Logo Hanh Huong
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,268,842
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Hoa Sen Chín Phẩm

29 Tháng Mười Một 201000:00(Xem: 1966)
Hoa Sen Chín Phẩm


NHẤT HẠNH

THIẾT LẬP TỊNH ĐỘ
Kinh A Di Đà Thiền Giải
Lá Bối, Hoa Kỳ 2000 - Nhà Xuất Bản Tôn Giáo Hà Nội - 2004

Hoa Sen Chín Phẩm

 

Người ta nghĩ rằng ở cõi Tịnh Độ sen được chia thành chín bậc.Những người vãng sanh sang bên đó có nhiều trình độtùy theo trình độ đó mà người ta có chất thánh nhiều hay ít, và chỗ ngồi của họ được tượng trưng bằng hoa sen ‘‘chín phẩm’’.Khi còn ở trong cõi Ta bà này, trong giờ phút hiện tại, mỗi khi quý vị niệm câu ‘‘Nam mô Bụt A Di Đà’’ với tâm thành khẩn, chuyên nhất, thì chất liệu của chánh niệm được phát sinh, và tự nhiên ở bên cõi Tịnh Độ một bông sen búp được tượng hình. Đó là một hình ảnh rất đẹp, rất thi ca.Hãy khoan xem đó là một sự thật khách quan.Hãy xem đó trước hết là một hình ảnh thi ca rất đẹp.Mặc dầu nó là một búp sen nhỏ xíu nhưng mà nó đã có mặt.Tôi vẽ trên bảng, chia bảng thành hai phần.

Phần này là cõi Ta bà.Phần kia là Tây phương Tịnh Độ.Mình là một chúng sanh đang ở bên này, tức là ở cõi Ta bà.Mình niệm Bụt một câu.Ở bên phần kia, một bông sen tượng hình.Đây là hình ảnh mà người ta hay sử dụng để thực tập.Tùy theo công phu thực tập mà bông sen bên kia lớn nhanh hay lớn chậm.Bông sen ấy là để dành cho mình.Mình sẽ sinh ra trong bông sen ấy.Khi bông sen lớn và già giặn rồi thì nó nở ra.Ngay lúc đó ta được sinh ra.Ta xuất hiện từ bông sen.Ta được sinh ra từ một bông sen (chứ không phải từ một bắp cải).

 

cõi Tịnh Độ có chín phẩm sen.Theo ‘‘Quán A Di Đà Phật Kinh’’ thì chín phẩm chia làm ba trình độ, mỗi trình độ có ba phẩm và khi mình sinh sang cõi đó mà sinh vào phẩm thấp nhất là "hạ phẩm hạ sanh".Nếu là thượng căn thượng trí thì ta sanh ở phẩm ‘‘thượng phẩm thượng sanh’’.

 

Ba trình độ được sinh làm chín phẩm như sau:

 

Thượng phẩm- Thượng phẩm thượng sanh

Thượng phẩm trung sanh

Thượng phẩm hạ sanh

Trung phẩm - Trung phẩm thượng sanh

Trung phẩm trungsanh 

Trung phẩm hạ sanh

Hạ phẩm - Hạ phẩm thượng sanh

Hạ phẩm trung sanh

Hạ phẩm hạ sanh

 

Mới nghe, ta có cảm nghĩ bên cõi Cực Lạc mà cũng có giai cấp xã hội và có sự kỳ thị giai cấp.Nhưng ta hãy coi chừng.Ta phải học với sự thông minh của ta.Khi ta sinh ra ở Tịnh Độ với tư cách hạ phẩm hạ sanh thì tuy ta đã qua được bên đó nhưng ta vẫn còn mang theo rất nhiều khổ đau.Có phải vậy không?Ta rất cần tới Tăng thân bên đó ôm ấp và nâng đỡ để chuyển hóa.Vì còn khổ đau nên mặc dầu đã ở Tịnh Độ mà ta không hưởng được hết một trăm phần trăm niềm vui của Tịnh Độ.

Ta chỉ hưởng được năm phần trăm của niềm vui đó thôi, hay có khi còn ít hơn.Nhưng sự kiện ta đang ở Tịnh Độ là một điều mầu nhiệm lắm rồi, mặc dù ta còn đau khổ, còn nghi ngờ, mặc dầu thỉnh thoảng ta còn muốn bỏ đi. Đã ở Tịnh Độ rồi, nhưng ta vẫn còn trồi lên sụp xuống rất nhiều.Cho nên ta phải cần đến Tăng thân.Chúng ta cần phải bám lấy Tăng thân.Tịnh Độ là vậy.Ở bên kia, có những người hạnh phúc rất lớn, vì họ được sinh ra trên những bông sen thượng phẩm thượng sanh.Nhưng cũng có người còn khổ đau.

