Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,703,060
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Quyển I

26 Tháng Năm 201000:00(Xem: 4684)
Quyển I

KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA HUYỀN TÁN
 Đại Sư Khuy Cơ biên soạn – Việt dịch: Cố Hòa thượng Thích Chân Thường 
Biên soạn: Giáo sư Trương Đình Nguyên – Tu chỉnh và hiệu đính: Tỳ kheo: Thích Đồng Bổn
Nhà Xuất Bản Tôn Giáo, Hà Nội 2005

 

QUYỂN THỨ NHẤT (PHẦN TRƯỚC)
Sa môn KHUY CƠ, chùa ĐẠI TỪ ÂN soạn.

O . DẪN NHẬP

Từng nghe : Đấng Chí Giác khéo khai quyền hiển thực, nhân cơ duyên của muôn vật mà trình bày về sự tướng, bậc thánh nhân nhiều phương pháp diệu mầu theo phẩm loại của chúng sinhgiảng giải về nội dung. Rung núi dung hòa mà làm đẹp cho cả cõi đại thiên. Dâng biểu ủy thuận mà làm bến làm bờ hàng tám vạn. Rợp mây từ mà che rộng, đổ mưa pháp để mát xa. Tưới hai cây cho cây được nở hoa, nhuần ba cỏ để cỏ càng tươi tốt. Song vì lũ lái trẻ đã mệt vì đường xa hiểm trở, nên ngài mới dẫn dụ dần dần tới lối hóa thành; Đàn con thơ quen nghịch với xe dê, nên ngài cuối cùng đã phải giảng giải cho để chúng tấn tới dùng xe trâu lớn.

Do vậy, bậc thánh vương từng đánh bại mười quân đã cởi hạt châu sáng trong búi tóc, đấng y vương từng lập ra bát đế đã trao cho liều thuốc hay ở trong tay. Lời văn hay ra ngoài sự lý, nghĩa sâu sắc vượt cả trăm tông. Tóm cả thất địa mà chỉ đẹp cửu phần, đứng đầu ngũ thừa mà riêng nỗi ngàn thuở. Lớn lao thay ! Nêu một thực mà bao trùm cõi thái hư, rung hai quyền để tóm thâu cả vạn tượng. Há có thể dùng các mỹ từ bao la, cao diệu để hình dung tông chỉ cao xa sâu sắc của kinh này được ! 

Để dẫn vào nhân duyên Phật thuyết Kinh Diệu Pháp Liên Hoa này, đó là phần Tổng luận.

I. PHẦN TỔNG LUẬN

A . GIẢI THÍCH KINH PHẨM

Đầu tiên nêu tên Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, đó là nêu tóm tắt ý nghĩa cao lớn tuyệt vời, nêu lên tên gọi chung của cả một bộ kinh.
- Tự phẩm đệ nhất : đó là để soi tỏ các tiêu đề to lớn về nghĩa loại, nói rõ các mục có ý nghĩa khác nhau.
- Pháp : bao hàm ý nghĩa phép tắc đường lối để noi theo. Vì bao gồm mọi điều tốt lành nên gọi là Diệu.
- Hoa : chỉ chung cho các loại hoa, nhưng nêu Liên (là hoa sen) lên, vì hoa này gồm đủ mọi vẻ đẹp của các loại hoa (trong kinh này). Thể và nghiệp đều được trình bày, pháp và dụ đều được nêu lên. Đường bán, mãn khi đã hiểu rồi, lối thủ xả mới được nổi rõ. 
- Kinh : là Thường là Pháp, là Nhiếp là Quán. Thường, là đường lối cho trăm vua; Pháp, để đạo đức cho ngàn thuở. Nhiếp, là tập hợp mọi đạo lý nhiệm mầu; Quán, để điều phục các chúng sinh dung tục. Những mong cho tất cả đều lìa bến khổ, cuối cùng được lên bờ giác.
- Tự : là do là thủy, trình bày nhân do giáo khởi, làm bước mở đầu để pháp được hưng sùng.

- Phẩm : là loại là biệt, để khu biệt các loại khác nhau của tông chỉ huyền diệu, để phân tích các ý nghĩa khác biệt của giáo nghĩa sâu xa.
Kinh có 28 phẩm loại nhằm nói rõ chân tông. Phẩm này về thứ tự thì đứng đầu, nên gọi là đệ nhất.
Đệ là thứ, chỉ ngôi vị. Nhất là cao nhất, là đứng đầu.

B . GIẢI THÍCH BẰNG SÁU MÔN

Trước khi đi vào giải thích kinh văn, đầu tiên là dùng sáu môn mà phân thích:
I. Duyên khởi của kinh.
II. Tông chỉ của kinh.
III. Tên gọi của kinh phẩm.
IV. Việc đặt bỏ kinh phẩm.
V. Thứ tự của kinh phẩm.
VI. Bố cục và Giải thích kinh văn.

I . DUYÊN KHỞI CỦA KINH

Nhân duyên Phật thuyết Kinh Pháp Hoa được trình bày tóm lược qua năm nghĩa :
Một là để thù đáp nhân thỉnh.
Hai là để phá nghi chấp.
Ba là để nêu rõ ký hành.
Bốn là để lợi ích cho bấy giờ và mai sau.
Năm là để nêu bật thời cơ

I. 1- THÙ ĐÁP NHÂN THỈNH
Trong thù đáp nhân thỉnh có hai nghĩa :
A. THÙ NHÂN B. THÙ THỈNH. 
A. THÙ NHÂN
Thù nhân có sáu nhân :
1. Thù hành nhân.
2. Thù nguyện nhân.
3. Thù cầu nhân.
4. Thù trì nhân.
5. Thù tướng nhân.
6. Thù thuyết nhân.
Phật quả chẳng có thể tự dưng mà thành, mà phải do nghiệp hành mới được. Hành chẳng khởi lý lẽ, ắt vì nguyện lợi sinh. Hạnh nguyện khi tự khởi lên, nhưng không có duyên thì chẳng thể một mình mà gặp được. Dẫu gặp duyên để cầu trọng, nhưng không thể khinh xuất mà thành quả được. Phải do tu trì học tập, mới có thể đắc quả được. Đắc quả đã viên mãn rồi, thì sẽ trình bày để đáp ứng yêu cầu của ngoại vật. Muốn nêu rõ tính chất thâm diệu của tông chỉ kinh văn, thì trước hết thể hiện cái nhân đại tướng. Đại tướng đã tỏ, lý phải phô trần, cho nên nêu rõ Phật vốn xuất thế là một việc lớn vậy. Do đó thù nhân có đủ sáu nghĩa này. 
1) Thù hành nhân : Trong phẩm Phương Tiện đã bàn luận, giải thích về tám pháp thậm thâm, nói rằng: Phật đã từng thân cận trăm ngàn vạn ức vô số chư Phật, thực hành hết thảy vô lượng đạo pháp của chư Phật, dũng mãnh tinh tiến, danh tiếng vang khắp, thành tựu được pháp thậm thâm (rất sâu) chưa từng có. Các pháp khó hiểu, Như Lai biết được tùy nghi mà thuyết ý nghĩa khó hiểu, đó là pháp mà các hàng Thanh văn, Bích chi Phật chẳng thể biết được.
Tám pháp thậm thâm gồm : một là thụ trì đọc tụng thậm thâm, hai là tu hành, ba là quả hạnh, bốn là tăng trưởng công đức tâm, năm là khoái diệu sự tâm, sáu là vô thượng, bảy là nhập, tám là bất cọng Thanh văn, Bích chi Phật sở tác chủ trì thậm thâm.
Kinh chỉ có sáu pháp, không có pháp thứ bảy thứ tám, tới dưới sẽ biết. Đạo pháp chư Phật đã thực hành hết rồi, tu hành đầy đủ cái nhân của Nhất thừa chủng trí, mới được Phật quả. Cho nên nay thù nhân mà thuyết diệu pháp này để khuyến tu nhân hành. 
2) Thù nguyện nhân : có nghĩa là trong phẩm Phương Tiện nói rằng : “này Xá Lợi Phất ! hãy nghe cho kỹ, ta vốn đặt lời thệ nguyện muốn khiến cho hết thảy chúng sinh đều được bằng ta không khác. Như điều nguyện xưa kia nay đã đầy đủ, hóa độ hết thảy chúng sinh khiến họ ngộ nhập Phật đạo”. Phẩm Thọ Lượng viết rằng: “ta thường tự nghĩ như vầy : làm cách nào để khiến chúng sinh được nhập Phật đạo, mau chóng thành tựu Phật thân. Dù trong các nhân xưa kia hay ở quả ngày nay, ta đều luôn luôn phát nguyện khiến cho chúng sinh được giống như thân ta, được nhập Phật đạo”. Cho nên thù đáp bản nguyệnthuyết kinh này, cũng là khiến chúng sinh cùng phát nguyện này, để hạnh và nguyện phù hợp với nhau, đạt tới mức xuất thế
3) Thù cầu nhân : có nghĩa là như phẩm Thiên Thụ nói: “ta trong thời quá khứ cầu Kinh Pháp Hoa không hề lơ là mỏi mệt, ở trong nhiều kiếp thường làm quốc vương cầu đạo Bồ đề, chẳng hề thoái chuyển, đánh trống ra lệnh cho khắp bốn phương. Bấy giờ có vị tiên đến bạch với quốc vương rằng : “ta có kinh Đại thừa gọi là Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Nếu chẳng trái ý ta, ta sẽ tuyên thuyết cho”. Quốc vương nghe tiên nói thế, thì vui mừng phấn khởi, liền nghe theo tiên cung cấp mọi thứ cần dùng cho tiên, thậm chí lấy thân mình làm giường làm ghế, thân tâm chẳng mỏi, phụng sự tiên đó trải hàng ngàn năm, vì mục đích cầu pháp mà khiến tiên không thiếu thốn thứ gì. Quốc vương thời đó nay là thân ta đấy. Vị tiên thời đó nay là Đề Bà Đạt Đa. Vì Phật quá khứ nguyện hạnh sở dĩ thành ắt do duyên hội, hằng trọng kinh này. Ở nơi thiện hữu, chuyên sự cầu kinh này, cho nên ta nay tuyên thuyết khiến mọi người sinh tâm cầu trọng
4) Thù (ứng) trì nhân : có nghĩa là như trong tám pháp thậm thâm ở đằng trước :
- Thứ nhất là Phật đã từng thân cận trăm ngàn vạn ức vô số chư Phật, gọi là thụ trì đọc tụng thậm thâm. Đầu tiên y Bồ tát cúng năm hằng sa Phật.
- Thứ hai y Bồ tát cúng sáu hằng sa Phật. 
- Thứ ba y Bồ tát cúng bảy hằng sa Phật.
- Thứ tư y Bồ tát cúng tám hằng sa Phật; gặp nhiều thiện hữu, thụ trì lâu dài.
Thêm nữa, Thích Ca Như Lai thời quá khứ tự thân là Thường Bất Khinh Bồ tát, sau khi Uy Sơn Vương Phật nhập diệt, ngài tu hành hạnh bất khinh, lúc lâm chung nghe trong hư không thuyết hai mươi ngàn vạn ức bài kệ của Kinh Pháp Hoa, ngài đều thụ trì được cả, được sáu căn thanh tịnh, lại tăng thêm thọ mệnh hai trăm tám vạn ức na-do-tha tuổi, giảng rộng kinh này, sau lúc mệnh chung được gặp hai ngàn ức Phật đều gọi là Nhật Nguyệt Đăng Minh, ngài thường trì kinh này, nhờ nhân duyên ấy lại gặp hai ngàn ức Phật cùng gọi là Vân Tự Tại Đăng Vương. Ngài cùng ở trong pháp chư Phật này mà thụ trì kinh này, thường được sáu căn thanh tịnh
Vị Bồ tát Thường Bất Khinh đó chính là thân ta đấy, vì thời xưa thường trì kinh này, cho nên nay ta thuyết kinh này khuyên thường thụ trì
5) Thù (đáp) tướng nhân : sau khi thành Phật rồi, lúc sắp thuyết kinh này, trước tiên Phật thuyết Kinh Vô Lượng Nghĩa cho Bồ tát, sau đó nhập Vô Lượng Nghĩa Xứ tam muội
Trời mưa bốn hoa, đất rung sáu loại, bốn chúng chiêm ngưỡng, tám bộ hoan hỉ. Ngài phóng hào quang thấu suốt xa rộng, chúng thấy thế rồi sinh nghi. Di Lặc phát vấn, Văn Thù bảo rằng : “cứ như ta suy đoán thì nay Phật Thế tôn định thuyết đại pháp, mưa mưa đại pháp, thổi loa đại pháp, khua trống đại pháp, diễn nghĩa đại pháp. Ta thời quá khứ đã từng thấy điềm lành này. Chư Phật phóng hào quang này rồi thì thuyết đại pháp, thậm chí thuyết rộng. Ngày nay Như Lai hẳn sẽ thuyết kinh đại thừa gọi là Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Chư Phật ba đời lúc sắp thuyết kinh này, ắt trước tiên có bấy nhiêu tướng lớn, chẳng giống kinh khác, vì các kinh khác không có tướng lớn ban đầu này. Tướng đã phi thường, nên cần phải nói rõ điều này, tức là sắp thuyết kinh này thì trước tiên thị hiện tướng lớn, trước tiên thị hiện tướng lớn chính là để thuyết kinh này. 
6) Thù (đáp) thuyết nhân : như kinh phần dưới nói rằng, chư Phật Như Lai chỉ vì một đại sự nhân duyênxuất hiện ở đời, cho tới thuyết rộng ra : không có đệ tử Thanh văn, chỉ giáo hóa Bồ tát, cứu cánh khiến họ được Nhất thiết chủng trí. Cho nên chư Phật ba đời thành đạo, cứu cánh ắt thuyết nhất thừa, đều là phương tiện thú cầu trong nhân. Tu học tuy mãn, chưa từng diễn thuyết. Ngày nay cơ hội không thể bỏ uổng, nên theo nhân cũ mà thuyết diệu pháp này. 
Nghĩa loại như trên kinh văn nêu rất nhiều, vì e rộng dài, nên chỉ lược thuật qua. 
B. THÙ THỈNH
Thù thỉnh có nghĩa là thù đáp lời cầu thỉnh. Trong kinh nói : “Bồ tát mới sanh ra đã bước bảy bước, phóng đại quang minh chiếu khắp mười phương nhìn xem bốn phía, làm tiếng sư tử gầm mà thuyết kệ rằng: 
Ta sinh thai phần hết,
Đây là thân cuối cùng
Ta đã được giải thoát,
Sẽ lại độ chúng sinh.”
Thề như vậy rồi thân dần khôn lớn, ra chơi bốn cửa thấy tướng già, ốm, chết, và tướng Sa môn. Đã hỏi biết rồi liền muốn bỏ thân thuộc, cầu quả vô thượng. Nửa đêm quan sát thấy các kỹ nhân, hậu phi, thể nữ dáng như xác thối rất đáng chán ngán. Liền sai Xa Nặc thắng ngựa Kiền Đệ. Chư thiên nâng chân, nửa đêm ra khỏi thành, đi mười bốn do tuần tới trong rừng nơi vị tiên Bạt Già Bà ở, lấy dao gọt tóc, đem áo đẹp báu đổi lấy áo da hươu, sai Xa Nặc trở về báo với vua cha, rồi ở chỗ lục sư ngoại đạo cạnh sông Ni Liên để hàng phục họ.
Ngài đã phải sáu năm khổ hạnh, cần cù khổ sở hơn họ, hằng ngày phải ăn vừng ăn lúa mạch. Sau, ngài chán vì họ chẳng tu đúng đạo, bèn ăn cháo sữa, nhận cỏ Cát tường, tới cây Bồ đề, ngồi tòa Kim cương, dùng lực trí tuệ hàng phục quân ma, chứng đại Bồ đề mãi mãi vượt ra khỏi ba cõi.
Bấy giờ chúa của tam thiên đại thiên giới cùng chư thiên khác kéo đến chỗ Phật thỉnh chuyển pháp luân. Hóa Phật tán dương, khuyên hãy tạm dùng cách quyền nghi mà thuyết. Thời cơ chưa chín, hãy thuyết phương tiện, chưa thuyết thực pháp.
Nay đã hợp cơ nghi, nhóm các ngài Thu Tử thỉnh Phật thuyết về cảnh giới cõi quyền thừa và thực thừa. Nhóm các ngài Văn Thù thỉnh thuyết về hạnh an lạc của thừa. Nhóm các ngài Di Lặc thỉnh thuyết về quả Chân ứng thân, nên kinh phần dưới nói rằng : “lúc ta mới ngồi đạo tràng, quan sát cây cối và kinh hành, trong hai mươi mốt ngày, thường ngẫm sự này. Thậm chí tầm niệm về lực phương tiện mà chư Phật quá khứ đã vận hành, ta nay đắc đạo cũng nên thuyết tam thừa. Khi ta suy nghĩ như vậy thì mười phương Phật đều thị hiện Phạm âm mà úy dụ ta rằng : “Lành thay! Thích Ca Văn, hãy theo như hết thảy chư Phật mà sử dụng lực phương tiện. Do phương tiện ấy hãy thuyết tam thừa.” 
Nay cơ nghi đã chín, nhóm các ngài Thu Tử thỉnh giảng rõ chân tông, nói rõ Nhất thừa thực tướng đó. Cho nên kinh phần dưới nói rằng: “ngươi đã tha thiết thỉnh cầu ba lần. Ta nay đâu thể chẳng thuyết”. Trong phẩm An Lạc Hạnh, Văn Thù phát ra lời thỉnh, Thế tôn thuyết rộng về bốn An lạc hạnh. Trong phẩm Thọ Lượng, cũng lại như vậy, Di Lặc thỉnh cầu ba lần. Phật dạy : “các ngươi nên tin, nên hiểu lời thành thực của Như Lai”, ba lần khuyên tin, mới thuyết về sự Chân ứng thân. Bởi vậy vì thù thỉnh mà thuyết Kinh Pháp Hoa này.

I. 2- PHÁ NGHI CHẤP
Trong phá nghi chấp có hai: 
A. PHÁ NGHI. B. PHÁ CHẤP.
A. PHÁ NGHI . 
Có nghĩa là Phật từ khi thành đạo chỉ ghi nhận Bồ tát sẽ được làm Phật, chẳng nói Thanh văn có được Phật quả. Hàng Thanh văn nghi rằng mình mãi mãi chẳng thành Phật, nên Xá Lợi Phất rất tự cảm thương nỗi mình bị mất Như Lai vô lượng tri kiến. Cho tới thuyết rộng ra, mà nay tòng Phật được nghe pháp (vị tằng hữu) chưa từng được nghe, đoạn trừ điều nghi hối. Các vị tiểu Bồ tát xưa được nghe về đại thừa, cũng nghi rằng chỉ riêng Bồ tát chứng đắc Bồ đề, còn Thanh văn không được dự phần. Hoặc các vị tiểu Bồ tát bất định tính ngờ rằng trong quả Phật Bồ đề, mình cũng không có phần, do đó cả ba thừa đều có lưới nghi. Bởi vậy, kinh này nói: “dù là Thanh văn hay là Bồ tát, đã được nghe pháp của ta thuyết giảng, thậm chí chỉ một bài kệ thì cũng đều được thành Phật, không phải nghi ngại”.
Lại nói : “những người cầu đạo tam thừa nếu có ai còn có điều nghi hối thì Phật sẽ đoạn trừ giúp, khiến không còn một chút nào”. Cũng nói: “Bồ tát nghe pháp này, lưới nghi đều đã phá trừ, một ngàn hai trăm La hán cũng đều sẽ được làm Phật”. Trong này vừa có phá nghi vừa có phá hối. Xưa hối vì tu tiểu thừa chẳng được làm Phật, nay được nghe, nên trừ được hối xưa vì biết rằng tiểu thừa chính là cái nhân của đại thừa.
Về nghi thì cả ba thừa đều có, riêng hối thì chỉ tiểu thừa mới có, lấy rộng bao hẹp nên chỉ nói phá nghi, chẳng nói trừ hối. Từ trong quyển sau sẽ giải thích điều sai biệt, nên thuyết diệu pháp này là để phá nghi. 
B. PHÁ CHẤP
1. Phân loại Thanh văn
a. Có hai loại Thanh văn :
a.1- Quyết định chủng tính, được quả Thanh văn định nhập vô dư Niết bàn, thân diệt trí diệt. Cho nên các kinh nói rằng: “người khác khi Niết bàn thì thiện căn sẽ hết, nhưng thiện căn của Bồ tát thì không thế”.
a.2- Bất định tính, loại đã thoái rồi lại phát đại Bồ đề tâm. Lúc đầuđịnh tính, sau là bất định tính. 
b. Có bốn loại Thanh văn :
Song Du GiàPháp Hoa luận nói rằng Thanh văn có bốn loại : 
b.1- Quyết định chủng tính, còn gọi là thú tịch.
b.2- Tăng thượng mạn, đó là loại phàm phu được đệ tứ thiền gọi là A la hán.
b.3- Bất định tính, loại đã thoái rồi lại phát đại Bồ đề tâm, còn gọi là bất định chủng tính.
Hơn nữa, trong số những người được thụ ký trong hội Pháp Hoa, Thanh văn được gọi là loại thoái Bồ đề tâm. Nhóm các ông Xá Lợi Phất đều là loại này, cho nên kinh phẩm Tựa viết rằng : “bảo cho Xá Lợi Phất biết ! ta xưa dạy các ngươi chí nguyện Phật đạo. Các ngươi nay đều quên, mà tự cho mình đã được diệt độ”. 
Kinh Ưu Bà Tắc nói : “Xá Lợi Phất tu đạo đại thừa, trải sáu mươi kiếp nhân vì chuyện thí nhỡn, đại hạnh khó thành, nên thoái cầu tiểu quả”. Thu Tử cũng nói: “đời đời đã từng theo Phật thụ hóa”. Phẩm Hóa Thành Dụ nói : “các chúng sinh được mười sáu vị vương tử giáo hóa, đó là bước đầu kết duyên ở thời quá khứ”. Do đó mà gọi là thoái Bồ đề tâm. Chẳng phải hạng bất định tính đều là loại thoái chuyển đó. Cũng có những người ngày xưa chưa cầu quả đại thừa, ngày nay chỉ từ quả tiểu thừa mà hướng tới đại thừa, vì là bất định tính.
b.4- Loại ứng hóa. Ứng hóa chẳng phải là chân thực
Nhiếp Đại Thừa luận nói rằng : “các đại Bồ tát cùng chư Phật hóa hiện làm Thanh văn, để dẫn thực Thanh văn hướng theo đại thừa”. Nhóm các ông Phú Lâu Na đều thuộc loại này. 
2. Thụ ký.
Pháp Hoa luận viết : “trong này chỉ có hai loại Thanh văn được thụ ký. Đó là loại thoái tâm và loại ứng hóa, còn loại thú tịch và loại Tăng thượng mạn thì Phật chẳng thụ ký vì căn chưa chín”. Bồ tát được thụ ký, tuy vẫn nói chung rằng người tu hành đạo Bồ tát sẽ được làm Phật, vì luận nói rằng : “thụ ký cho là để phát tâm”. Loại thoái Bồ đề tâm chính đương lúc căn đã chín muồi, thuyết cho họ về Nhất thừa chính là phá sự chấp trước của họ.
Ứng hóa chẳng phải là chân thực, không có điều chấp gì đáng phá, chỉ thị hiện ra tướng có thể như thế. Loại tăng thượng mạn đã là loại dị sinh. Căn chưa chín nên Phật chẳng thụ ký cho. 
Bồ tát được thụ ký, tức là Thường Bất Khinh, khi đã đầy đủ nhân tu, Phật thụ ký cho, khiến ông tin rằng mình có Phật tính, hơn nữa còn vì đã dần dần phát tâm tu đạo đại thừa
Hạng thú tịch đã không có đại thừa tính, làm sao mà xét tới căn tính của họ chín hay chưa? nên nói rằng: thú tịch do không có đại thừa tính, vì căn chẳng chín, nên Phật chẳng thụ ký cho.
Bồ tát được dự thụ ký vì có đầy đủ lý tính nhân, dần khiến họ tin tưởng vào đại thừa là pháp chẳng ngu, chứ chẳng phải là vì họ căn chưa chín kỹ, sau sẽ chín kỹ. Cho nên chẳng phải là cho Bồ tát dự thụ ký để khiến họ phát tâm hướng theo đại thừa. Nói rằng họ sẽ thành Phật : là vì Bồ tátnguyện tâm, nên phương tiện hóa độ cho họ khiến họ sinh tín ý. 
Như Kinh Bát Nhã nói : “ta đều khiến nhập vô dư Niết bàn chẳng phải đều nhập hết các Bồ tát được thụ ký”. Đối với hạng thú tịch cũng thế, nếu cho thú tịch giống với tăng thượng mạn thì chẳng những chẳng được gọi là thú tịch, mà còn chẳng hợp với giáo nghĩa. Do thú tịchtăng thượng mạn gộp làm một chỗ mà nói, nên người chủ trì việc phiên dịch cũng nói là vì căn chưa chín nên phải khiến họ phát tâm. Đúng ra phải nên nói hạng thú tịch do căn chưa chín nên chẳng được thụ ký. Bồ tát được thụ ký cốt để phát tâm tín giải đại thừa
Hạng tăng thượng mạn vì căn chưa chín, nên Phật chẳng thụ ký cho. Bồ tát được thụ ký, để cho họ phát tâm hướng cho đại thừa. Nếu hạng thú tịch sau cũng thành Phật thì trái với giáo văn mọi chỗ như trong Kinh Niết Bàn v.v... đã dẫn.
3. Bồ tát Đốn ngộ, Tiệm ngộ.
Bồ tát cũng có hai loại: một là Đốn ngộ, hai là Tiệm ngộ. Tiệm ngộhai nghĩa
1) Từ bậc được quả nhị thừa thì gọi là Tiệm ngộ, do sinh số nhỏ hoặc hoàn toàn không. Nếu từ nhị phàmqui y theo đại thừa thì tức là Đốn ngộ nhiếp, vì chưa từng ngộ chứng quả nhị thừa. Sinh số còn nhiều, cũng chẳng gọi là Tiệm ngộ, cho nên Kinh Niết Bàn chỉ nói bậc thánh nhân tám vạn kiếp v.v... chẳng nói kiếp số dị sinh hồi tâm.
2) Chỉ từ chỗ đã từng phát nhị thừa tâm, tu nhị thừa hạnh mà tới theo đại thừa thì gọi là Tiệm ngộ, vì có đủ tính ấy và tu hạnh ấy. 
Văn tư ngộ giải cũng gọi là ngộ, hà tất phải chứng ngộ. Huống hồ lại còn có kẻ sinh số nhỏ, có nghĩa là đã định sinh thì ngay lúc sinh này cùng hết thảy thuận Quyết trạch phần. Lý nhất thừa được thuyết giảng trong kinh này, luận tuy nói là vì hai loại Thanh văn, giảng rằng đó là loại thoái tâm và ứng hóa. Cả một hội Pháp Hoa chính chỉ thuyết cho hạng thoái Bồ đề tâm, cũng cho luôn cả hạng ứng hóa, vì nhóm Mãn Từ Tử cũng ở trong hội này.
Nếug theo Nhiếp luận thì gộp dùng mười nghĩa để thuyết về nhất thừa. Nghĩa vì cả ba, lý cũng không sai :
a. Vì hạng quyết định chủng tính chẳng ngu về pháp.
b. Vì hạng bất định chủng tính hồi tâm cầu đại thừa.
c. Vì để hạng ứng hóa giúp cho việc hóa ký. 
Dẫu cũng có thể thuyết cho cả hai loại Bồ tát, song chính tôn (tông chỉ chủ yếu) chỉ nhằm thuyết cho hạng Tiệm ngộ. Cho nên kinh phần dưới nói rằng : “Bồ tát nghe pháp này, lưới ngờ đều đã đoạn trừ ” . Nghĩa gồm cả Đốn ngộ, về lý cũng không sai. 
Nhiếp luận, trong phần thập nghĩa giải về nhất thừa viết rằng : “để dẫn nhiếp một loại và nhậm trì các loại khác do bất định chủng tính, chư Phật thuyết nhất thừa”. Một loại được dẫn nhiếp tức là loại Thanh văn thoái Bồ đề tâm. Còn các loại khác được nhậm trì tức là loại Bồ tát Tiệm ngộ.
Thanh văn thoái Bồ đề tâm, vì họ chấp trước tiểu quả tự cho là cứu cánh. Xá Lợi Phất nói rằng : “ta trừ hết mọi tà kiến, chứng đắc về pháp không. Bấy giờ trong tâm tự cho là đã tới mức diệt độ”.
Đại Ca Diếp cũng nói : “đức Phật khiến ta vượt ra khỏi ba cõi, chứng được Niết bàn. Trong tâm chẳng nảy một niệm ưa thích đối với pháp Bồ tát. Đó đều là do xưa kia chấp trước vào tiểu thừa”. 
Tức như Nhiếp luận nói rằng : Ba loại luyện tam ma (tam ma bạt đề : quán tâm), đoạn trừ chướng bốn xứ, duyên theo pháp nghĩa làm cảnh. 
“Bốn xứ” gồm : 
1) Nhị thừa tác ý.
2) Chư nghi ly nghi.
3) Đối với các pháp sở văn sở tư, nói rằng ta được như thế, người khác chẳng được thế.
4) Từ cái vụn vặt cho đến Bồ đề đều chấp trước phân biệt
“Nhị thừa tác ý” : vì chấp quả nhị thừa coi đó là cực điểm, để đoạn chấp này, nên mới thuyết kinh này. 
Tiệm ngộ Bồ tát chấp rằng mình không có phần đối với quả Phật Bồ đề, muốn sanh ra thoái bại, quay về trụ ở nhị thừa. Để nhậm trì loại này chẳng để loại này thoái bại cho nên thuyết kinh này. 
Còn loại các tiểu Bồ tát Đốn ngộ thì chấp rằng chỉ có mình là tu hành theo đại thừa nên có thể được thành Phật. Còn hạng đã trụ ở Thanh văn thì chẳng được thành Phật. Nay phá chấp này nói rõ quả nhị thừa chẳng phải là cực quả; Người trụ nhị thừa cũng được thành Phật, cho nên thuyết kinh này. Do đó Nhiếp luận xét về bốn xứ, nói rằng một là nhị thừa tác ý, hai là loại nói rằng ta được như vậy, người khác chẳng hay được như thế ; còn hai loại chư nghi v.v... thì là các loại đã nói ở trên. 

