Logo Hanh Huong
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,262,821
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Quyển Thứ 12

30 Tháng Mười Một 201000:00(Xem: 6317)
Quyển Thứ 12



THÀNH THẬT LUẬN 
Ngài HA-LÊ BẠT-MA tạo
Đời Diêu Tần Ngài TAM TẠNG CỰU MA LA THẬP dịch sang Hán Văn
Dịch giả: Tỳ-kheo THÍCH TRÍ-NGHIÊM

 

QUYỂN THỨ 12

 

PHẨM TẠP PHIỀN-NÃO THỨ 136

Hỏi: Trong kinh nói ba lậu: dục lậu, hữu lậu và vô-minh lậu. Các lậu thứ nào là thế nào?

Đáp: Trong cõi Dục trừ vô-minh, còn tất cả phiền-não là Dục-lậu. Cõi Sắc và Vô sắc hữu lậu cũng như thế. Vô-minh trong ba cõi gọi là vô-minh-lậu.

Hỏi: Các lậu tăng trưởng thế nào?

Đáp: Vì pháp từ hạ, trung, thượng lần lữa tăng-trưởng. Lại được sắc thảy thắng duyên, nên các lậu tăng trưởng.

Hỏi: Ba lậu nầy tại sao nói bảy lậu?

Đáp: Thật lậu có hai thứ: Thấy Đạo-lý mà dứt là các lậu căn-bản; suy nghĩ mà dứt là quả của các lậu. Năm nhân-duyên giúp cho lậu họp lại thành bảy, tức là phiền-não. Đức Phật tùy theo nghĩa nên nói: ba lậu, bốn lưu, bốn phược, bốn thủ, bốn kiết thảy.

Hỏi: Bốn lưu: dục lưu, hữu lưu, kiến lưu, vô-minh-lưu.Thứ nào là thế nào?

Đáp: Trừ-kiến và vô-minh, còn tất cả phiền-não cõi Dục, gọi là Dục lưu. Hữu-lưu cõi Sắc và Vô-sắc cũng như thế. Các món kiến gọi là kiến-lưu, vô-minh gọi là vô-minh-lưu.

Hỏi: Trong lưu, cớ sao riêng nói Kiến-lưu, mà trong Lậu chẳng nói?

Đáp: Ngoại đạo phần nhiều bị kiến-chấp làm trôi nổi, vậy nên trong Lưu riêng nói. Vì hay nổi chìm nên gọi là Lưu; vì hay trói buộc ba cõi nên gọi là phược.

Hỏi: Bốn thủ: dục-thủ, kiến-thủ, giới-thủ, và ngã-ngữ-thủ. Thứ nào là thế nào?

Đáp: Vì vô-ngã nên chỉ lấy lời nói gọi là ngã ngữ thủ. Nếu người có ngã kiến, tức sinh chấp hai bên, là ngã hoặc thường hoặc vô thường. Nếu quyết định nói vô thường thời tham lấy ngũ-dục, vì cho khôngđời sau nên đắm nhiễm vui hiện tại. Nếu quyết định nói thường, kẻ độn căn thời lấy trì giới mong được vui đời sau; kẻ có chút lợi-căn thời nghĩ như vầy: “Nếu Thần là thường thời khổ vui không biến đổi”. Vì cho không tội phước nên mới sinh tà-kiến. Như thế chỉ bởi ngã ngữ mà sinh bốn món thủ.

Hỏi: Bốn kiết: Tham ganh thân kiết, giận giữ thậ kiết, giới thủ thân kiết, và tham trước lấy đấy là thật thân kiết. Thứ nào là thế nào?

Đáp: Tham lấn vật của kẻ khác mà họ chẳng cho thời sinh tâm giận dữ, mới dùng e đến roi gậy thảy, đấy là cội rễ đấu tranh của người tại gia; cũng gọi là tùy-lạc-biên, tức theo bên vui. Nếu người trì giới muốn giới nầy được thanh tịnh nên bảo: đây là thật, kỳ dư là vọng ngữ, Kiến chấp nầy thùy theo. Đấy là cội rễ tranh cãi của người xuất gia; cũng gọi là tùy-khổ-biên, tức theo bên khổ. Ngũ-ấm gọi là thân. Bốn món kiết nầy cần phải thân khẩu mới thành, nên gọi là thân kiết. Lại có người nói bốn pháp nầy năng trói buộc sinh tử nên gọi là kiết.

Hỏi: Năm món che: tham dục, giận dữ, ngủ nghỉ, trạo-hối và nghi, việc ấy thế nào?

Đáp: Người tham đắc các món dục, nên giận dữ bám theo. Như trong kinh nói: “Do ái sinh giận dữganh ghét thảy các phiền-não; roi gậy thảy các nghiệp, đều bởi tham-dục mới sinh”. Người nầy thân và tâm bị tham giận làm hư hoại. Nhiều việc mệt nhọc thời muốn ngủ nghỉ; người nầy mới ngủ nghỉ một chút thời tham giận lại đến nữa làm tán loạn nơi tâm. Tâm chẳng được thiền-định, nên chạy rông theo cảnh ngoài, nên mới sinh trạo-hí. Người mà nghiệp bất-tịnh thời tâm thường lo lắng ăn-năn. Vì tán tâmhối tâm nên tâm thường sinh nghi ngờ: Có giải-thoát hay chăng? Như Vương-Tử bảo A-Di-La-Việt Sa-di.

Hỏi: Sao gọi là che?

Đáp: Tham dục, giận dữ hay che khuất Giới-phẩm. Trạo hối hay che Định-phẩm. Ngủ nghỉ hay che Huệ-phẩm. Có người vì muốn trừ che nầy nên nói đây là thiện, đây là bất thiện. Người ấy với trong đó sinh nghi là có hay là không? Nghi nầy thành tựu năng che ba Phẩm trên. Vì sức mạnh của năm món nầy che khuất ba pháp kia, nên được độc đắc danh là Che. Có hai món che sức yếu, nên phải họp hai pháp mới thành. Lại hai che nầy nhân-duyên cùng sinh, vậy nên họp lại mà nói. Năm pháp nhân-duyên ngủ nghỉ: nặng mí mắt, chẳng vui, uốn mình, ăn chẳng điều, tâm lui chìm. Nhân-duyên: trạo hối bốn pháp: là biết bà con xóm làng, biết cõi nước, biết chẳng chết, và nghĩ nhớ việc giỡn vui nói cười đã trải qua, gọi là sinh nhân. Vì thuốc trị cũng đồng, nên ngủ nghỉ cũng cũng lấy Huệ làm thuốc; trạo hối lấy Định làm thuốc. Vì che khuất cũng đồng nên hai món hợp lại che. Năm pháp nầy hoặc là che hoặc chẳng phải che; bất-thiện-buộc về cõi dục gọi là che, kỳ dư chẳng gọi là che. Năm món kiết hạ-phần là tham dục, giận dữ, giới thủ. Vì đọa xuống nên gọi là hạ phần. Như trì-ngưu-giới thành thời làm trâu, mà bất thành thời vào địa ngục. Nghi ngăn ngại ly-dục, thân kiến, bốn món căn bản, đấy gọi là năm. Lại vì tham giận nên chẳng khỏi cõi Dục; thân kiến: chẳng ra khỏi chấp ngã-tâm; giới chẳng ra khỏi hạ pháp; nghi: chẳng ra khỏi phàm phu. Lại vì tham dụcgiận dữ nên chẳng vượt khỏi cõi Dục. Nếu vượt quá bị kéo lại. Còn ba món kia chẳng vượt khỏi phàm phu, nên gọi là hạ phần. Năm món thượng phần là trạo hí phá hoại thiền-định, nên tâm chẳng tịch diệt. Trạo hí nầy tùy lấy tướng kiêu-mạn mới sinh; tâm lấy tướng nầy từ vô-minh mà sinh, nên mới có nhiễm cõi Sắc, nhiễm cõi Vô-sắc. Năm món kiết nầy bực học nhân gọi nó là đi lên, nên gọi thượng phần. Năm món kiết nầy đối với trong tâm kẻ học nhân mà nói, chứ chẳng vì phàm phu.

Hỏi: Cớ sao trạo-hí ở trong cõi Sắc, vô-sắc mà nói là kiết, mà cõi Dục chẳng nói?

Đáp: Trong kia không có thô phiền-não, nên trạo-hí rõ rệt. Lại trạo-hí nầy có sức phá Định, nên gọi là kiết. Dứt được thượng-phần nầy thời được giải-thoát; và có người với trong cõi Sắc và Vô-sắc sinh tưởng giải-thoát. Vì muốn ngăn lầm nầy, nên mới nói có thượng-phần kiết. Năm món Xan: trụ-xứ-xan, gia-xan, thí-xan, xưng-tán-xan, và pháp xan. Trụ-xứ-xan: là chỉ mình ta ra vào chỗ nầy, chẳng cho người khác. Gia-xan: là chỉ mình ta ra vào nhà nầy, chẳng cho ai cả; dẫu có ai ở trong đây ta là hơn họ; Thí-xan: là ta ở trong đây độc-đắc của bố-thí, chẳng cho ai hết, dẫu có ai nữa, đừng cho hơn ta.; Xưng-tán-xan; là chỉ khen ngợi mình ta, đừng khen ai hết; dẫu có khen ai cũng đừng hơn ta; Pháp xan: là chỉ độc nhất mình ta biết nghĩa mười hai bộ kinh, và biết sâu sắc nghĩa bí-mật mà chẳng nói cho ai hết.