 

Đôi khi mình tự hỏi:Tại sao cùng sống trong một môi trường mà người kia nhiều hạnh phúc như vậy?Họ cười vui suốt ngày.Còn ta, ta cũng muốn cười lắm chứ.Thấy họ cười vui, ta cũng ráng cười theo, nhưng nhìn vào gương ta thấy nụ cười ta méo xẹo.

 

Nếu muốn hiểu về Tịnh Độ, ta phải nhìn thực tế vào Tăng thân trong đó ta đang sinh hoạt, lúc đó ta sẽ biết Tịnh Độ là gì và biết mình đang ngồi trên loại sen nào; sen thương phẩm, sen trung phẩm hay là sen hạ phẩm.

 

Tại sao trong cùng một Tăng thân, cùng trong một hoàn cảnh, cùng một Thầy, cùng những người bạn tu, nhưng có người thì hạnh phúc quá chừng, thảnh thơi quá chừng, còn mình thì vẫn cảm thấy đau khổ, cảm thấy cô đơn.Mình còn có cảm tưởng rằng mình là công dân hạng bét của tăng thân nữa là khác.

 

Hãy lấy một ví dụ.Tăng thân Làng Mai đang đi thiền hành với Thầy.Cũng Thầy đó, cũng những sư anh đó, những sư chị đó, cũng những sư em đó, cũng đi trên con đường đó, cũng thấy những hàng cây và nghe những tiếng chim đó.Nhưng tại sao có người đi thiền hành thì đạt được rất nhiều hạnh phúc, nhưng cũng có người không đạt được hạnh phúc bao nhiêu.Đó có phải là tại vì ngoại cảnh hay tại vì tâm tư riêng của mình?Câu trả lời thật dễ dàng.Cái đó không phải do ngoại cảnh, mà là do tâm, bởi vì tất cả ngoại cảnh đều do tâm biểu hiện.

 

Cũng bước đi từng bước như vậy, nhưng tại sao người ta thì lại thảnh thơi, vững chãi.Còn mình thì lại xụt xùi, vướng víu bên này, bên nọ.Vậy thì vấn đề đâu phải là ngoại cảnhChúng ta đừng tưởng rằng được vãng sanh qua cõi Tịnh Độ thì hết vấn đề và ta khỏi cần phải tu tập gì thêm.Nghĩ như vậy thì quá sai lầm.Tại vì được vãng sanh sang bên đó cũng giống như đã thi đậu vào trường đại học.Mà tại trường đại học thì ta phải học rất nhiều ‘‘cua’’.Cho nên ta không thể cúp ‘‘cua’’ được, ta phải đi học cho đều, phải đi công khóa cho đều.

 

Bụt A Di Đà tuy rất hiền, nhưng Ngài rất muốn chúng ta tu họcthương yêu nhau như là con một nhà.Đó là tại vì mình muốn Bụt A Di Đàtừ phụ, là đấng cha lành, nghĩa là người cha chỉ thương yêu, dạy dỗ, mà không rầy rà, không la mắng.

 

Chúng ta hãy nhìn vào Tăng thân của chúng ta để quán chiếu.Ban đầu chúng ta đã nhờ một cơ duyên nào đó mà đi tới được với Tăng thân này.Thật sự là ta đang ở với Tăng thân.Nhưng cái sự thật ta đang ở trong Tăng thân không có nghĩa là ta không còn có vấn đề gì nữa.Ta đã gia nhập tăng thân với những nỗi khổ và niềm đau còn lại của ta.Nhưng ta đã rứt ra được hoàn cảnh ngày xưa, và ta đã tới được với Tăng thân: đó là đã một thành tựu lớn.Và vì vậy ta phải biết thực tập, tức là phải đưa nỗi khổ niềm đau ra để cầu xin Tăng thân ôm ấp nó cho ta, và ta cũng phải thực tập để tự ôm ấp nỗi khổ niềm đau ấy để chuyển hóa chúng.