I. 3 - NÊU RÕ KÝ HÀNH
Trong nêu Ký Hành có hai : một là nêu ký, hai là nêu hành.
A. NÊU KÝ
Phật từ khi thành đạo chưa thụ ký Bồ đề cho Thanh văn, nay để thụ ký cho họ, nên thuyết kinh này. Nên kinh phần dưới nói: “ta đặt ra phương tiện này khiến cho được nhập Phật tuệ. Ta chưa từng nói các ngươi sẽ được thành Phật đạo. Ta chưa từng thuyết vì chưa đúng thời cơ, nay đúng là lúc ấy, nên quyết định thuyết về đại thừa”. 
Thêm nữa, Ca Diếp nói : “hơn nữa, nay chúng tôi đã tuổi tác già nua, đối với pháp A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đềđức Phật giáo hóa cho Bồ tát, trong tâm chẳng nảy sinh một niệm ưa thích nào. Chúng tôi nay ở trước Phật được nghe thụ ký A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề cho hàng Thanh văn, trong tâm đều hoan hỉ vì được pháp chưa từng có”. 
Lại nói : “học thuyết Tu đa la, Già đà, cùng các pháp Bản sinh, Bản sự, Vị tằng hữu. Còn thuyết về Nhân duyên, Thí dụ cùng Kỳ-dạ và kinh Ưu-bà-đề-xá, chỉ thuyết cho hàng Thanh văn chín bộ này, chẳng thuyết Thụ ký, Phương quảng, Tự thuyết”. Nghĩa là từ trước đến nay, chưa thụ ký cho họ, nên nay thuyết kinh này. 
B. NÊU HÀNH
Nay thuyết về hành của hàng nhất thừa Bồ tát. Nhất thừa chính là hành của Bồ tát. Nên phần sau của kinh nói rằng : “có Phật tử tâm thanh tịnh, nhu nhuyễn, lại cũng lợi căn ở chỗ vô lượng chư Phật mà hành đạo thâm diệu, vì các Phật tử ấy mà thuyết kinh đại thừa này”.
Lại nói : “dù là Thanh văn hay là Bồ tát, được nghe pháp của ta thuyết thậm chí chỉ một bài kệ cũng đều thành Phật, không có điều gì phải nghi ngờ cả”. 
Lại nói : “này Xá Lợi Phất ! chư Phật Như Lai chỉ giáo hóa Bồ tát, vì tất cả mọi việc thường vì một sự” : phải do tu hành phúc tuệ, quán chiếuhữu không, tìm hiểu giáo nghĩa, xét lý huyền diệu, chân giải khởi ngộ về nhất thừa
Thêm nữa nhất thừa có nhân có quả. Nhân tức là Thất địa, Tứ Bồ tát hạnh. Dưới là tùy chỗ ứng dụng, thảy đều phối đủ. Quả tức là Phật vị Bồ đề, Niết bàn. Ở trong ba thân, đó đều nhiếp hết. 
Lại nữa, ba lượt thuyết về nhất thừa : phẩm Phương Tiện v.v… thuyết minh cảnh nhất thừa, phẩm An Lạc Hạnh v.v... thuyết minh về hành nhất thừa, phẩm Thọ Lượng v.v... thuyết minh về quả nhất thừa.
Thuyết minh về cảnh, là muốn họ khởi phát tâm từ hàng Thanh văn. Thuyết minh về hành, là khiến họ tu Bồ tát hạnh. Nhân đó mới mong có được Phật quả công đức, cho nên để nêu bật Bồ tát hạnh mới thuyết Kinh Pháp Hoa này.

I. 4- LỢI CHO BẤY GIỜ VÀ MAI SAU.
Trong phần này có hai nghĩa : một là lợi cho bấy giờ, hai là lợi cho mai sau

A. LỢI CHO BẤY GIỜ 
Vì tất cả kẻ phàm người thánh trong một hội Pháp Hoa nghe Kinh Pháp Hoa xong hẳn được lợi ích. Đây là hai loại: một là Quả ký lợi, hai là Hiện chứng lợi.
1) Quả ký lợi.
Ở đây nói hai mục : một là Ba lượt thuyết nghĩa nhất thừa và thụ ký, hai là Tám chỗ thị hiện thụ ký.
a) Ba lượt thuyết nghĩa nhất thừa thụ ký : 
- Tức là vì ba cơ mà Thế tôn thuyết nghĩa nhất thừa ba lượt. Hội nhị phá nhị để lợi ích cho hiện thời bấy giờ. Từ phẩm Phương Tiện trở xuống tới phẩm Thí Dụ, đến chỗ “Thu Tử đắc ký, tám bộ hoan hỷ” là vòng thứ nhất.
- Kinh nói rằng : “chư Phật Thế tôn chỉ vì một đại sự nhân duyênxuất hiện ở đời. Thậm chí chỉ một Phật thừa mà chư Phật đã dùng lực phương tiện thuyết thành ba”. Cho nên Xá Lợi Phất nghe thuyết đó rồi, trong phẩm Thí Dụ thâm sinh lĩnh giải. Phật thuyết xong rồi Thu Tử liền được thụ ký. Trong phẩm Thí Dụ, Xá Lợi Phất thỉnh Phật, rồi Phật thuyết Thí Dụ, gộp với phẩm Tín Giải, phẩm Dược Thảo Dụ, phẩm Thụ Ký, đó là vòng thứ hai. 
- Phẩm Thí Dụ nói : “Như Lai cũng lại như vậy, ngài là cha của hết thảy chúng sinh”. Thậm chí Xá Lợi Phất nhờ nhân duyên đó mà biết lực phương tiện của chư Phật chỉ một Phật thừaphân biệt thuyết thành ba. Ngài Đại Ca Diếp nghe thuyết này rồi, trong phẩm Tín Giải mới sinh lĩnh ngộ. Phẩm Dược Thảo Dụ, Phật thuật lại xong, trong phẩm Thụ Ký Phật liền thụ ký cho bốn vị gồm các ngài Đại Ca Diếp, Tu Bồ Đề, Ma Ha Ca Chiên Diên, Đại Mục Kiền Liên. Còn phẩm Hóa Thành Dụ, phẩm Ngũ Bách Đệ Tử Thụ Ký, phẩm Thụ Học Vô Học Nhân Ký, là vòng thứ ba. 
Phẩm Hóa Thành Dụ, thoạt đầu thuyết về chuyện Đại Thông Trí Thắng Phật, để họ nhớ lại. Lại nói: “các Tỳ kheo ! Như Lai tự biết giờ Niết bàn đã đến” cho đến “chỉ là lực phương tiện của chư Phật: ở một Phật thừaphân biệt thuyết thành ba”. Nhóm các ông Phú Lâu Na nghe thuyết này rồi, ở trong phẩm Ngũ Bách Đệ Tử thâm sinh lĩnh giải. Phật thuật tích xưa thành tựu rồi, bèn thụ ký cho 500 đệ tử cùng các người thuộc bậc hữu họcvô học. Đó tức là làm lợi cho chúng Thanh văn thời bấy giờ vậy.
b) Tám chỗ thị hiện thụ ký :
Trong kinh có tám chỗ thị hiện thụ ký :
- Một là Biệt ký : Xá Lợi Phất cùng bốn vị đại Thanh văn là các vị mà đại chúng đều quen biết, nên thụ ký riêng cho từng vị danh hiệu khác nhau, gọi là Biệt ký. 
- Hai là Đồng ký : nhóm các ông Phú Lâu Na 500 người, và nhóm 1200 người khác, thụ ký cho mỗi nhóm có cùng một danh, nên gọi là Đồng (thời thụ) ký. 
- Ba là Hậu ký : hạng hữu họcvô học v.v... chẳng phải người mà đại chúng quen biết, xếp trong loại hạ căn, thụ ký cho thời sau có cùng chung một hiệu. 
- Bốn là Vô oán ký : để chứng tỏNhư Lai không oán ghét, nên thụ ký cho Đề Bà Đạt Đa
- Năm là Thông hành ký : hiển thị nữ nhân tại gia, xuất gia tu hạnh Bồ tát đều có thể chứng Phật quả, nên thụ ký cho Tỳ kheo nithiên nữ
Thuyết năm loại ký trên ích lợi ngay cho thời bấy giờ, đều là Như Lai ký. 
- Sáu là Cụ nhân ký : Thường Bất Khinh Bồ tát lễ bái tán thán nói: “ta chẳng khinh các ngươi. Các ngươi đều sẽ thành Phật”. Vì để chỉ bày chúng sinh đều có Phật tính, nên thụ ký cho một loại Bồ tát này, là thuyết về lợi ích thời quá khứ
Ba ký đầu và ký thứ năm là ký làm lợi cho người nghe Kinh Pháp Hoa. Hai ký còn lại chẳng phải là ký do nghe kinh này. Song năm ký đầu đều gọi là Lợi cho bấy giờ (Lợi kim), tức là Quả ký lợi, nhưng các Thanh văn sau khi nghe thụ ký sẽ thụ Biến dị sinh, tướng trạng thể nghĩa tới sau này sẽ biết. 
2) Hiện chứng lợi : 
Cũng có nhiều loại, như :
- Phẩm Đề Bà Đạt Đa tuy Long nữ từ long cung vọt ra, thành đạo đó đều do Pháp Hoa, chẳng phải do lợi ích của hội Linh Sơn, nên lược qua chẳng thuyết, chỉ có lúc Long nữ thành đạo thuyết pháp, Bồ tát, Thanh văn, trời rồng tám bộ, loài người và loài phi nhânthế giới Sa bà từ xa đều thấy Long nữ thành Phật thuyết pháp cho tất cả người, trời trong hội lúc đó, tâm rất hoan hỷ thảy đều kính lễ từ xa. 
Vô lượng chúng sinh nghe pháp ngộ giải được bất thoái chuyển. Vô lượng chúng sinh được thụ đạo ký. Thế giới Vô Cấu rung động sáu lần. Ba ngàn chúng sinhthế giới Sa bà trụ Bất thoái địa, ba ngàn chúng sinh phát tâm Bồ đề và được thụ ký. Hợp bốn vị trên (bốn đại đệ tử) đều được lợi ích.
- Phẩm Phân Biệt Công Đức có mười một vị được chứng, một vị phát tâm
- Phẩm Như Lai Thọ Lượng, Phật thuyết về lợi ích lâu dài, có sáu trăm tám mươi vạn ức na-do-tha hằng hà sa số chúng sinh chứng đắc Vô sinh pháp nhẫn, ngàn ức Bồ tát Ma ha tát chứng đắc môn Văn Trì Đà la ni. Lại thêm một thế giới vi trần số Bồ tát Ma ha tát chứng đắc nhạo thuyết biện tài. Một thế giới vi trần số Bồ tát Ma ha tát chứng đắc ngàn vạn ức vô lượng Đà la ni. Tam thiên đại thiên thế giới vi trần số Bồ tát Ma ha tát chuyển được pháp luân bất thoái chuyển. Hai ngàn quốc độ vi trần số Bồ tát Ma ha tát chuyển được pháp luân thanh tịnh. Tiểu thiên thế giới vi trần số Bồ tát Ma ha tát tám lần sinh sẽ chứng được. Bốn tứ thiên hạ qua bốn lần sinh sẽ chứng được. Ba tứ thiên hạ qua ba lần sinh sẽ chứng được. Hai tứ thiên hạ qua hai lần sinh sẽ chứng được. Một tứ thiên hạ vi trần Bồ tát Ma ha tát một lần sinh sẽ chứng được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Lại còn có tám thế giới vi trần số chúng sinh đều phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm.
- Thuyết phẩm Dược Vương, tám vạn bốn ngàn Bồ tát được Giải thiết chúng sinh ngữ ngôn Đà la ni
- Thuyết phẩm Diệu Âm, tám vạn bốn ngàn người được Hiện nhất thiết sắc thân tam muội, bốn vạn hai ngàn thiên tử được Vô sinh pháp nhẫn, Hoa Đức Bồ tát được Pháp Hoa tam muội.
- Thuyết phẩm Quan Âm, tám vạn bốn ngàn chúng sinh đều phát vô đẳng đẳng A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm.
- Thuyết phẩm Đà La Ni, sáu vạn tám ngàn người được Vô sinh pháp nhẫn.
- Thuyết phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bản Sự, tám vạn bốn ngàn người xa lìa trần cấu, được pháp nhãn tịnh.
- Thuyết phẩm Phổ Hiền Khuyến Phát, hằng hà sa số vô lượng vô biên Bồ tát được trăm vạn Triền Đà la ni, tam thiên đại thiên thế giới vi trần số Bồ tát thực hành đạo Phổ Hiền
Năm ký đầu, thụ ký cho sẽ được làm Phật. Hai mươi lăm loại (nhờ nghe kinh mà chứng đắc) này hiện chứng Nhân vị. Hơn nữa đó là lợi ích hiện thời (Lợi kim), nên thuyết Pháp Hoa. 

B. LỢI CHO MAI SAU
Sau khi thuyết tam hội (thuyết ba vòng cho ba cơ), nhờ Kinh Pháp Hoamọi người được công đức, đó đều là Lợi cho mai sau (Lợi hậu).
- Phẩm Tùy Hỷ Công Đức nói rằng : “người thứ năm mươi, một lần nghe Kinh Pháp Hoa mà hay tùy hỷ thì công đức lớn hơn cả việc bố thí vàng bạc cùng bảy thứ báu cho bốn trăm vạn ức na-do-tha tam thiên đại thiên thế giới chúng sinh, hơn thế nữa còn khiến được quả A La Hán
“Nếu người nào tới tăng phường được nghe Kinh Pháp Hoa trong chốc lát thì đời đời thường được cưỡi voi, ngựa, xe cộ, ngồi kiệu thất bảo và ngự cung trời. 
“Nếu lại chia chỗ để cho người khác nghe kinh, thì đời đời được ngồi chỗ của Đế Thích, Phạm Vương
Nếu lại khuyên người đi nghe Kinh Pháp Hoa, thì đời đời được cùng sinh với Đà La Ni Bồ tát, không bao giờ bị câm ngọng... cho đến cả sau này đời đời sinh ra thấy Phật nghe pháp tin tưởng tiếp thụ giáo hóa của Phật”.
- Phẩm Pháp Sư Công Đức nói rằng : “nếu thiện nam, thiện nữ thụ trì Kinh Pháp Hoa này hoặc đọc hay tụng, hoặc giảng giải thuyết minh hay sao chép kinh này, thì người đó sẽ được tám trăm công đức mắt, một ngàn hai trăm công đức tai, tám trăm công đức mũi, một ngàn hai trăm công đức lưỡi, tám trăm công đức thân, một ngàn hai trăm công đức ý, dùng công đức ấy mà trang nghiêm sáu căn khiến đều thanh tịnh
- Thậm chí phẩm Phổ Hiền nói : “nếu người đời sau, có ai thụ trì đọc tụng kinh điển này, thì người đó chẳng thể còn tham lam chấp trước các vật dụng sinh hoạt như : áo quần, chăn đệm, đồ ăn thức uống v.v... điều sở nguyện của người ấy sẽ chẳng uổng, ngay đời hiện tại sẽ được phúc báo”.
Vì vậy kinh Di Giáo nói rằng : “những ai đáng độ, đều đã độ hết. Những người chưa độ, đều đã gây nhân duyên đắc độ”. Cho nên, vì thuyết kinh này mà làm lợi ích lớn cho mai sau, đó gọi là Lợi cho mai sau (Lợi hậu).

I. 5 - NÊU BẬT THỜI CƠ
Trong nghĩa Hiển thời cơ (nêu rõ thời cơ) có hai phần : 
A. HIỂN THỜI. B. HIỂN CƠ.
A. HIỂN THỜI
1) Đốn giáoTiệm giáo :
Chư Phật đặt ra cách giáo hóa đại để có hai loại: một là Đốn, hai là Tiệm.
- Đốn tức là giúp hạng đại cơ đốn ngộ từ địa vị phàm phu để cầu Phật quả, như nhất thừa được thuyết trong Kinh Thắng Man, vì tứ thừa là quyền, nhất thừa là thực.
- Tiệm tức là giúp hạng từ tiểu cơ tới đại cơ, như nhất thừa nói trong kinh này, vì nhất thừa là thực, nhị thừa là quyền. Kinh này phần nhiều giúp họ từ nhị thừa mà cầu Phật quả, phần nhiều là được nhiếp thụ bởi Tiệm giáo đại thừa.
2) Năm thời giáo (quan điểm xưa).
Xưa có cách giải thích nói rằng : Giáo có năm thời.
- Thời thứ nhất : lúc Phật mới thành đạo thuyết cho năm trăm lái buôn bọn ông Đề Vị, ngài chỉ thuyết Tam qui, Ngũ giới, Thập thiện, thế gian nhân quả giáo. Đó tức là Kinh Đề Vị, Ngũ Giới, Bản Hạnh Kinh v.v… vì bọn họ chưa có căn khí xuất thế
- Thời thứ hai : Phật thành đạo rồi, ngoài 21 ngày, trong 12 năm ngài chỉ thuyết tam thừa hữu hành giáo, chưa thuyết về lý không. Đó là các kinh tiểu thừa như Kinh A Hàm v.v...
- Thời thứ ba : sau khi Phật thành đạo rồi, suốt trong 30 năm (từ 13 đến 30 năm) ngài thuyết tam thừa đồng hành Không giáo. Đó là các Kinh Duy Ma, Tư Ích, Đại Phẩm v.v…
- Thời thứ tư : Phật thành đạo rồi, trong 40 năm (từ 30 đến 40 năm) chỉ thuyết có nhất thừa, vẫn chưa diễn thuyết rõ ràng về Phật tính thường trụ thực tướng, vẫn còn thuyết về Phật quả vô thượng, coi đó là chân thực. Đó là các Kinh Vô Lượng Nghĩa, Pháp Hoa. Vì trên đây chưa thuyết minh nghĩa nhất thừa, vì trong này vẫn chưa diễn thuyết rõ ràng về thường trụ Phật tính
- Thời thứ năm : chỉ khi ngài ở trong rừng Song lâm thuyết rằng : “các chúng sinh đều có Phật tính, thường trụ Phật bảo”. Đó chính là các Kinh Niết Bàn, Đại Bi v.v...

Nhận xét về cách chia năm thời giáo.

Thuyết trên mới xem qua thì thấy cũng được, nhưng theo lý mà xét thì lại không đúng như thế. 

+ Xét thời thứ nhất :
Kinh Đề Vị nói rằng : “năm trăm lái buôn lúc sắp thụ giới, trước tiên sám hối về các tội ngũ nghịch, thập ác, báng pháp v.v... của họ, đã được tứ đại bản tịnh, ngũ ấm bản tịnh, lục trần bản tịnh, ngô ngã bản tịnh
Lúc đó bọn ông Đề Vị được Bất khởi pháp nhẫn, ba trăm lái buôn được Nhu thuận nhẫn, hai trăm lái buôn được quả Tu Đà Hoàn, Tứ thiên vương v.v... được Nhu thuận nhẫn, ba trăm Long vương được Tín nhẫn. Ngoài ra, chư thiên đều phát Vô thượng đạo ý. Mười ức thiên nhân đều thực hành đạo Thập thiện của Bồ tát. Trưởng giả Đề Vị diệt được mọi nỗi khổ ở ba cõi, chứng được Bất khởi pháp nhẫn. Đó chính là Sơ địa tới đệ Bát địa”. 
Lại nữa Kinh Phổ Diệu nói : “sang tuần bảy ngày thứ hai, năm trăm lái buôn bọn ông Đề Vị dâng Phật kẹo mạch nha. Phật đã thụ ký cho, ngài nói ngươi đến đời sau sẽ được làm Phật tên là Tề Thành”. 
Như vậy thì sao lại nói rằng : thời thứ nhất chỉthế gian giáo được ? chỉ vì ngày ấy vẫn chưa thuyết minh về Quán đế chung của tam thừa, nên chưa gọi là chuyển pháp luân. Tới thời năm Tỳ kheo, mới gọi là chuyển pháp luân.
+ Xét thời thứ hai : 
Thứ đến thời thứ hai trong 12 năm chỉ thuyết Hữu giáo. Về điều này, Giác Ái bẻ rằng : thành đạo năm năm thuyết Đại Bát Nhã, chính là thuyết minh thực tướng
Lại nữa, năm thứ bảy thuyết kinh Bát Chu Tam Muội cho tám Bồ tát, đó chính là thuyết minh về lý Chúng sinh Ngũ ấm vốn là không. 
Lại nữa, năm thứ chín thuyết Kinh Ương Quật Ma La Tam Muội, trong năm thứ mười thuyết Kinh Như Lai Tạng, đều thuyết minh về lý thâm diệu của Niết bàn Phật tính. 
Ngoài ra, các Kinh Đề Vị, Phổ Diệu đều thuyết minh về Bồ tát hạnh. Hơn nữa, việc thụ ký cho hạng lái buôn thành Phật chứng tỏ khi mới thành Phật ngài đã thuyết về đại thừa rồi. Vả lại, sau khi thành đạo rồi, sang tuần bảy ngày thứ hai, ngài thuyết Kinh Thập Địa.
Lại nữa, Kinh Đại Bát Nhã nói : “Phật tại Lộc Dã chuyển tứ đế luân, vô lượng chúng sinh phát Duyên giác tâm, vô lượng chúng sinh phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ đề tâm, thực hành sáu Ba la mật, Vô lượng Bồ tát chứng được Vô sinh pháp nhẫn trụ ở Sơ địa, Nhị địa, Tam địa cho tới Thập địa, vô lượng Nhất sinh bổ xứ Bồ tát nhất thời thành Phật”. Thế thì sao lại bảo là thời thứ hai chỉ thuyết tam thừa Hữu giáo được ? 
Thế mới biết rằng : như một trận mưa tưới khắp. Nhưng do bẩm chất mà sự lĩnh giải khác nhau. Chẳng thể nói là Phật thuyết giáo ắt có trước sau. 
Nay theo cổ nghĩa, tạm phá hai thời. 
+ Còn ba thời kia, đều như người xưa đã đả phá rồi.
Thuyết năm thời mới xem cũng được, nhưng theo lý lại không đúng như thế. Sợ văn rườm rà nên chỉ nói sơ qua giờ nên dừng lại.
3) Một thời, ba thời giáo (quan điểm nay)
Y theo kinh mới ngày nay, đốn giáo đại thừa chỉ có một thời, là chỉ nói cho một hạng đại cơ, chẳng khởi từ hạng triển cơ, giáo và bị duy nhất. Cho nên vì căn cơtiệm thứ, đại giáo mới có ba thời.
Trong Kinh Giải Thâm Mật, Phật đã vì Thắng Nghĩa Sinh Bồ tát, y theo ba tích mà thuyết tam vô tính đều là Biến kế sở chấp tính vậy, Thắng Nghĩa Sinh Bồ tát lĩnh giải rất sâu. 
Thuyết rộng ra như các thí dụ về thuốc Tỳ Thấp Phược, lựa các mầu sặc sở, sách, đất, thục tô, hư khôngthế gian. Thế tôn khen ngợi là đã khéo lý giải những điều Phật thuyết.
Thắng Nghĩa Sinh bạch Phật rằng : “Phật xưa ở trong Thí Lộc Lâm, nơi đọa của người tiên Ba La Ni Tư, chỉ vì phát thú (dẫn giải)ù cho hạng Thanh văn thừa cho nên đã dùng tứ đế tướng chuyển chính pháp luân, tuy là rất kỳ đặc, rất hy hữu, hết thảy thế gian không ai chuyển được, nhưng ở pháp luân được chuyển thời đó có Thượng có Dung, đó là chưa liễu nghĩa, là nơi an túc của các mối tranh luận.
Thế tôn trong thời thứ hai xưa, chỉ vì phát thú (khai dẫn) cho hạng tu Đại thừa, đã y theo lý hết thảy mọi pháp đều không có tự tính, không sinh không diệt, bản lai tịch tĩnh, tự tính Niết bàn mà dùng ẩn mật tướng chuyển chính pháp luân. Dẫu rất kỳ đặc hơn, rất hy hữu hơn, nhưng do pháp luân được chuyển ở thời đó cũng là có loại được dung thụ mà chưa liễu nghĩa, vẫn là xứ sở an túc của các tranh luận
Thế tôn trong thời thứ ba ngày nay, để phát thú (dẫn giải) cho khắp hết thảy mọi thừa, đã y theo lý hết thảy mọi pháp đều không có tự tính, không sinh không diệt, bản lai tịch tĩnh, tự tính Niết bàn, không có tính tự tính, dùng Hiển liễu tướng chuyển chính pháp luân. Kỳ lạ hết mức, hy hữu tột độ ! Pháp luân do Thế tôn chuyển ngày nay là vô thượng, không dung thụ thứ gì, cũng chẳng phải là xứ sở an túc của các tranh luận”. 
Theo kinh văn này thì :
- Kinh A Hàm v.v… là thời thứ nhất, tổng mật (bao hàm ngầm) thuyết Hữu, nhưng chẳng thuyết minh rõ về Hữu đó có tính chất gì ?
- Kinh Đại Bát Nhã v.v... là thời thứ hai, tổng mật (bao hàm ngầm) thuyết Không, cũng chẳng thuyết minh rõ về Không ấy có tính chất gì ?
- Kinh Hoa Nghiêm v.v... là thời thứ ba, hiển liễu (rõ bày) thuyết Hữu, Hữu y tha viên thành, cũng hiển liễu thuyết Không, không sở chấp tính cho nên Kinh Thiện Giới v.v... nói rằng : “hữu vi, vô vi gọi tên là Hữu, ngã và ngã sở gọi tên là Không”.
- Kinh Kim Quang Minh v.v... cũng nói Ba pháp luân là Chuyển, Chiếu, Trì : “chuyển Tứ đế pháp, lấy Không chiếu Hữu, phi Không phi Hữu đáng để nhậm trì”.
- Kinh Niết Bàn cũng nói : “xưa có thầy thuốc bảo người ta uống sữa, do thuần uống sữa, người trong nước nhiều kẻ bị chết. Sau có thầy thuốc nói sữa là độc, bảo họ thảy đều đừng uống, người trong nước đều khỏi. Sau vua bị ốm, hỏi nên dùng thuốc gì ? Thầy thuốc thay đơn lại cho sữa hòa với thuốc. Vua tức giận hỏi: “hẳn trước nhà ngươi đã nói sữa là thuốc độc. Cớ sao ngày nay lại sai hòa với thuốc mà uống ?”. Thầy thuốc trả lời nhà vua rằng : “trước kia vì uống thuần sữa, người trong nước nhiều kẻ bị chết, đó là do thường xuyên uống nhiều sữa, nên nói là độc. Sợ người ta không chừa, nên ra lệnh chung bắt chừa. Theo thực lý, có bệnh nên uống, có bệnh chẳng nên, bệnh này nên hòa với thuốc mà uống, vì lẽ đúng phải như vậy”. Phật dạy : Pháp ta cũng giống như vậy”.
- Kinh Pháp Hoa cũng nói : “chúng ta mọi việc tự cho là đủ, chỉ xong việc này là không còn việc gì khác”.
Về l giáo pháp thời đầu, chúng ta nếu nghe về việc tịnh Phật quốc độ, giáo hóa chúng sinh thì đều không vui mừng ưa thích.
Giáo l pháp thời thứ hai, Phật cũng thị hiện sự hi hữu như vậy, biết kẻ yêu thích tiểu thừa. Ngài đã dùng lực phương tiện điều phục tâm họ, rồi mới dạy cho đại trí. Chúng ta ngày nay được pháp chưa từng có, chẳng phải là pháp chúng ta mong ngóng từ trước mà nay tự được.
Giáo l pháp thời thứ ba, thì giống tam thời giáo ở các Kinh Kim Quang Minh, Giải Thâm Mật v.v...
Nếu ' theo cơ nghi thiên niên tiệm thứ (theo thứ tự dần dần), giáo chỉ ba thời, chẳng hợp nhất năm bậc thì chẳng được, khó thể đem một mưa tưới khắp ba cỏ khác nhau, giáo chỉ có một. Kẻ có căn cơ đốn ngộ thì một quả chứng ngay. Tức theo lý này thì không có giáo pháp ba thời. 
Nếu ' cơ thành tiệm thứ (căn cơ được thành tựu theo trình tự dần dần), đại sinh từ tiểu thì giáo pháp nhất định phải có ba, vì phải ứng cơ mà thuyết giáo. Đem lý mà hội với giáo thì gọi là một mưa. Dùng giáo để đến với cơ thì thuyết tam thừa pháp. Hoặc ba hoặc một, lý chẳng trái nhau.
Kinh này ba vòng thuyết nhất thừa xứ, phần nhiều để giúp cho hàng Thanh văn. Trước tiên thuyết Bát Nhã, đã dạy họ về lý Không, phá cái bệnh Hữu của họ. Họ chẳng ngu về pháp, đã tín giải rồi, nay thuyết thời thứ ba, khiến họ quay về đường đúng. (Kinh này) cũng giáo hóa cho hạng đốn ngộ nhân đó mà được phát tâm, trong phần Lưu thông chứng được Vô sinh, như trên đã nói cũng thông đốn giáo. Do vậy biết rằng cùng một trận mưa mà sự tưới nhuần lợi ích có khác nhau, Đó là để cùng nổi bật giáo pháp chân thực của thời thứ ba, nên thuyết kinh này. 
B. HIỂN CƠ
1. Chỉ có một cơ .
Cứ theo Kinh Niết Bàn thì chỉ có một cơ, cho nên kinh này nói: “lúc Sư tử gầm là quyết định thuyết hết thảy chúng sinh đều có Phật tính”. Lại nói: “chúng sinh cũng thế, thảy đều có tâm. Phàm đã có tâm, thì thảy đều sẽ chứng được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”.
Kinh này cũng nói : “trong mười phương quốc độ chỉ có pháp nhất thừa, không có nhị thừa cũng không có tam thừa, trừ Phật phương tiện thuyết chỉ giáo hóa Bồ tát, không có đệ tử Thanh văn”. Cho đến giảng rộng ra rằng : “dù là Thanh văn hay là Bồ tát nghe ta thuyết pháp đều được thành Phật”. Căn cứ vào đó thì chỉ có một tính đại thừa, kinh này đã thuyết nhất thừa giúp cho họ nhận biết căn tính đại thừa của họ. 
2. Hai tính : Lý và Hành :
Tính đại thừahai nghĩa
a) Lý tính, đó là Như Lai tạng đã nói trong Kinh Thắng Man. 
b) Hành tính, đó là Như Lai tạng đã nói trong Kinh Lăng Già.
Tính trước ai cũng có, tính sau người có người không. Nói về Hữu tạng, thì không nói đều thành Phật.
Theo như trong Thiện Giới Kinh, Địa Trì luận thì chỉ có hai : một là hữu chủng tính, hai là vô chủng tính. Kinh luận đó nói rằng : Tính chủng tính là từ vô thủy đã thế, sáu xứ thù thắng vần xoay nối nhau, thế thì theo Hành tính đó là hữu chủng tính. Vì người vô chủng tính không có chủng tính, nên dù có phát tâm siêng năng tu hành tinh tiến, rốt cuộc cũng chẳng chứng được vô thượng Bồ đề. Chỉ nhờ thiện căn của loài người, loài trời mà thành tựu được vô thượng Bồ đề, đó tức là vô tính. Ở đây giúp cho hữu tính chẳng phải là giúp cho vô tính. Ở đây căn cứ vào Hành tính mà thuyết Hữu Vô.
Ở dưới phần nhiều là y theo Hành tính mà thuyết, vì Lý tính ai cũng có. Y theo Hữu chứ chẳng theo Vô, vì hơn kém khác nhau cho nên Nhiếp luận của ngài Thiên Thân cũng nói : “vì thượng thừa, hạ thừa có sự khác biệt, nên Bồ tát, Thanh văn mỗi loại chia ra ba tạng”.
Thêm nữa, chỗ nào cũng nói trong mười lực của Như Laicác loại trí lực thượng căn, hạ căn. Đó tức là thượng thừa Bồ tát tạng nhiếp, để giúp thượng căn y theo Hữu chẳng theo Vô, y theo Dị chẳng y theo Đồng, từ Thông đến Biệt. 
Kinh này còn nói : “vì hạng cầu Thanh vănthuyết pháp ứng với lý tứ đế, vì hạng cầu Duyên giácthuyết pháp ứng với lý mười hai nhân duyên, vì hạng cầu Bồ tátthuyết pháp ứng với sáu Ba la mật”. Kinh này thuyết về nhất thừa tức là vì hạng cầu Bồ tátthuyết pháp ứng với sáu Ba la mật.
Phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương ở văn phần dưới kinh này nói rằng có tám vạn bốn ngàn người xa lìa trần cấu khi nghe Phật nói phẩm kinh này. Điều đó cũng có thể nói là giúp cho Thanh văn, vì làm lợi ích cho các loại ở chung quanh mình, Hữu Vô đều nêu, Đại Tiểu các loại đều có; y theo Đồng chẳng y theo Dị, lấy Biệt nhiếp Thông.
Kinh Niết Bàn nói : “ví như người bệnh có ba loại: một là loại dù gặp lương y hay không gặp lương y cũng nhất định có thể khỏi, đó là Bồ tát vậy. Hai là nếu gặp thì khỏi, chẳng gặp chẳng khỏi, đó là nhị thừa. Ba là dù gặp hay không, nhất định chẳng khỏi, đó là Nhất xiển đề”.
Kinh này cũng nói : “Luân Vương, Đế thích, Phạm vương là loại cỏ thuốc nhỏ; Thanh văn, Duyên giác là loại cỏ thuốc vừa; Bồ tát lớn nhỏ gọi là cỏ thuốc lớn. Tùy theo thứ bậc trái ngược, cũng đều Niết bàn”. 
Nay ở đây chỉ giúp cho người có tính Bồ tát, vì họ trước tuy là Thanh văn, nhưng sau làm Bồ tát. Lại cũng có thể là giúp cho hạng Thanh văn đó, như trên đã nói y vào Hữu chẳng y vào Vô, Thông Biệt khác loại. 
Thêm nữa, trong Kinh Đại Bát Nhã, Thiện Dũng Mãnh Bồ tát nói : “chỉ xin Thế tôn thương xót chúng con, tuyên thuyết tường tận cho chúng con về cảnh trí Như Lai”. 
Loài hữu tình nếu ở trong hạng Thanh văn thừa tính quyết định, nghe pháp này rồi có thể mau chóng chứng được Tự vô lậu địa; nếu ở trong hạng Độc giác thừa tính quyết định, nghe pháp này rồi mau chóng y theo thừa của mình mà được xuất ly; nếu ở trong hạng Vô thượng thừa tính quyết định, thì nghe pháp này rồi sẽ mau chóng chứng được vô thượng Chính đẳng Bồ đề. Loài hữu tình nếu là hạng chưa nhập chính tính ly sinh và ở trong hạng tam thừa tính bất định, nghe pháp này rồi sẽ phát vô thượng Chính đẳng giác tâm.
Các luận tuy nói : “thánh cũng hồi tâm”. Nay nói chẳng thụ Biến dịch sinh tử, vì hồi tâm vậy, nên nói chưa nhập chính tính ly sinh. Kinh này giúp cho các hạng Đại thừa định tính. Còn Thanh văn định tínhbất định tính như trên đã dẫn. Song không có lời văn nói giúp cho hạng có căn cơ Độc giác. Hữu Vô đều nêu, để Thông theo Biệt. 
Lại nữa, Kinh Thắng Man nói : “ví như đại địa mang bốn gánh nặng : Một là biển cả, hai là núi non, ba là cỏ cây, bốn là chúng sinh. Như vậy thiện nam tử nhiếp thụ chính pháp có thể kham nổi bốn nhiệm vụ nặng nề, có nghĩa là đối với các chúng sinh phi pháp, không nghe pháp, xa lìa bậc thiện tri thức thì dùng thiện căn của người, của trời mà thành tựu cho họ; ai cầu Thanh văn thì truyền thụ cho họ Thanh văn thừa, ai cầu Duyên giác thì truyền thụ cho họ Duyên giác thừa, ai cầu đại thừa thì truyền thụ cho họ đại thừa”. 
Ở đây giúp cho đại thừa, có thể giúp tới hàng Thanh văn, chứ chẳng giúp hai tính còn lại, y vào Hữu chẳng y vào Vô, Thông Biệt khác loại, hiện đương phi hữu
Kinh Lăng Già nói : “Phật bảo Đại Tuệ, có năm loại chủng tính chướng pháp : một là Thanh văn thừa tính, hai là Bích chi Phật thừa tính, ba là Như Lai thừa tính, bốn là Bất định thừa tính, năm là Vô tính, tức là Nhất xiển đề. Đây có hai loại :
- Một là loại thiêu đốt hết thảy thiện căn tức là báng Bồ tát tạng.
- Hai là loại thương xót hết thảy chúng sinh, có nguyện vọng muốn hết thảy chúng sinh giới đều được thành Phật. Đó là Bồ tát với lời nguyện : Nếu chúng sinh chẳng nhập Niết bàn thì ta cũng chẳng nhập.
Đại Tuệ bạch rằng : “hai loại này loại nào thường chẳng nhập Niết bàn ?” Phật dạy : “Bồ tát là loại thường chẳng nhập Niết bàn, chứ không phải là loại thiêu đốt hết thảy thiện căn. Vì biết các pháp bản lai Niết bàn, chẳng bỏ hết thảy mọi chúng sinh”. 
Kinh này độ cho các hạng Thanh văn cùng Như Lai thừa tính, các hạng Bất Định tính cùng loại Bồ tát đại bi trong hạng Nhất xiển đề; chứ chẳng giúp hạng Độc giác tính và hạng đoạn thiện, Hữu Vô đều thuyết, Thông Biệt khác loại.
Có năm chủng tính, bốn loại đầu giống như Kinh Lăng Già. Loại thứ năm có hai hạng : một là Thời biên, hai là Tất cánh. Thời biên tức là tạm thời; Tất cánh có nghĩa là vô nhân. Kinh này độ cho bốn loại đầu, trong đó trừ loại Độc giác và tính thứ năm; y vào Hữu rồi đề cập tới Vô, đương thành bất thành, Thông Biệt khác loại.
Du Già lại nói : có năm chủng tính, bốn loại đầu giống như trên, loại thứ năm chỉ có một hạng gọi là Vô chủng tính. Kinh này độ cho họ giống Kinh Trang Nghiêm. Nếu coi Nhất thừatông chỉ thì chỉ độ cho hạng có Bồ tát tính, chẳng độ cho hạng chỉ có Thanh văn tính. Một mưa tưới nhuần, ba cỏ mỗi thứ mỗi khác, có thể độ cho Thanh văn.
Kinh Du Già cũng nói : “đạo vô gián hay xa trần, đạo giải thoát lìa được cấu. Chứng Thắng trí này gọi là Pháp nhãn tịnh, tức là Kiến đế Dự lưu quả v.v...” . Cho nên biết rằng : chẳng phải là chỗ thuyết về nhất thừa cũng độ Thanh văn. Kinh hội đã có, cho nên đặt Thông giáo này, vì giúp cơ nghithuyết kinh này vậy.