Hỏi: Năm món xan tham nầy có những lỗi gì?

Đáp: Trụ-xứ ấy thảy là cọng-hữu của nhiều người. Người nầy đã từng bỏ nhà mình, đến ở chỗ cọng-hữu lại sinh tâm keo rít bủn xỉn là tệ phiền-não. Lại người ấy đối với trong pháp giải-thoát trọn không có phần. Tại vì sao? Vì người ấy trong pháp cọng-hữu hãy còn chẳng xả được, huống chi năng xả được tự thân ngũ-ấm ư? Lại người nầy sinh đọa ngạ quỷ thảy các chỗ ác. Lại người nầy vì lợi dưỡng che tâm, thời kiêu-mạn, khinh dễ các người lành, nên đọa địa ngục. Lại vị phá-hoại kẻ khác bố-thí, nên dẫu tái-đắc nhân-thân là bị nghèo cùng. Lại vì xan tâm làm dứt mất công đức kẻ thí, và vật thí kẻ thọ, nên bị trọng tội. Nếu xan lẫn pháp thì bị tội báo đui mù thảy, chỗ gọi mù từ trong bụng mẹ và sinh vào chỗ nhiều kẻ oán, chẳng được tự-tại; lại mất Thánh-thai, là kẻ oán tặc ba đời mười phương của các Đức Phật. Thường qua lại sinh tử làm kẻ ngu-si người lành tránh xa. Vì xa lìa người lành nên không điều ác nào cũng gây. Ác có ba thứ: ác ác, đại ác, và ác trong ác. Ác ác: là giết, trộm thảy. Đại ác là tự giết mình, cũng dạy người tự giết. Tự keo rít cũng dạy người rít. Ác trong ác là tự lẫn pháp cũng dạy người lẫn pháp.

Người nầy lẫn Pháp khiến nhiều người đọa vào ác. Cũng là diệt-Đạo Phật-Pháp. Như trong kinh nói trụ-xứ-xan có năm lỗi: Vị thiện Tỳ-kheo chưa đến chẳng muốn đến; đã đến thời nhăn nhó chẳng vui: nghĩ muốn khiến đi; cất dấu thí vật của Tăng; các thí vật của chư Tăng sinh tâm ngã-sở. Gia-xan có năm: Vì tham đắm nhà cửa nên cộng đồng buồn vui với kẻ thế gian; dứt việc làm phước của kẻ thế-gian; dứt kẻ thọ giả được của thí; vì dứt hai điều này nên sinh làm con quỉ ở trong chuồng tiêu nhà ấy. Thí-xan có bốn lỗi: thường thiếu thốn vật nuôi sống, phá hoại lợi hại người, mắng nhiếc người lành, tâm thường ôm lo buồn. Khen-ngợi-xan-tham có năm lỗi: nghe khen người khác tâm thường vẩn-đục; trong trăm trăm ngàn đời thường không tịnh-tâm; hủy nhục người lành, tự cao thân mình; diềm thấp người ta; khiến thường mang tiếng xấu. Lại tất cả xan-tham chung có những lỗi này: chứa nhóm nhiều vật, sợ hãi đại chúng, ganh ghét nhiều người, tâm thường vẩn-đục, thân thường cô độc, sinh vào nhà nghèo hèn. Như thế nhiều vô lượngtội lỗi năm món xan-tham. Năm món tâm trồng: nghi Phật, nghi Pháp, nghi giới và nghi giáo hóa, hoặc có Tỳ-kheo được Phật và các vị Đại-nhân khen ngợi, người nầy liền đem ác-khẩu sàm-báng, châm-chích. Đấy gọi là năm món. Nghi Phật: Khởi nghĩ như vầy: Phật là lớn hay Phú-Lan-Na thảy là lớn? Nghi pháp; Phật Pháp là hơn hay giới kê-cẩu thảy của ngoại đạo là hơn? Nghi giáo hóa: dạy phép đếm hơi thở thảy là năng đến Nê-Hoàn hay chăng? Sàm báng châm-chích; là đem tâm giận dữ không chút kính nể mà xâm hại người lành. Người này bị năm pháp ấy làm bại hoại tâm, chẳng kham trồng các căn lành, nên mới gọi tâm trồng.

Hỏi: Người ấy vì sao đối với Phật thảy sinh nghi?

Đáp: Người nầy bất năng đa văn, vậy nên sinh nghi. Nếu những kẻ đa-văn thời nghi ngờ mỏng ít. Và người nầy ngu-si vô-tri chẳng biết phân biệt Phật-pháp và dị pháp, vậy nên sinh nghi. Lại người nầy đối với Phật-Pháp, chẳng năng được ý-vị, vậy nên sinh nghi. Lại chẳng học chẳng đọc các sách Vi-đà mà chỉ nghe người khen ngợi rồi sinh tâm quý-trọng. Lại người này đời đời tà-nghi nặng nhiều, vì tâm thường vẩn-đục nên đối với Phật thảy sinh nghi, như kẻ thị giả của Đức Phật tên Tô-Na-Sát-Ba-La. Lại người nầy cùng với nhiều người tà-kiến cọng đồng sự nghiệp, nên họ khiến sinh nghi, lại người này vì đọc-tụng Vi-già-đà-hòa-la-na thảy các kinh tà-kiến, nên chính-trí-huệ bị hỏng, vậy nên sinh nghi. Lại người nầy với các pháp-nghĩa ưa sinh tà-niệm, chẳng năng lãnh được ý của kẻ tác giả kinh điển, vậy nên sinh nghi. Lại người nầy thủy chung chẳng năng được công-đức tự lợi. Vì những duyên cớ này nên đối với Phật thảy sinh nghi. Năm món tâm trói: Nếu người vì chẳng lìa thân dục nên sinh tham đắm. Thân chẳng lìa năm món dục nên tham đắm dục. Lại cùng với những người tại-gia xuất gia hòa hợp, đối với trong Thánh-ngữ-nghĩa tâm chẳng vui mừng; được chút lợi sự tự cho là đủ. Bốn món trói trong đây bởi tham dục mà khởi. Nếu người vì chẳng lìa nội thân-dục nên đối với ngoại cảnh, trong Sắc thảy sinh đắm nhiễm, vậy nên ưa cùng đông người ồn náo hòa hợp. Vì ưa ồn náo nhiệt nên với trong Thánh-ngữ-nghĩa chỉ cho pháp tịch-diệt, tâm chẳng ưa vui. Vậy nên đối với trì-giới đa-văn và thiền-định thảy được chút ít lợi-sự tự cho là đủ. Vì tham đắm chút lợi-sự nầy nên bỏ mất đại-lợi. Kẻ trí chẳng nên tham đắm lợi nhỏ mà tổn hại lớn. Người nầy nếu lìa tám nạn thì còn bị nạn nan-đắc nhân-thân. Vậy nên cần phải nhất-tâm siêng-năng tinh-tiến. Lại pháp phàm phu chẳng khá tin vậy. Nếu lìa cụ-túc nhân-duyên nầy, hoặc có duyên thừa thời trọn chẳng còn năng vào được Thánh-Đạo. Lại chẳng tham tiểu lợi thời năng được quả-báo xuất gia; đến khi lâm chung cũng chẳng ăn-năn; cũng được lợi mình lợi người. Lại người nầy với trong công-đức hãy chẳng tham đắm huống là ác-pháp, nên mới gọi là chính-hành. Lại lầm mỗi phàm-phu không thể thấm nhiễm được.

Hỏi: Lỗi phàm-phu là thế nào?

Đáp: Trong kinh nói: “Kẻ phàm phu cần lấy hai mươi pháp tự uốn dẹp nơi tâm. Nên nghĩ vầy: “1- Ta chỉ hình-thức ăn mặc khác với kẻ tục; 2- Trọn không sở đắc; 3- Ta sẽ vì bất thiện mà chết mất; 4- Và sẽ đọa vào biển rất sợ hãi; 5- Sẽ phải đến chỗ sợ sệt; 6- Chẳng biết chỗ không sợ; 7- Cũng chẳng biết Đạo-Pháp; 8- Chẳng được thiền-định; 9- Hằng chịu khổ thân; 10- Khó lìa tám nạn; 11- Kẻ oán tặc thường đuổi theo; 12- Các đường đều mở chưa thoát đường ác; 13- Thường bị vô lượng các tà-kiến trói buộc; 14- Với tội ngũ-nghịch chưa thể đề phòng; 15- Vô thủy sinh tử chưa có ngằn mé; 16- Chẳng gây thì chẳng được tội phước; 17- Thiện ác thay thế nhau chẳng được; 18- Chẳng tu pháp lành quyết không an ổn; 19- Đã gây lành dữ trọn chẳng tiêu mất; 20- Ta sẽ vì chẳng điều phục để đến chết”. Đây là hai mươi pháp chẳng thể ô nhiễm được. Lại việc đáng làm kẻ nầy đã làm xong, nên tâm chẳng ăn-năn. Nếu là kẻ tham đắm thời chẳng năng thành pháp tại-gia và xuất-gia. Vậy nên chẳng nên tham đắm tiểu lợi. Bảy món sử:

Hỏi: Các phiền-não sao gọi là sử?

