Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,869,062
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Chương 7. Tăng Chi Bộ Kinh

16 Tháng Chín 201100:00(Xem: 5389)
Chương 7. Tăng Chi Bộ Kinh

HƯỚNG DẪN ĐỌC TAM TẠNG KINH ĐIỂN
Gs. U KO LAY (Yangon, Miến Điện)
Phật Lịch: 2546 - Dương Lịch: 2003 - Miến Lịch: 1365
Nguyên tác: "Guide to Tipitaka" Tỳ khưu ni Huyền Châu dịch

Chương VII

TĂNG CHI BỘ KINH
(ANGUTTARA NIKĀYA)

Bộ sưu tập những bài kinh nầy, Tăng Chi Bộ Kinh chứa 9557 bài kinh ngắn được chia thành mười một chương được gọi (Nipāta). Mỗi chương được chia lại thành nhiều nhóm được gọi là phẩm (vagga) thường có mười bài kinḥ Những bài kinh được sắp theo pháp số thứ tự lớn dần, mỗi chương gồm nhiều bài kinhPháp số, bắt đầu với pháp số một lên đến pháp số mười một trong mỗi kinh của chương cuối cùng. Từ đó tên là Tăng Chi nghĩa là 'tăng lên từng pháp số'. Chương đầu tiên cho trong mỗi bài kinh mỗi pháp gọi là pháp số một; chương thứ hai trong mỗi bài kinh chứa hai pháp gọi là pháp số hai và chương cuối được gom từ những bài kinh có mười một pháp trong mỗi bài kinh gọi là pháp số mười một.

Tăng Chi Bộ Kinh thành cuốn sách có xuất xứ quan trọng về đạo đứctâm lý Phật Giáo, cung cấp một bản tóm tắtliệt kê của tất cả các đặc trưng tinh yếu liên quan đến lý thuyếtthực hành pháp.Một phẩm độc nhất vô nhị có tựa đề là Phẩm Etadagga của chương Pháp số một liệt kê danh tánh chư vị đệ tử xuất sắc nhất giữa hàng chư tỳ khưu , tỳ khưu ni, thiện namtín nữ, những người đã thành đạt lỗi lạc nhất trong lãnh vực thành tựu hay làm việc thiện, chẳng hạn đại đức Sāriputta trong Trí Tuệ ; Đại Đức Mahā Mogallāna trong Thần Thông; Tỳ Kheo Ni Khemā trong lãnh vực Trí Tuệ, Tỳ Kheo Ni Uppalavaṇṇa trong Thần Thông; Thiện nam Cấp Cô ĐộcTín nữ Visākhā trong lãnh vực bố thí; và v.v...

*

(1) CHƯƠNG MỘT PHÁP
(Ekaka Nipāta Pāḷi)

Phẩm nầy chứa một pháp thành chủ đề của các bài kinh được Đức Phật thuyết tại Sāvatthi cho nhiều tỳ khưu cư ngụ ở đó. Nhưng vài bài Kinh được Đại Đức Sāriputta hay Đại Đức Ānanda thuyết.

- Không có sắc, thanh, hương, vị và xúc nào khác hơn sắc, thanh, hương, vị và xúc của người đàn bà có thể giam cầm và làm xao lãng tâm trí của người đàn ông; ngược lại không có sắc, thanh, hương, vị và xúc nào khác hơn sắc, thanh, hương, vị và xúc của người đàn ông có thể giam cầm và làm xao tâm trí của người đàn bà (đoạn 1-10).

- Không có gì đem tai hạibất hạnh quá nhiều như tâm không rèn luyện và phát triển. Tâm được rèn luyện và phát triển đem lại lợi íchhạnh phúc (đoạn 28-31).

- Không có gì thay đổi nhanh hơn tâm. Bản chất tâm là trong và sáng; nó bị ô nhiễm bởi tham, sân và si (đoạn 48, 49).

- Nếu tỳ khưu thực hành thiền tâm từ, và phát triển nó ngay cả trong thời gian ngắn bằng búng ngón tay, người ấy được xem như hành theo lời khuyên của Đức Phật, làm theo lời ngài chỉ dẫn. Tỳ khưu như thế xứng đáng độ thực phẩm được dân chúng dâng cúng (đoạn 53, 54).

- Chỉ có một người duy nhất xuất hiện trong đời đem lại lợi íchhạnh phúc cho nhiều người ,đem lại lợi ích cho chư thiênnhân loại. Đơ chính là Như Lai, bậc Toàn Giác.Thật không thể có hai bậc Toàn Giác xuất hiện đồng thời trên cùng một hệ thống thế giới (đoạn 170-174).

- Đối với người có chánh kiến, nghĩa là Bậc Nhập Lưu, thật không thể xem các pháp hữu vi là thường, lạc và ta (nicca, sukha, atta).

