượu say sưa, dùng các chất kích thích như xì ke, ma túy hại mình và người nên quyết tâm nói không với các điều xấu ác và cố gắng làm lành, làm tốt với tinh thần sáng suốt, trí tuệ từ bi. Nhờ vậy con người được nâng cao trình độ hiểu biết, đất nước giảm bớt tệ nạn xã hội, cá nhân được tăng trưởng phước báu, gia đình trên thuận dưới hòa và nhân loại sẽ sống trong bình an, hạnh phúc.

_ Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Tăng bậc hiền Thánh ba đời thường trú trong mười phương.

Một lạy này chúng con xin nguyện cầu tất cả chư hiền thánh Tăng luôn có mặt ở đời để dìu dắt và hướng dẫn cho chúng con sống được an vui, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ.

Phật đã nhập Niết Bàn, chỉ còn để lại lời dạy vàng ngọc của Ngài, chư Tăng Ni cùng các bậc hiền Thánh nối tiếp theo con đường của Phật để vừa học, vừa tu, vừa hướng dẫn cho tất cả những ai quyết chí đi theo con đường hướng thượng, trên cầu thành Phật dưới cứu độ chúng sinh. Con đường này do chính mình quyết định tốt xấu, nên hư, thành bại trong cuộc đời đều do mình tạo lấy. Mình làm lành được hưởng phước, mình làm ác chịu khổ đau, không ai có quyền ban phước giáng hoạ.

Chúng ta cung kính đảnh lễ tất cả Tăng bậc hiền Thánh để được học hỏi lời Phật dạy qua sự hướng dẫn của chư Tăng ni. Chúng ta cố gắng ứng dụng tu tập vào trong đời sống hằng ngày để chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc và sẵn sàng chia vui, sớt khổ với tất cả mọi người bằng trái tim thương yêuhiểu biết.

_ Chí tâm đảnh lễ: Nam mô hiện tại Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.

Một lạy này chúng con cung kính tưởng nhớ công ơn giáo hóa của Phật Thích Ca Mâu Ni trong hiện đời, nhờ vậy chúng con biết được đạo lý làm người nên luôn sống có ích cho bản thân, gia đìnhxã hội.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một con người giống như tất cả mỗi người chúng ta. Ngài cũng từ một con người phàm phu được sinh ra từ cha mẹ, nhưng Ngài ý thức được sự khổ đau do con người chấp ngãchiếm hữu để tranh giành quyền lợi cho riêng mình mà bị bất an, gia đình bất hòa, xã hội loạn lạc, thế giới khổ đau. Vì tham riêng cho bản thân mình, gia đình mình, đất nước mình nên con người đấu tranh, giết hại lẫn nhau để bảo tồn sự sống. Đức Phật thấy rõ sự tác hại của nó nên Ngài từ bỏ tiền bạc, danh vọng, địa vị, quyền uy thế lực, vợ đẹp con ngoan, ăn ngon ngủ kỹ để ra đi tìm chân lý sống cho nhân loại. Ngài đã tìm ra nguyên nhân và cách thức để giúp con người vượt qua cạm bẫy cuộc đời, nhờ đó mà ngày nay chúng ta biết được đạo lý làm người để luôn sống có ích cho mình, cho gia đìnhxã hội.

Chúng ta chí tâm, chí thành, cung kính đảnh lễ đức Phật Thích Ca Mâu Ni để tưởng nhớ đến công ơn của Ngài mà cố gắng bắt chước học và làm theo với tinh thần tự giác, giác thagiác hạnh viên mãn. Nghĩa là sau khi mình giác ngộ rồi thì tìm cách hướng dẫn, giúp đỡ mọi người cho đến khi thành tựu Phật đạo viên mãn mới thôi.

_ Chí tâm đảnh lễ: Nam mô quá khứ Phật A Di Đà.

Một lạy này chúng con cung kính nguyện cầu Phật A Di Đàcõi Ta bà khổ mà phát đại thệ nguyện tiếp dẫn tất cả chúng sinh về cõi Cực Lạc.

Chúng ta chí tâm, chí thành, cung kính đảnh lễ Phật A Di Đà vì Ngài có vô lượng trí tuệ từ bi nên gọi là Vô Lượng Quang. Mỗi hành giả nhờ nhiếp tâm niệm Phật, quán chiếu, Thiền địnhđạt đến nhất tâm bất loạn; do đó thông suốt hết ba cõi nên không còn bị sinh tử, luân hồi chi phối, nhờ vậy mà không còn giới hạn ở tuổi thọ nên gọi là Vô Lượng Thọ.

_ Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tương lai hạ sinh Phật Di Lặc Tôn.

Một lạy này chúng con cung kính nguyện cầu Phật Di Lặc ra đời khi thế gian không còn ai là người tốt nữa, nhân loại chỉ sống trong chiến tranh binh đao, tàn sát giết hại lẫn nhau không thương tiếc vì mưu cầu lợi ích cá nhân.

Chúng ta chí tâm, chí thành, cung kính tương lai hạ sinh Phật Di Lặc vì theo nguyên lý vô thường của bầu vũ trụ bao la thì trái đất cũng bị thay đổi theo thời gian, cuối cùng vẫn phải thành-trụ-hoại-không. Sau khi Tam bảo đã bị mai một, không còn ai biết đến Phật pháp nữa, lúc này đức Phật Di Lặc ra đời để tiếp tục cứu độ chúng sinh. Cho nên, chúng ta chí tâm, chí thành, cung kính cầu sự ra đời của Ngài để giúp ích cho tất cả chúng sinh thoát khỏi phiền muộn, khổ đau và luôn được an vui, hạnh phúc.

_ Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tổ sư Đại Ca Diếp.

Một lạy này chúng con cung kính tưởng nhớ tổ sư Đại Ca Diếp, người đã có công lao to lớn chủ trì kiết tập trùng tụng lại lời Phật dạy để hàng hậu học chúng ta biết được đạo lý làm người, đạo lý giác ngộgiải thoáttu hành chuyển hóa tham lam, sân hận, si mê thành thanh tịnh, sáng suốt, trí tuệtừ bi.

Chúng ta chí tâm, chí thành, cung kính đảnh lễ tổ sư Đại Ca Diếp vì ngài là vị Tổ được kế thừa sự nghiệp đức Phật, là nhà mô phạm đạo đức, gương mẫu, khổ hạnh bậc nhất, sống đơn giản với tiêu chí ít muốn biết đủ, biết sống hài hòa và bằng lòng với hiện tại. Suốt cuộc đời hoằng hóa độ sinh, ngài luôn khiêm hạ thấp mình đối với người trên kẻ dưới, ngài đã có công chủ trì kết tập kinh điển lần thứ nhất tại núi Kỳ Xà Quật với 500 vị A la hán chứng minh, do vua A Xà Thế hỗ trợ và bảo trì.

_ Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tổ sư A Nan.

Một lạy này chúng con cung kính tưởng nhớ công ơn tổ sư A Nan, người đã có công đọc lại lời Phật dạy, nhờ đó chúng ta biết được giáo pháp chân chánh để ứng dụng, hành trì.

Chúng ta chí tâm, chí thành, cung kính đảnh lễ tổ sư A Nan vì nhờ có ngài trùng tuyên lại lời Phật dạy mà ngày nay chúng ta biết được phương pháp tu hành để chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ.

_ Chí tâm đảnh lễ: Nam mô các bậc tiền nhân tổ tiên, ông bà, cha mẹ nhiều đời.

Một lạy này chúng con cung kính tưởng nhớ công ơn các bậc tiền nhân, ông bà, cha mẹ, tổ tiên đã lao công nhọc sức sinh thành, dưỡng dục, nuôi nấng, dạy dỗ giúp ta nên người.

Chúng ta chí tâm, chí thành, cung kính đảnh lễ các bậc tiền nhân, tổ tiên, ông bà, cha mẹ nhiều đời vì nhờ có các ngài đi trước hy sinh, chịu khó, chịu khổ khai hoang làm ruộng, trồng trọt hoa màu để có lương thực nuôi sống chúng ta. Nhờ có mẹ sinh, cha nuôi dưỡng, công lao khổ nhọc nuôi ta khôn lớn trưởng thành nên chúng ta cần phải hết lòng hiếu kính với cha mẹ, ông bà, tổ tiên để tỏ lòng biết ơn sâu sắc.

_ Chí tâm đảnh lễ: Nam mô đại từ đại bi Bồ tát Văn Thù Sư Lợi.

Một lạy này chúng con cung kính tưởng nhớ Bồ tát Văn Thù Sư Lợi đã nhắc nhở chúng con ai cũng có trí tuệ sáng suốt sẵn có của chính mình, vì mãi mê chạy theo cuộc sống tiền tài, sắc đẹp, địa vị, danh vọng, ăn ngon, ngủ kỹ nên chúng con quên mất tánh biết hằng sáng suốt, thanh tịnh của mình.