 

II. TÔNG CHỈ CỦA KINH

Có nhiều cách phân chia kinh luận ra làm nhiều tông.

II. 1 - CHIA THÀNH 4 TÔNG.
Các vị tiên đức ở phương này phân tích chung các kinh luận, nên thành bốn tông : 
1. Lập tính tông, đó là các Kinh Tạp Tâm v.v... lập ra ngũ tụ pháp vì có thể tính
2. Phá tính tông, đó là Thành Thực luận v.v... phá các pháp có Thể, vì các pháp chỉ có Tướng. 
3. Phá tướng tông, đó là Kinh Bát Nhã v.v... phá luôn pháp tướng trạng, vì tướng trạng cũng thành không. 
4. Hiển thực tông, đó là các Kinh Niết Bàn, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa v.v... vì nêu rõ đạo nghĩa ở trong chân thực
Kinh này tức là tông thứ tư vậy. 

II.2 - CHIA THÀNH 4 BỘ TÔNG.
Vả lại kinh luận xưa, tông chỉ rất nhiều. Ở đây nêu 4 bộ nghĩa :
1) Tứ A Hàm cũ và Tăng Kỳ đại luật là Đại chúng bộ nghĩa.
2) Tam Di Đế luận là Thượng tọa bộ nghĩa.
3) Xá Lợi Phất A Tỳ Đàm, Phạm Võng Lục, Thập Nhị Kiến Kinh là Chính lượng bộ nghĩa.
4) Tứ Phần luậtPháp tạng bộ nghĩa.
Các kinh luận đó lại là tông gì ?

II.3 - CHIA THÀNH 22 TÔNG.
Song Văn Thù Vấn Kinh và Tông Luân luận nói rằng tiểu thừa có 20 bộ, đó là :
Đại chúng bộ - Nhật thuyết bộ - Thuyết xuất thế bộ - Kê dận bộ - Đa văn bộ - Thuyết giả bộ - Tây đa sơn bộ - Tây sơn trụ bộ - Bắc sơn trụ bộ - Thuyết nhất thiết hữu bộ - Tuyết chuyển bộ - Độc tử bộ - Pháp thượng bộ - Hiền trụ bộ - Chính lượng bộ - Mật lâm sơn bộ - Hóa địa bộ - Pháp tạng bộ - Ẩm quang bộ - Kinh lượng bộ.
Gộp với hai tông của đại thừa tổng cộng là 22 tông.

II.4 - CHIA GIÁO THÀNH 3 TÔNG.
Nay theo văn mà phân tích về Giáo thì giáo chỉ có ba. Nếu theo loại mà xếp thành Tông, tông lại có tám. 
Về Giáo, có ba tông : 
1) Đa thuyết Hữu tông, đó là nghĩa tiểu thừa như các Kinh A Hàm v.v... tuy phần nhiều thuyết về Hữu, nhưng chẳng trái với lý Không
2) Đa thuyết Không tông, đó là Trung luận, Bách luận, Thập Nhị Môn luận, Bát Nhã kinh v.v... tuy phần nhiều thuyết về Không nhưng cũng chẳng trái với Hữu. 
3) Phi Không Hữu tông, đó là các Kinh Hoa Nghiêm, Giải Thâm Mật, Pháp Hoa v.v... vì nói rằng : hữu vi, vô vi thì gọi là Hữu, ngã và ngã sở thì gọi là Không.

II. 5 - CHIA THÀNH 8 TÔNG.
Về tông có đến tám : 
1) Ngã pháp câu hữu (ngã pháp đều có) : đó là Độc tử bộ v.v...
2) Hữu pháp vô ngã (có pháp không ngã) : như Tát Bà Đa v.v...
3) Pháp vô khứ lai (pháp không đi không đến) : như Đại chúng bộ v.v...
4) Hiện thông giả thực như : Thuyết giả bộ v.v...
5) Tục vọng chân thực : như Thuyết xuất thế bộ v.v...
6) Chư pháp đãn danh (các pháp chỉ có danh) : như Thuyết nhất thiết hữu bộ v.v...
7) Thắng nghĩa giai không (Thắng nghĩa đều không) : như Kinh Bát Nhã... Trung luận, Bách luận... của ngài Long Thụ thuyết. 
8) Ứng lý viên thực : là Kinh Pháp Hoa này v.v... Trung đạo giáo của ngài Vô Trước thuyết. 
Thành Thực luận, Nghĩa Kinh Bộ Sư Tông, tương đương với tông thứ tư là Hiện thông giả thực. Tuy nghĩa sai biệt cộng là 22 loại, song theo lý thì hoàn toàn sai biệt không quá 8 loại này.

II.6 - CHỈ CÓ MỘT TÔNG.
Song Kinh Hoa Nghiêm nói : “Như Lai dùng một ngôn ngữ để diễn thuyết biển khế kinh vô bờ”.
Kinh Vô Cấu Xưng nói : “Phật dùng một âm diễn thuyết pháp, chúng sinh tùy loại đều được lĩnh giải”. 
Kinh Vô Lượng Nghĩa nói : “từø khi ta thành đạo tới nay hơn bốn mươi năm, thường thuyết pháp chẳng sinh chẳng diệt, chẳng đi chẳng đến, không có cái này không có cái kia, không được không mất, hết thảy không tướng, chỉ do chúng sinh ngộ giải khác nhau, nên được các quả khác nhau”. 
Kinh Pháp Hoa cũng nói : “một trận mưa tưới khắp, ba cỏ hai cây sinh trưởng khác nhau”.
Kinh Ưu Bà Tắc Giới nói : “ba con thú sang sông, phân biệt được nông sâu”.
Nhiếp luận cũng nói : “như trống trời Mạt-ni, không nghĩ mà thành công việc của mình”.
Cho nên biết rằng các giáo pháp vốn không có sự sai biệt, do căn cơ khác nhau nên phân chia ra các giáo Đại, Tiểu, Đốn, Tiệm. Kinh này còn đảm đương Đại Tiệm giáo. Đó là y theo việc hóa dụ Thanh văn để họ quy y theo đại thừa, nên gọi là Tiệm. 
Trong phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bản Sự, tám vạn bốn ngàn người xa lìa trần cấu, được Pháp nhãn tịnh, tức là Sơ quả… Trong phẩm Như Lai Thọ Lượng, tám thế giới vi trần số chúng sinh phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm. Trong phẩm Phổ Môn, tám vạn bốn ngàn chúng sinh đều phát vô đẳng đẳng A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm, có thể thành Đốn giáo.
Cho nên, biết rằng Đốn Tiệm không khác, Giáo Môn tùy cơphân chia ra. Hai giáo Bán Mãn, thuộc Mãn tông chỗ nhiếp. Sinh Pháp hai không, thuộc Thông nhị giáo nhiếp. Hữu tác, Vô tác, có thể quán triệt cả hai môn. Thế tục, Thắng nghĩa, tùy ứng chia hai. Tuy biết Thông chỉ tông nghĩa như vậy, tùy theo sự thuyết minh khác nhau, nhất thừa chính là tông vậy. Cho nên kinh văn phần dưới nói : “nay trong kinh này chỉ thuyết nhất thừaxưa kia trước mặt Bồ tát chê trách Thanh văn là thích tiểu pháp, song Phật thực ra là dùng đại thừa mà giáo hóa”. 
Cho nên ở đây nhất định là lấy nhất thừa làm tông. Nghĩa nhất thừa tới trong phần : “vì một đại sự nhân duyên” ở phẩm Phương Tiện sẽ phân biệt rộng.

 

III. GIẢI THÍCH TÊN GỌI CỦA KINH PHẨM

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa này, tiếng Phạm gọi là: Tát Đạt Ma Bôn Đồ Lợi Ca Tố Đát Lãm.
Tát : có nghĩa là chính diệu, nên ngài Pháp Hộ gọi kinh này là Chính Pháp Hoa, ngài La Thập thì gọi là Diệu Pháp Liên Hoa.
Đạt Ma : có nghĩa là pháp.
Bôn Đồ Lợi Ca : là hoa sen trắng.
Tây vực gọi hoa sen trắng là Bôn Đồ Lợi Ca, nên trong kinh mới nói về bốn loại hoa sen xanh vàng đỏ trắng, gọi là hoa Uẩn Bát La, hoa Câu Mỗ Đà, hoa Bát Đặc Ma, hoa Bôn Đồ Lợi, cứ theo thứ tự mà phối với nhau.
Liên : đây là chỉ quả của cây sen.
Hoa : là hoa mỹ, hoa mỹ thì gọi là hoa.
Tố Đát Lãm : có nghĩa là kinh.
Ngài Nghĩa Ứng gọi là Diệu Pháp Bạch Liên Kinh. Bởi vậy kinh văn ở phần dưới nói: “phóng hào quang trắng, thắng xe bằng trâu trắng”. Màu trắng là chỗ y cứ căn bản của các màu, vì nhất thừa chính là căn bản của các thừa.
Bản tiếng Phạm không có chữ trắng riêng, cho nên gọi chung là Liên Hoa. Trong kinh này ngài Thu Tử ba lần thỉnh, kẻ ác rút lui, sau đó Phật mới thuyết tông chỉ sâu xa của Nhất thừa. Phần nhiều là dựa vào nhân quả của lý trí để đặt tên Pháp Hoa.
- Khai Phật tri kiến : hai lần tán thán nêu bật Lý và Trí, hai thân Pháp, Báo , vì khiến chúng sinh ưa thích.
- Thị Phật tri kiến : chỉ rõ hai loại Vô thượngPháp thân lý, cùng khiến chúng sinh hiểu được.
- Ngộ Phật tri kiến : chỉ rõ Báo thân trí, khuyên người ta tu hành chứng ngộ.
- Nhập Phật tri kiến : chỉ rõ ba loại tán thán trên đây làm nổi bật Phật quả, hai thân Pháp, Báo; hai thứ Niết bàn,
Do đã tu học Bồ đề lý trí, được nhập tri kiến Phật là bắt đầu từ hai nhân này : 
a) Vì tu hành nhân nhất thừa thì đạt tới cực quả. Đem xe trâu chia đều cho, đó là nhân nhất thừa.
b) Được xe như vậy đem cho các con để chúng cả đêm cả ngày trải bao kiếp số tự tại rong chơi đó là nhân thừa
Diệt Hóa thành đi, dẫn tới Bảo sở là quả nhất thừa, vì Đại bát Niết bàn gọi là Bảo sở, cũng không trái nhau với việc phân tích ra thành ba loại vô thượng, trung, biên. Giáo năng thuyên gọi tên là quyền phương tiện. Trí tuệ sở thuyên gọi là chân thực thừa. Trong chân thực thừa muốn khiến cho nhị thừa tu hành cái nhân để đạt tới quả, nên thuyết nhân quả gọi là Pháp Hoa
Cho nên bản luận giải thích phẩm Phương Tiện nói: “từ đây trở xuống thuyết minh cái gọi là tướng nhân quả. Do đó, chính giữ nhất thừa Hạnh Quả gọi là Pháp Hoa”.
Nếu y theo luận giải trong 17 danh của Kinh Vô Lượng Nghĩa thì danh thứ 16 là Diệu Pháp Liên Hoa
Liên Hoa (hoa sen) có hai nghĩa
1) Xuất thủy (ra khỏi nước), vì lý sở thuyênxuất ly khỏi nước bùn đục nhị thừa.
2) Khai phô (mở bày), vì dùng thắng giáo ngôn để mở ra chân lý
Nghĩa trước là Lý diệu, nghĩa sau là Giáo diệu. 
Thêm nữa trong các danh trên, danh thứ 14 cũng gọi là thừa. Cho nên biết rằng Pháp Hoa cũng thông cả Giáo lẫn Lý, muốn khiến Bồ tát quán xét căn cơ mà thụ đạo, nên thuyết giáo lý chính danh Vô Lượng Nghĩa, bên cạnh cũng gọi là Pháp Hoa
Phẩm Phương Tiện nói : “trí tuệ chư Phật rất sâu vô lượng. Trí tuệ môn của các ngài khó giải thích, khó chứng nhập”. Luận phẩm Tựa giải thích rằng : có hai thứ rất sâu. Một là chứng rất sâu, đó gọi là Phật trí tuệ sở chứng trí, hai là A Hàm rất sâu, tức là thuyết minh giáo đó, muốn quét nhị thừa khiến sinh kính tâm.
Khởi lên từ Vô Lượng Nghĩa Xứ định, đầu tiên dùng giáo lý gọi tên là Pháp Hoa, thâu tóm các văn, cứ thực mà thuyết : Giáo, Lý, Hạnh, Quả đều là nhất thừa, đều gọi tên là Diệu Pháp Liên Hoa. Giáo, Lý của Diệu Pháp thứ tự như trên đã nói. 
- Hạnh Diệu Pháp : luận giải thích về Nhập tri kiến nói : “khiến chứng bất thoái chuyển địa, vì thị hiện vô lượng trí nghiệp, chính là nhân thừa của Phật quả”. Phẩm Thí Dụ nói : “thân và tay ta có lực sẽ đem quần áo, bàn ghế chuyển từ trong nhà ra ngoài”. Lại nói: “chỉ có một cửa mà lại nhỏ hẹp”. Lại nói: “ta tuy ở cái cửa nhà bị cháy này, vẫn thoát ngoài ra được yên ổn”. Đại thừa nhân hành được ví với cửa, vì đó chính là lối phải đi. Nhân nhị thừa được bi trí, dẫn dụ ví với áo quần, bàn ghế, vì đó là những thứ có thể tùy nghi vứt ra. Ba thừa nói trên vẫn còn ở trong căn nhà tam giới chia ra từng đoạn, nên đặt tên là xe (thừa). 
Lại nói: “được xe (thừa) như vậy để các con ngày đêm kiếp số thường tự tại rong chơi, cùng các Bồ tátThanh văn chúng cưỡi bảo thừa này thẳng tới đạo tràng. Cho nên biết rằng nhân hành vô lậu là phải ra khỏi nhà lửa”. Ra khỏi nhà lửa chính gọi là nhất thừa, tự tại chẳng bị ràng buộc, không dựa không cầu ở đâu. Cho nên phẩm Phương Tiện nói : “tu hành hết mọi vô thượng đạo pháp của chư Phật”. Luận nói rằng tu hành rất sâu, cho nên Hạnh có thể thành được Phật quả cũng gọi là Pháp Hoa
- Quả Diệu Pháp : luận giải thích Khai, Thị, Ngộ là vô thượng nghĩa, nhân đồng nghĩa, bất tri nghĩa, tức là Phật quả, Niết bàn, Bồ đề. Kinh văn phần dưới nói : “chư pháp tịch diệt tướng, chẳng dùng lời mà thuyết”. Cho nên biết rằng Phật quả chân lý cũng gọi là nhất thừa. Còn nói rằng: vì thuyết Phật trí tuệ, cho nên chư Phật ra đời. Thế thì biết rằng: Phật quả chánh trí cũng gọi là nhất thừa. Do đó, nói chung Giáo, Lý, Hạnh, Quả của đại thừa đều có cái đức của Liên Hoa (hoa sen) mà thoát ra khỏi nước đục nhị thừa, vì Giáo có cái công năng phô diệu Lý, Lý có cái lực năng sở xuất thủy, Hạnh có cái tướng từ nhân phô tới Quả, Quả có khả năng kết hạt làm nhân. Thế nhưng pháp phải mượn thí dụthuyết minh, lý vi diệu nhờ vậy mới được nổi rõ, cho nên mượn hoa hạt của cây Bôn đồ lợi để ví với quả nhân của Tát Đạt Ma.
Pháp ] đã tóm thâu bốn nghĩa, thì Hoa cũng bao gồm bốn đức :
a) Bốn nghĩa của Pháp đó là : 
1) Khế hợp với nghĩa lý vi diệu của mật tích, đó là Giáo vậy.
2) Hợp với tông chỉ huyền diệu của cơ duyên sâu kín, đó là Lý vậy.
3) Khắc được áo nghiệp thượng thừa, đó là Hạnh vậy.
4) Viên thành chân tông chí giác, đó là Quả vậy.
Tốt đẹp hết mức nên gọi là Diệu. 
b) Bốn nghĩa của Hoa đó là :
1) Nụ sen xoè nở để thấy sen, ví như Giáo được tuyên dương để tỏ ngộ tông chỉ.
2) Hoa sen nở ra từ ao thiêng, ví với Lý nổi bật vượt từ vận nhỏ.
3) Cả hoa xòe nở mà được hạt, ví với Nhân nghiêm mà Quả mãn.
4) Nêu hạt kết thành gốc hoa, tỏ rõ Phật trí là nguồn thừa.
Cho nên mượn hoa senthí dụ, đó là có nguyên do vậy. Cứ theo lý này thì Pháp có bốn nghĩa tốt đẹp cũng như Hoa. Song quan sát ý trong kinh tuy có đủ cả bốn, phẩm Phương Tiện ý nêu rõ xưa kiaquyền Giáo thuyết ba thừa, nay trong hội này Lý thực chỉ có một. Pháp mà Phật chứng được rất sâu, khó giải thích cho người khác liễu ngộä. Có dùng lời lẽ để thuyết minh, ý nghĩa cũng rất khó biết, cho nên dùng Phật trí để đối trị dẫn dụ hạng nhị thừa. Giáo, Lý hai thứ đó phải lấy Liên Hoa làm thí dụ, phủi sạch nhị thừa đó khiến bậc chân thánh hiển lộ, cùng chọn nhất thừa, khiến kẻ giả thánh phải rút lui mà đi.
Ba ] lần thỉnh rồi sau Phật mới chính thức giảng cho : 
Một đại sự nhân duyên là chính thể của Pháp Hoa, tức là lấy Hạnh Quả coi đó là Pháp Hoa; Khai, Thị, Ngộ là quả, vì Nhập là nhân hành. Cho nên Kinh Vô Lượng Nghĩa giải là “Liên Hoa xuất thuỷ” (Hoa sen ra khỏi mặt nước), có hai nghĩa: mới đầu chẳng thể tận giải tính Bồ tát đốn ngộ thoát ra khỏi nhị thừa ; sau ví dụ hàng Thanh văn vào ngồi trong đại chúng, để nêu bật việc họ y theo Giáo, quán chiếunhất thừa mà thành Tiệm ngộ. Cũng như Bồ tát thường ngồi hoa sen, bên cạnh có hàng nhị thừa, kiêm thuyết Giáo và Lý.
Hoặc Kinh Vô Lượng Nghĩa thuyết cho Bồ tát về lòng dục của chúng sinh, đã phân tích ra thành vô lượng dục, khiến Bồ tát dùng hai thứ Giáo và Lý để khơi gợi căn cơ của chúng sinh. Cho nên trong luận giải 17 danh, chỉ dùng hai thứ Giáo và Lý để giải thích danh từ Liên Hoa. Kinh này giáo hóa hạng nhị thừa kia để họ phát tâm cầu đại thừa, chỉ lấy Hạnh Quả mà gọi tên là Liên Hoa.
Thêm nữa, kinh này giáo hóa nhị thừa để họ theo về đại thừa. Khiến họ biết rằng việc giáo hóa vì lẽ quyền nghi mà tạm đặt ra ba thừa, song lý thể chỉ là một (là nhất - Phật thừa) để họ phát tâm tu hành, cuối cùng thành được Phật quả. Cho nên Giáo Lý Hạnh Quả đều có tên gọi là Liên Hoa, vì Giáo Hạnh cùng khai phô, Lý Quả đều xuất thủy. Trong 17 danh ở phần dưới sẽ phân biệt thêm.
Nếu chỉ coi chân như là thể của nhất thừa Diệu Pháp, còn Liên Hoahai nghĩa xuất thủy và khai phô, thí dụ rộng mà pháp hẹp, về lý hẳn chẳng phải như thế. Huống hồ luận chỉ giải thích tên kinh, chứ chẳng giải thích điều này. Pháp đã là Diệu, chính là Liên Hoa.
Hai cách giải thích Trì nghiệp, Y chủ như thứ tự trên cũng được. Sự Diệu mầu của đại Pháp, đó là Y chủ thích (theo chủ đềgiải thích). Diệu Pháp này như Liên Hoa, cũng là Trì nghiệp thích (theo công nănggiải thích). Nay ở đây chẳng muốn giải thích riêng về Liên Hoa, nên chẳng phải là giải thích trái ngược nhau. 
Nếu Lý là Diệu, kinh chỉ là Giáo, thì nói Diệu Pháp Liên Hoa Kinh là Y chủ mà giải thích. Nếu Diệu Pháp là Giáo, kinh cùng là Giáo thì nói Diệu Pháp Liên Hoa Kinh tức là Trì nghiệp mà giải thích. Nếu Diệu Pháp là Lý, kinh cũng là Lý, thì nói Diệu Pháp Liên Hoa Kinh cũng là Trì nghiệp mà giải thích. Nếu Diệu Pháp là Giáo, kinh là Lý thì cũng là Y chủ mà giải thích.
Y vào Thuận thể nghĩa, Xứ trung nhân, Xuất thế báo, Y nhân y pháp, Y pháp y dụ, lấy đó làm tên gọi của kinh như Tông luận nói, thì ý nghĩa của phẩm Tựa v.v… đều giải thích theo tên gọi của các phẩm đó. 
- Kinh có 28 phẩm, đó là : phẩm Tựa, phẩm Phương Tiện, phẩm Thí Dụ, phẩm Tín Giải, phẩm Dược Thảo Dụ, phẩm Hóa Thành Dụ, phẩm Ngũ Bách Đệ Tử Thụ Kýï, phẩm Thụ Học Vô Học Nhân Ký, phẩm Pháp Sư, phẩm Kiến Bảo Tháp, phẩm Đề Bà Đạt Đa, phẩm Khuyến Trì, phẩm An Lạc Hạnh, phẩm Tòng Địa Dũng Xuất, phẩm Như Lai Thọ Lượng, phẩm Phân Biệt Công Đức, phẩm Tùy Hỷ Công Đức, phẩm Pháp Sư Công Đức, phẩm Thường Bất Khinh Bồ tát, phẩm Như Lai Thần Lực, phẩm Chúc Lụy, phẩm Dược Vương Bồ Tát Bản Sự, phẩm Diệu Âm Bồ Tát, phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn, phẩm Đà La Ni, phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bản Sự, phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát.
Các phẩm này nói chung chia làm bốn loại : 
1) Lấy một nghĩa mà đặt tên, có 15 phẩm. 
2) Lấy hai nghĩa mà đặt tên, có 10 phẩm. 
3) Lấy ba nghĩa mà đặt tên, có 1 phẩm. 
4) Lấy nghĩa bất định mà đặt tên, có 2 phẩm. 
Trong ] 15 phẩm lấy một nghĩa mà đặt tên, có bốn lệ :
a) Theo pháp mà đặt tên có bốn, đó là : phẩm Phương Tiện, phẩm Tín Giải, phẩm Khuyến Trì, phẩm Đà La Ni
b) Theo thí dụ mà đặt tên, có ba phẩm : phẩm Thí Dụ, phẩm Dược Thảo Dụ, phẩm Hóa Thành Dụ. 
c) Theo người mà đặt tên, có bốn phẩm : phẩm Pháp Sư, phẩm Đề Bà Đạt Đa, phẩm Thường Bất Khinh Bồ Tát, phẩm Diệu Âm Bồ Tát.
Phẩm Pháp Sư : Sư có pháp là theo trong nhân danh; Pháp tức là Sư, lấy pháp làm theo sư theo trong pháp danh, thế nào cũng được. 
d) Theo sự mà đặt tên phẩm, có bốn : phẩm Tựa, phẩm Thụ Ký, phẩm Tòng Địa Dũng Xuất, phẩm Chúc Lụy
Trong ] mười phẩm lấy hai nghĩa làm danh, có ba lệ : 
a) Lấy nhân pháp mà đặt tên, có tám phẩm : phẩm Thụ Học Vô Học Nhân Ký, phẩm Như Lai Thọ Lượng, phẩm Pháp Sư Công Đức, phẩm Như Lai Thần Lực, phẩm Dược Vương Bồ Tát Bản Sự, phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn, phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bản Sự, phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát
b) Lấy năng sở mà đặt tên có một phẩm : phẩm Phân Biệt Công Đức
c) Lấy nhân quả mà đặt tên có một phẩm : phẩm Tùy Hỉ Công Đức.
] Lấy ba nghĩa mà đặt tên, có một phẩm : 
Đó là phẩm Ngũ Bách Đệ Tử Thụ Ký, Ngũ Bách (năm trăm) là số, đệ tử chỉ người, thụ ký chỉ sự, nên thành ba nghĩa. 
] Lấy nghĩa bất định làm danh, có hai phẩm :
Một là phẩm An Lạc Hạnh; hai là phẩm Kiến Bảo Tháp.
Vì nghĩa từ An Lạc thông cả nhân quả, nghĩa của Kiến thông cả Kiến, Hiện. An Lạc ở tại nhân, Kiến chỉ là Hiện, thì tức là trong loại tên một nghĩa. Nếu An Lạc tại quả, Kiến chỉ là Kiến, thì tức là trong loại tên hai nghĩa theo đó mà ngẫm, có thể rõ hết. 
Hơn nữa, ở đây chỉ căn cứ vào tổng loại để phân biệt tên gọi các phẩm, còn việc vì sao lại được đặt tên như vậy, thì tới từng phẩm sẽ giải thích.