 

Chúng ta phải biết nương tựa Tăng thân, phải hoàn toàn phó thác thân mạng mình cho Tăng thân.Tại vì Tăng thân là cơ hội duy nhất để giúp ta ôm ấp và chuyển hóa nỗi khổ niềm đau của ta.Có thể là ta đã qua tới cõi Tịnh Độ rồi, nhưng vẫn chưa ngồi chưa yên và hoa sen trên đó mình ngồi chưa hẳn là hoa sen.Mình nói rằng Tịnh Độ này không phải của tôi.Đó là tâm trạng của chúng sanh.Có khi đến một hoặc hai năm sau thì cái suy nghĩ ấy mới không còn.Hạt giống muốn bỏ nhà ra đi, người nào trong chúng ta cũng có.Tất cả mọi đứa trẻ đều có một lần muốn bỏ nhà ra đi do giận cha, giận mẹ, giận anh hoặc giận chị.Có phải vậy không?Hạt giống ấy không phải tự mình làm ra mà đã được trao truyền từ nhiều đời.Cho nên qua tới Tịnh Độ rồi mà thỉnh thoảng ta vẫn muốn bỏ Tịnh Độ mà đi.Cái đó là chuyện rất thường thôi bởi vì hạt giống bỏ nhà ra đi ấy trong ta vẫn còn chưa được chuyển hóa.

 

Các thầy, các sư cô, các sư chú và các Phật tử ở đây ai cũng biết rất rõ chuyện này.Nếu có phước đức của tổ tiên, chúng ta sẽ không bỏ đi.Kiên trì ở lại được vài ba năm thì ta thấy gốc rễ ta vững mạnh và ta bắt đầu có thế di lên rất vững chãi. Điều đó đòi hỏi một niềm tin nơi Tăng thân, một niềm tin nơi cõi Tịnh Độ mới được.

 

Bụt A Di Đà luôn luôn có mặt đó để ôm ấp ta, các bậc thượng thiện nhân cũng luôn luôn có mặt để ôm ấp ta.Nhưng vì quá đau khổ, thành thử ta không hưởng được cái hạnh phúc mà Bụt A Di Đà hay những bậc thượng thiện nhân thương tưởng và trao truyền.Đôi khi nhìn mặt Bụt A Di Đà, có thể ta thấy ngài không dễ thương mấy.Tại vì ta không thảnh thơitự tại để có thể nhìn được rõ.Nhìn cái gì ta cũng thấy bị bóp méo, vì ta đang bị vô minh che lấp tâm tánh.Muốn nhìn thấy Bụt A Di Đà trong tự thân của Ngài, ta phải có sự tĩnh lặng, sự tự do. Còn nếu nhìn qua cặp mắt kính của hờn giận và của ganh tức thì chúng ta chưa thể thấy được Bụt A Di Đà.

 

Sự thật là như vậy.Cho nên diễn tả Tịnh Độ bằng chín phẩm hoa sen tuy là đúng sự thật, nhưng cũng rất nguy hiểm.Nguy hiểm ở chỗ ta có thể nghĩ:Ở cõi Tịnh Độ mà cũng còn giai cấp, sang bên này rồi mà mình cũng còn phải làm công dân hạng thứ chín chứ không phải hạng thứ nhì, và suy nghĩ như thế, mình sanh tâm ganh tức những người kia.Nhưng sự thật không phải như vậy.Những người kia sở dĩ họ có hạnh phúc không phải vì họ được Bụt A Di Đà thương yêubiệt đãi hơn đâu.Bụt đâu có tâm kỳ thị chúng ta.Vì tâm của ta còn nhiều vô minhđau khổ cho nên ta nghĩ rằng ta đang bị bạc đãi, ta đang bị kỳ thị, ta đang làm công dân hạng nhì, hạng ba hay hạng chín.Tất cả những mặc cảm đó là do mình mà ra.

Đi sang cõi Tịnh độ rồi mà hạt giống của Ta bà khổ đau vẫn còn và vẫn hiện khởi, cho nên ta không hưởng được trọn vẹn cái vui của Cực Lạc.Trong khi đó những người khác lại hạnh phúc quá chừng.Điều này ta đâu phải cần đi qua bên đó nhìn tận mắt mới thấy.Ngồi đây, ở trong Tăng thân này, mình cũng có thể thấy được rồi.Ở trong Tăng thân mình cũng thấy có chín phẩm.Có những người cảm thấy rất thoải mái, rất hạnh phúc, nhưng cũng có những người vẫn còn nhảy nhỗm, vẫn còn muốn bỏ đi, vẫn còn giận hờn, vẫn còn cảm tưởng bị kỳ thị.