Chúng ta chí tâm, chí thành, đảnh lễ Bồ tát Văn Thù Sư Lợi vì nhờ có ngài khai phát trí tuệ sáng suốt cho vô lượng chúng sinh. Bồ tát Văn ThùBồ tát Phổ Hiền là hai vị sứ giả đi theo phụ tá đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong hiện đời. Bồ tát Văn Thùtượng trưng cho trí tuệ sáng suốt, thanh tịnh của mỗi người. Bồ tát Phổ Hiềntượng trưng cho công hạnh độ sinh, từ-bi-hỷ-xả giúp mọi người vượt qua cạm bẫy cuộc đời để vươn lên làm mới lại chính mình, làm mới lại cuộc đời và sống an vui, hạnh phúc trên tinh thần tương thân tương trợ, đùm bọc thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau.

_ Chí tâm đảnh lễ: Nam mô đại từ đại bi Bồ tát đại hạnh Phổ Hiền.

Một lạy này chúng con cung kính tưởng nhớ Bồ tát Phổ Hiền vì nhờ có ngài phát đại thệ nguyện mạnh mẽ dấn thân đi vào đời để cứu vớt chúng sinh vượt qua biển khổ sông mê.

Chúng ta chí tâm, chí thành, cung kính đảnh lễ Bồ tát Phổ Hiền vì nhờ có ngài chịu khổ dấn thân cùng sống vì mọi người, cùng đồng hành, cùng gánh vác, cùng sẻ chia, cùng an ủi, cùng giúp đỡ, cùng hy sinh và cùng chia vui sớt khổ. Bồ tát Phổ Hiền có một tâm nguyện hết sức dễ thương, ngài đến thế gian này để ngăn chặn ma quân ngũ dụcbảo vệ người tu hành chân chánh.

_ Chí tâm đảnh lễ: Nam mô đại từ đại bi Bồ tát Đại Thế Chí.

Một lạy này chúng con cung kính đảnh lễ Bồ tát Đại Thế Chí, ngài là người đã can đảm, dũng mãnh phát tâm đi vào đời để cứu độ chúng sinh. Bồ tát Đại Thế ChíBồ tát Quán Thế Âm là hai vị Bồ tát đi theo phụ tá đức Phật A Di Đà.

Chúng ta chí tâm, chí thành, cung kính đảnh lễ Bồ tát Đại Thế Chí vì nhờ có ngài hy sinh, chịu khó, chịu khổ dấn thân đi vào đời cứu khổ thế nhân. Nhưng chúng sinh cõi Ta Bà này cang cường ương ngạnh, khó điều phục nên muốn vào đời giúp nhân loại vượt qua si mê, lầm lạc thì chúng ta phải phát tâm đại dũng mãnh, đại tinh tấn, đại nhẫn nhịn, đại trí huệ từ bi rộng lớn; như thế mới đủ khả năng và sức chịu đựng lâu dài mà hướng dẫn, giáo hóa chúng sinh trong cõi Ta bà vui ít, khổ nhiều.

_ Chí tâm đảnh lễ: Nam mô đại từ đại bi Bồ tát Quán Thế Âm. (100 lạy hoặc tùy theo nguyện lực của mỗi người mà lạy nhiều hay ít tùy ý)

Một lạy này chúng con cung kính tưởng nhớ công ơn Bồ tát Quán Thế Âmsự nghiệp sống còn của tất cả chúng sinh mà sẵn sàng chia vui, sớt khổ bình đẳng với mọi người không phân biệt người thân hay kẻ thù.

Chúng ta chí tâm, chí thành, cung kính đảnh lễ Thánh đức Bồ Tát Quán Thế Âmcông hạnh của ngài không thể nghĩ bàn. Ngài đã thành Phật từ vô số kiếp, nhưng vì thương chúng sinh còn mãi chìm đắm trong biển khổ, sông mê nên phát tâm đi vào đời để cứu độ chúng sinh không biết mệt mỏi, nhàm chán. Sở dĩ Bồ tát được mang danh hiệuQuán Thế Âm là vì ngài luôn đem niềm vui đến cho tất cả chúng sinh và sẵn sàng chia sẻ nỗi khổ, niềm đau đến với muôn loài như thiên tai, lũ lụt, hạn hán, sóng thần, động đất, bị yêu tinh ma mị hãm hại, bị giam cầm tù tội, cho đến nạn trộm cướp và vua quan chiếm đoạt.