 

IV. VIỆC ĐAT BỎ TÊN PHẨM 

Xét căn bản kinh này, bản do ngài Cưu Ma La Thập phiên dịch thời Diêu Tần hưng thịnh, chỉ có 27 phẩm, không có phẩm Đề-Bà-Đạt-Đa. Sách Tòng Đa Lục của Sa môn Đạo Tuệ nói rằng: Thích Pháp Hiến chùa Thượng Định Lâm tìm được bản tiếng Phạm kinh này ở nước Vu Điền có phẩm này.
Sa môn Pháp Ý ở chùa Ngõa Quan đã dịch phẩm này vào tháng 12 năm Vĩnh Minh thứ Tám triều Tề, nhưng vẫn chưa đặt phẩm này vào trong Kinh Pháp Hoa. Tới cuối đời Lương có vị Sa môn ở nước Ưu Thiền Ni thuộc Tây Thiên trúc, gọi là Câu La Na Đà, ở phương đây gọi là Gia Y, còn có tên Phạm là Bà La Mạt Đà, ở phương đây gọi là Chân Đế, cũng dịch phẩm này và mới bắt đầu đặt vào sau phẩm Kiến Bảo Tháp.
Lại có Sa Môn Trúc Pháp HộĐôn Hoàng, dịch Kinh Chính Pháp Hoa vào đời Vũ Đế triều Tấn, phẩm Đề-Bà-Đạt-Đa cũng đặt sau phẩm Kiến Bảo Tháp. Xưa có truyền lại cách giải thích nói rằng : “phía Tây núi Thông lĩnh phần nhiều có phẩm này, còn phía Đông phần nhiều không có. Cưu Ma La Thập vốn ở nước Quy Tư, nên không có phẩm này”. Nếu thế thì ngài Pháp Hiến ở nước Vu Điền sao lại có được phẩm này, vì Vu Điền cũng ở phía Đông núi Thông lĩnh
Lại có cách giải thích rằng : “phẩm Kiến Bảo Tháp mệnh trì và phẩm Khuyến Trì ứng mệnh, ngữ thế liên tiếp nhau, thế mà bỗng nhiên lại có phẩm Thiên Thụ (Đề Bà Đạt Đa) len vào giữa thì văn thế sơ đoạn, Cưu Ma La Thập sợ đời sau có nhiều điều nghi hoặc, nên đã lược bỏ đi”. Nếu thế thì việc lấy hay bỏ chân văn đều do ngài Thập, việc lược bỏ văn rườm rà tốt xấu đều do một người, thế là chưa được. 
Thích Đạo An vì thấy những người dịch kinh, phần nhiều hay lược bỏ kinh văn nên mới viết thiên Ngũ Thất Tam Bất Dị nói : các La Hán kết tập kinh văn nơm nớp thận trọng như vậy, bọn phàm phu đời mạt tầm thường như thế mà lại đổi lời sâu xa kín đáo của ngàn đời trước để hòa theo mạt tục của trăm vua đời sau, há chẳng đau sao ! Cho nên phẩm Thiên Thụ, các bản tiếng Phạm đều có. 
Hơn nữa, phẩm Thiên Thụ tỏ rõ ý trọng pháp, coi đó là sàng giường để cầu thế lực lớn của kinh ở Long cung ào ra, uy lực kinh nhanh chóng làm cho Long nữ thành đạo, tán thán để khuyến hóa người ta, cớ sao liền ngay sau đó chẳng có phẩm Khuyến Trì
Chỉ biết rằng bản tiếng Phạm có phẩm này, mà bản của ngài Cưu Ma La Thập thiếu. Cứ theo bản đó mà dịch nên không có phẩm này. Đã chẳng thể căn cứ vào Đông hay Tây mà phán định, thì cũng chẳng thể vì nghĩa vượt mà lược bỏ. Chỉ là bản của Thập công bị thiếu, vì ở nước xa xôi hẻo lánh nên phần nhiều bị sai sót.
Thêm nữa trong kinh này phẩm Chúc Lụy được đặt sau phẩm Thần Lực, thời xưagiải thích rằng: Thập công khéo nắm được ý kinh, sở dĩ chẳng đặt ở cuối kinh mà đặt ở trước là vì trong phẩm Chúc Lụy để cho các phân thân Phật ai về đất nấy. Nếu đặt ở cuối kinh thì tới khi thuyết kinh xong mới để phân thân Phật ai về đất nấy, khi họ chưa về trước đó đất này vẫn sạch, cớ gì Diệu Âm ngày sau lại được răn dặn là chớ có nảy tư tưởng kém cỏi ở đất ấy?
Thêm nữa các vị từ phía dưới ào ra đã rập đầu lạy khắp cả các phân thân Phật, thế thì Diệu ÂmĐông độ theo lý chẳng nên chỉ đỉnh lễ một mình Phật Đa Bảo, Quan Âm dâng châu chẳng nên chỉ chia làm hai phần ! Các Phật phân thân vì lỗi gì mà chẳng được nhận lễ ?
Thêm nữa phẩm Chúc Lụy đã nói rõ là phó chúc, phẩm Dược Vương,v.v… vâng lời rộng truyền. Từ đó mà suy thì chẳng nên để ở sau, cho nên Thập công đặt ở trước. 
Giải thuyết nói trên mới xem ra tuy được, nhưng nghiên cứu kỹ tông chỉ ý nghĩa, thấy về lý có tám điều trái ngược nan giải :
1) Các bản trái ngược nhau : 
Kinh Chính Pháp Hoa do Trúc Pháp Hộ thời Tấn dịch và trong bản Pháp Hoa của hai vị Quật Đa, Cấp Đa thời Tùy thêm vào, phẩm Chúc Lụy này đều đặt ở cuối kinh. 
2) Luận kinh trái ngược nhau : 
Trong Pháp Hoa luận nói tu hành lực, tóm lại có bảy loại: 
a) Một là trì lực, được thị hiện trong các phẩm Pháp Sư, An Lạc Hạnh, Khuyến Trì
b) Hai là thuyết lực, được thị hiện trong phẩm Thần Lực
c) Ba là hành khổ hạnh lực, được thị hiện trong phẩm Dược Vương.
d) Bốn là giáo hóa chúng sinh hành khổ hạnh lực, được phẩm Diệu Âm thị hiện.
e) Năm là hộ chúng sinh chư nạn lực, các phẩm Quan Thế Âm, Đà La Ni thị hiện.
f) Sáu là công đức thắng lực, được phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương thị hiện.
g) Bảy là hộ pháp lực, được phẩm Phổ Hiền và phẩm sau thị hiện.
Đã nói hộ pháp lực được phẩm Phổ Hiền và phẩm sau thị hiện, thì biết rõ phẩm Chúc Lụy được để ở cuối kinh, nếu không thế thì sau phẩm Phổ Hiền còn có phẩm nào?
Thêm nữa, sau phẩm Thần Lực đã nói rõ là phẩm Dược Vương và các phẩm khác đều theo đúng như thứ tự. Cho nên biết rằng phẩm Chúc Lụy lẽ ra phải ở cuối kinh. 
3) Các giáo khác nhau : 
Trong các kinh khác, phẩm Chúc Lụy đều ở cuối kinh, cớ sao chỉ riêng kinh này lại thuyết ở lưng chừng
4) Hai sự trái ngược nhau : 
Nếu cho rằng để phân thân Phật trở về bản thổ, bản thổ liền uế tạp. Nên Diệu Âm ngày sau mới bị răn bảo, thế thì trong phẩm Chúc Lụy cũng khiến tháp Đa Bảo trở về bản thổ, cớ sao Quan Âm dâng hạt châu vẫn chia làm hai phần?
5) Hai lệnh chẳng nhất tề
Nếu phân thân Đa Bảo ai nấy đều trở về, cớ sao phân thân đã về mà tháp Phật Đa Bảo vẫn ở đó? Nếu nói lệnh cho tháp Đa Bảo có thể trở về như cũ, chỉ là đóng cửa tháp mà thôi. Nếu vậy thì cớ sao Kinh Chính Pháp Hoa lại nói rằng : có thể trở về bản thổ ? 
6) Tháp không có chốn trở về
Thêm nữa chư Phật phân thân được Thích Ca sai đi. Mới đó đã nói đi đến rồi trở về, thì tháp Đa Bảo rốt cuộc cho tới cuối kinh càng không có chỗ mà về. 
7) Tịnh uế có sự khác nhau : 
Thêm nữa, cho rằng Diệu Âm được răn bảo thì 
chẳng phải là tịnh thổ, cho nên biết rằng các phân thân Phật đều đã về nước. Thế thì ngày các phân thân Phật vân tập, cớ sao mỗi vị đều sai thị giả tự tay bưng hoa sen cùng tới Linh Sơn. Lúc cầm hoa rắc lên trên Phật biến thành cõi tịnh thổ, các núi đều không thông nhau mà thành nước Phật, năm đường cũng hết, làm sao lại có việc từ núi Linh Sơn tới chỗ Phật cầm hoa mà rắc. 
Thêm nữa ngài Văn Thù đi dự hải hội, lúc sắp tới vùng này, đã thấy trước ở núi Linh Sơn bỗng có hoa hiện ra
8) Việc đại chúng hoan hỷ trái với tình lý :
Thêm nữa phẩm Chúc Lụy lúc sai phân thân trở về tháp, chẳng đi. Nếu chẳng phải là cuối kinh mới chúc lụy thế thì việc bọn A Tu La đại hoan hỷ, sao mà sớm quá thế ? Nếu đã chẳng phải, thì là vì được nghe pháp bảo mà sinh tâm hoan hỷ, thì chính là vì thấy Khách - Phật đi mà sinh tâm hoan hỷ, thật là rất đáng ngạc nhiên ! Chỉ là trước tiên phóng thần lực nên thị hiện thành tịnh. Do đó đất này vốn uế, sợ Diệu Âm thấy gộp cả uế tướng sẽ sanh ra chê bai, cho nên bị răn bảo, chẳng phải là Diệu Âm tới, phân thân Phật đã về mà đất uế, như tuy là tịnh thổ về thấy Linh Sơn biến chẳng những là tịnh mà còn thấy cả uế nữa, vì từ trên nhìn xuống dưới vậy. 
nguyên nhân gì mà chẳng để hai Phật cùng ngồi, cho Diệu Âm kính lễ ? Quán Thế Âm dâng châu lễ tặng hai vị hóa chủ đó? Ý riêng chẳng chung với các Phật khác. Chỉ như trong phẩm Thiên Thụ, Văn Thù từ Long cung ra chỉ lễ chân hai Thế tôn trong tháp, vì bấy giờ phân thân Phật chưa về bản thổ, lúc đó Văn Thù chẳng lễ được phân thân Phật. Cho nên biết là ý lễ kính riêng, sao có thể cứ theo lệ mà bắt lễ lạy chung được ? cho nên biết rằng phẩm Chúc Lụy phải ở cuối kinh, vì “hoan hỷ phụng hành” đều ở trong đó. 
Thêm nữa phẩm Quán Âm Phổ Môn không có phần văn tụng. Có bản có đặt vào, đó là do người sau vẽ rắn thêm chân. Thế tục thường ngờ rằng: nếu là Phật thuyết tại sao tụng lại nói rằng: 
Thế tôn đủ diệu tướng.
Kệ đáp Vô Tận Ý”.
Đó chính là các nhà dịch kinh kết hợp làm bài kệ. Như Kinh Thắng Man nói : “lúc đã sinh niệm này, Phật hiện ở không trung” v.v... Từ sau bài kệ trước, nhân tiện làm kệ mà sanh ra bài kệ sau. Giữa chừng văn ngắn, trường hàng chẳng tiện, về lý cũng có thể thông. 
Lại có kẻ nghi ngờ, nói rằng: nếu là Phật thuyết, cớ sao lại nói:
“ Chú trớ, các thuốc độc,
Lại hại chính người đó”.
Lẽ nào Phật Thế tôn lại hại sinh mệnh? Xưa cũng đã từng có nghi hoặc hỏi tiên sư về nghĩa câu : “Từ âm diệu đại vân”. Đại sư đối chiếu với bản tiếng Phạm thấy đã đủ. Bài tụng này chính là: “Mai Đát Lạt Da Mạt Na”, nên nói là “từ ý” chứ chẳng phải là “từ âm”, cho nên chắc chắn là có, hơn nữa có và không đều sai. 
Đó chính là ứng với cơ nghiđiều phục cho, như người thợ săn giỏi bắt gấu beo, cũng như thầy thuốc giỏi dùng phản dược, ban đầu tuy có tổn hại, sau ắt được ích lợi, chẳng phải lợi trước mà hại sau. Có tụng đã chẳng trái với tông chỉ, giả sử không có thì có trái gì với lý?
Thêm nữa, trong kinh được thêm vào ở thời Tùy, Trang Nghiêm Tràng Bồ tát hỏi về duyên do của tên ngài Quán Âm. Vô Tận Ý Bồ tát quan sát khắp cả nguyện hải trong quá khứ của ngài Quán Âm rồi mách bảo Trang Nghiêm Tràng và thuyết bằng bài kệ rằng: 
Thế tôn diệu tướng đủ, 
Nay tôi lại hỏi ngài
Thế tôn đủ diệu tướng
Kệ đáp Vô Tận Ý”. 
Văn đã trái nhau, nên biết là sai. 
Ngoài ra, trong phẩm Dược Thảo Dụ, nửa phần sau của phẩm kinh đó là phần được thêm vào. Luận giải thích rằng : hai thí dụ thì một để phá chấp thừa, thuyết về thừa thì cả hai đều giống nhau, đều lấy ánh mặt trời làm ví dụ. Hai kinh Chính Pháp Hoa và Diệu Pháp Liên Hoa đều không có phần nửa sau của phẩm Dược Thảo Dụ. Luận lại chẳng giải thích về tứ tòng và tam nghịch
Kinh đó còn đặt phẩm Thần Lực trái với thứ tự trong hai bản kinh và luận. 
Lại nói rằng : hai phẩm Phú Lâu Na và phẩm Pháp Sư lúc đầu đều bị sót bị thiếu. Đã chẳng có thành văn thì lý cũng khó tin theo. Lại nói : đúng ra chỉ có 27 phẩm, vì các phẩm Thiên Thụ và Bảo Tháp là cùng một phẩm. Bốn bản trái ba, quả là chưa được.

 

V. THỨ TỰ CỦA CÁC PHẨM

1. Phàm là muốn thuyết pháp, trước tiên phải đánh thức chúng sinh cơ duyên hòa hợp mới có thể ứng cơ mà tuyên thuyết. Bắt đầu nói bày duyên do phát khởi đó gọi là phẩm Tựa.
2. Phẩm Tựa đã thuyết xong thì tiếp ngay sau đó là nói đến chính tông (tông chỉ chủ yếu, tức nội dung chính). Đại chúng đã vân tập nhưng chưa thành thạo, nên cần phải trình bày tông chỉ để dạy dỗ. Pháp thuyết nhất thừa là Thực, lược khai nhị vận là Quyền. Nói nhất Thực mà dẫn họ quay về, tỏ nhị Quyền để khiến họ trở gót. Trí nên thiện xảo, diệu ứng với hạng thượng căn. Lời diễn thần công, thông đạt tới lý sâu sắc. Cho nên theo thứ tự tiếp đến có phẩm Phương Tiện.
3. Hạng thượng căn lĩnh ngộ, việc Phật trùng thuật đã thành, mới có chuyện thụ ký. Nên có phẩm nói về các sự lĩnh ngộ, trùng thuật và thụ ký. Thực do Thu Tử (tức Xá Lợi Phất) tuy là bậc thông minh xuất chúng nhưng chẳng thể tỏ thấu, vì văn nói về lĩnh ngộ, trùng thuật và thụ ký ngắn gọn sơ lược. Phẩm này bước đầu gửi gắm các ý lĩnh ngộ, trùng thuật và thụ ký. Hạng trung căn dẫu nghe thuyết pháp, vẫn chưa thể lĩnh giải. Nếu chẳng nhớ nhiều, hiểu rõ thí dụ thì cũng chẳng làm sao mà lĩnh giải được, cho nên mới có phẩm Thí Dụ.
4. Bậc trí giả nhờ thí dụtrí tuệ lĩnh giải nảy sinh, cho nên có phẩm Tín Giải.
5. Dẫu đã tín giải, vẫn chưa biết sâu, để dẹp nỗi nghi ngờ, nhấn thêm ý nghĩa ấy, nên có phẩm Dược Thảo Dụ.
6. Bốn vị đại Thanh văn đã lĩnh giải sâu, ghi nhận cái quả sau này họ sẽ đạt tới, cho nên tiếp sau đó có phẩm Thụ Ký.
7. Hai hạng thượng trung tuy đã lĩnh giải, nhưng hạng hạ căn vẫn còn chưa có vẻ giác ngộ. Thế tất phải nhờ vào sự thuyết giảng cặn kẽ, phải dựa vào sự giáo huấn trịnh trọng nói cho họ rõ thuở đầu kết duyên trong thời quá khứ để thức tỉnh soi tỏ bản tâm họ, kể cho họ hay rằng Niết bàn mà họ chứng được vốn chẳng phải là chân diệt độ, khiến họ quay về bảo sở, hướng tới đại Niết bàn, cho nên cứ theo thứ tự ấy mà có phẩm Hóa Thành Dụ.
8. Hạng cao nhờ nghe thuyết pháp liền được giải ngộ, lại càng có tâm tín giải thanh tịnh hơn, quả là do ba lần ân cần thuyết giảnglĩnh giải. Văn sơ lược mà sự ấn chứng cũng chẳng rộng, nên chẳng đặt ra phẩm riêng khác. Trước hết thuyết về tướng đương quả (đương quả: quả vị sẽ được, quả vị tương lai) của bậc cao danh, nên có phẩm Ngũ Bách Đệ Tử Thụ Ký.
9. Hạng hạ vị lúc ấy cũng dần dần thông đạt, Phật thụ ký cho họ, nên có phẩm Thụ Học Vô Học Nhân Ký.
10. Ba hạng căn cơ đều đã giác ngộ, lợi ích của việc thuyết pháp đã cho khắp, định khiến cho các đời xa sau cùng trong quy cũ, khen người, ngợi pháp khiến cho đại nghĩa hoằng dương, cho nên có phẩm Pháp Sư.
11. Y theo pháp mà tu học, dù pháp hay người đều có thể làm thầy làm khuôn mẫu, cho nên phá chấp nhỏ mà thành đạo lớn, hội tụ ý nghĩa Quyền thừa để nhập chân tông, tín học đã hiếm, quy sùng cũng ít. Phật Đa Bảo hiện ở tháp, phân thân Phật vân tập, nhằm khuyến hóa chúng sinh cứ tu tập lâu dài, tin chắc sẽõ được chứng quả như lời Phật thuyết chẳng sai, cho nên có phẩm Kiến Bảo Tháp.
12. Tuy Phật khác thuyết tín chứng kinh này, nhưng chưa thể hiệnbản tôn khuyên người ta quy ngưỡng, nên hiển hiệnbản thân làm Quốc vương vì trọng kinh này, đã tự mình làm giường để cầu pháp ở nhà kẻ thù oán với mình, còn thể hiện rõ kinh này có uy lực to lớn độ được rất nhiều chúng sinhLong cung, pháp lực mau thành, hóa Long Nữ để thành đạo, cho nên có phẩm Đề Bà Đạt Đa.
13. Đã thị hiện tự, tha đều là bảo trọng; uy lực to lớn tác dụng mau chóng, ân cần khuyến khích những kẻ nghe kinh, Bồ tát đều thụ giáo và nguyện trì nên có phẩm Trì. Nếu y theo luận bản thì gọi là phẩm Khuyến Trì, lý cũng chẳng sai.
14. Sợ rằng đến thời mạt pháp, có khi trong việc hành pháp sẽ có nhiều điều vượt ra ngoài khuôn phép, nay chỉ rõ nghi phương để dễ bề hoằng pháp. Pháp đã dễ thực hành thì tự nhiên tránh được tổn thất, cho nên có phẩm An Lạc Hạnh
15. Tám hằng hà sa số Bồ tát nghe diệu pháp rồi thì nguyện trì pháp, nhưng lúc đó Phật chẳng cho. Chứng tỏ là đã có người trì pháp hoằng pháp rồi. Thế là có sáu vạn hằng hà sa số Bồ tát lìa được cấu nhiễm, trụ ở Phật đạo đã lâu, trước tiên xin nguyện hoằng tuyên diệu pháp để khuyến phát cả pháp hội lúc đó, cho nên có phẩm Tòng Địa Dũng Xuất.
16. Đại chúng thấy sự “dũng xuất” cho đó là hóa chứ chẳng phải là chân: cha trẻ con già nên ngờ đó chẳng phải là hóa thân của đức Thích Ca. Nay chứng minh rằng đó là hóa thân của Phật thành đạo đã lâu, nên theo lý chẳng phải là trẻ nữa. Để giải thích điều nghi vấn đó cho nên mới có phẩm Như Lai Thọ Lượng.
17. Thân của báo Phật thị hiện thọ lượng dài lâu, thể của pháp thân cũng dùng phương tiện để tuyên dương, cho nên biết rõ Thích Ca nguyên dohóa Phật. Phật đức thâm diệu, người nghe tin nhiều, lợi ích đã to, công đức vô lượng. Nay nói rõ đại chúng đương thời nghe Phật thuyết kinh này và chúng sinh đời sau thọ trì kinh này, đều được lợi íchcông đức khác nhau, cho nên có phẩm Phân Biệt Công Đức.
18. Về những người đáng được lợi ích, tuy đã trình bày đầy đủ, nhưng những ai hay tùy hỷ, phúc cũng chẳng nhỏ, cho nên có phẩm Tùy Hỷ Công Đức.
19. Người khác tùy hỷ còn được nhiều phúc, người chính thức có thể đứng ra tuyên truyền xiển dương diệu pháp công đức càng nhiều, cho nên có phẩm Pháp Sư Công Đức.
20. Pháp sư trì kinh, ắt sẽ thành Phật. Kẻ huỷ báng pháp sư sẽ bị tội vô lượng. Phật tự dẫn mình ra làm chứng, cho nên có phẩm Thường Bất Khinh.
21. Như Lai khuyến hóa thuyết giảng về phúc sự đều nhiều, e chúng sinh nghi ngờ cho rằng Phật xướng xuất suông. Phật muốn tỏ rõ lời mình chẳng sai, làm sao mà có thể lừa dối các ngươi là chúng sinh, cho nên phóng thần lực để chỉ rõ cho họ. Vì vậy có phẩm Như Lai Thần Lực.
22. Trước kia, Dược Vương đã hy sinh thân mệnh để trì kinh, đức Phật thuyết giảng bản duyên của vị này, 
để khuyến khích pháp hội đương thời, cho nên có phẩm Dược Vương Bồ tát Bản Sự.
23. Lưu hành chính pháp, mọi nước đều thông, Dược Vương đã tuyên dương ở đất này, nên triệu Diệu Âm bắt phải truyền thụ ở đất khác, cho nên có phẩm Diệu Âm Bồ Tát.
24. Chúng sinh trì kinh gặp nhiều chướng nạn, ắt phải nhờ đến thị hiện khắp hết thảy các pháp môn Đại bi cứu hộ, cho nên có phẩm Quán Thế Âm Bồ tát Phổ Môn.
25. Dẫu niệm Quán Âm, nhờ người cứu nạn, chưa trì thần chú, mong pháp gia uy, định khiến cho có uy linh lớn, trì kinh dễ được thành tựu tế độ, nên có phẩm Đà La Ni.
26. Lực trì kinh chẳng kén chọn kẻ thân người oán. Phúc đức mà kinh này giúp cho ta thường được sinh ở nơi đẹp đẽ tốt lành. Muốn thuyết minh cổ kim gặp nhau để khuyến khích việc hoằng dương diệu chỉ, cho nên có phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bản Sự.
27. Tuy nước này nước kia đều có việc hoằng kinh, nhưng chưa có chuyện phương này phương kia đều khuyến khích việc đó, cho nên có phẩm Phổ Hiền Bồ tát Khuyến Phát.
28. Tán khuyến đã khắp, hóa duyên đã xong, ân cần phó chúc được lưu thông lâu dài, cho nên có phẩm Chúc Lụy.

Đây là căn cứ vào Kinh Chính Pháp Hoa và luận, để phẩm Chúc Lụy ở sau mà giải thích thứ tự các phẩm. Nếu sau phẩm Thần Lực, liền thuyết phẩm Chúc Lụy thì người ta sẽ hiểu sai, không hợp với cách sắp xếp chung. 

KINH PHÁP HOA HUYỀN TÁN
QUYỂN THỨ NHẤT - PHẦN TRƯỚC
ĐÃ XONG


QUYỂN THỨ NHẤT (PHẦN SAU)
Sa môn KHUY CƠ, chùa ĐẠI TỪ ÂN soạn

VI. GIẢI THÍCH KINH VĂN

A. PHÂN TÍCH BỐ CỤC. B. GIẢI THÍCH KINH VĂN.

A. PHÂN TÍCH BỐ CỤC.

A. 1- Phân tích theo ngài Cổ Tuân.
Pháp sư Cổ Tuân nói rằng : 28 phẩm chia làm hai phần. Phẩm thứ nhất nói về duyên do bắt đầu khởi hoá của Như Lai. Còn lại 27 phẩm nói về chính hóa của ngài. Phẩm Tựa nói về duyên do ban đầu, chính hóa thuyết minh về lợi ích của kinh này, vì cho đến cuối kinh đều có ích cả.
A. 2- Phân tích của ngài Cát Tạng.
Đại sư Cát Tạng nói rằng : phẩm thứ nhất là phần tựa , 15 phẩm rưỡi sau đó gọi là chính tông, tức là từ phẩm thứ hai cho đến phần đầu phẩm Phân Biệt Công Đức, đến cuối phần tụng cách lượng trở đi, chỗ cuối bài tụng đức Thế tôn đáp lời ngài Di Lặc :
Học rộng hay tổng trì,
Tùy nghĩa giải lời Phật,
Những người như thế đó,
Nơi đây không có nghi. ”
Phần này thuyết minh về thừa quyền, thừa thực, thân quyền, thân thực , đó là phần chính tông.
Thu Tử ba lần thỉnh Phật thuyết minh về thừa quyền thực, Di Lặc ba lần cầu thỉnh Phật thuyết minh về thân quyền thực, tức là từ nửa sau của phẩm Phân Biệt Công Đức, là đoạn văn xuôi trường hàng thứ hai sau bài tụng nêu trên (“được nghe giảng về thọ lượng này và tin hiểu thì công đức không có hạn lượng”), cùng 11 phẩm ở dưới gọi là phần lưu thông
A. 3- Phân tích theo ngài Nghĩa Tịnh.
Pháp sư Nghĩa Tịnh nói: phẩm thứ nhất gọi là phần tựa, thứ đến 19 phẩm sau đó thì gọi là phần chính tông. Từ phẩm Thần Lực trở xuống có 8 phẩm gọi là phần lưu thông. Tuy có sự phân chia như vậy, nhưng chẳng giải thích lý do
A. 4- Phân tích theo luận này. 
a. Cách thứ nhất, chia làm ba phần :
- Phần thứ nhất : phẩm thứ nhất gọi là phần tựa.
- Phần thứ hai : tám phẩm sau đó gọi là phần chính tông, chính thuyết nhất thừa, thụ ký cho ba loại căn cơ, làm cho ba loại này căn bản đều đã được lợi ích, vì đã giáo hóa cho các hạng nhị thừa kia ra khỏi nước đục.
Phần cuối cùng của kinh này nói rằng : “Nay trong kinh này chỉ thuyết nhất thừa, còn xưa kia trước các Bồ tát, Phật chê hạng Thanh văn ưa thích tiểu pháp, song Phật thực ra là dùng đại thừa để giáo hóa”.
Thêm nữa, trong phẩm Đề Bà Đạt Đa, Trí Tích Bồ tát bạch Phật Đa Bảo có thể trở về bản thổ. Cho nên biết rằng công việc đã xong xuôi mới thỉnh trở về, biết rõ chỗ thuyết nhất thừa chính là tông chỉ của cả bộ kinh
Nếu chẳng thuyết nhất thừa, hễ chỗ nào thu được lợi ích đều là chính tông, thì trong phẩm Phổ Hiền, vô lượng Bồ tát đắc Đà la ni, tam thiên thế giới vi trần số Bồ tát thực hành đạo Phổ Hiền, cũng là chẳng thuyết về nhất thừa mà được lợi ích, đó đều là chính tông
Nếu thế thì lời giải của ngài Cổ Tuân chính là kim chỉ nam. Lại nữa, sự việc nếu chưa xong, cớ sao Trí Tích Bồ tát lại nửa chừng xin về ? 
Hoặc gộp thêm nửa phẩm Pháp Sư thành tám phẩm rưỡi là chính tông, vì nửa đầu phẩm Pháp Sư Phật đã thụ ký cho những người khác hiện diện trong tòa bất kể là bậc thánh hay người phàm, nếu thấy Phật nghe kinh mà tùy hỉ đều sẽ được chứng quả Bồ đề
- Phần thứ ba : 19 phẩm (hoặc 18 phẩm rưỡi) còn lại đều gọi chung là lưu thông, vì là phần nói về các việc chứng tán, thụ mệnh, phó chúc (cho các đệ tử) về việc hành trì.
Phẩm (Khuyến) Trì tuy thụ ký cho Tỳ kheo ni hiện diện tại tòa, nhân thưa với Phật xin trì kinh, nên Phật bèn thụ ký cho, nhưng vẫn nói rằng trước đã thụ ký chung cho hết cả rồi, chẳng thuyết nhất thừa nữa, nên chẳng phải là chính tông
b. Cách thứ hai, chia làm năm phần :
- Phần đầu : là phần Tựa như trên không khác.
- Phần hai : từ phẩm Phương Tiện trở xuống tới phẩm (Khuyến) Trì tất cả là 12 phẩm đều thuyết minh về Cảnh nhất thừa.
- Phần ba : hai phẩm An Lạc Hạnh, Tòng Địa Dũng Xuấtthuyết minh về Hạnh nhất thừa.
- Phần bốn : từ phẩm Như Lai Thọ Lượng trở xuống tới phẩm Thường Bất Khinh, tất cả năm phẩm này thuyết về Quả nhất thừa
Thuyết về Cảnh để cho biết rõ thừa nào là Quyền, thừa nào là Thực, khuyên nên bỏ quyền mà lấy thực. Hạng Thanh văn lĩnh ngộ được lý này thì được thụ ký. 
Thuyết về Hạnh để cho họ biết cái nhân nào là đúng, cái nhân nào là sai, khuyên nên học cái đúng và trừ bỏ cái sai, người học do đó mà “tòng địa dũng xuất”.
Thuyết về Quả để cho họ biết thân nào là chân, thân nào là hoá, cái nào là quả, cái nào là nhân của sự chứng ngộ, khuyên họ nhận thức được cái hóa, cầu chứng được cái chân, dần dần thu được đức tốt của Nhân vịQuả vị. Bồ tát biết rõ lý này thì sẽ chứng 
được đạo, thể hiện đầy đủ đức tốt thành tựunhân vịquả vị
- Phần năm : từ phẩm Thần Lực trở xuống đều gọi là lưu thông, vì trình bày các việc phó chúc, vâng mệnh tuân hành
Duyên do những điều trên này đều sẽ được giải thích ở phần sau.

