Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,695,529
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Quyển Ii

26 Tháng Năm 201000:00(Xem: 4662)
Quyển Ii

KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA HUYỀN TÁN
 Đại Sư Khuy Cơ biên soạn – Việt dịch: Cố Hòa thượng Thích Chân Thường 
Biên soạn: Giáo sư Trương Đình Nguyên – Tu chỉnh và hiệu đính: Tỳ kheo: Thích Đồng Bổn
Nhà Xuất Bản Tôn Giáo, Hà Nội 2005

 

QUYỂN THỨ HAI (PHẦN TRƯỚC)
Sa môn KHUY CƠ, chùa ĐẠI TỪ ÂN soạn.

-Kinh văn : “Bồ tát Ma ha tát tám vạn người”.
Tán rằng : hàng thứ năm là Thánh đức nan tư chúng.
Văn kinh có ba ý : một là nêu loại nêu số, hai là tán thán công đức, ba là kể tên. 
Đầu tiên, giải thích chữ Bồ tát Ma ha tát
Tiếng Phạm là Bồ Đề Tát Đỏa Ma Ha Tát Đỏa, gọi tắt là Bồ tát Ma ha tát.
g Bồ tát : Bồ tát tu hành, tóm lại có hai môn : một là lấy Đại trí tự lợi làm đầu, hai là coi Đại bi lợi tha là trên hết.
Bồ Đề : nghĩa là giác, là quả mà Trí mong cầu.
Tát đỏa : chỉ loài hữu tình, là chúng sinh mà Bi phải độ.
Làm đúng theo lời hoằng thệ, nên gọi là Bồ tát. Lấy hai thứ đó làm Cảnh thì gọi là Bồ tát. Đó là giải thích theo ý nghĩa Hữu tài*(có của cải - ở đây chỉ có Pháp tài).
* Trì nghiệp thích, Y chủ thích, Hữu tài thích, là 3 kiểu giải thích thuộc về Lục ly hợp thích.
Thêm nữa, Giác là quả sở cầu, Hữu tình là chỉ tự thân. Hạng hữu tình cầu Tam Miệu Tam Bồ Đề nên gọi là Bồ tát. Hoặc Bồ đề là quả sở cầu, Tát đỏa mang ý nghĩa dũng mãnh. Chẳng ngại Xứ, Thời, cầu đại Bồ đề, có chí khí có năng lực, nên gọi là Bồ tát. Cả hai đều Y chủ thích (giải thích theo chủ ý).
Lại nữa, Bồ đề tức là Bát nhã, Tát đỏa chỉ phương tiện, hai pháp đó có khả năng làm lợi lạc cho hết thảy loài hữu tình, nên gọi là Bồ tát, vừa là Bồ đề vừa là Tát đỏa. Đây là sơ giải, tức là giải thích theo Trì nghiệp thích (giải thích theo sự việc). 
g Ma ha tát : Ma ha nghĩa là đại (lớn). Tát đỏa nghĩa như trên. Nay Bồ tátvăn kinh đây chỉ địa vị từ Bát địa trở lên, để phân biệt với địa vị dưới Bát địanhị thừa, nên gọi là Ma ha tát.
Bát Nhã luận của ngài Vô Trước viết : “vì các Bồ tát có bảy thứ lớn”. Đại chúng sinh này gọi là Ma ha Tát đỏa như trong Bồ tát địa đã nói. Trong Đại Thừa chương ở dưới sẽ liệt kê riêng thật đầy đủ.
*
-Kinh văn : “Đối với A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề đều chẳng thoái chuyển”. 
Tán rằng : đây là ý thứ hai, là tán thán công đức của Thánh đức nan tư chúng, có mười ba câu.
Luận dùng hai môn để giải thích
1. Thượng chi hạ chi môn.
2. Nhiếp thủ sự môn.
Chi : có nghĩa là phần. Thượng chi phần, chỉ tổng tướng (tướng chung). Hạ chi phần, chỉ biệt tướng (tướng riêng). Cho nên, luận nói : “cần phải biết rằng chẳng thoái chuyển đối với A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, đó là tổng tướng, ngoài ra là biệt tướng”. Tổng tướng này là Vô thượng chính giác thể, tức là năm pháp của Phật quả, đó là tịnh pháp giới và bốn trí tâm phẩm.
Kim Cương Bát Nhã luận của ngài Vô Trước nói : “A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề thể hiện Bồ đề và đạo Bồ đề. A Nậu Đa La thể hiện tự tướng của Bồ đề, vì là tướng giải thoát. Tam Miệu Tam Bồ Đề thể hiện tướng bình đẳng của người chứng quả Bồ đề”. Nhờ pháp Bồ đề, mà biết được là Phật.
Đại Trí Độ luận nói : “Trí cùng Trí xứ, đều gọi là Bát nhã”. Bồ Tát Địa luận nói : Bồ đề cùng Bồ đề đoạn, đều gọi tên là Bồ đề. Cho nên : 
- A : có nghĩa là Vô, 
- Nậu Đa La : có nghĩa là Thượng.
- Tam : có nghĩa là Chính. 
- Miệu : là Đẳng. 
- Tam : cũng nghĩa là Chính.
- Bồ Đề : là Giác.
- A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề : tức là Vô thượng Chính đẳng Chính giác.
Ở đây có bốn giác : 
1) Vô thượng giác là tổng, tức là chỉ rõ Bồ Đề, thanh tịnh pháp giới
2) Chính giác, để phân biệt với tà giác của ngoại đạo.
3) Đẳng giác, vì có sự phân biệt với thiên giác của Nhị thừa chỉ hiểu rõsinh không.
4) Chính giác nữa để phân biệt với hạng Bồ tát, vì giác chưa viên mãn, nên quả vị chưa phải là Chính giác.
Ở đây thể hiện rõ đạo Bồ Đề tức là tứ trí phẩm. Một chữ Giác ở dưới mà quán thông cả bốn Giác ở trên. Do có đầy đủ ba điều dưới đây : không gì hơn được, hơn khắp hết cả, giác ngộ chân lý nên gọi là vô thượng giác.
Song các kinh phần nhiều đều nói rằng chân lý gọi là Thể của Vô thượng Bồ đề, vì đó là căn bản. Nay ở đây lấy cả hai thứ Lý và Trí của Phật quả đều gọi là Vô thượng Bồ đề. Đối với hai quả này đều chẳng thoái chuyển. Do đủ mười nhân chẳng thoái chuyển ở dưới, nên Phật quả có thể chẳng thoái chuyển. Quyết định sẽ chứng, niệm niệm tiến tu thì gọi là chẳng thoái chuyển.
Thoái g (lùi) : có nghĩa là thất (mất).
Chuyển g : có nghĩa là động.
Ngôi Bát địa trở lên, tùy thuận tiến tu về Đại bồ đề, tu tập chẳng lùi vì không phiền não, cũng lại chẳng bị dao động vì hết thảy công dụng hữu tướng, đó gọi là bất thoái chuyển. Do đó Bát địa gọi là Bất động địa, vì tướng, dụng, phiền não chẳng lay động nổi. 
Bất g thoái có bốn nghĩa :
1) Tín bất thoái, điều tín thứ sáu trong Thập tín gọi là Bất thoái tâm, bởi vì sau đó chẳng thoái chuyển, sinh tà kiến
2) Vị bất thoái, vì trong vị thứ bảy trong Thập trụ gọi là Bất thoái vị, vì từ đó về sau chẳng thoái nhập nhị thừa.
3) Chứng bất thoái, vì từ Sơ địa trở lên đã gọi là Bất thoái, vì pháp đã chứng được chẳng thoái thất.
4) Hành bất thoái, từ Bát địa trở lên gọi là Bất thoái địa, bởi vì dù là pháp hữu vi hay pháp vô vi đều có thể tu được. 
Nay các vị Bồ tát ở đây đều từ Bát địa trở lên. Cho nên nói rằng đối với Vô thượng Chính đẳng giác bất thoái chuyển, vì nhất định sẽ chứng được. Vì thế ở đây bất thoái chẳng có nghĩa là bất chuyển.
Thêm a nữa, bất thoái có hai :
1) Đã được thì bất thoái, vì Sơ địa đã được bất thoái rồi.
2) Chưa được thì bất thoái, vì Bát địa mới được và Vô thượng Chính đẳng giác là pháp chưa chứng được.
Bát địa trở lên có thể chẳng thoái chuyển, vì thực tình cầu mong chứng được Chính giác, tâm tiến chẳng động, mặc cho dòng chảy lay động của pháp, đó gọi là Bất thoái chuyển.
Bất thoái ở đây có nghĩa là bất chuyển.
*
-Kinh văn : “Đều được Đà la ni” tới “chuyển bánh xe pháp bất thoái chuyển”. 
Tán rằng : Biệt chi phần (phần phân tích riêng biệt) ở dưới có 12 câu thị hiện thành 10 loại và chia làm hai thứ : 9 thứ đầu là tự lợi, 1 thứ sau là lợi tha
9 thứ đầu lại chia làm hai : 8 thứ đầu là đức hữu vi, 1 thứ sau là đức vô vi.
Trong 8 thứ đầu lại chia làm hai : 5 thứ trước là phúc tuệ, 3 thứ sau là bi trí.
Trong 5 thứ trước ấy lại chia làm hai : 3 thứ đầu là nội hành, 2 thứ sau là thiện duyên.
Trong 3 thứ đầu này lại có ba : thứ đầu là huân tu tự lợi, thứ hai là lợi tha, cuối cùng là lợi pháp.
Trong hai thứ thiện duyên thì thứ đầu là ngộ duyên tu hành, sau đó là khen ngợi việc trừ nghi.
Trong ba bi trí thì thứ đầu là từ bi, hai thứ sau là trí tuệ.
Đây là phần đầu, có 3 câu, ứng với 3 ý :
1. Trụ ở văn pháp, bất thoái chuyển.
Có nghĩa là đều đắc Đà la ni
- Đà la ni : ở phương đây gọi là tổng trì. Tổng trì có hai : một là Nhiếp, hai là Tán.
1) Nhiếp : cũng có nghĩa là trì. Đây tức là văn trì, nghe văn nghĩa rồi thì nhậm trì chẳng quên. Tức là có khả năng ghi nhớ giữ được những điều đã được nghe, đó gọi là nhiếp. Văn tức là thể, niệm, tuệ của tổng trì
Thập Địa Kinh nói rằng : “Bồ tát từ Bát địa trở lên đối với hết thảy mọi pháp đều năng kham, năng tư, năng trì”. Luận giải rằng : kham chỉ văn tuệ, tư chỉ tư tuệ, trì chỉ tu tuệ, vì ở một tu tuệ được chia làm ba công dụng.
2) Tán : có nghĩa là thí, có bốn loại : một là Pháp, hai là Nghĩa, ba là Năng đắc Bồ tát nhẫn, bốn là Minh chú, để đem bố thí cho chúng sinh. Hai loại đầu trong này là Năng trì tức là văn trì; hai loại sau là Sở trì. Ngoài ra bốn loại này lại chia làm hai : một là tự lợi văn trì, hai là lợi tha pháp nghĩa, vì phân biệt nhân quả.
2. Nhạo thuyết bất thoái chuyển.
Chỉ nhạo thuyết biện tài. Vì nhờ biện tài tức tứ biện, thất biện mà ưa thuyết pháp.
• Tứ biện (bốn thứ biện tài) : tức là bốn vô ngại giải: 
1) Pháp vô ngại giải. 
2) Nghĩa vô ngại giải. 
Hai thứ này theo thứ tự tức là Giải giáo vô trệ trí và Giải lý vô trệ trí.
3) Từ vô ngại giải, tức là Giải chư phương ngôn âm vô trệ trí.
4) Biện thuyết vô ngại giải, tức là Thất biện vô trệ trí trong việc thuyết pháp v.v….
• Thất biện (bảy thứ biện tài) gồm : 
1) Tiệp biện : cần nói là nói được ngay, vì không lắp bắp.
2) Tấn biện : trôi chảy như thác vì chẳng ngắc ngứ.
3) Ứng biện : đúng lúc, đúng căn cơ vì chẳng thêm bớt.
4) Vô sơ mậu biện (biện tài nói năng không sơ xuất, sai sót) : vì hễ nói ra là khế hợp với kinh, chẳng sai lệch.
5) Vô đoạn tận biện : vì tương tục liên hoàn, không bao giờ hết.
6) Phàm sở diễn thuyết phong nghĩa vị biện (biện tài khiến tất cả những điều nói ra đều giàu ý vị), vì mỗi một câu đều chứa đựng nhiều sự lý.
7) Nhất thiết thế gian tối thượng diệu biện, bởi vì có đủ năm loại âm thanh rất sâu như sấm vang khắp nơi xa.
Bốn Vô ngại giải tới phẩm Phương Tiện sẽ giải thích sau, phần nhiều lấy Hậu đắc trí và Chánh thể trí làm bản thể, vì là ngoại duyên khởi.
3. Thuyết bất thoái chuyển.
Có nghĩa là chuyển bất thoái chuyển pháp luân, tứ là : Chuyển bánh xe pháp bất thoái chuyển.
Pháp • luân (bánh xe pháp) : là pháp cần thuyết luôn luôn được thuyết, vì pháp ấy chẳng thoái chuyển. Có nghĩa là chuyển hai loại pháp bất thoái chuyển của 4 vị như trên, đó gọi là chuyển bất thoái chuyển pháp luân
Thêm nữa, Kinh Di Lặc Sở Vấn nói : “Thuyết tự phần công đức thì gọi là chuyển bất thoái pháp luân. Thuyết ngoại phần công đức thì gọi là chuyển bất chuyển pháp luân”.
Lại nữa, thuyết về trí thì gọi là bất thoái, thuyết về phúc thì gọi là bất chuyển. Lại nữa, thuyết về Bát nhã thì gọi là bất thoái, thuyết về Phương tiện thì gọi là bất chuyển. Lại nữa thuyết về Sự hữu vi thì gọi là bất thoái, thuyết về Lý vô vi thì gọi là bất chuyển. Pháp này như bánh xe, nên gọi là pháp luân.
• Luân (bánh xe) có ba ý nghĩa
1) Nghĩa viên mãn, vì Bát chánh đạo như bánh xe có ổ trục, vành bánh, nan hoa thảy đều viên mãn.
2) Nghĩa bất định (chẳng nhất định). Phật từ Kiến đạo, chuyển sinh Tu đạo, sau đó đạt tới Vô học đạo, tự mình chứng được điều này rồi lại thuyết giảng cho người khác, dẫn dắt họ vào thánh đạo, người khác được thánh đạo rồi lại thuyết cho người khác nữa, cứ xoay vần như vậy, ví như bánh xe bất định, nên gọi là luân.
3) Nghĩa hủy hoại, như bánh xe kia có thể hủy hoại con bọ ngựa ngáng đường nó, thánh đạo tại tâm có khả năng hủy diệt phiền não, trị được kẻ chưa phục, trấn được kẻ đã phục, như bánh xe báu của nhà vua, nên ví với luân (bánh xe).
Pháp • luân có 5 nghĩa :
1) Luân tự tính : Trạch pháp giác chi, chính kiến v.v…
2) Pháp luân nhân : có thể sinh thánh đạo, giáo văn tư v.v…
3) Luân quyến thuộc : thánh đạo trợ bạn ngũ uẩn pháp.
4) Pháp luân cảnh : lý tứ đế v.v… mà thánh đạo duyên vào. 
5) Pháp luân quả : nhân đạo mà chứng được Bồ đề Niết bàn.
Chuyển • : có nghĩa là thuyết.
Pháp đã gọi là luân (bánh xe) thì thuyết cũng gọi là chuyển (quay). Nay tùy theo điều kiện thích ứng mà thuyết năm pháp luân này cần phải tu hànhđịa vị bất thoái sau Bát địa, nên gọi là chuyển.
Hơn nữa, năm thể này tức là bốn pháp : Giáo, Lýù Hạnh, Quả, đó đều gọi là pháp luân
Chuyển, có nghĩa là động, là hiển, là vận, là khởi. Động tuyên ngôn giáo, hiển dương diệu lý. Vận thánh đạo ở trước âm thanh, khởi chân trí ở sau lời nói, diệt trừ chướng não một cách trọn vẹn thì gọi là Chuyển pháp luân.
Phẩm Phương Tiện ở dưới sẽ nói kỹ.
*
-Kinh văn : “Cúng dàng vô lượng” tới “được khen ngợi”. 
Tán rằng : ở đây có ba câu. Hai câu đầu gộp lại là điều thứ tư :
4. Y chỉ thiện tri thức bất thoái chuyển.
Y chỉ vào bậc thiện tri thức, chẳng thoái chuyển, tức là cúng dàng vô lượng trăm ngàn chư Phật, trồng các cội đức ở chỗ chư Phật.
Luận gọi là trồng các thiện căn (thực chủng thiện căn), vì nghiệp thân tâm của mình y vào sắc thânnhiếp thủ. Bồ tát tu hành chẳng có lỗi về thân tâm, nay đem nghiệp sắc thân thù thắng cúng dàng chư Phật, trồng sâu gốc đức, nhiếp thủ tất cả mọi thiện nghiệp thân tâm của bản thân mình.
Cúng • dàng có 10 loại, trong Bồ tát địa nói :
1) Hiện tiền cúng dàng : đích thân cúng dàng trước Phật hiện tiền, trước hết thảy Tam bảo như Lợi la cùng Chế đa (chỉ tháp chư Phật, chư tổ) đã được xây dựng nên.
2) Bất hiện tiền cúng dàng : đối với Chế đa các Phật khác, tưởng tượng đó là Phật và tu Bất hiện tiền cúng dàng.
3) Hiện tiền, bất hiện tiền cúng dàng : khi cử hành hiện tiền cúng dàng như trên, lại nghĩ như vầy : pháp tính của Chế đa của một Phật cũng tức là pháp tính của Chế đa của chư Phật mười phương ba đời. Cho nên nay ta hiện tiền cúng dàng Chế đa v.v… của một Phật cũng tức là cúng dàng Chế đa v.v… của Phật ở ba đời mười phương và tu Hiện tiền bất hiện tiền cúng dàng.
4) Ở chốn như vậy chỉ tự cúng dàng.
5) Nếu khởi bi tâm thì tùy theo khả năng cho phép mà đem sức lực, tài vật bố thí cho người nghèo khổ, mong cho họ được an lạc, khiến họ cúng dàng.
6) Đều cúng dàng : khi đã tự mình cúng dàng rồi thì khuyến giáo người khác cũng cúng dàng như vậy.
7) Tài kính cúng dàng : dùng hương hoa v.v… để kính viếng lễ bái, thậm chí dùng châu báu v.v… mà tu Tài kính cúng dàng.
8) Quảng đại cúng dàng : tức là dùng nhiều thứ tốt đẹp mà tu Tài kính cúng dàng một cách lâu dài, thậm chí tịnh niệm hồi hướng Bồ đề, tự lực gom góp của cải, hoặc xin được từ người khác, phát nguyện tưởng tượng hóa thành trăm ngàn thân cung kính lễ bái, mỗi thân mọc ra trăm ngàn tay cầm hương hoa mà rắc, thốt ra trăm ngàn tiếng mà ca ngợi công đức, lại còn đưa ra trăm ngàn thứ trang nghiêm để mà cúng dàng. Ở Thiệm Bộ Châu thậâm chí ở bất cứ nơi nào trong mười phương, hễ đâu có cúng dàng là đều tùy hỷ cả, tuy dụng công ít nhưng lại dấy lên được vô biên Quảng đại cúng dàng.
9) Vô nhiễm cúng dàng : Chẳng đem lòng khinh mạn, dối trá, phóng dật, chẳng dùng các vật bất tịnh, đó là tu Vô nhiễm cúng dàng.
10) Chính hạnh cúng dàng : nếu có ai đó tu Tứ vô lượng tâm dù chỉ trong chốc lát, thậm chí chỉ trong ít lúc tin tưởng, an nhẫnpháp tính chân như, lìa mọi ngôn thuyết, khởi tâm vô phân biệt, trụ ở vô tướng tâm tức là để giữ gìn tịnh giới của Bồ tát, thậm chí tu Tứ nhiếp sự v.v… , thì người đó chính là đã tu Chính hạnh cúng dàng.
Cần phải nhớ rằng đó là thứ cúng dàng tối thượng tối diệu, hơn các loại cúng dàng trên kia hàng trăm ngàn vạn lần, chẳng thể ví được.
Lúc tu cúng dàng cần phải nhớ rằng : Như Lai là ruộng phúc lớn, đủ ân đức lớn, là bậc chí tôn trong loài hữu tình, ngài là bậc độc nhất xuất chúng, rất khó được gặp mà mọi chúng sinh phải y chỉ vào. Đối với Phật đã thế, đối với Pháp, Tăng cũng phải như vậy, đúng như trong quyển thượng của sách U Tán đã nói. 
* Chữ Thực : [ 殖 ] có nghĩa là trồng, là gom góp, tích lũyxây dựng, kiến lập.
• Chữ Chúng : [ 眾 ] nghĩa chung cho cả hai âm bình khứ (có nghĩa là vừa để chỉ nghĩa chúng sinh, vừa chỉ số nhiều).
5. Đoạn nhất thiết nghi bất thoái chuyển
Vì thường được chư Phật khen ngợi.
* Chữ Vi [ 為 ] có nghĩa là khiến, là được, là bị. 
Vì các Bồ tátđịa vị từ Bát địa trở lên, đã đạt tới mức đoạn trừ hết được các mối nghi ngờ về Lý về Sự, hai nghi Phiền não, Sở tri cũng đều hết, cho nên đệ Bát địa gọi là Quyết định địa. Bởi thế mới được chư Phật khen ngợi. Hoặc do Phật khen mà có thể đoạn trừ được mối nghi ngờ của các chúng : các chúng nghi ngờ không biết Bồ tát trụ ở địa vị nào và chứng được quả gì. Nay nói rõ là ở thượng vị và nói rõ quả được chứng, nên đoạn trừ được điều nghi ngờ của các chúng.
*
-Kinh văn : “Dùng đức từ mà tu thân” tới “tới nơiû bờ bên kia”. 
Tán rằng : trong đây có bốn câu, ứng với 4 ý .
6. Vì những sự gì mà thuyết những pháp ấy, nhập 
những sự chẳng thoái chuyển ấy ? 
Đó là dùng đức Từ mà tu thân. Luận nói là dùng đức Đại từ bi để tu thân tâm, đó là giải thích sở do (phương pháp, phương tiện). Các Bồ tát vì những sự gì? Ngoài thì vì người khác mà thuyết pháp, trong thì nhập chứng các pháp, dùng đức Đại từ bi để hun đúc tu dưỡng thân tâm, cứu vớt chúng sinh khỏi vòng khổ ải, giúp cho họ được an lạc.
Nói rõ tu hành nhị lợi (tự lợi, lợi tha) chỉ do từ bi, chẳng phải do sự gì khác. Từ bi mỗi thứ đều có ba nghĩa, như phần sau sẽ nói.
7. Nhập nhất thiết trí như thực cảnh giới bất thoái 
chuyển.
Có nghĩa là khéo nhập Phật tuệ. Vì nhập nhất thiết trí cho nên biết cảnh giới như nó đang hiện hữu, gọi là biết như thực cảnh giới, chẳng thoái chuyển, tức là nhập quán chiếu trí. Khác với điều thứ chín ở dưới.
8. Y ngã không, pháp không, bất thoái chuyển.
Tức là thông đạt đại trí, đạt nhị ngã vô trí
9. Nhập như thực cảnh giới, bất thoái chuyển.
Vì đã tới được bờ bên kia, thấu hiểu cặn kẽ thực tính.
*
-Kinh văn : “Danh tiếng vang khắp” tới “trăm ngàn chúng sinh”. 
Tán rằng : đây có hai câu gộp lại thành một ý, đó là ý thứ 10.
10. Làm việc cần làm, trụ trì bất thoái chuyển.
Danh g tiếng vang khắp vô lượng thế giới, cho nên có thể trụ trì Phật pháp khiến pháp chẳng bị diệt. Chúng sinh nghe danh, tin tưởng ngưỡng mộ mà tu học
Độ g được vô số trăm ngàn chúng sinh, cho nên gọi là làm được việc cần làm, vì việc cần làm của Bồ tát là làm lợi cho chúng sinh.
Trên đây là thuyết minh về Thượng chi hạ chi môn, ở dưới sẽ thuyết minh về Nhiếp thủ sự môn :
Luận a có hai lượt giải thích về Nhiếp thủ sự môn, đó là Nhiếp thủ chư công đức sự :
- Lượt giải thích thứ nhất :
Giải thích rằng : thị hiện các Bồ tát trụ trong thanh tịnh địa như thế nào, nhân những phương tiện nào, trong cảnh giới như thế nào mà làm công việc cần làm, đó là nêu chung.
Sau đó luận giải thích rằng trong 13 câu, nên chia làm ba phần : 
+ Phần một : “ở Vô thượng chính đẳng Chính giác” một câu này là nói về việc trụ ở trong thanh tịnh địa như thế nào.
+ Phần hai : 10 câu sau đó là (nói về ý) nhân những phương tiện gì.
+ Phần ba : Hai câu cuối cùng (là nói về ý) làm công việc cần làm trong cảnh giới nào ? 
Trong lời văn giải thích của luận chỉ giải thích hai phần đầu được nêu ra, chẳng giải thích phần thứ ba “làm công việc cần làm trong cảnh cõi như thế nào?”.
n Phần thứ nhất "Bồ tát trụ trong thanh tịnh địa như thế nào" :
Địa thanh tịnh là chỉ ba địa từ Bát địa trở lên, vì là Vô tướng hạnh tịch tĩnh thanh tịnh. Ở đây lấy vô tướng lý gọi là Vô thượng Chính đẳng Chính giác. Ba địa cuối cùng này đều ở Vô tướng hạnh nhậm vận tịch tĩnh, lìa chướng, thanh tịnh, gọi là Bất thoái chuyển, đều chẳng phải là các địa vị mà các cấu nhiễm hữu tướng v.v… có thể khiến cho thoái chuyển nổi.
Phần n thứ hai “nhân những phương tiện gì”, có bốn loại phương tiện :
1) Nhiếp thủ diệu pháp phương tiện (phương tiện nhiếp thủ diệu pháp). Nhậm trì diệu pháp dùng lực nhạo thuyết để thuyết cho người. Đây gồm ba câu : 
a) Người nhậm trì diệu pháp đều được Đà la ni. Do được văn trì, nhậm trì diệu pháp khiến chẳng xả lìa. Trụ tại tự tâm, trì giữ chẳng quên, cho nên gọi là nhậm trì.
b) Dùng lực nhạo thuyết tức là nhạo thuyết biện tài
c) Thuyết cho người có nghĩa là chuyển pháp luân bất thoái chuyển, vì người mà thuyết pháp bất thoái chuyển đó.
2) Nhiếp thủ thiện tri thức phương tiện (phương tiện nhiếp thủ thiện tri thức) : vì dựa vào bậc thiện tri thức mà làm công việc cần làm. Đây gồm ba câu :
a) Vì y vào bậc thiện tri thức, tức là cúng dàng vô lượng trăm ngàn chư Phật.
b) Làm việc cần làm, có nghĩa là trồng các gốc đức ở nơi chư Phật.
c) Gốc đức là thiện căn, vì đó là việc cần làm. Do đó thường được chư Phật khen ngợi.
3) Nhiếp thủ chúng sinh phương tiện (phương tiện nhiếp thủ chúng sinh) : vì chẳng bỏ chúng sinh. Đây gồm một câu “lấy đức Từ mà tu thân”. Do lấy đức đại từ bi để hun đúc tu tập thân tâm, nên không thể bỏ hết thảy chúng sinh, mà thường hay cứu độ họ.
4) Nhiếp thủ trí phương tiện (phương tiện nhiếp thủ trí) : vì giáo hóa chúng sinh khiến họ nhập trí ấy. Đây gồm ba câu : 
a) Khéo nhập Phật tuệ, một câu.
b) Thông đạt đại trí, một câu.
c) Tới ở bờ bên kia, một câu. 
Do tự mình có ba trí, hay khiến chúng sinh nhiếp thủ ba trí. Tự thành ba trí, đó là cái nhân khiến các chúng sinh nhiếp thủ ba trí :
+ Tri như thực trí (trí biết như thực), là tự lợi trí.
+ Tri sự trí (trí biết sự), là lợi tha trí.
+ Chân lý trí, đó là thực tính của trí.
Trong luận chỉ giải thích hai phần đầu đã được nêu ra, chẳng giải thích phần “Làm công việc cần làm trong cảnh giới (cảnh cõi) như thế nào? ”. Ở đây gồm có hai câu : “danh tiếng vang khắp vô lượng thế giới” đó là (nói về) cảnh giới như thế nào. “Độ được vô số trăm ngàn chúng sinh” đó là (nói về) công việc cần làm.
Do Bồ tát có đủ ba trí, cho nên danh tiếng vang xa khắp mười phương thế giới, có thể ở trong cảnh cõi vô lượng thế giới ấy mà độ cho trăm ngàn chúng sinh, làm công việc cần làm, vì độ chúng sinh đó là công việc cần làm của các Bồ tát.
- Lượt giải thích thứ hai :
Giải thích rằng : lại còn có Nhiếp thủ sự môn, thị hiện chư địa Nhiếp thủ thắng công đức, vì khác với công đức nhị thừa, cho nên hai câu này là nêu chung.
Dưới đó lại giải thích riêng hai câu, đó là : một là “Thị hiện chư địa”, hai là “Nhiếp thủ thắng công đức khác với nhị thừa”. Cho nên trong 13 câu thì bốn câu đầu là “Thị hiện chư địa”, chín câu sau là “Nhiếp thủ thắng công đức”.
+ Giải thích vấn đề thứ nhất “Thị hiện chư địa” :
Bốn câu đầu “Thị hiện chư địa” : một câu “đều ở vô thượng Bồ đề, chẳng thoái chuyển” là đệ Bát địa. Hai câu sau là đệ Cửu địa. Câu sau nữa là đệ Thập địa. Cho nên trong luận giải thích “Thị hiện chư địa”, nói : “Bát địa vô công dụng trí, vì bất đồng thượng hạ (chẳng giống với thượng hạ). Bất đồng hạ vì hạ công dụng hạnh bất năng động. Bất đồng thượng vì thượng vô tướng hạnh bất năng động, tự nhiên mà hành.
Thượng là thắng hạnh, vô tướng hạnh. 
Hạ là liệt hạnh, công dụng hạnh.
Duy thức giải thích Bất động địa, nói : “vì tướng, dụng, phiền não chẳng thể động”. 
Luận này giải nghĩa “Bất thoái chuyển”, là công dụng bất động, vô tướng hành bất động, nhậm vận tiến tu, chứng cả hai lý Không và Hữu, chẳng bị lay động vì hai thứ đó, đó gọi là bất thoái chuyển, vì ở trong Cửu địa đắc Thắng tiến Đà la ni môn, đầy đủ Tứ vô ngại giải tự tại.
Cửu địa đắc văn trì v.v… được viên mãn, thì gọi là thắng tiến, cụ túc thất biện v.v… thì gọi là thuyết pháp cho (mọi) người khác.
Đệ Tam địa ở trước tuy đắc văn trì nhưng vẫn chưa viên mãn, nay thuyết mãn vị, ở đệ Thập địa, chuyển pháp luân Bất thoái chuyển, được thụ Phật vị, như Chuyển luân vương tử, vì Bát địa, Cửu địa, Thập địa, cùng thị hiện chư địa.
Luận tự kết rằng : chín câu dưới gọi là Nhiếp thủ công đức. Ba địa ở trên đều cùng được công đức này.
+ Giải thích vấn đề thứ hai “Nhiếp thủ thắng công đức” : 
Thị hiẹân y vào xứ nào ? Y vào tâm nào ? Y vào trí nào ? Y vào cảnh giới nào mà tu hành ? Y vào những gì mà có thể làm được ? Đây là năm câu mà luận nêu ra, sau đây luận tự giải thích từng câu.
- Luận giải thích vấn đề “Y vào xứ nào” gồm ba câu : 
a) Cúng dàng vô lượng trăm ngàn chư Phật.
b) Trồng các gốc đức ở nơi chư Phật.
c) Thường được chư Phật khen ngợi.
Luận rằng : vì y vào (các bậc) thiện tri thức.
- “Y vào tâm nào ? ” gồm một câu “dùng đức từ mà tu thân”.
Luận rằng : tôi y vào cái tâm độ chúng sinh để mà giáo hóa, vì rốt ráo đem lợi ích cho hết thảy chúng sinh. Việc làm của Bồ tát là độ chúng sinh, đó cũng là tâm nguyện của Bồ tát. Có nghĩa là tôi y vào tâm chúng sinh, vì rốt ráo có thể làm lợi ích cho hết thảy mọi chúng sinh.
- “Y vào trí nào ? ” gồm ba câu : “khéo nhập Phật tuệ, thông đạt đại trí, tới ở bờ kia”.
Luận rằng : dựa vào ba loại trí
1) Thụ ký mật trí, là trí vì chúng sinh mà thuyết nghĩa thâm mật. Ký có nghĩa là ký biệt giải thích, đó tức là Phật tuệ.
2) Chư thông trí, là trí dùng đại thần thông mà làm lợi ích cho chúng sinh tức thông đạt đại trí.
3) Chân thực trí, tức là chứng chân như trí, tức là “tới nơi bờ kia” vì bờ kia tức là chân lý. Tới được (năng đáo) có nghĩa là trí chứng.
- “Y vào cảnh giới nào mà tu hành” : đó là một câu “danh tiếng vang khắp vô lượng thế giới”.
Các thế giới có hai loại : một là khí, hai là hữu tình, đều là cảnh giới tu hành những điều phải tu hành của Bồ tát.
- “Y vào những gì làm được ” : độ được vô số trăm ngàn chúng sinh. Bồ tát dùng ba trí ở trong cõi đó làm được những việc gì ? Đó là độ được chúng sinh.
Đối a với hai câu cuối, có thể giải thích tách biệt hay gộp vào. Giải thích tách biệt, là như đã nói ở trên. Giải thích gộp vào như sau : 
Luận mới giải thích rằng : “Y vào cảnh giới nào mà tu hành ? Y vào những gì ø làm được” đó tức là ba loại Trí nhiếp cần phải biết.
Ý văn nói rằng : vì dùng ba trí ở trong cảnh thế giới làm được những việc có tác dụng lợi ích cho chúng sinh, nên gọi là Tam chủng Trí nhiếp (ba loại trí nhiếp). Ý phiên dịch ở đây tỉnh lược, chẳng thể nói thật rõ ràng đầy đủ. Nhưng ý ắt phải như thế.
*
-Kinh văn : “Tên của họ là” tới “Đắc Đại Thế Bồ tát”. 
Tán rằng : dưới liệt kê tên thành hai : đầu tiên kể tên, sau đó kết luận, tổng cộng có 18 tên, đều căn cứ vào nguyện hạnh mà đặt tên chia làm bảy đối. Trong này ba vị đầu là Cứu khổ ban vui đối.
Mạn • Thù Thất Lợi : được gọi là Diệu Cát Tường nghĩa là cho chúng sinh được vui sướng, là Bắc phương Thường Hỉ thế giới Hoan Hỉ Tạng Ma Ni Bảo Tích Phật. Nghe danh hiệu vị này thì có thể diệt được bốn tội nặng v.v… . Còn nói rằng thời quá khứ vị này là Long Chủng Thượng Trí Tôn Phật; sau này cũng nói là thành Phật. Kinh Hoa Nghiêm nói rằng (vị ấy) ở tại núi Ngũ Đài mát mẻ này cùng với một vạn vị Bồ tát.
Quán • Tự Tại Bồ tát : tiếng Phạm là A Phọc Lô Chỉ Đế Thấp Phạt La Đa, dịch là Quán Tự Tại, quán ba nghiệp quy y mà cứu vớt cho chúng sinh khỏi khổ, gọi tắt là Quán Âm . Kinh Quan Âm Thụ Ký nói rằng : “sau khi Phật A Di Đà diệt độ sẽ đến lượt (Quan Âm) làm Phật, gọi tên là Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật. Phật này diệt rồi sẽ đến lượt Đại Thế Chí Bồ tát làm Phật, gọi là Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật”.
Đắc Đại Thế : có nghĩa là ngài tới nơi nào thì thế giới chấn động có uy thế lớn, chúng sinh nếu được gặp ngài tự nhiên sẽ hết khổ được đại thắng lạc, có hai khả năng nói trên.
*
-Kinh văn : “Thường Tinh Tiến” tới “Bất Hưu Tức Bồ tát”. 
Tán rằng : hai vị này là Tự lợi tha (lợi) đối, tự hành thường siêng, lợi tha chẳng mỏi.
*
Kinh - văn : “Bảo Chưởng” tới “Dũng Thí Bồ tát”
Tán - rằng : ba vị này là Tế bần cứu (tật) đối. 
Bảo • Chưởng : cứu giúp chúng sinh nghèo khổ, đưa của báu từ trong tay ra.
Dược • Vương : là cây thuốc lớn cứu chữa bệnh tật cho vua.
Dũng Thí : làm được cả hai việc hăng hái bỏ của cải, thuốc men cả hai thứ đó ra mà cứu giúp.
*
-Kinh văn : “Bảo Nguyệt” tới “Mãn Nguyệt 
Bồ tát”. 
Tán rằng : ba vị này là Đạo minh phá ám đối. 
Bảo • Nguyệt : truyền được trí sáng như trăng đáng trọng
Nguyệt • Quang : phá các thứ si ám giống như ánh trăng. 
Mãn • Nguyệt : làm được cả hai việc (trên).
*
-Kinh văn : “Đại Lực” tới “Vô Lượng Lực 
Bồ tát”. 
Tán rằng : hai vị này là Thần thông tiểu đại đối. Do hiện thần thông, cảnh sách (kẻ) hữu duyên, khiến đều phát tâm.
Đại • Lực : động được trăm ngàn thế giới, gọi là Đại Lực.
Vô Lượng Lực : động được vô số thế giới, gọi là Vô Lượng Lực.
*
-Kinh văn : “Việt Tam Thế” tới “Bạt Đà Bà La Bồ tát”.
Tán rằng : hai vị này là Ly nhiễm tiến thiện đối.
• Việt Tam Giới : phương này dịch nghĩa là Ly nhiễm, là ly, là độ.
Bạt • Đà Bà La : phương này gọi là Hiền Hộ, vì thủ hộ thiện pháp chẳng để bị mất.
*
-Kinh văn : “Di Lặc” tới “Đạo Sư Bồ tát”. 
Tán rằng : ba vị này là Thế gian xuất thế gian đối. 
Di • Lặc : có họ là Từ Bạt, là lìa thế gian sinh tử, còn Bảo Tích, Đạo Sư thì dẫn tới bờ bên kia để xuất thế
Bảo • Tích : dẫn tới Bồ đề. Bảo Tích cho Bồ đề pháp. 
Đạo • Sư : dẫn tới Niết bàn viên tịch
Cho nên ở đây phân biệt làm ba. Gộp cả lại thì thành bảy đối (thất đối).
*
-Kinh văn : “Những vị như vậy cùng với tám vạn người”. 
Tán rằng : đây là câu kết. Triệu công nói : đây đều là thân vô sinh của Bồ tát. Thân vô sinh có nghĩa là không chỗ nào không sinh, nên gọi là vô sinh. Vì vô sinh nên bịt cửa ba cõi. Vì không chỗ nào không sinh, nên để lại hình tướngsáu đường.
*
-Kinh văn : “Bấy giờ Thích Đề Hoàn Nhân” tới “cùng với hai vạn thiên tử”. 
Tán rằng : trên thì nói rõ năm chúng nội hộ, dưới thì nói rõ mười chúng ngoại hộ. Ở trong đó chia làm hai loài : loài người và loài phi nhân (chẳng phải là loài người). Trong loài phi nhân lại chia làm hai : thiên và phi thiên
Trong loại thiên lại chia làm hai : Dục giớiSắc giới
Dục giới có ba loại : một là Đế Thích, hai là Tứ Vương, ba là Tự Tại. Ở đây là loại đầu. 
Hoặc chia làm hai loại : Địa cư (ở dưới đất) và Không cư (ở trên không). Trong Địa cư, hai loại Đế Thích, Tứ Vương. Ở đây là loại đầu.
Thích Đề Hoàn Nhân : tiếng Phạm là Thích Ca Đề Bà Nhân Đạt La : Thích Ca là họ, ở phương đây dịch nghĩa là Năng, Đề Bà là Thiên, Nhân Đạt La là Đế, dịch đúng là Năng Thiên Đế. Phiên âm là Thích Đề Hoàn Nhân và dịch nghĩa là Thiên Đế Thích đều vừa sai vừa ngược. Vị này trụ ở đỉnh núi Diệu Cao, là Đế chủ của 33 tầng trời, thời quá khứ tên là Kiều Thi Ca, ở phương đây gọi là Kiển Nhi.
• Gọi tên là A Ma Yết Đà, ở phương đây gọi là Vô Độc Hại, tức là nước Ma Yết Đà, là nơi xưa kia Đế Thích tu nhân, dùng làm tên nước. Nước này xưa kia gọi là Trí Cam Lộ xứ (xứ có sương móc ngọt rưới), tức kiếp xưa Đế Thích đánh nhau với A Tu La, biến núi thành biển sữa đầy ắp, được nước cam lồ rưới ở đất này, nhân đó mà đặt thành tên nước. Tích xưa, Đế Thích có 32 người cùng bầu bạn, có Thiện Pháp phu nhân, Viên Sinh phu nhân, Hoan Hỉ phu nhân, Thiết Chi phu nhân cùng tu thắng nghiệp, nên được sinh lên cõi trời. Do đó mà có các tên Thiện pháp đường, có cây Viên sinh, vườn Hoan hỉ. A Tu La nữ, tức Thiết Chi phu nhân. Nhân duyên các vị này như Tông Luận sớ (đã nói).
*
-Kinh văn : “Lại còn có Danh Nguyệt thiên tử ” tới “cùng với một vạn thiên tử”. 
Tán rằng : đây là Tứ vương chúng. Tam Quang chính là Tứ vương thiên nhiếp, không còn có thiên nào khác.
Có kinh nói Quan Âm tên gọi là Bảo Ý làm Nhật thiên tử, tức là vị Bảo Quang này. Đại Thế Chí tên là Bảo Cát Tường làm Nguyệt thiên tử, tức là vị Danh Nguyệt này. Hư Không Tạng gọi là Bảo Quang làm Tinh thiên tử, đây gọi là Phổ Hương. Nhật cung do Hỏa tinh làm ra, đường kính là 51 du thiện na. Nguyệt cung cũng do Thủy tinh làm ra, đường kính 50 du thiện na. Tinh (sao) cũng do Thủy tinh làm ra. lớn nhất thì 18 câu lư xá cho tới bé nhất là 4 câu lư xá. Mỗi câu lư xá chừng hơn ba dặm. Những vị này đều ở trong không trung xoay quanh bốn châu.
Tứ đại thiên vương gồm :
- Đông phương Trì Quốc thiên vương.
- Nam phương Tăng Trưởng thiên vương.
- Tây phương Quảng Mục thiên vương.
- Bắc phương Đa văn thiên vương.
Cõi này ở tầng bậc thứ tư tại lưng chừng núi Diệu Cao, cũng trụ ở đỉnh núi Thất Kim Sơn. Tam Quang Tứ thiên cách mặt đất áng chừng bốn vạn du thiện na; thọ lượng, hình tướng như chỗ khác đã nói.
*
-Kinh văn : “Tự Tại thiên tử” tới “cùng với ba vạn thiên tử”. 
Tán rằng : Không cư thiên, Dạ ma thiên, Đổ sử đa thiên ở dưới gọi là Tự Tại thiên tử. Được quả dị thục, tùy ý muốn gì được nấy hơn hai trời ở dưới – Hai trời ở dưới, quả phải nhờ gây dựng mới được. Nay muốn gì được nấy nên gọi là Tự Tại
Nhạo Biến Hóa thiên, Tha Hóa Tự Tại thiên gọi là Đại Tự Tại thiên tử. Chẳng thích quả dị thục, ưa Tự lạc tha biến, lấy đó làm lạc cụ mà thụ dụng, nên gọi là Đại Tự Tại. Cũng giải thích Tha Hóa thiên chủ gọi là Tự Tại thiên, Đệ tứ thiền chủ gọi là Đại Tự Tại thiên. Thêm nữa, Tự Tại thiên là bề tôi của Đế Thích, Đại Tự Tại thiên là thầy của Đế Thích. Nếu theo hai cách giải thích sau thì không có bốn Không cư Dục giới thiên.
*