Hạnh nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm xứng đáng cho chúng ta học hỏi và bắt chước noi theo, vì ngài dấn thân đi vào đời để cùng đồng hành, cùng làm việc, cùng đóng góp, cùng gánh vác và cùng chia vui sớt khổ với tất cả chúng sinh. Bồ tát Quán Thế Âm lúc nào cũng ứng hiện 33 thân, vì lợi ích chúng sinh mà chịu nhiều đau khổ, đắng cay nhưng vẫn bền chí nhẫn nhịn, nhường người để tu hành; đến khi công tròn quả đủ ngài tự tại ra đi, khi đó ta mới biết người có tình thương cao cả đó là Bồ tát Quan Âm.

Chúng ta tu và học theo hạnh nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm như nhịp cầu nối kết yêu thương, sẻ chia cuộc sống với tinh thần từ bitrí tuệ với tấm lòng vô ngã, vị tha, không thấy ai là kẻ thù dù người đó đã hại mình. Đây chính là nguyện lực cao cả của Bồ tát Quán Thế Âm, chúng ta cần phải học hỏicố gắng bắt chước làm theo.

ĐI KINH HÀNH NIỆM DANH HIỆU BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM. (Hoặc ngồi niệm tại chỗ)

Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát. (18 lần)

Nam mô Đại Thế Chí Bồ tát (3 lần)

Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ tát (3 lần)

Nam mô đại hạnh Phổ Hiền Bồ tát (3 lần)

Nam mô Địa tạng Vương Bồ tát (3 lần)

Nam mô Thanh Tịnh đại hải chúng Bồ tát (3 lần)

HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC

Lạy Phật công đức khôn tính kể,

Thắng phước vô biên đồng hướng về.

Nguyện khắp pháp giới các chúng sinh,

Thảy đều thể nhập vô sinh nhẫn.

Nguyện tiêu ba chướng sạch phiền não,

Nguyện được trí tuệ thật sáng ngời,

Nguyện cả tội chướng thảy tiêu trừ,

Đời đời thường hành Bồ tát đạo.

Nguyện đem công đức tu hành này

Chan rải mười phương khắp tất cả

Con và cha mẹ, ông bà

Chúng sinh giác ngộ, cõi đời an vui.

PHỤC NGUYỆN

Nam mô Thánh đức Bồ tát Quán Thế Âm với hạnh nguyện ban vui cứu khổ, ứng thân hóa hiện vào đời, đem tình thương chan rải khắp thế gian, độ muôn loài tai qua nạn khỏi, giúp hết thảy bệnh tật tiêu trừ, để người phúc lộc dồi dào, cùng nhau chung hưởng an vui thái bình.

Nam mô Phật bổn sư Thích Ca Mâu Ni tác đại chứng minh.

Cửa Thiền thường nghiêm tịnh,

Toàn chúng mãi thuận hòa.

Phật huệ chiếu sáng ngời,

Mưa pháp hằng nhuần gội.

Phật tử lòng tin sâu,

Ruộng phước càng tăng trưởng.

Chúng sinh sống an lạc,

Vui hưởng cảnh thái bình.

Nơi nơi dứt đao binh,

Mỗi mỗi đều thành Phật.

Nam mô Phật bổn sư Thích Ca Mâu Ni. OO

ĐẢNH LỄ TAM BẢO

Con xin nương tựa Phật,

Bậc phước trí viên thành.

Cầu tất cả chúng sinh

Giác ngộ phát tâm lành. (1 lạy)

Con xin nương tựa Pháp,

Nguồn tuệ giác từ bi.

Cầu tất cả chúng sinh

Hiểu đạo tỏ nguồn tâm. (1 lạy)

Con xin nương tựa Tăng,

Đoàn thể sống an vui.

Cầu tất cả chúng sinh

Hòa hợp thương mến nhau. (1 lạy)

BỐN LỜI NGUYỆN LỚN

Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ,

Phiền não vô tận thệ nguyện bỏ,

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,

Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

Người tu theo hạnh nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm phải can đảm, dũng mãnh phát tâm thực hành 4 nguyện lớn. 4 nguyện này bao trùm hết tất cả các nguyện của chư Phật.