B. GIẢI THÍCH KINH VĂN.

 Từ đây đến cuối sách, giải thích theo thứ tự các phẩm kinh.

 

PHẨM TỰA THỨ NHẤT

A. GIẢI THÍCH TÊN PHẨM

1- BẢY LOẠI NGHĨA THÀNH TỰU

Luận nói rằng : phẩm Tựa có bảy loại thành tựu. Thành tựu có nghĩa là đầy đủ viên mãn, muốn chứng minh rằng trong phẩm Tựa có đầy đủ bảy nghĩa, bảy nghĩa đó viên mãn vì các kinh khác không có. 
1) Tự phẩm thành tựu : Vì mới bắt đầu các lý do chung mà đã đầy đủ viên mãn. Có núi, có thành đầy đủ, tượng trưng cho sự tốt đẹp có thừa, cho nên riêng được gọi tên là phẩm Tựa, thực ra bảy thành tựu đều là tựa cả. 
2) Chúng thành tựu (nhiều thành tựu): một là Số; hai là Hành; ba là Nhiếp công đức; bốn là Uy nghi như pháp trụ viên mãn. Đó là thành tựu mà các kinh khác không có. 
3) Như Lai dục thuyết pháp thời chí thành tựu (ý nói Như Lai đã đến lúc muốn thuyết pháp) : đó là đoạn từ : “vì các Bồ tátthuyết kinh Đại thừa” trở xuống. Vì trước tiên Phật thuyết Kinh Vô Lượng Nghĩa có đủ 17 tên gọi hơn hẳn các kinh khác. 
4) Sở y thuyết pháp tùy thuận uy nghi trụ thành tựu (ý nói những thứ để dựa vào đó mà thuyết pháp đều tùy theo uy nghi của Phật mà an trụ) : đó là đoạn từ “Phật thuyết kinh này xong thì ngồi kết già-phu” trở xuống. Vì y vào Chỉ định (pháp tọa thiền ngưng lặng), Khí thế gianchúng sinh, ba loại pháp này kinh khác không có. 
5) Y chỉ thuyết nhân thành tựu : đó là đoạn từ “bấy giờ, Phật phóng hào quang từ giữa lông mày…” trở xuống. Vì thấy được các sự năng chiếu, chiếu cảnh, sở chiếu, sinh hi hữu tâm, là những sự kinh khác không có. 
6) Đại chúng hiện tiền dục văn pháp thành tựu (ý nói đại chúng trước mắt đang muốn nghe pháp) : đó là đoạn từ “bấy giờ Di Lặc Bồ tát nảy ra ý nghĩ rằng” trở xuống, vì tuy hỏi một người mà nhiều người được nghe, sinh tâm hy hữu, các kinh khác không có. 
7) Văn Thù Sư Lợi đáp thành tựu : vì nhờ Túc mạng trí, hiện thấy tướng nhân quả thời quá khứ, thành tựu mười hai sự như hiện tại đây, cho nên có thể đáp được, điều này kinh khác không có. 
2. PHÂN ĐịNH THÔNG BIệT.
Trong bảy thành tựu trên lại chia làm hai loại : 
• Hai thành tựu đầu là Thông tự (tựa chung).
• Năm thành tựu sau là Biệt tự (tựa riêng). 
Trong đó, phần Thông tự có năm : 
1) Tổng hiển dĩ văn (thể hiện chung là đã nghe). 
2) Thuyết giáo thời (lúc thuyết giáo). 
3) Thuyết giáo chủ (người chủ trì việc thuyết giáo). 
4) Sở hoá xứ (chỗ được giáo hoá). 
5) Sở bị cơ (căn cơ được gia bị). 
Các ý nghĩa trên hòa nhập vào nhiều nghĩa, nhưng tạo thành ý nghĩa của Tựa (lời mở đầu) chỉ có bốn chữ “Tôi nghe như vầy”, đó tức là lời mở đầu, để khiến cho người nghe kinh tin tưởng rằng người thuật lại đã được nghe Phật thuyết kinh này. 
Luận bản chỉ nói : Tựa có hai thành tựu : một là thành, hai là núi. Hai chỗ này tốt đẹp hơn, khác với kinh khác. Sở dĩ thuyết minh thiên về lúc được nghe (thuyết kinh) và về Phật (thuyết kinh) chẳng khác các kinh khác, là vì tuy kinh có đủ (các điều nói trên) nhưng chẳng nêu lên làm điểm trội hơn. 

B. GIẢI THÍCH KINH VĂN

-Kinh văn : “Tôi nghe như vầy”.
Tán rằng : đây là câu mở đầu của hết thảy kinh. Ở phẩm này dùng ba môn để phân biệt
• I. Nguyên do thuyết kinh
• II. Mục đích đặt lời ấy.
• III. Chính thức giải kinh văn. 

I. NGUYÊN DO THUYẾT KINH

Như Kinh Đại Thuật v.v… thuyết về bản duyên, lúc Phật sắp Niết bàn, lúc Phật bảo ai có điều nghi hoặc gì cứ hỏi, Ưu Ba Ly, A Nậu Lâu Đà bảo A Nan xin được phép hỏi bốn điều :
- Một là sau khi Phật diệt độ, các Tỳ kheo v.v… biết lấy ai làm thầy ? 
- Hai là y vào đâu mà an trụ ? 
- Ba là Tỳ kheo tính ác thì trị phạt thế nào ? 
- Bốn là đầu hết thảy các kinh nên đặt lời gì?
Phật dạy rằng : sau khi ta diệt độ cứ lấy Ba La Đề Mộc Xoa làm thầy cả của ngươi; y vào giới mà tu hành; y vào Tứ niệm xứ mà an trụ bản tâm; đối với hạng Tỳ kheo tính ác cứ dùng Phạm-đàn mà trị, vì Phạm-đàn lẳng lặng, chẳng cần đánh chửi, cứ lẳng lặng đuổi cổ đi; đầu tất cả các kinh nên đặt những lời “Tôi nghe như vầy”. 
Sau A Nan vào hội kết tập kinh Phật, cứ theo y như lời Phật dạy, thuật rộng duyên do, đều như kinh thuyết. 

II. MỤC ĐÍCH ĐAT RA LỜI ẤY 

Mục đích là làm cho chúng sinh tín thuận.
Trí Độ luận nói rằng : “Tôi nghe như vầy” là để sinh tín vậy. “Tín thụ phụng hành” là sinh trí vậy. 
Tín thì năng nhập, trí thì năng độ. Tín là cơ sở ban đầu để nhập pháp, trí là huyền thuật cứu cánh. Tín thì lý nói ra sẽ thuận, thuận thì đạo làm thầy sẽ thành. Do tín nên pháp được thuyết đều có thể thuận tòng. Do thuận nên quan hệ thầy nói trò nghe được kiến lập
Ở trong tín này tóm lược thành mười điều giải thích
1) Đó là cái nhân ban đầu để hướng tới cực quả, như theo Kinh Nhân Vương v.v... đó là cái nhân ban đầu để đạt tới thánh vị. Cho nên trong 40 tâm lấy tín làm đầu. Ban đầu phát tâm đại Bồ đề, cần phải đủ mười đức, khởi ba diệu quán. Tâm đại Bồ đề lấy thiện căn làm tự thể, lấy thiện hữu làm duyên, lấy không lui sụt làm sách tấn phát tâm. Thiện căn tức là tín, tinh tiến, niệm, định, tuệ. Cho nên Nhiếp Đại Thừa luận nói rằng : “thanh tịnh, tăng thượng lực, kiên cố tâm, thắng tiến thì gọi là Bồ tát, thoạt đầu phải tu vô số tam đại kiếp”. 
2) Đó là nền tảng dần dần ngộ nhập đế lý. Các luận đều nói : “sắp nhập thánh vị thì có tín căn, tín lực. Có tín căn nên muôn điều thiện nhân đó mà sinh. Có tín lực nên bốn loại ma đều chẳng khuất phục nổi”. Vì thế đầu kinh đặt ra (mấy lời ấy) để người nghe sinh tín. 
3) Đó là sự chứng tịnh thông với diệu chân. Năng vượt khỏi đường ác, lìa nhân nghèo hèn, nên nhập thánh rồi thì chứng được bốn bất hoại tín. Vì tín Tam bảo, nên vượt khỏi đường ác. Vì tin ở giới, nên lìa được nhân nghèo hèn. Cho nên luận cũng nói về tín hiện quán
4) Đó là chỗ dựa tốt của những đức tột vời. Tỳ-Bà-Sa luận nói rằng : “tín là tay giỏi ăn pháp vị. Người học Phật pháp ví như con long tượng lớn, lấy Tín làm tay, lấy Xả làm răng, lấy Niệm làm cổ, lấy Tuệ làm đầu, ở trên vai gồng gánh các thiện pháp nhóm lại”. Con voi (tức long tượng) ăn uống đều lấy vòi làm tay, nên người học Phật pháp đầu tiên phải sinh tín. 
5) Đó là mầm mống ban đầu của bảy loại thánh tài. Đó là pháp tài ban đầu của người tu học cũng như số vốn ban đầu của người lái buôn lớn. Nhờ sự giáo hoá của Pháp bảo mà được thánh tài, nên đầu tiên là sinh tín. Hiển dương luận nói: “bảy loại thánh tài đó là Tín, Giới, Văn, Xả, Tuệ, Tàm, Quý”. Tín là một loại trong đó. 
6) Đó là con đường tốt cho cái nhân căn bản của các thiện pháp, vì là căn bản của thiện pháp. Du Già luận viết rằng : “để vào các thiện pháp, (dục) lòng ham muốncăn bản, do tác ý chỗ sinh ra, do tiếp xúc mà nhóm khởi, do cảm thụ mà dẫn nhiếp. Thiền địnhtăng thượng, trí tuệtối thắng, giải thoátkiên cố, Xuất ly là đằng sau”. 
Dục là căn bản, vì nó khởi hy vọng. Do tác ý sinh ra, nên thường xuyên phải cảnh giác. Bởi từ xúc mà nhóm khởi, nên hoà hợp các thắng duyên của tâm và tâm sở. Bởi do thụ dẫn nhiếp, mà lĩnh hội tại tâm. Định là tăng thượng, vì tâm vốn lặng. Tuệ là tối thắng, vì lựa chọn thiện ác. Giải thoátkiên cố, vì giảm bỏ được triền phược. Xuất ly là đằng sau, vì giác đạo viên mãn. Tín đã là chỗ dựa của dục, nên trước tiên phải cho nó khởi lên. 
7) Đó là tay cừ mở cửa cơ duyên, vì là tay tiếp giáo. Câu Xá luận nói : “cứu vớt chúng sinh ra khỏi vũng bùn sinh tử, hơn nữa sau đó còn trình bày chính tông cho chúng sinh đó là tay Phật giáo”. Phẩm Tựa khiến (chúng sinh) sinh tín, đó là tay chúng sinh, vì hai tay đó bắt lấy nhau để ra khỏi vũng bùn. Còn Trí Độ luận thì nói rằng : “như người có tay tới núi châu báu muốn lấy gì thì lấy. Nếu không có tay thì uổng công chẳng lấy được gì. Người có tín tâm vào núi báu của Phật thì được các đạo quả. Nếu khôngtín tâm, tuy hiểu nghĩa kinh văn cũng chẳng thu hoạch được gì”. 
8) Đó là hạt châu thanh lọc cho tâm thủy lắng trong, vì nó khiến tâm thanh tịnh. Thành Duy Thức luận nói : “tín như hạt thủy châu có khả năng lọc được nước đục,vì nó trị được sự vẩn đục của Tín tính”. 
9) Đó là điều kiện tốt để kiến lập Danh đạo. Tuyên Ni (tức Khổng Tử) nói rằng : “trong ba thứ binh đao, lương thực và đức tin, thì tín chẳng thể bỏ được. Từ xưa ai cũng đều phải chết, nhưng con người ta mà không có đức tin thì chẳng đứng vững được, như xe lớn không có đòn nghê, xe nhỏ không có đòn ngột. Con người ta mà không có đức tin thì chẳng biết sẽ làm được trò trống gì”. 
10) Đó là sự truyền cảm tốt về tấm lòng thành. Sách Xuân Thu nói rằng: “nếu có đức tin sáng láng thì ngay đến các loại rau dại như rau tần, rau phồn, rong lác ở đầm ao suối khe cũng đều có thể đem dâng quỷ thần, đem thết vương công, huống hồ là đức tin mà người quân tử giao kết giữa hai nước”. 

Trong mười nghĩa này, tám nghĩa đầu y theo chân đế, hai nghĩa sau y theo tục đế
Đức tin quan trọng như thế, cho nên đầu kinh mới đặt mấy chữ : “Tôi nghe như vầy” để chứng tỏ rằng kinh nghĩa như vầy đích thân được nghe từ lời Phật thuyết. Lìa được cái lỗi thêm bớt. Để khiến chúng sinh khởi tín tâm mà thuận lòng tu học.

