Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,863,808
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Phẩm 7 Hóa Thành Dụ

25 Tháng Chín 201100:00(Xem: 3739)
Phẩm 7 Hóa Thành Dụ

LƯỢC GIẢI KINH PHÁP HOA 
Hòa Thượng Thích Trí Quảng
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam - TP. Hồ Chí Minh 2011

Phẩm 7

HÓA THÀNH DỤ

I. LƯỢC VĂN KINH

Đức Phật bảo các Tỳ Kheo rằng trong quá khứ lâu xa về trước, có Đức Phật Đại Thông Trí Thắng Như Lai ra đời. Từ khi Phật đó diệt độ đến nay cũng rất lâu xa, không thể tính được. Đức Phật Đại Thông Trí Thắng thọ 540 vạn ức na do tha kiếp. Lúc Ngài ngồi đạo tràng phá xong ma quân nghĩ rằng sẽ được Vô thượng đẳng giác, nhưng pháp Phật vẫn không hiện ra. Ngài phải tiếp tục nhập định đến hơn 10 tiểu kiếp mới thành Vô thượng giác.

Lúc Phật Đại Thông Trí Thắng chưa xuất gia, Ngài có 16 người con trai. Người thứ nhất tên là Trí Tích. Các con nghe cha thành Phật, tất cả liền bỏ của báu đi đến đạo tràng của Phật. Ông nội là Chuyển luân Thánh vương và 100 đại thần cùng trăm ngàn quyến thuộc cũng đến cúng dường Phật.

Mười sáu vị vương tử thỉnh Phật Đại Thông Trí Thắng nói pháp. Đức Phật Thích Ca cho biết khi Đức Đại Thông Trí Thắng thành Phật, các nước trong mười phương đều chấn động, những chỗ tối tăm cũng đều sáng rỡ. Chư thiên biết có Đức Phật ra đời liền kéo đến thỉnh Phật chuyển pháp luân.

Đức Phật Đại Thông Trí Thắng nhận lời thỉnh của Đại Phạm thiên vương và 16 vương tử nói pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, tất cả bốn lần làm cho hằng hà sa chúng sanh giải thoát. Bấy giờ 16 vương tử xuất gia làm sa di trí tuệ sáng suốt, tịnh tu phạm hạnh. Các vị này mong cầu tri kiến Như Lai và xin Phật nói pháp Vô thượng chánh đẳng giác. Tám muôn ức người theo hầu Chuyển luân Thánh vương thấy 16 vị vương tử xuất gia cũng xin xuất gia và được vua chấp thuận.

Đức Phật Đại Thông Trí Thắng nhận lời thỉnh của sa di qua hai muôn kiếp sau mới ở trong hàng tứ chúng nói kinh Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa giáo Bồ tát pháp Phật sở hộ niệm. Đức Phật nói kinh này liên tục trong 8.000 kiếp. Nói xong Ngài trụ thiền định, 16 vị sa di liền thay Phật giảng kinh Pháp Hoa trong 84.000 kiếp, độ hằng sa chúng phát tâm Vô thượng chánh đẳng giác. Qua 84.000 kiếp, đức Đại Thông Trí Thắng xuất định khen ngợi 16 vị sa di căn tánh thông lợi và khuyên các hàng Thanh văn, Bồ tát nên kính tin, thọ trì pháp của các vị ấy sẽ được Vô thượng giác.

Đức Phật Thích Ca lại bảo các Tỳ kheo rằng hằng sa chúng sanh dưới sự giáo hóa của 16 vị sa di Bồ tát đó, đời đời sanh ra đều cùng nghe pháp với các vị ấy. 16 vị sa di Bồ tát nay đã thành Phật, ở phương Đông là A SúcTu Di Đảnh, ở phương Đông Nam là Sư Tử ÂmSư Tử Tướng, ở phương Nam là Hư Không Trụ và Thường Diệt, ở Tây Nam là Đế TướngPhạm Tướng, ở phương Tây là A Di Đà, Độ Nhất Thiết Thế Gian Khổ Não, ở Tây Bắc là Tu Di TướngĐa Ma La Bạt Chiên Đàn Hương Thần Thông, ở phương Bắc là Vân Tự TạiVân Tự Tại Vương, ở phương Đông Bắc là Hoại Nhất Thiết Thế Gian Bố Úy và Thích Ca Mâu Ni.

Đức Phật Thích Ca nói tiếp : “Lúc chúng ta làm sa di, mỗi người giáo hóa vô lượng chúng sanh. Những chúng sanh đó đến nay đã có người trụ bậc Thanh văn. Hằng sa chúng sanh đã được hóa độ trong thời đó nay là các ông và những Thanh văn đời vị lai. Nhưng cũng có những đệ tử không nghe kinh này, không biết hạnh Bồ tát. Họ đinh ninh rằng với công đức tu tập là được Niết bàn. Sự thật chỉ có Phật thừa mới được diệt độ, không có thừa nào khác.