Điều thứ nhất người tu theo hạnh nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm phải kiên cường, bền bỉ độ hết thảy tất cả chúng sinh, thề không thủ ngôi Chánh giác khi thế gian này vẫn còn chúng sinh đau khổ. Muốn được như vậy thì mỗi hành giả phải siêng năng nỗ lực, tinh cần chuyển hóa tham lam-sân giận-si mê thành vô lượng trí tuệ từ bi với tấm lòng vô ngã, vị tha.

Điều thứ hai người tu theo hạnh nguyện Bồ tát Quán Thế Âm phải phát tâm dũng mãnh bỏ hết các phiền não tham-sân-si có tính cách hại người và vật. Muốn được vậy thì mỗi hành giả phải cố gắng siêng năng, tinh cần học hiểu vô lượng pháp môn Phật dạy để phương tiện giáo hóa chúng sinh không biết mệt mỏi, không biết nhàm chán.

Điều thứ ba người tu theo hạnh nguyện Bồ tát Quán Thế Âm phải thông suốt hết thảy các pháp môn Phật dạy. Mỗi hành giả khi đã học hiểu rồi thì phải phát tâm tu hành cho đến khi nào thành Phật mới thôi.

Điều thứ tư người tu theo hạnh nguyện Bồ tát Quán Thế Âm phải dũng mãnh, kiên cường không thủ ngôi Chánh giác để độ tất cả chúng sinh đều được thành Phật.

Nam mô Bồ tát hương cúng dường. (3 lần)

v THAY LỜI KẾT

Quyển nghi thức Hạnh Nguyện Bồ tát Quán Thế Âm chúng tôi biên soạn chia ra làm ba phần:

_ Phần đầu chúng tôi triển khai đọc tụng Kinh hạnh nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm để mọi người biết được công hạnhviệc làm của Ngài trong hiện tại mà bắt chước học hỏi và làm theo.

_ Phần hai chúng tôi biên soạn nghi thức sám hốiphát nguyện gìn giữ 5 điều đạo đức để mỗi người Phật tử y thức được khổ đau do sự giết hại, trộm cướp, lường gạt, tà dâm, nói dối hại người, uống rượu say sưa, dùng các chất kích thích như xì ke, ma túy để làm khổ mình và hại người. Sám hối để biết được lỗi lầm mình đã gây tạo từ vô thủy kiếp đến naytìm cách ngăn dừng, chuyển hoá không cho chúng tái phạm nữa.

_ Phần ba chúng tôi biên soạn nghi thức sám hối lạy hồng danh Phật và Bồ tát, có sự giải thích rõ ràng về các công hạnh của chư Phật, Bồ tát. Lạy hồng danh Phật và Bồ tát là một phương pháp hành trì cao tột giúp thân tâm hóa giải các oan khiên, nghiệp báo nhiều đời càng ngày càng được trong sạch để chúng ta vừa tiêu trừ nghiệp xấu ác cũ, vừa thâm nhập trí tuệ từ bi của Phật và Bồ tát. Nhờ thần lực gia hộ của các Ngài mà chúng ta đủ niềm tinnghị lực để chuyển hóa các phiền muộn, khổ đau thành an lạc, hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại. Phương pháp lạy Phật, Bồ tát là kết tinh đặc sắc của giáo lý Phật đà nhằm giúp cho người đương thời chuyển hóa các bệnh về thân và tâm, làm cho tinh thần người hành trì luôn được an ổn nhẹ nhàng và vui tươi lành mạnh.

Toàn thân năm vóc cúi rạp mình sát đất khi lạy Phật, Bồ tát là một phương pháp thể dục thẩm mỹ rất nhẹ nhàng, toàn thân cử động đồng đều cùng một lúc nên làm máu huyết trong người lưu thông hài hòa. Cách đơn giản nhất là vừa lạy vừa niệm danh hiệu Bồ tát, hoặc vừa lạy vừa theo dõi hơi thở. Chúng ta lạy một cách chậm rãi, từ tốn, hài hòa; đứng lên niệm “Nam mô Bồ tát Quán Thế Âm” và lạy xuống niệm “Nam mô Bồ tát Quán Thế Âm”; cứ như thế chậm rãi vừa lạy, vừa niệm. Ở đây chúng tôi chủ xướng phương pháp lạy Bồ tát, sau khi lạy xong một lạy chúng tôi có nhắc lại công hạnh của mỗi vị để mọi người biết được mà học hỏi và bắt chước làm theo.