-Kinh văn : “Sa bà thế giới chủ” tới “cùng hai vạn thiên tử”. 
Tán rằng : đó là Sắc giới thiên. Tiếng Phạm là Sách Ha, ở phương đây dịch là Kham Nhẫn. Các Bồ tát v.v… khi làm lợi lạc phần nhiều bị những nỗi oán ghét, những nỗi khổ bức bách gây phiền não. Vì kham nỗi vất vả mệt mỏi mà nhẫn chịu, nhân lấy ý đó mà đặt tên.
•Gọi là Sa bà là sai. Sơ thiền lớn cỡ bằng một Tứ thiên hạ của Dục giới. Một ngàn Sơ thiền mới bằng một Nhị thiền. Nhị thiền là chóp hỏa tai. Một ngàn Nhị thiền mới bằng một Tam thiền. Tam thiền là chóp thủy tai. Một ngàn Tam thiền mới bằng một Tứ thiền. Tứ thiền là chóp phong tai. Đó chính là Tam thiên đại thiên thế giới, gọi là Sa bà thế giới. Cho nên Sa bà giới chủ Đại Phạm vương tức là Đệ tứ thiền chủ.
Phạm Ma : có nghĩa là tịch tĩnh, Thanh tịnh, tịnh khiết đều được, còn gọi là Phạm Khiết. Nay chỉ gọi là Phạm, đó là gọi tắt mà thôi.
Thi Khí : có nghĩa là chóp hỏa tai tức là Sơ thiền chủ, vì hỏa tai chóp nhọn. Quang MinhNhị thiền chủ. Thiểu Quang, Vô Lượng Quang, Cực Quang Tịnh thiên chủ đều chỉ Tam thiền chủ.
Song Kinh Đại Bát Nhã, quyển 570 nói rằng : vì Kham Nhẫn giới chủ là Trì Kết Phạm vương. Thi Khí là cái búi tóc trên đỉnh đầu. Thế thì Trì Kết Phạm vươngKham Nhẫn giới chủ, đó là tên khác của Phạm vương
Quang Minh, là Thiền chủ khác.
*
-Kinh văn : “Có tám long vương” tới “cùng quyến thuộc”. 
Tán rằng : dưới nói rõ hạng phi thiên chúng có năm: đầu tiên là long chúng. Thứ nhất tên gọi là Hỷ, thứ hai tên gọi là Hiền Hỷ, hai anh em này đều khéo chiều lòng người, gió chẳng ào ào, mưa chẳng vỡ đất, vị trước khiến được người ưa, vị sau tính hiền được ưa, nên đặt tên như vậy.
• Sa Già La, là rồng ở biển nước mặn.
Hòa Tu Cát, ở phương đây gọi là Cửu đầu (chín đầu), bò quanh núi Diệu Cao, ăn loài rồng nhỏ. 
Đức Xoa Ca, ở phương đây dịch là Đa thiệt vì có nhiều lưỡi, hoặc do thích nói nên gọi tên là Đa thiệt.
A Na Bà Đạt Đa, ở phương đây gọi là Vô nhiệt não, là rồng ở ao Vô nhiệt não, vì lìa được ba thứ nhiệt não : một là chẳng bị rang bởi lửa cát, hai là không bị gió thổi tốc áo lộ hình, ba là không bị chim Diệu xí ăn thịt. Không bị hỏa não do ba thứ đó gây ra, nên gọi là Vô nhiệt não.
Kinh Hoa Nghiêm nói : “Đại Địa Bồ tát là rồng ở ao này nổi mây đại bi che rợp cho hết thảy chúng sinh, lìa cửa khổ pháp mà được tự tại, ở trong vảy tuôn ra các thứ nước, ngày đêm chẳng kiệt để cứu giúp cho các loài hữu tìnhThiệm Bộ Châu”. 
• Ma Na Tư, ở phương đây dịch là Từ tâm. Kinh Hoa Nghiêm nói : “lúc sắp đổ mưa, trước tiên làm mây bảy ngày chờ cho công việc của chúng sinh xong xuôi rồi mới mưa”, vì vậy nên gọi là Từ tâm
Ưu Bát La, ở phương đây gọi là Hồng liên hoa (hoa sen hồng), lấy tên ao nơi rồng ở mà đặt tên.
*
-Kinh văn : “Có bốn vị Khẩn Na La” tới “cùng với quyến thuộc”. 
Tán rằng : tiếng Phạm gọi là Khẩn Nại Lạc, ở phương đây gọi là Ca Thần (Thần ca hát). Gọi là Khẩn Na La là phiên âm sai.
Vị đầu ca Tứ đế, vị thứ hai ca Duyên khởi, vị thứ ba ca Lục độ, vị cuối cùng ca nhất thừa. Hoặc ba vị đầu ca giáo hạnh tam thừa, một vị sau ca lý quả nhất thừa, nên gọi tên là Trì Pháp. Hoặc theo thứ tự mà ca giáo lý hạnh quả nhất thừa, vì tùy theo pháp Phật thuyết trong một hội mà ca cho thích hợp, ví như âm nhạc thế gian ca ngợi công đức của vua vậy.
*
-Kinh văn : “Có bốn vị Càn Thát Bà vương” tới “cùng với quyến thuộc”. 
Tán rằng : âm đọc của chữ nhạc là phiên thiết của hai chữ ngũ hiếu. Tiếng Phạm : Mạt Nô Thị Nhã Tát Phọc La, ở phương đây gọi là Khả Ý Âm (âm vừa ý) còn gọi là Như Ý Âm Nhạc khiến người ta ưa thích. Trong Chính Pháp Hoa nói rằng : “một gọi tên là Nhu Nhuyễn thiên tử, hai gọi là Hòa Âm thiên tử ”û. 
Tiếng Phạm : Kiền Thát Phọc, ở phương đây gọi là Tầm Hương Hành, tức là tác nhạc thần. Phiên là Càn Thát Bà là sai. Tây vực do đó gọi tán nhạc là Kiền Thát Phọc chuyên tìm mùi hương nổi nhạc để xin. Trong nhạc có hai loại : 
1) Loại chẳng phải đàn sáo (ti trúc), đó là loại trống, khánh.
2) Loại đàn sáo như ống tiêu, đàn tranh.
Chẳng phải đàn sáo loại thấp thì gọi là Nhạc, loại cao thì gọi là Nhạc âm. Đàn sáo loại thấp thì gọi là Mỹ, loại cao thì gọi là Mỹ âm. Hoặc đây giống như bài hát của ca thần nói ở phía trên, theo thứ tự mà giống với các thứ đó.
*
-Kinh văn : “Có bốn A Tu La vương” tới “cùng với quyến thuộc”. 
Tán rằng : tiếng Phạm gọi là A Tố Lạc, ở đây gọi là phi thiên. Sách Lạc là tên gọi khác của thiên.
• A : có nghĩa là Phi (chẳng phải), vì hay xiểm nịnh dối trá chẳng đúng với thiên hạnh, nên gọi là phi thiên, như người mà bất nhân thì gọi là phi nhân. Du Già Phật Địa luận nói đó là loại nằm trong thiên thú (nẻo trời).
Tạp tâm gọi là quỷ thú (nẻo quỷ). Kinh Chính Pháp Niệm bảo đó thuộc loài ngạ quỷ súc sinh. Kinh Già Đà bảo đó thuộc ba nẻo ngạ quỷ, súc sinh và thiên (trời).
Có người bảo La Hầu A Tu La là con của sư tử, thuộc loài súc sinh. Nay y theo đại thừa Du Già là chính, trong đây có năm loại : 
1) Loại cực yếu thì ở tại nhân gian trong miền núi, tức như ngày nay trong núi ở Tây phương có các hang động sâu lớn phần nhiều là cung của loài phi thiên. Còn bốn loại sau đây thì đã được nói tới trong Kinh Thập Địa.
2) Dưới biển lớn phía Bắc núi Diệu Cao hai vạn một ngàn do tuần có cung La Hầu.
3) Dưới nữa cách hai vạn một ngàn do tuần có cung Dũng Kiện.
4) Dưới nữa cách hai vạn một ngàn do tuầncung Hoa Man. 
5) Dưới nữa, cách hai vạn một ngàn do tuần có cung Tỳ Ma Chất Đa La.
Căn cứ vào đây thì cung Tỳ Ma Chất Đa La ở dưới thấp so với núi Tu Di là tám vạn bốn ngàn do tuần, thuyết này trái ngược với Kinh Khởi Thế. Kinh này nói rằng cách núi Tu Di một ngàn do tuần, theo hướng từ Đông sang Tây, có cung Tỳ Ma Chất Đa La, ngang dọc mỗi chiều tám vạn do tuần, có bảy lớp thành, là những tụ lạc riêng biệt. Nói thế cũng không sai.
La Hầu : ở phương đây gọi là Chấp Nhật. Lúc các loài phi thiên đánh nhau với trời. Thoạt tiên trời sai Tứ thiên vương ra đánh nhau với chúng. Nhật Nguyệt thiên tử phóng ánh sáng mạnh bắn vào mắt các loài phi thiên. Loài La Hầu này làm tiên phong của các loài phi thiên đã dùng tay vo bắt lấy mặt trời chặn bịt ánh sáng của mặt trời, cho nên gọi tên là Chấp Nhật, nay là loại thứ tư.
Cần phải biết rằng : loại Bà Trĩ được kể đầu tiên, thuyết cũ dịch nghĩa gọi là Bị Phọc (bị bắt trói) là tiền quân của các loài phi thiên và bị trời bắt trói. Đúng ra phải gọi là Bạt Trĩ Ca, ở phương đây dịch nghĩa gọi là Đoàn viên, cứ theo như trong Chính Pháp Hoa thì đó là loài giỏi nhất. Loài đó tương đương với loài Dũng Kiện, đứng sau loài Chấp Nhật, sau có đánh nhau với trời, lúc ấy có lực dũng kiện. Nếu là Bạt Đà thì mới có nghĩa là Phọc, ở đây chẳng phải là Bị Phọc.
•Các chữ Khư Kiển trong từ Khư La Kiển Đà đều đọc khứ thanh, chữ Đà đọc bình thanh. Thuyết cổ nói rằng loài này tay to vai rộng, hình mạo càng lớn. Đó là loại Hoa Man, đứng sau loại Dũng Kiện.
•Tiếng Phạm : Phệ Ma Chất Đát Lị, ở đây dịch nghĩa gọi là Ỷ Họa, ý nghĩa từ này đã chỉ rõ loài này xăm vẽ mình. Còn gọi là Bảo cẩm (gấm báu), dụng ý nêu bật cách phục sức của chúng.
•Gọi là Tỳ Ma Chất Đa La, đó là phiên sai. Loại này lớn nhất, là bố vợ của Thiên Đế Thích, là bố của Xá Chi. Nói về nhân duyên của loại này thì như trong Tông Luân sớ.
*
-Kinh văn : “Có bốn Ca Lâu La vương” tới “cùng với quyến thuộc”. 
Tán rằng : tiếng Phạm gọi là Yết Lộ Đồ, ở phương đây gọi là Diệu Xí Điểu (chim cánh đẹp), vì lông chẳng những toàn vàng ròng mà màu sắc còn rất đẹp. Bản cũ gọi là Ca Lâu La, dịch nghĩa là Kim Xí Điểu (chim cánh vàng) đều là sai lầm.
Kinh Tăng Nhất A Hàm nói : “Phật bảo các Tỳ kheo rằng : có loài chim Diệu Xí sinh theo bốn cách đó là nỗn sinh, thai sinh, thấp sinhhóa sinh. Có loài rồng cũng sinh theo bốn cách : nỗn sinh, thai sinh, thấp sinhhóa sinh. Nếu chim nỗn sinh muốn ăn thịt rồng thì phải lên cây Thiết Xoa tự lao xuống biển, lúc đó chim dùng cánh rẽ nước ra làm đôi, bắt rồng nỗn sinh ra mà ăn. Nếu định bắt rồng thai sinh, thì chim sẽ mất mạng ngay tức khắc. Cứ như vậy, chim thai sinh chỉ ăn thịt được hai loại rồng thai sinh và nỗn sinh, chim thấp sinh ăn thịt rồng sinh theo ba cách đầu, còn đối với rồng hóa sinh nếu định ăn, chim sẽ bị mất mạng ngay tức khắc. Chim hóa sinh có thể ăn thịt rồng sinh theo cả bốn cách. Nếu là thân rồng mà lại thờ Phật thì chim Diệu Xí ấy chẳng thể ăn thịt nổi. Sở dĩ như vậy là vì sao? Vì đức Như Lai thường xuyên tu hành Từ Bi Hỷ Xả tứ đẳng tâm. Tứ đẳng tâm này có gân sức lớn, có đại dũng mãnh, chẳng thể hủy hoại, nên chim Diệu Xí chẳng ăn nổi. Cho nên các Tỳ kheo nên tu hạnh tứ đẳng tâm”. 
Nay ở đây cứ theo thứ tự thì là tứ sinh điểu (tức tứ sinh Diệu Xí điểu – chim Diệu Xí sinh theo bốn cách). Chim này còn gọi là Đại uy đức, vì các rồng đều phải sợ oai, lại to lớn hai cánh cách nhau 336 vạn dặm, bụng to căng luôn luôn ăn no, dưới hàm có Như Ý ngọc châu.
*
-Kinh văn : “Con Bà Vi Đề Hy” tới “cùng với quyến thuộc”. 
Tán rằng : người này thuộc đám vua chúa, vì Phật thuyết pháp ở đô thành của vua này, nên nêu riêng ra.
•Vi Đề Hy : tiếng Phạm gọi là Phệ Đề Tứ Phất Đát La, ở phương đây gọi là Tư Duy Tử. Nay giải thích rằng : Phệ, có nghĩa là thắng. Đề Tứ : có nghĩa là thân, là tên gọi của Đông Tỳ Đề Ha. Danh từ Tỳ Đề Ha đó là gọi theo giống đực, còn Phệ Đề Tứ là gọi theo giống cái. Đây là tên núi, cũng là tên thần trong núi đó. Vì cầu tự được từ núi đó, nên lấy đó mà đặt tên. Gọi là Vi Đề Hy là gọi sai. 
•A Xà Thế : tiếng Phạm A Xã Đa Thiết Đốt Lộ, ở đây gọi là Vị Sinh Oán, vì chưa sinh ra đã kết oán rồi. Gọi là A Xà Thế là gọi sai. Còn có tên là Chiết Chỉ (gãy ngón tay). Do tạo nghịch nghiệp, nên tuy đã nghe kinh tiểu thừasám hối rồi nhưng vẫn bị đọa xuống địa ngục Phách Cúc (địa ngục có hình phạt kẹp tay), sau được quả Độc giác.
Kinh Niết Bàn nói : “Xà vương (chỉ vua A Xà Thế) nếu chẳng gặp Kỳ Bà thì đến mồng bảy tháng sau sẽ bị đọa xuống địa ngục”. Được nghe kinh đại thừasám hối rồi thì chẳng bị đọa địa ngục nữa. Còn có kinh nói rằng : “sau khi sám hối thì chứng được Nhu thuận nhẫn”. Vì nêu tên mẹ lên để làm tên gọi nên gọi là “con Vi Đề Hy là vua A Xà Thế”. Thêm nữa, kinh Niết Bàn trình bày đầy đủ sự của vị này.
*
-Kinh văn : “Ai nấy đều lễ Phật rồi lui về ngồi ở một phía”. 
Tán rằng : kể ra điều thứ hai trong các chúng, nói rõ lễ nghi : tôn kính tình sâu, ai nấy đều lễ chân Phật rồi và lui về ngồi ở một phía mới thụ chính pháp
*
-Kinh văn : “Bấy giờ Thế tôn” tới “tôn trọng tán thán”. 
Tán rằng : trong Chúng thành tựu, văn chia làm hai. Trên kia đã liệt kê ra các chúng, bây giờ nói rõ uy nghi nơi Phật. Luận giải thích trong Chúng thành tựu có bốn điều, trên kia đã giải thích ba điều. Còn đây là điều thứ tư. 
Tứ chúng, xưa nói đó là quỷ, Phạm, Sa môn, Bà la môn. Ở đây nói đó là những hạng nổi trội trong Sắc giới thiên, Dục giới thiên và hạng thượng thủ trong loài người. Cho nên Khải Sư (Đại sư Trí Khải) nói bốn chúng gồm : 
1) Ảnh hưởng chúng, là hạng ngồi im lặng trong hội. 
2) Phát giáo chúng, đó là như Thu Tử và Di Lặc ba lần thỉnh Phật thuyết pháp.
3) Đương cơ chúng, thụ giáo ngộ giải.
4) Kết duyên chúng, là hạng lúc đó chưa ngộ giải, mới kết được nhân duyên sau này. 
• Còn có bốn chúng gồm Thanh văn, Bồ tát, khách chúng và cựu chúng. Theo chú thích của người xưa thì có nhiều nghĩa. Song đây là sớ văn của đời sau.
• Còn có bốn chúng gồm Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di.
Quây quanh thì gọi là vây. Diễu quanh chỗ ngồi thì gọi là nhiễu. Dâng bằng của cải bằng hành động thì gọi là cúng. Sùng ngưỡng thì gọi là kính. Kính lắm thì gọi là tôn. Tôn sâu thì gọi là trọng. Ca ngợi là hay là đúng lý thì gọi là tán. Đụng đến sự việc, mới hiểu rõ đức thì gọi là thán.
Luận giải có bốn điều : một là chúng vây quanh, hai là trước sau, ba là cung kính cúng dàng, bốn là tôn trọng tán thán. Trong luận lập lại kinh văn cũng giống như trong kinh này đều thiếu nghĩa “trước sau”. Nay cứ theo đúng lý thì phải nói rằng : “Bấy giờ đức Thế tôn được các tứ chúng vây quanh trước sau, cúng dàng cung kính, tôn trọng tán thán”, như vậy thì lời văn mới đầy đủ. “Trước sau” có nghĩa là ai nấy đều thấy Phật trước mặt mình, vì mình mà thuyết pháp. Tức là lấy hướng mặt ngoảnh vào là trước, chỗ chẳng hướng vào là sau. Khi nhìn thì mỗi người đều có thấy phía trước phía sau, chứ chẳng lấy phương hướng xứ sở làm trước sau.
*
-Kinh văn : “Vì các Bồ tát” tới “Pháp Phật Sở Hộ Niệm”. 
Tán rằng : đây tức là thành tựu thứ ba, tức Như Lai định thuyết pháp thì đến Thời thành tựu. Tóm lược có ba nghĩa :
1) Y vào người : trước tiên thuyết kinh đại thừa gọi là Vô Lượng Nghĩa cho các Bồ tát, sau đó mới thuyết nhất thừa cho Thanh văn.
2) Y vào lợi : trước tiên dùng giáo lý lợi tha của nhất thừa để giáo hóa cho Bồ tát căn cơ đã chín muồi, sau đó mới đem hạnh quả tự lợi của nhất thừa giáo hóa cho hạng Thanh văn sơ căn hồi tâm.
3) Y vào pháp : trước tiên nói về pháp thể, sau đó mới nói về công năng. Cho nên trước khi thuyết Kinh Pháp Hoa, thuyết Vô Lượng Nghĩa trước. Đó gọi là “tới lúc”.
Kinh đại thừa : đây là câu chung. Ngoài ra là câu riêng.
Thập Nhị Môn luận nói : danh từ đại thừa gồm sáu nghĩa như sau :
1) Hơn hẳn nhị thừa.
2) Thừa này là lớn nhất của Phật có thể tới đích.
3) Thừa này của Phật dùng.
4) Thừa này có thể diệt được khổ lớn, cho lợi lạc lớn.
5) Thừa này là của các bậc đại sĩ như ngài Quán Âm v.v… dùng.
6) Thừa này có thể thấu hết ngọn nguồn các pháp.
Nhiếp Đại Thừa luận nói rằng : “vừa là thừa (xe) lại vừa lớn, nên gọi là đại thừa. Đó tức là vạn hạnh”. Hoặc là thừa (xe) có thuộc tính là to lớn, nên gọi là đại thừa, tức đúng như cái nghĩa vận tải của loại xe này.
Kim Cương Bát Nhã luận của ngài Vô Trước nói rằng : bảy loại lớn danh tuy hơi khác song nghĩa giống như Đối pháp thứ 11. 
Đối pháp nói rằng : tức là tính chất của thừa này vì cùng tương ứng với tính chất của bảy loại lớn, cho nên gọi là đại thừa :
1) Tính lớn của Cảnh, vì đạo Bồ tát duyên vào trăm ngàn giáo, lấy đó làm sở duyên, cho nên đó gọi là pháp lớn.
2) Tính lớn của Hạnh, vì đủ hai lợi, nên đó gọi là tâm lớn.
3) Tính lớn của Trí, vì hiểu rõ hai Vô ngã, nên đó gọi là tín giải lớn.
4) Tính lớn của Tinh tiến, vì trải qua ba A Tăng Xí Đa tu tập trăm ngàn hạnh khó tu hành, nên đó gọi là tịnh tâm lớn.
5) Tính lớn của phương tiện thiện xảo, vì có đủ cả trí bi chẳng trụ ở sinh tửNiết bàn, nên đó gọi là tư lương lớn.
6) Tính lớn của sự chứng đắc, vì thành tựu được các công đức như mười lực, bốn vô uý v.v… , nên đó gọi là quả báo lớn.
7) Tính lớn của nghiệp, vì tận cùng cõi sinh tử, kiến lập Phật sự, cho nên gọi là đại thừa. Đó gọi là thời lớn.
Thể của thừa này căn bản tức là lý chân như vì là vô tướng. Điều này giống như trong Kinh Thắng Man.
• Kinh Thắng Man nói rằng : “nhất thừa tức là đại thừa, đại thừa tức là Phật tính, Phật tính tức là cõi Niết bàn. Cuối cùng thông với vạn hạnh, vì vừa là thừa lại vừa lớn, thể có bảy tính lớn thông với pháp hữu vi”.
Đến chương Nhất Thừa sẽ nói rõ ràng kỹ càng hơn. Đây là câu tổng quát.
Ba câu “gọi là Vô Lượng Nghĩa”v.v… là tên khác của kinh đại thừa được thuyết. Trong Chính Pháp Hoa chỉ có hai câu.
• 17 tên gọi của kinh đại thừaDiệu Pháp Liên Hoa.
Luận lập lại kinh văn có 17 danh, chính hợp với lời văn của luận, nên nói rằng : vì các Bồ tátthuyết kinh đại thừa tên là 
1. Vô Lượng Nghĩa.
2. Tốùi Thắng Kinh Điển.
3. Đại Thừa Phương Quảng.
4. Giáo Bồ Tát.
5. Pháp Phật Sở Hộ Niệm.
6. Chư Phật Bí Pháp
7. Chư Phật Đức Tạng. 
8. Chư Phật Mật Xứ. 
9. Năng Sinh Chư Phật.
10. Chư Phật Danh Đạo Tràng.
11. Chư Phật Pháp Luân, 
12. Kiên Cố Xá Lợi.
13. Thiện Phương Tiện
14. Tuyên Thuyết Xảo Nhất Thừa.
15. Đệ nhất nghĩa xứ.
16. Diệu Pháp Liên Hoa,
17. Tối Thượng Pháp Môn.
Luận rằng :
1) Vô Lượng Nghĩathành tựu Tự nghĩa, vì dùng pháp môn này mà thuyết pháp của cảnh giới rất thâm diệu ấy, vì cảnh giới thâm diệu tức là cảnh giới tối thắng của Phật, vì giáo pháp năng thuyên thuyết nghĩa ấy nên giáo cũng vô lượng. Do vậy tự giáo cùng nghĩa sở thuyên đều gọi là vô lượng.
Kinh Vô Lượng Nghĩa nói : “vì các chúng sinh tính dục vô lượng, nên pháp được thuyết giảng cũng vô lượng. Vì pháp vô lượng, nên nghĩa cũng vô lượng. Nghĩa vô lượng ấy từ một pháp sinh. Một pháp ấy tức là vô tướng. Vô tướng như vậy là vô tướng bất tướng. Vô tướng bất tướng gọi là thực tướng. Bồ tát Ma ha tát an trụ ở chân thực tướng như vậy rồi thì đức từ bi phát ra rõ ràng chắc chắn chẳng hề sai ngoa, thực sự có thể ở chỗ chúng sinhcứu khổ, đã cứu cho họ khỏi khổ rồi lại thuyết pháp cho họ, khiến cho các chúng sinh được hưởng thụ sự khoái lạc. 
Này thiện nam tử ! Bồ tát nếu tu được một pháp môn Vô Lượng Nghĩa như vậy, ắt được chóng thành vô thượng Bồ đề.
Này thiện nam tử ! Ví như một hạt giống có thể sinh ra trăm ngàn vạn hạt. Trong trăm ngàn vạn hạt ấy, mỗi hạt lại sinh ra trăm ngàn vạn số. Cứ xoay vần như vậy cho đến vô lượng. Kinh điển này cũng giống như vậy : từ ở một pháp sinh trăm ngàn nghĩa. Trong trăm ngàn nghĩa, mỗi nghĩa lại sinh trăm ngàn số, cứ xoay vần như vậy cho đến vô lượng vô biên nghĩa. Cho nên kinh này gọi là Vô Lượng Nghĩa”.
Luận chẳng những lấy giáo lý được sản sinh ra gọi là vô lượng, mà còn lấy chân trí cảnh làm thể của vô lượng, vì thể đó có thể thành tựu được cái thành tựu tự nghĩa kia.
2) Gọi là kinh điển tối thắng, vì là diệu tạng tối thắng trong tam tạng.
3) Gọi là kinh phương quảng đại thừa, vì kinh này đầy đủ trụ trì thành tựu, gồm vô lượng pháp môn đại thừa, tùy theo căn cơ đại thừa của chúng sinh.
4) Gọi là kinh dạy Bồ tát, vì kinh này nhằm hóa độ Bồ tát căn cơ đã chín, tuỳ theo pháp khí của họ mà có thể thành tựu được, chứ chẳng hóa độ cho các hạng nhị thừa.
5) Gọi là pháp được Phật hộ niệm, là vì y vào Phật mới có kinh này, y vào chỗ khác thì không có kinh này.
6) Gọi là bí pháp của chư Phật, là vì pháp này rất sâu, chỉ có Phật mới biết. Chữ bí ở đây cũng có nghĩa là tạng.
7) Gọi là đức tạng của chư Phật, vì tạng thiền định công đức chư Phật ở tại kinh này.
8) Gọi là mật xứ của chư Phật, bởi vì nếu căn chưa chín muồi, chẳng phải là pháp khí thì chẳng truyền thụ cho.
9) Gọi là kinh có thể sinh ra chư Phật, đó là vì nghe pháp môn này có thể thành Báo Hóa thân Bồ đề.
10) Gọi là đạo tràng văn tự của chư Phật, là vì chẳng phải là các kinh khác, mà chỉ có pháp môn này mới có thể thành được vô thượng Bồ đề, có thể tỏ rõ pháp thân trí của chư Phật.
11) Gọi là pháp luân của chư Phật, vì phá được các ám.
12) Gọi là xá lợi kiên cố, là vì công đức pháp thân của Tam Phật Như Lai (quá khứ, hiện tại, vị lai), kinh này đều có đủ mà chẳng hoại.
13) Gọi là thiện phương tiện, là vì y theo pháp môn này được thành Phật rồi, lại vì chúng sinhthuyết pháp năm thừa thiên, nhân v.v… là phương tiện thiện xảo của trí tuệ để thành Phật
14) Gọi là kinh tuyên thuyết xảo nhất thừa, là vì kinh này chỉ rõ vô thượng Bồ đề của Như Lai là thể cứu cánh, chứ nhị thừa chẳng phải là cứu cánh.
15) Gọi là đệ nhất nghĩa xứ, vì pháp môn này tức là trụ xứ cứu cánh của pháp thân Như Lai.
16) Gọi kinh này là Diệu Pháp Liên Hoa.
Luận có hai điều giải thích : một là ý nghĩa “xuất thủy”, lấy nghĩa sở thuyên mà gọi là Hoa. Hai là ý nghĩa “hoa khai”, lấy giáo năng thuyên mà gọi là Hoa. Tức là chứng trí rất sâu, A hàm rất sâu vậy.
“Xuất thủy” có hai nghĩa
1) Xuất thủy nghĩa là bất khả tận vì xuất ly nước bùn đục tiểu thừa. Đây nói về thể của hoa. Bồ tát đốn ngộ tính lìa nước bùn, pháp thể tính thường, nên bất khả tận. Đây nói về nhất thừa lý tính vượt ra khỏi nhị thừa nên gọi là xuất thủy.
2) Còn có nghĩa là hoa sen vượt ra khỏi nước bùn, ví với các Thanh văn vào ngồi trong chỗ đại chúng Như Lai, ví như các Bồ tát ngồi trên tòa hoa sen nghe thuyết về vô thượng trí tuệ thanh tịnh cảnh giới, chứng Như Lai mật tạng
Ý này nói rằng : Bồ tát ngồi trên hoa sen nghe thuyết vô thượng trí tuệ cảnh giới, có thể chứng được Như Lai thậm thâm mật tạng, Thanh văn hồi tâm rồi được ngồi vào trong đại chúng cũng như Bồ tát ngồi ở hoa sen nghe thuyết tuệ cảnh cũng chứng mật tạng.
Trước giải Bồ tát đốn ngộ Thể xuất. Đây giải tiệm ngộ rồi thì Dụng xuất. Chủ yếu là dùng giáo lý để hóa độ các Bồ tát, kèm theo giáo hóa cho cả nhị thừa, cho nên ở đây nói đến cái nghĩa “hoa khai”. Chúng sinh ở trong đại thừa nảy ra tư tưởng nơm nớp lo sợ vì tâm khiếp nhược nên chẳng thể sinh tín. Khai thị pháp thân tịnh diệu của Như Lai để khiến họ sinh tịnh tín.
17) Gọi là pháp môn tối thượng, vì nhiếp thành tựu.
“Nhiếp thành tựu” có nghĩa là nhiếp thủ vô lượng danh cú tự thân, Tần Bà La, A Sấm Bà kệ v.v… đây là căn bản, nhiếp thủ hết thảy danh cú tự nghĩa khác, cho nên gọi là tối thượng. Đây chính là sở thuyên, là cửa của pháp tối thượng năng thuyên sở thuyên khác. Năng thuyên cũng là cửa của pháp năng thuyên sở thuyên khác, vì nhiếp thu hết thảy danh, cú, tự v.v…
+ Tần Bà La : là số thứ 18 trong 52 số tiểu thừa.
+ A Sấm Bà : là số thứ 20. Đây là số kệ tụng của kinh giáo đại thừa khác. Đây đều là năng nhiếp, nên gọi là pháp môn, tức là vô số kệ.
Luận nói rằng trong 17 câu, đây là câu nêu ý tổng quát, còn các câu khác là các câu nêu các ý tách biệt.
Kinh này chỉ có ba :
1) Vô lượng nghĩa thể dụng thắng.
2) Giáo Bồ tát pháp hóa căn thục. 
3) Được Phật hộ niệm, y vào Phật mà có.
Ba nghĩa nổi trội, nên đặc biệt phải nói đến.
-HỎI : tên thứ 16 của Kinh Vô Lượng Nghĩa còn gọi Diệu Pháp Liên Hoa. Nay nói Kinh Vô Lượng Nghĩa rốt ráo nhập Vô Lượng Nghĩa Xứ tam muội, từ tam muội đó khởi lên mới thuyết kinh này cũng gọi là Diệu Pháp Liên Hoa. Vậy hai tên gọi đó khác nhau ở chỗ nào ?
ĐÁP : có năm cách giải thích :
1) Gọi là Liên Hoa vì được đặt tên theo cả hai thời kỳ, như hoa sen kia lúc chưa ra khỏi mặt nước, vì bản tính của nó là có thể ra khỏi mặt nước nên vẫn gọi là hoa sen. Kinh kia cũng thế, thuyết về tính của trí tuệ là có thể ra khỏi được nước, bấy giờ tính có thể khai phô vẫn chưa được dùng để hóa độ cho nhị thừa hướng tới nhất thừa. Nay kinh này chính là để hóa độ họ ngộ nhập địa vị đại thừa vượt ra khỏi nhị thừa, nên như hoa sen khi đã ra khỏi nước rồi cũng vẫn gọi là Liên Hoa.
Kinh kia chính danhVô Lượng Nghĩa, bàng danh là Diệu Pháp Liên Hoa, vì chủ yếu nhằm vào Bồ tát, thứ nữa mới là khiến Thanh văn nghe rồi, tín giải chẳng ngu về pháp, sau đó mới hóa nhập.
Kinh này chính danhDiệu Pháp Liên Hoa, cũng được bàng danh là Vô Lượng Nghĩa, vì mục đích chính là hóa độ Thanh văn ngộ nhập nhất thừa. Thời vị tuy có khác, nhưng thể tính không hai. Cho nên khi sắp thuyết kinh này thì trước tiên nhập Vô Lượng Nghĩa Xứ tam muội.
2) Kinh Vô Lượng Nghĩa gọi là Pháp Hoa cùng với kinh này danh thể không hai.
- Vì thời đó chỉ giáo hóa Bồ tát, chưa có nhị thừa hướng tới nhất thừa, nên thuyết Giáo Lý dựa vào diệu lý chân như, chính danh gọi là Vô Lượng Nghĩa, bàng danh gọi là Diệu Pháp Liên Hoa.
- Vì lúc này giáo hóa cho hạng nhị thừa kia hướng tới nhất thừa, nên thuyết năng y Hạnh Quả, chính danh gọi là Diệu Pháp Liên Hoa, vì như hoa sen ra khỏi mặt nước, nhưng vẫn được bàng danh là Vô Lượng Nghĩa.
3) Kinh kia căn cứ vào Thể của trí tuệ mà gọi là Pháp Hoa, kinh này căn cứ vào công năng của trí tuệ mà gọi là Pháp Hoa, vì hội hợp hai thứ mà quy về một vậy.
4) Thêm nữa, kinh kia lấy giáo lý gọi là Liên Hoa, vì Bồ tát đã tu nhân của nhất thừa, hướng tới quả nhất thừa, nên chẳng vì họ mà thuyết Hạnh Quả nhất thừa gọi là Pháp Hoa. Bởi vì họ chẳng biết giáo lý cho thuốc theo bệnh, nên chỉ thuyết giáo lý gọi là Pháp Hoa.
Nay trong hội này nhị thừa chưa thể cho thuốc theo bệnh, nên chẳng vì họ mà thuyết giáo lý Liên Hoa, chỉ thuyết cho họ hai thứ hạnh quả gọi là Liên Hoa khiến họ hướng tới mà ngộ nhập. Cho nên kinh phần dưới nói rằng : “cưỡi xe báu này thẳng tới đạo tràng”. Đó là hoa Nhân Hạnh vậy. Chỉ dùng Phật tri kiến mà khai thị giác ngộ cho chúng sinh v.v… đó là quả Liên Hoa.
Thêm nữa, trong khai thị ngộ nhập, Luận tự giải rằng : “Khai có nghĩa vô thượng. Thị tức là đồng nghĩa. Ngộ có nghĩa là chẳng biết. Nhập là khiến chứng nhập Bất thoái địa”. Ba thứ đầu là quả, một thứ sau là nhân. Kinh Thắng Man cũng thế vì chỉ thuyết nhân quả nhất thừa gọi là nhất thừa.
5) Kinh kia lấy hai loại Giáo, Lý gọi tên là Liên Hoa; kinh này đối với Giáo, Lý, Hạnh, Quả của nhị thừa đó đều gọi là Liên Hoa, vì nghĩa trọn vẹn.
Như trên đã nói, ba nghĩa đầu giải thích kinh kia kinh này về Thể đều giống nhau, hai nghĩa sau giải thích kinh này rộng và kinh kia hẹp. 
Do nghĩa này nên Kinh Vô Lượng Nghĩa kia chỉ căn cứ vào hai nghĩa mà gọi là vô lượng : một là Pháp, hai là Nghĩa.
Luận rằng : vì thành tựu Tự Nghĩa (nên gọi là Kinh Vô Lượng Nghĩa). Tự là giáo pháp. Nghĩa là những điều giải thích.
Kinh Vô Lượng Nghĩa kia nói rằng : “vì chúng sinh tính dục vô lượng, nên pháp cũng vô lượng. Vì pháp vô lượng nên nghĩa cũng vô lượng. Vô lượng nghĩa ấy từ một pháp sinh. Một pháp ấy tức là vô tướng”.
Song nay kinh này tuy lúc đầu tán dương Giáo, Lý, nhưng phần kinh văn sau phần nhiều gọi Hạnh, Quả là Liên Hoa, vì thực thể các chỗ kinh văn trên dưới cũng chung cho cả Giáo, Lý, Hạnh, Quả.
Cách giải thích sau là hay. Pháp Hoa đã vậy, nhất thừa cũng thế. Cứ theo như đây, chắc chắn sẽ đều hiểu hết.
*
-Kinh văn : “Phật thuyết kinh này xong” tới “thân tâm chẳng động”. 
Tán rằng : đây là thành tựu thứ tư, là thành tựu dựa vào uy nghi tùy thuận để thuyết pháp mà an trụ. Trụ có nghĩa là y chỉ an xử. Ở đây nói rõ là y chỉ an xử ở uy nghi cần dựa vào để thuyết pháp, tùy thuận quỹ tắc thuyết pháp. Điều này đúng ra phải nói là thành tựu trụ ở uy nghi tùy thuận cần dựa vào để thuyết pháp.
“Thuyết kinh Vô Lượng Nghĩa xong thì ngồi kiết già” biểu hiện trí xứ thâm lý mới có thể thuyết pháp. Như thuyết Bát Nhã trước hết phải trụ ở niệm đối diện, sau đó khởi lên rồi mới thuyết kinh.
• Ngồi có hai tướng (tức hai kiểu) : 
1) Ngồi kiểu hàng phục, lấy chân trái đè lên chân phải.
2) Ngồi kiểu cát tường, lấy chân phải đè lên chân trái. Nay sắp thuyết pháp thì ngồi theo tướng cát tường
* Gia : có nghĩa là chồng, tức chân chồng chéo nhau. Có chỗ viết là “già” [ 跏 ] chẳng biết chữ này từ đâu mà ra.
Ở đây nói rõ y chỉ an xử ở quỹ nghi như thế nào mà thuyết pháp. Nay y theo ba loại nghi quỹ :
1) Y vào Tam muội thành tựu, đó là nhập vào Tam muội, thân tâm chẳng động.
2) Y vào khí thế gian, đó là trời mưa bốn loại hoa, đất động theo sáu cách.
3) Y vào chúng sinh thế gian, đó là bốn chúng tám bộ hoan hỷ v.v…
Nhập định chứng chân, khởi báo muôn vật, chúng sinh hoan hỷ, nên chia làm ba loại. Chẳng phải chỉ an toạ mà đã gọi là uy nghi
Tam s muội : tiếng Phạm là Tam Ma Địa, ở phương đây gọi là Đẳng trì, nghĩa là bình đẳng trì tâm mà đạt tới cảnh, đó tức là định vậy. Gọi là Tam-muội, đó là phiên sai.
Phép định do quán lý vô tướng, đó gọi là Vô Lượng Nghĩa Xứ tam muội.
s Xứ : chỉ xứ sở. Vô Lượng Nghĩa : các nghĩa được giải thích trong giáo lý Vô Lượng Nghĩa. Nhân chân lý mà sinh ra nên thuyết chân lý, đó gọi là Xứ.
Luận giải thích điều thứ nhất : y vào Tam muội thành tựuhai nghĩa :
1) Thành tựu lực tự tại vì thân, tâm chẳng động. 
Có nghĩa là nếu chẳng nhập Tam muội, có sự phân biệt dao động, thế thì chẳng thể chứng thuyết tự tại. Nay nhập Tam muội, thân tâm chẳng động, lìa sự phân biệt dao động, do đó mà có được û năng lực chứng thuyết tự tại, nên gọi là thành tựu lực tự tại, thân tâm chẳng động.
2) Lìa mọi chướng, vì theo lực tự tại.
Có nghĩa là được nhập Tam muội, lìa các định chướng, tùy thuận ở pháp, chứng thuyết tự tại. Vì nếu có định chướng thì sẽ chẳng tự tại trong việc chứng và thuyết. 
Sau đó luận giải thích riêng lực tự tại trên có 
hai :
- Một là tuỳ thuận chúng sinh chẳng thấy pháp đối trị, nhiếp thủ, giác sát Bồ đề phần. Đây là giải thích lực tự tại ban đầu. Ý nói các chúng sinh chẳng thể tự nhiên thấy đạo đối trị vô lậu, mà phải tư duy, giác sát mới thấy được. Nay Phật cũng thế, tuỳ thuận chúng sinh chẳng thể tự nhiên thấy được đạo đối trị. Cho nên Phật nay cũng nhập định, tư duy, nhiếp thủ để giác sát Bồ đề phần của đạo đối trị vô lậu.
- Hai là để đối trị phiền não kiên chấp từ đời vô thủy tới nay. Đây là giải thích lực tự tại tùy thuận. Phiền não kiên chấp chỉ sự phân biệt dao động. Vì phân biệt dao động nên tâm thị phi khởi lên. Vì tâm thị phi khởi lên, nên sinh ra ái huệ hoặc (phiền não do sự yêu ghét gây ra). Ái huệ hoặc nảy sinh thì các nghiệp khởi lên. Vì các nghiệp khởi lên, nên bị nhiều nỗi khổ xoay vần. Nay để đối trị cái tâm pháp chấp phân biệt dao động này, nên nhập Tam muội lìa Kiên chấp hoặc.
Luận còn giải thích rằng : do nhập định nên có thể động được thế giới và biết được mọi sự trong vô lượng vô biên kiếp thời quá khứ. Chẳng nhập định thì thần biến chẳng khởi, chẳng biết hình tướng đã thị hiện trong đời quá khứ
-HỎI : Phật không lúc nào không định tâm, hành, trụ thường ở trong định, chẳng khởi diệt định mà hiện uy nghi. Nay cần gì mà phải nhập ?
ĐÁP : có mười nghĩa (tức mười lý do). 
1) Nhập định hay xuất định đều tùy duyên, động hay tĩnh đều là để làm lợi ích cho ngoại vật (chỉ chúng sinh).
2) Nếu chẳng nhập định thì không có cách nào để mà phóng quang thị hiện các điềm lành. Nếu chẳng nhập định thì e rằng sẽ chẳng phải là điềm lành của Phật.
3) Để tỏ rõ sự xem xét căn cơ khi định thuyết pháp.
4) Để tỏ ra pháp này đặc biệt diệu mầu, nên nhập định quán sát khiến người nghe pháp tôn trọng.
5) Để tỏ rõ tuệ ắt phải do chứng lý nhập định mới có thể khởi lên được, nên làm mẫu mực cho kẻ hậu học khiến họ tu định, tuệ.
6) Thị hiện định tuệ viên mãn, vì thuyết pháp thể hiện tuệ mãn, nhạâp định thể hiện định mãn.
7) Để làm mẫu mực cho đời mạt thế, khi thuyết pháp trước hết phải tự tĩnh tâm.
8) Thị hiện tướng thông minh giỏi tư duy, cũng là để khiến người khác phải xét kỹ sự thật.
9) Nhập định thị hiện điềm lành để phát khởi ba lần vấn đáp. Nếu chẳng như thế thì không có sự thưa hỏi của ngài Di Lặc v.v…
10) Để thể hiệntam mật : nhập địnhý mật, phóng quangthân mật, thuyết phápngữ mật.
Nên có bài tụng rằng :
Tùy,Thụy, Thẩm, Diệu, Sư.
Mãn, Vị, Tư, Vấn, Mật.
(Tùy duyên, điềm lành, sâu xét,
Diệu mầu, mẫu mực, viên mãn,
Tĩnh tâm, tư duy, vấn đáp
Với thêm Mật ngữ là mười).
-HỎI : sắp thuyết kinh Pháp Hoa, cớ sao lại phải nhập Vô Lượng Nghĩa định. Vì sao mà chẳng nhập Pháp Hoa tam muội
ĐÁP : tức như khi sắp thuyết Kinh Bát Nhã, trước hết cũng phải nhập định. Kinh Năng Đoạn nói : “sửa sang cho thân mình ngay ngắn, tâm nguyện đúng đắn, trụ ở niệm đối diện, rồi sau mới thuyết pháp”. Đây cũng như vậy, trước tiên nhập Vô Lượng Nghĩa tam muội, rồi sau mới thuyết Kinh Pháp Hoa, vì thể của Pháp Hoavô lượng nghĩa, nên Pháp Hoa tam muội tức là Vô Lượng Nghĩa tam muội. Kinh Vô Lượng Nghĩa thuyết cho Bồ tát, Kinh Pháp Hoa thuyết cho Thanh văn.
Nội dung Kinh Vô Lượng Nghĩa là sản sinh ra vô lượng nghĩa, công năng của Kinh Pháp Hoa là vượt ra khỏi nhị thừa. Nội dung, công năng dẫu khác, song thực chất hai kinh đó là một, cho nên lúc sắp thuyết Pháp Hoa, trước tiên phải nhập Vô Lượng Nghĩa tam muội
Hạ văn cũng có chỗ nói đến sự ngộ nhập Pháp Hoa tam muội mà không nói đến sự nhập Vô Lượng Nghĩa tam muội, đó chỉ là do yêu cầu “tùy cơ tế vật” (tùy theo căn cơhóa độ chúng sinh) cần phải dùng phương tiện thiện xảo mà thôi. Danh tuy có hai, mà thực thể chẳng khác. 
Thêm nữa, lại vì Giáo, Lý, Hạnh, Quả khác nhau, như trên đã nói. Ngoài ra, trước tiên cần quan sát pháp thể chân như, sau đó mới thuyết Kinh Pháp Hoa nói về nhân quả công năng.
*
-Kinh văn : “Bấy giờ trời mưa” tới “cùng các đại chúng”. 
Tán rằng : ở đây nói rõ khí thế gian có hai : một là mưa hoa, hai là động đất. 
Nay ở đây giải mưa hoa : 
Hoa f Mạn Đa La, ở phương đây gọi là Thích Ý, vì ai nhìn thấy trong tâm sẽ ưa thích
Hoa f Mạn Thù Sa, ở đây gọi là Nhu Nhuyễn, vì thể hoa nhu nhuyễn cũng khiến cho người nào nhìn thấy sẽ lìa được ba nghiệp Cương Chiếu Khoáng. 
Ma f ha , có nghĩa là đại (lớn).
Kinh mới dịch gọi là hoa Thích Ý, hoa Đại Thích Ý, hoa Nhu Nhuyễn, hoa Đại Nhu Nhuyễn. Theo đúng như thứ tự tức là bốn loại hoa trong kinh này, ý muốn nói rõ pháp làm vui lòng mọi người, điều phục ba nghiệp
Cũng có chỗ nói chữ Vũ trong “Thiên vũ” âm đọc là Vu.
• Hoa có năm đức : 
1) Át mùi thối tha, biểu trưng cho việc đã nghe pháp rồi thì mây chướng cấu bị tiêu tan.
2) Quốc độ nghiêm tịnh, biểu hiện đã nghe pháp rồi thì dùng các điều thiện tô điểm cho bản thân. Nên phần dưới của kinh nói rằng : “mà thế giới này hết thảy đều trang nghiêm thanh tịnh”.
3) Phô vẻ tốt tươi, nhìn thấy cả đài, biểu trưng cho việc Phật sắp khai thị, tuyên thuyết nhất thừa.
4) Sau hoa kết quả, biểu hiện sau khi nghe pháp rồi thì chứng được Bồ đề.
5) Mùi thơm bay xa, người ta ngửi thấy đều hoan hỉ ưa thích, tượng trưng cho Phật đức bên trong đầy đủ, danh vang khắp mười phương, chúng sinh người nào được nghe cũng đều tôn sùng ngưỡng mộ.
Chỉ mưa hoa này, chẳng phải hoa khác : vì tượng trưng cho việc nghe kinh này rồi thì phát tâm hoan hỷ ưa thích, lìa cái tâm ương ngạnh cố chấp của nhị thừa.
Thêm nữa, khi sắp khai thị Giáo Lý Hạnh Quả nhất thừachân thực, cũng khai thị bốn pháp nhị thừa coi đó là quyền tích. Cho nên mưa bốn hoa cũng là để độ cho bốn loại chúng sinh (tức Nỗn, Thai, Thấp, Hóa), phát bốn niệm trụ, tu bốn chính cần, được bốn thần túc, thực hành bốn pháp tích, chứng bốn đế lý, chặn bốn dòng, đoạn bốn hệ phược, khử bốn ách, được bốn Diệu âm, ngộ bốn Niết bàn, chứng bốn đức. Mưa bốn hoa này chẳng tăng chẳng giảm, rắc hoa lên Phật để tỏ ý cúng dàng, biểu hiện bốn việc của Phật đã xong xuôi. Cùng đại chúng lấy bóng rợp mà che chở cho chúng sinh, thể hiện đại chúng cũng sẽ thành bốn chúng.
*
-Kinh văn : “Khắp thế giới Phật sáu loại chấn động”. 
Tán rằng : nơi đức Thích Ca cai quản là tam thiên đại thiên, gọi là thế giới Phật. Thế giới Phật đó đều động, nên gọi là khắp thế giới Phật đều động. Đó là động xứ vậy. Trong bài tụng ở dưới nói : “và thế giới này sáu loại chấn động”, cho nên biết rằng chỉ động thế giới Thích Ca, chứ chẳng phải là động mười phương thế giới.
Hoặc việc động khắp này giống như việc phóng quang chiếu sáng. Chẳng thế thì phóng quang cớ sao lại rộng mà động giới lại hẹp ? Hạ văn chỉ căn cứ vào chỗ gần, nói rõ việc hóa độ cho thế giới này bỏ qua quyền lấy thực. Hoặc y theo điều giải thích ban đầu, chỉ có thế giới này động, rõ ràng bỏ quyền lấy thực.
Chấn : có nghĩa là “động” là “khởi”.
- Về Lục động có ba :
1) Sáu thời động : Kinh Trường A Hàm nói : “đó là nhập thai, xuất thai, xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân, nhập Niết bàn”. Thời nay động là thời chuyển pháp luân.
2) Sáu phương động : Kinh Bát Nhã tập thứ tám nói : “đó là Đông dềnh thì Tây chìm, Tây dềnh thì Đông chìm, Bắc dềnh thì Nam chìm, Nam dềnh thì Bắc chìm, giữûa dềnh thì rìa chìm, rìa dềnh thì giữa chìm”. Nay sáu phương động này có tất cả.
3) Sáu tướng động : Kinh Đại Bát Nhã nói: “(sáu tướng) đó là Động, Dũng, Chấn, Kích, Hống, Bộc”. Lung lay chẳng yên thì là Động. Dập dềnh lồi lõm thì gọi là Dũng, hoặc sáu phương nổi chìm là Dũng. Có tiếng động ngầm là Chấn. Xưa gọi từ thấp mà lên cao là khởi, nay gọi có sự va đập là Kích. Vang động ầm ầm là Hống. Xưa gọi làm cho chúng sinh tỉnh giấc là giác, nay gọi phát ra tiếng động, làm cho giật mình là Bộc.
Mỗi loại này lại có ba mức độ, (nhân lên gộp lại) gọi là 18 tướng động. Kinh Bát Nhã nói : “đó là Động, Đẳng động, Đẳng cực động cho đến Bộc, Đẳng bộc, Đẳng cực bộc. Chỉ động khe khẽ gọi là Động. Các nơi đều động thì gọi là Đẳng động. Khắp nơi động to thì gọi là Đẳng cực động.
Những điều khác đều căn cứ vào đây mà suy ra thì biết. Nay đây chỉ nêu chung gọi là Lục động. Chỉ là một chấn động trong 18 biến.
Kinh Thắng Tư Duy Phạm Thiên nói rằng có bảy nhân :
1) Để làm cho các ma phải kinh sợ. 
2) Để khiến đại chúng đương thời chẳng khởi tán tâm.
3) Để cho kẻ phóng dật phải tự giác ngộ.
4) Để họ nhớ pháp tướng
5) Để khiến họ quan sát thuyết xứ. 
6) Để người thành tựu được giải thoát
7) Để khiến họ tùy thuận mà hỏi nghĩa chính.
Nay cũng có thể như thế, nên thị hiện động tướng.
*
-Kinh văn : “Bấy giờ trong hội” tới “một lòng ngắm Phật”. 
Tán rằng : đây là chúng sinh thế gian. Có bốn : một là bốn chúng, hai là tám bộ, ba là hai vua, cuối cùng là kết : hoan hỉ.
• Tiếng Phạm : Ô Ba Sách Ca, Ô Ba Tư Ca. “Ô Ba” có nghĩa là cận. “Ca” là sự. “Sách” là âm chỉ đàn ông. “Tư” là âm chỉ đàn bà, vì các nam nữ thụ giới rồi thì có thể gần gũi phụng sự Tỳ kheo, Tỳ kheo ni chúng, cho nên gọi là Cận sự nam, Cận sự nữ. Xưa phiên là Ưu bà tắc, Ưu bà di, và gọi tên là Thanh tín nam, Thanh tín nữ. Đó đều là sai.
- Dạ xoa : ở phương đây gọi là Dũng kiện. Bay trên không trung, lướt trên mặt đất giống các La sát.
- La Sát : có nghĩa là Bạo ác, còn gọi là Khả úy (đáng sợ) các từ đó đều phiên âm sai.
Đúng với tiếng Phạm thì phải phiên âm là: Dược Xoa, La Sát Sa.
• Tiếng Phạm gọi là Mạc Hô Lạc Già, ở phương đây gọi là Bụng to, chỉ cho các loài bò bằng bụng như trăn lớn, rồng đất. Gọi là Ma Hầu La Già là phiên âm sai. Các điều khác thì như trên đã nói.
- Chuyển luân thánh vương : có bốn loại. Bài tụng của Kinh Nhân Vương nói :
Bồ tát thập thiện phát tâm lớn,
Lìa hẳn biển khổ trong ba cõi,
Trung hạ phẩm thiện : Túc tán vương,
Thượng phẩm thập thiệnThiết luân vương,
Tập chủng đồng luân : hai thiên hạ,
Ngân luân : ba trời Tính chủng tính,
Nòi đạo đức bền : Chuyển luân vương,
Ánh vàng bảy báu : bốn thiên hạ.
Ở đây ba chủng tính khác với các kinh khác, vị Kim luân cũng khác với Kinh Thập Địa.
Tùy theo từng hội mà giải thích như Kinh Vương Pháp Niệm hội thứ hai, Du Già hội thứ tư, thuyết rộng về các tướng nghiệp quảv.v… tùy theo sự ứng cảm mà được bốn luân : Kim, Ngân, Đồng, Thiết, các vật như bảy báu v.v… để mà giáo hóa chúng sinh
Đại chúng nhìn thấy thần biến hiếm có kỳ lạ, chứng được pháp vị tằng hữu (chưa từng có), phát thắng tâm cùng hoan hỷ với chúng sinh bát bộ, chắp tay lắng lòng lắng nghe, nhất tâm nhìn Phật, mong Phật phát lời vàng.
*
-Kinh văn : “Bấy giờ Phật phóng ra tướng hào quang trắng từ giữa hai lông mày”. 
Tán rằng : đây là thành tựu thứ năm : thành tựu y chỉ vào thuyết nhân. Luận có hai điều giải thích
1) Các đại chúng kia hiện đang thấy tướng lạ, thấy sự chẳng thể nghĩ bàn, nghĩ rằng Như Lai chắc sẽ thuyết pháp cho ta, cho nên khao khát ngưỡng mộ muốn được nghe sinh tâm hy hữu. Đó gọi là thành tựu y chỉ thuyết nhân.
Bởi vậy mới phóng đại quang minh, thị hiện biết bao nhiêu sự trong các thế giới. Đức Phật thuyết pháp ắt để tế độ chúng sinh, chúng sinh phát tâm khát ngưỡng hy hữu, đó gọi là thuyết nhân. Nay sắp thuyết pháp cái nhân để y chỉ vào là nhân chúng sinh hy vọng khát ngưỡngthuyết pháp cho họ. 
Phóng quang chiếu xa, tướng lạ khó biết. Đại chúng nhìn thấy hào quang liền dấy chính niệm : Phật sắp thuyết cho, vì vậy khao khát ngưỡng mộ, mong muốn được nghe. Họ đã sinh tâm hy hữu, thì sau đó phải nên thuyết pháp cho họ. Bởi vậy phóng quang có thể làm nảy sinh cái tâm khát ngưỡng của chúng sinh, cho nên gọi là thuyết nhân.
2) Trước tiên thị hiện các hiện tượng bên ngoài như sáu loại chấn động v.v… , sau đó thị hiện pháp môn này là pháp thâm mật chứng được bên trong. Bởi vậy trước tiên thị hiện sự thần thông ở bên ngoài, biểu hiện Phật thuyết pháp môn này chính là do bên trong chứng được pháp thâm mật. Lại do bên trong chứng được pháp thâm mật cho nên mới thị hiện thần biến ra bên ngoài. Thần biến đã tỏ rõ, biểu hiện Phật sẽ thuyết pháp đã chứng được, cho nên gọi là thuyết nhân. Dẫu trước đó có mưa hoa động đất, nhưng đó vẫn chưa phải là khả năng đặc biệt tuyệt vời. Nay phóng thần quang lại càng rất là kỳ diệu hiếm có. Do bên trong chứng được pháp thâm mật, nên những điều thị hiện ra ngoài khó thể nghĩ bàn. Do thuyết nhân này mà chỉ nêu riêng điềm lành này.
Trong này có ba ý : một là phóng quang, hai là chiếu cảnh, ba là điều sở kiến.
Đây là ý đầu tiên : 
- Lông mày : là vẻ đẹp của đầu mặt. Tượng trưng cho điều Phật thuyết là vẻ đẹp của tông đại thừa rất tốt đẹp hoàn mỹ.
- Giữa : tức là ở chính giữa của hai bên, biểu trưng cho việc thuyết trung đạo.
- Trắng : là gốc của các màu, thể hiện pháp này là nguồn gốc của tam thừa, bởi vậy ví với hoa sen trắng, với trâu trắng kéo xe.
- Hào : là lông dài, cũng có chỗ nghĩa là lông tơ.
Kinh Quán Phật Tam Muội Hải, quyển thứ nhất nói: “lúc Phật còn là thái tử, lông mày duỗi ra dài năm thước, lúc ở dưới cây thì dài một trượng bốn thước năm tấc, khi thành Phật rồi thì dài một trượng năm thước. Khi phóng hào quang thì có mười cạnh hiện ra, trong ngoài ánh sáng đều đều vắng bặt rỗng rang, xoắn tròn lại như trăng thu tròn, rành rành màu trắng toát ánh lên như tuyết như ngọc, chu vi tới ba tấc”.
- Hào quang có bảy ý nghĩa
1) Để khiến người ta sinh lòng tịnh tín, biết đó là người hơn người.
2) Xua tan tối tăm, trừ sạch ngu si.
3) Có thể đưa người ta tới chỗ sáng, vì dẫn người ta xuất thế
4) Biểu hiện từ trong phát ra Trí quang.
5) Cứu khổ cho chúng sinh, do phóng quang soi sáng, nên mọi nỗi khổ của chúng sinh đều bị diệt trừ.
6) Cảnh tỉnh chúng sinh, do nhìn thấy ánh quang minh mà những kẻ có duyên đều tới. 
7) Khiến chúng sinh chán ghét sắc cảnh. Các chúng sinh v.v… tham cảnh sinh tử, lâu ngày chìm đắm trong vòng sinh tử, nhìn thấy ánh quang minh của Phật, bèn chán sắc sinh tử, cho nên Phật mới phóng quang.
Kinh Niết Bàn nói : “Phật phóng Tứ quang ra từ diện môn” (Tứ quang : bốn màu xanh, vàng, đỏ, trắng)
Kinh Thượng Sinh nói : “khắp cả thân Phật tỏa ra sắc vàng ròng”. Nay nói từ giữa hai lông mày phóng ra bạch quang. Mỗi thứ đều có ý nghĩa biểu trưng riêng vậy. 
Thần cảnh Trí thông có 18 biến :
1) Chấn động. 10) Đồng loại vãng thú. 
2) Rực cháy. 11) Ẩn.
3) Lưu bố. 12) Hiển. 
4) Thị hiện. 13) Sở tác tự tại.
5) Chuyển biến. 14) Chế tha thần thông
6) Vãng lai. 15) Năng thí biện tài
7) Cuộn lại. 16) Năng thí ức niệm
8) Duỗi ra. 17) Năng thí an lạc
9) Các tượng nhập thân. 18) Phóng đại quang minh.
Mưa bốn hoa là tự tại biến. Sáu loại chấn độngchấn động biến. Phóng quang ở đây là lưu bố biến. Thấy sáu đường v.v… là thị hiện biến. Phần dưới phẩm Thần Lực sẽ nói rõ ràng đầy đủ.
*
-Kinh văn : “Chiếu ở phương đông” tới “trời A Ca Ni Tra”. 
Tán rằng : đây là ý thứ hai, tức là chiếu cảnh. Một thế giới là một Tam thiên giới. Chiếu một vạn tám ngàn thế giới Phật. Chỉ chiếu phương đông, vì từ tây vực trở về đông là trên, biểu thị cái ý Kinh Pháp Hoa chỉ độ cho hạng có căn cơ đại thừa Phật tính, chẳng độ cho các hạng khác, nên chẳng chiếu nơi khác . Ví như mặt trời mọc trước tiên chiếu vào cao nguyên, mặt trời Phật cũng thế trước tiên chiếu soi hạng căn cơ đã chín, cho nên nêu phương đông ra. Đó là có ý nghĩa biểu trưng vậy.
Trong Chính Pháp Hoa cũng chiếu phương đông, không hề có lời văn nào nói chiếu nơi khác.
“Vạn” g : là số đầy đủ; “Tám” (8) : là số chẳng đủ, biểu thị đây nói về nhất thừachân thực, là đầy đủ, thể hiện nhị thừa kia chỉ là quyền tích chẳng đầy đủ.
Thêm nữa, “Vạn” : tượng trưng cho muôn đức của Bảo sở Niết bàn. “Tám” : tượng trưng Bát chính đạoxe trâu của Bồ đề, vì hai thể đó đều là nhất thừa. Kinh này sắp thuyết, kinh này làm cho người mà nghe đến tột bậc thì được viên thành. Cho nên chỉ chiếu thế, chẳng tăng chẳng giảm. 
“Dưới g chiếu địa ngục” : có nghĩa là nơi nào có khổ thì đều cứu vớt. 
“Trên g tới tận trời” : có nghĩa là khuyến khích nơi đã sướng vẫn cầu đạo nhất thừa. Ánh từ bi của Phật rộng khắp hễ đâu có duyên thì đều soi tới. Chúng sinhđịa ngục tuy không tới hội, tuy không có tâm dung dự (tâm chuẩn bị tiếp thu), nhưng cũng chiếu tới để họ khỏi khổ.
•Tiếng Phạm : A Tỳ Chí, ở phương đây gọi là Vô gián, vì trong tám địa ngục đây là thấp nhất, bị khổ không ngừng, nên gọi là vô gián
•Tiếng Phạm : Nại Lạc Ca, ở phương đây gọi là Khổ khí, còn gọi là Bất khả lạc, còn gọi là Phi pháp hành xử, tức là tạo Phi pháp hành xử ở khắp mọi nơi, nay gọi là địa ngục, đó là gọi theo nơi căn bản to lớn mà thôi.
•Tiếng Phạm : A Ca Ni Sắt Đế, ở phương đây gọi là Chất Ngại Cứu Cánh. A Ca : có nghĩa là Chất ngại, Ni Sắt Đế : có nghĩa là Cứu cánh. Gọi A Ca Ni, đó là gọi sai. Đây là đỉnh hữu hình của Sắc Cứu Cánh thiên, là nơi hào quang có thể tới được. Chẳng chiếu Vô sắc giới, vì ở đó không có xứ.
g Chữ Mị : có nghĩa như chữ Vô (không, không có). Bàng chiếu một vạn tám ngàn cõi, bao quát cả năm nẻo ở trên ở dưới, không đâu không khắp.
Chấn động, chỉ ở thế giới này, nhằm thức tỉnh riêng những kẻ có duyên. Phóng quang chiếu tới một vạn tám ngàn cõi, đó là để thể hiệnquyền thực, cũng như hào quang chiếu ra, năm nẻo đều được soi. Nhưng những kẻ có duyên tập hội nghe kinh, chỉ ở bốn nẻo.
*
-Kinh văn : “Ở thế giới này” tới “chúng sinh sáu nẻo”. 
Tán rằng : ở đây thuyết minh về những thứ được chiếu. Gồm có bảy thứ : 
1) Lục thú. 3) Pháp. 
2) Phật. 4) Tứ chúng.
5) Bồ tát. 7) Khởi tháp. 
6) Nhập Niết bàn
Bảy thứ này lại chia làm ba : 
- Một là thấy cảnh sinh tử trầm luân.
- Hai là thấy Tam bảo xuất hiện
- Ba là thấy cảnh tượng tiến hành giáo hóa chúng sinh sau khi Phật diệt độ, để khiến cho chúng sinh ưa cảnh Niết bàn, chán cảnh trầm luân sinh tửphát tâm tu đạo.