“Ví như có một kho tàng của báu, cách xa 500 do tuần đường nguy hiểm. Có một nhóm người đi tìm của báu. Họ được một người thông minh sáng suốt dẫn đường. Sau khi đi được hai phần ba đường, họ mỏi mệt, chán nản, sợ sệt, muốn quay trở về. Người dẫn đường thương xót, mới hóa ra một cái thành cho họ vào ở. Sau khi nghỉ ngơi an ổn, hết mệt mỏi, người dẫn đường mới cho biết thành này chỉ là nơi biến hóa để tạm nghỉ và khuyến khích họ tiếp tục đi đến kho báu không còn bao xa.

Đức Phật cũng vậy, Ngài là vị dẫn đường tạm đưa ra hai Niết bàn cho Thanh văn, Duyên giác; vì biết rõ tâm chúng sanh sợ con đường thành Phật dài xa quá gian nan, vất vả. Và khi an trú trong hai Niết bàn yên ổn, họ tưởng đó là cứu cánh. Bấy giờ Phật mới dẹp hóa thành, đưa ra sự thật, chỉ rõ việc tu hành của các vị này chưa xong. Họ cần phải tiếp tục đoạn đường còn lại là Bồ tát đạo mới đến nhứt thiết chủng trí”.

II. GIẢI THÍCH

Trong phần kết thúc kinh Pháp Hoa có nói : “Pháp Hoa hải hội Đức Phật thân tuyên, ba châu chín dụ nghĩa kín mầu…”.

Ba châu gồm thuyết pháp châu, thí dụ châu và nhân duyên châu. Phần pháp thuyết châu thọ ký cho hàng thượng căn, chỉ có Xá Lợi Phất thâm nhập được chân lý, tiếp nhận được quy luật sinh tồn diễn tiến từ bản thể khởi ra hiện tượng và từ hiện tượng trở về bản thể. Điều này khác với trước kia Thanh văn tu, từ bỏ thế giới hiện tượng, xa rời cuộc đời để tìm Niết bàn.

Công việc đi tìm cái không sanh tử trong sanh tử quá khó, chỉ duy nhấtXá Lợi Phất thực chứng. Thật vậy, nếu đứng trên mặt hiện tượng quan sát hiện tượng thì đời đời vẫn là phàm phu. Cuộc sống chúng ta thực khổ. Đức Phật cũng sống như vậy mà Ngài không bao giờ xa rời Niết bàn. Đức Phật từ bản thể quan sát thế giới hiện tượng, nên hiện tượng của Ngài thấy chính xác đúng như thật, không phải là hiện tượng của chúng sanh trong tam giới thấy tam giới. Từ đó việc làmđời sống của Phật bên ngoài trông đơn giản, nhưng lại có tác dụng thật mãnh liệt. Cho đến ngày nay hơn 25 thế kỷ, lời dạy và việc làm của Ngài vẫn là lý tưởng cho hàng tỷ người tôn thờ noi theo.

Phát xuất từ bản thể hiện lên sanh diệt, mọi việc làm của Phật đều cao quý như hoa sen tỏa hương thơm ngát trong vũng bùn nhơ, thể hiện bên ngoài một đóa sen và tiềm ẩn sâu kín bên trong Diệu Pháp. Từ Diệu Pháp thấy được Liên Hoa hay từ con ngườihiện tượng chỉ cho chúng ta thấy con người trên bản thể.

Xá Lợi Phất nhờ lặn sâu vào Diệu Pháp, nắm bắt được chân lý, mới được Phật thọ ký. Hành giả muốn phát tâm Bồ đề cũng phải lặn sâu vào bản thể, tức từ tâm chơn như mà phát. Phát tâm từ trạng thái đắc đạothiền định là cả một vấn đề không đơn giản trên bước đường tu chứng. Vì thế vòng thứ nhất là pháp thuyết châu dành riêng cho hạng thượng căn thượng trí trực ngộ bản tâm như Ngài Xá Lợi Phất, nên rất hiếm người đạt được.

Đức Phật phải dùng phương tiện nói pháp thí dụ tiếp độ hàng trung căn, tiêu biểu bằng bốn vị Ca Diếp, Mục Kiền Liên, Ca Chiên Diên, Tu Bồ Đề nhờ nghe pháp, tâm thanh tịnh. Nghĩa là đi theo con đường phương tiện dễ hơn vào cửa thứ nhất là cửa thiền. Nghe pháp Phật, hiểu tâm Phật, bấy giờ vận dụng tâm Phật vào tâm mình, hành giả cũng thanh tịnh theo và phát tâm đại bi. Từ Niết bàn đi ngược dòng về sanh tử, hiện hữu trên cuộc đời vì lợi ích chúng sanh. Vòng thứ hai gọi là thí dụ châu, Đức Phật thọ ký cho hàng trung căn.

Đến vòng thứ ba nhân duyên châu gồm những người đến với Phật do cảm tâm, không bằng lý luận như hai châu trước. Họ thấy Phật, tự nhiên phát tâm thương ngay. Giữa Phật và họ có một sự gắn bó vô hình sâu xa, vượt ngoài hiểu biết giải thích. Đó chính là nhân duyên.

