Logo Hanh Huong
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,271,324
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Phẩm Thứ Tư: Đàn Ba La Mật

30 Tháng Mười Một 201000:00(Xem: 8376)
Phẩm Thứ Tư: Đàn Ba La Mật


PHÁT BỒ ĐỀ TÂM KINH LUẬN
Bồ Tát Thế Thân tạo
Tam Tạng Pháp Sư Cưu La Ma Thập dịch Hán
Tỳ Kheo Thích Nhất Chân dịch Việt

PHẨM THỨ TƯ
ĐÀN BA LA MẬT 

Bồ Tát tu hành bố thí như thế nào? Bố thí nếu là vì để tự lợi tự tha, cả hai cùng lợi. Bố thí như thế sẽ có thể trang nghiêm được đạo Bồ Đề.

Bồ Tát vì muốn điều phục chúng sinh, làm cho họ lìa được khổ não, cho nên mới thật hành thí. Tu hành thí là luôn sinh tâm xả bỏ đối với tài vật của chính mình, luôn sinh tâm tôn trọng đối với người đến cầu xin, coi họ như cha, mẹ, sư trưởng hay thiện tri thức. Đối với kẻ bần cùng hạ tiện khởi tâm thương mến, coi họ như con một (của mình), tuỳ họ cần gì cho nấy với tâm vui mừng cung kính. Như thế gọi là bố thí tu sơ thí tâm.

Do tu bố thí nên tiếng đồn khắp. Sinh đến chỗ nào cũng của báu đầy ắp, như thế gọi là tự lợi. Có thể làm cho tâm chúng sinh được thoả mãn, (rồi) khuyên dạy điều phục, làm cho họ không còn keo kiết, như thế gọi là lợi tha. Dùng cái đại thí vô tướng do chính mình tu được, dạy các chúng sinh làm cho họ được lợi giống như chính mình, như thế gọi là cùng lợi. Do tu bố thí mà thành được địa vị chuyển luân vương, (nên có thể) thâu nhiếp tất cả vô lượng chúng sinh, đến mức đắc được pháp tạng vô tận của đức Phật, như thế gọi là trang nghiêm đạo Bồ Đề.

Thí có ba loại: một là dùng pháp để thí, hai là thí vô uý, ba là thí tài vật.

Dùng pháp để thí là khuyên người ta thọ giới, tu tập tâm xuất gia. Để phá tà kiến nên nói lên các lỗi lầm tai hại của các ác pháp bốn đảo, đoạn, thường, và phân biệt khai mở ý nghĩa của chân đế. Ca ngợi công đức tinh tiến, nói lên tai hại của phóng dật. Như thế gọi là pháp thí.

Nếu có chúng sinh sợ hãi vua chúa, sư tử, cọp sói, lửa nước, giặc cướp, Bồ Tát thấy thế, rồi có thể cứu hộ họ được, gọi là vô uý thí.

Đem tài vật của chính mình ra thí không hề tiếc rẻ, trên cho đến trân bảo, voi ngựa, xe cộ, lụa bông, lúa mạch, quần áo, uống ăn, dưới cho đến miếng bánh, sợi chỉ. Hoặc ít hoặc nhiều đúng với ý của người xin, tuỳ họ cần gì cho nấy, như thế gọi là tài thí. Tài thí có năm loại:

  1. một là chí tâm thí
  2. hai là tín tâm thí
  3. ba là tuỳ thời thí
  4. bốn là tự tại thí
  5. năm là như pháp thí.

Những gì không được thí cũng có năm điều:

  1. tài sản có được một cách phi lý, không được đem thí cho người, bởi đó là các vật không trong sạch.
  2. Rượu và độc dược không được đem thí cho người, vì các thứ ấy làm (não) loạn chúng sinh.
  3. Bẫy lưới, máp rập, võng, không được đem thí cho người, vì các thứ ấy (não) hại chúng sinh.
  4. Dao gậy cung tên không được đem thí cho người, vì các thứ ấy làm hại chúng sinh.
  5. Âm nhạc, nữ sắc không được đem thí cho người, vì các thứ ấy phá hoại tịnh tâm.

Tóm yếu mà nói, các vật không đúng như pháp làm não loạn chúng sinh, thì không được đem thí cho người. Ngoài ra, tất cả những gì có thể khiến cho chúng sinh được an lạc, thì gọi là như pháp thíNgười ưa thích thí, thời sẽ có được năm thứ danh văn lợi dưỡng:

  1. Một là thường được gần gũi tất cả các bậc hiền thánh.
  2. Hai là tất cả chúng sinh đều thích gặp gỡ.
  3. Ba là khi đi vào giữa đại chúng, được mọi người tôn kính.
  4. Bốn là danh tốt tiếng lành đồn khắp mười phương.
  5. Năm là có thể làm nhân thượng diệu cho Bồ Đề.