Chúng a sinh sáu nẻo (Lục thú chúng sinh) sinh tử trầm luân này dùng sáu môn mà phân biệt :
1. Thích danh (giải thích tên gọi). 
2. Xuất thể (chỉ rõ bản thể). 
3. Khai hợp (tách ra, gộp vào). 
4. Xứ sở (nơi chốn). 
5. Thọ lượng (tuổi thọ). 
6. Tướng nhân quả.
1. Thích danh (giải thích tên gọi). 
- Lục (sáu) : là tên gọi của số. 
- Thú : là nẻo phải tới. Nơi chốn phải tới do nghiệp báo của năm uẩn giả hợp gây nên phiền não, nơi đó được gọi tên là Thú, được kèm theo số mà giải thích
Kinh Địa Trì nói rằng : những sự được hưởng thụ là tự nhiên, nên gọi là thiên (trời). Câu Xá Luận nói : sáng sủa trong sạch tự tại thần dụng thì gọi là thiên. Kinh Niết Bàn nói : vì nghĩ ngợi nhiều nên gọi là người. Tạp Tâm luận nói : ý vẳng lặng nên gọi là người. Tạp Tâm luận lại nói : vì phải cầu cạnh ở người khác, lại thường hay bị đói lả khiếp sợ, phải lo nghĩ nhiều nên gọi là ngạ quỷ (quỷ đói). Câu Xá luận nói : vì bàng hành (ngang thân mà đi) nên gọi là loài bàng sinh, hoặc còn gọi là súc sinh.
- Súc : có nghĩa là súc dưỡng (chăn nuôi). Là công cụ giúp cho người, là loài chúng sinh được người súc dưỡng, nên gọi là súc sinh.
• Tiếng Phạm : Nại Lạc Ca, ở phương đây gọi là Khổ khí, như trên đã giải thích.
- Na Lạc Ca : phương đây gọi là Kẻ ác. Kẻ gây ra điều ác, sinh ở trong khổ khí, nên gọi là Khổ khí. Không có tên gọi là địa ngục, vì nơi chốn chẳng nhất định, chẳng riêng gì ở dưới đất. Kinh Địa Trì nói : đó là loại tăng thượng khả yếm (tăng thêm những điều đáng ghét). Tạp Tâm luận cũng gọi là loại bất khả lạc (chẳng thể vui sướng), cho nên gọi là địa ngục.
• Tiếng Phạm : A Tố Lạc, ở phương đây gọi là loài phi thiên. Trên kia đã giải thích rồi.
2. Xuất thể (nói rõ bản thể) :
Lục thú đều lấy thức thứ tám tức Dị thục thức làm bản thể, có tính chất vô phú vô ký. Cho nên Duy Thức nói rằng : thức thứ tám này là bản thể tạo lập ra Giới, Thú, Sinh. Lại nói : thức này đủ để làm bản thể của Giới, Thú, Sinh, chẳng cần phải chấp trước là có mệnh căn thực sự khác. Thêm nữa các loài hữu tình lưu chuyển trong Ngũ thú, Tứ sinh, nhưng bản thể của Thú, Sinh vẫn là Dị thục thức.
3. Khai hợp (tách ra, gộp lại) : 
. Gộp lại : Lục thú gộp lại làm một, đó là một kỳ sinh tử.
. Tách ra : làm 2, 3, 4, 5, 6, 7, 9, 25 cõi.
+ Tách ra làm 2 , đó là :
- Thiện thú (nẻo thiện, loài thiện) và Ác thú (nẻo ác, loài ác).
- Phân đoạn sinh tử và Biến dị sinh tử. 
+ Tách ra làm 3 , đó là :
- Tam giới : Dục giới, Sắc giớiVô sắc giới.
+ Tách ra làm 4 , đó là :
- Tứ sinh : bốn loài sinh theo bốn cách Nỗn, Thai, Thấp, Hóa.
- Tứ hữu : một là Sinh hữu, hai là Bản hữu, ba là Tử hữu, bốn là Trung hữu.
- Bốn loại sinh tử, đó là : Phương tiện sinh tử, Nhân duyên sinh tử, Hữu hữu sinh tử, Vô hữu sinh tử.
+ Tách ra làm 5 , đó là :
- Ngũ thú, chừa loài A Tố Lạc ra.
+ Tách ra làm 6 , đó là :
- Lục thú, như trong kinh văn này đã nói (lục thú như lục đạo).
+ Tách ra làm 7 , đó là :
- Thất hữu : gồm Ngũ thú cùng Nghiệp hữu, Trung hữu.
+ Tách ra làm 9 , đó là :
Cửu hữu hoặc Cửu hữu tình cư.
+ Tách ra làm 25 , đó là : 
- Nhị thập ngũ hữu, sẽ nói ở sau. 
Theo Tạp Tâm luận thì hạng phi thiên là thuộc Quỷ thú, nhưng Du Già, Phật Địa luận lại cho là thuộc Thiên thú. Kinh Chính Pháp Niệm cho là thuộc cả hai loài quỷ và súc sinh. Trong Kinh Già Đà thì cho là thuộc cả ba loài : Quỷ, Súc, Thiên. Nay theo đại thừa thì chỉ thuộc Thiên thú, lấy (cách giải thích trong) Du Già, Phật Địa luận làm chính, hành vi (của loại này) phần nhiều chẳng thành thực, lấy việc xiểm nịnh dối trá làm đầu, chẳng hành động thẳng thắn thành thực như chư thiên nên gọi là loại phi thiên, cũng như người mà bất nhân thì gọi là hạng phi nhân, chứ chẳng gọi là phi quỷ, phi súc sinh.
Các môn khác sẽ được giải thích ở phía dưới trong quyển hai khi giải thích bài tụng Hỏa Trạch của kinh này.
Du Già quyển bốn và Kinh Chính Pháp Niệm cũng trình bày cặn kẽ về điều này. Đoạn này nói về các chúng sinh sáu nẻo trong một vạn tám trăm ngàn thế giới. Tất cả đều thấy ở đây.
*
-Kinh văn : “Lại thấy cõi ấy” tới “người tu hành đắc đạo”.
Tán rằng : đây là nhìn thấy Tam Bảo xuất hiện, có ba : một là Phật, hai là Pháp, ba là Tăng. Trong Tăng có hai : một là Thanh văn, hai là Bồ tát. Trong Thanh văn này lại có bốn chúng.
Luận nói rằng : tu hành có nghĩa là chưa được quả thánh. Đắc đạo tức là đã được quả thánh rồi. Trong bốn chúng, có hai loại này, vì mắt thấy thân Phật, tai được nghe Pháp, lại thấy các chúng đó tu hành theo Phật.
*
-Kinh văn : “Lại còn thấy các Bồ tát” tới “tu hành đạo Bồ tát”.
Tán rằng : đây là Bồ tát
Nhân duyên có nghĩa là nguyên nhân (lý do). Đó là cầu ra khỏi vòng sinh tử, mau chứng quả Phật, thành tựu chúng sinh. Vì nhân duyên đó mà tu đạo Bồ tát. Hoặc vì muốn làm cho cõi Phật trang nghiêm thanh tịnh, thành tựu chúng sinhtu Bồ đề phần, thực hành đạo Bồ tát. Hoặc là vì tu Tứ nhiếp, Lục độthực hành đạo Bồ tát. Có rất nhiều nguyên nhân như vậy.
- Tín giải : có nghĩa là tin và hiểu, đó là quả vị trước Trụ địa của Bồ tát, chưa được thánh quả
- Tướng mạo : tức là tướng nghi (biểu hiện) của ba nghiệp, đó là việc hành đạo Bồ tát.
- Mạo : có nghĩa là nghi (biểu hiện).
* Chữ Mạo phải viết là [ 貌 ] nếu viết là [ 狸 , 猊]) thì đều sai.
Trụ ở Thập địa rồi thì được đạo quả, do thực hành đạo Bồ tát bằng nhiều cách, nên nhập nhị vị.
Thêm nữa, nhân duyên có nghĩa là bên ngoài thì gặp duyên lành, gặp bạn tốt, vì bậc Thiện tri thứcnhân duyên lớn. Tín giải, Tướng mạo là việc tu hành ở bên trong (nội tu hành). Trong việc tu hành ở bên trong này, nội tâm hành gọi là tín giải, thân ngữ hành gọi là tướng mạo. Tâm quán diệu lý thì gọi là tín giải. Xả đầu mắt v.v… thì gọi là tướng mạo.
- Hành đạo Bồ tát : luận giải thích rằng đó là y vào bốn Nhiếp pháp mà giáo hóa chúng sinh vì dùng phương tiệnnhiếp thủ. Tín giải, tướng mạo đều là thực hành đạo Bồ tát.
Bốn Nhiếp pháp gồm :
1) Bố thí : phần sau sẽ giải thích.
2) Ái ngữ : thường nói những lời khiến người vừa ý, thật thà chân thành, đúng như đạo pháp, ý nghĩa tách bạch; không hề cau có, tươi cười mà nói, gửi lời thăm hỏi, an ủi bảo ban, thảy đều thích nghi. Thấy ai tiến bộ mà chẳng tự biết là (bản thân mình) thiện pháp đã tăng thì tỏ lời chúc mừng. Thuyết giảng về giáo lý Phật pháp thường xuyên làm lợi ích tốt đẹp cho người.
Đối với kẻ thù oán mình, cũng đều khởi lên các ý nghĩ trong sạch. Đối với kẻ cực kỳ ngu si thì thề quyết trừ mối nghi hoặc cho họ, đối với chân phúc điền, mọi hành động tà ác xúc xiểm dối trá đều không hiềm thù giận ghét mà tu hạnh ái ngữ khó tu.
Người nào định trừ Chướng Cái thì thuyết cho họ cách làm trước. Đối với những người lành bản tâm đã điều phục thì thuyết cho họ về Đế pháp. Đối với những kẻ hay phóng dật thì dạy cho họ để họ xuất ly. Người nào có điều nghi hoặc thì giảng giải bàn bạc với họ để họ biết quyết định lựa chọn cho đúng. Y vào Tứ tịnh ngữ, khởi Bát thánh ngữ.
3) Lợi hành : nhờ dùng ái ngữ nên trước hết đã chỉ ra đạo lý đúng đắn. Tùy theo chỗ sở học mà dùng tâm từ bi vô nhiễm để khuyên nhủ dìu dắt, điều phục an xử, xây dựng cho chúng sinh khiến họ thu được cái lợi trước mắt là được tài vị, cái lợi sau này là xuất gia, cái lợi mọi mặt là Lìa dục, Khinh an, Giải thoát.
Những kẻ thân cận bạn ác, chưa trồng thiện căn, tham trước tài vị lớn, cực kỳ phóng dật, những kẻ ngoại đạo thiên chấp tà kiến phỉ báng thường khởi tám triền, mười nghiệp ác. Đối với hết thảy mọi kẻ đó, Bồ tát đều có thể khai thị, làm cho họ được giải thoát. Khởi tâm đại bi, dẫu bị khổ lớn, tâm không mỏi mệt, lại càng hoan hỷ. Dẫu có tài vị bậc nhất nhưng tự mình vẫn khiêm nhún như kẻ tôi tớ, như Chiên đà la, như người con hiếu không nhiễm trần, không giả dối, cái tâm từ mẫn thành thực thương xót mãi mãi chẳng sinh thoái chuyển.
4) Đồng sự : để thực hiện được nghĩa lợi hành ấy, nếu khuyên người khác học thì cũng tự mình tu học. Dạy cho người khác cùng làm những việc mình đã tu hành, thiện căn kiên cố, chẳng sinh thoái chuyển, khiến họ nghĩ rằng :
Những điều dạy cho ta đây nhất định là có lợi lạc, vì vị đó tự mình cũng làm. Chẳng thế thì họ sẽ nói : “bản thân ngươi đã chẳng tốt, thì làm sao mà dạy nổi ta! Ngươi hãy cứ đi mà học hỏi người khác về việc này”. Cho nên cần phải tự mình làm.
Hành động lợi tha của Bồ tát tuy vô lượng, nhưng chỉ nêu bốn Nhiếp pháp này bao gồm tất cả mọi hạnh. Cho nên chẳng bàn đến các điều khác. Trong Vô Cấu Xưng sớ, quyển thứ hai, đã nêu rõ các nghĩa ấy.
*
-Kinh văn : “Lại thấy chư Phật” tới “khởi tháp thất bảo”. 
Tán rằng : đây là thấy cảnh tiến hành giáo hóa sau khi Phật diệt độ, có hai cảnh : một là nhập diệt, hai là khởi tháp. 
•Tiếng Phạm : Ba Lị Ni Phọc Nam, ở phương đây gọi là Viên tịch, có nghĩa là viên mãn thể tịch diệt. Gọi là Niết bàn là gọi sai.
•Niết bàn dùng sáu món để phân biệt
1) Thể. 4) Đắc nhân. 
2) Danh. 5) Năng chướng. 
3) Đắc thời. 6) Nhập ý. 
Về thể, Niết bàn có bốn :
1) Tự tính thanh tịnh Niết bàn.
2) Hữu dư y Niết bàn.
3) Vô dư y Niết bàn.
4) Vô trụ xứ Niết bàn.
Thể của bốn loại này là Đại bát Niết bàn. Có ba :
- Một là thể chung của bốn loại, đều là một chân như. Chân như đủ ba mới thành Niết bàn. Năng sinh viên giác gọi là Ma ha Bát nhã, vì thể là giác tính. Tại địa vị nhị thừa chẳng sinh viên giác, chẳng phải là giác tính, chẳng gọi là Bát nhã. Đại Trí Độ luận nói rằng : “thuyết Trí cùng Trí xứ đều gọi là Bát nhã”õ. Cho nên Kinh Hoa Nghiêm nói rằng : “tự tính thanh tịnh tâm cũng gọi Vô sư trí”.
- Hai là xuất ly khỏi chướng sở tri thì gọi là Pháp thân. Kinh Thắng Man nói : “tại triền thì gọi là Như Lai tạng. Xuất triền thì gọi là Pháp thân”. Tại hạng nhị thừa chẳng gọi là Pháp thân, vì chẳng phải là nơi y chỉ của pháp công đức.
- Ba là mọi nỗi khổ đều hết, lìa được nhị tử (hai cách chết : phân đoạn tử và biến dị tử), nên gọi là giải thoát. Tại hạng nhị thừa phân đoạn tử hết, dẫu lìa hai phược, nhưng vẫn chẳng phải là giải thoát viên mãn.
Song hạng nhị thừa cũng chứng được một chút giải thoát. Ba thừa cùng ngồi trên giường giải thoát. Do đó, nhị thừa cũng gọi là đắc Niết bàn. Song chẳng phải là đại Niết bàn, vì nghĩa chẳng đầy đủ. 
Thêm nữa, theo Kinh Niết Bàn quyển hai, đại Niết bàn cần phải có ba sự đầy đủ mới gọi là nhập đại Niết bàn
a) Bát nhã, là trí chứng được hai lý không
b) Pháp thân, tức là hai lý đã chứng được. 
c) Giải thoát, tức là do trí mà chứng lý.
Chướng hết, điều chứng được là nhờ trạch diệt, thể như ba chấm của chữ Y. Niết bàn cũng thế do trí chứng pháp thân mà được trạch diệt, vì pháp thân là gốc, y vào đó mà có hai, như chữ Y có hai chấm ở trên, một chấm ở dưới, nếu tách biệt chẳng thành, ba sự rành rẽ, có biệt thể riêng. 
Ví thử cho phép chứng được mỗi sự trong thời điểm khác nhau, thì lý cũng chẳng thành, vì ba sự Niết bàn chẳng phải là khác nhau, cũng chẳng phải là một, phải đồng thời chứng đắc mới gọi là Nhập.
Nếu chẳng thành thì Bát nhã là bậc tối hạ, Giải thoát là bậc thứ trung, Pháp thân là bậc thứ thượng. Ba pháp đồng thời, ba bậc mới được, thế cũng chẳng thành. Theo chiều dọc từ trên xuống dưới là Tung, theo chiều ngang từ trước đến sau gọi là Hoành. Nếu ba biệt thể trước sau chứng được thì lý cũng chẳng thành.
Vì khởi Đại trí, chứng Pháp thân lý, lìa phược giải thoát, ba sự ấy chẳng phải là một nhưng cũng chẳng khác nhau, đó gọi là nhập đại Niết bàn, chẳng phải như nhị thừa chấp ba biệt thể có ba bậc riêng, có thể lần lượt chứng được riêng từng thứ, cái trước cái sau, hoặc đồng thời chứng được cả ba, thành nhập Niết bàn.
Giải nghĩa tên gọi của các xuất thể khác, thì như chú thích ở Duy Thức luận quyển 10. 
Nay ở đây nói rõ đức Phật đó nhập Vô dư y Niết bàn chứ chẳng phải là nhập đại Niết bàn, vì lúc mới thành Phật, ngài đã chứng được điều này rồi. Những người cần độ, nay đã độ xong, nên nhập Niết bàn. Còn những người chưa được độ thì cũng đều vì họ mà tạo nhân duyên đắc độ, nên dựng bảo tháp cúng dàng Xá lợi.
• Tiếng Phạm : Thiết Lợi La, có nghĩa là Thể. Gọi là Xá lợi là phiên âm sai. Tốt Đổ Ba có nghĩa là Cao hiển, gọi là Tháp, thế là gọi sai.
Lại nữa, lời văn của luận bàn về chiếu cảnh ở mục này nói rằng :
- Y vào khí thế gian có nghĩa là ngang thì chiếu một vạn tám ngàn thế giới, dọc thì soi tỏ hai cõi ở dưới.
- Y vào chúng sinh thế gian tức là cảnh chúng sinh sáu nẻo đã thấy. “Số nhiều” có nghĩa là vì như dưới đó đã nói thị hiện thành vô vàn cảnh. Tức là năm thứ cảnh sở kiến khác, vì thấy rất nhiều sự ở trong này.
Luận phân tích ra làm bốn thứ :
1/ Thực (ăn, thức ăn), có nghĩa là điều nhìn thấy, là thấy Phật tư trưởng (giúp cho trưởng thành). Nghĩa của nhậm trì là nghĩa của Thực. Như vậy tư trưởng chúng sinh thù thắng thiện pháp, trụ trì chúng sinh thiện căn chẳng hoại nên gọi Phật là Thực.
Lại còn nói rằng : đó là thị hiện Y chỉ trụ thực. Nếu thế thì Bồ tát từ Bát địa trở lên đối pháp cũng gọi là Thị hiện trụ thực, nên thâu tóm vào nghĩa này.
Thêm nữa, nghĩa của thụ dụng cũng là nghĩa của thực. Thụ dụng pháp lạc, năng thực nên gọi là thực.
2/- Nghe pháp, nghĩa như tên gọi, có thể biết được.
3/- Tu hành, chỉ bốn chúng tu hành đắc đạoBồ tát tu hành đạo Bồ tát.
4/- Lạc (vui sướng), đó là cảnh nhập diệt đã được nhìn thấy, vì sinh diệt diệt rồi thì tịch kia là lạc.
Lạc có năm thứ :