- Nếu một pháp được phát triển và thường xuyên thực hành, thân được an tịnh và tâm cũng an tịnh, không còn suy nghĩ lý luận, hết vô minh, trí tuệ phát sanh, ảo tưởng về ngã được diệt trừ, những khuynh xấu cũng được trừ diệt, các xiềng xích được loại bỏ. Pháp duy nhất đó là Niệm Thân (đoạn 571-576).

*

(2) CHƯƠNG HAI PHÁP
(Duka Nipāta Pāḷi)

- Có hai điều ghi nhớ trong tâm là: không bằng lòng với những gì đã đạt được trong tiến trình phát triển tâm, nghĩa là ngay cả đắc các tầng thiền hay coa ánh sáng bên trong (chỉ cho biết ở giai đoạn nào đó của thiền tuệ), và kiên quyết đấu tranh không mệt mỏinỗ lực cho đến khi chứng ngộ mục đích tối thượng, giải thoát. (đoạn 5)

- Có hai tiềm lực trong con người, làm điều thiện hay làm điều ác. Thật có thể từ bỏ điều ác; từ bỏ điều ác đem lại lợi íchhạnh phúc. Cũng có thể huân tập điều thiện. Huân tập điều thiện cũng mang lại lợi íchhạnh phúc.(đoạn 19)

- Hai pháp đưa đến giải thoát trong hai cách: Thiền ĐịnhThiền Tuệ. Nếu định phát triển, tâm cũng phát triển và tham ái không còn đưa đến kết quả tâm giải thoát. Nếu tuệ quán phát triển, trí tuệ phát triển và vô minh tan biến đưa đến kết quả tuệ giải thoát

- Có hai ân nhân mà người ta không bao giờ trả được: mẹ và cha. Ngay cả nếu người đó có thể sống một trăm năm để phụng dưỡng cha mẹ chăm sóc tận tình, thương yêuphụ giúp mọi điều, người đó cũng không bao giờ trả hiếu được cho cha mẹ được vì họ đã bảo dưỡng và dìu dắt người đó trong suốt cuộc đời.Nhưng nếu người đó khiến cha mẹ những người không có đức tin thành người có đức tinquy y Phật, Pháp và Tăng; nếu người ấy làm cho cha mẹ không giữ giới trở nên người thọ trì giới; nếu người ấy khiến cha mẹ có tính keo kiệt trở nên rộng lượng hầu họ có thể san sẻ của cải họ cho người nghèo và người cần; nếu người ấy khiến cha mẹ không biết gì về giáo pháp trở thành người hiểu biết Tứ Diệu Đế, lúc đó người như thế mới có thể trả hiếu cho cha mẹ và trả nhiều hơn những gì họ đã cho người ấy. (đoạn 33, 34)

- Có hai loại hạnh phúc: Hạnh phúc trong đời sống gia đìnhhạnh phúc trong đời sống vô gia dình.Hạnh phúc trong đời sống vô gia đình thù thắng hơn.Hạnh phúc của các dục và hạnh phúc xả ly; hạnh phúc xả ly thù thắng hơn. Hạnh phúccấu uếhạnh phúc không ô uế;...Hạnh phúc nhục dục và hạnh phúc không nhục dục... và hạnh phúc thấp hènhạnh phúc cao thượng;.... Hạnh phúc thể xác và hạnh phúc tinh thần; hạnh phúc tinh thần là thú thắng hơn.(đoạn 65-71).

*

(3) CHƯƠNG BA PHÁP
(Tika Nipāta Pāḷi)

* Kẻ ngu có thể được nhận biết qua ba điều, bằng cách cư xử của nó trong hành động, lời nóitư tưởng; cũng vậy người trí cũng được biết qua ba điều, qua cách ứng xử của người đó trong hành động, lời nóitư tưởng. (đoạn 3)

* Có ba nơi một vị vua đang trị ví không nên quên:nơi sinh, nơi đăng quang và nơi chiến thắng quân thù. Có ba nơi một vị tỳ khưu không nên quên: nơi xuất gia, nơi thành tựu trí tuệ trong Tứ Thánh Đế và nơi đắc quả vị A La Hán. (đoạn 12)

* Ai làm việc tích cực hết mình vào buổi sáng, trong ngày và vào chiều tối, sẽ phát đạt, và trở nên giàu có; vị tỳ khưu cống hiến hết mình vào việc phát triển định vào buổi sáng, trong ngàu và buổi chiều sẽ tiến bộ và thăng tiến trong sự nghiệp phát triển tinh thần của vị ấy. (đoạn 13)

* Trên đời nầy có ba hạng người được tìm thấy: Một hạng có tâm như vết thương há miệng; một có tâm như đền nháy; một hạng có tâm như kim cương.

Ai là người rất dễ nổi giận và dễ bị kích động, hiện ra sự tức giận, căm thù và hờn dỗi; người như thế được cho là người có tâm như vết thương há miệng.