 

Điểm này trên bảng chỉ cho cõi Ta bà, còn điểm bên kia chỉ cho cõi Tịnh Độ.Điểm này là điểm bây giờ, và điểm kia là điểm lúc đó - lúc đó là lúc sau khi mình chết và được sanh sang cõi Tịnh Độ.Đây là điều chúng ta cần phải để ý.Bởi vì ta đang thực tập theo nguyên tắc ‘‘bây giờ và ở đây’’.Và ta có thể nghĩ rằng ta thực tập là để đạt được một kết quả trong tương lai, nghĩa là sẽ được sinh ra ở điểm bên kia.Trong lúc thực tập, đôi khi ta cũng sinh tâm chán bỏ, chán ghét bên này.Chán ghét bên này mà đi tìm bên kia, chán ghét bây giờ để đi tìm một cái gì trong tương lai.Đây là tâm lý của chúng sanh, rất có tính cách phổ biến.

 

Tâm niệm của chúng sanh thường chán ghét hiện tại và nghĩ rằng hạnh phúc chỉ có thể có mặt trong tương lai.Mình chán ghét cái ở đây và mình đi tìm một cái ở nơi khác.Vì vậy, Bụt mới xót thương và mới nói rằng có một cõi Tịnh Độ ở phương Tây.Điều này nghe như một lời hứa hẹn.Đây là một điều rất quan trọng cần phải quán chiếu.Nếu muốn thật sự hiểu được kinh, ta cần phải quán chiếu cho sâu sắc.

 

Đối tượng sự ước muốn và sự thờ phụng của mình ban đầu thường nằm ở ngoài mình, như Thượng đế, như Ky-tô, như Bụt, như Tịnh Độ, như nước Chúa, v.vv...Lúc đó mình có cảm tưởng ở đây và bây giờ không có gì hết, chỉ có khổ đau, chỉ có tàn hoại, chỉ có héo hắt, chỉ có sầu não thôi.Chính vì thế mình mới cần bám vào một cái gì ở nơi khác và ở trong tương lai. Đó là nước Chúa, là Tịnh Độ, là Niết Bàn, là Bụt, là Bồ tát, là Ky-tô.Tâm chúng sanh thường nghĩ như vậy.Sự suy nghĩ này bắt đầu từ một mặc cảm mình là một con số không.Mình đi tìm một cái gì bên ngoài mình.Mình không biết rằng những gì bên ngoài ấy đều là những điều do tâm mình phóng chiếu ra cả.

 

Khi mình tạo ra một bức tượng để thờ, dù là tượng Phật hay tượng Chúa, tượng điêu khắc hay tượng vẽ, thìbức tượng ấy cũng từ trong tâm mình mà đi ra.Cái tượng ấy nếu không phải từ trong tâm mình đi ra thì nó từ đâu tới?Tâm mình thảnh thơi, nhẹ nhàng thì nét mặt trên tượng sẽ thảnh thơi, nhẹ nhàng.Tâm mình nặng trĩu buồn đau thì mình khó mà tạo ra cho được một pho tượng có khuôn mặt thảnh thơi.

 

Do đó, tất cả những hình ảnh của Thượng đế, của nước Chúa, của Tịnh Độ, đều là những sáng tạo của tâm.Và đó mới là những hình ảnh chứ chưa phải là những thực tại.

 

Khi ta tạc ra một pho tượng Bụt để thờ, và thấy pho tượng không được đẹp cho mấy, ta không dám bỏ đi, không dám đập vỡ, cứ nghĩ rằng đập vỡ thì mang tội.Nhưng tượng đó là do tâm làm ra, chứ đâu phải ở ngoài đi tới.Tri giác sai lầm căn bản là ở chỗ chúng tamặc cảm rằng chúng ta không là gì hết, chúng ta chỉ là khổ đau và tiều tụy.Vì vậy chúng ta mới đi tìm kiếm một cái gì có giá trị ở bên ngoài.Những khi ta chắp tay cầu nguyện, ước mơ, hoặc quán tưởng thì tự nhiên trong tâm có sự bình yên trở lại.Có niềm tin, tâm từ từ tĩnh lặng.Có tĩnh lặng thì bắt đầu có trí tuệ, từ từ ta thấy được rằng cái mà ta tưởng rằng ở ngoài, nó thực sự đang ở trong ta. 