Đáp: Trong sinh tử nối nhau thường đeo bám theo chúng sinh, nên gọi là sử. Giống như bà nhũ-mẫu thường theo tiểu-nhi; như bịnh sốt rét chưa khỏi: như mắc nợ ngày càng sinh lãi; như chuột độc chưa trừ; như tướng đen tấm sắt nóng; như mộng hột lúa; như tự ký giấy ở tớ; như kẻ đoán sự chứng nhân; như trí-huệ lần chứa; như nghề-nghiệp thường tập; như lửa đèn thường nối nhau. Cứ như thế thứ lớp nối nhau luôn mà tăng-trưởng nên gọi là sử.

Hỏi: Sử nầy tương-ưng với tâm hay chẳng tương-ưng?

Đáp: Tương-ưng với tâm Tại vì sao? Vì đã nói tham thảy là sử-tướng. Các sử-tướng nầy cùng với mừng tương-ưng. Nếu với lòng mừng chẳng tương ưng. Việc nầy chẳng phải lẽ. Vì mừng nầy hoặc ở trong lạc-thọ gọi là tham-sử. Lại tham là đắm nhiễm. Mà trong tâm chẳng tương-ưng thời không nghĩa đắm nhiễm. Nên biết các sử cùng với tâm tương-ưng.

Hỏi: Chẳng phải thế. Các sử chẳng phải tương-ưng với tâm. Tại vì sao? Vì trong kinh nói: “Tiểu nhi dâm tâm hãy không có huống năng dâm dục mà cũng bị dục-sử sai khiến”. Lại nói chẳng nghĩ chẳng phân biệt cũng có duyên thức trụ vậy. Lại trong kinh nói: “Khi dứt thân kiến các sử đều dứt hết”. Lại Thánh đạo và phiền-não chẳng được đồng thời. Vậy nên Thánh-đạo sinh, thời tâm bất tương ưng sử dứt. Nếu chẳng phải như vậy, thời Thánh-Đạo dứt những gì? Lại nếu không tâm nào chẳng tương-ưng với, thời phàm phu, học nhân hoặc khi ở tâm thiện, tâm vô-ký lẽ phải là A-La-Hán? Lại sử là nhân trói buộc; bị trói thời sử hừng thịnh vậy. Cho nên biết các sử chẳng tương ưng với tâm. Lại nếu người ở trong tâm thiện, vô-ký cũng gọi có sử; nếu kẻ vô tâm chẳng tương-ưng với sử, cớ sao gọi có sử được? Vậy nên biết các sử chẳng tương ưng với tâm?

Đáp: Chẳng phải vậy. Người nói tiểu-nhi không dục cũng có tham-sử. Việc nầy chẳng phải lẽ. Tiểu-nhi chưa được thuốc trừ tham, tham dục chưa hết, nên bị tham sử sai khiến, như người bệnh vì quỷ, tuy khi chưa phát hiện, cũng gọi người bệnh quỷ. Tại vì sao? Vì bệnh nhân chưa được chú-thuật, thuốc men để trừ bệnh chứng vậy. Cũng như bệnh sốt bốn ngày một độ, tuy hai ngày chẳng phát, cũng gọi là người bị bệnh sốt; cũng như hạch chuột chưa trừ lành, nên khi nghe tiếng sấm thời phát hiện. Như vậy chẳng luận trong tâm nào, chưa được thuốc trừ sử đều gọi là chẳng dứt. Các câu hỏi khác cũng như đã chung đáp. Ngươi nói chẳng nghĩ, chẳng phân biệt cũng có duyên thức trụ ấy. Cũng vì chưa dứt sử vậy. Ngươi nói thân-kiến cùng sử đều dứt ấy. Ngươi cho trói là tương ưng với tâm khi chưa sinh cũng dứt. Sử cũng như vậy, tuy khi Thánh-Đạo không có, cũng gọi là dứt, vì được pháp trái nhau vậy. Ngươi nói Đạo với phiền-não chẳng đồng thời ấy. Cũng chưa dứt nên nói năng có. Ngươi nói phàm-phu, học-nhân hoặc ở tâm thiện, vô-ký lẽ phải là A-La-Hán ấy. A-La-Hán đã dứt người nầy vì chưa dứt vậy, như người chẳng thọ pháp đoạn-nhục, tụy chẳng ăn thịt, nhưng chẳng gọi là kẻ đoạn-nhục. Lại có vô-minh tà-niệm, tà tư-duy thảy nên phiền-não nào chưa dứt thời sinh. A-La-Hán vì không nhân nầy, nên chẳng đồng mọi người. Lại người nói bị trói thời sử hừng. Thịnh việc nầy chẳng phải lẽ. Các phiền-não vì từ pháp hạ, trung, thượng nên hừng-thịnh, chứ chẳng phải bị trói vậy. Ngươi nói người ở tâm thiện, vô-ký gọi có sử ấy. Cũng vì chưa dứt nên gọi có sử. Vì những duyên do nầy nên mới tham thảy các sử chẳng phải chẳng tương-ưng. Tám tà-đạo, tà-kiến cho đến tà-định, vì chẳng như thật biết, hiểu biết trái ngược nên gọi là tà-kiến cho đến tà-định.

Hỏi: Chính mạng với tà-mạng chẳng lìa nghiệp thân khẩu. Cớ sau nói riêng?

Đáp: Kẻ xuất-gia khó dứt tà-mạng, vậy nên phải nói riêng. Tà-mạng: Là dùng dối gạt thảy năm pháp năng được lợi dưỡng, nên gọi tà-mạng. Tóm tắt lại mà nói: Các người xuất gia đều chẳng nên làm nghiệp nuôi sống như những việc sứ-giả cho Vua, buôn bán, thầy thuốc thảy, và chẳng nên lấy tiền gạo thảy của chúng-sinh. Nếu lấy đều gọi tà-mạng. Lại trong Luật cấm lấy đấy làm kế tự-hoạt, đều gọi là tà-mạng. Như trong kinh nói Ưu-bà-tắc chẳng nên buôn-bán năm thứ.

Hỏi: Lấy gì nuôi sống?

Đáp: Đúng như pháp xin cầu. Lấy đấy sinh sống chẳng nên tà-mạng. Tại vì sao? Vì tâm bất-định thời hủy hoại thiệu pháp bất kham tu Đạo vậy. Lại kẻ hành-đạo nên nghĩ như vầy: Vào trong Phật-Pháp vì mục đích tu Đạo, chẳng vì sinh sống. Vậy nên kẻ vui thiện-pháp nên tu tịnh-mạng. Lại Tỳ-kheo nên an-trụ trong pháp Tỳ-kheo, nếu làm tà-mạng thời chẳng phải pháp Tỳ-kheo.

PHẨM CỬU-KIẾT THỨ 137 

Ái thảy chín món gút.

Hỏi: Tại sao trong các món kiến riêng nói hai món thủ? 

Đáp: Giới-thủ khó lìa khỏi, in như khúc gỗ nổi trôi vào trong dòng nước xoáy, khó mà giải-thoát ra được. Người nầy cũng vậy, họ nghĩ như vầy: Tà nhờ trì-giới nầy sẽ sinh lên trời. Vì lẽ ấy nên họ đành chịu nhào xuống vực sâu, gieo mình vào lửa, tự nhào đầu xuống vực cao thảy nhiều thứ hành khổ. Lại người thế-gian đối với trong giới-thủ chẳng thấy lầm lỗi, nên Phật nói là gút. Lại có thể nương giới thủ nầy có thể bỏ tám chính-đạo. Lại đấy chẳng phải chính-đạo, nên gọi tùy-khổ-biên. Lại giới-thủ là trói kẻ xuất-gia; các dục trói kẻ tại-gia. Lại kẻ giới-thủ tuy có tu các pháp xuất-gia, mà luống không được gì cả. Lại kẻ giới thủ nay chẳng được vui, sau chịu đại-khổ, như trì-ngưu-giới thành thời làm trâu, bại thời đọa địa ngục. Lại bởi giới-thủ nầy có thể hủy-báng chính-đạo và kẻ tu chính-đạo. Lại giới-thủ là chỗ các ngoại đạo sinh khởi kiêu mạn; họ khởi nghĩ như vầy: Ta nhờ pháp nầy năng thắng mọi người. Lại vì giới-thủ nên 69 phái đều có pháp sai khác nhau. Lại giới-thủ là thô dễ thấy nên nhiều chúng-sinh tu; Đạo trí huệ mầu-nhiệm khó thấy, nên người đời chẳng biết tu để được lợi ích. Lại kiến-chấp nầy năng lôi kéo lòng người, nên những kẻ ngu-si phần nhiều tu pháp nầy. Lại đấy gọi là trọng-ác-kiến. Vì nghịch với chính-đạo mà hành phi-đạo vậy. Sở dĩ kẻ kiến-thủ tham đắm tà-pháp chẳng bỏ lìa được là vì sức mạnh của nó vậy. Lại vì sức kiến-thủ nên gút càng thắt chặt thêm.