a) Tự tính lạc, d) Thụ đoạn lạc.
b) Nhân lạc. e) Vô não hại lạc. 
c) Khổ đối trị lạc.
Lại có bốn thứ lạc : 
a) Xuất ly. c) Tịch tĩnh
b) Viễn ly. d) Giác pháp.
Nhập Niết bàn đây chính là Tịch tĩnh lạc trong bốn thứ sau.
Thị hiện vô vàn cảnh quán : có nghĩa là ở đây biểu hiện vô số hằng sa bảo tháp, vì nhờ quán mà biết cảnh này. Thêm nữa, vì quán thấy vô vàn sự ấy, cho nên gọi là chủng chủng quán lượng. Từ “chủng chủng” (vô vàn, rất nhiều) là để giải thích các sự nhập Niết bàn rồi thì dựng tháp thất bảo, bảo tháp đẹp cao năm ngàn do tuần trong bài tụng ở dưới.
Lại giải thích thêm về bảy sự sở kiến rằng : chúng sinh sáu nẻo là cụ túc phiền não sai biệt, sáu sự dưới chân Phậtcụ túc thanh tịnh sai biệt.
Trong cụ túc thanh tịnh sai biệt lại có sự sai biệt giữa Phật, pháp và đệ tử, để thị hiện sự sai biệt của Tam bảo. Trong đệ tử là có sự sai biệt về thừa, vì có sự khác biệt giữa hai thừa Thanh vănBồ tát. Tức là trong thanh tịnh này có thế giới có Phật, thấy Tam bảo thì gọi là có Phật, có thế giới không có Phật, thấy cảnh Phật nhập Niết bàn cùng cảnh dựng tháp thì gọi là không có Phật.

KINH PHÁP HOA HUYỀN TÁN
QUYỂN THỨ HAI -PHẦN TRUỚC
ĐÃ XONG

Ngày 19 tháng 10 năm thứ ba niên hiệu Bảo An, di điểm xong thì đưa bản vào Viên Như phòng, chùa Hưng Phúc. Sư Tăng Giác chùa Pháp Long sử dụng bản này đem in ấn để Pháp được thường trụ lâu dài.

 

QUYỂN THỨ HAI (PHẦN SAU)
Sa môn KHUY CƠ, chùa ĐẠI TỪ ÂN soạn.

-Kinh văn : “Bấy giờ Di Lặc” tới “mà có điềm lành này”.
Tán rằng : đó là thành tựu thứ sáu, gồm cả một đoạn dài nói về đại chúng muốn được nghe pháp.
Đoạn văn này chia làm ba đoạn nhỏ : đoạn đầu nói về việc ngài Di Lặc thị hiện tướng hoài nghi, đoạn thứ hai nói về việc chúng nhân thực sinh tâm nghi hoặc, đoạn cuối cùng nói về việc Từ Thị đem hai ý mà phát vấn.
- Trước hết nhân Di Lặc đạo mãn làm chủ, nhân thành hiện thế, gặp duyên chẳng ít, gây nghiệp đã nhiều, lẽ nào nhìn hào quang mà lại chẳng biết, quán đẳng trì mà lại chẳng hiểu, chỉ là thị hiện cái tướng chẳng biết để cảnh tỉnh chúng sinh, cho nên mới gọi là Di Lặc thị hiện tướng hoài nghi.
- Chúng nhân vì căn cơ, địa vị thấp kém chẳng đoán được điềm lành của bậc đại thánh, quan sát cái tướng bề ngoài mà sinh ra nghi hoặc cho nên gọi là chúng nhân thực sinh tâm nghi hoặc. Đây là đoạn thứ hai.
Di Lặc mang cả hai ý của tự và tha mà hỏi một mình Văn Thù, trước tiên hỏi về nguyên do, đó là đoạn thứ ba.
Trong đoạn đầu có bốn ý :
1) Ghi lại điềm lành rồi hỏi nguyên nhân
2) Nêu ra cách hỏi đáp kỳ lạ.
3) Đề cao công bậc thượng đức.
4) Tự mình khiêm nhún, rồi mới trình bày.
Đây là đoạn đầu. Diệu dụng vô phương thì gọi là thần. Thần thông chuyển hóa, làm cho khác đi thì gọi là biến.
Ngoài ứng với muôn loại, nên đặt tên gọi là điềm lành (thụy). Điềm lành tức là tin, là phù ứng (ứng nghiệm). Đây hỏi phóng quang có phù ứng gì ? Bởi vậy ghi lại thuyết nhân được đưa ra để hỏi.

*
-Kinh văn : “Nay Phật Thế tôn” tới “ai giải đáp được?”.
Tán rằng : ở đây nêu ra sự vấn đáp kỳ lạ, chép việc trụ ở uy nghi tùy thuận để mà hỏi. 
Nhập 9 tam muội, tam muội lý sâu gọi là Bất khả tư nghì (chẳng thể nghĩ bàn). Động đất, mưa hoa, đó gọi là thị hiện sự hiếm có. Hoặc mưa hoa, động đất, phóng quang, chiếu xa, ngoài ứng với căn cơ của chúng sinh, đó đều gọi là thần biến. Đây thuộc mục chép lại điềm lành để hỏi nguyên nhân, chỉ có nhập Tam muội được gọi là sự hiếm có. 
Ai 9 giải đáp được ? : là hỏi người nào giải đáp.