 

Ban đầu ta thấy Bụt là một thực tại ở ngoài ta.Sau một thời gian tu tậpgiác ngộ, ta thấy Bụt là một thực tại ở trong ta.Và nếu ta tu tập tinh tấn, thì ta thấy Bụt không phải ở trong cũng không phải ở ngoài.Tại vì ở ngoài và ở trong chỉ là hai ý niệm, trong khi sự thật vượt thoát các ý niệm ở trong và ở ngoài.Ta thử hỏi:Ở trong là ở nơi nào?Nơi lá phổi hay nơi lá lách, hay nơi trái tim?Có một chỗ nào nhất định không?Chính vì thế, các ý niệm ở trong và ở ngoài đều chỉ là những ý niệm.Nói rằng Bụt, Niết Bàn, Tịnh Độ và nước Chúa không thể được gọi là ở ngoài, ở trong hay ở chặng giữa được.Tại vì những ý niệm kia đều chỉ là những phạm trù của tư tưởng mà thôi.

Điều này rất là quan trọng để cho mình hiểu được kinh.Và như vậy, đi tìm Tịnh Độ hay đi tìm Bụt có nghĩa là đi tìm tự thân của chúng ta.‘‘Con đã tìm ra Thế Tôn, con đã tìm ra con.’’Hai câu đó của bài thơ Tìm Nhau chỉ có nghĩa như vậy.Ban đầu thì ta đi tìm Thế Tôn như một thực tại ở ngoài, nhưng khi tìm ra được Thế Tôn rồi thì ta thấy rằng Ngài không phải là một thực tại bên ngoài.Tìm thấy Thế Tôn đồng thời cũng là tìm thấy được tự thân, và ta thấy được rằng Thế Tôn và ta không phải là hai thực tại riêng biệt.

 

Khi ta niệm một câu ‘‘Nam mô Bụt A Di Đà’’ thì một búp sen nhỏ được tượng hình ở trong đất Bụt.Niệm thêm một tiếng nữa thì bông sen lớn lên thêm một chút.Cùng với công phu niệm Bụt ấy mà đóa hoa sen lớn lên từ từ.Đóa sen đó là đóa sen của ta.Khi thành công rồi, thì ta sẽ được sinh ra từ đóa sen đó.Đóa sen đó có thể là hạ phẩm, trung phẩm hay là thượng phẩm, điều này tùy thuộc vào công phu tu tập của chúng ta.Đóa sen đó nằm ở bên kia, nó được để dành cho những ai có tâm tu tập, dù là thời gian này hay thời gian khác, dù thực tập nhiều hay ít.Nó bắt đầu tượng hình ở bên kia nhưng đồng thời nó cũng đang được tượng hình ngay trong lòng mình.Có phải vậy không?

 

Điều này là một điều rất khoa học.Khi sư chú thở vào một hơi thởchánh niệm và biết mỉm cười, thì búp sen của sự an lạc và của hạnh phúc đã tượng hình trong người của sư chú, đã nở trong trái tim của sư chú.Một đóa hoa an lạc của tình thương và của tĩnh lặng.Ta dùng hình ảnh của một hoa sen để tượng trưng cho sự an lạc và tĩnh lặng ấy.