Đức Phật nhắc lại nhân duyên xa xưa, những đệ tử của Phật đều có liên hệ với Ngài từ thời Phật Đại Thông Trí Thắng. Do nhiều đời những người này cùng sanh chung với Ngài, hết lòng với Ngài nên tạo thành nhân duyên. Đời này gặp lại, họ hy sinh cả tài sản thân mạng, xuất gia theo Phật. Đặc biệt là 1.250 vị La hán, tuy theo ngoại đạo nhưng thực sự các Ngài đã kết duyên với Phật Thích Ca từ thời Phật Đại Thông Trí Thắng. Sở dĩ Phật thành tựu được nhiều việc trên thế gian, vì những người xung quanh quá thương Ngài. Hay nói đúng hơn, nhờ thương Phật mà đệ tử của Ngài vơi đi phiền não, gần nhất là Phú Lâu Na và 500 La hán, A Nan, La Hầu La và 2.000 vị chưa đắc La hán. Các Ngài đã nương theo sợi chỉ vàng tình thương xuyên suốt từ tâm Phật đến tâm các Ngài, trở thành thanh tịnh. Các Ngài không tự thanh tịnh được mà chỉ tìm thấy niềm an lạc trong sự thanh tịnh của Đức Phật. Vì thế trước khi Đức Phật thành Phật, các Ngài không thanh tịnh và Phật Niết bàn, các Ngài cũng không thanh tịnh.

Nhận chân được như vậy, ngày nay chúng ta tu hành cần có độ cảm tâm hướng về Phật. Nhân duyên ấy giúp chúng ta dễ tiến tuchúng ta cần cố gắng giữ gìn, nuôi dưỡng căn lành này cho lớn mạnh thêm.

Đức Phật thuyết minh nhân duyên qua câu chuyện của Phật Đại Thông Trí Thắng để xác định với chúng hội rằng nếu không tu Bồ tát hạnh, không dìu dắt chúng sanh thì không thành Phật được, chỉ thành Độc Giác mà thôi.

Nhờ nhân duyên hành Bồ tát đạo từ thời Đức Phật Đại Thông Trí Thắng, khi Phật Thích Ca tái sanh, Bồ tátchư Phật mười phương mang tâm niệm trả ơn, cùng sanh lại với Phật.

Lắng lòng theo dõi cuộc đời hành đạo của Đức Phật, chúng ta cảm nhận cả một sự sắp xếp và bố trí quá tinh mật theo nhân duyên. Các Bồ tát và chư Phật sanh lại theo Phật Thích Ca, làm tất cả ngành nghề, đóng đủ thứ vai thuận nghịch, nhưng tựu trung chỉ nhằm làm nổi bật vai trò của Đức Phật. Như trường hợp năm ông vua ở miền ngũ hà Ấn Độ nghe Phật giảng dạy pháp trái ngược với quyền lợi của họ mà vẫn cúi đầu chấp nhận. Các vua ác hay vua thiện hoặc Đề Bà xô đá đè Phật, A Xà Thế thả voi say giết Phật, sát nhân Vô Não hại Phật hay người đàn bà mang bụng chửa vu oan Phật, người hốt phân, người hớt tóc, một dâm nữ v.v… Tất cả đều là những người đóng kịch trên sân khấu cuộc đời. Vì dù tệ ác đến đâu, sau cùng họ đều đắc quả La hán. Và rõ ràng cũng chỉ có một sát nhân Vô Não đắc La hán, một dâm nữ thành Thánh, một người hốt phân đắc quả… Vì thế, dưới nhãn quan của Phật giáo Đại thừa, tất cả những người này là diễn viên xuất sắc trên sân khấu cuộc đời, nhằm làm sáng danh hình ảnh đạo đức thánh thiện của Phật.

Và đến thời Pháp Hoa, Đức Phật mới cho biết sự thật những gì Ngài nói và làm trước kia thuộc về phương tiện để giáo pháp phổ cập truyền thông đến mọi tầng lớp. Ngay cả trường hợp Đề Bà Đạt Đa, theo tôi, có thể là một vị cổ Phật đến biểu diễn vai xấu ác cho Đức Phậtgiải pháp môn thiện ác bất nhị, chứng minh nghịch duyênthắng duyên giúp hành giả mau đắc quả Vô thượng bồ đề. Bồ tát hiện vào đời dưới dạng sát nhân, hạ tiện và vượt lên quả vị Hiền Thánh nhằm khích lệ, khơi dậy tâm Bồ đề cho những người ở giai cấp thấp.

Phẩm Hóa Thành dụ mở đầu cho phần nhân duyên châu trong bộ kinh Pháp Hoa, nói lên sự liên hệ giữa Phật và chúng đương cơ. Ngài giới thiệu Đức Phật Đại Thông Trí Thắng nhập diệt cách nay rất xa, không thể tính đếm được. Nhưng dùng Phật nhãn quan sát thấy rõ như sự kiện đang xảy ra trước mắt.