III. CHÍNH THỨC GIẢI KINH VĂN

-Kinh văn : “Tôi nghe như vầy”.
Tán rằng : Phật Địa luận nói : từ “như vầy” (như thị) chuyển theo bốn nghĩa : 
1) Theo thí dụ, như có chỗ nói rằng: giàu sang như vầy, như Tỳ-Sa-Môn pháp được truyền, được nghe như vầy, như lời Phật thuyết, nhất định không khác, nhất định là cái nhân của phương tiện lợi lạc. Hoặc câu văn đương thời Phật thuyết như vầy, đúng như điều xưa kia tôi được nghe. 
2) Theo sự dạy bảo, như có khi nói rằng : ngươi nên đọc tụng kinh luận như vầy. Trong này “như vầy” xa thì là sự dạy bảo của Phật, gần thì là sự giáo hối của người truyền pháp. Hoặc bảo với đại chúng đương thời : nên nghe những điều xưa kia tôi đã được nghe như vầy
3) Theo sự vấn đáp, có nghĩa là nếu có người hỏi : ngươi định thuyết giảng những điều xưa kia chắc chắn đã được nghe ư ? Cho nên ở đây đáp lại rằng : “Tôi nghe như vầy”. 
4) Theo sự đồng ý, như có khi nói rằng : tôi sẽ vì người mà nghĩ như vầy, mà làm như vầy, mà nói như vầy. Có nghĩa là khi kết tập, các chúng Bồ tát đều cùng thỉnh rằng : ngươi được nghe thế nào thì nên thuyết giảng lại như vậy. Bồ tát truyền pháp bèn đồng ý mà nói : “tôi sẽ nói như vầy đúng như điều tôi đã được nghe”. Hoặc tin tưởng khẳng định mà nói rằng: “việc ấy như vầy”. Ý nói pháp như vầy xưa kia tôi đã được nghe, sự ấy như vầy, đúng như những điều đã nói, nhất định không khác. 
Do bốn nghĩa trên, nên đầu kinh đều đặt bốn chữ “Tôi nghe như vầy.”
] Ngài Chân Đế Tam Tạng nói rằng : “Luật vi tế nói rõ A Nan khi lên tòa kết tập pháp tạng, thân như chư Phật đủ mọi tướng đẹp, khi xuống tòa lại trở lại nguyên hình”. Trong Tập Tạng truyện cũng nói như thế. Vì thế khiến cho đại chúng có ba điều ngờ : 
1/- Ngờ rằng Phật đại bi từ cõi Niết Bàn trở dậy nói thêm diệu pháp.
2/- Ngờ rằng còn có Phật từ phương khác đến trụ ở đây thuyết pháp.
3/- Ngờ rằng ngài A Nan kia đã hóa thân thành Phậtthuyết pháp cho đại chúng.
Nay nói rõ pháp được thuyết như vậy là pháp mà đích thân tôi đã từng được nghe xưa kia lúc tôi làm thị giả cho đức Phật, chứ chẳng phải là Phật lại trở dạây, chẳng phải là Phật từ cõi khác tới, chẳng phải là A Nan hóa thân thành Phật. Để trừ bỏ các điều nghi ngờ trên, nên đầu kinh đặt lời “Tôi nghe như vầy”, duyên kết tập như kinh chương đã thuyết. 
] Chú Pháp Hoa nói rằng : “như” có nghĩa là như điềm lành cảm ứng, vì thuận cơ mà được gọi. “vậy” có nghĩa là “không sai”. Chúng sinh vì thấy “không sai” nên cảm, Phật vì thấy “thuận cơ” nên ứng. Người truyền kinh muốn tỏ rõ danh giáo xuất phát từ sự cảm ứng, nên đặt ra lời “như vầy”.
] Chú Vô Lượng Nghĩa nói rằng : tới người thuyết pháp chỉ nói là như, chỉ như mới đúng, nên nói là “như vầy”.
] Ngài Bảo Công nói : để lìa khỏi năm điều phỉ báng bắt bẻ, nên nói là “như vầy” : 
- Câu thứ nhất : như vậy kinh này lìa được điều phỉ báng chấp Hữu rằng có sự thêm thắt
- Câu thứ hai : như vậy kinh này trừ được điều phỉ báng chấp Vô rằng có sự bớt xén. 
- Câu thứ ba : như vậy kinh này lìa được điều phỉ báng chấp vừa Hữu vừa Vô trái ngược nhau. 
- Câu thứ tư : như vậy kinh này lìa được điều phỉ báng chấp phi Hữu phi Vô ngu si
- Câu thứ năm : như vậy kinh này lìa được điều phỉ báng chấp là hí luận phi phi Hữu, phi phi Vô.
] Ngài Quang Trạch nói : “như vậy” tức là cái được nghe, sẽ nêu lên một bộ kinh đã được nghe giảng trước đây, nay được truyền lại. Cả một bộ kinh “như vậy”, tôi đích thân được nghe từ Phật. Nói là “tôi nghe” để hô hào người ta phải chú ý lắng tai. 
Lương ] Vũ Đế nói rằng : “như vầy” có nghĩa là như thế. Đó là lời Phật đã thuyết nên nói là “như vầy”. 
Trường ] Nhĩ Tam Tạng nói : “như vầy” có ba ý nghĩa
- Một là theo Phật. Chư Phật ba đời đều thuyết như nhau chẳng khác nên gọi là “như”. Vì thuyết giống nhau, nên gọi là “vậy”. 
- Hai là theo Pháp. Thực tướng các pháp xưa nay chẳng khác, nên gọi là “như”. Vì như mà thuyết, nên gọi là “vậy”. 
- Ba là theo Tăng. Vì ngài A Nan hy vọng rằng những điều mình truyền đạt lại không khác với bản giáo của đức Phật mà ngài đã được nghe, cho nên gọi là “như”. Tuyệt đối chẳng sai nên gọi là “vậy”.
Do cùng nói giống nhau như thế, đúng lý không sai, truyền lại chẳng khác, nên kinh này đáng tin
Trên đây tổng cộng có 15 điều giải thích.
a Nói “tôi nghe”, có nghĩa là người truyền pháp tự chỉ bản thân mình. Ý nói pháp như vầy, đích thân tôi được nghe từ Phật, nên gọi là “tôi nghe”, chứ chẳng phải nói “tôi” là nhất định thuộc về một người. “Tôi” chỉ là giả danh chư uẩn thế tục.
Song “tôi” có ba loại :
- Một là cái tôi vọng chấp, đó là chỉ cái tôi vọng chấp của các ngoại đạo.
- Hai là cái tôi giả thiết, là chỉ cái ngã trong Lạc, Tịnh, Thường, Ngã, mà trong Kinh Đại Niết Bàn tạm đặt ra để trừ điên đảo của hàng nhị thừa.
- Ba là cái tôi lưu truyềnthế gian, chỉ các loại thiên thụ (trời truyền cho) từ thụ (thần truyền cho) mà thế gian cùng lưu truyền. Nay người truyền pháp, tùy thuận thế gian, chỉ tự mình xưng “tôi”, khác với hai loại “tôi” nói trên, đó tức là đại ngã vô ngã (cái tôi lớn vô ngã).
1 -HỎI : chư Phật thuyết pháp là để trừ ngã chấp, cớ sao chẳng xưng mà vô ngã và lại nói là “tôi nghe” ? 
ĐÁP : có bốn nghĩa : 
1) Để nói năng cho dễ. Vì vô ngã chỉ chung uẩn, giới, xứ, thế thì biết ở đây nói ai? 
2) Để thuận theo thế gian
3) Trừ nổi sợ vô ngã. Nói vô ngã thì ai tu học? 
4) Có sự phân biệt tự tha, nhiễm tịnh, nhân quả, sự nghiệp vv… Bởi vậy xưng là “tôi”. 
2 -HỎI : nếu vậy cớ sao chẳng xưng tên mà chỉ xưng tôi ? 
ĐÁP : có ba nghĩa : 
1) Tỏ rõ chẳng trái với thế tục. Tông chỉ vốn nhằm hiển dương chân đế, nhưng ngôn ngữ chẳng trái với thế tục. Lý tuy muốn tỏ rõvi diệu, nhưng lời lẽ chẳng thể trái khoáy vì muốn nêu rõ chân đế chẳng lìa tục đế vậy. 
2) Từ “tôi” (ngã) có nghĩa là chủ tể tự tại. Tập Pháp truyện nói rằng : có ba A Nan
Một là A Nan Đà, có nghĩa là Khánh Hỉ, trì Thanh văn tạng. Hai là A Nan Bạt Đà, tức Hỉ Hiền, trì Độc giác tạng. Ba là A Nan Già La, tức Hỉ Hải, trì Bồ tát tạng. Đó chỉ là một người, tùy theo từng đức tính mà gọi tên khác nhau.
Do A Nan này là bậc Đa văn (được nghe nhiều biết rộng), Văn trì (nghe rồi thì nhớ được), tích tập được những điều tai nghe, ba tuệ đều đủ, văn nghĩa đều nhớ, tổng trì tự tại đối với Tam tạng giáo. Nếu xưng tên thì tuy thuận với chính lý, nhưng không có cái nghĩa “được tự tại đối với các pháp”, do vậy mà xưng là tôi, chẳng nói là A Nan
3) “Tôi” có nghĩa chỉ đích thân. Thế gian cũng nói là “tôi thấy”, “tôi nghe” và cho như thế là thân chứng. Nếu nói A Nan nghe thì có khi chẳng phải là đích thân nghe Phật thuyết mà từ người khác truyền thụ lại. 
Nay tỏ rõ đích thân được nghe Phật thuyết pháp, chứ chẳng phải do người khác truyền lại. Vì vậy để phá trừ lưới nghi nên chẳng xưng tên, mà chỉ nói là tôi nghe.
“Nghe” (văn) có nghĩa là nhĩ căn nghe nhận hiểu biết những điều Phật nói. Nay bỏ sự phân biệt tách bạch tai nghe, theo tên gọi chung là “tôi”, cho nên nói là “tôi nghe”, dẫn theo Đại thừa thì căn, thức, tâm sở khi đối cảnh hòa hợp nhau mới gọi là nghe (văn).
Song căn có năm nghĩa hơn thức, cho nên gọi căn là nghe (văn). Năm nghĩa của căn là: y, phát, thuộc, trợ, như căn. Như căn tức là căn sáng suốt hay tăm tối như thế nào thì thức cũng sáng suốt hay tăm tối như thế ấy. Nếu chỉ nghe thấy âm thanh thì có thể chỉ tại ở tai, đã duyên vào Danh vào Nghĩa thì là ở trong ý, cho nên Du Già nói rằng: “nghe là tỉ lượng”. Nhĩ căn gọi là nghe vì đích thân nghe âm thanh, nhưng phải cùng với ý, mà ý là chủ yếu, thì mới nghe hiểu. Dùng cái thứ hai (tức là ý) làm chủ yếu mà huân tập thường xuyên, nhân nghe được mà thành tên gọi chung là “nghe”, bỏ sự phân biệt tách bạch nhĩ căn, ý căn mà gọi chung là “tôi nghe”.
3 -HỎI : Khánh Hỉ lúc bấy giờ cũng đích thân nhìn thấy, cảm nhận, biết rõ là Phật thuyết pháp. Cớ sao chỉ nói là “tôi nghe” mà chẳng nói là “tôi (nhìn) thấy” v.v…
ĐÁP : có ba nghĩa : 
1) Vì muốn chứng lý sâu, trước hết phải nghe pháp, kế đến phải hiểu nghĩa, mà Danh để nói Nghĩa, chẳng phải nói Sắc. 
2) Vì cõi này dùng âm thanhlàm Phật sự, dựa vào Thanh mà có Danh. 
3) Vì muốn chứng Bồ Đề phải dùng nghe mà huân tập, do nghe huân tập mà thành bậc Xuất thế gian
Do vậy, mà ở đầu kinh chẳng nói “Nhìn (thấy), cảm (nhận), biết (rõ)”. Chỉ nói là “Tôi nghe”. 
Thực ra thì lúc đó Khánh Hỉ cũng nhìn thấy Phật nói và thấy các cõi Phật khác nhờ ánh quang minh của Phật mà làm Phật sự. Có thể nói là nhìn thấy v.v… Ở trong nghĩa này cũng nên phân biệt
4 -HỎI : đó là Phật thuyết pháp nên nói là “tôi nghe được” hay là Phật chẳng thuyết mà nói là “tôi nghe” ?
ĐÁP : có hai cách giải thích :
1) Ngài Long Quân nói : Phật chỉ có ba pháp đó là đại định, trí và bi. Từ lâu ngài đã lìa bỏ hí luận, không hề thuyết pháp. Nhờ duyên lực bản nguyện từ bi của Phật, trong thức của chúng sinh nảy sinh ra tướng văn nghĩa. Tướng văn nghĩa này tuy đích thân y vào lực thiện căn của mình mà nảy sinh. Nhưng để gây tác động mạnh nên nói là “Phật thuyết”. Do lực nhĩ căn cùng ý thức của mình biến thành, nên gọi là “tôi nghe”, lấy đó làm thể tính.
Cho nên ngài Vô Tính nói rằng : bất kỳ lúc nào, trong thức của người nghe hiển hiện lên tất cả những điều Phật trực tiếp nói, hoặc chẳng trực tiếp nói, lấy đó làm thể tính. Người đó tự hỏi rằng : nếu thế thì tại sao Bồ tát lại có thể thuyết pháp được ? Luận ấy lúc đầu nói rằng Bạc Già Phạm trước đã nhập Đại thừa Bồ tát thuyết phẩm Nhiếp Đại Thừa để chứng tỏ cái thể của Đại thừa to lớn, cho nên đặt ra câu hỏi này. Luận lại tự giải đáp rằng : vì ngài là bậc tăng thượng sinh, nên làm ra thuyết ấy cũng ví như chư thiên nhờ tăng thượng lực nên trong giấc mộng vẫn được Luận chú. 
Kinh cũng nói rằng : Phật từ lúc bắt đầu mới thành đạo cho tới lúc cuối cùng nhập Niết bàn. Trong thời gian giữa chừng ấy chẳng nói một chữ, như người mẹ chỉ hé răng ra hiệu với con mà con hiểu là mẹ gọi. 
2) Ngài Thân Quang nói rằng : thân Phật có đủ uẩn, giới, xứ .v..v., do lìa phân biệt nên gọi là không hý luận, chứ đâu phải là chẳng thuyết pháp thì gọi là không hý luận. Có nghĩa là do thích nghi với duyên lực bản nguyện thiện căn của người nghe mà tướng văn nghĩa nảy sinh ra trong thức của Như Lai. Tướng văn nghĩa này là thiện căn lợi tha của Phật khởi lên, đó gọi là “Phật thuyết”. Trong thức của người nghe tuy chẳng đích thân tự có được, nhưng dường như tướng ấy hiển hiện rõ ràng, cho nên gọi là “tôi nghe”. 
Ngài Thế Thân nói rằng : điều đó có nghĩa là vì các sự sai biệt khác nảy sinh ra liên tục trong thức, nên khiến cho thức sai biệt tương tục khác nảy sinh, hỗ trợ lẫn nhau mà thành Tăng thượng duyên. Do đó kinh nói : “pháp mà ta đã nói như lá trong tay. Các pháp chưa nói như lá trong rừng, vì chúng như Trống trời Mạt-ni không nghĩ mà làm Phật sự”. 
Trong này hai cách giải thích, tùy theo hai loại văn đó mà giải thích thêm cho nhau. 
Cần phải biết rằng nói câu “Tôi nghe như vầy” là có ý tránh lỗi lầm thiếu sót hoặc thêm phần khác vào. Có nghĩa là pháp như vầy tôi nghe từ đức Phật, chứ chẳng phải được tỏ rõ là nhờ người khác xoay vần truyền lại. Người nghe mà có khả năng nghe hiểu, thì những điều họ nghe được không có sự thêm bớt nào, chẳng phải như kẻ ngu si không có khả năng nghe hiểu, thì những điều họ nghe được có khi có sự thêm bớt
Lúc kết tập pháp, người truyền lại lời dạy của Phật, cứ theo đúng y như lời Phật dạy, nên đầu tiên phải nói câu này để khiến cho chúng sinh cung kính, tin nhận. Ý nói pháp như vầy tôi nghe từ Phật, văn nghĩa dứt khoát không hề có sự thêm bớt. Cho nên người nghe cần phải nghe cho đúng đắn, rồi cứ theo đúng như lý mà suy ngẫm, siêng năng tu học.
*
-Kinh văn : “Một thời”. 
Tán rằng : thứ hai là nói về thời gian
Ở đây có hai nghĩa
1. Đấng Pháp vương bắt đầu giáo hóa, cơ duyên, khí lượng, không gian, thời gian đều hội đủ, việc thuyết phápnghe pháp xong xuôi thì gọi chung là “một thời”. 
2. Người thuyết pháp và người nghe pháp cùng nhau hội ngộ, thời gian không phân biệt cho nên gọi là “một thời”, vì thời gian cơ cảmthời gian ứng hóa không có sự tách bạch phân biệt. Đầu tiên căn cứ vào các sát-na tương tục không gián đoạn, người thuyết kẻ nghe cho đến rốt ráo thì tạm gọi là “một thời”. 
Ở a đây có hai cách giải thích
1) Thời đạo lý : cả hai bên người thuyết pháp kẻ nghe pháp tuy chỉ là hiện tại các hành năm uẩn sát-na sinh diệt, nhưng chính hiện pháp này mang ý nghĩa thù ứng cái trước dẫn tới cái sau, tức là dùng cái thù ứng giả danhquá khứ, dùng cái dẫn tới giả danhvị lai, đối đãi với hai loại này mà nói là hiện tại. Đời quá khứ vị lai này đều giả lập trong pháp hiện tại, tức là người thuyết pháp kẻ nghe pháp, các pháp năm uẩn sinh diệt từng sát-na, trước sau liên tục, sự việc rốt ráo thì giả danhba đời và gọi chung là “một thời”, chứ chẳng phải là “một thời” của một lần sinh diệt.
2) Thời duy thức : hai bên người thuyết, kẻ nghe trong thức tâm biến thành tướng trạng ba thời mà khởi lên, thực rahiện tại, tùy theo phần hạn của tâm mà biến thành sự tình dài ngắn xong rồi thì gọi chung là “một thời”. Như những thứ thấy ở trong mộng tuy là có nhiều, nhưng khi thức tỉnh biết chỉ là tâm biến hiện, đều không có cảnh thực. Người nghe pháp, tâm biến ba đời cũng thế, chỉ là duyên theo ý.
Những thứ Bất tương ưng hành uẩn, được pháp giới, pháp xứ thu nhiếp đó, ở đây gọi là “một thời” : 
- Một là số sát na chẳng nhất định.
- Hai là sự tương tục không nhất định
- Ba là bốn thời, sáu thời, tám thời, mười hai thời không nhất định
Bốn - là thời gian số năm sau khi thành đạo không nhất định, đó gọi là “một thời”. 
Thế nhưng người nghe pháp do căn cơ chín muồi cảm nhận được điều Phật thuyết, người thuyết pháp từ bi ứng cơ mà thuyết. Việc thuyết pháp nghe pháp xong xuôi thì gọi chung là “một thời”. 
Giải a thích về ý nghĩa bốn loại không nhất định của “một thời” nói trên :
1/- Số sát na không nhất định, có nghĩa là người nghe pháp có khi căn khí trì độn, thời gian thuyết pháp tuy ngắn, nhưng thời gian để nghe hiểu lại dài. Hoặc thời gian người thuyết pháp dài, mà người nghe cũng lâu, trong một sát na vẫn chưa hiểu nổi, do vậy chẳng phải chỉ một sát na
2/- Sự tương tục cũng chẳng nhất định, có nghĩa là do người giỏi thuyết pháp đắc Đà-la-ni, chỉ nói một chữ mà nghĩa hết thảy đều hiểu rõ. Hoặc người biết nghe đắc nhĩ căn, ý căn thanh tịnh, chỉ nghe một chữ, thời thảy đều hiểu được, cho nên chẳng phải là liên tục. Do người nghe ở một hội căn cơ kẻ thì lanh lợi, người thì trì độn, Như Lai dùng thần lực có khi kéo dài niệm ngắn thành ra kiếp dài, khi thì rút ngắn nhiều kiếp lại thành niệm ngắn, cũng chẳng nhất định, cho nên việc thuyết pháp, nghe pháp xong thì gọi chung là “một thời”. 
3/- Thời gian bốn thời, sáu thời, tám thời, mười hai thời v.v… cũng chẳng nhất định, có nghĩa một mặt trời, một mặt trăng soi bốn thiên hạ dài ngắn, nóng lạnh, gần xa, ngày đêm các phương cũng chẳng nhất định, vì thường xuyên chỉ hai thiên hạ cùng khởi dụng. Hơn nữa trừ chư thiên cao thấp, không có bốn thời và tám thời như ở đây. Kinh muốn lưu thông ở khắp phương trên dưới, nếu nói bốn thời v.v… thì lưu hành chẳng khắp. 
4/- Thời gian số năm sau khi thành đạo cũng chẳng nhất định, có nghĩa là vì báo thân, hóa thân đức Phật mà kẻ phàm người thánh ba thừa nhìn thấy, tuổi tác ngắn dài, từ khi thành đạo tới nay gần xa mỗi nơi mỗi khác. Kinh muốn cho kẻ phàm người thánh ba thừa cùng nghe nên chẳng nói tách bạch là sau khi thành đạo bao nhiêu năm tháng. Song trong các kinh đều có nói tới sự tương tục
Kinh này phần dưới nói : “thuyết kinh Pháp Hoa này tròn sáu mươi tiểu kiếp” chính là sự này. 
Có kinh nói tới bốn thời, như Kinh Niết Bàn nói ngày rằm tháng hai. Có lúc nói sáu thời, tám thời, mười hai thời, như Kinh Niết Bàn nói vào lúc tước cành dương (xỉa răng) buổi sáng sớm; Kinh Kim Cương Bát Nhã nói lúc chính ngọ ăn cơm nước rồi, thu dọn áo bát, rửa chân xong xuôi, trải tòa mà ngồi; Kinh Thượng Sinh nói lúc đầu đêm, khắp người phóng hào quang; Kinh Di Giáo nói lúc nửa đêm, vắng lặng im ắng. 
Có kinh nói thời gian năm tháng sau khi thành đạo, như Kinh Thập Địa nói : “tới tuần bảy ngày thứ hai thuyết kinh Hoa Nghiêm trong Ma Ni bảo điện ở cung trời Tha Hóa Tự Tại; sang tuần bảy ngày thứ ba nghiền ngẫm kỹ rồi thì chuyển pháp luân Tứ đế ở nước Ba La Nại. Lại nữa Kinh Vô Lượng Nghĩa nói rằng : “Ta từ khi thành đạo tới nay đã hơn bốn mươi năm”. Tuy có nói thế, song cũng là căn cứ theo những điều mà chúng sinh được hóa độ ở một phương một khu vực nghe thấy, nhìn thấy mà kết tập, hơn nữa nói những lời ấy chẳng phải lúc đầu tổng đề thuyết pháp. Bởi vậy cho nên đều phải nói chung là “một thời”. 
-HỎI : trong Xứ (nơi chốn)ù có tịnh, có uế; nếu tùy theo căn cơ, thì nhất định là trong Xứ và Thời (thời gian) thuyết pháp, kẻ phàm, người thánh phải có sự khác nhau, nếu chẳng phân biệt mà thuyết, sao được ? 
ĐÁP : Xứ thuyết pháp có thể nêu rõ tịnh, uế vì tịnh uế có thể biết chắc. Thời thuyết pháp có ngắn có dài, có kẻ phàm người thánh chẳng thể chuẩn đích. Trong một hội, cơ nghi có kẻ lanh lợi, có kẻ trì độn, thời gian dài ngắn khác nhau làm sao mà xác định chắc chắn được. Cho nên Xứ có thể nói cụ thể, còn Thời thì chỉ nói chung là “một thời”.
*
-Kinh văn : “Phật”. 
Tán rằng : thứ ba là Giáo chủ thuyết pháp
Tiếng Phạm là Phật đà, ở đây gọi tắt là Phật, chỉ vị chúa có tuệ. Tiếng Đường (chữ Trung Quốc) gọi là Giác giả (đấng giác ngộ). 
Giác có ba nghĩa : 
- Một là tự giác, hơn hẳn phàm phuphàm phu chẳng tự giác 
- Hai là giác tha, hơn hạng nhị thừa, vì hạng này chẳng giác tha
- Ba là giác hạnh viên mãn, hơn các Bồ tátBồ tát tuy vẫn tu, nhưng đối với nhị giác (tự giác, giác tha), hạnh vẫn chưa viên mãn.
Phật ] Địa luận nói : có đủ nhất thiết trí, nhất thiết chủng trí, có khả năng tự khai giác, cũng có khả năng khai giác cho hết thảy hữu tình, như ngủ mơ mà tỉnh giấc, như hoa sen xòe nở nên gọi là Phật.
a) Nhất thiết trí, tức là Năng tự khai trí, như sự hiểu biết khi ngủ mơ, có năng lực quán sát về Không trí, Lý trí, Chân trí, Vô phân biệt trí như là sở hữu. Tóm lại mà nói, đó là đoạn được Phiền não chướng
b) Nhất thiết chủng trí, tức là Giác hữu tình trí. Là trí như hoa sen khai nở, có năng lực quán sát về Hữu trí, Sự trí, Tục trí, Hậu sở đắc trí, có hết mọi thứ. Tóm lại mà nói, đó là đoạn được Sở tri chướng
Theo bản tiếng Phạm của các kinh, đều gọi Phật là Bản sư, là Bạc Già Phạm. Phật giáo đặt ra từ này vì nó bao hàm các đức tính. Người chủ trì việc phiên dịch, ý muốn tỉnh lược, tùy địa phương khéo xưng, nên gọi tên là Phật. 
-HỎI : trong ba thân này, thân nào quyền nhiếp ? 
ĐÁP : theo Xứ theo Cơ, ứng với Thanh văn thì là Hóa Phật, theo Văn theo Khí, dạy bảo Bồ tát thì là Báo thân
Vì người cảm nhận căn cơphẩm loại khác nhau mà Phật hiện ứng thân, cho nên thông cả Báo, Hoá. Xuất hiện nơi thành Vương Xá, non Thứu lĩnh, để thuyết pháp Thu Tử và chúng sinh từ tầng trời sơ thiền trở xuống nghe, tức là Hóa Phật
Cõi ta yên ổn thọ lượng lâu dài, Văn Thù hóa hiện ở trong cõi này, tức là Báo thân. Song, ứng hoá chẳng phải là chân Phật, cũng chẳng phải là người thuyết pháp
Từ hành trạng mà qui về bản thể, tức là Pháp thân. Cho nên trụ ở Pháp giới tạngxưng tán công đức kinh Đại thừa, chứng tỏPháp thân thuyết.
Phật Địa kinh v.v… nói 18 thứ viên mãn trụ ở Bảo hoa vương, đó chính là Báo thân thuyết.
Sự tích ở thành Vương Xá theo kinh này, đó tức là Hóa Phật thuyết. 
Theo lý mà nói, thực ra thông cả ba Phật, tùy ứng với chúng sinhhiện thân, chẳng phải nhất định là một thân nào. Trong Kinh Lăng Già nói : ba thân Phật thuyết pháp mỗi thân mỗi khác, vì đều thuyết pháp. Do đó trưởng giả Cù Sư La nhìn thấy Phật hiện tướng ba thước mà phát tâm, năm trăm Bà la môn thấy các La hán dùng Hỏa quang tam muội thiêu thân thành tro mà khởûi tín tâm. Bồ tát thân vô biên cao tới tận cùng thượng giới mà vẫn còn thừa. Kẻ phàm phu trụ ở quả thánh nhỏ xem thân Phật cao một trượng sáu mà thấy vô tận
Nay để chứng tỏ bậc Giáo chủtôn quí, sự giáo hóa của ngài được tùy thuận. Chắc chắntốt đẹp nên đầu tiên nêu cao Giáo chủ để người nghe sinh tâm hoan hỉ.
*
-Kinh văn : “Trụ trong núi Kỳ Xà Quật, thành Vương Xá”. 
Tán rằng : thứ tư là nơi được giáo hóa
Du hóa, cư trú thì gọi là trụ. Trụ có nghĩa là cư trú, du hóa, ăn ở. Cư trú tại núi, du hóa trong thành, đó là thân hạnh của Phật trong suốt cuộc đời hành đạo. Người xưa nhân đó mà giải thích thành các loại trụ : Thánh, Thiên, Phạm, Phật. Các loại trụ ấy về danh tuy đồng, nhưng về ý nghĩa hoàn toàn khác nhau.
Trong kinh có những chỗ lý lẽ thâm thúy, ý nghĩa sâu kín nhưng người phiên dịch không hề lưu tâm, khi hành văn dùng danh từ giống nhau mà nghĩa lý lại khác nhau, đó chỉ là phô trương viện dẫn chứng cứ hão huyền, thế là chưa được. 
Tiếng Phạm : thành Cư Xa Yết La Bổ La, tiếng Đường (chỉ tiếng Hán) gọi là “thành Thượng Mao”, ở chính giữa nước Ma Kiệt Đà, là nơi đóng đô của vua chúa thời xưa, chốn này có nhiều cỏ tranh Cát tường thượng hảo hạng, nhân lấy đó mà đặt tên thành.
Núi cao bao bọc bốn phía xung quanh làm lớp thành ngoài, phía Tây thông với đường hẻm, phía bắc mở ra cửa núi, địa hình xứ này Đông Tây dài, Nam Bắc hẹp, chu vi hơn 150 dặm. Cung thành chu vi 40 dặm, cây Yết Ni Ca trồng đầy đường, cây này hoa thơm đặt biệt, vàng rực như màu vàng ròng, vào tháng cuối xuân, rừng cây đều rực rỡ sắc vàng. 
Ngoài cửa Bắc cung thành có một ngôi tháp, đó là chỗ Đề Đà Đạt Đa kết bạn thân với vua Vị Sinh Oán (vua A Xà Thế) cùng thả con voi say Hộ Tài ra định hại Như Lai, nhưng đầu ngón tay Như Lai đã phóng ra năm con sư tử thuần phục được con voi say đó.
Thứ đến phía Đông Bắc cũng có tháp, đó là nơi Xá Lợi Tử gặp Tỳ kheo Ma Thắng sau một cuộc đối đáp ngắn, ngài đắc sơ quả. Thứ nữa đến cách phía chính Bắc không xa có một hố to sâu, tiếng Phạm gọi là Thất Lợi Cúc Đa, ở phương đây gọi là Thắng Mật, đó là nơi dùng hố lửa, cơm bỏ thuốc độc định hại đức Phật
Từ cung thành đi theo hướng Đông Bắc chừng 14-15 dặm tới núi Kết Lật Đà La Cư Tra, tiếng Đường (tức tiếng Hán) gọi là Thứu phong, còn gọi là Thứu đài, một mình sừng sững nối tiếp với núi Bắc, được cho là chỗ chim Thứu đậu, lại nom giống như cái đài màu non biếc đậm in trên nền trời xanh nhạt. Sau khi thành đạo suốt gần 50 năm, Phật phần nhiều ở núi này mà thuyết rộng về diệu pháp
Bản dịch cũ dịch là núi Kỳ Xà Quật, lại gọi núi Linh Thứu. Chim Thứu ăn xác người ở đấy, gọi là Linh Thứu vừa sai, vừa là cách gọi tắt. Để nghe pháp, vua Tần Bà Sa La đã sai người ghép đá thành bậc rộng hơn 10 bước, dài 5-6 dặm, vượt qua hoang động, ghềnh đèo đi suốt từ chân núi tới đỉnh núi. Trên đường đi có hai tháp : một tháp gọi là Hạ thừa, vua tới đây thì đi bộ mà lên, một tháp gọi là Thoái phàm, có nghĩa là loại bỏ hạng phàm nhân, không cho cùng đi lên. Đỉnh núi này chiều Đông Tây dài, chiều Bắc Nam hẹp. Trên bãi phía Tây kề bên vách đá có tòa tinh xá bằng gạch qui mô cao rộng kiểu dáng kỳ lạ, làm cửa mở ra hướng Đông. Lúc Như Lai còn tại thế phần nhiều ở đây để thuyết pháp. Nay làm tượng Phật thuyết pháp to đúng bằng thân Như Lai.
Phía đông tinh xá có mảng đá dài là chỗ Phật đi dạo, bên cạnh có đá to cao trượng tư trượng rưỡi, chu vi hơn 30 bước, đó là nơi mà Thiên Thụ (tức Đề Bà Đạt Đa) đứng từ xa ném đá làm chảy máu chân Phật. Phía Nam tinh xá có một tòa tháp, đó là nơi Phật thuyết Kinh Pháp Hoa. Đi khỏi cửa Bắc thành núi chừng hơn một dặm thì tới rừng trúc Ca Lan Đà có tháp do vua Vị Sinh Oán xây dựng để cúng dường phần Xá Lợi Phật mà vua đã được chia.
Phía Tây Nam rừng trúc đi chừng năm sáu dặm tới núi Nam trong rừng trúc có hang đá lớn, đó là nơi Đại Ca Diếp Ba kết tập pháp tạng. Cách phía Bắc rừng trúc hơn hai trăm bước tới ao Ca Lan Đà. Phía Tây Bắc ao này cách chừng hai ba dặm có thành Hạt-La-Xà-Kết-Lị-Tứ, tiếng Đường (tức tiếng Hán) gọi là thành Vương Xá, thành ngoài đã bị hư hỏng, không còn sót mảnh tường nào, thành trong tuy bị hủy hoại, nhưng nền móng vẫn còn. 
Thành này chu vi hơn 20 dặm, mặt có một cửa. Xưa vua Tần Bà Sa La đóng đô ở cung thành Thượng Mao, nhà dân thường bị hỏa hoạn, một nhà cẩu thả bốn bên hàng xóm đều bị tai hoạ, dân chúng ca thán vì chẳng được an cư lập nghiệp. Vua nói : “vì ta bất đức, dân chúng mang vạ. Vậy muốn trừ được tai họa này thì phải tu đức nghiệp gì”? Bầøy tôi tâu rằng : “đại vương thi hành đức hóa. Nhưng dân đen chẳng cẩn thận. Vậy xin đặt ra luật lệ hình phạt nghiêm khắc để răn đe người sau đừng vi phạm, nếu còn vi phạm nữa thì dời tới Rừng Lạnh. Rừng Lạnh là nơi vứt xác, tục gọi là đất chẳng lành, không ai thèm qua lại chơi bời, thì cũng giống như bị vứt xác. Dân chúng đã coi chuyện phải dời đến ở nơi này là điều sỉ nhục, thế thì tự họ sẽ phải giữ gìn cẩn thận”.
Vua bèn nghe theo lời tâu ấy đặt thành luật lệnh nghiêm khắc để thi hành. Nào ngờ trong cung lại thất hỏa trước tiên. Vua nói : “ta phải dời thôi”! bèn sai Thái tử ở lại giám quốc nhiếp chính, rồi tự dời đến rừng này. Vua Phệ Xá Ly nghe tin vua Tần Bà Sa La trú ở giữa đồng bèn đem quân tới đánh, thám tử ở biên giới biết tin tâu về, vua bèn xây thành mà ở. Vì vua là người đầu tiên xây nhà ở đây, nên gọi là thành Vương Xá.
Có người nói : sau khi Vị Sinh Oán nối ngôi rồi mới xây thành này. Thực ra là chỉ xây cho thành cao dày thêm, chứ chẳng phải là xây mới. Tới khi vua Vô Ưu dời đô đến Ba Tra Ly thì đem thành Vương Xá bố thí cho Bà la môn, cho nên trong thành này ngày nay chỉ toàn là Bà la môn, không còn có dân thường nữa. Tất cả có một ngàn nhà, người xưa có kẻ nói: thành núi là thành Vương Xá có chín ức nhà. Hoặc nói : để ngàn vua ở đây ! Các thuyết trên đều sai. 
Kinh đô của vua đã ở thành Vương Xá, Phật trụ ở núi Thứu phong, thành và núi cả hai nơi đều được nêu lên, hai hóa tự, tha cùng thuyết cả, đó là để lợi cho cả chúng xuất giachúng tại gia.
Luận a nói “phần tựa thành tựu” có nghĩa là pháp môn này hiển bày hai loại nghĩa thành tựu
1) Hơn hết trong mọi pháp môn, ví như thành Vương Xá hơn hết thảy mọi thành xá khác. Thành này chính là nơi nhà vua đóng đô, ở ngay giữa nước Ma Kiệt Đà, biểu trưng cho nhất thừatrung đạo của tam thừa, là nơi an trụ của Pháp vương, vì thành đã hơn các thành khác, thì kinh cũng hơn các kinh khác.
2) Hiển bày công đức tự tại, cho nên như núi Kỳ Xà Quật hơn các núi khác, rõ ràng là pháp này cũng hơn. Thành Câu Tô Ma đã là thành núi, ở gần Vương Xá, chính là nơi có nhiều núi, riêng một mình núi này hơn hẳn vì vừa cao vừa nổi bật, tượng trưng cho pháp cao hiển hơn hẳn nhị thừa, có đầy đủ mọi công đức vòi vọi tự tại.
Hoặc như thành hơn các thành khác, không có vật đẹp nào mà không có; Pháp hơn các pháp khác, không đức tốt nào mà không có đủ; Núi hơn các núi khác, vì là nơi các chim đẹp đậu ở; Pháp hơn pháp khác, vì là chỗ bậc thượng nhân dạo chơi.
Lại nói : ví dụ về sự diệu mầu là chung cho cả Giáo và Lý, hoặc Giáo diệu như thành, vì chứa đựng diệu Lý, Lý cao như núi, vì hơn hẳn Nhị thừa, bởi vậy kinh này nói tại thành Vương Xá ở núi Thứu lĩnh là có ý nghĩa biểu trưng vậy. Trí Bát Nhã thông suốt năm môn, thành Xá Vệ dồi dào bốn đức, nên phần nhiều ở đó mà chẳng y vào nơi khác. Vàng sinh ra ở nơi sông nước đẹp, đó là câu tục ngữ phương Đông vẫn lưu truyền(*)
Thuyết a xưa nói rằng : kinh này thuyết cả thảy ở bốn nơi. Lúc đầuLinh sơn, sau đó ở trong tháp vọt lên không trung, sau nữa ở cõi tịnh độ mà Phật tập hội, cuối cùng thì phân thân Phật trong phẩm Chúc Lụy sau khi trở về lại ở uế độ.
Nay a giải thích rằng : nơi có ba, nhưng thuyết chỉ tại hai.
a. Về nơi : 
+ Nơi có ba : có nghĩa là không quay trở về uế độ nữa. Từ phẩm Chúc Lụy về sau, các phân thân mới đến cõi này cho tới cuối kinh, đều chỉ là tịnh độ. Khi các phân thân trở về bổn độ, cõi này lại biến thành uế thì lúc ấy thuyết kinh đã xong.
+ Tịnh uế chỉ hai : một là ban đầu tại uế độLinh Sơn, hai là lúc các phân thân Phật tập hợp chư Phật thì biến thành tịnh. Cùng với tháp vọt lên trên không nữa, thế là có ba nơi.
b. Về thuyết (pháp) chỉ ở hai :
+ Đầu tiên mở hội Linh Sơn trên mặt đất để tuyên thuyết về nhất thừa cho hạng nhị thừa.
+ Sau đó tháp vọt lên không, các phân thân Phật tập hợp, Thích CaĐa Bảo cùng ở một tòa khuyên tin kinh này cho tới cuối kinh, Phật bảo ai nấy trở về, việc thuyết kinh xong Phật mới xuống đất, sau đó chẳng thuyết Kinh Pháp Hoa nữa. Cho nên biết rằng nơi thuyết pháp chỉ có hai.
Nay để nêu việc mở hội, nên nói đến thành núi; cốt ý nêu ra nơi chốn giáo hóa. Phật nói về hóa thân Phật là muốn khiến cả ba thừa đều vui vẻ ưa thích nhất thừa, thể hiện đức từ bi sâu sắc của Phật, thừa và thân đều diệu mầøu, vì đã có thể thi hành việc giáo hóa ngay tại nơi uế độ. Nếu nêu cao báo thân và biểu hiện tịnh độ, thì sợ rằng chúng nhị thừa ngờ là chẳng phải phần mình, vì chẳng thể tu được. Do đó mà chỉ hiển thị uế xứ, hóa thân.
*
-Kinh văn : “Cùng với chúng đại Tỳ kheo gồm một vạn hai ngàn người”. 
Tán rằng : đó là Chúng thành tựu, thành tựu thứ hai trong bảy thành tựu
Chúng thành tựu được giải thích bằng năm môn : 
Một - là tỏ rõ lai ý,
Hai - là nêu rõ quyền thực,
Ba - là định rõ nhiều ít,
Bốn - là nói rõ thứ tự,
- Năm là giải thích theo luận.
1. Lai ý : (dụng ý đến dự pháp hội của chúng đại Tỳ kheo) có năm :
1.1- Để chứng tín, vì thính chúng giúp vào việc chứng minh rằng Khánh Hỷ (tức A Nan) được nghe phápđáng tin cậy. Điều ngờ của đại chúng có ba : một là ngờ rằng đó là lời Khánh Hỷ tự nói, hai là ngờ rằng đó là lời A Nan nghe người khác nói lại, ba là ngờ rằng đó là do người khác thuyết. Nay tỏ rõ là cùng được nghe và chứng nhận rằng kinh này là đáng tin cậy. Trí Độ luận nói rằng : “nói rõ thời gian, nơi chốn và người nghe là cốt để cho người ta tin”.
1.2- Để nêu rõ đức, như thiên Đế thíchchư thiên vây quanh, Đại phạm thiên vươngphạm chúng vây quanh, nay nêu rõ Pháp vương có chư thánh vây quanh.
1.3- Để khải thỉnh (Phật thuyết pháp), cách làm lợi lạc cho chúng sinh là phải đáp ứng điều mong muốn của họ mà thuyết pháp theo trình tự : trước nói về nhân sau nói đến quả, Thân là thể hiện của quả, Hành là tính chất của nhân, Thừa là điều phải học.
Trong phẩm Phương Tiện, ông Thu Tử, (tức Xá Lợi Phất) ba lần thỉnh Phật thuyết về vấn đề Quyền Thực của các thừa, nên đức Thế tôn đã nói rõ khiến chúng sinh bỏ quyền cảnh mà lấy thực thừa.
Trong phẩm An Lạc Hạnh, ngài Văn Thù cố thỉnh, chính là để nói rõ chẳng tu theo Quyền thừa mà hành theo Thực thừa.
Trong phẩm Thọ Lượng, ngài Di Lặc ba lần thỉnh Phật nói về vấn đề Quyền và Thực của thân, nên đã bày tỏ phải bỏ quả quyền thừa mà cầu quả thực thừa.
Kinh nói về nhân duyên để trừ pháp mạn, nếu chẳng nhân lời thỉnh mà thuyết pháp thì khó nảy sinh ra cái tâm khao khát mong cầu. Cho nên hàng Thanh văn thỉnh Phật thuyết về cảnh nhất thừa, chính là nhằm vào căn cơ của họ để khiến tỏ ngộ. Bồ tát thỉnh Phật nói về Hạnh và Quả nhất thừa thì việc tán thán sự chứng (quả nhất thừa) và cái nhân (của quả nhất thừa) cũng lợi cho họ.
1.4- Để đương cơ, người thoái tâm Bồ Đề tùy theo ba căn khác nhau mà lĩnh ngộ, vì thế Phật phải thuyết giảng về nhất thừa tới ba lượt.
Khi đức Thế tôn thuyết phẩm Thọ Lượng v.v… thì hàng Bồ tátthính chúng lĩnh ngộ tùy theo từng loại căn cơ mà được ích lợi khác nhau. Thanh văn phàm phu xa lìa trần cấu phát tâm Bồ Đề, bậc thánh trong hạng này hồi hướng đại thừa. Bồ tát phàm phu (những kẻ phàm phu trong hàng Bồ tát) đều trừ được lưới nghi, chứng ngộ chân lý, đạt được thánh quả. Bậc thánh trong hàng Bồ Tát chứng được Vô sinh pháp nhẫn sẽ được Bồ đề, cho nên (Phật) vì ba loại căn cơ mà thuyết diệu pháp này.
1.5- Để dẫn nhiếp, đương thời chúng Tỳ kheo vân tập để dẫn nhiếp các chúng sinh khác, lúc đó khiến họ sẽ phát tâm. Kinh trình bày đầy đủ điều trên để dẫn dắt chúng sinh thời nay phát tâm. Nếu không có các bạn tốt hỗ trợ thì niềm tin thanh tịnh sẽ chẳng nảy sinh.
Phật Địa luận nói rằng : “liệt kê ra hàng Bồ tát để giúp cho sự viên mãn, liệt kê ra các hạng thiên, long v.v… để chỉ quyến thuộc viên mãn”. Cõi tịnh độ còn thế huống chi là uế độ.
Năm nghĩa trên đây đều là của lai ý.