Ai là người hiểu đúng Tứ Diệu Đế được cho là người có tâm như đèn nháy. Ai là người đã huỷ diệt mọi ô nhiễm trong tâm và chứng ngộ sự giải thoát tâm và giải thoát tuệ được cho là người có tâm như kim cương (đoạn 25)

* Trên đời nầy có ba loại người: người nói lời có mùi hôi thối khó chịu; người nói lời có hương thơm, và người nói lời ngọt như mật. (đoạn 28)

* Có ba nhân căn để của sự phát sanh mọi hành động (nghiệp): Tham, sân và si. Một hành động được làm bằng tâm tham, sân và si sẽ chín muồi bất cứ ở cảnh giới nào người ấy tái sanh vào; và bất cứ ở đâu hành động đó chín muồi, ở đó người ấy gặt quả (vipāka) của hành động đó,ở với nó trong đời nầy, trong đời sau và trong nhũng vị lai. (đoạn 38)

* Người nào ngăn cản người khác bố thí, tức là ngăn cản và gây chướng ngại cho ba người. Người ấy gây chướng ngại đến những việc thiện của thí chủ; người ấy ngăn cản người nhận nhận tặng vật; người ấy phá ngầm và làm hại tính cách của riêng mình. (đoạn 58)

* Ba nguy hiểm mà người mẹ không thể che chở cho con trai và con trai không thể che chở cho mẹ: Già, bệnh và chết. (đoạn 63)

* Kinh Kesamutti cũng được biết như là Kinh Kālāma, xuất hiện như bài kinh thứ năm trong Đại Phẩm của chương có Pháp Ba Số. Tại Kesamutta, một thành phố nhỏ trong vương quốc của xứ Kosala, Đức Phật đã khuyên nhủ dân Kālāma ở trong thành phố nầy: "Chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì truyền thuyết, chớ có tin vì theo truyền thống. Chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng, chớ có tin vì lý luận suy diễn,, chớ có tin vì diễn giải tương tự, chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện, chớ có tin vì phù hợp với định kiến, chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì sa môn là bậc đạo sư của mình. Nầy Kālāma, khi nào tự mình biết như sau: "Các pháp nầy là sai, bất thiện, thì từ bỏ chúng;Các pháp nầy là pháp thiện, các pháp nào đó là đúng, thiện, tốt, thì chấp nhận chúng, và hành theo chúng." (đoạn 66)

* Một vị tỳ khưu tận tuỵ với đời sống phạm hạnh nên chú tâm quân bình vào ba yếu tố thay phiên nhau, đó là, định, tinh tấn và xả, và không chú tâm quá vào duy nhất một pháp nào. Nếu vị ấy thường xuyên chú tâm vào mỗi pháp nào trong chúng, tâm vị ấy sẽ trở nên mềm dẻo, dễ uốn, trong sáng và tập trung tốt, sẵn sàng hướng tâm tới bất cứ trạng thái tâm nào đều có thể nhận thức được nhờ trí tuệ siêu nhiên. (đoạn 103)

* Có ba người hiếm quý nhất trên đời: Như Lai là Bậc Toàn Giác là hiếm có trên đời; người có thể tuyên thuyết Giáo PhápGiới Luật như đã được Đức Phật giảng dạy là hiếm có trên đời nầy; và người biết ơnđền ơn là người hiếm có trên đời nầy.

* Cho dù Như Lai xuất hiện trên đời nầy hay không, sự kiện nầy vẫn giữ duyên tồn tại một cách vững chắc , không thể thay đổi được rằng tất cả sự hình thành các pháp hữu vivô thường, rằng tất cả sự hình thành các pháp hữu vi là khổ, rằng tất cả các pháp đều vô ngã. (đoạn 137).

*

(4) CHƯƠNG BỐN PHÁP
(Catuka Nipāta Pāḷi)

* Bốn người nầy được tìm thấy trong đời: người đi thuận dòng; người thì đi ngược dòng; người đứng vững vàng, người đã vượt qua bờ kia và đứng trên đất khô ráo.

Người nào đắm say dục lạc và phạm ác nghiệp là người là người đi thuận dòng. Người không đắm say dục lạc hay không phạm ác nghiệp, mà sống đời trong sạch trinh tiết, phấn đấu rất vất vả và khó khăn để làm được vậy, là người đi ngược dòng. Người đứng vững vàng là người đã tận diệt năm hạ phần kiết sử sẽ được hoá sanh vào cõi Phạm thiên, từ đó vị ấy chứng ngộ Niết Bàn mà không từng trở lại dục giới. Người đã đến bờ kia đứng trên đất khô là người đã tận diệt mọi lậu hoặc trong tâm, và, ai đã tự thân chứng ngộ, ngay trong kiếp sống nầy, tâm giải thoáttuệ giải thoát. (đoạn 5)