Nhân cách và hoàn cảnh đắc đạo của Đức Phật Đại Thông Trí Thắng thật là đặc thù. Trước khi xuất gia, Ngài cai trị dân bằng đức hạnh. Cha của Ngài là Chuyển luân Thánh vương và 16 vương tử con Ngài lãnh đạo bốn phương đều được thái bình. Với địa vị cao sang tột đỉnh và quyến thuộc tài giỏi như vậy, Ngài không an hưởng cuộc sống đầy đủ năm món dục. Trái lại, Ngài luôn khao khát một đời sống chân thật, vĩnh cửu bất diệt.

Ngài rời cung điện đến thiền định tại Bồ đề đạo tràng trải qua 10 tiểu kiếp, được chư Thiên liên tục rải hoa cúng dường và vua trời Đế Thích trải tòa cho Ngài ngồi. Trong khi Đức Phật Thích Ca ngồi tư duy dưới gốc cây Bồ đề chỉ trong 49 ngày. Vì tu nhân như vậy nên thọ mạng giữa Ngài và Phật Thích Casai biệt. Đức Phật Đại Thông Trí Thắng thọ mạng đến 540 vạn ức na do tha kiếp. Đời sống này quá dài so với cuộc sống chúng ta, cho nên có người dùng trí phàm quan sát cho rằng không có thực, chỉ là nhân cách hóa tâm.

Riêng đối với chúng ta, bằng niềm tin và suy tư cảm nhận được thọ mạng dài ngắn khác nhau của muôn loài trong lục đạo. Ở trên cõi trời, thọ mạng không tính bằng năm tháng mà dựa vào phước đức. Khi hết phước, ngũ suy tướng hiện là điềm báo sắp đọa xuống nhân gian. Còn ở địa ngục thọ mạng rất ngắn, một ngày ở nhân gian bằng 10.000 kiếp ở đây. Riêng súc sanh, thọ mạng khác nhau tùy loại, như loài phù du không sống quá một ngày. Nếu chúng ta không chấp nhận được thọ mạng 540 vạn ức na do tha kiếp của Đức Phật Đại Thông Trí Thắng thì cũng giống như chúng sanhđịa ngục không chấp nhận ở Ta bàĐức Phật Thích Ca sống đến 292.000.000 kiếp (80 năm x 365 ngày x 10.000 kiếp).

Ngồi đạo tràng phá ma quân 10 tiểu kiếp, Phật Đại Thông Trí Thắng không hề nói pháp, vì nhân duyên chưa đầy đủ. Điều này khiến chúng ta cảm nhận được dù có Phật hay không, pháp vẫn thường trú. Pháp là chân lý nên luôn luôn hiện hữu. Khi Ngài thành Phật thể nhập chân lý, ánh sáng chân lý kết hợp với Phật huệ của Ngài phóng đi khắp mười phương, làm mờ hẳn ánh sáng của các vị Đại Phạm thiên vương là vị được Ấn Độ giáo xem như đấng tạo hóa vạn năng.

Khi 16 vị sa di Bồ tát thỉnh Phật nói kinh Đại thừa, Ngài nhận lời. Nhưng đến hai muôn kiếp sau, Ngài mới nói kinh Pháp Hoa. Thời gian này tương ưng với thời gian Đức Thích Ca nói Bát Nhã. Pháp KHÔNG của Phật Đại Thông Trí Thắng thuộc về vô ngôn thuyết, vô danh tự, vô tâm duyên, không dùng ý thức suy lường được. Đó là pháp tâm ấn tâm trong hai muôn kiếp để tâm thánh chúng thuần thục, trống không mà lãnh nhận Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa. Trái lại, đối tượng của Đức Thích Ca Mâu Niphàm phu nên Ngài phải dùng trí phương tiện để diễn đạt trí Bát Nhã.

Đức Phật Thích Ca nói kinh Pháp Hoa 8 năm, trong khi Đức Phật Đại Thông Trí Thắng trải qua 8.000 kiếp nói kinh Pháp Hoa, dùng kệ nhiều như số cát sông Hằng.

Từ trước phẩm Hóa Thành dụ, chúng ta chỉ thấy một Đức Phật Thích Ca cùng các đệ tử Thanh văn theo tu học. Nhưng đến đây, Đức Phật chỉ cho đại chúng thấy ứng thân của Ngài ở phía Đông Bắc là một trong số 16 vương tử ở thời Phật Đại Thông Trí Thắng. Ngài dẫn sự tích Phật Đại Thông Trí Thắng nhằm nói lên nhân duyên liên hệ giữa Ngài và Thánh chúng đã có từ thời xa xưa. Lúc Ngài còn là một trong 16 vương tử của Phật Đại Thông Trí Thắng đã độ được 600 muôn ức na do tha quyến thuộc. Và Thánh chúng hiện đang ngồi trong đạo tràng ở núi Linh Thứu là những người đã ở trong số 600 muôn ức quyến thuộc nói trên.