Hỏi: Trong kinh Đế-Thích vấn, vì sao chỉ nói Người Trời còn hai gút xan và tật.

Đáp: Hai món phiền-não nầy là bỉ-ổi tệ lậu lắm. Tại vì sao? Vì thấy các chúng-sinh đói khát khổ-não, vì lòng bủn-xỉn nên chẳng hay thương xót cứu giúp; thấy kẻ nào đắc thắng cũng sinh tâm ganh ghét, lòng ôm nóng nảy. Vì những lý-do nầy nên đọa vào chỗ nghèo hèn, xấu-xí không chút oai đức. Lại vị Thích-Đề-Hoàn-Nhân hai gút nầy nặng nhiều hằng đến làm não tâm, nên Phật vì nói. Lại hai gút nầy là nhân-duyên trọng tội. Tại vì sao? Vì bởi hai gút nầy mà khởi trọng ác-nghiệp vậy. Lại trong ba món độc, tham giận năng khởi trọng tội: Tham giận thịnh nên mới khởi hai gút nầy. Lại hai gút nầy năng não hại nam nữ. Lại khó bỏ lìa. Tại vì sao? Vì nếu thâm tu thiện tâm mới có thể dứt hẳn tính ganh ghét; thâm tu bố thí nhiên hậu dứt hết lòng bủn-xỉn. Vì chẳng thấy nghiệp báo mà năng xả trọng vật đó là việc rất khó, như người thấy con đắc thắng việc hơn mình, lòng còn khó mừng, huống là kẻ địch. Vì hai gút nầy nương hai tính ghét ưa, nên rất khó trừ dứt. Vì những lý-do nầy nên Phật nói riêng.

PHẨM TẠP-VẤN THỨ 138

Luận giả nói: Tất cả phiền-não phần niều nhiếp thuộc trong mười món sử, vậy nên phải nhân nơi mười sử mà tạo luận. Mười sử: tham, giận, mạn, vô-minh, nghi và năm món kiến.

Hỏi: Mười phiền-não đại-địa pháp nầy, chỗ gọi chẳng tin, biếng nhác, nhớ bậy, tán tâm, vô-minh là phương tiện, tà-niệm, hiểu bậy, giỡn cợt, buông-lung. Pháp nầy thường chung cùng với tất cả tâm phiền-não. Việc ấy thế nào?

Đáp: Trước đã phá tương-ưng, chỉ tâm pháp mỗi mỗi sinh vậy nên chẳng phải lẽ. Lại đấy là phi-đạo-lý. Tại sao biết được? Hoặc có tâm bất-thiện cùng tín bất-thiện chung; hoặc có tâm bất-thiện mà không tín. Tinh-tiến thảy cũng như vậy. Cho nên biết chẳng phải tất cả trong tâm phiền-não có mười pháp nầy. Lại người nói ngủ-nghỉ và trạo hí ở trong tất cả tâm phiền-não, cũng chẳng phải lẽ. Nếu tâm mê chìm, bấy giờ mới có ngủ nghỉ, chứ chẳng phải ở trong tâm trạo-hí. Có những lỗi như vậy.

Hỏi: Trong cõi Dục có mười phiền-não. Cõi Sắc và vô-sắc trừ sân, còn dư thừa tất cả. Việc nầy thế nào?

Đáp: Trong ấy cũng có ganh ghét thảy. Tại vì sao biết được? Trong kinh nói có vị Phạm-Vương bảo các Phạm-chúng rằng; “Các ngươi đừng đến Cù-Đàm Sa-môn, các ngươi chỉ ở đây với Ta tự sẽ được hết ngằn mé già chết”. Đấy là ganh ghét. Vì có ganh ghét nên phải có giận dữ. Lại kinh nói Phạm-Vương nắm tay Tỳ-kheo khiến ra khỏi chúng Tăng, rồi bảo rằng: Tỳ-kheo! Ta cũng chẳng biết tứ-đại ở chỗ nào diệt hết không còn. Như vậy đem tâm dua dọc gạt các Phạm-chúng đấy gọi là dua dọc. Như nói ta kẻ tôn quý tạo ra muôn vật. Đấy là kiêu mạn buông-lung. Những điều như vậy, trong ấy cũng có những ác phiền-não, nên phải biết cũng có bất thiện. Có ông Luận-sư nói: Nếu tham phụ mẫu và Hòa-thượng, A-Xà-Lê thảy gọi là thiện tham; tham của vật người khác thảy gọi là bất-thiện tham; chẳng làm tổn ích người khác gọi là vô-ký tham. Giận pháp bất-thiện và ác-tri-thức thảy gọi là giận lành; nếu giận thiện-pháp và chúng-sinh gọi là giận chẳng lành; nếu giận vật phi chúng-sinh gọi là giận vô-ký. Nếu nương ngạo-mạn để dứt ngạo mạn gọi là mạn lành; khinh chúng-sinh gọi là khinh chẳng lành. Vô-minh thảy cũng như thế. Lại có Luận-sư khác nói: Nếu như thiện chẳng gọi phiền-não.

Hỏi: Thân-kiến ở cõi Dục phải gọi vô-ký. Tại vì sao? Vì nếu thân-kiến là bất-thiện thời tất cả phàm phu đều sinh ngã-tâm, chẳng khá khiến đều đọa địa ngục, nên gọi vô-ký. Việc ấy thế nào?

Đáp: Thân-kiến là căn-bản của tất cả phiền-não, làm sao gọi vô-ký được! Lại người nầy đọa là vì người khác nói có Thần-ngã, bấy giờ làm sao được gọi vô-ký? Biên-kiến cũng như thế.

Hỏi: Nếu chuyển người tà-kiến sang đọa vào trong Nghi, người nầy là bất-thiện chăng?

Đáp: Người ấy chẳng phải là bất-thiện. Tại vì sao? Vì thà đọa trong nghi chẳng vào tà-kiến.

Hỏi: Có người nói tất cả phiền-não buộc cõi Dục năng khiến Dục-hữu nối nhau; buộc cõi Sắc và vô-sắc cũng như thế. Việc ấy thế nào?

Đáp: Chỉ Ái năng khiến các Hữu nối nhau, vì trước mừng rồi sau mới sinh vậy. Lại nói Ái là nhóm khổ; cũng nói ái ưa uống ăn tham dục thảy nên tùy theo chỗ mà thọ-sinh. Trong tà-kiến thảy không có nghĩa như vậy. Tuy trong kinh nói khinh-mạn nhân-duyên sinh. Cũng trước mạn sau ái nên mới sinh. Giận cũng như thế. Cho nên biết đều bởi ái nên các Hữu nối nhau.

Hỏi: Trong các phiền-não có mấy thứ thấy đạo-lý dứt, mấy thứ suy nghĩ dứt?

Đáp: Tham, sân, mạn và hai món vô-minh, thấy đạo-lý và suy nghĩ dứt; kỳ dư sáu món chỉ thấy đạo-lý là dứt.

Hỏi: Kẻ học-nhân cũng có ngã-tâm. Nếu biết chẳng thị-hiện tướng đó thôi, vì học-nhân một phần thân-kiến chưa dứt?

Đáp: Đấy là mạn chẳng phải kiến; kiến là tướng thị-hiện.

Hỏi: Có người nói bủn-xỉn, ganh ghét, hối tiếc, dua dọc thảy chỉ suy nghĩa dứt. Việc ấy thế nào?

Đáp: Đấy đều là pháp đi đôi, cũng chẳng thấy đạo-lý và suy nghĩ dứt. Tại vì sao biết được? Như Ni-Kiền-Tử thảy vì thấy đệ-tử Phật được cúng-dường nên sinh tâm ganh ghét. Tâm ganh ghét nầy thấy Đạo thời diệt. Nên biết lý thấy Đạo-lý là dứt ngay. Có người từ trước đối với đệ-tử Phật, sẻn tiếc chẳng thí vì được thấy đạo nên bèn năng cúng thí. Sẻn tiếc nầy thấy đạo là dứt. Như Tô-Na-Sát Đa-La thảy, hối tiếc cũng thấy đạo là dứt. Như Tu-Đà-Hoàn nhân-duyên đọa địa ngục thảy và thọ thân đời thứ tám, dua dọc thảy cũng thấy đạo-lý mới dứt.