Tùy theo hoàn cảnh chúng ta có thể áp dụng lễ lạy làm sao cho thích hợp với điều kiện của mình. Khi chưa quen chúng ta có thể lạy mỗi ngày ít nhất 30 lạy và tăng dần cho đến 108 lạy, hoặc hơn nữa thì tốt. Chúng ta nên nhớ, hành giả tu theo pháp lạy Bồ tát phải bền chí, kiên trì giữ đều đặn. Việc lễ lạy chúng ta có thể áp dụng bất kỳ chỗ nào cũng được, miễn không gian chỗ đó đủ để ta lạy. Khi lạy hai tay chấp trước ngực, từ từ đưa lên trán rồi đưa trở xuống ngực và lạy xuống sát đất. Đó là sự biểu hiện thân tâm nhất như cung kính lễ. Lúc lạy xuống hai tay, hai chân và trán đều phải chấm đất để tỏ lòng tôn kính, tức 5 phần của thân thể đều được chấm đất. Khi lạy chúng ta cố gắng kết hợp hài hòa, thân cúi xuống, miệng niệm danh hiệu Bồ tát, tai lắng nghe. Mỗi cử chỉ đều khoan thai, từ tốn và cứ như thế đứng lên, quỳ xuống một cách nhẹ nhàng.

Phương pháp lạy Phật, Bồ tát là một phương pháp dễ thực hànhđơn giản mà lại lợi ích thiết thực. Đa số các chùa vào mùa an cư kiết hạ của chư Tăng thường tổ chức cho lạy hồng danh Phật. Hòa thượng Tuyên Hóa khi còn hiện tiền ai muốn phát tâm làm đệ tử Phật Ngài đều cho lạy hồng danh Phật 1000 lạy rồi mới làm lễ quy y, nhờ vậy người con Phật gội rửa thân tâm được trong sạch khi mới vào đạo.

Pháp môn lạy Phật, Bồ tát mang lại lợi ích thiết thực cho cả thân và tâm. Thân thể khỏe mạnh và có khả năng ngăn ngừa các bệnh tật của thời đại. Tinh thần sáng suốt, an lạc và sống an vui, hạnh phúc. Đây là một pháp môn thực tiễn, mầu nhiệm theo tinh thần khoa học hiện đại có sự kết hợp nhuần nhuyễn của nhân quả rõ ràng. Thân chuyển động hài hòa đồng loạt làm cho máu huyết trong cơ thể lưu thông, nuôi dưỡng các tế bào hoạt động, đẩy các độc tố ra ngoài. Miệng niệm danh hiệu Bồ tát, tai lắng nghe từng âm thanh vi diệu của Bồ tát tạo ra sự cảm ứng không thể nghĩ bàn. Ai bây giờ có nhân duyên với Bồ tát Quán Thế Âm xin hãy cùng chúng tôi đồng hành để được kết nối yêu thương và sẻ chia cuộc sống.