Tại sao phải đợi đến tương lai mới được hưởng bông sen kia?Tại sao ta phải đợi qua Tây phương rồi mới được hưởng bông sen kia?Chỉ cần một câu niệm Bụt thành khẩn, chỉ cần một hơi thởchánh niệmchúng ta có thể hưởng được bông sen của sự an lạc và của thảnh thơi ngay bây giờ và ở đây.Và Tịnh Độ nằm ngay ở đây và bây giờ chứ không phải đâu xa.Đây là điều mà mình phải thấy.Đây là cách nhìn Tịnh Độ bằng con mắt của các nhà thiền quán.Thiền đây không hẳn là thiền Tổ sư hoặc thiền Như Lai mà là thiền nguyên thỉ, nghĩa là thiền mà chính Bụt và các thầy, các sư cô thực tập cách đây hai ngàn sáu trăm năm, như thiền Niệm Xứ, thiền Quán Niệm Hơi Thở, thiền Hiện Pháp Lạc Trú.Chúng ta thường hay quên rằng đức Thế Tôn đã từng dạy chúng ta pháp môn ‘‘Hiện Pháp Lạc Trú’’, sống an lạc ngay trong giờ phút hiện tại.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 366)
Làm sao thoát khỏi vòng nghiệp lực, cải đổi vận mạng? Muốn làm chủ nghiệp lực, dĩ nhiên phải Tu, chân thành hướng về Phật, sẽ được sống trong vầng hào quang tịnh khiết.
(Xem: 858)
Thiền nhân và thi nhân đều có thể sáng tạo thơ hay. Thơ của các thiền sư thường là sự phóng thích chút bản ngã cuối cùng, nên nó không sanh từ vọng tưởng.
(Xem: 853)
Hàng năm, từ trung tuần tháng 12 dương lịch, các tự viện khắp nơi đều hoan hỷ chuẩn bị tổ chức các khóa tu để cúng dường lễ vía Đức Phật A Di Đà, vị Phật đã phát 48 đại nguyện cứu độ chúng sanh
(Xem: 1869)
Trong kinh có một câu chuyện xảy ra làm đau lòng mọi người khi đức Phật còn tại thế. Một người vì quá tham tàn, bạo ngược, bất chấp cả tình cha con...
(Xem: 16080)
Giáo, Lý, Hạnh, Quả là cương tông của Phật pháp. Nhớ Phật, niệm Phật, thật là đường tắt để đắc đạo. Xưa kia, tu pháp nào cũng đều đủ cả bốn điều này.
(Xem: 1592)
Danh hiệu tuyệt vời của A Di Đà đã thâu tóm trong Ngài đến những vô lượng vô số công phu tu tập. Chính danh hiệu...
(Xem: 3799)
Pháp môn Tịnh-độ là một trong 84 vạn pháp môn mà Đức Phật Thích-Ca "phương tiện" chỉ bày cho thập phương chúng sanh kể cã cõi ta-bà nầy hành trì để giải thoát "sanh tử-luân hồi"
(Xem: 3975)
Thiền, Tịnh, Mật được xem là ba pháp môn tu truyền thống của Phật giáo Việt Nam xưa nay.
(Xem: 3936)
Theo giáo lý Tịnh Độ Phật A Di Đà là vị Phật ánh sáng luôn soi chiếu thông suốt mọi cảnh giới, tiếp dẫn chúng sanh vãng sanh.
(Xem: 14055)
Chúng ta thường nghe nói thế gian là biển khổ, bởi thế gian vui ít khổ nhiều. Nhưng trong chỗ vui đó, rốt cuộc cũng không tránh được khổ.
(Xem: 20930)
Niệm Phật tức là tham thiền không phải hai pháp, ngay lúc niệm Phật, trước tiên phải buông bỏ hết thảy các thứ vọng niệm, tạp loạn phiền não, tham, sân, si...
(Xem: 10126)
Thân của ta hôm nay thật là mong manh như bọt nước, niệm niệm sanh diệt không dừng. Lại sống trong ngôi nhà lửa không an ổn, sao mà cứ tỉnh bơ không chịu quán sát cho kỹ...
(Xem: 6054)
Chư Thiện nhân! Trên đời có muôn ngàn đường lối, tại sao lại chỉ khuyên người niệm Phật?
(Xem: 5642)
Phật pháp thường nói “ mạng người vô thường, cõi nước rủi ro”, “ thân người khó được Phật pháp khó nghe”;
(Xem: 4714)
Tịnh Độ là một pháp môn rất thù diệu, dễ tu dễ chứng và phù hợp với mọi trình độ căn cơ chúng sanh. Chỉ cần người có lòng tin vào nguyện lực của Phật A di đà...
(Xem: 5213)
Con người không biết Phật cũng chẳng sao, không biết Nho giáo cũng chẳng sao, thậm chí không tín ngưỡng tôn giáo cũng chẳng sao, chỉ cần họ biết đạo lýsự thật của Nhân Quả Báo Ứng thì được rồi.