*
-Kinh văn : “Lại nghĩ như vầy” tới “tôi nay phải hỏi”.
Tán rằng : Văn Thù Sư Lợi v.v… : đề cao công bậc thượng đức. 
Tôi 9 nay phải hỏi : có nghĩa là tự nhún mình rồi mới trình bày. 
Văn 9 Thù Sư Lợi đạo quả viên thành đã lâu, thị hiện ở vào địa vị cuối cùng của đạo nhân nối ngôi Pháp vương của Phật, một mình được danh hiệuPháp vương tử, đã từng thân cận được gặp duyên lành cúng dàng chư Phật, trồng cội đức sâu, vì tiến tài tiến hạnh gọi là cúng dàng, vì Văn Thù Sư Lợi trụ Đệ tứ Y, cúng dàng 8 hằng sa số Phật, gộp với 3 Y trước kia, tổng cộng là 26 hằng hà sa Phật, thế tất phải thấy tướng hi hữu (hiếm có) này, nhưng nhún mình làm như chẳng biết. Vậy tôi nay phải hỏi.
Luận rằng : hỏi một người, nhiều người muốn nghe sinh tâm hi hữu, cho nên chỉ hỏi Văn Thù Sư Lợi. Tâm có nhiều điều chưa hiểu, nhiều người còn nghi hoặc. Người hiểu được chẳng phải là nhiều, chỉ có một người giải đáp được thắc mắc.
Thị hiện Phật và đệ tử tùy thuận lẫn nhau, các pháp chứng thuyết đều chẳng trái ngược nhau, vì là nhân của việc hiện tướng lớn. Tướng lớn chỉ Diệu Pháp sở thuyết. Nhân chỉ thần biến, nay hiện tướng lành là nhân của việc thuyết pháp. Thêm nữa tướng lớn tức là hiện tướng lành, tướng lành tức là nhân, vì làm nhân cho pháp sở thuyết. Lại nữa, nhân có nghĩa là lý do.
-HỎI : lý do của việc hiện tướng lớn như thần biến v.v… cớ sao chỉ hỏi Văn Thù mà chẳng hỏi người khác ?
ĐÁP : có hai pháp, nên đề cao Văn Thù :
1) Hiện thấy các pháp, vì Văn Thù chứng tri các pháp.
2) Lìa các nhân duyên, vì Văn Thù tự tâm thành tựu pháp đó. Có nghĩa là vì Văn Thù Sư Lợi đã lìa được các nhân duyên như ức đoán, suy diễn hoặc nghe lại từ người khác, bởi vậy mà đề cao Văn Thù.
Thị 9 hiện vô vàn tướng lành : có nghĩa là thị hiện biết bao nhiêu sự ấy. Sự chẳng phải một, cho nên gọi là biết bao nhiêu. Như sự kia xuất hiện, lặn đi, trụ lại, diệt mất :
a) Nhìn thấy cảnh chúng sinh sáu nẻo hiện tại trong vòng sinh tử đó, nếu mà biến mất thì gọi là hiện Một (mất).
b) Nhìn thấy cảnh Phật, pháp, bốn chúng cùng các Bồ tát hiện tại còn trụ đó, thì gọi là hiện Trụ (còn).
c) Nhìn thấy Phật Niết bàn và việc dựng tháp cho Phật, vì là hiện tại nhập Niết bàn, nên gọi là hiện Diệt.
Bảy sự sở kiến thảy đều thâu tóm hết. Hoặc là :
- Trụ tức là hiện tại (hiện đang tồn tại). 
- Diệt tức là biến mất không còn (một vô). 
Thấy Phật nhập Niết bàn và việc dựng tháp cho Phật, gọi đó là Diệt mất (một). 
Còn 9 năm sự khác đều gọi là hiện trụ.
Luận cho rằng vì ngài Văn Thù ghi nhớ được sự đó, cho nên hỏi ngài về sở tác thành tựu, nhân quả thành tựu của Văn Thù Sư Lợi
Sở 9 tác chỉ tác pháp sở tu (tức là phép tu hành) của ngài, ở đây có hai loại : một là phúc đức, hai là trí tuệ. Đó là nội đức viên mãn.
Nhân 9 thành tựu : đó là nhất thiết trí thành tựu.
Duyên 9 : tức là phóng quang, mưa hoa, động đất, vì ngoại đức viên mãn.
Giải thích nhiều lần về nhân, nói rằng đó là tướng, có nghĩa là việc hiện tướng lành. Còn quả của nhân này, là chỉ đại pháp sở thuyết. 
Ngài Văn Thù ngoại nhân đã đầy đủ, nội đức lại viên mãn, cho nên có thể biết là Phật cũng thuyết quả diệu pháp. Vì vậy nên mới hỏi.

*
-Kinh văn : “Bấy giờ Tỳ kheo” tới “nay nên hỏi ai”. 
Tán rằng : chúng nhân thực sinh tâm nghi hoặc.
“Là ánh quang minh của Phật” : đó là chép về thuyết nhân phóng quang.
“Tướng thần thông” : đó là nói về mưa hoa, động đất trong uy nghi.
Ngoại tướng, chúng nhân đều cùng nhìn thấy, bởi vậy chép việc họ sinh nghi “nay nên hỏi ai”. 
Nhập định chẳng phải là việc chúng nhân biết được, bởi vậy chẳng chép việc họ nghi vấn. Vì chúng nhân về căn cơ, nhân cách, địa vị đều thấp kém nên chẳng thể lượng biết được việc Phật nhập định. Đã chẳng biết nhập vào định nào, thì cũng chẳng dựa vào đâu mà sinh nghi, cho nên chẳng hỏi.

*
-Kinh văn : “Bấy giờ Di Lặc” tới “Văn Thù Sư Lợi rằng”. 
Tán rằng : đoạn thứ ba ở dưới nêu cả hai ý hỏi về nhân trước. Có hai phần :
- Phần đầu là trường hàng.
- Phần sau là trùng tụng.
Trường hàng có hai phần. Đây là phần đầu, nêu cả hai ý.

*
-Kinh văn : “Vì nhân duyên gì” tới “cõi nước trang nghiêm”. 
Tán rằng : đây là phần sau hỏi về nhân trước.
“Mà có điềm lành này” : đó là câu chung. 
“Tướng thần thông” : là nói về các sự mưa hoa, động đất trong uy nghi
“Phóng quang minh v.v…” : là nói về thuyết nhân. 
Di Lặc đem cả hai ý tự tha ra để mà hỏi, vì thấy điềm lành bên ngoài là cùng chung cả. Đem hai điềm lành ra mà hỏi, chẳng đem việc nhập định ra mà hỏi vì người ngoài chẳng nghi việc nhập định, ở dưới cũng chẳng trùng tụng việc nhập định.
“Thấy rõ cõi nước Phật đó trang nghiêm” : luận giải thích chung ý kinh nói : đủ mọi loại cõi nước Phật có nghĩa là thị hiện trong cõi nước Phật đó có đủ mọi loại sai biệt
- Để giáo hóa bốn chúngchúng sinh sáu nẻo, thì thị hiện thành quốc độ nhơ bẩn và quốc độ tịnh diệu, trụ xứ của chúng sinh vô phiền não.
- Để hóa độ cho Thập địa Bồ tát thì thị hiện thành quốc độ thanh tịnh, ở quốc độ đó Phật là bậc thượng thủ vì các Bồ tát v.v… đều y vào Phật mà an trụ, vì Phật ở hai loại nước đó đều được tự tại.
Giải thích dài như đoạn văn trên, bởi vì trong mục nói về cảnh sở kiến, trước hết nói Phật là bậc thượng thủ.
Phàm thuyết trùng tụng thì có mười cách :
1) Tách bạch hai căn lợi độn khác nhau.
2) Tách bạch hai chúng trước sau khác nhau.
3) Phân tích hai lạc đúng sai khác nhau. 
4) Hai cách lý giải khó dễ khác nhau.
5) Tùy theo chân hay tục hai đằng khác nhau.
6) Lấy hay bỏ đôi đường khác nhau : trường hàng lấy thiện, tụng văn bỏ ác.
7) Hoặc nêu lên, hoặc giải thích hai cách khác nhau: trường hàng nêu lên, tụng văn giải thích.
8) Trí và Biện, hai thứ khác nhau : trường hàng Trí vô tận, kệ tụng Biện vô tận.
9) Giải và Trì hai pháp khác nhau : trường hàngGiải pháp, kệ tụng là Trì pháp.
10) Thuyết và Hành hai thứ khác nhau : trường hàng là nhạo thuyết giả, tụng văn là nhạo hành giả.
Bài tụng mười cách này là :
Lợi độn và Trước sau,
Phải quấy, Khó, Chân tục,
Lấy bỏ cùng Nêu thích,
Trí biện, Giải, Thuyết hành.
Trường hàng và tụng, sáu nghĩa khác nhau: 
Rộng, lược hoặc có, không.
Hợp, tách và sau, trước. 
Văn, chất cùng ẩn, hiển.
Là cong, thẳng sai biệt
Tới đoạn văn dưới sẽ nói rõ từng khoản một.

*
-Kinh văn : “Thế là Di Lặc” tới “đại quang chiếu khắp”. 
Tán rằng : tiếng Phạm : Già Đà, ở phương đây (chỉ Trung quốc) dịch là tụng. Tụng có nghĩa là ca tụng cái tốt cái đẹp. Văn cú trong tụng cực kỳ mỹ lệ, nên dùng để ca tụng. Thường được gọi tắt một cách sai lầm là Kệ. 
Đây là Kỳ diệm tụng (có nơi gọi là Kỳ dạ, hoặc trùng tụng). Nếu tiến lên để giải thích thêm về thể nghĩa, thì nó kém hơn Danh cú. Nếu lùi xuống để làm cái sở y (là thanh và văn) thì nó lại chẳng bằng thanh, văn, cho nên Bách pháp chẳng làm riêng (làm một thể loại), song vì loại tụng này lấy hiện tượng trầm bổng khuất khúc về âm thanh làm thể, cho nên đó tức là Danh cú văn, không hề có gì khác. Nhưng nó chẳng giống với tụng tiểu thừa phải y vào văn và văn siõ. Đây chính là loại tụng trong loại Thất Lô Ca 32 tự xứ.
Tất cả có 62 bài tụng, chia làm hai phần : đầu tiên là 54 bài tụng, tụng về tướng điềm lành ở trên; sau đến 8 bài tụng, tụng về việc chính thức phát vấn.
Trong phần đầu lại chia làm ba :
a) Một bài tụng đầu, tụng về phóng quang năng chiếu trong thuyết nhân ở trên.
b) Thứ đến 3 bài tụng, tụng về việc mưa hoa, động đất v.v… ở trên.
c) Sau đến 50 bài tụng, tụng về chiếu cảnh sở kiến trong thuyết nhân.
Phần đầu này trước tiên tụng về phóng quang, sau đó tụng về mưa hoa. Trong sáu nghĩa bất đồng, đó là trước sau bất đồng, vì phải theo sự tiện lợi của mạch văn.

*
-Kinh văn : “Mưa hoa Mạn Đà La” tới “cõi đất đều nghiêm tịnh”. 
Tán rằng : ba bài tụng dưới, tụng về ba sự trong uy nghi :
- Một bài tụng rưỡi, tụng về mưa hoa.
- Nửa bài tụng, tụng về động đất.
- Một bài tụng, tụng về sự bốn chúng hoan hỷ.
Đây tụng về mưa hoa mà chẳng tụng về nhập định, vì người hỏi tự biết nên chẳng hỏi mà đại chúng cũng chẳng nghi. Trong trường hàng có bốn loại hoa, tụng này chỉ có hai. Vì hợp ly bất đồng (gộp vào tách ra khác nhau). 
“Hoa” : là hoa chiên đàn, mùi thơm giống với mùi thơm của xích đàn, bạch đàn, nên mọi người ưa thích
“Cõi đất đều nghiêm tịnh” : so với trường hàng thì là bên có bên không , hai đằng khác nhau.

*
-Kinh văn : “Mà thế giới này” tới “được pháp vị tằng hữu (chưa từng có)”.
Tán rằng : hai câu đầu tụng về sự động đất, một bài tụng sau tụng về bốn chúng hoan hỷ.

*
-Kinh văn : “Ánh quang minh ở giữa hai lông mày” tới “trên tới trời Hữu đỉnh”. 
Tán rằng : 50 bài tụng dưới, tụng về chiếu cảnh và sở kiến, chia làm hai phần :
- Đầu tiên là một bài rưỡi, tụng về chiếu cảnh.
- Sau đến 48 bài rưỡi, tụng về sở kiến.
Đây tụng về Khí thế gian tức là chiếu cảnh, đều như màu vàng ròng, thể hiện rõ là đáng trọng.
Hào quang tuy sắc trắng, biểu thị nhất thừa là gốc, mà (cảnh) sở chiếu như vàng ròng, thể hiệnnhất thừađáng trọng. Hoặc thị hiện tướng của tịnh độ chư Phật, khiến chúng sinh tu cái nhân của ngoại quả nhất thừa, cho nên như màu vàng ròng.
Tới đoạn dưới sẽ biết, vì trong bài tụng khác ở đoạn dưới cũng sẽ thị hiện tịnh độ. Hoặc lông mày thì trắng mà ánh quang minh lại sắc vàng.

*
-Kinh văn : “Trong các thế giới đó” tới “ở đây đều thấy tất”.
Tán rằng : 48 bài tụng rưỡi ở đây tụng về sáu sự sở kiến, trong bảy sự trước đây, chẳng tụng về sự nhập diệt, văn chia làm sáu phần :
1) Đầu tiên là một bài tụng rưỡi, tụng về chúng sinh Lục thú.
2) Thứ đến một nửa bài tụng, tụng về sự thấy Phật.
3) Thứ nữa đến 6 bài tụng, tụng về sự nghe pháp.
4) Thứ nữa đến một bài rưỡi, tụng về bốn chúng.
5) Thứ nữa đến 31 bài rưỡi, tụng về việc hành đạo Bồ tát.
6) Cuối cùng là 7 bài tụng, tụng về việc dựng tháp sau khi diệt độ.
Phần đầu tiên này tức là trong chúng sinh thế gian có đầy đủ phiền não sai biệt. Sinh tử là chung cho tất cả, nhưng nẻo mà Hoặc Nghiệp Khổ dẫn tới (hoặc nghiệp khổ sở thú) lại khác nhau, đó tức là quả Lục thú hay là quả sở thú (nơi quy tập, nẻo được dẫn tới), bản chất của nó là sinh tử.
Vì nghiệp, phiền não của Giả giả hữu tình là năng thú, cho nên kinh tự giải thích rằng nghiệp duyên thiện hay ác thì thụ báo tốt hay xấu. Thụ báo tốt hay xấu đều là quả sở thú. Nghiệp duyên thiện ác là nhân năng thú.
Do thiện nghiệpdị thục nhân, tham v.v… là nhuận duyên thì thụ tổng báo tốt là được sinh vào cõi người cõi trời, vì đó là nơi quy tập của chúng sinh làm điều thiện.
Do ác nghiệpdị thục nhân, tham v.v… là nhuận duyên thì thụ tổng báo xấu phải đọa vào ba nẻo ác, vì đó là nơi quy tập của chúng sinh làm điều ác.
Gọi là sở thú, ở đây thấy tất cả cõi phù hợp với nghiệp đã tạo (trung hữu). Nghiệp, phiền não gọi là năng thú. Khí thế giới ở bên ngoài, đó gọi là thú tư cụ. Quả dị thục ở bên trong, đó gọi là sở thú. 
Như tụng nói rằng :
Thú về rừng rú,
Chim về hư không,
Thánh về Niết bàn,
Pháp quy về phân biệt.
Tức là coi nơi sở quy là sở thú.
* Giả giả : tên gọi của chúng sinh trong 6 đạo, chỉ loài hữu tình lấy thiện thú hay ác thú làm sinh tử sở thú.
Luận nói rõ : có đầy đủ mọi thanh tịnh sai biệt (cụ túc thanh tịnh sai biệt) tức là con số rất nhiều .

*
-Kinh văn : “Lại thấy các đức Phật” tới “đấng thánh chúa sư tử ”.
Tán rằng : nửa bài kệ này nói rõ việc thấy Phật. Sư tử tức là thánh chúa. Thánh chúa tức là chư Phật. Lấy dưới mà giải thích trên. Vô úy tự tại gọi là sư tử. Thấu hiểu chân đế , tục đế thì gọi là thánh chúa, chúa của chúng thánh tức là chư Phật.

*
-Kinh văn : “Diễn thuyết các kinh điển” tới “mà khai ngộ chúng sinh”.
Tán rằng : sáu bài rưỡi tụng ở đây, tụng về nghe pháp, được chia làm hai phần :
- Phần đầu là ba bài rưỡi tụng về nghe tứ biện.
- Phần sau gồm ba bài tụng về nghe ba thừa.
Đây là phần đầu :
a) Nửa bài đầu về nghe Nghĩa vô ngại.
b) Một bài tụng về nghe Pháp vô ngại.
c) Một bài tụng về nghe Từ vô ngại.
d) Một bài tụng về nghe Biện tài vô ngại.
+ Nghĩa sâu gọi là vi diệu, thượng thừa gọi là đệ nhất. Đó là Nghĩa vô ngại giải.
+ Giáo ly cấu nhiễm thì gọi là thanh tịnh, khéo thuận lòng người thì gọi là nhu nhuyễn. Đó là Pháp vô ngại giải.
+ Khế hợp đạo lý thì gọi là thâm diệu, ứng cơ thì gọi là nhạo văn (thích nghe). Khéo thuận các phương thì gọi là “Mỗi mỗi thế giới”. Đó là Từ vô ngại giải. 
+ Dùng vô lượng thí dụ để minh họa đạo lý của vô vàn pháp nhân duyên. Pháp và dụ cả hai đều khai thị. Tóm lại nhằm hai mục đích : một là soi tỏ Phật pháp, hai là khai ngộ chúng sinh. Đó là Biện tài vô ngại giải.

*
-Kinh văn : “Nếu người ta bị khổ” tới “thuyết cho họ tịnh đạo”. 
Tán rằng : đây là nghe ba thừa Thanh văn, Độc giác, Bồ tát theo thứ tự mà khớp với ba bài tụng này.
* Chữ “Yếm” : âm đọc là phiên thiết của hai chữ “Yếm ứ” : có nghĩa đủ rồi chẳng muốn lặp lại nữa (chán). Có chỗ âm đọc là phiên thiết của “Ư diễm”, có nghĩa là no (chán).

*
-Kinh văn : “Ngài Văn Thù Sư Lợi” tới “nay sẽ lược nói qua”.
Tán rằng : một bài rưỡi này tụng về việc thấy bốn chúng, nhân kết ở trên đã nhìn thấy bốn chúng tu hành đắc đạo tướng trạng rất nhiều.
“Thấy nghe như vậy đó” : là kết luận về những điều sở kiến trước.
“Cùng ngàn ức sự khác” : thuyết minh về việc thấy bốn chúng.
Nay trong kinh này tông chỉ nhằm thuyết minh về nhất thừa, chẳng thể liệt kê đầy đủ mọi hạnh khác của bốn chúng, cho nên chỉ nói một cách ước lệ là “rất nhiều”. Tôi nay nói qua “trên thì nói rõ Thanh văn, dưới thì nói rõ Bồ tát” tức là có sự khác nhau về thừa.

*
-Kinh văn : “Tôi thấy nơi cõi ấy” tới “mà cầu chứng Phật đạo”.
Tán rằng : 31 bài tụng rưỡi ở đây, tụng về việc tu hành đạo Bồ tát, chia làm ba : 
- Đầu tiên là một bài tụng về mọi loại nhân duyên.
- Thứ đến 17 bài tụng về nhiều loại tướng mạo.
- Cuối cùng là 13 bài rưỡi tụng về mọi loại tín giải.
Trong trường hàng trước, lấy ngoại duyên nội hành mà thuyết về thang bậc trước sau từ phàm đến thánh. Nay tụng trước tiên y vào ngoại duyên. Sau mới thuyết minh về tự hành. Tự hành căn cứ vào mức độ hơn kém mà xếp thứ tự trước sau.
Tướng mạo : chỉ Thập địa vô lậu hữu lậu tạp tu, theo thứ tự mà tu sáu hạnh Ba la mật.
Tín giải : chỉ tu hữu lậu, loạn tu chẳng theo thứ tự. Vì hơn kém khác nhau, nên có sự phân biệt trước sau. Song, tu Lục độ cũng có ba vị :
1) Trong kiếp đầu trước khi thấy đạo, ở trong một hạnh chỉ tu một hạnh, loạn tu hữu lậu, đó tức là tín giải.
2) Trong kiếp thứ hai từ Sơ địa đến hết Thất địa, ở trong một hạnh, tu hết thảy mọi hạnh, hữu lậu vô lậu cả hai đều tạp tu.
3) Trong kiếp thứ ba từ Bát địa đến hết Thập địa, trong hết thảy mọi hạnh tu hết thảy mọi hạnh, thuần tu pháp vô lậu. Việc tu ở hai kiếp sau, đó là tướng mạo.
Kinh Thập Địa nói : “ Sơ địa hành đàn hạnh (tu hạnh bố thí) cho tới Thập địa thì tu trí độ. Đối với các độ khác thì tùy lực, tùy phần chẳng phải không tu tập”.
Cho nên tướng mạo ở đây là Thập địa tu, vì có thứ tự, vì hạnh rộng lớn. Còn tín giải tức là trước khi thấy đạo cho nên tu hành chưa tốt, được gọi là loạn tu. Đó là tụng về nhân duyên.
“Hằng sa Bồ tát” : tiếng Phạm : Căng Già, được gọi tắt một cách sai lầm là Hằng, đây là tên thần sông, sông cũng được gọi theo tên vị đó. Căng : có âm đọc là phiên thiết của Kỳ căng, đọc khứ thanh. Trong kinh nói Hằng hà sa là ví dụ. Có bốn sông lớn xuất phát từ ao Vô nhiệt não mà sông này là một.
Sông Hằng có năm nghĩa :
1) Sông này nhiều cát.
2) Do nhiều người thế gian đều cùng cho đó là dòng Phúc thuỷ, xuống tắm ở sông này thì tội sẽ diệt, nếu chết chìm thì sẽ được sinh lên cõi trời.
3) Tuy trải qua kiếp hoại nhưng tên sông vẫn luôn luôn cố định.
4) Do Phật phần nhiều ở gần đâytuyên thuyết diệu pháp.
5) Do mọi người cùng được nhờ. Cho nên thường được lấy làm ví dụ.
Còn chữ Sa (cát), tức là thời xưa lấy cát từ ao vuông vức chu vi 40 dặm trên bãi cát ở chỗ cửa sông, để làm ví dụ số nhiều.

*
-Kinh văn : “Hoặc có hạnh bố thí” tới “để cầu trí tuệ Phật”
Tán rằng : 17 bài tụng ở dưới tụng về tướng mạo, trong đó chia làm hai :
a) 15 bài tụng đầu, tụng về lục độ, rồi tụng về Tập hai ích viên thành.
b) 2 bài sau tụng về tám gió chẳng động và ba Bi tiếp vật (ba Bi : tam chủng từ bi).
Trong phần tụng về lục độ lại chia làm sáu :
- 6 bài đầu tụng về Thí.
- 2 bài tụng về Giới.
- 2 bài tụng về Nhẫn.
- 2 bài tụng về Cần.
- 2 bài tụng về Định.
- 3 bài cuối tụng về Tuệ.
+ Nói về Thí, ở đây có ba loại :
a) 4 bài đầu tụng về ngoại tài.
b) 1 bài kế tụng về nội ngoại tài.
c) 1 bài cuối tụng về nội tài.
+ Trong bốn bài tụng về ngoại tài thì :
- 1 bài tụng về thí thất bảo.
- 1 bài tụng về thí bát trân.
- 1 bài tụng về thí thành độ.
- 1 bài tụng về thí tạp vật.
* Thất Bảo gồm :
1/- Vàng, sách Thuyết Văn nói : vàng có năm sắc, sắc vàng là trội nhất, chôn lâu chẳng gỉ, luyện mãi chẳng hao, dời đổi dễ dàng, vàng là hành chỉ tây phương, lấy ra từ đất, theo sát với đất. Bởi vậy chữ kim (là vàng) tượng trưng cho vàng ở tại đất. Nay vẫn có âm đọc là kim.
2/- Bạc, đó là “vàng trắng” (bạch kim).
3/- San hô, có màu hồng nhạt hoặc màu đỏ thắm, đó là thạch chi, hình giống như cây.
4) Chân châu tức là xích chân châu (tức hồng ngọc). Phật Địa luận nói rằng : loại này do loài trùng đỏ sản sinh ra, hoặc châu thể đỏ thắm gọi là xích chân châu.
5) Ngọc ma ni, tức là Như ý thần châu. Vì không có lưu ly, nên kê ra hai thứ châu.
6) Xà cừ, tiếng Phạm gọi là Mâu Sa Lạc Yết Bà, màu xanh trắng lốm đốm.
7) Mã não. tiếng Phạm gọi là Át Thấp Ma Yết Bà, ở phương đây gọi là Chử tạng, hoặc là Thai tạng, vì nó rắn chắc, màu như óc ngựa, cho nên gọi tên là Mã não, lại vì thuộc loại báu, nên chữ viết có bộ Ngọc. Hoặc như loại đá, nên có khi chữ viết theo bộ Thạch.
Bảy thứ báu này khác nhau, tùy theo từng phương, mỗi phương coi trọng mỗi khác, như trong Thượng Sinh sớ đã nói.
* Thứ đến tụng về Bát trân, Bát trân gồm:
1) Kim cương.
2) Chư trân, đại loại như Đế thanh, Đại thanh.
3) Nô, thời cổ tội nhân nam phải làm nô, nhập vào đẳng cấp ti tiện để phục dịch ở nhà quan.
* Chữ Nô [ 奴 ] có khi viết theo bộ nhân đứng [ 仗 ]
4) Tỳ, cách gọi khinh rẻ đối với nữ (tỳ : tức là nữ nô lệ). 
5) Xa, là tên gọi chung các loại xe cộ, do Hạ hậu thị Hồ Trọng tạo ra, âm cổ là Cư, ý nói đó là dụng cụ để người ta cư trú khi đi trên đường. Nay gọi là Xa, có nghĩa là xá (nhà ở) vậy, ý nói đó là chỗ để người ta cư trú trên đường đi như nhà vậy.
6) Thừa (thặng), là giá ngự, có nghĩa là thứ có thể cưỡi được. 
* Sách Chu Lễ giải thích Thừa có nghĩa là tải (chuyên chở) chỉ loại như voi ngựa. 
7) Liễn, xe được trang sức bằng bảy báu, do người đi trước kéo, các quan khanh, đại phu thời cổ cũng dùng, từ đời Hán trở về sau chỉ có vua Thiên tử mới được dùng. Cho nên xe mà Thiên tử, hoàng hậu ngày nay dùng gọi là Liễn.
8) Dư, xe được trang sức bằng tám thứ báu. Âm đọc là Dư. Sách Thuyết Văn nói : Xa tức là Dư. Lại nói xe mà không có bánh thì gọi là Dư. Thừa có nghĩa là tải, có thuyết nói là Dư, đó là sai.
Vì đều trang sức bằng châu báu, nên gọi là Bảo sức.
Thứ a đến một bài tụng nói về nghĩa thí thành độ.
Thành Duy Thức nói : đủ bảy Nhiếp thụ mới thành độ tướng, nếu khuyết thì chẳng thành.
Nên thuyết tụng rằng :
An trụ và Y chỉ,
Ý lạc cùng Sự nghiệp,
Xảo tiện, Hướng, Thanh tịnh,
Bảy thứ đó độ thành.
Trong này chỉ nêu một hồi hướng Bồ đề. Sáu thứ khác chắc chắn có thể biết được cả. Nguyện được Phật thừa tam giới đệ nhất đó tức là ý hồi hướng.
* Thứ đến một bài tụng về thí tạp vật : 
+ Tứ : âm đọc là phiên thiết của Tức Lợi. Người xưa dùng bốn ngựa để đóng một xe để có thể phóng nhanh. Chòm sao Phòng có bốn sao, nên gọi là thiên tứ (xe tứ mã của trời) cho nên người ta mô phỏng.
+ Lan : tức là câu lan, là cái chắn cửa. Chữ lan viết có bộ mộc hay không đều được. Có chỗ viết chữ lan có bộ thảo đầu, đó là một loại cỏ thơm. Ở đây chẳng phải nghĩa ấy.
+ Thuẫn : âm đọc là phiên thiết của Thực Dỗn, hoặc của Thời Danh (thành). Đó là gióng ngang của lan can. Gióng dọc thị gọi là Hạm, gióng ngang thì gọi là Thuẫn.
+ Hoa : âm đọc gọi là phiên thiết của Hộ Hoa. Theo thế tục ở đây giải thích thì khi vua Huỳnh đế đánh nhau với Xuy Vưu ở cánh đồng Trục Lộc, thường có mây năm sắc có hình cành vàng lá ngọc, lại có hoa che trên đầu Huỳnh đế, nhân đó mà làm ra Hoa cái (lọng hoa). Đó là loại lọng hoa mỹ. Cứ theo lẽ thực mà giải thích thì ở Tây vực nóng nực, người ta phần nhiều đều cầm ô cầm lọng, ô lọng này được trang trí bằng hoa, gọi tên là Hoa cái
* Chữ [ 華 ] Hoa (trong từ Hoa mỹ) cũng đọc âm như chữ [ 花 ] Hoa trong (từ khai hoa).
+ Hiên : có âm đọc là phiên thiết của Hư Ngôn, đó là xe êm, tức là xe có mui khum khum vậy. Dùng vật để trang điểm thêm cho đẹp thì gọi là sức. Có bản chép là Hiến sức.
+ Hiến : âm đọc là phiên thiết của Hư Yển. Vải căng trên xe để che nắng, đó gọi là Hiến.
Xe bốn ngựa kéo, cạnh trang sức bằng lan can, trên cắm hoa cái, trương bạt trang sức đẹp đẽ để đem bố thí.
a Bốn bài tụng trên kia tụng về việc bố thí ngoại tài, thứ đến một tụng về thí nội ngoại tài : bản thân v.v… là nội, vợ con là ngoại.
a Thứ đến một bài chỉ tụng về thí nội tài : thí mà tâm vui.
- Thí có 5 tướng : chí tâm cùng tín tâm; tùy thời; tự tay thí; hành thí như pháp; xả vật. Đó là thí Ngũ chủng thí (năm loại thí).
- Ngay trong 7 nhiếp thụ, sự nghiệp thứ tư chẳng nên thí cũng có 5 tướng : những thứ bất tịnh; làm loạn chúng sinh; não hại chúng sinh; làm hại vật; làm hư hoại tịnh tâm đều chẳng nên đem bố thí. Đó tức là tướng Hành thí như pháp (như pháp thí – có nghĩa là bố thí đúng phép) trong 5 tướng.
- Thí có năm lợi : thân cận, luôn được vui sướng, được tôn kính, danh tiếng tốt, còn làm nhân cho thời sau. Đó gọi là thí Thiện lợi.
Trên đây đều giống như Kinh Phát Bồ đề Tâm đã nói, ở trong thí này nên khởi bốn trí :
1) Nếu có của mà tâm chẳng thích thí thì khởi Giác ngộ trí.
2) Của ít, thiếu tâm, chẳng ưa thí thì khởi Nhẫn khổ trí.
3) Của làm vừa lòng, tâm chẳng ưa thí thì khởi Tri đảo trí.
4) Vì thích quả thế gianbố thí thì khởi Bất kiên trí.
Việc bố thí lấy không tham cùng ba nghiệp mà nó khởi lên làm tính, như đã nói trong Bồ tát địa.

*
-Kinh văn : “Ngài Văn Thù Sư Lợi” tới “mà mặc y pháp phục”. 
Tán rằng : đây là hai bài tụng về giới, giới có 3 loại :
1) Nhiếp luật nghi giới, tức là giới mà bảy chúng thụ.
2) Nhiếp thiện pháp giới, tức là mọi thiện phápba thừa tu hành.
3) Nhiêu ích hữu tình giới, là muôn hạnh thuộc ba nghiệp làm lợi cho loài hữu tình.
Kinh Thắng Man nói : “Ba La Đề Mộc Xoa Tỳ ni, vì người xuất gia thụ giới cụ túcđại thừa nên phải thuyết”. Bồ tát địa nói : “Luật nghi giới tức là bỏ ngôi vị luân vương như vứt lá cỏ, xuất gia thụ cụ túc v.v… đều gọi là luật nghi giới”. Cho nên giới nói đây tức là luật nghi giới
Luật nghi lấy giới làm gốc, mới có hai thứ giớiù sau. Nếu phá luật nghi giới thì ba thứ giới đều bỏ. Cho nên bốn Ba la di đều là luật nghi giới. Ở đây nói rõ : điều cơ bản là phải xuất gia mới có thể thụ cụ túc v.v.. cho nên luật nghi giới là cơ bản nhất.
* Có bản chép là “phi pháp phục”, chữ Phi : âm đọc là phiên thiết của Phô Ky. Trong phương ngôn, Phi có nghĩa là tán, có nghĩa là mặc (quần áo). Nay đúng ra phải nói là “Bị pháp phục” (mặc pháp phục) Chữ Bị : âm đọc là phiên thiết của Bì ø Nghĩa, có nghĩa là ăn mặc
Người xuất gia khoan khoái như hư không, tại gia bị bức bách chật chội như tù ngục, cho nên thuyết về xuất gia.
Trì giới có năm điều lợi :
1/- Được mười phương Phật hộ niệm.
2/- Lúc xả mệnh được vui vẻ.
3/- Được người trì giới làm bạn thân.
4/- Công đức viên mãn.
5/- Đời đời thường được giới thành bản tính.
Trí Độ luận nói giới là Đức bình (cái bình chứa đức). Đó tức là điều lợi thứ tư ở đây.
Tụng rằng :
Hộ niệm chung hoan hỷ ,
Giới hữu, công đức viên ,
Sinh thường giới thành tính,
Gọi là giới ngũ chủng.

*
-Kinh văn : “Hoặc là thấy Bồ tát” tới “ưa thích tụng kinh điển”.
Tán rằng : đây là 1 bài tụng về nhẫn. Đọc tụng kinh điển, nghiền ngẫm pháp nghĩa, đó là Đế sát pháp nhẫn. Chỉ nêu nhẫn khó mà bao gồm luôn cả hai nhẫn khác, đó là Nại oán hại nhẫn và An thụ khổ nhẫn.