2. Nêu rõ vấn đề Quyền và Thực.
Phật Địa luận nói rằng : trong một xứ uế độ hay tịnh độ của hóa Phật, thì Thanh văn là thực, Bồ tát là quyền. Trong báo độ thì Bồ tát là thực, Thanh văn là quyền. Nay ở đây có cả hóa và báo, tùy cơ ứng hiện hai thực, hai quyền.
Đầu tiên liệt kê ra hóa Phậthội Linh sơn, trong này Bồ tát là quyền. Chúng sinh nhìn thấy thế giới cháy rả vào thời kiếp tận, nhưng thực sự thì cõi tịnh độ của Như Lai thường xuyên an lạc, thọ lượng của Như Lai thực là vô biên. Các chúng Thanh văn ở cõi báo độ của báo thân chẳng phải là thực, huống chi là Phật Đa Bảo, các Phật phân thân đều là hóa hiện. Như vậy thì biết rõ cái lý về Báo Hóa, Quyền Thực.
Trong luận đã nói có hạng hóa Thanh văn như ông Mãn Từ (tức Phú Lâu Na) v.v… Ngoài ra có các hóa chúng khác như Phật Đa Bảo, các phân thân v.v…

3. Định rõ nhiều ít.
3.1- Lúc đầu có 15 chúng : 
1) Cao danh đại đức chúng, 
2) Vô danh đại đức chúng, 
3) Tôn trọng chư ni chúng
4) Nội quyến chư ni chúng
5) Thánh đức nan tư chúng, 
6) Đế thích chư thiên chúng, 
7) Tam quang tứ vương chúng,
8) Nhị tự tại chúng, 
9) Sắc giới chư thiên chúng,
10) Long chúng,
11) Khẩn Na La chúng, 
12) Càn Thát Bà vương chúng, 
13) A Tu La chúng,
14) Ca Lâu La chúng,
15) Nhân vương chúng.
3.2- Lúc sau lại có thêm sáu chúng : 
1) Đa Bảo,
2) Phân thân,
3) Long cung,
4) Dũng xuất,
5) Diệu Âm
6) Phổ Hiền.
Các chúng này chia làm các bộ đôi : nghe pháp chứng pháp, hành pháp trì pháp, thuyết pháp hộ pháp khác nhau.
3.3- Trong này có sáu món khác :
1- Ba thừa không có Độc giác. Độc giác phần lớn xuất hiện trong thế giới không có Phật, tuy được hưởng giáo pháp đầy đủ, nhưng thời đó không có quả để mà chứng, nên chẳng ở trong hội Pháp Hoa này. Trong Kinh Nhân Vương thì có cả loại này. Văn dưới cũng trình bày rõ là có quả Độc giác này.
2- Ba cõi không có cõi Vô sắc. Aùnh sáng Phật soi đến kẻ có duyên thì họ có thể tới nghe pháp. Cõi đó ánh sáng soi chẳng tới, căn cơ cũng chẳng chín, bởi vậy chẳng tới. Kinh Nhân Vương cũng nói có cõi đó.
3- Năm nẻo không có nẻo địa ngục. Hào quang Phật tuy soi đến, nhưng nẻo đó vô duyên nên chẳng tới. 
Tới có hai nghĩa (tức đủ hai điều kiện) : một là sáng soi, hai là có duyên. Địa ngục dù được sáng soi, nhưng chẳng có duyên thì cũng chẳng tới. Còn cõi Vô sắc thì đều tối, bởi vậy nên cũng chẳng tới. Nếu hành giả tu tập nhất thừa, thân ắt ung dung; còn chúng sinhđịa ngục bị nỗi khổ bức bách, không có lúc nào rảnh rỗi mà tu tập.
Kinh Đà La Ni vốn có uy lực dẹp trừ mọi nỗi khổ, nên địa ngục cũng tới. Kinh này tiến thiện, nẻo địa ngục ấy không được rảnh rỗi, nên chúng chẳng tới. Sở dĩ hào quang của Phật soi tới địa ngục là để chúng sinh ở đó, chán nơi đó thấy hào quang Phật thì phát tâm Bồ đề nên khỏi khổ.
4- Bốn chúng không có Ưu bà tắc, Ưu bà di. Trong uy nghi thành tựu ở dưới đều liệt kê đầy đủ. Đây là đoạn mở đầu của kinh văn nên lược đi.
5- Tám bộ không có Dạ XoaMa Hầu La Già. Dưới đều có đủ.
6- Hai vua không có vua Chuyển Luân thánh vương, chỉ có tiểu vương. Dưới đều có đủ.
Ba thứ không có cuối cùng này, sẽ nêu sau trong phần nói về uy nghi thành tựu

4. Nói rõ thứ tự.
Các chúng ban đầu chia làm bốn loại : một là Thanh văn chúng, hai là Bồ tát chúng, ba là Bát bộ chúng, bốn là Chư vương chúng. Hoặc xếp thứ tự từ nội hộ đến ngoại hộ :
4.1- Trong nội hộ, thì thứ tự từ Thanh văn đến Bồ tát. Trong Thanh văn thì thứ tự từ Tăng đến Ni. Trong Tăng thì từ hạng hữu danh đến hạng vô danh. Trong Ni thì từ hạng tôn trọng đến hạng quyến thuộc.
4.2- Trong ngoại hộ thì từ Bát bộ đến vua người. Trong Bát bộ thì xếp thứ tự từ thiên đến phi thiên. Trong chư thiên thì từ loại địa cư đến loại không cư. Trong loại địa cư thì theo thứ tự từ vua đến quan. Trong loại không cư thì từ hạng phi thiền chủ đến thiền chủ.
4.3- Thứ tự các chúng sau đó thì từ : 
1) Chứng pháp chúng, 
2) Khai tháp chúng,
3) Kinh lợi quảng đại chúng,
4) Trì pháp vô biên chúng,
5) Tha phương hành pháp chúng, 
6) Tha phương khuyến trì chúng.
4.4- Lý do xếp Thanh văn trước Bồ tát : trong các chúng ban đầu, Thanh văn ở trước, Bồ tát ở sau, điều này Phật Địa luận tuy có giải thích, nhưng nay có bốn ý giải thích như sau:
1) Hình tướng khác nhau : Thanh văn xuất gia hình giống chư Phật, Bồ tát chẳng thế.
2) Xứ có xa gần : Thanh văn gần Phật, Bồ tát xa Phật.
3) Giới đức khác nhau : Thanh văn xuất gia trì giới xuất gia; Bồ tát chẳng thế vì phải tùy loạihóa sinh.
4) Vì muốn khiến cho Bồ tát bỏ thói kiêu mạn đối với Thanh văn.
Song Kinh Lăng nghiêm, Kinh La Ma Già, Kinh Cự Lâu Vương, Kinh Hòa Lưu, Kinh Đại Ngũ Trược đều xếp Bồ tát trước, Thanh văn sau, là vì căn cứ vào đức lớn hay nhỏ mà xếp thứ thự trước sau.

5. Giải thích theo luận.
Luận giải thích trong Chúng thành tựu có bốn món: Số thành tựu, Hành thành tựu, Nhiếp công đức thành tựu, Uy nghi chư pháp trụ thành tựu.
5.1- Số thành tựu :
Có nghĩa là đại chúng nhiều vô số. Nói chung thì là vô số, nhưng luận lại nêu riêng từng hạng, nên nói rằng có 1.200 đại Tỳ kheo chúng.
5.2- Hành thành tựu, có bốn :
- Một là các Thanh văn tu hạnh tiểu thừa dựa vào việc khất thực v.v… mà tự nuôi sống, gọi tên là Tỳ kheo v.v…
- Hai là Bồ tát tu hạnh đại thừa, muốn giác ngộ và làm lợi lạc cho loài hữu tình, được gọi tên Bồ Đề Tát Đỏa.
- Ba là Bồ tát nhờ lực thần thông tùy thời thị hiện, nay tu hạnh đại thừa như nhóm 16 người gồm Bạt Đà Bà La v.v… , có đủ mọi sự không thể nghĩ bàn của Bồ tát, do bất định nên có thể thị hiện thành hình bốn chúng chư Ưu bà tắc v.v… , nói là Bồ tát.
- Bốn là người xuất giauy nghi nhất định, chẳng giống Bồ tát, do uy nghi nhất định đó nên gọi là Tỳ kheo.
5.3- Nhiếp công đức thành tựu :
Đó là 16 câu tán thán công đức Thanh văn, 13 câu tán thán công đức Bồ tát. Song trong bản luận chẳng nêu riêng từng loại vì văn nghĩa đã rõ.
5.4- Uy nghi như pháp trụ thành tựu :
Tức là câu “bấy giờ Thế tônbốn chúng vây quanh” v.v… nói rõ tướng bốn chúng đó nhiễu Phật, uy nghi cung kính, nghe pháp mà trụ. Tuy việc ai nấy đều lễ Phật cũng là uy nghi, nhưng chẳng phải là tướng nghe pháp, nên ở đây không nói.
Trong • 15 chúng gồm có ba loại : 
a) Loại Bồ tát Thanh văn đủ bốn thành tựu
b) Loại hữu học, vô họcTỳ kheo ni chỉ có ba thành tựu, vì chẳng khen đức.
c) Ngoài ra chư thiên v.v… chỉ có hai thành tựu, không hạnh không đức.
Luận nói rằng : trong Chúng thành tựu, lý ra có bốn thành tựu, nhưng chẳng nói mỗi thứ đều đủ cả bốn loại. Song trong kinh thuyết minh về Chúng thành tựu có hai đoạn :
- Đoạn đầu thuyết minh tách bạch về 15 chúng.
- Đoạn sau thuyết minh về uy nghi
Trong đoạn đầu lại có hai : đầu tiên liệt kê ra các chúng, sau đó nói rõ ai nấy lễ Phật rồi lui ra.
Trong • 15 chúng lại chia làm hai : đầu tiên nói rõ nội hộ chúng, sau đó nói rõ ngoại hộ chúng.
- Nội hộ chúng có hai : đầu tiên kể rõ Thanh văn, sau đến Bồ tát
- Thanh văn có hai : đầu tiên nói rõ Tỳ kheo, sau mới kể đến ni chúng.
- Trong Tỳ kheo có hai loại : đầu tiên là loại cao đức hữu danh, sau đó là đến loại đại đức vô danh.
- Trong loại đầu có ba : 
1/- Nêu loại nêu số.
2/- Tán thán công đức.
3/- Kể tên.
Loại đầu này có hai thành tựu : một là số, hai là hành.
Cùng • với (dữ) : có nghĩa là gồm, gộp, cùng, với. Ngài Long Thụ giải thích rằng : cùng một xứ, một thời, một tâm, một giới, một kiến giải, một đạo giải thoát như nhau thì gọi là “cùng” (cộng).
Đại • Tỳ kheo : Trí Độ luận nói rằng : có ba nghĩa để giải thích chữ đại : tối đại trong các chúng, đại chướng ngại đoạn, đại nhân cung kính.
Ngài Chân Đế có ba cách giải thích
1) Thắng đại : là loại ưu thắng trong số hữu họcvô học
2) Thể đại : công đức trí tuệ cực cao rộng. 
3) Số đại : một vạn hai ngàn người nay gồm có sáu:
1/- Số đại.
2/- Ly đại, vì đoạn được đại chướng ngại
3/- Vị đại, vì là A la hán.
4/- Đức đại, vì như kinh đã nói.
5/- Danh đại, vì danh tiếng vang xa. 
6/- Thức đại, vì là tri thức của đại nhânđại chúng.
Tiếng Phạm là Bật Sô, phương này phiên âm là Tỳ kheo, vì có đủ năm nghĩa, bởi vậy chẳng dịch thành tiếng Hán :
1) Bố ma (khiến ma phải sợ), vì lúc mới xuất gia đã khiến cung ma chấn động
2) Khất sĩ, vì sau khi xuất gia rồi thì khất thực 
tự sống.
3) Trì tịnh giới, vì dần dần gia nhập Tăng số, phải trì giới
4) Tịnh mệnh, vì đã thụ được giới rồi thì ba nghiệp khởi lên đều xuất phát từ không tham, chẳng dựa vào tham lam gian tà mà nuôi mạng sống.
5) Phá ác, vì y vào đạo thánh dần dần diệt được phiền não
Chúng • : tức là Tăng vậy.
Lý và Sự hai thứ ấy hòa hợp với nhau thì gọi là Chúng. Ba người trở lên thì gọi là Tăng.
*
-Kinh văn : “...Đều là A la hán” tới “...tâm được tự tại”. 
Tán rằng : đoạn này tán thán công đức kinh có sáu câu, trong bản mới dịch và bản luận cũ có 16 câu rằng : “...Đều là A la hán các lậu đã hết, không còn phiền não, được chân tự tại”.
Luận rằng : “tâm được tự tại, tâm khéo giải thoát, tuệ khéo giải thoát”. Luận nói rằng: “khéo được tâm tuệ giải thoát như ngựa điều tuệ”. 
Luận rằng : “tâm khéo điều phục cũng như rồng lớn đã làm việc phải làm, đã lo việc phải lo, vứt các gánh nặng, đạt được lợi mình, hết chư hữu kết, chánh trí giải thoát”. Luận rằng : “khéo được chánh trí giải thoát” tới “tâm tự tại” là đệ nhất cứu cánh.
Luận có ba cách giải thích :
- Một là Thượng thượng khởi môn.
- Hai là Tổng biệt tướng môn.
- Ba là Nhiếp thủ sự môn.
1. Thượng thượng khởi môn :
Có nghĩa là do câu trên nên câu dưới mới được khởi; Hoặc do câu dưới, câu trên mới khởi; Sự khởi ấy chẳng phải là duy nhất nên gọi là Thượng thượng khởi.
Luận dùng câu thứ hai để giải thích câu thứ nhất, nói : “các lậu đã hết, nên gọi là A la hán”, tức là Luận nói rằng: “phải vĩnh viễn trừ được giặc phiền não rồi, nên mới gọi là A la hán”.
Luận dùng năm môn để phân biệt “Lậu” :
1.1) Giải thích tên gọi chung.
Các luận đều nói rằng phiền não hiện hành khiến tâm liên tục rò rỉ tán loạn chẳng dứt thì gọi là lậu, như chậu rò, nhà dột, rất đáng chán ghét, chỗ hư hỏng hoen ố rộng, bị lỗi lầm chê trách, nên gọi tên là Lậu. Đây là chỉ phiền não hiện hành, vì không còn phiền não nữa đó mới là chủng tử, nên căn cứ vào thực tế mà gọi tên chung như vậy.
1.2) Liệt kê tên gọi các loại lậu.
Lậu có ba loại : một là dục lậu, hai là hữu lậu, ba là vô minh lậu.
1.3) Xuất thể (nói rõ thể của lậu). 
Dục giới, Kiến đạo có 40 phiền não, vì Tứ đế, mỗi đế đều đủ 10 phiền não, cộng với sáu của Tu đạo là tham, sân, mạn, vô minh, biên kiến, thân kiến. Trong đó trừ đi 5 vô minh (lậu), còn lại là 41 căn bản phiền não, gộp với 20 tùy hoặc, gồm phẫn, hận v.v... đều gọi là dục lậu.
Sắc giới, Vô sắc giới vì không có sân, nên mỗi giới có 41, trong đó mỗi giới trừ đi 5 si, gộp lại là 72 căn bản phiền não, cộng với xiểm, cuống (nói dối) của Sắc giới và kiêu của cả hai giới, thêm với 4 tiểu tùy hoặc, 16 đại tùy phiền não ở đấy, thì gọi là hữu lậu.
1.4) Ly hợp phế lập (chỉ việc tách, gộp, đặt bỏ tên gọi các lậu). 
Cõi Dục giới chỉ là Tán địa, chỉ là Hữu lậu địa, là thông Ngũ thú địa, Cụ tứ sinh địa, là Bất thiện hữu phú vô ký nhị tính hoặc địa, bởi vậy lập riêng là một dục lậu
Các cõi trên đều định, thông Vô lậu địa. Phiền não ở một nẽo, một đời, một tính, do đó lập gộp lại thành một hữu lậu.
Vô minh lực tăng thông suốt cả hai loại tương ưngbất cộng, là chỗ dựa của hai loại trên, vì có đủ 11 sự hơn hẳn, nên tách ra khỏi các hoặc mà đặt thành vô minh lậu.
1.5) Rõ được lý do đặt tên các lậu.
Tuy biết rằng hết thảy mọi phiền não của ba cõi lẽ ra đều được gọi là hữu lậu. Lậu ở tam hữu (chỉ sự luân hồi sinh tử trong tam giới) vì là lậu của hữu (chỉ sự sinh tử), nên phiền não ở cõi dưới phần nhiều duyên theo dục mà khởi lên, bởi thế căn cứ theo tính trội này mà gọi tên là dục lậu.
Các hoặc ở cõi trên không có tính trội gì khác, nên chỉ căn cứ vào bản danh mà gọi là hữu lậu.
Vô minh không lấy pháp khác mà đặt tên, muốn nêu rõ hành tướng của tự thân nó, nên gọi là vô minh lậu. Lậu này chẳng phải chỉ có một, nên gọi là chư lậu (các lậu) .
Song theo sách Du Già thì có cách giải thích khác, vì văn rườm nên tạm dừng.
- Lấy câu thứ 4 giải thích câu thứ 2, nói rằng : “chứng đắc chân tự tại, nên gọi là các lậu đã hết. Do chứng được chân vô vi, lậu hết, được tự tại nên gọi là các lậu hết”.
Lấy câu thứ 2, thứ 3 giải thích câu thứ 4, nói rằng : “vì hết, không còn phiền não nữa, nên gọi là đắc chân tự tại”. 
Hết có nghĩa là các lậu đã hết. Không có phiền não có nghĩa là không còn phiền não nữa. Vì không có hiện chủng hoặc, nên đắc chân tự tại.
Cũng có bản nói là : “vì không có phiền não nên gọi là đắc chân tự tại” và không có chữ hết (tận). Chỉ dùng câu thứ 3 để giải thích câu thứ 4. 
Thêm nữa còn dùng câu thứ 5, thứ 6 để giải thích câu thứ 4 rằng : “vì khéo được tâm giải thoát, khéo được tuệ giải thoát nên gọi là được chân tự tại”. Vì lìa được Định chướng, nên gọi là tâm giải thoát. Vì lìa được Tính chướng, nên gọi là tuệ giải thoát.
Thêm nữa, lìa được vô minh, tham ái v.v... thì gọi là tuệ giải thoát. Vì tâm tương ưng kia lìa được phược, nên gọi là tâm giải thoát. Do lìa được hai thứ đó, chứng được vô vi, nên được chân tự tại.
- Lấy câu thứ 2 giải thích câu thứ 3 rằng : “vì xa lìa năng kiến và sở kiến, nên gọi là không còn phiền não”. Chỉ lấy chủng tử làm thể của phiền não, xa được cái năng kiến, có nghĩa là lìa được tương ưng phược. Lìa được cái sở kiến tức là lìa được sở duyên phược. Vì lìa được hai phược của các lậu hiện hành, nên gọi là không còn phiền não.
Hoặc còn giải thích đơn thuần rằng : “năng kiến đó là tâm chấp ngã, sở kiến là sở chấp ngã. Do không có cái tâm năng chấp ngã kiến, cho nên cái tướng sở chấp ngã đương nhiên cũng chẳng xuất hiện, đó gọi là lìa nhị kiến”. Hết các lậu nói trên thì gọi chung là vô phiền não. Vô phiền não đây là không còn ngã kiến, vì ngã kiến là nguồn gốc sinh ra các lậu, cho nên cũng chẳng trái nhau.
- Lấy các câu thứ 5, thứ 6 giải thích cho câu thứ 7 thì nói rằng : “vì khéo được tâm tuệ giải thoát nên gọi là tâm khéo điều phục, nên như con ngựa hay, tính nó điều thuận”.
- Lấy hai câu thứ 9, thứ 10 giải thích cho câu thứ 8, nói rằng : “cũng như rồng lớn, đi trên các đường dữ mà như trên đường bằng phẳng không hề vướng mắc, đường cần phải đi thì cứ đi, nơi cần phải đến thì đã đến”. Cho nên kinh mới (dịch) nói rằng : “đã làm việc phải làm, đã lo (liệu) việc phải lo, cho nên giống như rồng lớn”. Do đã làm Đạo đế, đã đầy đủ Diệt đế, bởi vậy như rồng. Như rồng (có) uy đức tuy dạo nơi sinh tử hiểm trở cũng như đi trên đường bằng phẳng không hề có vướng mắc khó khăn gì, được tự tại trong sinh tử, vì nhân quả sinh tử đều đã hết, Diệt (đế), Đạo (đế) đều đã viên mãn.
Luận giải thích riêng câu thứ 9 như sau : “việc cần làm thì đã làm, rồng lớn trong loài người đã đối trị, hàng phục được kẻ thù địch là phiền não, vì Đạo đế viên mãn, nên có thể hàng phục được kẻ thù địch là Tập đế phiền não”.
Luận giải thích riêng câu thứ 10 nói : “việc cần làm đã lo liệu xong có nghĩa là chẳng còn tái sinh nữa, vì như sự tương ưng đã làm xong, Khổ đế đã hết, Diệt đế đã mãn”.
- Lấy câu 9, câu 10 giải thích câu 11, nói : “lìa các gánh nặng có nghĩa là đã làm các việc cần làm, đã lo xong các việc phải lo, vì gánh nặng của lần sinh sau đã lìa bỏ”. Do Diệt, Đạo viên mãn đã bỏ các pháp sinh tử của hậu thân, đó gọi là vứt gánh nặng
- Lấy câu 11 giải thích câu 12 nói : “đạt được lợi mình có nghĩa là vì vứt bỏ gánh nặng, chứng được Niết Bàn, thì coi Niết Bàn là lợi mình”.
- Lấy câu 12 giải thích câu 13 nói : “hết được chư hữu kết có nghĩa là đã đạt được lợi ích của mình, vì đoạn trừ được cái nhân của các phiền não. Phiền não là nhân của sinh tử, nên gọi là hữu kết, đó là kết của tam hữu”. Vì đã đạt được lợi ích của mình là Niết bàn, bởi vậy có thể hết được kết của tam hữu.
Nhân của sinh tử có thể hòa hợp, khổ có thể kết, nên gọi là kết. Kết này có chín loại: ái kết, huệ kết, mạn kết, vô minh kết, nghi kết, kiến kết, thủ kết, tật kết, xan kết. Do chín loại này thường xuyên xuất hiện, tổn não Tự, Tha, gây nên các nỗi khổ, nên lập riêng thêm mà gọi là kết.
- Lấy câu 2 giải thích câu 14, nói rằng : “chánh trí giải thoát có nghĩa là vì các lậu đã hết. Vì các lậu hết, nên chánh trí có thể chứng được vô vi giải thoát gọi là Trí giải thoát”.
- Giải thích riêng câu 15 nói : “đạt đến tâm tự tại có nghĩa là thiện xảo trí vượt qua Kiến đạo, Tu đạo”. Vì trụ ở Kiến đạo Tu đạo, thì tâm vẫn chưa tự tại, vẫn còn có hoặc. Do thành được các câu trên, nên tới địa vị Vô học đạo mọi hoặc đều hết, tâm được tự tại.
- Lấy câu 14 giải thích câu 16 nói : “đệ nhất cứu cánh có nghĩa là vì khéo được chánh trí tâm giải thoát, khéo được các công đức như thần thông, Vô Tránh tam muội v.v... nên trở thành bậc Thanh văn đáo bỉ ngạn (sang tới bờ bên kia – chỉ sự giác ngộ, giải thoát).
Căn cứ vào luận văn trên thì chỉ có ba câu lấy dưới giải thích trên, gọi là Thượng khởi, đó là lấy câu 2 giải thích câu 1, lấy câu 4 giải thích câu 2, lấy câu 9 câu 10 giải thích câu 8. Ở đây lấy sở khởi gọi là khởi. Thượng tức khởi thì gọi là Thượng khởi. Nếu năng khởi gọi là khởi, thì khởi của câu thượng gọi là Thượng khởi. Loại này chẳng phải chỉ một thì gọi là Thượng thượng khởi.
Theo luận thì có bảy câu lấy câu trên giải thích câu dưới gọi là Thượng khởi, đó là : 
Lấy câu 2 giải thích câu 3, 
Lấy câu 5 câu 6 giải thích câu 7,
Lấy câu 9 câu 10 giải thích câu 11,
Lấy câu 11 giải thích câu 12, 
Lấy câu 12 giải thích câu 13,
Lấy câu 3 giải thích câu 14,
Lấy câu 14 giải thích câu 16.
Ở đây lấy năng khởi gọi là khởi, câu “Thượng tức là khởi” thì gọi tên là Thượng khởi. Nếu lấy sở khởi gọi là khởi, thì câu trên gọi là Thượng khởi, loại này chẳng phải chỉ một thì gọi là Thượng thượng khởi. 
Theo luận thì chỉ có ba câu được giải thích đơn độc, đó là các câu 9, 10, 15. Hoặc câu 3 cũng là câu được giải thích đơn độc. Có hai câu không giải thích đó là các câu 5, 6. Có một câu lấy trên giải thích dưới, cũng lấy dưới giải thích trên, đó là câu 4.
Tổng thuyết tụng rằng :
“ Dưới giải trên có ba. 
Trên giải dưới có bảy. 
Ba đơn, hai chẳng giải 
Một thông suốt trên dưới.” 
Hoặc :
“ Trên giải dưới có sáu, 
Bốn đơn, hai chẳng giải.” 
Nay theo kinh văn này, trong 16 câu, chỉ tóm lại có 6 câu :
- Lấy dưới giải trên có một câu, đó là lấy câu “các lậu đã hết” để giải thích câu trên “đều là A la hán”.
- Lấy trên giải dưới có hai câu, đó là lấy câu “các lậu đã hết” để giải thích câu “không còn phiền não”, lại lấy câu “đạt được lợi ích của mình” để giải thích câu “hết chư hữu kết”. Còn các câu khác có nghĩa hoàn chỉnh, nên lấy ngay câu đó mà tự giải thích.
Lậu • : như trên đã giải thích, chỉ kể hết thảy phiền não hiện hành.
Các • lậu này đã hết, thì gọi là A la hán : tức là nên lấy cái nghĩa “vĩnh viễn diệt trừ được giặc phiền não” mà giải nghĩa từ A la hán. Cho nên nhập Thập địa, được gọi là A la hán.
Không • còn Luận nói rằng : xa lìa năng kiến, sở : phiền não kiến nên gọi là không còn phiền não. Phiền não chủng tử được gọi tên là phiền não. Đây có thể do vị đó đã lìa được cả hai thứ phược : Sở duyên tương ưng hiện hành, các lậu đều hết, không còn có phiền não chủng tử để mà có thể đoạn trừ nữa, cho nên gọi là xa lìa năng kiến, sở kiến. Hoặc tổng lậu hết, biệt chấp cũng diệt, nên xa lìa nhị kiến và gọi là không còn phiền não.
Còn • nữa (Phục) : có nghĩa là lặp lại (Trùng). Chủng tử đoạn, nên không còn sinh ra nữa. Do đoạn trừ được pháp sinh tử lưu chuyển, nên gọi là vứt gánh nặng, cho nên có thể đạt được lợi ích của mình là chứng Niết bàn.
* Chữ đãi đọc âm đãi, giải thích đúng bản âm, nghĩa như chữ chí [ 至 ], chữ cập [ 及 ].(có nghĩa là tới, đạt tới). 
Do đạt được lợi ích của mình là chứng Hữu dư Niết bàn, nên có thể vĩnh viễn tận trừ được cái nhân của ba cõi, tức cửu kết phiền não
Do lậu đã hết như nói ở trên, mà có bốn câu dưới đây : “bậc A la hán đó khéo vượt Kiến đạo, Tu đạo trí, nên tâm được tự tại. Lìa Tính sự chướng, tám giải thoát mãn, cũng được gọi là tâm được tự tại”. Lời văn này đã thiếu sót nên chẳng thể lần lượt theo luận mà giải thích. Nhưng nói chung có thể lấy đại ý của luận mà giải thích kinh văn. Các bậc trí giả nên tự mình xem xét cho kỹ.

2. Tổng biệt tướng môn.
Chỉ câu “đều là A la hán” là Tổng tướng môn. Còn lại là 15 câu khác là Biệt tướng môn.
A • la hán : tên chung có nghĩa là Ứng.
Ứng có 15 nghĩa, đó là từ câu “các lậu đã hết” trở xuống :
1) Ứng thụ các thứ cung kính cúng dàng, như đồ ăn thức uống v.v... tức là các lậu đã hết, đáng làm ruộng phúc.
2) Ứng cúng đại chúng, giáo hóa hết thảy, vì không còn phiền não, lìa hẳn lợi danh.
3) Ứng nhập tụ lạc thành ấp v.v... vì chứng đắc chân tự tại, chẳng bị dục cảnh lôi kéo, mê hoặc.
4) Ứng hàng phục ngoại đạo v.v... vì tâm khéo giải thoát, đầy đủ trí tuệ biện tài.
5) Ứng với việc dùng trí tuệ quan sát pháp một cách mau chóng, vì tuệ khéo giải thoát, hiểu rõ các pháp.
6) Ứng với việc thuyết pháp chẳng chậm chẳng nhanh, vì như pháp tương ưng chẳng sinh mỏi mệt, như ngựa Điều tuệ khéo xứng tâm vậy.
7) Ứng với việc tĩnh tọa ở chỗ thanh nhàn, các thứ giúp cho cuộc sống như đồ ăn thức uống, quần áo trang phục v.v... thảy đều chẳng hề tích tụ, ít muốn biết đủ, vì giống như rồng lớn lìa chỗ nhốn nháo.
8) Ứng với việc một mực tu hành thiện hạnh, chẳng chấp trước các thứ thiền, việc cần làm đã làm, thường xuyên tinh tiến tu tập.
9) Ứng hành Không thánh hạnh, vì đã lo liệu việc phải lo liệu, chẳng còn có ngã, ngã sở.
10) Ứng hành Vô tướng thánh hạnh, vì đã vứt các gánh nặng, quán được Diệt lý.
11) Ứng hành Vô nguyện thánh hạnh, vì đã đạt được lợi ích của mình, chẳng nguyện sinh tử.
12) Ứng với việc hàng phục thiền định thế gian, tịnh tâm chẳng sinh chấp trước vào thiền vị của nhị giới (chỉ Dục giớiSắc giới) vì các hữu kết đều đã hết, thậm chí chẳng sinh ái vị đối với thiền định của nhị giới.
13) Ứng với việc khởi Chư thông thù thắng công đức, chánh trí giải thoát, vì giải thoát tức là thần thông.
14) Ứng với việc đạt tới đệ nhất nghĩa công đức, vì đạt tới mức tâm tự tại, chứng được vô vi.
15) Ứng như thực tri, cùng chúng sinh được các công đức, vì đó là đệ nhất cứu cánh để làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh, vì Ba la mật đa Thanh văn rộng độ chúng sinh khiến cùng lợi mình, được các công đức.
Câu thứ 8 tu hành không ngừng, câu thứ 12 đối với thiền chẳng chấp trước, đó là hai món Biệt ý. Sợ chán văn rườm rà, nên chỉ phối hợp các câu với nhaugiải thích một cách sơ lược. Ý nghĩa trong đó, cứ theo sự giải thích có thể biết rõ.
Ứng thuyết tụng rằng :
Thụ, Tương, Nhập, Hàng, Dĩ.
Trung, Tĩnh, Hành thiện hạnh.
Không, Vô tướng, Vô nguyện.
Phục, Khởi, Đáo, Thực tri.
Sáu câu trong kinh chỉ có câu thứ 1 trong 15 câu trên đây là chỉ việc ứng thụ diệu cúng. Câu thứ 2 ứng tương đại chúng giáo hoá. Câu thứ 11 ứng hành vô nguyện thánh hạnh. Câu thứ 12 ứng hàng phục thế gian thiền tịnh tâm. Câu thứ 14 ứng đáo đệ nhất nghĩa, lần lượt phối hợp với năm câu dưới vì câu đầu “A la hán” là câu chung (Tổng cú).