* Có bốn Chánh Tinh Tấn: (i)Tinh tấn nỗ lực tránh tâm ác và bất thiện phát sanh; (ii) tinh tấn nỗ loại bỏ tâm ác, bất thiện đã phát sanh rồi; (iii) tinh tấn nỗ lực khới sanh tâm tốt, thiện chưa sanh; (iv) tinh tấn nỗ lực phát triển và thực hiện hoàn hảo tâm tốt, thiện đã sanh rồi. (đoạn 13)

* Như Lai nói như thế nào thì Như Lai làm như vậy; Như Lai làm như thế nào thì Như Lai nói như vậy. Do đó được gọi là Như Lai (đoạn 23)

* Có bốn loại đức tin cao nhất: Như Lai, Bậc Toàn GiácTối Thượng, là cao nhất trong tất cả chúng sanh. Trong tất cả các pháp hữu vi, Bát Chánh Đạo là pháp cao nhất. Trong tất cả các pháp hữu vivô vi, Niết Bàn là pháp cao thượng nhất. Trong tất cả các đoàn thể, Tăng Đoàn của Như Lai, Tăng Đoàn gồm các bậc cao thượng bốn đôi, tám Bậc Thánh, là cao nhất.Đối với những ai có đức tin trong những pháp cao nhất, đó là, Đức Phật, Con Đường, Niết Bàn và Chư Thánh sẽ gặt hái được quả của nghiệp cao nhất cho họ. (đoạn 34)

* Có bốn cách ứng xử với các câu hỏi (i) Vài câu nên được trả lời trực tiếp, (ii) Những câu khác nên được trả lời bằng cách phân tích chúng, (iii) vài câu nên được trả lời bằng cách hỏi ngược lại, (iv) Cuối cùng, vài câu hỏi nên chỉ đơn giản dẹp qua một bên. (đoạn 42)

* Có bốn loại xuyên tạc (vipallāsa) trong nhận thức, tư tưởngquan niệm. Nghĩ rằng có thường trong vô thường; cho rằng có hạnh phúc trong khổ;; nghĩ rằng có ngã trong vô ngã; cho rằng có tịnh trong bất tịnh (đoạn 49)

* Khi NakulapitāNakulamātā bày tỏ mong ước của họ đối với Đức Phật là có tham vọng khác bao lâu đời sống hiện tại còn kéo dài và đời sống vị lai cũng vậy, Đức Phật khuyên chúng cố gắng có cùng một đức tin, cùng một giới hạnh, cùng bố thí và cùng trí tuệ; rồi họ sẽ đạt được như nguyện (đoạn 55-56)

* Người bố thí vật thực cho bốn pháp đến người nhận vật thực đó. Người ấy cho họ trường thọ, sắc đẹp, hạnh phúcsức mạnh. Chính thí chủ cũng sẽ được trường thọ, sắc đẹp, an vui và sức mạnh bất cứ nơi nào người ấy được sinh vào cõi người hay cõi trời (đoạn 57)

* Có bốn chủ đề không thích hợp với tư tưởng suy đoán (Acinteyyāni). Chúng là: những phẩm tính đặc biệt của Đức Phật (Buddhavisayo); việc đắc thiền của một người; quả của nghiệp và bản chất của thế giới tâm (lokacintā). Những điều không thể nghĩ bfn nầy là không được nghĩ về; nếu nghĩ về chúng sẽ dẫn người đó bị tâm thầnmất trí. (đoạn 77)

* Có bốn pháp liên quan mà không ai cho dù sa môn, bà la môn, chư thiên, ma vương hay ai khác trong thế gian nầy có thể bảo đảm được:

- Đó là những gì phải chịu hoại diệt không nên hoại diệt.
- Đó là những gì phải bệnh không nên ngã bệnh
- Đó là những gì phải chịu chết không nên chết; và
- Đó là không có quả nào đến trước do những ác nghiệp trước kia đã làm. (đoạn 182)

* Có bốn cách qua đó tính cách của một người có thể phán đoán:

Phẩm hạnh của người đó được người thông minh và có trí tuệ biết bằng cách quan tâm kề cận sau khi sống chung với người đó một thời gian rất dài. Phẩm chất trung thực của người đó có thể được người thông mnh và có trí tuệ biết bằng cách giao dịch với người đó. Tính can đảm chịu đựng có thể được người thông minhtrí tuệ biết bằng cách quan sát với sự chú tâm cận kề trong thời kỳ khốn khổ. Trí tuệ của người đó có thể được người thông minh và có trí tuệ biết khi nói chuyện với người đó về những đề tài khác nhau trong một thời gian dài. (đoạn 192)

* Có bốn pháp đưa đến sự phát triển trí tuệ: thân cận với người tốt; nghe Pháp hay; duy trì thái độ đúng của tâm và sống hành theo pháp. (đoạn 248).