Hỏi: Các phiền-não có mấy thứ thấy khổ-Đế dứt, mấy thứ thấy Tập, Diệt, Đạo đế dứt, và mấy thứ suy nghĩ dứt?

Đáp: Trước đã nói thấy đạo-lý dứt sáu sử. Bốn món, tháy khổ-Đế dứt, thấy Tập, Diệt, Đạo đế dứt. Kỳ dư bốn sử năm món.

Hỏi: Thân-kiến, biên-kiến chỉ thấy khổ-Đế dứt; giới-thủ hai món, thấy Khổ thấy Đạo dứt. Việc ấy thế nào?

Đáp: Các phiền-não thật khi thấy Diệt đế mới dứt.Vậy nên thân kiến thảy chẳng phải chỉ thấy Khổ-Đế mà dứt được. Lại thân-kiến đối với bốn Đế hiểu sai lầm: ngũ-ấm vô thường do nhân-duyên sinh, ngã chẳng phải vô thường, chẳng do nhân sinh; ngũ-ấm có diệt mà ngã không diệt. Đạo-đế cùng với ngã kiến là pháp trái nhau. Vậy nên tham kiến bốn món bị dứt. Biên-kiến cũng bốn món dứt. Tại vì sao? Vì hành-giả thấy khổ đế do tập-đế sinh thời dứt đoạn-kiến. Kiến-chấp do Đạo-đế được dứt, thời dứt thường kiến. Giới thủ cũng có bốn món: có nhân có quả, vậy nên khi thấy khổ-đế biết giới nầy là khổ, chẳng nhờ đấy mà được thanh-tịnh. Phải là thấy khổ-đế mới dứt. Biết giới nầy là nhân khổ, chẳng nhờ đấy mà được tịnh. Phải là thấy Tập-đế mới dứt. Vì tà-kiến bài báng Nê-Hoàn: Cho rằng nhờ kiến chấp nầy được tịnh. Phải là thấy diệt-đế mới dứt. Bởi đấy mà bài-báng Đạo. Phải là thấy đạo-đế mới dứt. Như kiến-thủ nương tà-kiến nên có bốn món, giới-thủ cũng như thế.

Hỏi: Nếu như vậy thời chẳng gọi 98 món sử?

Đáp: Các sử tùy bực mà dứt, chẳng tùy cõi nên chẳng hạn số 98.

Hỏi: Tham, mạn và trừ tà-kiến còn bốn biến kia đều tương ứng vói ba căn, trừ khổ-căn ưu-căn; giận dữ cũng tương ứng với ba căn, trừ lạc-căn hỷ-căn ; vô-minh tương-ưng với năm-căn; tà-kiến, nghi tương ưng bốn căn, trừ khổ căn; giận, che dấu tội, xan ganh chẳng tương ưng với ưu-căn. Việc ấy như thế nào?

Đáp: Trước đã phá không có tương ưng vậy. Ra sau sẽ nói. Trong năm Thức không có phiền-não vậy. Lại trong pháp ngươi tham tương-ưng với hỷ-căn, mà xan chẳng phải như vậy. Đấy là không lý do, vì xan là một phần tham vậy. Như vậy kiêu mạn chẳng cùng tương ưng với ưu-căn cũng không lý do. Vậy nên biết chỗ lập luận của các ngươi đều tự nhớ tưởng phân-biệt.

Hỏi: Có người nói thấy khổ-đế dứt được năm món kiến; nghi và tham, sân, mạn chẳng tương-ưng với vô-minh. Và tập đế dứt được tà-kiến, kiến thủ; nghi và tham, sân, mạn chẳng tương ưng vô-minh. Đấy gọi là sử biến khắp, kỳ dư chẳng phải khắp. Việc ấy thế nào?

Đáp: Tất cả biến khắp. Tại vì sao? Vì tất cả đều chung nhân duyên nhau vậy. Lại đối với trong tà-kiến của mình sinh tâm tham, chỗ gọi không khổ cho đến không Đạo. Tham đắm kiến-chấp nầy mà lấy làm tự-cao; nếu nghe nói khổ thời sinh ghét giận. Lại tham nầy năng duyên diệt-đế, sân cũng năng ghét giận Nê-Hoàn; cũng lấy Nê-Hoàn sinh tâm tự cao. Đạo cũng như vậy. Phải biết các sử khác cũng có năng biến khắp. Lại phiền-não buộc cõi Dục năng duyên cõi Sắc, như bởi tham nên mừng, bởi sân nên oán-ghét; vì lấy pháp kia tự cao, cũng lấy đó cho là hơn, chẳng phải chỉ cõi Dục vậy. Như phiền-não cõi Dục năng duyên cõi Sắc; phiền-não kiến thảy cõi Sắc cũng năng duyên cõi Dục. Cõi Vô sắc cũng như vậy. Lại phiền-não nầy đều có thể có tướng chung tướng riêng. Tại vì sao? Vì tham cũng năng có tướng chung nhiễm như cả bốn thiên hạ. Lại như kinh Trường-Trảo nói: Tất cả nhẫn là tham, tất cả bất-nhẫn là sân”. Cũng lấy phiền-não nầy tự-cao, vì phiền-não nầy đều năng khởi nghiệp thân khẩu vậy. Tại vì sao? Vì trong kinh nói: “Sinh tâm thấy biết như vậy, nói việc như vậy.” Nghĩa là có Thần thảy. Lại tất cả phiền-não nầy do trong Thức thứ sáu, trong năm thức kia không có. Tại vì sao? Vì tưởng đi trong thức thứ sáu, nên tất cả phiền-não đều do tưởng mà sinh. Nếu chẳng phải như vậy, thời thân-kiến thảy lý-ưng ở trong năm thức. Tại vì sao? Vì mắt thấy sắc bảo “ta năng thấy”. Nghi nạn thảy cũng như vậy.

Hỏi: Trong kinh nói sáu ái-chúng. Tại sao nói trong năm thức kia không phiền-não?

Đáp: Như sáu ý-hành đều đi trong ý-thức. Chỉ nhờ mắt thảy mở cửa và dẫn đem, nên mới gọi sáu ý-hành. Việc nầy cũng vậy. Lại trong ý-thức có bao phân biệt nhân-duyên, mà trong năm thức kia không có. Nên biết trong năm thức kia không phiền-não vậy.

PHẨM ĐOẠN QUÁ THỨ 139

Hỏi: Có người nói các phiền-não có chín bực: hạ, trung, thượng: hạ hạ, hạ trung, hạ thượng; trung hạ, trung trung, trung thượng; thượng hạ, thượng trung, thượng thượng. Trí cũng có chín bực. phiền-não nầy trước đoạn thượng thượng, sau cùng đoạn hạ hạ. Đem trí hạ hạ đoạn phiền-não thượng thượng; cho đến đem trí thượng thượng đoạn phiền-não hạ hạ. Việc ấy thế nào?

Đáp: Dùng tâm nhiều vô lượng đoạn các phiền-não. Tại vì sao? Trong kinh Phật nới: “Vì như kẻ thợ khéo, tay cầm cán rìu, mắt thấy chỗ ngón mắn, tuy hằng ngày chẳng hay phân biệt mòn hết bao nhiêu; nhưng khi mòn hết nốt mới hay là mòn hết. Tỳ-kheo cũng vậy, khi đang tu Đạo, tuy chẳng phân biệt biết ngày nay diệt được hết bao nhiêu phiền-não, ngày hôm qua diệt hết bao nhiêu; nhưng đến khi diệt hết nốt mới biết là hết”. Cho nên biết phải dùng vô-lượng trí diệt mới hết các phiền-não chứ chẳng phải tám hay chín gì cả.

Hỏi: Nương dựa Định nào, diệt những phiền-não này?

Đáp: Nhờ bảy chỗ y-xứ diệt được phiền-não. Như trong kinh Phật nói: “Nhờ sơ-thiền lậu hết, cho đến nhờ vô-sở-hữu xứ hết lậu”. Lại lìa bảy chỗ nương nầy cũng có thể hết lậu, như trong kinh Tu-thi-ma nói lìa bảy chỗ nương cũng hết lậu. Cho nên biết trong Định cõi Dục cũng được hết lậu.

Hỏi: Thấy Đạo-lý phiền-não mới đoạn, chứ chẳng cần nưong Định vô sắc mà đoạn, vì lẽ hành-giả nầy hoại sắc-tướng rồi vậy?

Đáp: Việc nầy trước đã đáp rồi, nghĩa là vô-sắc-Định năng duyên sắc.

Hỏi: Vì là trước từ sơ-thiền rồi thứ lớp lìa dục đến nhị thiền thảy là đồng thời hay sao?

Đáp: Cần phải thứ lớp, vì lìa sơ-thiền muốn sinh nhị-thiền thảy vậy.

Hỏi: Trong cõi Dục cũng có thứ lớp sao?