3. Nhiếp thủ sự môn
Dùng 15 câu mà nhiếp thủ 10 loại Sự công đức để thị hiện quả Khả thuyết và quả Bất khả thuyết. Trong này ý nói : trong 15 câu nhiếp 10 loại Sự công đức để nói rõ quả mà A la hán chứng được có quả hữu vi Khả thuyết và quả vô vi Bất khả thuyết ; Quả trước là quả thô, hữu tướng ; Quả sau là quả tế, vô tướng, hai quả khác nhau.
Dưới đây là 10 Sự công đức tùy ứng mà phối hợp:
1) Nhiếp thủ đắc công đức, có hai câu. Đó là các câu “các lậu đã hết, không còn phiền não”. Nếu hai hoặc là Triền và Tùy miên còn tồn tại, thì chẳng thể nhiếp thủ công đức. Vì hai hoặc trên tiêu vong, nên mới có thể nhiếp thủ công được công đức.
2) Nhiếp thủ chư công đức, có ba câu. Đó là các câu: “được chân tự tại, tâm khéo giải thoát, tuệ khéo giải thoát”. Trong ba câu này, câu “được chân tự tại” chỉ công đức hàng phục thế gian. Tâm của thế gian chẳng được tự tại, bị nhiều thứ hoặc quấy nhiễu. Do được chân tự tại nên trừ hẳn được các hoặc khỏi bị quấy nhiễu. Hai câu “tâm khéo giải thoát, tuệ khéo giải thoát” chỉ công đức hàng phục học nhân xuất thế gian, vì học nhân chưa lìa được hai phược.
3) Nhiếp thủ bất vi công đức, có một câu “tâm khéo điều phục”. Vì tùy thuận giáo hạnh của Như Lai giống như lương mã luôn phục tùng theo ý người.
4) Nhiếp thủ thắng công đức, có một câu “cũng như rồng lớn” có uy linh lớn, thần lực viên mãn nên giống như rồng.
5) Nhiếp thủ sở ưng tác thắng công đức, có một câu. Đó là câu “phải làm việc cần làm”. Vì việc cần phải làm là theo đúng phép mà cúng dàng, cung kính, tôn trọng Như Lai. Chẳng phải là Tài cúng dàng gọi là việc cần phải làm, mà chính hành pháp cúng dàng đó mới là việc phải làm. Các vị đó đều đã làm Đạo đế pháp hạnh này cúng dàng Phật.
6) Nhiếp thủ mãn túc công đức, có một câu. Đó là câu “đã lo liệu xong việc phải lo liệu”, vì đã đầy đủ học địa. Học địa đầy đủ cả rồi nên đắc đạo đế viên mãn.
7) Nhiếp thủ quá công đức, có ba câu. Đó là các câu “vứt các gánh nặng, đạt được lợi mình, hết các hữu kết”. Vì câu đầu chỉ rõ đã vượt qua được ái, vì gánh nặng sinh tử không gì nặng hơn là tham ái, nay đã vượt được. Câu sau ý nói đã vượt qua được sự cầu mệnh cúng dàng cung kính. Các sự cầu cúng dàng cung kính đều để giúp cho mệnh. Nay đã được lợi mình, đã chứng Niết bàn, đã vượt qua thói vì tà mệnhcầu lợi dưỡng. Câu sau ý nói đã vượt qua được thượng hạ giới, vì đã vượt quá học địa.
Hữu kết : chỉ cửu kết. Nay đã vượt qua địa vị hạng hữu học, vượt qua thượng hạ giới, nên hết các hữu kết
8) Nhiếp thủ thượng thượng công đức , có một câu. Đó là câu “chánh trí giải thoát”. Giải thoát là quả vô vi, vì là bậc tối thượng thượng trong các đức.
9) Nhiếp thủ ưng tác lợi ích chúng sinh công đức, có một câu. Đó là câu “đạt tới tâm tự tại”. Do đắc thần thông nên tâm được tự tại. Và tự nội tâm lìa hệ phược, nên nhiếp thủ được lợi ích hành.
10) Nhiếp thủ thượng thủ công đức, có một câu. Đó là câu “đệ nhất cứu cánh”. Ý nói Ba la mật đa Thanh văn có thể đến được bờ bên kia, hơn hẳn các hạng độn căn khác.
Ứng thuyết tụng rằng :
Một, hai là Nhiếp thủ.
Thứ ba Nhiếp chư đức.
Lần lượt nghĩa bốn câu.
Thuận, Thắng, Tác, Mãn túc.
Ba câu là Nhiếp quá.
Quá ái, Mệnh, Nhị giới.
Thượng thượng, Lợi, Thượng thủ.
Đều gọi là Nhiếp đức.
Sáu câu kinh này (kinh văn) trong nhiếp thủ mười đức, chỉ nhiếp ba đức :
- Một là Nhiếp thủ công đức, có hai câu. Đó là các câu “các lậu đã hết, không còn phiền não”.
- Hai là nhiếp thủ quá công đức, có hai câu. Đó là “đạt được lợi mình, hết các hữu kết”. Vượt qua được cầu tà mệnhvượt qua được tà nhị giới.
- Ba là Nhiếp thủ ứng tác lợi ích chúng sinh công đức, có một câu. Đó là câu “đạt tới tâm tự tại”.
A la hán là tổng, bởi vậy chẳng nhiếp thủ, chỉ có 15 câu dưới nhiếp công đức.
Trong a Thành Duy Thức, A la hán có ba điều kiện
- Phải trừ được hẳn giặc phiền não.
- Phải được thụ diệu cúng dàng của thế gian
- Phải vĩnh viễn không còn thụ phân đoạn sinh nữa.
Thượng • thượng khởi môn : nhiếp ứng vĩnh hại tặc, vô phân đoạn sinh.
Tổng • biệt tướng môn : nhiếp ứng thụ diệu cúng.
Nhiếp • thủ sự môn : chẳng phải ba nhiếp đó. Ba thứ đó chỉ ước định theo nghĩa quyết định mà thuyết, vì hết thảy A la hán đều chẳng quá ba thứ đó. Vì Nhiếp thủ sự môn chỉ hạng đều đã giải thoát, tới bờ bên kia mới thành được. 
Thêm nữa, Thượng thượng khởi môn trừ hẳn phiền não. Tổng biệt tướng môn kham thụ diệu cúng. Nhiếp thủ sự môn vô phân đoạn sinh tử. Tông nghĩa hợp với các điều ấy, chẳng phải lý quy định như vậy.
Kinh mới dịch nói “trừ một mình A Nan Đà ở học địa”, trong này lượt bớt.
*
-Kinh văn : “Tên các vị đó là” tới “Na Đề Ca Diếp”. 
Tán rằng : dưới đây, giải thích theo điều thứ 3 : Định rõ nhiều ít. (đã nói ở trước) Liệt kê tên họ có hai thứ : 
Đầu tiên kể tên từng người.-
Sau đó kết luận danh cao.-
Trong 21 người này, hoặc căn cứ vào việc xuất gia trước hay sau mà sắp xếp thứ tự. 
Kinh Báo Ân nói rằng : “thoạt đầu độ cho 5 người, sau đó độ cho Da Xámôn đồ 50 người, sau đó độc cho Ưu Lâu Tần Loamôn đồ 500 người, sau đó độ cho Già Damôn đồ 300 người, sau đó độ cho Na Đề và môn nhân 200 người, sau đó độ cho Thu Tử và môn nhân 100 người, sau đó độ cho Mục Liên và môn nhân 100 người. Tổng cộng lại là 1.250 người”.
Hoặc xếp thứ tự theo hạnh đức từ lớn tới nhỏ. Như Ca Diếp ở hàng thứ hai, Thu Tử ở hàng trên Ca Chiên Diên v.v… tùy theo sự thích ứng, chẳng nhất định.
Kinh Vô Cấu Xưng, phẩm Đệ Tử sắp xếp thứ tự theo đức biện, vì sai thăm người ốm phải nhờ ở tài trí biện mới biết đối đáp.
Kinh Thập Nhị Do : “lúc mới thành đạo, năm thứ 2 độ cho năm vị Tỳ kheo, năm thứ 3 độ cho ba anh em Ca Diếp, năm thứ 5 độ cho Mục Liên”. Vì cơ nghi khác nhau, các bộ kết tập kinh tụng khác nhau. 
A • Nhã Kiều Trần Như :
Kinh Vô Lượng Thọ nói : “bậc liễu bản tế tức là A Nhã Kiều Trần Như”. 
Tiếng Phạm gọi là A Nhã Đa Kiều Trần Na. Kiều Trần : là một họ thuộc dòng Bà la môn; Na : là tiếng chỉ nam giới. A Nhã Đa : có nghĩa là Giải, có tên như vậy là vì người đầu tiên ngộ giải.
Trong Kinh Nhân Quả nói rõ là đã độ cho bốn người gồm A Nhã Đa Kiều Trần Na, Ưu Lâu Tần Loa, Già DaNa Đề. Bởi vậy lúc đầu sau khi Thái tử vượt thành, vua cha đã sai nội ngoại thân tộc gồm năm người đi bảo vệ Thái tử. Năm người tranh cãi với nhau về tu khổ lạc hạnh, cho đó là đạo chân chính. Thái tử răn bảo họ và chọn tu khổ lạc hạnh theo cách tu của ngoại đạo, còn hơn cả việc tu hành của bọn họ, nhưng thấy đều chẳng phải là thuật đúng đắn bèn bỏ, rồi ăn cháo sữa, nhận cỏ Cát tườngthành đạo dưới gốc cây Bồ đề.
Sau đó ngài tới Lộc viên độ cho năm người đó. Lúc mới bắt đầu chuyển pháp luân, Phật hỏi hiểu chưa? Trong năm người thì Trần Na là người đầu tiên đáp là tôi nay đã hiểu, Tịnh cư thiên v.v… cũng đáp là đã hiểu, vì vậy mà lấy đó làm tên, gọi là Giải. Họ Kiều Trần đông người, lấy Giải để nêu danh. Na là tiếng chỉ nam giới để phân biệt với nữ, cho nên thêm Na vào sau họ. Kinh Đại Bát Nhã gọi là Giải Kiều Trần Na.
Ma • Ha Ca Diếp Ba :
Tiếng Phạm : Ma Ha Ca Diếp Ba. Ma Ha có nghĩa là đại, là lớn. Ca Diếp Ba là họ. Ở phương đây dịch là Ẩm Quang (uống ánh sáng), là một họ Bà la môn. Thời thượng cổ có vị tiên trên thân có ánh sáng che khuất, uống mất cả ánh sáng mặt trời mặt trăng, Ca Diếp chính là dòng giống của vị đó. Ca Diếp trên mình cũng có ánh sáng có thể uống mất ánh trời, ánh trăng. Vì lấy họ làm tên nên gọi tên là Ẩm Quang, là con vị trưởng giả rất giàu có, đã bỏ cả gia tàidòng họ lớn mà đi xuất gia, tu được hạnh lớn là hạnh ít muốn biết đủ. Là hạnh diệt được thói đa dục, được các bậc đại nhân biết tiếng, nên nêu danh Đại, để phân biệt với các Ca Diếp khác.
Kinh Nhân Quả quyển ba và Di Lặc sớ đều nói rõ hai nguyên nhân của họ trên.
Ưu • Lâu Tần Loa Ca Diếp
Thứ đến ba vị Ca Diếp đều thuộc dòng Ẩm Quang, là ba anh em trai.
Tiếng Phạm : Ô Lô Tần Loa, phương này phiên là Ưu Lâu Tần Loa, là sai. Ở đây gọi là Mộc Qua (quả đu đủ), gọi tên như vậy vì trước ngực vị này gồ lên giống như hình quả mộc qua. Thêm nữa, rồng trong ao cũng gọi tên là mộc qua, theo đó mà gọi, nên lấy đó làm tên.
Già • Da Ca Diếp :
Già Da là tên núi, tức Tượng Đầu sơn (núi đầu voi), cũng là tên thành. Vì thành gần núi đó nên gọi là thành Già Da.
Na • Đề Ca Diếp
Tiếng Phạm : Nại Địa Ca, phiên là Na Đề là sai. Đó là tên sông. 
Kinh Chính Pháp Hoa nói rằng : đó là thượng thời, tượng, giang. Ba vị Ca Diếp vậy.
Song Kinh Nhân Quả nói rằng : ba người này đều tu đạo ở bên sông. Đức Phật đã dùng phép thần thông hóa độ cho họ nhập pháp. Người anh cả có chỗ gồ trên ngực giống như mộc qua, nên lấy đó làm tên, hoặc đặt tên theo ý nghĩa rồng ao. Người thứ hai đặt tên theo núi. Người thứ ba đặt tên theo sông.
*
-Kinh văn : “Xá Lợi Phất” tới “Kiếp Tân Na”. 
Tán rằng : 
Xá • Lợi Phất :
Tiếng Phạm là Xá Lợi Phất Đát La, gọi là Xá Lợi Phấtphiên dịch sai. Xá Lợi nghĩa là chim Thu, tức là chim Bách thiệt (trăm lưỡi), còn gọi là Xuân anh. Phất Đát La có nghĩa là con, vì mẹ ngài có tài nói năng bẻo lẻo, nên ví như chim Thu. Ngài là con của vị đó.
Lại còn nói rằng : thân quá khứ của ngài là thợ nề, gặp Phật Thích Ca, ngài phát nguyện nguyện làm đệ tử đức Thích Ca, như vậy thì chẳng những là nguyện vọng ngày nay mà cũng là phù hợp với nguyện xưa, nên còn có tên là Ưu Ba Đề Xá, vì giỏi nghị luận nên được kiêm cả tên đó.
Đại Mục Kiền Liên :
Tiếng Phạm : Ma Ha Một Đặc Gia La. Phiên âm là Đại Mục Kiền Liên, đó là phiên sai. Ở đây (chỉ Trung Quốc) dịch nghĩa là Đại Thái Thúc Thị (thái thúc : có nghĩa là hái đậu). Thời thượng cổ có vị tiên ở nơi núi non thanh vắng thường hái đậu xanh mà ăn, nhân đó mà đặt làm họ. Mẹ của Mục Kiền Liên Tôn giả thuộc họ này. Lấy họ mẹ làm tên, lại chứng đắc đại thần thông, cho nên gọi là Đại Thái Thúc Thị để phân biệt với những người khác trong họ này.
Nếu gọi theo cha thì tên là Câu Lợi Ca, còn gọi là Câu Địch Đa; trước đây gọi là Câu Luật Đà đó là gọi sai.
Kinh Đại Bát Nhã gọi tên hai vị này là Xá Lợi Tử, Đại Thái Thúc Thị. Nhân duyên hai người này như trong Di Lặc sớ có dẫn.
Ma Ha Ca Chiên Diên :
Tiếng Phạm : Ma Ha Ca Đa Diễn Na. Phiên âm là Ca Chiên Diên cũng sai. Kinh Đại Bát Nhã gọi là Đại Ca Đa Diễn Na. Ở phương đây gọi là Đại Tiễn Thế Chủng Nam.
Tiễn Thế Chủng là một họ thuộc dòng Bà la môn. Thời thượng cổ có nhiều vị tiên ở tại các nơi tĩnh mịch trong núi, vì lâu năm nên râu tóc rất dài không có ai cắt cho, vì theo phép Bà la môn thì coi việc cắt tóc là ô uế. Có vị tiên có con là hai anh em trai đều đến thăm cha. Người con nhỏ bèn cắt tóc cho các tiên. Các tiên nguyện bảo hộ cho người này sau này trở thành bậc tôn quí trong các tiên. Từ đó trở đi, việc làm giống như vậy đều gọi là Tiễn Thế. Tôn giả bản thân là nam, uy đức đặc biệt cao; Để phân biệt với họ khác nên gọi là Đại Tiễn Thế Chủng Nam (người đàn ông vĩ đại thuộc giòng họ Tiễn Thế).
Thêm nữa, Tây phương cũng có người lấy họ mẹ, nay để làm nổi bật họ cha, nên đặt tên là Nam (xưa dịch gọi là Thằng Phiến). Mẹ quyến luyến con chẳng chịu tái giá, như dây (thằng) buộc vào quạt (phiến) cho nên gọi tên là Thằng Phiến. Ngài Chân Đế gọi là Tư Thắng, đều sai.
A Nậu Lâu Đà :
Tiếng Phạm : A Nê Luật Đà. Ở phương đây gọi là Vô Diệt, đó là em họ của Phật. Phiên âm là A Nậu Nâu Đà là phiên sai. Chả biết chữ Nậu có xuất xứ từ đâu. Nên là chữ Nê mới đúng.
Kiếp Tân Na
Ở phương đây dịch nghĩa là Phòng Túc. Phật cùng vị này ở chung phòng, ngài hóa làm vị Tỳ kheo già rồi thuyết pháp cho vị này, nhờ vậy mà đắc đạo nên đặt tên là Phòng Túc. Có người nói là Phòng Tinh. Vị này sinh ra đúng vào lúc sao Phòng xuất hiện nên gọi tên là Phòng Tinh.
*
-Kinh văn : “Kiều Phạm Ba Đề” tới “Ma Ha Câu Hi La”. 
Tán rằng : 
Kiều • Phạm Ba Đề :
Tiếng Phạm : Cấp Phòng Bát Để. Ở phương đây gọi là Ngưu tướng (tướng trâu). Thời quá khứ vì hái một bông lúa đánh rơi mấy hạt xuống đất, nên trong 500 lần sinh phải làm thân trâu để đền. Nay tuy làm thân người, nhưng vẫn còn tướng chân trâu, mõm trâu, vì thế mà có biệt hiệuNgưu tướng Tỳ kheo.
Ly • Bà Đa :
Tiếng Phạm : Hiệt Lệ Phạt Đa, ở phương đây gọi là Thất tinh, tên một ngôi sao ở phương Bắc, vì cúng sao này mà sinh con, nên đặt tên như vậy. Gọi là Ly Bà Đa là gọi sai. Có chỗ còn gọi là Giả Hòa Hợp tức là chuyện hai con quỷ ăn thịt người trong Trí Độ luận.
Tất • Lăng Già Bà Sa :
Tiếng Phạm : Tất Lận Đà Phiệt Sa, ở phương đây gọi là Dư Tập (thói xấu còn sót lại). Gọi là Tất Lăng Già Bà Sa, đó là gọi sai. Trong 500 đời, đều là Ba la môn thô ngôn ác khẩu, nay tuy đắc quả, thói cũ vẫn còn, như chửi cả thần sông Hằng, nên gọi tên là Dư Tập.
Bạc • Câu La :
Tiếng Phạm : Bạc Củ La, ở phương đây gọi là Thiện Dung. Gọi là Bạc Câu La là gọi sai. Sau khi Phật Tỳ Bà Thi nhập Niết bàn có một vị Tỳ kheo bị bệnh nhức đầu rất nặng, bấy giờ Thiện Dung là người nghèo đem thuốc Ha Lê Lặc đến bố thí cho vị Tỳ kheo ốm yếu đó. Vị Tỳ kheo này uống xong liền khỏi bệnh. Do việc bố thí thuốc men đó mà 91 kiếp được hưởng phúc sung sướng trên cõi trời, trong cõi người. Nay sinh ở nhà Bà la môn, mẹ đẻ mất sớm gặp mẹ kế ác độc dùng phương tiện mà giết đi, nhưng qua năm lần mà chẳng chết, sau cầu xuất gia, chứng được quả A la hán.
Xuất gia 80 năm mà chẳng hề bị nhức đầu, mắt chẳng nhìn mặt nữ, cũng chẳng vào chùa ni, chẳng thuyết một câu pháp nào cho nữ. Sau vua Vô Ưu đi tuần du tới tháp để bố thí, biết ngài là bậc thiểu dục chỉ thí một đồng tiền. Tháp vọt lên, vua bèn đặt tiền xuống đất, ngài vẫn chẳng thèm nhận, vua mới biết ngài thật sự là người ít muốn. Nhân duyên này cũng đúng như truyền thuyết trong Phó Pháp Tạng truyện.
Ma • Ha Câu Hy La :
Tiếng Phạm : Ma Ha Câu Sắt Sỉ La, ở phương đây gọi là Đại Tất. Tất có nghĩa là đầu gối. Gọi tên là Câu Hy La, là gọi sai. Đó là cậu ruột của Xá Lợi Phất, nhân cùng với Phật luận bànngộ giải đắc quả, như trong luật đã nói.
*
-Kinh văn : “Nan Đà” tới “La Hầu La”. 
Tán rằng : 
Nan • Đà :
Tiếng Phạm gọi là Nan Đà, ở phương đây phiên dịch là Hỉ, căn bản đó là người chăn trâu, vì nhân hỏi Phật 11 sự trong việc chăn trâu, biết Phật có đủ Nhất thiết trí do vậy mà được quả A la hán, là người cực kỳ thông minh, âm thanh cực hay.
Tôn • Đà La Nan Đà :
Tiếng Phạm : Tôn Đạt La Nan Đà, ở phương đây gọi là Diễm Hỉ. Gọi là Tôn-Đà-La, là sai. Diễm là tên vợ. Nhan sắc xinh đẹp đoan nghiêm không gì sánh nổi, nên gọi tên là Diễm. Hỉ là tự danh, để phân biệt với Mục Ngưu Nan Đà (Nan Đà chăn trâu) đã nói ở trên, nên gọi là Diễm Hỉ, vì là Hỉ của Diễm. Đó là em trai của Phật, mình cao 1 trượng 5 thước 2 tấc. Phật tới bản thành 2 ngày thì độ cho ông ta, đó là con của Đại Thắng Sinh Chủ sinh ra.
Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử :
Tiếng Phạm : Bổ Lạt Noa Mai Đát Lợi Duệ Ni Phất Đát La, ở phương đây gọi là Mãn Từ Tử. Gọi là Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử, là gọi sai. Mãn là tên vị đó, Từ là họ mẹ, tính mẹ hiền từ, nay lấy họ mẹ. Vị Mãn tôn giả này là con của Từ nữ. Hoặc Mãn và Từ đều là hiệu của mẹ, nên gọi là Mãn Từ Tử.
Tu • Bồ Đề :
Tiếng Phạm : Tô Bổ Để, ở phương đây gọi là Thiện Hiện, xưa phiên dịchTu Bồ Đề, dịch nghĩa là Thiện Cát, đó là sai.
A • Nan :
Tiếng Phạm : A Nan Đà, ở phương đây gọi là Khánh Hỉ, nhưng nói rằng A Nan phiên dịch ra là Hoan Hỉ thì sai. Phật thành đạo trong ngoài đều mừng, A Nan Đà sinh ra đúng lúc vui mừng này, nên gọi tên là Khánh Hỉ.
La • Hầu La :
Tiếng Phạm : La Hỗ La, ở phương đây gọi là Chấp Nhật (bắt mặt trời). Bản cũ phiên âm là La Hầu La, dịch nghĩa là Chướng Tế (ngăn che), đó là phiên dịch sai. 
Chín người trong này : 1. Ma Ha Ca Diếp, 2. Xá Lợi Phất, 3. Đại Mục Kiền Liên, 4. Ma Ha Ca Chiên Diên, 5. A Nậu Lâu Đà, 6. Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử, 7. Tu Bồ Đề, 8. A Nan, 9. La Hầu La, trong Kinh Vô Cấu Xưng, Thanh Văn phẩm, sớ quyển ba và quyển bốn đã thuyết giảng rất rộng về lai lịch của họ. Ở đây sợ rườm, cho nên chẳng thuật lại.

*
-Kinh văn : “Như vậy” tới “Đại A la hán”. 
Tán rằng : kết luận bằng danh cao vậy.
Luận rằng : vì các vua chúa, vương tử, nhân dân, Đế thích, Phạm thiên vương đều quen biết. Thêm nữa vì Thanh văn, Bồ tát, Phật v.v… là các bậc thắng trí đều có thiện cảm, nên gọi là bậc mà các chúng đều quen biết
- Đầu tiên giải thích đó là bậc mà đại chúng sang hèn đều biết.
- Sau đó giải thích đấy là bậc mà thánh chúng lớn nhỏ đều quen.
Kinh Vô Cấu Xưng nói : “(đó) đều là những vị mà mọi chúng đều quen biết, ngưỡng vọng”. Bao hàm cả hai nghĩa này, nêu lên 21 người làm ví dụ để suy ra các người khác, nên dùng chữ “vân vân” (đẳng).
Đều • là đại : Luận tự giải rằng : “vì họ tâm được tự tại, đã tới được bờ bên kia”. Sở dĩ phải nói là “vân vân” , vì “A la hán v.v…” chẳng phải đều là A la hán cả, vì (như) A Nan Đà mới chứng được Sơ quả.
*
-Kinh văn : “Còn có các hạng hữu học, vô học gồm hai ngàn người”. 
Tán rằng : hàng thứ hai đó là chúng đại đức vô danh.
Lấy ba thứ chính là giới định tuệ làm học thể (nội dung tu học), tiến thủ tu tập, đó gọi là hữu học. Sự tiến thủ đã viên mãn, dừng việc tu tập, đó gọi là vô học, chỉ lấy pháp vô lậu làm thể.
*
-Kinh văn : “Ma Ha Ba Xà Ba Đề” tới “cùng sáu ngàn người”. 
Tán rằng : hàng thứ ba đó là tôn trọng chư ni chúng vậy. 
Ma • Ha Ba Xà Ba Đề :
Tiếng Phạm : Ma Ha Bát Lạt Xà Phục Để, ở phương đây gọi là Đại Thắng Sinh Chủ. Mẹ Phật có ba vị, đây là vị tiểu mẫu, Bà Đại Thuật sinh Phật được bảy ngày thì bà mất. Vị ni này là người đã nuôi Phật. Vì là em của bà Đại Thuật, nên gọi là dì. Đại Thắng Sinh Chủ vốn là tên gọi của Phạm vương. Hết thảy chúng sinh đều là con của vị đó. Cho nên cầu tự được từ vị đó, nên lấy đó mà đặt tên.
Thêm nữa mọi đệ tử của Phật đều gọi là Đại sinh, thánh chúng ba thừa gọi tên là Thắng sinh. Vì là người nuôi Phật, nên bà được gọi là Đại Thắng sinh. Chúa của Đại Thắng sinh nên gọi là Đại Thắng Sinh Chủ. Tuy từ Phạm vương mà xin được, nhưng cũng còn lấy nghĩa làm danh. Bản dịch cũ phiên là Ba Xà Ba Đề, dịch nghĩa tên là Đại Ái Đạo. Đó đều là dịch sai và phiên tắt. Còn Phật độ cho người này nhân duyên ra sao thì cứ như trong luật đã nói.
*
-Kinh văn : “Mẹ La Hầu La” tới “cũng cùng quyến thuộc đều đến”. 
Tán rằng : hàng thứ tư đó là chư ni chúng nội quyến.

Da • Thâu Đà La :
Tiếng Phạm : Da Thú Đạt La, ở phương đây gọi là Trì Dự. Gọi là Da Thâu Đà La là phiên âm sai, hình dung xinh đẹp nổi tiếng khắp gần xa, sinh ra La Hầu, trời người đều ca ngợi, cho nên gọi tên là Trì Dự. Dự là tiếng khen vậy.
Tương truyền có cách giải thích rằng đó là con gái Càn Thát Bà. Càn Thát Bà nếu sinh trai thì làm nhạc thần, sinh gái thì là ngọc nữ. Nếu đã gọi là ngọc nữ, thì làm sao mà sinh con được. Thêm nữa, sau khi Phật xuất gia rồi, cha mẹ Trì Dự muốn được đem Trì Dự về, thế thì rõ ràng chẳng phải là ngọc nữ.
Các Kinh Vị Tằng Hữu, Tu Đạt Nã, Thụy Ứng đều nói : La Hầu là con của Cù Di
Phật có ba phu nhân
- Một là Cù Di.
- Hai là Da Thâu.
- Ba là Lộc Dã.
Mỗi người đều có hai vạn thái nữ. Bà Cù Di không con, vì là ngọc nữ. Các kinh ấy lấy tên theo mẹ cả cũng không có gì là sai trái
Thêm nữa, kinh nói Phật có ba người con : 
- Một là Thiện Tinh.
- Hai là Ưu Bà Ma Da.
- Ba là La Hầu

Cho nên Kinh Niết Bàn nói rằng : “Thiện Tinh Tỳ kheo là con của Bồ tát khi còn tại gia”. 

Hai ni chúng nói trên đều được xuất gia, đạo hạnh thành tựu đã lâu, mong được nghe diệu pháp, hữu duyên đều tới, quyến thuộc đều đến.

KINH PHÁP HOA HUYỀN TÁN
QUYỂN THỨ NHẤT - PHẦN SAU
ĐÃ XONG

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 167)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(Xem: 8631)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 412)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(Xem: 374)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(Xem: 1694)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(Xem: 1771)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 1796)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 1789)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 2583)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 2077)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 2074)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 2373)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 2868)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 3431)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 2196)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 3087)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 3011)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 4905)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 3150)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 3463)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2579)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 3260)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 2818)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 3341)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2561)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 2932)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 3311)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 3335)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 4303)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 3817)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 3769)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 4243)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 3668)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 3247)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(Xem: 4128)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 5137)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 3772)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 6600)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 6302)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(Xem: 4255)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 20178)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3686)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 7136)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4611)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 4406)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 3938)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4282)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 5821)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4458)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 4149)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 4219)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 4436)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 5104)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 3866)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 5231)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 5104)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 6761)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 4958)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
(Xem: 5795)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4669)
Thưa Tôn giả Gotama, những ngày về trước, những ngày về trước nữa, rất nhiều Sa-môn, Bà-la-môn là du sĩ ngoại đạo ngồi...
Quảng Cáo Bảo Trợ