Nói nhân duyên liên hệ này cũng nhằm phá tan nghi ngờ của các Thanh văn, để chuyển các vị này từ Tiểu thừa sang Đại thừa. Vì khi chuyển tâm từ an định qua tu pháp Bồ tát dấn thân vào đời là điều khó. Các Ngài nghi ngờ sẽ đi lạc, không tu được nếu đời sau không gặp Phật.

Đức Phật mới xác định rằng các vị Thanh văn đã theo Ngài từ thời Đức Đại Thông Trí Thắng và mãi đến hội Pháp Hoa còn theo Phật nghe pháp được, chứng tỏ tâm Bồ đề không bao giờ mất. Một khi đã phát tâm kết duyên với Phật, hạt giống Bồ đề chỉ mạnh hay yếu chứ không mất. Hành giả sanh chỗ nào, có Bồ tát thị hiện theo hướng dẫn tu hành, vì đó là hạnh nguyện của các Ngài. Ngay như ở thế gian, chúng ta nói Phật nhập diệt, nhưng sự thật Ngài thành Phật ở cõi khác. Bao nhiêu ứng hóa thân trong bốn loài khắp pháp giới, Ngài đều hiện hữu. Ai có căn lành đều gặp Phật.

Điều này khiến chúng ta cảm nhận sâu sắc rằng chúng ta hiện còn thọ trì đọc tụng Pháp Hoa một cách bình ổn trong đời ngũ trược ác thế, là nhờ sự hộ niệm của chư Phật và Bồ tát mười phương. Chúng ta đã kết duyên Pháp Hoa với Phật Thích Ca ở thời Phật Đại Thông Trí Thắng trong số 600 muôn ức na do tha quyến thuộc của Ngài.

Đoạn kết của phẩm này nói về hóa thành để chỉ hai Niết bàn mà Phật đã nói trong suốt bốn mươi năm. Và nêu lên ví dụ Đức Phật tiêu biểu cho vị Đạo sư và các Tỳ kheo là người đi tìm của báu. Đức Phật khẳng định Ngài chỉ là một Đạo sư, một người chỉ đường cho loài người. Đức Phật và ta đồng nhau không khác, cũng như người dẫn đường đối với người đồng hành giống như nhau. Ngài khai phương tiện môn, giảng nói nhiều, để lần dẫn mọi người về nhất Phật thừa, làm cho tất cả thành Phật.

Giai đoạn trước, Phật nói đủ cách, phần lớn nhấn mạnh đến tha lực; vì chúng sanh tham lam, ích kỷ, hèn mọn, không dám nghĩ tự mình vươn lên, chỉ thích cậy nhờ. Đức Phật phải hiện thân làm người cho chúng ta nương tựa.

Đến giai đoạn này Phật muốn ta phát khởi ý chí dũng mãnh, tự tu hành đắc đạo thành Phật, bằng với Phật. Vì vậy Ngài xác định lại vai trò của Ngài trên cuộc đờiĐạo sư, không thể là trận mưa hay ông trưởng giả nữa.

Vị Đạo sư trong phẩm này là Đại Thông Trí Thắng Như Lai, một Đạo sư mà bao người ước mơ gặp gỡ. Từ trời người đến Đại Phạm thiên vương mười phương đều mong mỏi Ngài chỉ cho họ một cuộc sống đúng để cuối cùng bỏ xác thân chứng Niết bàn.

Vị Đại Phạm thiên vương thốt lên rằng lâu lắm mới có một Đạo sư ra đời. Vị này biết rõ những việc quá khứ, hiện tại và tương lai, thấy rõ trước khi đến đây ta ở đâu, làm gì và nay phải sống như thế nào cho có ý nghĩa và sau cuộc đời này, ta đi về đâu.

Thắc mắc này của Đại Phạm thiên vương cũng chính là thắc mắc của mọi người chúng ta hay niềm băn khoăn của Phật Thích Ca trên bước đường tìm chân lý. Khi mang thân ngũ ấm, Ngài cũng bị bốn phần tinh thần : thọ, tưởng, hạnh, thức che lấp chân tâm như bao nhiêu người khác. Nhưng nhờ nhân duyên căn lành bên trong thôi thúc mãnh liệt, Ngài bỏ nhà thế tục đi xuất gia. Khi bỏ sự nghiệp rồi, Phật mới khám phá được những ràng buộc bên ngoài không quan trọng. Trái lại, giặc ở bên trong chúng ta hay ngục tù ngũ ấm mới thật nguy hiểm. Vì mang vào thân ngũ uẩn, nó trang bị cho ta những thứ chướng ngại là thọ, tưởng, hành, thức. Nó hành hạ, trói buộc chặt chẽ trí tuệ siêu việt của chúng ta, không cho trí tuệ phát triển. Vì vậy Phật không những bỏ nhà bên ngoài mà còn bỏ cả nhà ngũ ấm sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc là thân vật chất tứ đại, nó đòi hỏi ta phải chìu theo nó, đáp ứng cho nó ăn uống, ngủ nghỉ…

Trên bước đường tu, khởi đầu Ngài chế ngự được phần sắc chất dễ dàng đến độ mỗi ngày chỉ cho nó ăn một hột mè, giảm thiểu việc ngủ nghỉ của tứ đại bằng phương pháp tham thiền. Chẳng những phần sắc chất của thân, cả phần vật chất bên ngoài không thể làm hoen ố tâm hồn Phật.