*

(5) CHƯƠNG NĂM PHÁP
(Pañcaka Nipāta Pāḷi)

* Có năm sức mạnh con người có được trong khi rèn luyện đạt được thượng trí: tín, tàm quí, tinh tấntrí tuệ. Vị ấy tin tưởng vào sự giác ngộ của Đức Phật; vị ấy cảm thấy xấu hổtà hạnh trong việc làm, lời nóitư tưởng; vị ấy sợ bất cứ điều xấu và bất thiện; vị ấy sanh khởi năng lượng để diệt trừ mọi thứ bất thiệnđạt được mọi điều thiện ; vị ấy nhận thức các hiện tượng thường xuyên sanh và diệt và như thế được tuệ quán trang bị, cuối cùng sẽ dẫn đến Niết Bàn, chấm dứt khổ. (đoạn 2)

* Cũng có năm pháp khác, đó là tín, tấn, niệm, định và tuệ. Sức mạnh của tín được thấy trong bốn phẩm chất đặc biệt của bậc Thánh Nhập Lưu; sưc mạnh của tấn được thấy trong Chánh Tinh Tấn; sức mạnh của niệm được thấy trong Tứ Niệm Xứsức mạnh của định được thấy trong bốn tầng thiền; sức mạnh của tuệ được thấy trong sự nhận thức các hiện tượng thường sanh rồi diệt, tuệ mà cuối cùng dẫn đến Niết Bàn. (đoạn 14)

* Các chất ô nhiễm làm hỏng vàng là sắc, thiếc, chì, bạc, và các kim loại khác. Các chất ô nhiễm làm tâm ô nhiễmtham dục, sân, hôn trầm thuỵ miên, trạo cử hối quá và nghi. (đoạn 23)

* Người bố thí vật thực thù thắng hơn người không bố thí vật thực về năm phương diện, về tuổi thọ, sắc đẹp, an vui, danh tiếngquyền lực, dù cả hai đều được tái sanh vào cõi trời hay cõi người. Sự khác nhau về năm phương diện nầy sẽ tiếp tục mãi cho đến khi giải thoát được đạt. Lúc đó không có sự phân biệt giữa giải thoát của một người hay người khác hay giữa một a la hán với một a la hán khác. (đoạn 31)

* Có năm điều quán tưởngmọi người, tỳ khưu hay cư sĩ, đàn ông hay đàn bà phải thực hiện:

(i) 'Tôi chắc chắn phải già. Tôi không thể tránh tuổi già.

(ii) 'Tôi chắc chắn sẽ ốm yếu và bệnh hoạn. Tôi không thể tránh khỏi bệnh tật.

(iii) 'Tôi chắc chắn phải chết. Tôi không thể tránh cái chết'

(iv) 'Tất cả những thứ yêu và thương sẽ không kéo dài lâu. Chúng sẽ phải chịu sự thay đổi và phân ly.

(v) 'Nghiệp của tôi (hành động ở quá khứhiện tại) là tài sản của tôi, nghiệp là người thừa kế của tôi, nghiệp là nhân duyên duy nhất của tôi là, nghiệp là quyến thuộc của tôi, hộ trì duy nhất cho tôi. Bất cứ những hành động nào tôi làm, tốt hay xấu, tôi sẽ trở thành người thừa kế của chúng. (đoạn 57)

* Năm tiêu chuẩn được thiết lập cho việc giảng dạy Pháp: Pháp nên được dạy từ chưa biết đến biết, từ thấp đến cao, từ dễ đến khó; Pháp được dạy nên được dạy như những bài kinhlý luận giỏi; Pháp nên được dạy vì lòng bi mẫncảm thông; pháp không nên được dạy vì danh và lợi thế gian; Pháp nên được dạy mà không ám chỉ chính mình hay ám chỉ người. (đoạn 159)

* Có năm cách để thoát khỏi sự uất: Nếu phẫn uất phát sanh đối với bất cứ người nào, thì vị ấy nên tu tâm từ, bi hay xả đối với người đó. Hay vị ấy không nên chú ý đến người đó và chớ nghĩ gì về người đó cả. Hay vị ấy có thể dụng đến ý nghĩ rằng: Hành động của người đó là tài sản duy nhất của người đó; bất cứ điều gì người đó làm, tốt hay xấu, người đó sẽ là người thừa kế những hậu quả của hành động đó. Trong cách nầy, mọi phẩn phát sanh lên đều có thể tiêu tan. (đoạn 161)

* Cư sĩ không nên sống theo các tà mạng sau đây: Buôn bán súng ống và các loại vũ khí giết hại; buôn bán chúng sanh sống (nô lệ); buôn bán thịt; buôn bán rượu và các chất say; buôn bán chất độc. (đoạn 177)

*

(6) CHƯƠNG SÁU PHÁP
(Chakka Nipāta Pāḷi)