(Xem: 5648)
Người tu thiền chẳng những tâm được yên, trí sáng mà cơ thể lại tốt nữa. Cuộc sống lúc nào cũng vui tươi, không buồn không khổ.
(Xem: 5556)
Sáu pháp môn mầu nhiệm, Hán gọi là Lục diệu pháp môn. Nghĩa sáu phương pháp thực tập thiền quán, giúp ta đi vào cửa ngõ của định và tuệ, cửa ngõ giải thoát hay Niết bàn.
(Xem: 4923)
Tịnh Độ hay Quốc Độ của Chư Phật là từ dùng để chỉ Thế Giới đẹp đẽ, thanh tịnh, tôn nghiêm, là nơi các Đức Phật cùng hàng Thánh Giả và các Tín Chúng cư ngụ.
(Xem: 4697)
Người Phật tử Việt Nam xưa nay thường biết đến khái niệm Tịnh độ qua các kinh nói về Phật Di Đà (Amitābhasutra và Sukhavativyūhasutra) từ Hán tạng
(Xem: 3925)
Bồ Tát Quán Thế Âm chỉ yêu cầu chúng ta hai điều mỗi khi trì tụng chú Đại Bi, đó là thành tâm và không mưu cầu những việc bất thiện.
(Xem: 3267)
Chúng ta ở nơi đây cùng nhau nghiên cứu, thảo luận một phương pháp tu học trọng yếu trong Phật pháp chính là ba tư lương của tịnh độ.
(Xem: 2727)
Chúng ta không thể biểu hiện chức năng như một thành viên của xã hội ngoại trừ chúng ta có một khái niệm nào đó về thiện và ác.
(Xem: 2786)
Trong Phật pháp có nhiều pháp môn tu học học và hướng đến giác ngộ giải thoát. Giác ngộ là thấy rõ đạo lý duyên khởi của nhân sanh và vũ trụ.
(Xem: 2516)
Kinh tạng còn ghi lại khá nhiều trường hợp Đức Phật đích thân trợ niệm hoặc dạy các đệ tử đi trợ niệm cho người bệnh hoặc người sắp lâm chung.
(Xem: 2690)
Khi suy nghĩ những nhu cầu tâm linh của người sắp chết, nguyên tắc căn bản là làm bất cứ điều gì bạn có thể làm được để giúp đỡ người chết có tâm bình tĩnh và an lạc, để họ có ý nghĩ tâm linh tích cực nhất.
(Xem: 2484)
Qua thực tế sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng của Phật giáo Việt Nam hiện nay, có thể thấy rằng dấu ấn của pháp môn Tịnh độhết sức sâu đậm.
(Xem: 3665)
Phàm người niệm Phật, điểm chánh yếu là giải quyết vấn đề sống chết, chẳng phải lơ láo qua ngày!. Nên nghĩ đến cơn vô thường mau chóng, thời khắc chẳng chờ người,
(Xem: 2528)
Bổn nguyện tức là bốn mươi tám lời nguyện. Sau khi Tịnh Tông được thành lập thì chúng ta niệm Phật y theo ‘bổn nguyện’.
(Xem: 2530)
Hành vi đời sống của chính mình chính là Phương tiện khéo léo của sáu phép Ba La Mật. Dùng sáu phép này để tu sửa lại tất cả những hành vi sai lầm đã phạm phải ở ngay trong cuộc sống thường ngày của chúng ta.
(Xem: 2125)
Kinh Vô Lượng Thọviên giáo xứng tánh của Như Lai, là hóa nghi sẵn đủ của chúng sanh.
(Xem: 2896)
Phật dạy rằng tất cả nhân quả thiện ác trên thế gian như bóng theo hình, không sai chạy tơ hào. Song, những kẻ không tin tưởng luật nhân quả thì cho đó là lời rỗng tuếch.
(Xem: 2846)
Minh Tâm là một yếu pháp trong hết thảy các pháp và Tịnh Tâm là một yếu hạnh trong hết thảy các hạnh. Nhưng cái yếu pháp Minh Tâm không chi bằng niệm Phật.
(Xem: 2998)
Khi tâm mình nhẹ nhàng, thảnh thơihạnh phúc thì ba nẻo đường đen tốiđịa ngục, ngạ quỷsúc sanh không thể xuất hiện.
(Xem: 2545)
Đã mấy chục năm trôi qua, sinh ra làm người giữa cuộc đời này, cho đến hôm nay, hương linh đã chính thức kết thúc cuộc đời con người,
(Xem: 2241)
Nếu bạn có bạn bè hay người thân đang lâm trọng bệnh hoặc sắp qua đời, tôi biết là không có ai bảo bạn hãy cứ thản nhiên với họ.
(Xem: 2319)
Mục đích thứ nhất của chúng ta khi tu học Phật Pháp đương nhiên là để liễu thoát sanh tử luân hồi, ra khỏi tam giới.
(Xem: 2216)