THÍCH ĐẠT MA PHỔ GIÁC

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 2)
Hơi thở là sự tiếp nối chuỗi cuộc sống trong luân hồi sinh tử của nghiệp báo. Hơi thở tượng trưng cho sự sống. Hơi thở tạo nên...
(Xem: 123)
Những ai có lòng từ mẫn chân thành chia sẻ tịnh tài hay tịnh vật dù ít dù nhiều tùy khả năng, thì việc bố thí nầy được xem như là Quảng Đại Tài Thí...
(Xem: 58)
Trong khi thực hành thiền định, hành giả bắt đầu điều phục thân và điều phục tâm
(Xem: 100)
Trước thời Thế Tôn, nhân loại đã biết và nói đến vô thường của các sự vật hiện tượng. Tuy vậy, cái thấy biết về vô thường này chưa toàn triệt,
(Xem: 88)
Kinh MN 1 (Mulapariyaya Sutta) là Kinh khởi đầu Trung Bộ, được Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch là Kinh Pháp Môn Căn Bản.
(Xem: 119)
Bàn tay ta vun đắp, thành bại thuộc vào duyên, Vinh nhục ai không gặp, Có chi phải ưu phiền.
(Xem: 78)
Đạo Phật chủ trương hòa bình, lấy từ bi hóa giải hận thù, lấy sự xả buông để khắc chế tham ái. Chiến tranh, xung đột, bạo động là biểu hiện rõ ràng của tham lam, sân hận và si mê.
(Xem: 82)
Đối với đạo Phật, ba ngôi Tam bảo rất quý báu, hiếm có khó gặp ở thế gian nên người con Phật (chư Tăng, Ni, Phật tử nói chung) phải kính lễ, tôn thờ.
(Xem: 120)
Chúng ta được dạy, nếu khéo lắng nghe, ta sẽ được trí tuệ. Nếu không biết lắng nghe, ta sẽ không được gì cả.
(Xem: 573)
Kính Mừng Thọ 70 tuổi HT Thích Như Điển tổng hợp những bài viết cho Hoà Thượng Phương Trượng
(Xem: 201)
Mắt ở đây phải hiểu là cách nhìn, cái mà mình cảm thấy, cái mà mình cho rằng, cái mà mình biết do nhìn thấy
(Xem: 110)
Hai từ " buông bỏ " thời buổi bây giờ là một thành ngữ nghe vô cùng sáo rỗng, đã được xử dụng nhiều nhất trong kỷ nguyên thời đại mới (new age).
(Xem: 311)
Nếu bạn say mê đọc kinh Phật, ưa thích những phân tích kỹ càng về giáo điển, muốn tìm hiểu các chuyện xảy ra thời Đức Phật đi giảng dạy nơi này và nơi kia, hiển nhiên đây là một tác giả bạn không thể bỏ qua
(Xem: 151)
Các nhà hiền triết Ấn Độ giáotu sĩ Phật giáo đã nhận diện tầm quan trọng và lợi ích sức khỏe khi một hành giả thực tập thiền đều đặn trong mỗi ngày.
(Xem: 215)
Theo tuệ giác của Thế Tôn, nếu các căn gặp cảnh trần vừa ý, thọ lạc rồi sinh tâm yêu thích, đắm nhiễm thì đó là cội nguồn của mọi khổ đau.
(Xem: 140)
Kiếp sống này biến mất rất nhanh chóng Giống như thứ gì đó được viết trên mặt nước với một que cây -ĐỨC PHẬT-
(Xem: 155)
Từ non cao, những đợt lá vàng cuốn theo gió, rơi theo dòng suối, trôi giạt xuống con sông nhỏ trong làng; rồi từng nhóm lá xuôi dòng, tấp vào bờ này hay bờ kia.
(Xem: 136)
Cuộc đời là một chuỗi những bài kiểm tra. Khó khăn chính là những bài kiểm tra. Chúng ta đang ở trong một trường đời.
(Xem: 168)
Trong công việc khó có thể tránh khỏi hoàn cảnh bất lợi, nhiều người sợ gặp phải hoàn cảnh khó khăn, cảm thấy nghịch cảnh là một cú sốc lớn.
(Xem: 143)
Đối với hàng Phật tử tại gia, năm giới là năm điều học căn bản để tạo dựng nên một nếp sống đạo đức, tốt đẹplành mạnh.
(Xem: 363)
Nguyên bản: Meditating while dying; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 224)
Từ non cao, những đợt lá vàng cuốn theo gió, rơi theo dòng suối, trôi giạt xuống con sông nhỏ trong làng; rồi từng nhóm lá xuôi dòng, tấp vào bờ này hay bờ kia.
(Xem: 176)
Duyên khởiđạo lý quan trọng trong toàn bộ giáo pháp của Thế Tôn.
(Xem: 214)
Trong khi thực hành thiền quán, hành giả thường hay vướng vào năm chướng ngại, mà thuật ngữ Phật học gọi là
(Xem: 107)
Nhóm Tỳ-kheo được vô lậu giải thoát sau khi nghe Tỳ-kheo do Bồ-tát Văn-thù-sư lợi biến hóa ra giảng giải cho về pháp giới thể tánh.