*
-Kinh văn : “Lại thấy có Bồ tát” tới “mà tư duy Phật đạo”.
Tán rằng : đây là bài tụng nói về Cần. Đây chung cho cả hai loại Bị giáp (mặc giáp) và Nhiếp thiện. Lược qua không có loại Tinh tiến lợi lạc hữu tình.
Tinh tiến có năm loại đó là : Bị giáp, Gia hạnh, Vô hạ, Vô thoái, Vô túc. Tức là năm loại mà kinh đã nói : Hữu thế, Hữu cần, Hữu dũng, Kiên mãnh, Chẳng xả thiện ách. 
1. Phát khởi Mãnh lợi nhạo dục, đó gọi là Bị giáp.
2. Phát khởi Phương tiện kiên cố dũng hãn, đó gọi là Gia hạnh.
3. Để chứng đắc, chẳng tự khinh miệt cũng không khiếp sợ, đó gọi là Vô hạ.
4. Có thể chịu đựng được những nỗi khổ như nóng lạnh v.v… chẳng thỏa mãn hí hửng về những điều thiện kém cỏi nhỏ nhoi đó, gọi là Vô thoái.
5. Có thể chứng nhập được Chư đế hiện quán v.v… hăm hở cầu công đức thắng phẩm mãi mãi sau này, đó gọi là Vô túc (không bao giờ thỏa mãn).
Vì đạo cứu cánh của nhị thừa là thích đại Bồ đề. Vì đạo cứu cánh của chư Phật là thích làm lợi lạc cho người khác, nên loại Tinh tiến đầu tiên gọi là Bị giáp, bốn loại sau gọi là Nhiếp thiện. Cả 5 loại đó gộp lại gọi là Dũng mãnh tinh tiến.

*
-Kinh văn : “Lại thấy bậc lìa dục” tới “tán thán chư pháp vương”. 
Tán rằng : đây là hai bài tụng về định. Lìa cảnh náo nhiệt ồn ào, nên thường ở cảnh thảnh thơi nhàn nhã. Do an trụ tĩnh lự nên tu sâu về thiền định. Dẫn phát tĩnh lự, nên được năm phép thần thông. Do biện sự tĩnh lự, nên tán thán chư pháp vương. Ba thứ này ắt phải do lìa dục mới đạt được.

*
-Kinh văn : “Lại thấy có Bồ tát” tới “nghe xong rồi thụ trì”.
Tán rằng : dưới là ba bài tụng về tuệ. Đây là một bài tụng về Gia hạnh trí : diệu đạt thật tướng nên trí sâu, ý nhạo chẳng hoại nên chí bền. Lại nữa, suy nghĩ sâu xa nên trí sâu, chẳng ngừng nghỉ nên chí bền. Gắng công, biết hỏi, nghe rồi nhớ được.

*
-Kinh văn : “Lại thấy hàng Phật tử” tới “mà đánh rền trống pháp”.
Tán rằng : đây là 2 bài tụng về hai trí định tuệ cụ túc, vì hai trí Căn bản tríHậu đắc trí viên mãn.
Hậu đắc trí thích hợp dùng để giảng pháp. Giảng pháp có 4 ý :
1) Ưa thích thuyết pháp.
2) Giáo hóa các Bồ tát, chẳng giáo hóa nhị thừa.
3) Phá 10 ma chúng.
4) Đánh trống pháp.
Đánh trống pháp tức là khai quyền hiển thực. Tới phần dưới sẽ biết.
Ma La : có nghĩa là Phá hoại, đó là danh hiệu, gọi tắt là Ma. Danh từ Ba Ti Dạ có nghĩa là Ác giả (kẻ ác). Gọi là Ba Tuần là gọi sai.
Trong Tạp Tạng, đức Phật nói rằng quân ma có mười loại. Nay làm bài tụng về muời loại đó, tụng rằng :
Dục, Ưu sầu, Đói khát,
Ái, Ngủ nghê, Sợ sệt,
Nghi độc cùng Danh lợi,
Tự cao, Khinh mạn người,
Quân lũ ngươi như vậy,
Thảy đều chẳng phá nổi,
Trí ta phóng dao Định,
Đập bình quăng xuống nước.
Hoặc Chánh trí kích Chân như, Hậu trí phá Tục lý. Thuyết pháp phát ra tiếng vang khiến đại chúng được nghe thấy. Trong Lục độ này đều có đủ hai lợi, song chỉ có Bố thítỏ rõ tha lợi. Tuệ ở cuối, thể hiện chung cả hai lợi, bốn độ ở giữa chỉ thuyết về tự lợi, lược qua không nói đến lợi tha, nhưng thực ra chẳng phải là không có.

*
-Kinh văn : “Lại thấy vị Bồ tát” tới “chẳng lấy đó làm mừng”. 
Tán rằng : đây là 2 bài tụng về tám gió chẳng động, ba bi tiếp vật. Hai bài tụng như thứ tự trên. Đây là tám gió chẳng động.
* Chữ Yến [ 宴 ] : có âm đọc là phiên thiết của hai chữ Yên và Kiến, có nghĩa là yên, là dẹp được. 
Có bản viết là Yến [晏 ], chữ này có âm đọc là phiên thiết của hai chữ Yên Giản, có nghĩa là yên lặng.
Tám gió gồm :
1) Lợi; 5) Xưng (khen sau lưng); 
2) Suy; 6) Cơ (chê bai, gièm pha); 
3) Hủy (chê); 7) Khổ; 
4) Dự (khen); 8) Lạc. 
Nay ở đây chỉ nêu bốn thứ sinh hỷ : được của cải địa vị thì gọi là Lợi; khen trước mặt thì gọi là Dự; khen sau lưng thì gọi là Xưng; thích chí vui lòng thì gọi là Lạc. Đối với bốn thứ này Bồ tát cũng chẳng lấy làm mừng, vì thông hiểu rằng lời cung kính kia chỉ là giả tạm. Đối với bốn loại ngược với các loại này là Suy; Hủy; Cơ; Khổ; Bồ tát cũng chẳng sinh buồn, vì thân tâm vẳng lặng, ngôn ngữ trầm mặc lìa được tám gió.
Đây cũng giống như giải thích trong Du Già quyển thứ hai.

*
-Kinh văn : “Lại thấy có Bồ tát” tới “khiến đều nhập đạo Phật”.
Tán rằng : đây nói về ba loại bi đối với chúng sinh. Bi có nghĩa là cứu khổ, loài hữu tình nhờ vào bi, bi duyên vào loài hữu tình mà khởi lên. 
Hạnh có nhiều loại, chúng sinh cũng vô cùng, nêu riêng một hạnh tế độ loại chúng sinh bị khổ sở nặng nề, nên nói là phóng quang tế độ cho chúng sinhđịa ngục khỏi khổ.
Hai hành pháp bi khác, duyên vô duyên cứ theo đây cũng thành. Phần sau sẽ nói rõ ràng đầy đủ.

*
-Kinh văn : “Lại thấy hàng Phật tử” tới “siêng năng cầu đạo Phật”.
Tán rằng : dưới đây là 13 bài tụng rưỡi, tụng về Địa tiền phàm phu tín giải hành đạo. Lục độ loạn tu tức là sáu thứ :
1) Một bài tụng về Cần.
2) Một bài tụng về Giới.
3) Một bài rưỡi tụng về Nhẫn.
4) Hai bài tụng về Định.
5) Năm bài tụng về Thí.
6) Ba bài tụng về Tuệ.
Đây là Cần : ăn uống biết lượng, giảm bớt ngủ nghỉ, đầu hôm cuối hôm giác ngộ.
Kinh Di Giáo, Du Già luận cũng nói : “đầu hôm cuối hôm cũng chớ bỏ, giữa đêm tụng kinh để tự tu dưỡng, chớ để nhân duyên ngủ nghỉ khiến cho cả một đời sống uổng không được tích sự gì”. 
“Từng” (thường) : là thử, có nghĩa là tạm làm. Nay chẳng tạm làm nên gọi là chưa từng.
“Kinh hành trong rừng”: Tây vực đất thấp, phải dùng gạch xây đường, để đi đi lại lại ở trong cho tiêu thực mà tụng kinh, như mắc sợi dọc của vải lụa mắc qua mắc lại, cho nên gọi là kinh hành.
Đây chính là để sách lệ (thôi thúc) việc tu Tứ chính đoạn :
1) Đối với pháp ác bất thiện đã sinh thì tu Luật nghi đoạn.
2) Đối với pháp ác bất thiện chưa sinh thì tu Đoạn đoạn.
3) Đối với thiện pháp đã sinh thì tu Phòng hộ đoạn.
4) Đối với thiện pháp chưa sinh thì tu Tu tập đoạn để cầu Phật đạo.
Cho nên Kinh Hoa Nghiêm nói :
Phật tử khéo lắng nghe
Ai muốn chóng xuất ly
Nếu muốn cầu trừ diệt
Phải nên trong mọi lúc
Ví như ngọn lửa nhỏ
Ở trong Phật giáo pháp 
Ví như người dùi lửa 
Ngừng nhiều lửa sẽ tắt
Ví như tịnh hỏa châu
Rốt cuộc chẳng thành được
Ví như trời trong sáng
Ở trong Phật giáo pháp Ta nói nghĩa chân thực
Hoặc ai khó giải thoát.
Vô lượng các tội ác
Dũng mãnh đại tinh tiến.
Củi ẩm tắt ngay được
Kẻ lười nhác cũng thế.
Chưa cháy ngừng nghỉ nhiều
Kẻ lười nhác cũng thế.
Lìa duyên mà cầu lửa
Kẻ lười nhác cũng thế.
Nhắm mắt cũng thấy sắc
Kẻ lười nhác cũng thế.
Do mới phát tâm, tinh tiến là quan trọng nhất, vì Tín là chỗ dựa của Dục, Dục là chỗ dựa của Tinh tiến.
Ở đây chỉ coi Tinh tiến là đầu, vì trong Thập tín tâm, Tín ở sau Tinh tiến.

*
-Kinh văn : “Lại thấy đầy đủ giới” tới “để cầu chứng Phật đạo”.
Tán rằng : đây là một bài tụng về Giới. Uy nghi ba nghiệp thường không khuyết giảm, chớ khinh tội nhỏ, cho là không tai vạ gì. Giọt nước tuy nhỏ dần dà chảy mãi cũng đầy chum lớn, vì vậy rất sợ hãihổ thẹn.
- (Thanh) tịnh như châu báu có nghĩa là :
1) Trong ngoài đều không có tỳ vết.
2) Giới đức viên mãn đầy đủ.
3) Uy quang rực rỡ chói lọi.
4) Được mọi người yêu mến ưa thích.
Do đó chuyện “Nga Châu Tỳ kheo” bị trói, chuyện “Thảo Hệ Tỳ kheo” xả thân; nhạn rơi trước kẻ Tri sự, rồng sinh ở cây Y lan, Chính là vì bình bát tùy lòng, luật nghi là gốc vậy.

*
-Kinh văn : “Lại thấy hàng Phật tử” tới “để cầu chứng Phật đạo”.
Tán rằng : một bài rưỡi này tụng về Nại oán hại nhẫn. Những kẻ được ít mà lại tự cho là được nhiều, đó gọi là bọn Tăng thượng mạn. Những kẻ đó cậy chủng tộc dòng họ, thông minh tài trí, nhan sắc sức lực, của cải giàu có, đạo đức danh dự, cho là mình được cao hơn người khác rồi có những hành động đánh đập mắng chửi người khác. Đối với những kẻ đó, Bồ tát nhờ năm loại quán (tưởng) đều nhẫn được cả.
Năm loại quán tưởng đó là :
1) Thân thuộc tưởng. 4) Vô thường tưởng.
2) Duy pháp tưởng. 5) Nhiếp thụ tưởng.
3) Hữu khổ tưởng.
Tụng rằng :
Nên quán kẻ hại đó, 
Thân thuộc, chỉ có pháp,
Có khổ và vô thường,
Nhiếp thụ, nên phải nhẫn.
Trên đây chỉ là nêu qua. Hơn nữa nếu nói rộng như U Tán, sợ văn rườm rà nên chẳng thuật lại.
* Chữ Chùy [ 捶 ] âm đọc là phiên thiết của hai chữ Chi Lụy, có nghĩa là đánh đập. Chữ Đả có âm là Đỉnh.

*
-Kinh văn : “Lại thấy có Bồ tát” tới “để cầu được Phật đạo”.
Tán rằng : đây là 2 bài tụng về Định.
- Có bốn thứ phải lìa bỏ :
1) Híù, chỉ phân biệt hí luận.
2) Tiếu (cười đùa), chỉ nói cười đùa cợt (đàm hước).
3) Lìa tự ngu si.
4) Lìa ác quyến thuộc, lìa thân thuộc v.v…
- Có hai thứ chẳng lìa :
1) Thân cận thiện duyên, trái ngược với điều cần lìa thứ tư.
2) Nhất tâm trừ loạn, trái ngược với ba điều đầu.
Cho nên Kinh Di Giáo nói : “Tỳ kheo các ông cần phải lìa cảnh huyên náo, ở rảnh một mình, nghĩ cách diệt cội khổ. Nếu thích đám đông, sẽ bị phiền não vì đám đông”.
Nói rộng ra thì như trong kinh (đã dẫn).

*
-Kinh văn : “Hoặc thấy vị Bồ tát” tới “để cầu đạo vô thượng”.
Tán rằng : đây là 5 bài tụng về thí, chia làm 
ba :
- Ba bài đầu tụng về Tứ sự thí.
- Bài kế tụng về Thượng diệu thí.
- Một bài cuối tụng về Ýù lạc thí.
+ Tứ sự thí gồm :
1) Ăn uống. 2) Thuốc thang.
3) Quần áo. 4) Chăn chiếu.
- “Hào” : thức ăn chẳng thuộc loại ngũ cốc thì gọi là Hào. Chữ Hào có nghĩa món ăn, để ăn với cơm, như các loại rau cải, đậu đỗ, hoa quả.
- “Thiện” : bữa ăn đầy đủ. Thời này bữa ăn ngon cũng gọi là Trân thiện. Tục giải thích Hào, Thiện là thức ăn làm bằng thịt. Đây thì chẳng phải thế. Bồ tát bày ra để cúng dàng Phật nên cũng phải dùng chữ Thiện. Có chỗ nói là Hào Thiện, đó là sai.
- “Chiên đàn” : chiên đàn mà đỏ thì gọi là Ngưu đầu chiên đàn. Nếu đen thì gọi là Tử đàn; trắng thì gọi là Bạch đàn.
+ Trong Thượng diệu thí, bố mẹ ốm, dù là pháp sư, Bồ tát tối hậu thân chẳng phải là bậc đã chứng thánh nhưng nếu cúng dàng thì thí quả cũng vô lượng.
Lại nói rằng : “nếu có vị nào đã thụ giới cụ túc tuy yếu ớt nhưng có khả năng biện thuyết làm lợi lạc cho nhiều người như Phật, như Đại sư, thì phải nên cúng dàng”. Vì yêu mến tài biện thuyết giỏi của các vị đó giống như Phật. Cho nên đem vườn tược tốt đẹp thanh tịnhbố thí.
+ Trong Ý lạc thí, có sáu thứ ý lạc :
1) Quảng đại. 4) Ân đức
2) Vô yếm (không chán). 5) Vô nhiễm
3) Hoan hỉ. 6) Thiện hảo. 
Trong này thì ba thứ : Hoan hỉ, Vô yếm và Thiện hảo tức là Cầu vô thượng đạo.
Tứ sự thí nói ở trên là Quảng đại thí. Làm ơn mà không có suy tính trước thì gọi là Ân đức thí. Ba thời không hối, chẳng bị nhiễm tạp thì gọi là Vô nhiễm thí. 
Đem đồ ăn thức uốngbố thí thì sẽ được đầy đủ Pháp thực, chẳng bị đọa vào kiếp đói khổ. Đem thuốc men mà bố thí thì sẽ được Pháp dược, không bị bệnh tật. Đem quần áo mà bố thí thì được áo Thất bảo, nhu hoà thiện thuận, đủ đức Tàm quý (biết hổ thẹn). Đem chăn chiếu (ngọa cụ) bố thí thì sẽ được Duyên tư cụ, được vào ở nhà không tịch, ở buồng từ bi. Đem vườn tược bố thí thì sẽ được trụ ở Giác uyển, ở vườn tổng trì, và được cây rừng Vô lậu pháp. Đem hoa mà bố thí thì được hoa Thất giác. Đem quả bố thí thì được Tứ thánh quả. Đem ao tắm bố thí thì sẽ được ao Bát giải xả cấu.