Tiến đến phần tinh thần do sáu căn tiếp xúc với sáu trần khởi lên phân biệt đẹp xấu, hay dở, khen chê, thương ghét v.v… Nó bao phủ quay cuồng trong tâm, ngăn che làm mờ chơn tâm, khiến chúng ta không thấy chân lý. Nhận rõ nguyên nhân hoành hành của anh giặc cảm thọ này, Phật phá thọ uẩn bằng cách dùng xả thọ, nghĩa là không quan tâm đến nó. Sự vật dù có hay không, hành giả tạm thời không khởi tâm để ý phân biệt. Vì còn lưu tâm đến sáu trần bên ngoài, chắc chắn hành giả phải rớt vô một trong hai thứ, hoặc khổ thọ hoặc lạc thọ. Và cả hai cảm giác khổ vui đều chi phối tâm, làm hành giả không yên tĩnh được. Đạt được xả thọ, phần tưởng uẩn tự động mất. Vì hiện thực còn không quan tâm, huống chi là suy tư, tưởng tượng. Tưởng uẩn không bao giờ đúng thật, chắc chắn đưa đến hiểu biết sai trái, tức thức uẩn hoàn toàn ở trong vô minh. Cuối cùng Phật phá vỡ phần vô minh, chứng được chân lý, thấy được người thợ xây ngôi nhà ngũ ấm.

Đức Phật từ trên chân lý hay từ bản thể trở lại cuộc đời, vẽ ra cho chúng ta con đường Ngài đã đi từ thế giới phàm phu đến thế giới Phật qua hình ảnh 500 do tuần đường hiểm. 500 do tuần dẫn đến bảo sở lấy của báu, tiêu biểu cho năm tầng của ngũ ấm mà Phật dạy phải gạn lọc sạch hoàn toàn mới đạt đến Phật quả.

Tâm thức chúng sanh phiền nãotâm lượng giải thoát của Phật cách nhau thật xa giống như 500 do tuần đường hiểm hay hai thế giới Ta bàTịnh độ cách biệt muôn trùng vạn dặm. Nhưng vị Đạo sư biết rõ vì Ngài thường qua lại, nghĩa là Ngài đã tự chứng nghiệm thông suốt pháp tu từ cảnh giới con người chứng được Niết bàn và từ Niết bàn Ngài hiện thân trở lại đây. Nếu nói rõ sự hiểm nguy trên một lộ trình dài xa như vậy, những người tâm trí hạ liệt không dám tiến bước.

Thật vậy, trên bước đường tu, vượt 500 do tuần đường hiểm là cả một vấn đề không đơn giản. Các đệ tử Phật dù thương Phật đến đâu, nhưng gặp khó khăn dồn dập liên tục, lòng họ cũng phải nao núng. Thực tế chúng ta thấy lòng hy sinh của con người đương nhiên có mức độ, ép quá chẳng những không được, đôi khi còn phản tác dụng.

Đức Phậtvị Đạosáng suốt giác ngộ hoàn toàn, biết rõ khả năng trình độ, tầm mức hy sinh của chúng nhân như thế nào. Ngài tùy theo đó đưa ra pháp tu tương ứng và thời điểm nghỉ ngơi thích hợp. Các đệ tử từ hàng phàm phu bạt địa vượt lên chứng A la hán, phá luôn một loạt sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm là những bộc phá quá lớn lao đối với họ. Đức Phật phải cho họ tạm nghỉ ngơi ở Niết bàn.

Giai đoạn đầu vượt qua bức tường sắc chất cũng không dễ. Vì mang thân người, đứng trên vật chấtquan sát sự vật, an trú pháp KHÔNG đạt được một giải thoát trong tám giải thoát của Phật. Nói cách khác, không bị mọi vật xung quanh chi phối, không bị cuộc đời làm ô nhiễm. Thoát ly phần sắc chất, hành giả đã đi qua 100 do tuần đường hiểm, chứng sơ quả.

Phật lại bảo tiếp tục đi vào thế giới tâm linh. Ở trong pháp KHÔNG quán KHÔNG để giải thoát. Giai đoạn trước là từ CÓ quán KHÔNG. Các Ngài tu tập phá bỏ phần thọ uẩn tiêu hủy hoàn toàn 12 xứ (6 căn + 6 trần) chứng được tam quả, vượt qua 200 do tuần đường hiểm. Qua được 200 do tuần đường hiểm này đã xứng đáng được nghỉ ngơi. Tuy nhiên, Phật thấu suốt khả năng chúng hội nên bảo đi tiếp đoạn đường 300 do tuần còn lại. Từ Niết bàn, không quan tâm, không tiếp xúc cuộc đời, diệt luôn suy tư mà các Thanh văn thường tâm sự với Phật rằng ngày đêm các Ngài chỉ nghĩ đến KHÔNG, vô tác, vô nguyện. Ở giai đoạn này các Ngài tu tập phá được tưởng uẩn vượt qua 300 do tuần đường hiểm, bước vào thế giới KHÔNG của A la hán. Đến đây Phật tạo ra hóa thành cho họ an trú.