* Có sáu pháp không thể vượt trội: những pháp cao thượng nhất được thấy, những pháp cao thượng nhất được nghe; đạt được pháp cao thượng nhất, học pháp cao thương nhất, phục vụ pháp cao thượng nhất, và quán tưởng pháp cao thượng nhất. Hình ănh Như Lai và chư vị đệ tử ngài là pháp cao thượng nhất được thấy. Nghe Pháp từ kim khẩu của Như Lai hay chư vị đệ tử ngài là pháp cao thượng nhất được nghe. Có đức tin trong sạch vào Như Lai và chư vị đệ tử ngài là đạt cao thượng nhất. Học giới thù thắng (adhisīla), phát triển tâm siêu việt (adhicitta)trí tuệ siêu việt (adhipaññā) là học cao thượng nhất. Phục vụ Như Lai và chư vị đệ tử ngài là phục vụ cao thượng nhất. Quán tưởng giới hạnh của Như Lai và chư vị đệ tử ngài là quán tưởng cao thượng nhất. (đoạn 30)

* Có sáu loại khổ trên đời đối với người đắm say dục lạc: nghèo khổ, mang ơn, nợ nần, nợ buộc phải trả, bị cưỡng bức bởi luật vua phép nước, tù tội.

Tương tự trong giáo pháp của chư vị Thánh, người bị coi là nghèo khổ và cơ cực là người thiếu đức tin vào những điều thiện, không có tàm quí, không có tinh tấn và không hiểu pháp nào là tốt, và người cư xử tồi với chính mình trong hành động, lời nóitư tưởng. (đoạn 45)

* Có sáu bước để được giải thoát: thu thúc lục căn cung cấp nền tảng cơ bản cho giới. Giới cung cấp nền tảng cho Chánh Định. Chánh Định cung cấp nền tảng cho hiểu thực tướng của các hiện tượng tâm vật lý. Nhờ hiểu biết bản chất thực của các hiện tượng tâm vật lý đưa đến sự từ bỏ và xả ly. Ở đâu có từ bỏ và xả ly ở đó phát sanh trí tuệtri kiến giải thoát. (đoạn 50)

* Có sáu pháp được biết: Tham dục, thọ, tưởng, lậu hoặc (āsava), nghiệp và khổ nên được biết, nhân duyên sanh khởi của chúng nên biết, sự thay đổi đa dạng của chúng nên biết, hậu quả của chúng nên biết sự diệt của chúng và con đường dẫn đến sự diệt của chúng nên được biết.

Con đường dẫn đến sự diệt của tất cả các pháp nầy là Bát Chánh Đạo. (đoạn 63)

* Có sáu pháp xuất hiện rất hiếm trên đời: Hiếm thay có bậc Toàn Giác xuất hiện trên đời; Hiếm thay có người giảng dạy Giáo PhápGiới Luật như Đức Phật đã tuyên thuyết. Hiếm thay được tái sinh trong vùng đất của chư vị Thánh; hiếm thay có lục căn hoàn hảo; hiếm thay không bị câm ngọng và ngu dốt; hiếm thay có tâm ham thích làm việc phước thiện. (đoạn 96)

* Có sáu lợi ích khi chứng ngộ quả Nhập Lưu: (i) Tín tâm bất động trong Pháp; (ii) không thể rơi trở lại; (iii) giới hạn khổ trong vòng luân hồi (chỉ còn bảy kiếp nữa); (iv) có được trí tuệ siêu nhiên mà không thể chia xẻ với người đời bình thường; (v) và (vi) hiểu biết rõ ràng nhân duyên và các hiện tượng sanh khởi từ đó (đoạn 97)

*

(7) CHƯƠNG BẢY PHÁP
(Sattaka Nipāta Pāḷi)

* Có bảy yếu tố dành được sự tôn trọngcung kính của chư huynh đệ đồng đạo: không tham lợi; không muốn được người cung kính nhưng bàng quang với chú ý; hổ thẹn làm điều xấu ác (tàm); sợ hãi điều xấu ác; và ít muốn; và có chánh kiến. (đoạn 1)

* Vị tỳ khưu trở nên ruộng phước mấu mỡ, khi vị ấy biết văn bản của Giáo Pháp, biết nghĩa của Giáo Pháp, cũng biết chính mình, biết giới hạn để nhận vật cúng dường, biết đúng cho nhũng hoạt khác nhau, biết tâm lý của thính giả, và biết khuynh tâm linh của mỗi người. (đoạn 68)

* Nếu vị tỳ khưu phát triển tâm trong Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Thần Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Bảy Yếu Tố Giác Ngộ, Bát Chánh Đạo, vị ấy sẽ thoát khởi lậu hoặc, không còn dính mắc gì cả, cho dù vị ấy muốn giải thoát hay không. (đoạn 71)