Đáp: Các phiền-não diệt từng mỗi niệm nên cũng cần thứ lớp. Như những người ở các cõi trời diệm-ma, khi ôm nhau thời thành dâm dục; Trời đâu suất nắm tay nhau thành dục; trời hóa-lạc miệng nói với nhau thành dục; trời tha-hóa-tự-tại xem nhau là thành dâm dục. Nên biết phiền-não cõi Dục cũng lần lữa mới dứt hết. Có người nói: Nhờ phước đức nhân duyên mà sinh về trong ấy, chứ chẳng phải nhờ dứt phiền-não, vì chỗ sở-dục được diệu vậy, nên mới có sai khác. Lại do căn đần-dộn nên ôm nhau mới thành dục; căn mãnh lợi lần nên xem nhau là thành dục.

Hỏi: Có người nói phiền-não suy nghĩ bị đoạn là lẫn lữa đoạn: Trước đoạn buộc cõi Dục, sau đoạn buộc cõi Sắc và Vô sắc. Còn thấy Đạo-lý bị đoạn là đồng thời đoạn.. Việc ấy thế nào?

Đáp: Tùy theo thấy Đạo-lý mà đoạn, nhưng thật tất cả phiền-não, thấy Diệt-đế mới đoạn. Việc nầy trước kia đã nói. Chỗ gọi thấy Đế phiền-não mới đoạn, như thân kiến thảy đều là khi thấy Diệt-đế mới đoạn. Từ Noãn-pháp trở đi, nhờ tu quán tướng ngũ-ấm vô thường thảy mới đoạn phiền-não, thấy Diệt-đế mới hết.

Hỏi: Quán Khổ buộc cõi Dục năng dứt gút cõi Dục. Tập cũng như vậy. Như cõi Dục cho đến phi-tưởng phi phi-tưởng xứ cũng như vậy. Quán Diệt cõi Dục năng dứt gút cả ba cõi. Đạo cũng như vậy. Việc ấy thế nào?

Đáp: Diệt-trí năng dứt phiền-não. Vậy nên lời ngươi nói chẳng phải lẽ.

Hỏi: Trong kinh nói vì quán ngũ-ấm vô thường thảy, nên được quả Tu-Đà-Hoàn, cho đến quả A-La-Hán. Sao ông nói chỉ quán Diệt-đế là dứt phiền-não?

Đáp: Trí quán ngũ-ấm nầy sinh diệt hợp lại mà quán nên năng dứt kiết-sử. Như trong kinh nói: “Tỳ-kheo quán sắc nầy là sắc tập, là sắc diệt”. Lại còn nói: thấy pháp biết pháp thời dứt phiền-não. Mới biết là thấy Diệt-đế nên dứt hết các phiền-não. Lại ngũ-ấm là ở trong khổ sinh các phiền-não, nếu thấy ngũ ấm diệt cho là tịch-diệt yên ổn. Như vậy là đầy đủ khổ-tưởng. Cho nên biết thấy các ấm-diệt, thời phiền-não hết. Như nói vì các pháp không thể tính, nương một xả tâm mà dứt, Không thể tính tức diệt. Nếu hành giả thấy sắc không thể tính, thời đến thức cũng không thểt tính, thời được xa lìa sâu-sắc. Lại ba môn giải-thoát đều duyên Nê-Hoàn, vì môn giải-thoát nầy năng dứt phiền-não, không còn phương-tiện nào khác hơn. Nên biết chỉ vô-vi duyên Đạo năng dứt phiền-não mà thôi. Vậy nên ngươi đã nói phương-pháp phiền-não. Việc ấy chẳng phải lẽ.

Luận giả nói: Các phiền-não có vô-lượng môn phân biệt như vậy thảy, xin kẻ cầu giải-thoát cần phải biết cho. Tại vì sao? Vì biết đấy là buộc là lỗi nên được giải-thoát; như người biết kẻ oán nên mới xa lìa được; như biết đường hiểm nên mới tránh được. Phiền-não cũng như vậy. Lại phiền-não buộc rất là chặt-chẽ lắm hơn Vua Tỳ-Ma-Chất-Đa-La A-Tu-La buộc; cho nên chúng-sinh ở cõi hữu-đỉnh cũng vẫn thường bị phiền-não buộc. Vậy nên càn biết nó là tội-lỗi. Lại chúng-sinh, cho đến cõi hữu-đỉnh vẫn lui đọa trở lại, là vì đều chẳng năng thấy biết lỗi phiền-não vậy. Lại vì chẳng dứt gút nên sinh tăng thượng-mạn: tự cho mình đã dứt. Về sau nghi hối. Vậy nên cần biết lỗi các phiền-não, đừng cho nó gạt. Lại nếu chúng-sinh bỏ lìa vui tịnh-diệu Nê-Hoàn, lại tham vui dục-lạc hèn tệ. Hễ có vui ấy đều do lỗi các phiền-não. Nếu dứt các phiền-não thời được đại lợi. Nên cần biết lỗi các phiền-não. Lại pháp mà ngăn giải-thoát tức là phiền-não. Nếu chẳng dứt phiền-não quyết không nhân-duyên giải-thoát. Tại vì sao? Vì các phiền-não là nhân-duyên có thân; tùy phiền-não có thân, tùy thân có khổ. Vậy nên kẻ cầu lìa khổ, cần phải siêng-năng tinh tiến dứt các phiền-não. 

PHẨM MINH NHÂN THỨ 140

Hỏi: Phiền-não làm nhân-duyên cho thân, việc nầy cần phải thuyết minh. Tại vì sao? Vì có các ngoại-đạo chẳng tin lẽ ấy: hoặc nói thân nầy không nhân không duyên, in như cỏ cây tự nhiên mà sinh; hoặc nói muôn vật là do đấng Tự-Tự-Tại và các Trời thảy mà sinh; hoặc nói muôn vật từ thể-tính mà sinh; hoặc vi-trần hòa hợp mà sinh. Có những lối lập-luận đại khái như thế, nên cần phải thuyết-minh?

Đáp: Từ nghiệp có thân lẽ nầy trước đã thành lập. Nghiệp ấy do phiền-não mà sinh nên mới lấy phiền-não làm nhân-duyên sinh thân.

Hỏi: Tại sao biết bởi phiền-não mà có nghiệp?

Đáp: Tùy tâm giả-danh gọi là vô-minh. Tâm giả danh ấy năng nhóm các nghiệp, cho nên biết nhân-duyên phiền-não mới có nghiệp. Lại A-La-Hán các nghiệp chẳng nhóm nên chẳng thành tựu, cho nên biết các nghiệp do phiền-não mà thành. Như trong kinh Phật nói: “Nếu người được minh bỏ lìa vô-minh; người ấy năng khởi tội nghiệp, phước nghiệpbất động nghiệp chăng? - Bạch Đức Thế Tôn! Không vậy.” Lại không có nghiệp vô-lậu, nên biết chỉ tùy giả danh năng khởi các nghiệp. Tâm vô-lậu chẳng tùy giả-danh nên chẳng khởi nghiệp. Lại kẻ học nhân không hành, như kinh nói: “Học nhân Hoàn mà chẳng hành; Diệt mà chẳng tác.” Tác tướng là hành, hành gọi là nghiệp. Lại vì tâm vô-lậu chẳng phải tướng là hành, nên không có nghiệp vô lậu. Vậy nên tất cả nghiệp thọ thân đều bởi phiền-não mà sinh. Lại kẻ dứt phiền-não chẳng còn thọ sinh. Nên biết có thân đều bởi phiền-não.

Hỏi: Tất cả chúng-sinh đều là không phiền-não, sau khi sinh mới khởi, như người khi sinh không răng, về sau mới mọc?

Đáp: Chẳng phải vậy. Kẻ có phiền-não tùy có những tướng nghĩa là khi mới sinh ra hiện có tiếng oa oa thảy. Nên biết đều cùng với phiền-não cọng sinh. Lại hiện thấy chúng-sinh phần nhiều sinh trong chuồng tiêu thảy chứ chẳng sinh trên đá bàn thạch. Phải biết vì tham đắm hương vị thảy nên mới sinh vào trong ấy. Cho nên biết do phiền-não mà sinh.

Hỏi: Trong địa ngục thảy chẳng nên sinh được. Tại vì sao? Vì không người nào tham vui trong địa ngục thảy vậy?

Đáp: Chúng-sinh vì sức mạnh ngu-si, nên ở trong tâm điên-đảo mà sinh khi sắp chết xa thấy địa ngục lầm cho là hoa ở ao do đó tham đắm, nên sinh vào trong ấy. Như trong kinh nói: “Nếu người ở trong chỗ chật hẹp ồn ào mà chết thời muốn được chỗ rộng rãi là sinh trong loài chim. Nếu kẻ chết vìa khát là sinh làm loài trùng trong nước. Nếu kẻ chết vì lạnh thời sinh trong địa ngục nước đá lạnh. Nếu tham đắm dâm-dục sinh trong loài chim sẻ. Tham đắm ăn uống thời sinh làm loài trùng trong thây chết”. Lại bởi vì chỗ tham đắm nên gây các ác. Vì các ác nhân-duyên bắt buộc chịu lấy quả-báo. Lại vì tham đắm thân nên các nghiệp năng sinh quả-báo. Tại vì sao? Vì sức mạnh ngu si tham đắm thân mình, nên sinh các phiền-não kiêu-mạn thảy. Do đấy năng nhóm thành nghiệp; vì nghiệp nên vào trong các đạo.