Sau đó ở hội Pháp Hoa, Phật cho biết những điều mà các đệ tử Ngài an hưởng là do công đức tu hành đạo Bồ tát của Ngài đem chan hòa cho, là hóa thành do Đạo sư biến hóa ra, không phải họ tự tạo được. Điều này cho thấy Đạo sư phải có khả năng biến hóa, tức gặp khó khăn nguy hiểm phải đủ sức che chở.

Đức Phật biểu hiện đầy đủ tư cách của một vị Đạo sư. Ngài hiện thân trên cuộc đời có đầy đủ phước báu, trí tuệđức hạnh siêu tuyệt, làm Thầy của trời người, giải quyết cho họ mọi khó khăn. Nếu Ngài nói với họ lộ trình tu hành phải trải qua ba a tăng kỳ kiếp dài xa, thì sẽ không ai dám theo. Ngài mới chỉ con đường đi đến bảo sở rất dễ. Nhưng khi bắt đầu tu hành gặp ma chướng khó khăn, ví như trên cuộc hành trình tìm châu báu, hành giả gặp đủ loại thú dữ hiểm nguy. Tuy đầy chông gai hung dữ nhưng từng bước theo Đạo sư, hành giả vẫn cảm thấy an lànhĐạo sư đã từng qua lại đường hiểm sanh tử rồi và biết rõ cách đối phó.

Ngày nay, Phật đã vào Niết bàn, trên bước đường tu hành tìm cầu vị Đạo sư, hành giả phải nương tựa với người biết rõ đường hiểm sanh tử, mới ngăn chặn phiền não nghiệp chướng cho hành giả được. Vị này chỉ đạo cho hành giả làm việc gì đều mang lại kết quả tốt đẹp. Nếu không đạt được lợi ích ngay trên cuộc đời, hành giả không nên tiếp tục theo vị đó, vì pháp còn trong sanh tửkhông giải quyết được, huống chi là pháp ngoài sanh tử.

Theo Đạo sư, hành giả có một cuộc sống bình ổn, điều này chưa đủ. Vì sự bình ổn mai kia sẽ chấm dứt khi xác thân tan hoại. Tiến đến giai đoạn hai, Đạo sư triển khai cuộc sống tâm linh, mang lại niềm an lạc giải thoát cho hành giả an trú, bỏ lại phía sau những nhu cầu tầm thường của thế gian, từng bước xa rời sanh tử và tiến đến Niết bàn. Tâm chứng của hành giả nương vào Đạo sư mà có, thân tâm đều an lành. Năm món dục trên đời tuy đầy đủ mà chúng không còn chi phối hành giả nữa, vẫn sống tự tại giải thoát. Như vậy, hành giả đã đi theo Đạo sư qua một chặng đường sanh tử, ví như đã phá được một ấm. Cuối cùng cuộc đời, hành giả phá được ngũ ấm. Sự liên hệ với thế gian không còn, nên không tái sanhthoát khỏi sanh tử luân hồi.

Ngược lại, nếu thực hành pháp tu giải thoát của Phật mà vẫn chất chứa buồn phiền, tham giận, đố kỵ, ghét ganh thì đã lọt vào quỹ đạo của ma và đang áp dụng tà pháp vậy.

Trên lộ trình tu tập, Đạo sư thông suốt đường hiểm, biết rõ căn tánh hành nghiệp chúng sanh. Ngài đã tháo gỡ cho hành giả những gút mắc, nên khi tụng kinh hay quán tưởng Ngài, phiền não tự rơi rụng. Đến phẩm thứ 7 này, Ngài mới nói điều đó do Ngài bố trí, không phải hành giả tự nhiên được.

Đối với chúng nhân đang sống trong thế giới đầy khổ đau, cần hướng tâm về chỗ an lành tu tập, Phật đưa ra hai quả vị Niết bàn, một Niết bàn của A la hán an trụ. Tâm các vị này tự tại giải thoát, vào định, chứng Niết bàn nhờ nương lực của Phật. Niết bàn thứ hai là Niết bàn Tịnh độmười phương, bỏ cõi Ta Bà về cõi khác thánh thiện hơn. Đó là pháp dụ dẫn chúng ta tiến lên. Nhưng trở lại thực tế, pháp sau cùng Phật dạy hành giả tìm chỗ an trú trong khi xung quanh còn đầy bất trắc, thì chỉ là an lành giả tạm. Hành giả bỏ chạy tới đâu, phiền não nghiệp chướng theo tới đó, ví như đuôi trâu dính liền với con trâu.