* Đời người ngắn ngủi như giọt sương rơi trên đầu ngọn cỏ; như bong bóng nước khi mưa rơi; như một đường được cái que vạch trên nước; như thác nước trên núi, như cục nước miếng trên đầu lưỡi; như miếng mỡ được ném vào trong chảo sắt cực nóng; và như con bò cái bị dẫn đi làm thịt, mỗi khi cất một bước chân đi, sẽ càng gần đến người đồ tể, càng gần cái chết hơn. đoạn 74)

* Những pháp nào dẫn đến từ bỏ, hoàn toàn lánh xa thế tục, xả ly, diệt và an tịnh, chánh trí, giác ngộNiết bàn -những pháp như thế có thể được xem là Chân Phápgiới Luật, như Giáo Pháp của Đức Phật (đoạn 83)

*

CHƯƠNG TÁM PHÁP
(Aṭṭhaka Nipāta Pāḷi)

* Có tám lợi ích tích lũy từ pháp hành về tâm từ: Hễ ai hành thiền tâm từ đều được ngủ ngon, thức dậy tươi, khoẻ, khoong bị ác mộng quấy rối, được người và phi nhân cung kisng tôn trọng, được chư thiên theo hộ trì, không bị lửa, thuốc độc và khí giới làm hại và khi chết nhất định được tái sanh vào cõi trời Phạm Thiên. (đoạn 1)

* Có tám ngọn gió đời, sự thăng trầm vần xoay của cuộc đời: được-mất, thành -bại, khen-chê, vui- khổ. (đoạn 546)

* Có tám lực: lực của đứa bé nằm trong tiếng khóc; của đàn bà trong cơn giận; của kẻ cướp trong vũ khí của nó; của ông vua trong vương quyền của nhà vua, của kẻ thiếu trí trong chỉ tríchchửi rủa; của bậc trí trong sự suy xét cân nhắc cẩn thận về tiến hay thoái;của người có tri thức trong sự cẩn trọng; và sức mạnh của vị tỳ khưu nằm trong sự can đảmnhẫn nhục của vị ấy. (đoạn 27)

* Tám đại quán tưởng của Đại Đức Anurudha về pháp: Pháp nầy dành cho người ít muốn (thiểu dục) không phải dành cho người nhiều ham muốn (đa dục). Pháp nầy dành cho người biết đủ, không phải dành cho người không biết đủ.. Pháp nầy dành cho người thích độc cư, không phải cho người thích bầu bạn. Pháp nầy dành cho người có chánh niệm tỉnh giác, không phải cho người bất cẩn. Pháp nầy dành cho người có tâm tập trung, không phải cho tâm tán loạn. Pháp nầy dành cho người trí, không phải cho người không có trí thông minh. Pháp nầy cho người vui thich Niết Bàn, không phải cho người vui thích chuyện đời (ngã mạn, tham áità kiến) (đoạn 30)

* Bậc Thánh có tám cách nói: Không thấy, vị ấy nói không thấy; không nghe vị ấy nói không nghe; không cảm giác, vị ấy nói không cảm giác; không biết vị ấy nói không biết. Đã từng thấy, vị ấy nói đã từng thấy; đã từng nghe, vị ấy nói đã từng nghe; đã từng cảm giác, vị ấy nói đã từng cảm giác và đã từng biết vị ấy nói đã từng biết. (đoạn 68).
*

(9) CHƯƠNG CHÍN PHÁP
(Navaka Nipāta Pāḷi)

* Bậc A la hán không tham đắm trong chín pháp: Bậc A La Hán không có ý định sát hại một chúng sanh nào; không lấy với ý định ăn cắp của không cho; không hành dâm; không nói những gì không thật biết rằng nó không thật; không hưởng lạc thú; không thành kiếnưa thích, vì sân hận, vì si mê hay vì sợ. (đoạn 7).

* Nơi cư ngụ của người đời có chín đặc điểm mà vị tỳ khưu không nên viếng thăm hay ở lại: Nơi vị tỳ khưu không được chào đón hay được tỏ ra hoan hỷ hay được mời ngồi; nơi vật thực được cất giấu; nơi ít thì cho đi mặc dầu nhiều cũng cung cấp được; nơi thực phẩm kém được dâng cúng mặc dầu có sẵn thực phẩm tốt hơn; nơi vật dâng cúng được làm một cách không tôn kính; nơi người đời không đến gần tỳ khưu để nghe pháp, và nơi khi giảng pháp cho thấy ít quan tâm. (đoạn 17)

* Có chín cách trong đó hình thành sự phẫn uất: Nó đã hại ta, nó đang hại ta, nó sẽ hại ta; nó đã hại người ta thương yêu, nó đang hại người ta thương yêu, nó sẽ ahij người ta thương yêu; nó đã làm điều tốt cho người ta không thích, nó đang làm điều tốt cho người ta không thích; nó sẽ làm điều tốt cho người ta không thích. (đoạn 62)