Bậc Bồ Tát gọi là thí tất cả. Thí tất cả không phải có nghĩa là nhiều tài sản, mà có nghĩa là tâm thí vậy.

  1. Cầu được tài sản đúng như pháp đem ra bố thí, gọi là thí tất cả.
  2. Dùng tâm thanh tinh không chút quanh co mà thí, gọi là thí tất cả.
  3. Thấy kẻ bần cùng, tâm sinh thương xót mà thí, gọi là thí tất cả.
  4. Thấy người khổ nạn, tâm sinh từ bi mà thí, gọi là thí tất cả.
  5. Tuy nghèo ít tài mà có thể đem ra thí, gọi là thí tất cả.
  6. Quý thích bảo vật mà vẫn mở tâm ra thí được, gọi là thí tất cả.
  7. Chẳng kể trì giới huỷ giới, (phúc) điền hay phi (phúc) điền đều thí hết, gọi là thí tất cả.
  8. Chí cầu vô thượng đại Bồ Đề mà thí, gọi là thí tất cả.
  9. Muốn thí, khi thí, thí rồi không hối, gọi là thí tất cả.

10. Nếu dùng hoa mà thí, là vì để được đủ bảy hoa giác Đà La Ni.

11. Nếu dùng hương mà thí, là vì để được đủ giới định huệ ướp thoa vào thân.

12. Nếu dùng quả mà thí, là vì để được thành tưụ quả vô lậu.

13. Nếu dùng đồ ăn mà thí, là vì để được đầy đủ mạng khoẻ sắc lực vui tươi.

14. Dùng quần áo mà thí, là vì để được đầy đủ sắc thanh tịnh trừ (tâm) không hổ thẹn.

15. Dùng voi ngựa xe cộ mà thí, là vì để được vô thượng thừa gồm đủ thần thông.

16. Dùng đèn sáng mà thí, là vì để đầy đủ mắt Phật chiếu rõ (thật) tính cuả tất cả các pháp.

17. Dùng anh lạc mà thí, là vì gồm đủ 80 tuỳ hình hảo.

18. Dùng gân sức hầu sứ mà thí, là vì để gồm đủ mười lực và bốn vô uý cuả Phật.

Tóm yếu mà nói, cho đến quốc thành, vợ con, đầu mắt tay chân, toàn thân thí cho, tâm không tiếc rẻ, là vì để đắc vô thượng Bồ Đề mà độ chúng sinh.

Bồ Tát Ma Ha Tát tu hành bố thí, không thấy có tài vật (để thí), người thí, người nhận. Bởi (cả ba thứ ấy) đêù không có tướng. Như thế sẽ đầy đủ hết Ba La Mật.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 1313)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(Xem: 1359)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 1517)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 1444)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 2106)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 1833)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 1809)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 2110)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 2553)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 3120)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 1986)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 2838)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 2678)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 4569)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 2895)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 3201)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2358)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 2979)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 2569)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 3127)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2362)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 2725)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 3063)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 3101)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 3989)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 3524)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 3509)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 4028)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 3401)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 3025)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(Xem: 3903)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 4605)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 3549)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 5941)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 5881)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(Xem: 4020)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 19948)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3439)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 6823)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4320)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 4176)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 3740)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4058)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 5507)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4268)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 3925)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 3994)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 4091)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 4822)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 3610)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 4904)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 4871)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 6509)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 4711)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
(Xem: 5550)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4420)
Thưa Tôn giả Gotama, những ngày về trước, những ngày về trước nữa, rất nhiều Sa-môn, Bà-la-môn là du sĩ ngoại đạo ngồi...
(Xem: 4780)
Lời dạy của Đức Phật được kiết tập thành kinh điển và bảo lưu trong nhiều truyền thốngbộ phái Phật giáo.
(Xem: 16768)
Toàn bộ Đại Tạng Kinh tiếng Việt trên 203 tập đã dịch và in xong...
(Xem: 5361)
Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ngôi vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ...
(Xem: 5610)
Nếu thấy thân người nữ Cùng với vẻ diễm kiều Người ngu không biết rõ Vọng sinh ý dâm nhiễm.
Quảng Cáo Bảo Trợ