Hỏi: Nều vì nhân-duyên phiền-não mới có thân. Kẻ dứt phiền-não, lẽ ra ngũ-ấm chẳng còn nối nhau được?

Đáp: Thân nầy gốc do phiền-não mới sinh; phiền-não tuy hết, nhưng vì thế lực nên thân vẫn còn chẳng dứt liền. Như lấy gậy quậy bánh xe, tuy tạm bỏ gậy, nhưng bánh xe vẫn còn chạy chẳng ngừng.

Hỏi: Nếu vì thế lực phiền-não nghiệp trước nên mơi có thân. Những kẻ dứt phiền-não, cũng vì thế lực phiền-não nghiệp trước nên cũng lẽ ra thọ thân?

Đáp: Cần phải lấy tướng nên thức năng trụ. Người nầy hết thế lực nghiệp trước; nay khéo tu môn vô-tướng giải-thoát nên chẳng thọ thân sau. Lại như các hột giống ở trên hòn đá nóng chẳng sinh nảy được. Như vậy lấy lửa trí-huệ mà làm nóng các thức-xứ thời giống thức chẳng sinh, là dứt nối nhau đời sau. Lại vì các hành nhân-duyên chẳng đầy đủ nên chẳng còn nối nhau nữa. Như trong kinh Phật nói: “Thức là hột giống, nghiệp hành là ruộng, tham ái là nước vô-minh là che đậy. Vì nhân-duyên nầy nên thọ thân sau”. A-La-Hán duyên nầy chẳng đủ nên không có thân sau”. Phải biết nhân duyên phiền-não mà thọ sinh. Lại kẻ không phiền-não, có tâm biết khổ thảy. Nay những kẻ thọ sinh chẳng thấy có những tâm nầy. Nên biết kẻ không phiền-não chẳng năng thọ sinh.

Hỏi: Tu-Đà-Hoàn thảy có tâm biết khổ thảy mà khi sinh cũng chẳng thấy có?

Đáp: Các vị A-La-Hán sức trí-huệ mạnh, tất cả phiền-não chẳng năng thắng nổi, nên khi mạng sắp chết ngăn được thọ sinh. Tu-Đà-Hoàn thảy trí lực chẳng bằng, nên chẳng phải đem mà so sánh. Lại ngươi nói như răng về sau lần lần mọc, phiền-não cũng vậy. Việc ấy chẳng phải lẽ. Tại vì sao? Vì các vị A-La-Hán dùng trí-huệ vô-lậu đã đốt cháy phiền-não, nên chẳng còn thọ sinh nữa, như hột giống bị rang chẳng còn mọc được. Lại hiện thấy đời nay do phiền-não sinh thân, như do tham-dục mà thân sắc biến khác, giận dữ cũng vậy. Nên biết ngũ-ấm thân đời sau cũng do từ phiền-não mà sinh.

Hỏi: Cũng thấy do uống ăn do nhân-duyên thảy sinh có ngũ-ấm, mà sao chẳng gọi uống ăn là nhân-duyên thọ thân?

Đáp: Uống, ăn nương nhờ tâm mà năng sinh sắc thảy. Phiền-não chẳng phải như vậy. Lại vì không chỗ nương để sinh sắc thảy. Nên biết phiền-não là nhân-duyên thọ thân. Lại hiện thấy chim sẽ thảy đa dục; rắn độc thảy đa sân; loại heo thảy đa ngu. Nên phải biết các chúng-sinh ấy chắc chắn đời trước đã nhóm họp dâm-dục ấy thảy các phiền-não, nên mới sinh vào trong các loại ấy.

Hỏi: Sinh-xứ lẽ là vậy. Nhưng chẳng phải trước đã nhóm họp nhân-duyên phiền-não?

Đáp: Nếu như vậy thời dâm-dục thảy vô nhân, việc nầy không thể được. Nên phải biết do từ trước nhóm họp nhân-duyên nên mới có. Lại tham sân thảy phiền-não hùng-thịnh thời gây sát các tội. Vì tội này nên hiện chịu các khổ roi gậy trói buộc. Phiền-não, nếu mỏng thời được trì-giới tu thiện, làm các điều lành thảy. Nhờ giới thiện nầy hiện được vui tiếng khen lợi dưỡng thảy, như đời hiện này suy bại lợi-lạc đều bởi phiền-não. Nên biết đời sau sẽ cũng như thế.

Hỏi: Nếu bảo phiền-não mà có thân, thời không có sinh tử qua lại tại vì sao? Vì phiền-não thịnh nên đọa ác trong đạo. Thân đã chịu tội: phiền-não càng tăng, hẳn không nhân giải-thoát. Như thế không thể được sinh chỗ lành. Nếu thân hưởng phước là phước lại tăng lên thời chẳng còn sinh lại chỗ ác. Như vậy thời không có sinh tử qua lại?

Đáp: Người ấy tuy đọa chỗ ác, thoảng hoặc được thiện tâm; tuy sinh chỗ thiện hoặc khởi ác tâm, vậy nên sinh tử qua lại chẳng dứt. Lại tùy tham thảy phiền-não giảm ít, theo đó mà được sinh chỗ tốt; tùy tham thảy nhiều, theo đó mà sinh chỗ xấu; như heo chó thảy. Kẻ tùy phiền-não giảm sinh chỗ tốt, như vì phiền-não giảm sinh chỗ tốt, như phiền-não mỏng nên năng tu bố-thí, trì giới thảy phước sinh cõi trời Lục-Dục, vì dứt tâm dục nên mới được vui thắng Thiền. Vì sắc nhiễm nên được vui thắng Định. Mở hết tất cả gút thời được Vô tỷ Nê-Hoàn. Nên biết thân nầy bởi phiền-não mà có. Lại hiện thấy chúng-sinh quốc độ tồi tệ, và những người ác nương ở những chỗ tồi tệ đều do tham đắm. Nên biết chỗ ở chúng-sinh ở trong sinh tử cũng do tham đắm, như loại trùng nga tham sắc sáng nên bị đèn đốt cháy thân. Tham đắm ấy chẳng do trí sinh. Tại vì sao? Vì nga kia chẳng biết lửa đèn là khổ-xúc nên mới gieo mình vào. Như vậy chúng-sinh bị khổ thân sau, đều bởi vô-minh nhân-duyên tham ái nên mới sinh, như cá nuốt mồi câu; hưu nai chạy theo tiếng nhái của thợ săn, đều bị tham đắm nên mới gây ra nạn chết chóc. Lại như người vì tham đắm nên đi đến phương xa lạ mà chẳng năng hồi hương. Nên biết đều bởi phiền-não nên mới sinh. Lại như cây chẳng nhổ rễ tham là cây khổ thường còn. Như Đức Phật : “Rễ cây chẳng nhổ, dù có chặt gốc cây vẫn sinh chồi; tham sử đã nhổ, thường thường chịu khổ”. Lại thân này là bất tịnh, vô thường, khổ, không, vô-ngã; tự chẳng bởi vô-minh, có đâu kẻ trí mà tham suy-khổ nầy, giống như với kẻ mù có thể đem áo nhớp mà gạt là áo quý báu. Như vậy bị vô-minh làm mù, thời năng chịu tội lỗi ngũ ấm bất tịnh. Lại bởi ngã tâm nên thọ thân tuy khổ mà chẳng năng bỏ rời. Nếu không có ngã tâm, thời năng xa lìa. như Ngài Xá-Lợi-Phất nói: “Kẻ thanh tịnh trì giới đắc Đạo khi chết vui mừng, như phá vỡ bát thuốc độc.