* Có chín pháp nên được diệt trừ để hoàn thành việc chứng ngộ A La Hán Quả: Tính dục, ác ý, sân hận, phẫn uất, vô ơn, đố kỵ, ghen tị, keo kiệt.(đoạn 62)

*

(10) CHƯƠNG MƯỜI PHÁP
(Dasaka Nipāta Pāḷi)

* An trú trong giới có mười lợi ích: Người an trú trong giới cảm thấy hài lòng; hài lòng nên cảm thấy vui; vui nên toại nguyện; toại nên cảm thấy an tịnh, khi an tịnh thì cảm thấy an lạc; khi cảm thấy an lạc thì tâm vị ấy tập trung; nhờ tâm tập trung, vị ấy thấy pháp như chúng đang là; thấy pháp như chúng đang là, vị ấy trở nên vỡ mộng và bình thản đối với tất cả các pháp; khi không còn đam mê hay dính mắc, vị ấy đạt được tâm giải thoáttuệ giải thoát. (đoạn 1)

* Có mười kiết sử: Thân kiến, (Sakkāyadiṭṭhi), hoài nghi, thực hành lầm lạc chỉ thuần nghi thức và tế lễ như là Con Đường chân chánh (giới cấm thủ), tham dục, sân hận, Sắc ÁiVô Sắc Ái, ngã mạn, trạo cử (đoạn 112)

* Chỉ như người đàn ông hay đàn bà nhìn vào trong gương để tìm ra liệu có vết bẩn nào trên mặt không, cũng vậy vị tỳ khưu cần thiết thỉnh thoảng tham gia vào cuộc tự - khảo sát để thấy liệu có tham, sân, hôn trầm thuỵ miên sanh trong tâm vị ấy không; liệu có lo lắnghồi hộp, và nghi ngờ còn tồn tại không; liệu vị ấy thoát khỏi sân và tâm vị ấy bị ô nhiễm bởi những tư tưởng bất thiện hay không; liệu thân vị ấy có dễ chịu không bị trạo cử; liệu vị ấy bị lười biếng hay không; và liệu vị ấy có tâm định với sự ý thức rõ ràng hay không. (đoạn 51)

* Có mười pháp có được bởi người đã hoàn thành, bậc A La Hán: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định, Chánh Tuệ và Chánh Giải Thoát. (đoạn112)

*

(11) CHƯƠNG MƯỜI MỘT PHÁP
(Ekādasaka Nipāta Pāḷi)

* Có mười một loại huỷ hoại, bất cứ loại nào trong số nầy đều có khả năng làm xảy vị tỳ khưu người chửi rủa chư tỳ khưu đồng đạo: vị ấy tinh tấn nhưng thiếu tiến bộ; suy thoái từ giai đoạn đã thành tựu; vị ấy hiểu pháp nhưng bị ô nhiễmcấu uế; bị tính tự kiêu ngã mạn của mình khống chế; không an lạc trong đời sống phạm hạnh; có khả năng phạm những tội lỗi trái với giới luật; có khả năng trở lại đời sốnng tại gia, có khả năng bị khổ sở vì bệnh bất trị; có khả năng bị rối loạn tâm thần; tâm lú lẫn hỗn loạn khi chết và có khả năng bị đoạ địa ngục. (đoạn 6)

* Có mười một điều lợi ích rút ra từ việc huân tập và phát triển tâm từ, khi thực hành thường xuyênan trú vững vàng: vị ấy ngủ ngonthức giấc an lành không có ác mộng; vị ấy được người đời tôn kính, được phi nhân kính trọng, được chư thiên hộ trì; không bị lửa, thuốc độc và khí giới làm hại; tâm vị ấy dễ tập trung; nét mặt vị ấy trong sáng; vị ấy khi chết,t tâm sáng suốt, không lú lẫn; nếu vị ấy không đắc quả vị A La Hán, vị ấy sẽ tái sanh vào cõi Phạm Thiên. (đoạn 15)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 516)
Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận.
(Xem: 498)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(Xem: 8816)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 582)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(Xem: 509)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(Xem: 1848)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(Xem: 1897)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 1912)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 1976)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 2752)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 2178)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 2189)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 2501)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 3026)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 3555)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 2302)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 3202)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 3106)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 5051)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 3302)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 3588)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2676)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 3387)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 2921)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 3467)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2662)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 3043)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 3393)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 3443)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 4450)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 3934)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 3903)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 4358)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 3783)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 3351)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(Xem: 4223)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 5291)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 3866)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 6781)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 6486)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(Xem: 4347)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 20258)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3777)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 7250)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4733)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 4493)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 4034)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4402)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 5971)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4550)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 4268)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 4321)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 4549)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 5210)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 3953)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 5349)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 5195)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 6918)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 5075)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
(Xem: 5895)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
Quảng Cáo Bảo Trợ