(Xem: 350)
Pháp Như Thật là pháp thực hành thuộc về Thiền Huệ, nhưng tại sao lại cần phải thực hành pháp Như Thật? Tại sao phải học Thiền Huệ?
(Xem: 164)
Mẹ Hiền, hai tiếng nầy nghe thân thương, êm ái, ngọt ngào biết bao. Nghe mãi không nhàm, nghe hoài không chán.
(Xem: 196)
Tôi hiểu ngay là cả nhà, mỗi người đều đang dán mắt và bấm bấm, quẹt quẹt vào mặt kính cái smartphone của mình.
(Xem: 210)
Trong quan hệ 12 nhân duyên, nhân vì xúc (căn tiếp xúc trần) nên sinh thọ (cảm giác vui, khổ và trung tính), nhân vì thọ nên sinh ái (yêu ghét)...
(Xem: 208)
Nguyên bản: Gaining favorable condition for the time of death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D.; Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 306)
Bùi Giáng là nhà thơ, là dịch giả, là nhà bình luận văn học. Ông sinh ngày 17 tháng 12/1926 tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; từ trần ngày 7 tháng 10/1998 (thọ 71 tuổi) tại Sài Gòn
(Xem: 223)
Để đạt đến pháp giới vốn là pháp giới thể tánh, vốn là pháp giới bạch tịnh này, kinh điển thường dạy VănTư-Tu.
(Xem: 304)
Sau khi kết thúc đời sống hiện tại, chúng ta sẽ theo nghiệp mà thọ sinh vào cảnh giới tương ứng.
(Xem: 224)
Muốn thấy Phật thì Tâm phải như gương sáng. Thấy hết, biết hết mà không bao giờ khởi niệm.
(Xem: 190)
Công việc được hoàn tất tốt đẹp qua sự hưởng ứng và trợ giúp của quý Phật tử tại địa phương và các anh chị em huynh trưởng và đoàn sinh Gia Đình Phật Tử tại Đức Quốc.
(Xem: 334)
Nhiều Kinh điển Đại thừa (Mahayana Sutras)/Kinh điển Phật giáo Phát triển đã giảng 3 phương pháp thiền quán để đạt đến giải thoát, đó là ba cánh cửa của giải thoát.
(Xem: 222)
Xuất gia là tu hạnh giải thoát. Tự mình tu để được giải thoát,đồng thời hướng dẫn chỉ dạy cho người khác tu cùng giải thoát nữa.
(Xem: 408)
Một trong những biệt tài thuyết pháp của Thế Tôn là dùng hình ảnh để ví dụ minh họa chothính chúng dễ hiểu, dễ cảm nhận vấn đề Ngài muốn nói.
(Xem: 335)
Những ngày cuối hạ oi bức, không làn gió thoảng. Cây cối trơ ra như những tượng đá trong vườn thần chết. Mọi thứ như dừng đứng để chờ đợi một phép lạ.
(Xem: 227)
Bà mẹ già ngồi ở băng ghế sau chiếc xe hơi bỏ mui màu đỏ sậm đang rẽ quặt xuống xa lộ. Bà ghì chặt lấy cái giỏ đồ ...
(Xem: 325)
Đạo đức là nền tảng luân lý mà bất kỳ thời đại nào cũng cần phải xây dựng, cũng cố và phát triển.Con người nếu khôngđạo đức thì không dùng được.
(Xem: 313)
Hôm nay nhân đọc bản dịch từ Phạn văn ra Việt ngữ nầy của Giáo Sư Lê Tự Hỷ, chúng tôi vô cùng hoan hỷ vì rằng đây là những tài liệu rất bổ ích cần phải tham khảo
(Xem: 193)
Những ngày cuối hạ oi bức, không làn gió thoảng. Cây cối trơ ra như những tượng đá trong vườn thần chết.
(Xem: 358)
Những người chưa vào đạo Phật, hoặc chưa hiểu đạo Phật, thường nghĩ rất sai lầm, tưởng rằng đạo Phật là một đạo chán đời, bi quan...
(Xem: 307)
Bạn có thể cho con cái bạn sống trong một căn nhà to lớn, ăn uống đầy đủ ngon lành, lại học chơi cả đàn dương cầm...
(Xem: 492)
Học Phật là một công cuộc bền bỉ và trường kỳ, mà đơn vị để đo đạc ấy phải tính bằng “hằng-hà-sa kiếp sống” cũng như...
(Xem: 319)
Mọi sinh vật có thật đâu Thảy đều “vô ngã”, “ta” nào là “ta” Trí người nếu hiểu rõ ra Thoát ly phiền não cho xa tức thời, Theo đường thanh tịnh tuyệt vời.
(Xem: 317)
Bà Thanh Đề là mẹ của ngài Mục Kiền Liên (cũng gọi là Mục Liên), Bà tính tình tham lam,độc ác, không tin Tam Bảo, tạo ra nhiều tội lỗi...
(Xem: 569)
Tu thiền (Bhavanã Jhãna) Phật giáo là tiến trình tu tập, hành trì miên mật một pháp môn nào đó để kinh nghiệm trực tiếp trên ...
Quảng Cáo Bảo Trợ