Nên biết phiền-não nhân-duyên mà có thân. Lại có kẻ vì vô-trí nên tham đắm thân nầy, như lấy chiếc hòm nhỏ sơn vẽ đựng đầy đồ bất tịnh, khi mà chưa khai nắp, thời thấy khá ưa vui, nhưng khi dở ra toàn là mùi hôi thúi. Lại như rắn độc nằm đầy trong nhà tối, khi đèn chưa soi là sinh lòng vui đắm, mà khi thấy là bỏ chạy tức tốc. Chúng-sinh cũng vậy, tùy có vô-minh thời vui thế-gian nếu khi sáng mắt là tâm lìa nhàm ngao-ngán. Như vậy tham áicăn bản thọ thân. Tại vì sao? Vì tham ái nên cầu. Cầu có hai thứ: dục cầu, hữu cầu. Cầu các dục hiện tại gọi là dục cầu; lại cầu thân sau gọi là hữu cầu. Nên biết tham-ái là gốc thọ thân. Lại nếu tham dắm ngũ ấm tức sinh thân-kiến. Bảo rằng: “Ngã nầy là ngã ngữ-thủ tức lấy.” Nhân món thủ nầy mà sinh ba món thủ khác. Thủ làm nhân-duyên Hữu, tức có; hữu làm nhân-duyên Sinh, nên biết phiền-não là căn bản của thân. Lại thân nầy đều khổ. Với khổ thân nầy sinh tưởng điên-đảo là vui. Do vui điên đảo nầy sinh ái điên đảo; vì ái điên-đảo nầy mà năng thọ thân sau. Nên biết nhân-duyên tham ái mới có thân. Lại thân nầy nhờ nhân duyên ăn nên mới sống còn. Tham ăn vật thô “đoạn-thực” nên chẳng vượt khỏi cõi Dục. Như trong nghiệp-phẩm nói tham hương vị nên sinh trong chuồng tiêu thảy. Vì tham đắm xúc “xúc-thực” nên sinh trong bào-thai. Vì tham đắm xúc ấm mát, nên sinh trong trứng, chỗ ướt. Đều chẳng vượt khỏi cõi Dục. Nhân ba món xúc nầy mà sinh ba món thọ, nên mới nói xúc làm nhân-duyên thọ. Ý-tư-thực cũng như vậy. Phát nguyện muốn được thân đời sau: “Ta sẽ làm việc nầy”, Không thấy biết Thức là gốc tham ái của ăn “thức-thực” nên có thể gây thành thân sau. Bốn cách ăn như vậy đều do tham-ái. Tất cả chúng-sinh đều nhờ ăn mà sống còn, nên biết ái làm nhân-duyên cho sinh. Lại tứ sinh: sinh bằng trứng, sinh bằng thai, sinh bằng ướt, và sinh bằng biến hóa. Vì ái dâm-dục nên do trứng sinh và do thai sinh. Tham hương vị thảy nên do chỗ ẩm-ướt sinh. Tùy chỗ sở-ái nên khởi nghiệp nặng nề thời chịu hóa sinh.

Nên biết lối sinh sai khác đều bởi tham-ái. Lại bốn thứ thọ thân: Có năng tự giết mà kẻ khác chẳng năng giết, như thế thảy bốn thứ đều do tham ái sai khác nên mới có. Nên biết tham ái là nhân-duyên có thân. Lại bốn-thức-xứ: Tùy-sắc mà thức trụ, y-sắc, duyên-sắc, lấy mừng làm thấm nhuần thọ, tưởng, hành cũng như vậy. Mà chẳng nói thức là thứ-xứ, vì khi thức tỉnh là không phiền-não vậy. Vậy nên biết phiền-não nhân-duyên có thân. Lại mười hai pháp nhân-duyên đều bởi vô-minh. Tại vì sao? Vì tâm giả-danh gọi là vô-minh. Nhân vô-minh nầy mới khởi nghiệp hành: phước hành, tội hànhbất động hành. Muốn an lạc chúng-sinh gọi là phước hành; làm khổ não chúng-sinh gọi là tội hành; nhiếp tâm từ-bi thảy gọi là bất-động-hành. Tùy theo các hành nghiệp nầy mà thức trụ thân đời sau. Nương thức sinh danh sắc, lục-nhập, xúc, thọ. Bốn chi nầy là quả-báo phiền-não nghiệp đời trước. Trở lại nhân-ái nầy sinh. Ái, Thủ và Hữu là nghiệp phiền-não năng sinh Sinh, Lão và Tử thảy đời sau. Như vậy mười hai hữu-phần nối nhau, đều lấy vô-minh làm gốc. Nên biết phiền-não nhân-duyên có thân. Lại sinh tử vô-thủy. Tại sao biết được? Trong kinh nói: “Từ nghiệp nhân-duyên mới có mắt thảy các căn. Bởi ái có nghiệp, bởi vô-minh nên có ái. Vô-minh bởi nhớ nghĩ tà; nhớ nghĩ tà, trở lại nhân mắt duyên lấy sắc từ si mà sinh vậy”. Cho nên biết sinh tử luân-chuyển không đầu.

Nếu nói nhân đấng Trời Tự-Tại thảy thời chẳng có vô-thủy, việc nầy không thể được. Nên biết phiền-não nhân-duyên có thân. Lại diệt hết phiền-não thời được giải-thoát. Lại thân chúng-sinh nhiều thứ tạp loại. Nếu nhân Tự-Tại thảy lẽ ra chẳng tạp. Vì nghiệp phiền-não có nhiều thứ nên thân cũng chẳng một. Lại hai mươi căn, nhân sáu căn sinh sáu thức. Trong ấy nam nữ căn. Các pháp nầy nối nhau chẳng dứt nên gọi là mạng. Mạng nầy lấy gì làm căn? Chỗ gọi là nghiệp vậy. Nghiệp nầy nhân nơi phiền-não. Phiền-não nương thọ, nên lấy năm thọ làm căn. Như vậy sinh tử lần lữa nối nhau. Nương tín thảy các căn thảy dứt nối nhau kia. Như vậy hai mươi căn qua lại sinh tử. Nên biết đều bởi phiền-não có thân. Lại kẻ cầu giải-thoát mới sinh những phẩm: Giới-Định-Huệ, giải-thoát, giải-thoát-tri-kiến. Dùng những pháp nầy để làm gì? Để đều vì diệt các phiền-não. Kẻ Trí thấy lợi-ích ấy nên mới nương các phẩm nầy. Nên biết nhân-duyên phiền-não có thân. Lại có phiền-não thứ lớp diệt hết: Diệt ba gút được quả Tu-Đà-Hoàn; mỏng lần tham-dục thảydc quả Tư-Đà-Hàm; diệt hết gút cõi Dục được quả A-Na-Hàm. Trong các thiền-định cũng như vậy: thứ lớp tất cả đều thời chứng được quả A-La-Hán. Như vậy tùy theo các phiền-não thứ lớp diệt nên thân cũng lần diệt theo. Nếu thân do Trời Tự-Tại thảy thời chẳng ưng lần diệt. Nên biết nhân-duyên phiền-não có thân. Lại phiền-não tham thảy các người thiện đều cần dứt hẳn, vì chắc sẽ thấy nhân-duyên tham thảy đời này đời sau bị việc suy hại, vậy nên cầu dứt. Nếu chẳng như vậy thời chẳng cầu dứt. Như những người nói thân nhân Trời Tự-Tại thảy, mà người ấy cũng cầu dứt tham dục thảy. Nên biết tham dục thảy là nhân-duyên có thân. Lại kẻ trí dùng trí huệ mà giải-thoát. Nên biết vì do vô trí nên phải bị trói. Nên biết nhân-duyên phiền-não có thân. Lại Đức Phật nói trong các kinh: “Diệt hết tham mừng mới được chính giải-thoát? Tại vì sao? Vì mắt, sắc thảy chẳng gọi là trói tham mừng mới gọi là trói. Vì phá tham mừng, nên tâm được chính giải-thoát”. Chính giải-thoát nên tâm mới năng vào Nê-Hoàn. Nên biết nhân-duyên phiền-não có thân. Lại dùng không, vô tướng, vô tác mà được giải-thoát. Nên biết nhân-duyên phiền-não có thân. Tại vì sao? Vì quán các pháp trống không tức không có tướng khá được; vì diệt tướng nên chẳng nguyện muốn thân sau. Vậy nên dùng “không” làm môn giải-thoát. Trái lại kia là bị trói. Vì những các lẽ trên nên biết do phiền-não mà có thân. Việc nầy thuyết-minh đã rõ. Hết nhóm Tập-Đế.

Thành Thật luận hết quyển 12.


a
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 1301)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(Xem: 1350)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 1508)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 1439)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 2096)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 1828)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 1800)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 2106)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 2548)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 3114)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 1984)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 2837)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 2678)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 4562)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 2891)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 3197)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2355)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 2977)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 2563)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 3124)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2356)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 2724)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 3062)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 3099)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 3978)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 3518)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 3505)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 4022)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 3396)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 3023)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(Xem: 3901)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 4597)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 3543)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 5933)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 5876)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(Xem: 4010)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 19945)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3437)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 6814)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4312)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 4173)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 3738)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4057)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 5485)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4255)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 3923)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 3990)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 4084)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 4809)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 3609)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 4900)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 4866)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 6508)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 4708)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
(Xem: 5547)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4418)
Thưa Tôn giả Gotama, những ngày về trước, những ngày về trước nữa, rất nhiều Sa-môn, Bà-la-môn là du sĩ ngoại đạo ngồi...
(Xem: 4775)
Lời dạy của Đức Phật được kiết tập thành kinh điển và bảo lưu trong nhiều truyền thốngbộ phái Phật giáo.
(Xem: 16751)
Toàn bộ Đại Tạng Kinh tiếng Việt trên 203 tập đã dịch và in xong...
(Xem: 5358)
Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ngôi vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ...
(Xem: 5606)
Nếu thấy thân người nữ Cùng với vẻ diễm kiều Người ngu không biết rõ Vọng sinh ý dâm nhiễm.
Quảng Cáo Bảo Trợ