*
-Kinh văn : “Hoặc có vị Bồ tát” tới “mà cầu đạo vô thượng”.
Tán rằng : 3 bài này tụng về Tuệ :
- Bài đầu tụng về Hậu đắc trí, vì pháp thí vô tận. Kinh Ca Diếp nói : “nếu có hằng hà sa số thế giới trong đó có đầy ắp châu báu. Mang tất cả số châu báu đó mà bố thí cho các vị Như Lai thì cũng chẳng bằng thí pháp”. Bố thí châu báu tuy phúc nhiều cũng chẳng bằng bố thí một pháp. Bố thí một bài kệ phúc lại càng nhiều, khó thể nghĩ bàn.
- Bài thứ hai tụng về Chánh trí, vì chứng Vô tướng. Hai tướng có nghĩa là có sự phân biệt. Không có hai tướng tức là Bất nhị pháp môn được nói trong các kinh khác, như ba loại kia thuyết Bất nhị nghĩa. Hữu tướng, vô tướngLợi tha, tự lợinhị Trí hạnh mà các Bồ tát Địa tiền phải học và hành.
- Cuối cùng là một bài tụng về Gia hạnh để cầu chính đạo.
* Chữ Giáo : có âm đọc là phiên thiết của hai âm Cổ Hiếu, có nghĩa là huấn (dạy bảo) là thị (chỉ bày).
Chữ Chiếu : [ 詔 ] có âm đọc là phiên thiết của hai chữ Chư Diệu, có nghĩa là dẫn đạo, nghĩa là giáo đạo (dạy dỗ dìu dắt).
Chữ Chiếu : [ 詔 ] có nghĩa như chữ Chiếu [ 照 ] là soi sáng. Tối về thành sự, thì sẽ sai phạm. Lấy pháp này mà chỉ bảo cho khiến cho sáng tỏ rành rành có thể thấy được. Lại còn có bản chép là Giáo chiêu [ 教 招 ] . Chữ Giáo không đọc bình thanh. Còn chữ Chiêu có nghĩa là “dẫn dụ khiến tiến lên” (dụ tiến) vậy.
*
-Kinh văn : “Ngài Văn Thù Sư Lợi” tới “cúng dàng Xá lợi Phật”.
Tán rằng : dưới đây là đoạn thứ sáu có 7 bài tụng, tụng về việc dựng tháp, chia làm hai phần :
- Phần đầu là 1 bài tụng về cúng dàng Xá lợi.
- Phần sau là 6 bài tụng về việc dựng tháp cúng dàng.
Phần sau lại chia làm ba :
a) 3 bài tụng về việc dựng tháp trang nghiêm.
b) 1 bài tụng về Bát bộ cúng dàng.
c) 2 bài tụng nêu bật việc dựng tháp đặt biệt đẹp đẽ.
Thêm nữa, 7 bài tụng lại chia làm hai phần :
- 5 bài đầu là tụng về trường hàng.
- 2 bài sau là tụng kết luận về việc dựng tháp đẹp. 
Trong phần đầu lại chia làm hai :
+ 4 bài tụng về việc Bồ tát cúng dàng.
+ 1 bài tụng về việc tám bộ cúng dàng.
Bồ tát cúng dàng lại chia làm hai phần :
- 1 bài đầu tụng về việc cúng dàng Xá lợi.
- 3 bài sau tụng về việc dựng tháp.
Cứ theo tụng văn này thì trường hàng phải nói là: “Cúng dàng Xá lợi, dựng tháp Thất bảo”. Đó là cả phần đầu.
*
-Kinh văn : “Lại thấy hàng Phật tử” tới “tiếng nhạc báu hòa vang”.
Tán rằng : ba bài tụng này tụng về việc dựng tháp : một tụng về số, một tụng về lượng, một tụng về nghiêm (chỉ trang trí đẹp đẽ, trang nghiêm).
Bồ tát địa nói: “nếu sau khi Phật diệt độ rồi mà dựng một hoặc nhiều Chế đa (tức tháp) Phật để cúng dàng, thì sẽ được vô lượng quả đại phúc đức, được hưởng thụ Đại Phạm phúc, vô số đại kiếp chẳng bị đọa vào nẻo ác, cũng sẽ được vô thượng Bồ đề tư lương”.
Tiếng Phạm : Du Thiện Na, nghĩa chỉ hạn lượng (chỉ đơn vị đo chiều dài), thường bị gọi lầm là do tuần. Câu Xá tụng nói rằng : các đơn vị từ cực vi, vi, kim, thủy, thố, dương, ngưu, khích trần, cơ, sắt, mạch, chỉ tiết. Tăng 7 lần là chỉ, 24 chỉ là trửu, 4 trửu là cung lượng.
500 câu lư xá đó là 8 du thiẹân na, bằng hơn 16 dặm. Theo các kinh thì bằng 40 dặm.
Cực vi, vi, kim, thủy : cực nhỏ, nhỏ như hạt vàng, giọt nước. Thố, dương, ngưu : thỏ, dê, bò. Khích trần : hạt bụi nhìn qua khe hở. Cơ : chấy rận nhỏ. Sắt : rận. Mạch : hạt lúa. Chỉ tiết : đốt ngón tay. Chỉ : ngón tay. Trửu : khuỷu tay – ở đây đều chỉ các đơn vị đo lường thời cổ ở Ấn Độ.
* Chữ Tung [ 樅 ] có hai âm đọc : một là phiên thiết của Tức Dung (tung), một là phiên thiết của Tử Dụng (túng). Đọc là Tung, là chỉ chiều dọc, còn Quảng là chỉ chiều ngang. Thời cổ viết là chữ tòng [ 從 ]. Sách Thiết Vận chỉ có ba chữ [ 樅 , 蹤 , 車從 ] (đều đọc là tung). Có bản chép là [ 從 ] chẳng biết căn cứ vào đâu.
Tục giải chiều nam bắc là Tung, chiều đông tây là Hoành. Lộ : là chẳng che đậy. Mạn : là che đậy. Ở đây nói rõ các thứ dùng để trang trí có thứ lộ ra, có thứ che lại. Tới phẩm Bảo Tháp ở dưới sẽ giải thích cụ thể.
Ở đây nói rõ số lượng bảo thápBáo độ từ vị trí ở bên trên mà nhìn xuống. Nếu không thế thì châu này làm sao mà chứa được nhiều tháp.
* Có chỗ giải thích Mạn là màn, ở bên cạnh thì gọi là Duy, ở bên trên thì gọi là Mạc. Mạc cũng có nghĩa là cái màn để che đậy. Lộ : nghĩa giống như Phú lộ (chỉ màn che). Văn các kinh có câu : “châu giao lộ cái” (châu giăng màn lọng). Có nơi viết là (縵 ] Mạn, chỉ loại lụa là không có hoa văn (lụa trơn). Chữ đó không phải là dị thể của chữ [ 幔 ] Mạn (có nghĩa là màn).
Nhạc báu hòa vang : chỉ thanh điệu hài hòa vậy.
*
-Kinh văn : “Các vị trời, rồng, thần” tới “thường đem đến cúng dàng”.
Tán rằng : đây là kể ra tám bộ cúng dàng.
*
-Kinh văn : “Ngài Văn Thù Sư Lợi” tới “hoa ấy đương xòe nở”.
Tán rằng : hai bài tụng này là kết luận về việc dựng tháp tốt đẹp. Nhân việc dựng tháp mà cõi nước được đặc biệt tốt đẹp. Tháp ấy cao đẹp tuyệt vời, được nhiều thứ châu báu, lụa màu trang điểm, như lúc hoa cây chúa Viên Sinh của thiên Đế Thích xòe nở, đẹp đẽ tốt lành tuyệt vời rạng rỡ hơn xa mọi cây, cho nên lấy đó để mà ví.
*
-Kinh văn : “Phật phóng một luồng quang” tới “soi chiếu vô lượng nước”.
Tán rằng : đoạn thứ hai trong đoạn văn dài ở dưới có 8 bài tụng, tụng về việc thỉnh, chia làm hai phần :
- Phần đầu là 4 bài tụng về việc thấy hiện tượng kỳ lạ cho nên hỏi.
- Phần sau là 4 bài tụng về việc suy ngẫm về sự mà xin giải đáp
Phần đầu lại chia làm hai :
+ Hai câu đầu nói về hai chuyện kỳ lạ ở gần và xa.
+ Hai câu sau nêu lên hai sự đã nhìn thấy để hỏi.
Phần đầu này : câu đầu nói về việc nhìn thấy sự kỳ lạ ở gần, câu sau nói về việc nhìn thấy sự kỳ lạ ở xa.
*
-Kinh văn : “Chúng tôi thấy sự này” tới “phóng ánh quang minh đó”. 
Tán rằng : hai bài tụng này nêu ra hai sự đã thấy để mà hỏi.
Bài tụng đầu nói về hai cái thấy : tự mình thấy và người khác thấy. Bài sau nêu điều thấy được của người này người kia và cái ý nghi ngờ như vầy : phóng quang là vì duyên cớ gì ? Người này thấùy cảnh thì hăm hở muốn rằng ta sẽ hỏi. Người kia thấy cảnh thì hi vọng mong rằng bậc nhân giả sẽ giải đáp.
*
-Kinh văn : “Bấy giờ Phật tử đáp” tới “phô diễn quang minh này”. 
Tán rằng : dưới là suy về sự mà xin giải đáp. Chia làm bốn : 
- Đầu tiên là một bài tụng suy về thời mà xin giải đáp.
- Thứ đến một bài tụng về việc suy về sự mà xin giải đáp.
- Thứ nữa một bài tụng nêu lên sự là cực lớn.
- Cuối cùng là một bài tụng chính thức thỉnh vị đó giải đáp.
Trong phần đầu này, bốn chúng khao khát hớn hở mong được nghe Thắng đạo, nguyện quyết khiến cho được hoan hỉ, nay chính là phải lúc, vì phàm là người thuyết pháp ắt phải nắm lấy thời cơ.
*
-Kinh văn : “Phật ngồi nơi đạo tràng” tới “đây chẳng phải duyên nhỏ”. 
Tán rằng : bài tụng đầu suy về hai sự mà thỉnh giải đáp. Hai sự đó là : một là diệu pháp, hai là thụ ký. Bài tụng sau nói rõ sự là cực lớn, vì thấy Phật và cõi tịnh độ, đó chẳng phải là duyên nhỏ.
*
-Kinh văn : “Ngài Văn Thù phải biết” tới “sẽ thuyết cho những gì ?”.
Tán rằng : chính thức xin vị đó giải đáp. Chỉ trông cậy ở bậc nhân giả (chỉ ngài Văn Thù) chỉ đặt hy vọng vào một mình bậc nhân giả giải đáp cho. Trước đây trông cậy cả hai phía người này hỏi người kia đáp (để giải quyết giúp điều ngờ). Nay chỉ trông cậy vào một mình ngài, mong ngài giải quyết lưới ngờ của chúng.
*
-Kinh văn : “Bấy giờ ngài Văn Thù” tới “cùng các đại sĩ”. 
Tán rằng : dưới là thành tựu thứ bảy : Văn Thù đáp thành tựu.
Luận rằng : ngài Văn Thù Sư Lợi nhờ có Túc mạng trí mà nhìn thấy được mười sự thành tựu, tướng nhân quả trong thời quá khứ như hiện ra rành rành trước mắt, bởi vậy mới có thể giải đáp được, chẳng phải là do suy diễn, hư cấu mà có thể giải đáp được.
Luận nói: nhân tướng đó là Văn Thù tự nhìn thấy chính bản thân mình đã tu hành các hạnh ở biết bao nhiêu cõi Phật, vì đó chính là Bồ đề nhân hành, là cái nhân của ngày nay. Quả ấy tức là tự thể sở y thời quá khứ
Luận nói : Văn Thù tự nhìn thấy bản thân mình là pháp sư Diệu Quang thời quá khứ ở nơi Phật đó nghe pháp môn này rồi thuyết cho chúng sinh. Đó là quả của thời quá khứ nhiều kiếp trước. Quả tức là tự thể sở y, chẳng phải là quả của cái nhân sở kiến.
Nhân đó là cái nhân của quả Phật ngày nay. Quả đó chính là quả của quá khứ vô lượng sinh nhân. Phần lớn được chia làm ba phần nhỏ :
- Đầu tiên là nêu vấn đề chung.
- Thứ đến là giải đáp đúng vào câu hỏi đã nêu ra.
- Cuối cùng là hai bài tụng nói cho đại chúng biết là sẽ trình bày những điều Phật nay thuyết giảng.
Đây tức là phần đầu vậy.
*
-Kinh văn : “Này các thiện nam tử ! Cứ như ta suy đoán” tới “giảng nghĩa pháp lớn”.
Tán rằng : đây là chính thức giải đáp về câu hỏi đã nêu ra. Song theo như Luận bản, thì trong lời giải đáp này thành tựu mười sự :
1) Hiện kiến đại nghĩa nhân (nguyên nhân hiện đang thấy được nghĩa lớn), tức là đoạn văn này.
2) Hiện kiến thế gian văn tự chương cú thậm thâm ý nhân (nguyên nhân hiện đang thấy được ý rất sâu của chương cú văn tự thế gian), tức là đoạn từ “Này các thiện nam tử ! Ta ở thời quá khứ…” trở xuống.
3) Hiện kiến hy hữu nhân (nguyên nhân hiện đang thấy được sự hy hữu) tức là đoạn từ “Này các thiện nam tử ! Như quá khứ vô lượng vô biên…” trở xuống.
4) Hiện kiến thắng diệu nhân (nguyên nhân hiện đang thấy được sự thắng diệu), tức là đoạn từ “Thứ nữa, lại có Phật cũng gọi tên là Nhật Nguyệt Đăng Minh…” trở xuống.
5) Hiện kiến thụ dụng đại nhân (nguyên nhân hiện đang thấy được sự thụ dụng lớn), tức là đoạn từ “vị Phật cuối cùng chưa xuất gia…” trở xuống.
6) Hiện kiến nhiếp thủ chư Phật chuyển pháp luân nhân (nguyên nhân hiện đang thấy nhiếp thủ chư Phật chuyển pháp luân), tức đoạn từ “Sau khi Phật diệt độ, Diệu Quang Bồ tát trì Diệu Pháp Liên Hoa…” trở xuống.
7) Hiện kiến thiện kiên thực Như Lai pháp luân nhân (nguyên nhân hiện đang thấy pháp luân hoàn thiện, kiên thực của Như Lai), tức đoạn từ “tám người con Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh đều là học trò của Diệu Quang…” trở xuống.
8) Hiện kiến năng tiến nhập nhân (nguyên nhân hiện đang thấy được khả năng tiến tu nhập đạo), tức là đoạn từ “Các vị vương tử này cúng dàng vô lượng” trở xuống.
9) Hiện kiến ức niệm nhân (nguyên nhân hiện đang thấy nhớ lại), tức đoạn từ “vị cuối cùng thành Phật hiệu là Nhiên Đăng…” trở xuống.
10) Hiện kiến tự thân sở kinh sự nhân (nguyên nhân hiện đang thấy được các sự bản thân mình đã trải qua), tức là đoạn từ “Di Lặc cần phải biết rằng Bồ tát Diệu Quang thời đó…” trở xuống.
Nhân đây là chỉ nguyên nhân đã khiến Văn ThùHiện lượng trí thấy được sự ấy, chứng được nguyên do của sự ấy để mà giải đáp cho Di Lặc, cho nên gọi là Nhân.
Hoặc mười sự này phần nhiều đều ở đời trước và là nhân của thời nay cho nên gọi là Nhân.
Trong mười nhân này, tổng kết lại thì thành năm đối:
1) Nghĩa giáo đối. 4) Kiên tiến đối.
2) Hy thắng đối. 5) Tha tự đối.
3) Chuyển tự đối. 
Cứ theo thứ tự mà phối hợp với mười tướng trong kinh thì sẽ biết.
Trong này, nếu tóm lại thì chia làm bốn :
1) Thị tướng thọ lượng đáp (giải đáp về vấn đề thị tướng thọ lượng).
2) Cử cổ thành kim đáp (giải đáp bằng cách nêu chuyện xưa để trả lời cho ngày nay).
3) Chỉ trần biệt sự đáp (giải đáp bằng cách chỉ bày sự khác).
4) Cổ kim tương tức đáp (giải đáp bằng cách chỉ rõ xưa tức là nay).
Hai nhân đầu, một nhân cuối theo như thứ tự trong văn. Bảy nhân khác ở giữa đều là Chỉ trần sự đáp. Tới phần dưới sẽ biết.
Nay ở đây tức là Thị tướng thọ lượng đáp.
* Chữ Duy (nghĩ, nghĩ ngợi, ngẫm nghĩ) : có nghĩa như các chữ tư, niệm, mưu. Chữ Thổn : nghĩa như chữ Đạc (phán đoán, ức đoán).
Điều mà luận gọi là Hiện kiến đại nghĩa nhân thành tựu thì như sau :
Nghĩa đây tức là nghĩa lý được thành tựu bởi sở do của tám loại nghĩa lý lớn. Sở do tức là Nhân vậy.
Tám nghĩa lớn : kinh có năm câu, luận có tám câu. Phải nói là : 
1) Muốn thuyết pháp lớn.
2) Mưa mưa pháp lớn.
3) Đánh trống pháp lớn.
4) Trống pháp lớn không ngừng.
5) Dựng cờ pháp lớn.
6) Đốt đuốc pháp lớn.
7) Thổi loa pháp lớn.
8) Diễn nghĩa pháp lớn. 
Trong luận, đến câu thứ bảy mới nói “trống pháp lớn không ngừng”. Nay lấy nghĩa mà suy, nên câu thứ tư nói, cũng chẳng trái nhau.
* Hai chữ Vũ trong Vũ đại pháp vũ, cả hai đều đọc là Vũ, hoặc chữ đầu đọc là Vu. Chữ Xuy [ 吹 ] có hai âm đọc là Xuy và Xúy. Ở đây đọc âm đầu (Xuy).
Chữ Loa có âm đọc là phiên thiết của Lạc Qua, là tên một loại thủy trùng (Loa : con ốc) có khi viết là chữ [ 贏 ].
Luận rằng : kẻ nghi thì đoạn nghi tức là muốn thuyết pháp lớn, vì muốn phá trừ điều ngờ trước thì trụ ở địa vị ngoại phàm để mà tinh tiến tu tập. Kẻ đã đoạn nghi rồi thì tăng trưởng thuần thục trí thân họ, tức là mưa mưa pháp lớn, vì kẻ trước đã trụ ở địa vị nội phàm và không còn nghi ngờ gì nữa thì vun đắp thêm mầm thiện cho họ khiến họ nhập thánh vị để tăng thiện.
Ý bản luận này trên dưới liên quan móc xích với nhau mà khởi lên để giải thích kinh văn. Ở dưới cứ theo lệ đó sẽ biết.
Luận rằng : đối với kẻ căn cơ thuần thục thì thuyết cho họ về hai loại Mật cảnh giới. Đó là hai mật cảnh giới Thanh văn, Bồ tát ; dùng hai câu để thị hiện tức là “đánh trống pháp lớn, trống pháp lớn không ngừng”, vì vang xa, cho nên theo thứ tự mà phối trí. Tức là nói rõ Thanh văn thừa trước kia mà ngày nay nói tới là Quyền mật cảnh giới và nêu bật Bồ tát thừa đang giảng ngày nay là Thực mật cảnh giới, đó gọi là hai Mật cảnh giới, để cho kẻ căn cơ thuần thục bỏ quyền lấy thực.
Cho nên Luận nói rằng : kẻ nhập Mật cảnh giới thì khiến họ tiến thủ Thượng thượng thanh tịnh nghĩa, tức là “dựng cờ pháp lớn”, vì kiến lập diệu trí Bồ đề cực kỳ cao hiển giống như ngọn cờ . Vì biết phân biệt đâu là quyền thừa đâu là thực thừa, có thứ phải bỏ, có thứ phải lấy, vì tu hành hạnh đại thừa thì được Đại thừa trí, lìa chướng thanh tịnh.
Luận rằng : người tiến thủ Thượng thượng thanh tịnh nghĩa thì tiến thủ Nhất thiết trí hiện kiến, tức là “đốt đuốc pháp lớn” có nghĩa là đã được chân trí, kiến lập Bồ đề rồi thì chiếu ở chân cảnh chứng Niết bàn như đuốc chiếu vật.
Luận rằng : tiến thủ Nhất thiết trí hiện kiến có nghĩa vì mọi pháp mà kiến lập nghĩa chươngdanh tự, đó tức là “thổi loa pháp lớn”. Có nghĩa là đã chứng được chân cảnh rồi thì ắt phải thuyết giáo nghĩa, giáo thuyên nhất thiết pháp. Đó gọi là vì mọi pháp mà kiến lập danh tự v.v… Như thế tục tấu nhạc, khi khúc nhạc đã kết thúc viên mãn thì “thổi loa pháp lớn”, nay đã được quả vị viên mãn thì thuyết pháp cho người khác cũng lại giống như thế. Cho nên Kinh Niết bàn nói là thổi loa để biết thời.
Luận rằng : kiến lập danh tự, chương, cú, nghĩa, có nghĩa là khiến nhập Bất khả thuyết chứng trí ; chuyển pháp luân, đó tức là “diễn nghĩa pháp lớn” thuyết về giáo để khiến cho những kẻ cần phải độ ngộ nhập chứng trí, thành chuyển pháp luân phá trừ phiền não.
Trong tám câu này lại chia ra làm bốn đối :
1) Phá ác tiến thiện đối.
2) Khai quyền hiển thực đối.
3) Đắc trí chứng chân đối.
4) Thuyết pháp lợi sinh đối.
Cứ tuần hoàn như vậy gọi là pháp luân : tự mình đã đắùc quả rồi, muốn khiến cho hữu tình chứng thánh chân trí, phá diệt phiền não. Luận đã giải kinh theo lối móc xích như vậy, cho nên các ý ở đây thừa tiếp nhau mà thành đối, có thể khai giải các ý, tìm hiểu lai do (tức nguyên do).
Kinh có 5 câu, chỉ là 2 đối rưỡi : chỉ có Phá ác tiến thiện, Thuyết pháp lợi sinh là khai quyền nhất môn, còn các thứ khác là hiển thực. Đắc trí chứng chân thì văn, đối đều khuyết, lại chẳng theo đúng thứ tự. Người đọc cần phải biết điều này.
*
-Kinh văn : “Này các thiện nam tử” tới “tức thuyết pháp lớn”.
Tán rằng : đây là nguyên nhân sâu xa của việc hiện ra cảnh đang thấy, mà nói theo văn tự chương cú thế gian thì đây là thuyết về giáo lớn. 
Giáo đó là chương cú danh tự hý luận thế gian. Ý đây là ý huống, là cảnh có ý nêu lên nguyên nhân của việc thuyết giáo, tức là Cử cổ thành kim đáp (giải đáp bằng cách nêu rõ cái thời xưa thành cái ngày nay).
Trong văn có ba ý :
1) Nêu ra chuyện quá khứ.
2) Kết luận đã thành chuyện ngày nay.
3) Giải thích ý nghĩa các chuyện này.
Đây là ý đầu.
*
Kinh văn : “Cho nên cần phải biết rằng” tới “cũng lại như vậy”.
Tán rằng : đây là ý kết luận đã thành chuyện ngày nay.
*
-Kinh văn : “Muốn khiến cho chúng sinh” tới “nên thị hiện ra điềm lành này”. 
Tán rằng : đây là giải thích về dụng ý. Phóng quang là có dụng ý gì ?
Đó là vì muốn khiến cho chúng sinh nghe biết pháp khó tin. Xưa thuyết về nhị chân, nay bàn về nhất thực, khiến họ bỏ cái tột bực ngày xưa (cựu cực) mà lấy cái tột bực ngày nay (kim tân cực), cho nên gọi là khó tin. Chẳng những khó tin mà ý nghĩa cũng khó.
*
-Kinh văn : “Này các thiện nam tử ! ” tới “A tăng kỳ kiếp”. 
Tán rằng : dưới có 8 nhân tóm lại thành 2 loại văn : loại đầu là trường hàng, loại sau là kệ tụng
Trường hàng chia hai :
l 7 nhân đầu là Chỉ trần biệt sự đáp (giải đáp trình bày về các sự riêng biệt).
1 l nhân sau là Cổ kim tương tức đáp (giải đáp về cổ tức là kim).
Bảy nhân đầu lại chia làm ba :
k 1 nhân Tán dương hy hữu đáp.
k 1 nhân Hiển hậu thắng diệu đáp.
k 5 nhân Ủy trần đồng sự đáp.
Về mục đầu tiên Tán dương hy hữu đáp, luận gọi đó là Hiện kiến hy hữu nhân, vì là vô lượng thời bất khả đắc.
Trong này có bốn ý :
1) Tán dương thời gian lâu dài hiếm có. 
2) Tán dương danh hiệu Phật là hiếm có.
3) Tán dương pháp thắng diệu hiếm có.
4) Tán dương Sinh lợi đáp hiếm có.
Đây tức là mục đầu.
Luận nói : “Bất khả tư nghị bất khả xưng bất khả lượng” đó là thể hiện thời gian vượt quá A tăng kỳ kiếp chẳng thể nắm bắt được. 
Tiếng Phạm : A Tăng Xí Da, ở đây phiên sai gọi là A tăng kỳ, có nghĩa là vô số.
Câu Xá luận nói : đó là số thứ 52, từ 1 tích đến 10 tới số này tột cùng thì gọi là A tăng kỳ. Vốn có 60 tên các số, nhưng 8 tên số khác đã bị thất truyền. Kinh Hoa Nghiêm nói : có 120 số, đây chính là số thứ 112.
- Kiếp lạp ba : gọi tắt là kiếp. Đây gọi là phân biệt, có nghĩa là phân biệt thời gian (ý nói đó là đơn vị thời gian).
- Bất khả tư nghị (chẳng thể nghĩ bàn) : có nghĩa là vượt quá Tình kế cảnh (tức như quá sức tưởng tượng).
- Bất khả xưng : có nghĩa là vượt quá Ngôn nghị cảnh (tức là vượt quá khả năng biểu đạt bằng ngôn ngữ).
- Bất khả lượng : có nghĩa là Phi dụ toán cảnh (chẳng thể hình dung, ước lượng).
Kinh nay gọi là Vô lượng, có nghĩa là vượt quá Toán phần Dụ phần. Vô biên có nghĩa là vượt quá Thời phần. Bất khả tư nghị cũng có nghĩa là vượt quá Tình kế phần , tức là giống với Quá tứ phần trong Kinh Bát Nhã.
Bồ Tát Địa luận nói kiếp có hai loại :
1/. Số năm tháng ngày đêm.
2/. A tăng kỳ kiếp.
Du Già luận lại nói : 
- Hoặc gọi một lần tăng giảm là một kiếp, chỉ đói khát, dịch bệnh, binh đao.
- Hoặc có nơi 20 kiếp là một kiếp, đó là Phạm chúng thiên.
- Hoặc có nơi 40 kiếp là một kiếp. Đó là Phạm phụ thiên
- Hoặc có nơi 60 kiếp là một kiếp, đó là Đại phạm thiên
- Hoặc 80 kiếp là một kiếp, đó là kiếp hỏa tai. Trời Thiểu quang thiên thọ mệnh bằng hai kiếp này.
- Hoặc 7 kiếp hỏa tai mới 1 kiếp thủy tai, đó là Cực quang tịnh thiên.
- Hoặc tám lần 7 kiếp hỏa tai, một lần 7 kiếp thủy tai, mới một kiếp phong tai, đó là Biến tịnh thiên.
Cứ đếm số này tới lúc chẳng thể đếm được nữa thì là một A tăng kỳ kiếp. Phải trải qua ba đại A tăng kỳ kiếp như vậy tu nhân, thì mới làm được Phật. Cộng với Hiền kiếp v.v… cả thảy có mười loại kiếp khác nhau.
Cứ theo lời văn của Cổ Nhiếp luận thì có khi Địa tiền chia làm ba A tăng kỳ kiếp, Thập địa mỗi địa chia làm ba, gộp lại thành 33 A tăng kỳ kiếp. Thất địa trở về trước là Tiểu. Bát địa, Cửu địa, Thập địa là Trung. Địa tiền là Đại. Tuy có các kiếp lượng chẳng giống nhau như vậy, song các kiếp nói trong hội Pháp Hoa này theo luận bản thì phần nhiều căn cứ theo năm loại :
1. Đêm 3. Tháng 5. Năm. 
2. Ngày 4. Mùa (thời) 
Nay y vào vô lượng vô biên, bất khả tư nghì A tăng kỳ năm mà gọi là kiếp chứ chẳng phải là đại kiếp khác, vì chư Phật phải trải qua vô số đại kiếp mới xuất hiện một lần, vì kiếp mà Văn Thù đã thấy là cực lớn cực lâu xa xôi.
*
-Kinh văn : “Bấy giờ có Phật” tới “Phật Thế tôn” .
Tán rằng : đây là tán dương Phật danh hiệu hiếm có. 
Nhật Nguyệt Đăng Minh là tên riêng (biệt danh). Từ Như Lai trở xuống là tên chung (thông danh).
- Nhật (mặt trời) có hai công năng : một là đạo minh (đưa tới ánh sáng), hai là thành tựu.
- Nguyệt (mặt trăng) có hai công năng : một là trừ nhiệt, hai là thanh lương (là cho trong sạch mát mẻ).
- Đăng (đèn) có hai công năng : một là phá ám (xua tan bóng tối), hai là truyền chiếu (chiếu sáng truyền lửa).
Thể hiện rõ Phật có khả năng đưa kẻ mê muội tới chỗ giác ngộ, làm cho căn khí thành thục, trừ phiền não nhiệt, được cảnh Niết bàn thanh lương (mát mẻ trong sạch), vĩnh viễn phá trừ ngu si, truyền pháp hóa độ chúng sinh,. Đây biểu thị đặc biệt của sự Hy hữu (hiếm có) vậy. 
Theo Du Già quyển 83 giải thích về mười hiệu của Phật là : 
1) Như Lai
2) Ứng. 
3) Chính đẳng giác
4) Minh hạnh viên mãn
5) Thiện thệ
6) Thế gian giải
7) Vô thượng trượng phu điều ngự sĩ. 
8) Thiên nhân sư
9) Phật. 
10) Bạc Già Phạm
+ Như Lai : là hiệu đầu tiên là tổng tự, đó là tổng tự của chín hiệu ở dưới.
- Kinh Niết Bàn nói : “Như chư Phật quá khứ đã thuyết rằng, trải qua pháp sáu Ba la mật, ba mươi bảy phẩm trợ đạo, mười một Không v.v… tới (Lai) Bồ đề, cho nên gọi là Như Lai. Thế thìø Thích Ca nay Như chư Phật thời quá khứ, y vào các giáo pháp tu hạnh Lục độ, quán lý thập nhất Không v.v… mà tới (Lai) quả Bồ đề, cho nên gọi là Như Lai, đó tức là báo thân Phật”.
- Kinh Bát Nhã nói : Như Lainghĩa không từ đâu đến, mà cũng không đi đến đâu, nên gọi là Như Lai, đó tức là pháp thân Phật.
- Thành Thực luận nói : “đi theo đạo Như thực để mà Lai thành chính giác; nên gọi là Như Lai ”. Nghĩa tuy tạm được, nhưng chẳng phải là ý nghĩa chủ yếu của từ này.
+ Ứng, Chính đẳng giác.
Luận nói rằng : có nghĩa là vĩnh viễn giải thoát khỏi hết thảy phiền não chướngsở tri chướng
- Từ A la hán này chính gọi là Ứng. Thành Duy Thức nói : Ứng với việc đã vĩnh viễn diệt trừ được giặc phiền não, Ứng với việc không có phân đoạn sinh, Ứng với việc được thụ diệu cúng dàng.
Theo bản luận giải thích kinh trước đây, thì Ứng có 15 nghĩa. Nhưng Du Già và kinh này chỉ lấy nghĩa “diệt trừ giặc phiền não” mà gọi là A la hán.
- Vĩnh viễn đoạn trừ sở tri chướng, đó gọi là Chính đẳng giác. Cho nên Du Già nói rằng : A la hán là cộng đức, từ Chính đẳng giácbất cộng đức. Cũ gọi là Chính biến tri, tức Chính giác, Đẳng giác, Chính đẳng giác phân biệt với ba loại : ngoại đạo, tiểu thừa, Bồ tát theo thứ tự.
+ Minh hạnh viên mãn : tức Minh Hạnh túc (minh và hạnh đầy đủ).
- Minh chỉ ba minh : 
1/. Túc trụ tùy niệm trí minh.
2/. Sinh tử trí minh.
3/. Lậu tận trí minh. 
- Hạnh : chỉ Già hành và Hạnh hành. Hạnh hành giúp thanh tịnh tam nghiệp hiện hành chính mệnh
Lại thêm bốn loại tăng thượng : Tâm, Pháp, Hiện pháp lạc trụ (và) Trụ. 
Trụ và hành, hai thứ này đều thuộc Hạnh hành.
Ngầm giữ sáu căn (mật hộ căn môn) là Già hành.
Hai hành này cùng với Tam minh thảy đều viên mãn, Do đây Như Lai hiển thị thân khẩu ý chẳng cần phòng hộ mà chẳng quên mất điều gì (Tam bất hộ vô vong thất pháp).
Do chẳng gây tội lỗi, được tĩnh lự thế gian.
Già tự khổ hành (thực hành pháp tự nhiên hết khổ) đây là do chẳng gây tội lỗiba nghiệp thanh tịnh, tức là thân khẩu ý chẳng cần phòng hộ mà ngầm giữ sáu căn.
Chẳng quên mất pháp, nên đắc thế gian tĩnh lự.
Hiện pháp lạc trụ, là Già tự khổ hành, cho nên gọi là Minh hạnh viên mãn.
+ Thiện thệ : có nghĩa là ở trong đêm dài có đầy đủ hết thảy các công đức thuộc hai loại tự lợilợi tha. Thệ có nghĩa là vãng (là qua là đi). Có nghĩa là thành Bồ đề rồi, thì bản thân mình ở trong đêm dài sinh tử có đầy đủ mọi công đức lành tự lợi, lợi tha để mà đi hẳn, cho nên gọi là Thiện thệ.
+ Thế gian giải : có nghĩa là trong hai thế gian Hữu tình thế gianKhí thế gian đều khéo thông đạt hết, do ngộ nhập Hữu tình thế gian, y vào Tiền hậu tế túc trụ sinh tử trí, y vào tám vạn bốn ngàn hạnh sai biệt của mọi thời, tức là biết ba đời chúng sinh tâm hành sai biệt, và khéo biết rõ vô biên thành hoại của Khí thế gian cùng mười phương thế giới như ở phương Đông v.v… 
Thêm nữa, đối với tự tính nhân duyên, ái vị, quá hoạn, xuất ly, năng thú hành v.v… của hết thảy mọi pháp thế gian đều khéo biết rõ. Đó gọi là biết tự tính quả và nhân duyên nhân. Đây là câu tổng quát (tổng cú). Còn bốn câu khác theo thứ tự mà phối trí với Tứ đế.
+ Vô thượng trượng phu điều ngự sĩ : cũ gọi là Vô thượng sĩ điều ngự trượng phu. Vì trí vô đẳng, không ai hơn được, nên gọi là vô thượng. Vì ở trong hiện pháp, Phật thân đầy đủ tướng hảo là bậc đại trượng phu. Hơn nữa phần nhiều điều ngự được vô lượng trượng phu, là bậc nổi trội nhất, cực tôn cực thắng. Do lời giải thích sau ấy mà bản cũ gọi là Vô thượng sĩ điều ngự trượng phu.
+ Thiên nhân sư (bậc thầy của trời của người) : đó là vì Phật dạy cho loài trời loài người kia hiểu được những nghĩa rất sâu, Phật khuyến khích họ tu chính hạnh, vì họ có năng lực, mà các loài khác không thể có được, cho nên chẳng gọi Phật là sư (thầy) của các loài khác.
+ Phật, còn gọi là Phật đà : có nghĩa là bậc rốt ráo đoạn trừ được hết thảy phiền não chướng, sở tri chướng và các tập khí, hiện Đẳng chính giác, vì chứng được Vô thượng chính đẳng giác, tức là có đủ hai trí giác Tự, Tha.
+ Bạc già phạm : cũ gọi là Thế tôn, thản nhiên an tọa trên tòa diệu Bồ đề, mặc ý vần xoay tiêu diệt hết thảy quân ma, vì có đại thế lực nên phá được bốn ma. Như Phật Địa luận tụng rằng : 
Tự tại, Xí thịnh và Đoan nghiêm.
Danh xưng, Cát tường và Tôn quý.” 
Có đầy đủ sáu nghĩa như vậy thì nên biết rằng tên gọi chung (tổng danh) các điều nói trên là Bạc già. Bạc già : là thanh. Phạm : có nghĩa là Cụ đức (đầy đủ các đức). 
Nếu ai có tiếng là Bạc già đó thì tự nhiên có khả năng phá được bốn ma, ắt có đủ sáu đức :
1) Tự tại, vì vĩnh viễn chẳng bị hệ thuộc vào các phiền não.
2) Xí thịnh, vì được thiêu luyện bởi lửa trí mãnh liệt.
3) Đoan nghiêm, vì được trang nghiêm bởi 32 tướng v.v…
4) Danh xưng (danh tiếng), vì tên đẹp của Phật không ai không biết.
5) Cát tường (tốt lành), vì hằng khởi phương tiện làm lợi lạc cho hữu tình.
6) Tôn quý, vì cả thế gianxuất thế gian đều tôn trọng.
Nay gọi là Thế tôn thì còn thiếu mất năm ý nghĩa đầu.
*
-Kinh văn : “Diễn thuyết chính pháp” tới “tướng của Phạm hạnh”.
Tán rằng : đây là tán dương pháp thắng diệu hiếm có. Du Già quyển 83 nói rằng có đủ mười đức :
1) Sơ thiện, chỉ lúc nghe sẽ sinh hoan hỷ.
2) Trung thiện, chỉ lúc tu hành, không có gian khổ vì lìa xa nhị biên, y vào trung đạotu hành.
3) Hậu thiện, chỉ Cực cứu cánh vì lìa chư cấu. Cho đến Nhất thiết cứu cánh vì lìa dục là cứu cánh cuối cùng.
Pháp tính lìa cấu, nên người học được nó cũng lìa cấu, vì thế nên tu hành rốt ráo sẽ đắc quả ly cấu. Cho nên Trí Độ luận nói rằng : “tán (dương) bố thí là sơ thiện, tán (dương) trì giới là trung thiện, tán (dương) nhị quả báo sinh thiên Tịnh độ gọi là hậu thiện”. Lại nói : Thanh văn, Độc giác, Đại thừa cũng gọi là Tam thiện.
Kinh Bảo Khiếp nói : “Biết Khổ đoạn Tập thì gọi là sơ thiện. Tu chính Đạo gọi là trung thiện. Chứng Diệt gọi là hậu thiện”. Đó gọi là Sơ Trung Hậu thiện của Thanh văn
Nếu chẳng bỏ tâm Bồ đề, chẳng nghĩ tới thừa dưới, hồi hướng Nhất thiết trí thì đó gọi là Sơ Trung Hậu thiện của Bồ tát
Nay y theo Du Già là chính.
4) Văn xảo (văn hay), đây gọi là ngôn ngữ xảo diệu. Có nghĩa khéo dùng ngôn từ mà điểm xuyết danh thân v.v... cho đến tám ngữ cụ đều viên mãn.
5) Diệu nghĩa, đây gọi là ý nghĩa sâu xa. Có nghĩa là có thể dẫn phát lợi ích an lạc.
6) Thuần nhất, ở đây gọi là thuần nhất không tạp, có nghĩa chẳng có gì chung với ngoại đạo, chỉ có Phật pháp mới có, còn ngoại đạo thì không.
7) Viên mãn, ở đây gọi là cụ túc, vì là vô hạn lượng, là tối tôn thắng. Vì ý nghĩa phong phú hơn trội, nên gọi là viên mãn.
8) Thanh tịnh, có nghĩa là tự tính giải thoát, y vào một sát na tự thể giải thoát, hoặc pháp tự tính giải thoát
9) Tiên bạch (mới mẻ, trong trắng), có nghĩa là tương tục giải thoát, dù nhiều sát na cũng giải thoát, hoặc học pháp đó cũng được giải thoát.
10) Phạm hạnh, có nghĩa là tám Thánh đạo. Diệt đế gọi là Phạm, Đạo đế gọi là Hạnh. Lấy Diệt làm nhân cho nên đầy đủ tám Thánh đạo gọi là tướng phạm hạnh
Cần phải biết rằng Đạo này được nói rõ bằng bốn loại diệu tướngThuần nhất v.v… đó là tướng Phạm hạnh. Trong bốn loại này, thứ sáu là Thuần nhất không tạp, thứ bảy là Cụ túc, thứ tám là Thanh tịnh, thứ chín là Tiên bạch. Còn các thứ khác cứ theo đúng như lời văn có thể hiểu được, về nghĩa cũng giống như những điều đã nói trong kinh mới dịch.

*
-Kinh văn : “Vì hạng cầu Thanh văn” tới “thành nhất thiết chủng trí ” . 
Tán rằng : đây là tán dương sinh lợi ích hiếm có. Có Phật xuất thế chỉ thuyết một pháp hoặc chẳng thuyết pháp. Nay thuyết ba thừa, nên gọi là hiếm có (hy hữu).
* Chữ Ứng : có hai âm đọc là ưng và ứng.
Ưng đương ứng khế, có nghĩa là phải tùy theo cơ duyên căn khíthuyết pháp, tức là phải thuyết pháp tương đương ứng hợp với căn khí.
Căn tính của chúng sinh có ba loại hạ, trung, thượng :
- Loại chỉ biết chung về nhân quả nhiễm tịnh Tứ đế, đó là loại kém nhất, thì được gọi là Thanh văn.
- Loại biết chung về nhân quả sinh tử mười hai nhân duyên, là loại trung, thì được gọi là Duyên giác.
- Loại năng hành nhị lợi, chung riêng đều biết, tu hành căn cứ vào Lục độ, cứu cánh làm Phật thì gọi là Bồ tát sẽ thành chủng trí.
Bích Chi Ca Phật Đà : ở phương đây gọi là Độc giác, gọi tắt là Bích Chi Phật.
*
-Kinh văn : “Thứ nữa lại còn có Phật” tới “họ là Phả La Đọa”.
Tán rằng : điều thứ hai ở đây là giải đáp về Hậu thắng diệu mà luận gọi là Hiện kiến thắng diệu nhân. Vì chư Phật Bồ tát tự thị hiện Thụ dụng thắng danh tính v.v… nên gọi là thắng diệu.
Văn có bốn diệu, ở đây có hai : 
1) Danh đồng diệu.
2) Tính đồng diệu. 
“Phả La Đọa” : là một trong mười tám họ Bà la môn.

*
-Kinh văn : “Di Lặc cần phải biết” tới “sơ trung hậu thiện”.
Tán rằng : đây có hai diệu : 
3) Hiệu đồng diệu. 
4) Pháp đồng diệu. 
Chỉ nói qua về ba đức mà quán thông cả bảy đức khác.

*
-Kinh văn : “Vị Phật cuối cùng” tới “có tám vị vương tử ”.
Tán rằng : dưới đây là đoạn thứ ba, là Uỷ trần đồng sự đáp, có năm nhân :
1. Thụ dụng đại nhân.
2. Nhiếp thủ chư Phật chuyển pháp luân nhân.
3. Thiện kiên thực Như Lai pháp luân nhân.
4. Năng tiến nhập nhân.
5. Ức niệm nhân. 
Ở trong này chia làm hai :
1) Nhân đầu là Phật tại tuyên dương (Phật hoằng dương đạo pháp khi còn tại thế).
2) Bốn nhân sau là nói về việc tiến hành giáo hóa sau khi Phật nhập diệt
Về Thụ dụng đại nhân, luận giải thích rằng : thời ấy vương tử thụ Thắng diệu lạc, nhưng ai nấy đều xả bỏ mà xuất gia. Thêm nữa, đại chúng đó trong thời gian ấy chẳng sinh lòng mỏi mệt chán nản.
Đại ý trong đoạn văn giải thích về Thụ dụng nhân này là có hai loại thụ dụng :
- Một là tại gia thì thụ dục lạc.
- Hai là xuất gia thì thụ pháp lạc.
Văn này có bốn ý :
a) Thị tướng giống nay.
b) Tuyên bố nhập diệt giống nay.
c) Sẽ thụ ký thành Phật.
d) Hiện nhập Niết bàn.
“Thị l tướng giống nay” có sáu, không có Sơ tự phần thành tựu, còn sáu thứ khác thì giống như các sự trong phẩm Tựa kinh này :
- Sự thứ nhất : giống Chúng thành tựu ngày nay.
- Sự thứ hai : “Nhật Nguyệt Đăng Minh thời đó…” giống Thời thành tựu ngày nay.
- Sự thứ ba : “Thuyết rằng…” giống Uy nghi thành tựu ngày nay.
- Sự thứ tư : “Bấy giờ Như Lai phóng từ giữa lông mày…” giống Thuyết nhân thành tựu ngày nay.
- Sự thứ năm : “Di Lặc nên biết rằng : bấy giờ trong hội có hai mươi ức Bồ tát….” giống Dục văn thành tựu ngày nay.
- Sự thứ sáu : “Bấy giờ có vị Bồ tát tên là Diệu Quang…” giống với Đáp thành tựu ngày nay.
Trong mục giống Chúng thành tựu có hai : một là tại tục, hai là xuất gia.
Trong tại tục lại có ba ý :
+ Một là nêu rõ là đã có con.
+ Hai là liệt kê ra tám tên.
+ Ba là nói rõ vương hóa (sự giáo hóa của vua).
Đây là khoản đầu, muốn nêu rõ ràng là chư Phật ắt có con trước rồi mới xuất gia. Để hàng phục những kẻ muốn hưởng thụ dục lạc thế gian, nên thị hiện dục lạc chẳng đáng báu gì và tỏ rõ Phật có thể có đầy đủ mọi đức của bậc trượng phu. Vì cũng như trong kinh Cổ Âm Vương, Phật A Di Đà cũng có vợ con

*
-Kinh văn : “Vị thứ nhất tên là Hữu Ý” tới “vị thứ tám là Pháp Ý ”. 
Tán rằng : đây liệt kê ra tám tên, chia làm bốn cặp : 
1) Cặp đại trí đại bi.
2) Cặp liễu hữu liễu không.
3) Cặp tiến thiện phá ác. 
4) Cặp đạt ngụy tri chân.
Phối trí đúng như thứ tự.

*
-Kinh văn : “Tám vị vương tử” tới “ ai nấy đều thống lĩnh tứ thiên hạ”. 
Tán rằng : đây thuyết minh về vương hóa (sự giáo hóa của luân vương). 
-HỎI : không một thế giới nào mà lại có hai luân vương. Cớ sao nay lại nói là “ai nấy đều thống lĩnh tứ thiên hạ” ?
ĐÁP : nay giải thích là tám người con đó nối tiếp nhau mà thống lĩnh, chứ chẳng phải trong cùng một lúc. Song cứ theo nghĩa mà hiểu thì kiếp giảm Phật ra đời, kiếp tăng luân vương mới xuất hiện.
-HỎI : tại sao Phật đó có con làm luân vương ?
ĐÁP : đó chính là họ đáng được nối tiếp nhau mà lần lượt làm vua tứ thiên hạ. Cũng như Phật Thích Ca đáng làm Kim luân vương, chứ chẳng phải là thực sự đã làm, vì kiếp giảm dần. Do đó mà tăng tới tám vạn năm vua Tương Khư mới ra, kiếp thứ mười bắt đầu giảm thì Phật Di Lặc mới ra. Luân vương mệnh dài, nên thấy Di Lặc. Hoặc Báo Phật này khác với Hóa Phật. Vì Báo Phật chưa hẳn đã xuất hiện trong kiếp giảm, nên có thể có con làm luân vương.
“Diệu Quang giáo hóa tám người con đó kiên cố Bồ đề, được nhập Bát địa”, cho nên biết rằng Báo Phật cũng làm Bồ tát
Trước tiên thuyết Kinh Vô Lượng Nghĩa cho hàng Bồ tát xong, sau đó mới thuyết Kinh Pháp Hoa cho hàng Thanh văn

*
-Kinh văn : “Các vị vương tử này” tới “cũng theo xuất gia” .
Tán rằng : đây là thuyết minh về việc xuất gia. Có ba ý : 
1) Hình thì theo bạn chân chính.
2) Hạnh thì xuất ly trần nhiễm.
3) Được gặp duyên lành, kiên tu phúc tuệ.
Ý đầu trong này là bỏ ngôi luân vương như người giàu cởi dép, hăm hở xuất gia như người nghèo được báu, khoan khoái thoải mái vì đã trừ bỏ được mọi giăng mắc ràng buộc.

*
-Kinh văn : “Phát ý đại thừa” tới “đều là Pháp sư ”.
Tán rằng : đây là hạnh xuất ly trần nhiễm. Đã phát đại tâm, hằng siêng trì giới, hay tuyên thuyết diệu lý, đều là Pháp sư. Phát tâm có nghĩa là trụ định. Phạm hạnh tức là trì giới. Pháp sư tức là có đủ tuệ, đủ ba tạng rồi.

*
-Kinh văn : “Đã vun trồng các cội lành ở nơi ngàn vạn Phật”. 
Tán rằng : đây là gặp được duyên lành, kiên tu phúc tuệ.

*
-Kinh văn : “Bấy giờ Nhật Nguyệt ” tới “được Phật hộ niệm ”.
Tán rằng : đây là sự thứ hai tức mục Thời thành tựu, giống ngày nay.
Thuyết Kinh Pháp Hoa, trước tiên ắt thuyết Kinh Vô Lượng Nghĩa nên gọi là “đến lúc”, thị hiệnBồ tát mà thuyết .