Hành giả tu học pháp môn Tịnh Độ, tất yếu đầy đủ tư lương Tịnh Độ. Những gì gọi là tư lương?
(Xem: 3085)
Bất cứ một ai khi trì tụng thần chú Đại Bi với tất cả tâm thành, chắc chắn sẽ đạt được tất cả những điều mong cầu, ước nguyện bởi vì oai lực của Thần chú là rộng khắp, vô biên...
(Xem: 2705)
Phật Pháp đến nơi nào thời cũng làm lợi ích cho chúng sanh, làm cho chúng sanh được vui vẻ và được an vui...
(Xem: 4138)
Nguyện con sắp đến lúc lâm chung, Trừ hết tất cả các chướng ngại, Tận mặt thấy Phật A Di Đà, Liền được sanh về cõi Cực lạc.
(Xem: 2451)
Tâm thức chánh niệm hay tán loạn của con người khi lâm chungyếu tố quyết định cho sự vãng sanh Tịnh độ hay đọa lạc về các cảnh giới khổ đau.
(Xem: 2885)
Người Nhật khi nghe đến Shinran Shonin (Thân Loan Thánh Nhân) họ liền hiểu ngay gần như là Giáo Tổ của Tịnh Độ Tông Nhật Bản,
(Xem: 2478)
Trong xã hội ngày nay, với nhiều biến loạn và nhiễu nhương, những người phát tâm học Phật chân chính cần phải có một nhận thức sáng suốt.
(Xem: 2161)
Do chúng sinh có nhiều bệnh, nên đức Phật mới lập ra nhiều pháp môn, nhưng tất cả giáo lý đều lấy giác ngộ làm đích đến.
(Xem: 2316)
Tu học pháp môn niệm Phật là có thể mang nghiệp vãng sanh, nhưng chúng ta cũng tận lực, hy vọng có thể mang đi ít một chút.
(Xem: 2007)
Chúng ta học được từ nơi Phật Bồ Tát là ở ngay trong cuộc sống thường ngày, nhất định phải dùng tâm chân thành, chân thì không giả, thành thì không hư vọng...
(Xem: 3690)
Thiền (hay Thiền–na) là âm của tiếng Phạn "Dhyana", là pháp môn "trực chỉ Chơn tâm, kiến tánh thành Phật".
(Xem: 2580)
Một câu A Di Đà Phật làm cho chúng ta tỉnh lại. Sau khi tỉnh rồi mới biết được chính mình vốn dĩ là A Di Đà Phật, chính mình vốn dĩ là Tỳ Lô Giá Na.
(Xem: 2784)
Tất cả chúng ta đang sống trong Ánh sáng Vô lượng (Vô lượng Quang) và Đời sống Vô lượng (Vô lượng Thọ), trong bổn nguyện của Phật A Di Đà,
(Xem: 2317)
Phật giáo không phải là tôn giáo, mà là giáo dục. Giáo dục Phật giáo cứu cánh viên mãn, giúp chúng ta phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui.
(Xem: 2202)
Ở Trung Hoa, kinh Quán Vô Lượng Thọ đóng một vai trò quan yếu trong giai đoạn đầu tiên của sự truyền bá Tịnh độ tông hơn bất kỳ kinh văn nào khác của tông nầy.
(Xem: 3264)
Niệm Phật là một trong những pháp môn tu hành rất căn bản được Đức Thế Tôn chỉ dạy rất rõ ràng, hiện còn lưu lại trong các bản kinh cổ nhất,
(Xem: 3393)
Tịnh Độphương cách thích hợp nhất để đạt thành tựu trong một kiếp, và là cách tốt nhất để cứu độ chúng sinh.
(Xem: 3318)
Gặp được Phật pháp rất khó! Trên đời này không có pháp nào thoát ly sanh tử, chỉ có giáo pháp của Phật mới ra khỏi sinh tử luân hồi.
(Xem: 2558)
Tâm thường đế trụ, độ thế chi đạo, ư nhất thiết vạn vật, tuỳ ý tự tại, vi thứ giá loại, tác bất thỉnh chi hửu.
(Xem: 2267)
Học Phật trước tiên phải làm người tốt, xử lý tốt mối quan hệ giữa người với người rồi, tiến thêm một bước, chúng ta phải xử lý tốt mối quan hệ với môi trường tự nhiên.
(Xem: 2587)
Trong bộ kinh này, đức Phật dạy chúng ta phương pháp để cái tâm được thanh tịnh.
(Xem: 6124)
Vô Niệm Viên Thông Yếu Quyết nếu cắt nghĩa chung thì ta có thể nói là bí quyết thoát trần, bí quyết thoát vòng tục lụy, bí quyết giải thoát, bí quyết để chứng thẳng chơn tâm hay bí quyết để đi vào minh tâm kiến tánh.
(Xem: 5149)
Chúng ta tu học Phật pháp, mục tiêu đầu tiên tất nhiên phải thoát ly sinh tử, ra khỏi lục đạo luân hồi.
Quảng Cáo Bảo Trợ