Đến đây Phật phá bỏ hai Niết bàn trước. Điểm này không nên hiểu lầm là hai quả vị Niết bàn kia không có. Hóa thành rất cần thiết cho người sơ tâm như chúng ta còn đầy phiền não nhiễm ô. Nhưng đạt đến giai đoạn Bát Nhã, Phật mới phá bỏ hóa thành, nghĩa là bỏ pháp tu phương tiện trước, cũng như qua bờ giải thoát, chứng được Niết bàn, thuyền phương tiện mới không cần nữa. Ý này ở phẩm thí dụ diễn tả chúng nhân chạy ra khỏi nhà lửa, đến khoảng đất trống, mới lên đại bạch ngưu xa.

Suốt 40 năm vì không đưa thẳng về thế giới Phật được, Ngài dìu dắt chúng nhân vào nghỉ ngơi ở Niết bàn của Ngài. Sau một khoảng thời gian dài, mọi người hết mỏi mệt, chứng được quả vị rồi, Ngài mới diệt hóa thành, để họ tiếp tục hành trình đến bảo sở.

Những người đi được 300 do tuần dụ cho chúng Thanh văn, Duyên giác đã đi hơn nửa đường, ra khỏi sanh tử luân hồi, có trí tuệ. Khác hơn những người ở khởi điểm, các Ngài không còn gặp hiểm trở bao nhiêu so với 300 do tuần đã qua. Từ chỗ nghỉ ngơi của Niết bàn hóa thành, hay từ thế giới KHÔNG của A la hán, tuy hơn thế gian, hơn các bậc tiên nhân; nhưng sự thật chưa bằng Đạo sư, nên Phật dẫn những đệ tửtinh thần cầu tiến trở lại thế giới hiện tượng, tiếp tục đoạn đường 200 do tuần còn lại để hành Bồ tát đạo.

Hành Bồ tát đạo, phá trừ phần tồn đọng trong ngũ ấm của chính hành giả, cũng như để giải quyết những tồn tại xung quanh. Hành giả không thể sống an lành, nếu cả thế giới này đều sụp đổ. Đối với Bồ tát, giáo hóa chúng sanhtrang nghiêm Phật quốc của mình vậy. Với hành trang tình thươngtrí tuệ, hành giả xây dựng mọi người, nâng họ lên Niết bàn thực sự. Được như vậy, nhà lửa này vụt biến ra hóa thành, ở ngay trong tam giớikiến tạo Tịnh độ an vui. Đó chính là chỗ trú ẩn hoàn hảo của hành giả.

Thí dụ hóa thành áp dụng cho chúng đương cơ, không phải cho chúng ta. Trí tuệ của các Ngài đã đầy đủ, chỉ cần tu tạo thêm công hạnh của Bồ tát. Chỉ có lộ trình duy nhất dẫn về Phật đạocon đường Bồ tát, không có con đường nào khác.

Đối với chúng ta chưa đắc quả A la hán, chưa ra khỏi sanh tử luân hồi, chỉ có một pháp tu đặc biệt của Pháp Hoa không trải qua 300 do tuần. Tuy còn đầy phiền não, nhưng chúng ta làm được việc như Bồ tát là nhờ nương sức hộ niệm của chư Phật và công đức kinh Pháp Hoa. Từ đó, hành đạo một cách bình ổn, phiền não không xâm hại được.

Những vị A la hán, tâm điền của họ hoàn toàn thanh tịnh, gieo hạt giống Pháp Hoa dễ tốt hơn. Còn chúng ta không có phương tiện phá rừng thành đồng trống tức thời. Nhưng chúng ta may mắn bắt được kinh Pháp Hoa sớm hơn, chỉ phá một khoảng đất nhỏ thôi, rồi đặt mầm Bồ đề xuống, lần lần Bồ đề lớn lên. Phiền não còn lại được coi như dư nghiệp để chúng ta nuôi chí vượt khó, thăng hoa.

Nếu căn lành và nhân duyên đã có từ thời Phật Đại Thông Trí Thắng, hạt giống đã gieo rồi, chỉ cần giữ gìnphát tâm tu tinh tấn lên, chúng ta sẽ được thọ ký thành Phật. Đó chính là tâm ấn mà Đức Đạo sư muốn truyền trao cho tất cả mọi người, muốn cho tất cả mọi người thành Phật, bằng với Ngài, không khác.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 502)
Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận.
(Xem: 494)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(Xem: 8814)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 574)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(Xem: 504)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(Xem: 1846)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(Xem: 1889)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 1908)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 1975)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 2748)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 2176)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 2186)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 2497)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 3022)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 3552)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 2296)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 3198)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 3099)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 5040)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 3300)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 3586)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2673)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 3384)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 2919)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 3464)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2661)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 3040)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 3392)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 3437)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 4443)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 3931)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 3899)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 4351)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 3781)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 3348)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(Xem: 4219)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 5286)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 3863)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 6778)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 6477)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(Xem: 4345)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 20258)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3773)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 7246)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4729)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 4491)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 4032)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4398)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 5968)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4547)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 4265)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 4317)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 4547)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 5206)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 3953)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 5347)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 5192)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 6917)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 5073)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
(Xem: 5892)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
Quảng Cáo Bảo Trợ