*
-Kinh văn : “Thuyết kinh này xong” tới “thân tâm chẳng động”. 
Tán rằng : đây là sự thứ ba : Uy nghi thành tựu, giống ngày nay. Có ba ý : 
1) Phật nhập định.
2) Khí thế gian
3) Hữu tình thế gian.
Đây là phần đầu.
*
-Kinh văn : “Bấy giờ trời mưa” tới “sáu loại chấn động”.
Tán rằng : đây là khí thế gian.
*
-Kinh văn : “Lúc đó trong hội” tới “nhất tâm quán Phật”. 
Tán rằng : đây là hữu tình thế gian.
*
-Kinh văn : “Bấy giờ Như Lai” tới “ các cõi Phật đây”. 
Tán rằng : đây là sự thứ tư : Thuyết nhân thành tựu , giống ngày nay. Có ba : 
1) Phóng quang
2) Chiếu cảnh. 
3) Sở kiến
Các cõi Phật đó giống như nay đang thấy các cõi Phật đây.
*
-Kinh văn : “ Di Lặc nên biết” tới “ưa muốn nghe pháp”. 
Tán rằng : đây là sự thứ năm : Dục văn thành tựu, giống ngày nay. Có hai ý : 
a) Ưa muốn nghe pháp
b) Muốn biết duyên do phóng quang
Đây là phần đầu.
-HỎI : vì cớ gì mà ngày nay khi Phật Thích Ca phóng quang thị hiện điềm lành thì bốn chúng sinh nghi, ưa muốn nghe pháp và muốn biết duyên do phóng quang; còn khi xưa Phật Đăng Minh thuyết pháp thì chỉ có Bồ tát ưa muốn nghe ; như vậy là khác với ngày nay ?.
ĐÁP : đây là căn cứ vào bản vị mà gọi chung là bốn chúng. Kia thuyết người phát tâm đại thừa thì đều gọi là Bồ tát. Ngoài ra, đây nêu hạng kém hơn, nên chỉ gọi là bốn chúng. Kia nêu hạng nổi trội hơn, nên gọi là Bồ tát.
Trong bài tụng ở dưới nói rằng : “Bấy giờ bốn bộ chúng” cho tới “sự này nhân duyên gì ?”. Cho nên biết rằng cũng là bốn chúng dự hội, nhưng tùy thời mà nêu lên có khác. Như kinh nói về tám vị vương tử, lấy đó làm Chúng thành tựu, vì nêu hạng nổi trội. 
Hơn nữa, kia thực là Bồ tát hóa hiện, nên nói là Báo thân hóa độ bốn chúng. Còn đây thực là Hóa thân hóa độ bốn chúng.
*
-Kinh văn : “Các Bồ tát đó” tới “nhân duyên vì sao”. 
Tán rằng : muốn biết nhân duyên phóng quang, suy tìm người giải đáp
* Chữ Vi (trong cụm từ “sở vi nhân duyên”) hiểu theo hai âm bình thanh (Vi), khứ thanh (Vị) đều được.
*
-Kinh văn : “Bấy giờ có Bồ tát” tới “tám trăm đệ tử ”. 
Tán rằng : đây là sự thứ sáu : Đáp thành tựu, giống ngày nay. Có bốn ý : 
1) Quyến thuộc truyền đăng
2) Nhân thuyết kinh này. 
3) Thời gian dài ngắn. 
4) Đại chúng an lạc
Đây là phần đầu.
*
-Kinh văn : “Bấy giờ Nhật Nguyệt Đăng Minh Phật” tới “Phật Sở Hộ Niệm”. 
Tán rằng : đây là ý thứ hai : Nhân thuyết kinh này. Phật Thích Ca thuyết Kinh Pháp Hoa nhân ngài Di Lặc hỏi, rồi ngài Văn Thù đáp. Phật Đăng Minh thuyết Kinh Pháp Hoa nhân đại chúng ưa muốn nghe pháp và vì ngài Diệu Quang mà thuyết. Cho nên trong tụng nói rằng Phật từ Tam muội khởi dậy tán thán Diệu Quang khiến được hoan hỷ, tức nhân Diệu Quangthuyết Kinh Pháp Hoa.
Hơn nữa, ngày nay Phật Thích Ca giáo hóa bốn chúng ưa nghe, nhân Thu Tử mới thuyết. Phật Đăng Minh xưa giáo hóa Bồ tát ưa nghe, nhân Diệu Quang mới thuyết.
Nay Phật từ định khởi dậy, chính là bảo với Thu Tử và chúng Thanh văn theo trí tuệ sâu tương ứng với Phật.
Phật kia từ định khởi dậy, chính là bảo Diệu Quang và chúng Bồ tát theo trí tuệ sâu tương ứng với Phật.
Đây là Thanh văn, kia là Bồ tát : Kinh Diệu Pháp Liên Hoa còn gọi là Kinh Giáo Bồ tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm, với Kinh Vô Luợng Nghĩa danh tự chẳng khác. Song vì muốn nêu bật mặt lợi ích nào của thể nghĩa, vì tùy căn cơ đốn hay tiệm mà mong mỏi có sự khác nhau, sự báo hóa cũng khác nhau, nên chẳng gọi là Vô Lượng Nghĩa, như trên đã giải thích.
Nhưng đó là thị hiện để giáo hóa các Thanh văn cũng không sai. Hoặc thuyết Hóa thân thực hóa Thanh văn, thuyết các sự nổi trội khác tức thuyết Báo Phật cũng không sai.
*
-Kinh văn : “Sáu mươi tiểu kiếp” tới “cho là như trong khoảng một bữa ăn”.
Tán rằng : đây là ý thứ ba : Thời gian dài ngắn. Luận giải : đã lấy ngày, tháng, năm ... làm kiếp nên gọi là tiểu, chẳng thể nảy sinh sự phân biệt khác. Chỉ là Phật quan sát chúng sinh căn cơ chín muồi, đại chúng tình cảm ưa muốn nghe pháp sâu sắc nên có thể nghe pháp trong thời gian rất lâu mà tâm pháp lạc đến cực độ, bởi vậy nên nói là “như trong khoảng một bữa ăn”. Cũng giống như chuyện của thế gian xem tiên đánh cờ, mà cán rìu cầm trong tay đã mục.
*
-Kinh văn : “Trong chúng bấy giờ” tới “mà sinh lười nhác mệt mỏi”. 
Tán rằng : đây là ý thứ tư : Đại chúng an lạc. Pháp thực giúp cho việc tu trì, thiền duyệt sinh ra hỷ lạc, hết mọi nghiệp phược thô trọng thì làm gì mà sinh ra lười nhác mệt mỏi được ? 
* Giải : có nghĩa là lười. Quyện : có nghĩa là mệt mỏi. Chữ quyện [ 倦 ] có chỗ viết bộ tâm đứng [ 惓 ] không có căn cứ.
*
-Kinh văn : “Nhật Nguyệt Đăng Minh” tới “Vô dư Niết bàn”.
Tán rằng : trên đây gộp lại đều là mục Thị tướng giống nay. Còn đây tức là mục hai : Tuyên bố nhập diệt, khác nay. Việc Phật nhập diệt vốn khác với nhị thừa, nhưng thị hiện thì giống. Nói nhập Vô dư Niết bàn vì việc ứng hóa đã xong, cho nên tuyên bố chẳng bao lâu sẽ nhập diệt
Sa môn : có nghĩa là Tức (nghỉ, dẹp, dứt) vì đắc Pháp cho nên tạm thời yên nghỉ. “Tức” cũng có nghĩa là tức ác (trừ ác). Đúng ra, tiếng Phạm gọi là Thất La Ma Nã, hoặc Thất Ma Na Nã, ở phương đây gọi là Công lao, ý nói tu đạo có nhiều công lao.
Bà la môn : có nghĩa là Tịnh hạnh.
*
-Kinh văn : “Bấy giờ có vị Bồ tát” tới “liền thụ ký cho”. 
Tán rằng : đây là mục thứ ba : Thụ ký sẽ được thành Phật, có hai ý : một là Tiêu (nêu), hai là Ký. Khoản ý đầu vì chứa đựng giữ gìn nhiều điều thiện nên gọi là Đức Tạng.
*
-Kinh văn : “Bảo các Tỳ kheo” tới “Tam Phật Đà”.
Tán rằng : đây là thụ ký. Đa Đà : nghĩa là Như; A Già Độ : nghĩa là Lai ; A La Ha : nghĩa là Ứng; Tam : nghĩa là Chính; Miệu : nghĩa là Đẳng; Tam nữa cũng có nghĩa là Chính; Phật Đà : nghĩa là Giác. Tức nghĩa là Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác, là ba hiệu đầu trong mười hiệu của Phật.
Kinh Tăng Nhất A Hàm nói rằng : “Phật bảo các Tỳ kheo rằng, chư Phật ra đời ắt vì năm sự : một là chuyển pháp luân; hai là độ cho cha mẹ; ba là người không tin thì làm cho họ ở địa vị phải tin (tín địa); bốn là người chưa phát ý Bồ tát thì làm cho họ phát ý Bồ tát, năm là thụ ký cho sẽ thành Phật”. Trong kinh này cũng thế. Ba hiệu của Phật nói trên đa phần y vào ba đức : đoạn đức, ân đức, trí đức, cứ theo thứ tự mà hiểu, cho nên chẳng thuyết minh các điều khác.
*
-Kinh văn : “Phật thụ ký xong” tới “nhập Vô dư Niết bàn”. 
Tán rằng : đây là mục thứ tư : Hiện nhập Niết bàn. Vì cớ gì nhập diệt lại vào lúc trung dạ (giữa đêm)? Vì ở đêm sinh tử mà chứng tịch tĩnh. Như đã nói trong Kinh Niết Bàn.
*
-Kinh văn : “Sau khi Phật diệt độ rồi” tới “vì người mà diễn thuyết”. 
Tán rằng : trên kia đều là Thụ dụng đại nhân, Phật tại tuyên dương. Từ đây trở xuống bốn nhân là chỉ sự hành hóa sau khi diệt độ thì chia làm bốn. Văn đây tức là Nhiếp thủ chư Phật chuyển pháp luân nhân. 
Luận rằng : vì pháp luân chẳng đoạn (tức pháp luân thường chuyển không ngừng).
*
-Kinh văn : “Tám người con Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh” tới “Tam Bồ Đề”. 
Tán rằng : đây là nhân thứ ba : Thiện kiên thực Như Lai pháp luân nhân.
Luận rằng : sau khi Phật diệt độ vô lượng thời thuyết, nên giáo hóa họ, khiến họ được kiên cố, tức nhập Bát địa. Kiên cố chính là nghĩa Bất thoái (chẳng lùi bước). Chẳng thế thì làm sao mà nay đã thành Phật. Hoặc vì nhập Sơ địa đắc Bất hoại tín, nên gọi là kiên cố.
*
-Kinh văn : “Các vị vương tử này” tới “đều thành Phật đạo”. 
Tán rằng : đây là nhân thứ tư : Năng tiến nhập nhân.
Luận rằng : vì các vị vương tử đó chứng đắc đại Bồ đề. Cúng dàng nghĩa là tu hạnh tài thí, pháp thí. Chư Phật là duyên lành gặp được. Vì phải gặp duyên lành tu sâu diệu hạnh mới thành Phật.
*
-Kinh văn : “Vị thành Phật cuối cùng tên gọi là Nhiên Đăng”. 
Tán rằng : đây là nhân thứ năm : Ức niệm nhân.
Luận rằng : vì thuyết pháp cho người khác, làm lợi ích cho người khác. Văn chia làm hai phần :
- Một là tám người con thành Phật.
- Hai là tám trăm đệ tử thành Phật.
Phần đầu ở đây lẽ ra văn này thuộc về Năng tiến nhập nhân ở trên, nhưng để nói rõ về tên của từng vị thành Phật, nên phải đưa vào đây.
*
-Kinh văn : “Tám trăm đệ tử” tới “nên hiệu là Cầu Danh”. 
Tán rằng : dưới là tám trăm đệ tử thành Phật, có hai : một là Nhiễm nhân, hai là Tịnh nhân. Loại đầu này vì trong thì diệu nghiệp chẳng thuần, ngoài thì phần nhiều tham danh tiếng, nên hiệu là Cầu Danh.
Luận rằng : “ngài hiệu là Cầu Danh” ý nói biết sự việc thời quá khứ, chứ chẳng có ý chỉ trích lỗi lầm của người khác.
*
-Kinh văn : “Người đó cũng do” tới “tôn trọng tán thán”. 
Tán rằng : đây là thuyết minh về Tịnh nhân : Phúc và Tuệ cả hai thứ đều vun trồng, được gặp duyên lành, ba nghiệp tu tập Tài, Pháp cúng dàng : Thân cung kính, Ý tôn trọng, Ngữ tán thán.
Luận rằng : vì trồng các thiện căn, lại thị hiện được đầy đủ các pháp đó.
*
-Kinh văn : “Di Lặc nên biết” tới “bản thân ngươi vậy”. 
Tán rằng : trên là Ủy trần đồng sự đáp. Đây là Cổ kim tương tức đáp (giải đáp xưa tức là nay) và là Tự thân sở kinh sự nhân (nhân về các sự bản thân trải qua).
Luận rằng : vì ngài Văn Thù tự thân thụ Thắng diệu lạc. Trong này có hai : một là Tức nhân, hai là Tức pháp. Đây là phần đầu.
*
-Kinh văn : “Nay thấy điềm lành này” tới “Phật Sở Hộ Niệm”.
Tán rằng : đây là lời giải đáp tổng kết về mục Tức pháp.
*
-Kinh văn : “Bấy giờ Văn Thù Sư Lợi” tới “khiến nhập Phật trí tuệ” .
Tán - rằng : 43 bài tụng ở dưới đây tụng về mục “Chỉ trần biệt sự, xưa tức là nay”, chẳng tụng về hai nhân đầu. Cuối có 2 bài tụng chẳng ăn nhập vào phần giải đáp; bài tụng thứ ba nói với đại chúng khuyên họ nên biết, chẳng phải là tụng về nghĩa trước. Do đó 43 bài tụng này chia làm hai phần : 
a) 40 bài tụng đầu, tụng về Chỉ trần biệt sự. 
b) 3 bài tụng sau, tụng về ý xưa tức là nay. 
Mục Chỉ trần biệt sự trong trường hàng có bảy nhân, chia làm ba phần, nay chẳng tụng về Thắng diệu nhân “thứ nữa có Phật”v.v…, nên tụng về sáu nhân, nhưng chia làm hai :
+ Đầu tiên là 2 bài tụng về tán dương sự hy hữu.
+ Sau đó là 38 bài tụng, tụng về ý Ủy trần đồng sự.
Trong phần tán dương sự hy hữu ở đây có bốn phần :
- 2 câu đầu tụng về thời.
- 2 câu tụng về danh.
- 1 câu tụng về pháp. 
- 3 câu tụng về sinh lợi ích.
-Kinh văn : “Khi Phật chưa xuất gia” tới “cũng theo tu phạm hạnh”.
Tán rằng : 38 bài tụng ở dưới về mục Ủy trần đồng sự, trong đó có 5 nhân chia làm hai :
- Phần đầu là 29 bài tụng, tụng về Thụ dụng đại nhân, Phật tại tuyên dương.
- Phần sau là 9 bài tụng, tụng về bốn nhân khác : sự hành hóa sau khi Phật diệt độ.
Trong phần đầu lại chia làm bốn phần :
a) 20 bài rưỡi đầu tiên tụng về Thị tướng giống nay.
b) 4 bài tụng về Tuyên bố nhập diệt, khác nay.
c) 2 bài rưỡi tụng về việc Thụ ký cho sẽ thành Phật.
d) 2 bài tụng về việc Hiện nhập Niết bàn.
Trong 20 bài rưỡi đầu tụng về Thị tướng giống nay lại có sáu ý :
- 1 bài đầu tụng về Chúng thành.
- 1 bài tụng về Thời thành. 
- 2 bài rưỡi tụng về Uy nghi thành.
- 10 bài rưỡi tụng về Thuyết nhân thành.
- 1 bài rưỡi tụng về Dục văn thành.
- 1 bài tụng về Đáp thành.
Bài đầu ở đây có hai ý :
+ Hai câu trên tụng về tại tục (chúng tại gia).
+ Hai câu dưới tụng về xuất gia.
*

-Kinh văn : “Bấy giờ Phật thuyết đại thừa” tới “mà vì phân biệt rộng”. 
Tán rằng : đây là mục thứ hai : Thời thành.
*
-Kinh văn : “Phật thuyết kinh này xong” tới “tên Vô Lượng Nghĩa Xứ”. 
Tán rằng : dưới đây là mục thứ ba : Uy nghi thành, có 2 bài tụng rưỡi, chia làm hai :
- Một bài tụng về nhập định.
- Một bài rưỡi tụng về Khí thế gianHữu tình thế gian.
Đây là phần đầu.
*
-Kinh văn : “Trời mưa hoa Mạn đà la” tới “tức thời chấn động lớn”. 
Tán rằng : đây là Khí thế gianChúng sinh thế gian. Trong này tất cả có năm thứ : nhập định, mưa hoa, tấu nhạc, cúng dường, động đất. So với trường hàng thì có sự khác nhau về cách sắp xếp thứ tự trước sau, về cách trình bày hoặc có hoặc không, hoặc kỹ hoặc lược các thứ nói trên.
“Hết thãy cõi chư Phật,
Tức tức chấn động lớn”.
Nghĩa là cũng chỉ có nước Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh chấn động, chứ chẳng phải là mười phương thế giới đều chấn động. Vì ở đoạn trên đã nói :“Và thế giới này sáu loại chấn động”.
Nay nước Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh này hết thảy đều chấn động. Hóa thân Báo thân địa vị chẳng phải là một, nên có thể nói là chư Phật.
*
-Kinh văn : “Phật phóng hào quang giữa hai lông mày” tới “một vạn tám ngàn cõi Phật” .
Tán rằng : dưới đây là 10 bài tụng rưỡi, tụng về Thuyết nhân thành. Có ba ý :
a) 2 câu nói về phóng quang.
b) 2 câu về chiếu cảnh.
c) 9 bài rưỡi tụng về cảnh sở kiến giống ngày nay, tức là cõi chư Phật.
Đây là 2 ý đầu.
*
-Kinh văn : “Hiện sinh tử nghiệp báo” tới “của hết thảy chúng sinh”. 
Tán rằng : trong 9 bài rưỡi ở dưới đây, tụng về cảnh sở kiến giống ngày nay, có năm thứ :
a) Nửa bài đầu tụng về chúng sinh sáu nẻo.
b) 3 bài sau tụng về việc thấy Phật.
c) 1 bài sau tụng về việc nghe pháp.
d) 1 bài sau tụng về việc thấy bốn chúng.
e) 4 bài cuối tụng về việc thấy Bồ tát.
Đây là phần đầu. 
Xứ : là Sở thú báo, vì đó là nghiệp nhân sở quy xứ. Hoặc Xứ có nghĩa là đạo lý, vì có cái lý là nhân ác thì cảm quả ác, nhân thiện thì cảm quả thiện. Hoặc Xứ chỉ xứ sở (nơi chốn), có nghĩa là xứ sở thụ thiẹân quả hoặc ác quả.
*
-Kinh văn : “Lại thấy cõi chư Phật” tới “đó do Phật quang chiếu”.
Tán rằng : ba bài tụng ở dưới đây nói về việc thấy Phật, có ba ý :
a) 1 bài nói về thấy cõi tịnh độ.
b) 1 bài nói về thấy cúng dàng.
c) 1 bài nói về việc thực sự thấy Phật.
Đây là phần đầu. Phật Thích Ca phóng hào quang chiếu sáng đều như sắc vàng ròng, còn Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh tỏa hào quang có các màu như lưu ly pha lê, đây là muốn nêu bật đại thừa thuần nhất đáng trọng nên chỉ có một màu vàng ròng; mọi đức viên mãn nên có nhiều màu sắc để làm nổi bật cho nhau.
Tiếng Phạm : Phệ Lưu Ly, gọi tắt là Lưu ly, có rất nhiều màu sắc. 
Phả Đê Ca : có nghĩa là thủy tinh, cũng gọi là thủy ngọc, hoặc gọi là bạch châu, còn gọi lầm là pha lê
* Chữ Lê : là âm đọc phiên thiết của hai chữ Lực Tư.
Trí Độ luận nói rằng : “từ hang đá trong núi mà ra, trải qua hơn một ngàn năm thì hóa thành băng gọi là pha lê”â.
Tây phương là nơi nóng nực, không có băng. Thế thì từ thứ gì mà hóa thành băng được ? Đó chỉ là một loại đá, đâu đâu cũng có.
*
-Kinh văn : “Và thấy các trời, người” tới “đoan nghiêm rất vi diệu”.
Tán rằng : trong hai bài tụng này, bài đầu nói về việc thấy tám bộ cúng dàng, bài sau nói về việc thấy Phật.
*
-Kinh văn : “Như trong lưu ly tịnh” tới “phô diễn thâm pháp nghĩa”. 
Tán rằng : đây là nghe pháp. Phật phóng quang tự soi, và ánh sáng soi lại Phật. Phương này xa xa nhìn thấy như trong lưu ly hiện ra tượng vàng thuyết pháp vậy.
*
-Kinh văn : “Mỗi mỗi cõi chư Phật” tới “đều thấy đại chúng kia”. 
Tán rằng : đây là thấy bốn chúng.
*
-Kinh văn : “Hoặc có các Tỳ kheo” tới “thuyết pháp cầu đạo Phật”. 
Tán rằng : đây là bốn bài tụng về thấy Bồ tát, các loại nhân duyên, tín giải, tướng mạo; tu hành hạnh Bồ tát. Chỉ tụng về tín giải, vì là loạn tu hành (tu hành không theo trình tự) :
1) Một bài tụng về cần giới, muốn nói rõ người tại gia hay người xuất gia đều có thể tu hành hạnh Bồ tát nên nói Tỳ kheo, hoặc xưng Bồ tát; khuyến khích khắp hết thảy đều tinh tiến, lấy giới làm gốc của việc tu học, nên nên điều này ra đầu tiên.
2) Một bài tụng về thí nhẫn. Nói “vân vân” : là vì thí nhẫn chẳng phải chỉ có một loại mà là nhiều loại.
3) Một bài tụng về định.
4) Một bài tụng về trí tuệ.
*
-Kinh văn : “Bấy giờ bốn bộ chúng” tới “sự này nhân duyên gì ?”. 
Tán rằng : đây là một bài tụng rưỡi, tụng về điều thứ năm : Dục văn thành. Trường hàng là “hai mươi ức Bồ tát ưa muốn nghe pháp”. Đây nói là bốn bộ chúng, đó là để bổ sung thuyết minh cho nhau. Trước thì căn cứ vào sự phát tâm, còn đây thì chưa phát.
*
Kinh - văn : “Vị được trời người thờ” tới “chỉ ông chứng biết được”.
Tán - rằng : dưới đây là bốn bài tụng về điều thứ sáu là Đáp thành. Trường hàng có bốn; Văn này có hai :
- 2 bài đầu tụng về Y nhân thuyết kinh này.
- 2 bài sau tụng về Thời gian dài ngắn.
Lướt qua không nói về quyến thuộc truyền đăng, đại chúng an lạc.
Đây là phần đầu. Thích nghĩa là cận (gần), là thủy (mới). Mới từ định khởi lên mà đã có thể dẫn chúng sinh tới quả vị Bồ đề. Trí tuệ xuất thế chiếu đạt chân đếtục đế, gọi là thế gian nhãn (mắt của thế gian).
*
-Kinh văn : “Thế tôn đã tán thán” tới “thảy đều hay thụ trì”.
Tán rằng : đây là Thời gian dài ngắn.
*
-Kinh văn : “Phật thuyết Kinh Pháp Hoa” tới “sẽ nhập cõi Niết bàn” .
Tán rằng : trên là các bài tụng về việc Thị tướng giống nay, dưới là bốn bài tụng về mục thứ hai : Tuyên bố nhập diệt, khác nay. Chia làm ba phần :
a) 2 bài tụng về việc tuyên bố nhập diệt.
b) 1 bài tụng khuyên răn những chúng sinh được giáo hóa.
c) 1 bài tụng nói về đại chúng đau thương buồn thảm.
Đây là phần đầu : hóa duyên đã kết thúc bèn tuyên bố nay nhập diệt.
*
-Kinh văn : “Ngươi một lòng tinh tiến” tới “ức kiếp gặp một lần”. 
Tán rằng : đây là khuyên răn những kẻ được giáo hóa, Tinh tiến là cội rễ xuất thế. Phóng dật là nguồn gốc sinh tử. Theo lý thì phải tu đoạn, huống hồ ức kiếp mới được gặp chư Phật. Nay đã được gặp, lẽ nào mà lại chẳng tu đoạn ư ! Cho nên kinh nói rằng : 
“Chư Phật xuất hiện, vui !
Diễn thuyết chính pháp, vui !
Tăng chúng hòa hợp, vui !
Đồng tu dũng tiến, vui ! ”
*
-Kinh văn : “Các con của Thế tôn” tới “Phật diệt sao chóng vậy”.
Tán rằng : đó là Đại chúng buồn thương. Thế gian trống vắng, chúng sinh phúc tận, nên buồn thảm đau thương.
*
-Kinh văn : “Bậc thánh chúa vua Pháp” tới 
“các ngươi chớ lo sợ ”. 
Tán rằng : dưới đây là 2 bài rưỡi tụng về mục thứ ba : Thụ ký sẽ thành Phật. Có hai phần :
- Một bài tụng về ý khuyên chớ có lo buồn, vì sẽ có Phật vị lai để mà có thể quy y được. Thị hiện nhập diệt, được thực thường lạc.
- Một bài rưỡi chính thức thuyết minh về việc thụ ký.
Đây là phần đầu.
*
-Kinh văn : “Bồ tát Đức Tạng này” tới “cũng độ vô lượng chúng”. 
Tán rằng : đây là thụ ký.
*
-Kinh văn : “Phật diệt độ đêm ấy” tới “để cầu đạo vô thượng”. 
Tán rằng : trong 2 bài tụng về mục thứ tư : Hiện nhập Niết bàn, thì một bài đầu tụng về việc Phật hiện nhập Niết bàn, một bài thứ hai tụng về việc đại chúng bị mất vị lương y, tinh cần mộ đạo.
*
-Kinh văn : “Pháp sư Diệu Quang đây” tới “rộng thuyết Kinh Pháp Hoa”. 
Tán rằng : trên là 29 bài tụng về Thụ dụng đại nhân, Phật tại tuyên dương. Dưới đây là 9 bài tụng về bốn nhân khác, chỉ sự hành hóa sau khi Phật diệt độ, chia làm bốn :
1) Đầu tiên là 1 bài tụng về Nhiếp thủ chư Phật chuyển pháp luân nhân.
2) Thứ đến 1 bài tụng về Thiện kiên thực Như Lai pháp luân nhân.
3) Thứ đến 1 bài tụng về Năng tiến nhập nhân.
4) Cuối cùng là 6 bài tụng về Ức niệm nhân.
Đây là phần đầu.
*
-Kinh văn : “Tám vị vương tử này” tới “sẽ thấy vô số Phật”.
Tán rằng : đây là mục thứ hai : Thiện kiên thực Như Lai pháp luân nhân. Nếu y theo tiểu thừa thì ở ba lần vô số kiếp ngược trở lên lần lượt gặp các Phật : Thắng Quán, Nhiên Đăng, Bảo Kế. 
Xưa Thích Ca Mâu Ni kiếp đầu thoạt tiên gặp Phật Thích Ca Mâu Ni, rồi còn gặp 7 vạn 5 ngàn Phật; kiếp thứ hai đầu tiên gặp Phật Bảo Kế, sau gặp thêm 7 vạn 6 ngàn Phật; kiếp thứ ba đầu tiên gặp Phật Nhiên Đăng, sau còn gặp thêm 7 vạn 7 ngàn Phật nữa. Đến mãn vô số kiếp thứ ba, lẽ ra phải tu nghiệp tướng hảo đủ 100 kiếp, đầu tiên gặp Phật Thắng Quán tức Phật Tỳ Bà Thi, do ngài đã kiễng chân tán thán Phật Để Sa nên được vượt 9 kiếp. Bởi vậy trong kinh thường nói thời quá khứ 91 kiếp có Phật Tỳ Bà Thi
Nếu y theo đại thừa thì tới vô số kiếp thứ tư, còn phải y vào Bồ tát mà cúng dàng 8 hằng hà sa Phật, thì theo như cách giải thích hiện nay về 16 phần nghĩa của kinh Niết bàn, mới được đứng vào địa vị thứ 10 trong Thập địa và điều này xưa nay vẫn thế. Nhưng nay thì cũng không nhất định, vì chỉ nói là 8 hằng hà sa, thì đâu phải cứ là địa vị thứ 10.
Ngài Chân Đế giải thích rằng : Kiếp đầu gặp 5 Hằng, kiếp thứ hai gặp 6 Hằng, kiếp thứ ba gặp 7 Hằng sa Phật, bởi vậy nay nói là được nhập Bát địa, còn nói là sẽ gặp vô số chư Phật.
*
-Kinh văn : “Cúng dàng chư Phật rồi” tới “lần lượt mà thụ ký”. 
Tán rằng : đây là nhân thứ ba : Năng tiến nhập nhân, vì sau này sẽ được làm Phật.
*
-Kinh văn : “Đức Phật rốt sau cả” tới “độ thoát vô lượng chúng”.
Tán rằng : đây là mục thứ tư cuối cùng, có 6 bài tụng nói về Ức niệm nhân (nhân làm nhớ lại chuyện thời quá khứ) chia làm hai phần :
- Đầu tiên là 1 bài tụng : nhớ lại tám vị vương tử.
2) Sau đó là 5 bài tụng : nhớ lại 800 đệ tử.
Đây là phần đầu.
*
-Kinh văn : “Diệu Quang pháp sư này” tới “nên gọi là Cầu Danh”. 
Tán rằng : dưới là 5 bài tụng nói về việc nhớ lại 800 đệ tử. Chia làm hai phần :
- 2 bài rưỡi đầu tụng về nhớ lại Nhiễm nhân.
- 2 bài rưỡi sau tụng về nhớ lại Tịnh nhân.
Đây là phần đầu. Giao du với quí tộc, coi đó là quí. Thích lợi danh, coi đó là đầu; thường bỏ bê việc tu tập, cho nên gọi là Cầu Danh, vì có đủ sáu thứ sai trái. Cứ theo lời văn, có thể biết nghĩa. 
* Chữ Giải : có âm đọc là phiên thiết của Cổ Ải, có nghĩa như Lãn (lười nhác), Quyện (mệt mỏi uể oải).
Chữ Đãi : có âm đọc là phiên thiết của Đồ Hợi, cũng có nghĩa là lười nhác, uể oải mệt mỏi. Có bản viết là [ 駘 ]ø, cũng có nghĩa là mệt mỏi uể oải. Thứ hai (là) tham trước lợi danh đã đạt được. Thứ ba (là) còn cầu cạnh thêm lợi danh chưa đạt được.
Tộc : có nghĩa như Loại. Theo sách Chu Lễ thì bốn Lữ là một Tộc. Theo Trịnh Huyền thì một trăm nhà là (một) Tộc.
*
-Kinh văn : “Cũng làm nhiều nghiệp thiện” tới “số đó là vô lượng”. 
Tán rằng : đây là tụng về Tịnh nhân. Có hai phần :
a) 5 câu đầu tụng : nhớ lại 5 Tịnh nhân.
b) 5 câu sau tụng : nhớ lại 2 Tịnh quả.
*
-Kinh văn : “Sau Phật đó diệt độ” tới “nay là thân ta đấy”.
Tán rằng : 40 bài trên là tụng về Chỉ trần biệt sự; 3 bài tụng dưới, tụng về xưa tức là nay. Có ba : 
1) Một bài đầu tụng về Tức nhân.
2) Thứ đến một bài tụng về Tức pháp.
3) Bài cuối cùng tụng về Kết thành. 
Đây là phần đầu.
*
-Kinh văn : “Tôi thấy Phật Đăng Minh” tới “muốn thuyết Kinh Pháp Hoa”. 
Tán rằng : đây là Tức pháp.
*
-Kinh văn : “Nay tướng như điềm này” tới “giúp phát nghĩa Thực tướng”.
Tán - rằng : đây là Kết thành.
Phóng quang thức tỉnh, ai có duyên thì đều tới họp. Đại chúng thấy điềm này rồi đều sinh ra vô cùng khao khát ngưỡng mộ. Khởi lên sự thần biến này để biểu thị pháp chẳng phải là hư dối, để tỏ rõ sự chứng đắc thâm mật, nên gọi là phóng quang giúp cho nghĩa Thực tướng.
*
-Kinh văn : “Các người nay nên biết” tới “đầây đủ cầu đạo Phật”.
Tán rằng : 43 bài tụng ở trên tụng về ý trong trường hàng; 2 bài tụng ở dưới tụng về ý thứ ba trong 
đại văn : Nói với đại chúng khuyên họ biết rằng nay Phật thuyết pháp. Có hai ý :
1) Đầu tiên là 1 bài tụng nói rõ Phật thuyết mưa pháp, mầm đạo nảy sinh khiến họ hăng hái làm điều thiện. 
2) Sau là 1 bài tụng nói rõ Phật thuyết pháp đề cho những ai cầu đạo đều đoạn trừ được mọi điều nghi hoặc, diệt hết mọi điều ác. 
Đây là phần đầu.
*
-Kinh văn : “Những người cầu tam thừa” tới “khiến hết không còn sót”.
Tán rằng : đây là đoạn nghi. Hai bài cuối này tụng về Mưa mưa pháp lớn, tức là thuyết pháp lớn vậy.

KINH PHÁP HOA HUYỀN TÁN 
QUYỂN THỨ HAI - PHẦN SAU
ĐÃ XONG

 Ngày 4 tháng 4 năm Bảo An thứ ba viết xong. Ngày 22 tháng 10 cùng năm, di điểm xong thì dùng bản của phòng Viên Như, chùa Hưng Phúc, giao Sư Tăng Giác, chùa Pháp Long đem in ấn. 

- để Pháp được trụ lâu dài -

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 148)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(Xem: 8626)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 412)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(Xem: 370)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(Xem: 1687)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(Xem: 1765)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 1794)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 1782)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 2576)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 2073)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 2071)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 2367)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 2865)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 3429)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 2192)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 3080)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 3010)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 4899)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 3143)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 3450)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2568)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 3255)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 2812)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 3335)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2561)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 2925)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 3308)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 3331)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 4296)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 3812)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 3763)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 4241)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 3655)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 3246)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(Xem: 4122)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 5132)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 3768)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 6589)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 6290)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(Xem: 4254)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 20173)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3679)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 7134)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4607)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 4402)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 3935)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4274)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 5817)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4454)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 4143)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 4217)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 4429)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 5100)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 3859)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 5225)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 5101)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 6758)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 4954)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
(Xem: 5789)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4665)
Thưa Tôn giả Gotama, những ngày về trước, những ngày về trước nữa, rất nhiều Sa-môn, Bà-la-môn là du sĩ ngoại đạo ngồi...
Quảng Cáo Bảo Trợ