Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
19,022,122

8. Giới Hạn

Saturday, November 12, 201100:00(View: 2419)
8. Giới Hạn

THIỀN TRONG
TÌNH YÊU VÀ CÔNG VIỆC
Nguyên tác: Everyday Zen — Love & Work
Tác giả: Charlotte Joko Beck
Biên tập: Steve Smith
Dịch Việt: Lương Thanh Bình

Chương 8: Sự lựa chọn

Từ Vấn đề đi đến Quyết định

Thỉnh thoảng có người đến trung tâm — nhất là người mới — nói rằng, những gì họ thật sự muốn tìm ở đây là đời sống tâm linh, hay chân lý đời sống, một đời sống mà họ cảm thấy là, họ là một thể với tất cả thay vì có phân cách. Điều đó không có gì là sai cả; đó là những gì chúng ta làm ở đây.

Tuy nhiên, tôi không nghĩ rằng bất kỳ ai trong chúng ta có thể nói ra hay diễn đạt được “đời sống tâm linh” là cái gì. Cho nên chúng ta phần lớn nói về những gì không phải là nó. Có một câu nói trong Thiền học: “Khoảng cách giữa Thiên đườngĐịa ngục chỉ bằng bề ngang của một sợi tơ tằm.” Điều đó muốn nói gì? Cái khoảng cách biệt nhau chỉ một sợi tơ tằm là gì khi “thiên đường và địa ngục cách xa nhau”, trong khi cả đời sống thế gian này thì đang luôn rối loạn (hay ít nhấtchúng ta nghĩ nó rối loạn)? Từ góc độ tuyệt đối, không gì có thể làm cho nó rối loạn, nhưng từ góc nhìn tương đối, cái gì đó dường như không ổn. Cái thực chất của đời sống thế gian chừng như không dùng được cho chúng taThỉnh thoảng chúng ta có một thoáng (nhanh như cái liếc mắt) nắm bắt được nó — ngoài ra thì, khoảng thời gian to lớn còn lại thì chúng ta không nắm bắt được.

Cho một ví dụ: Vào mùa Giánh sinh, là thời gian, hoặc là người ta cảm thấy vui vẻ hay trở nên cuồng nhiệt (nổi loạn). Đôi khi chúng ta có thể có cả hai! Đó là mùa khi chúng ta có chiều hướng chú tâm những xáo trộn, sự rời rạc của mình. Nhưng cũng cùng lúc chúng ta gần kề năm mới, chúng ta cảm nhận rằng mùa lễ là thời gian cho những chỗ ngoặt, và không một ai có thể đón nhận sự thay đổi đó một cách hời hợt. Chúng ta chỉ có một số nhất định cho mỗi bức ngoặt trong một năm trên hành tinh này. Đối với người rất nhạy cảm, ngã rẻ của năm mới thì thật là quan trọng. Chúng ta cần thấy được cái “chỉ một sợi tơ tằm” khác biệt này — để thấy được nó là gì, nó liên hệ ra sao với ngả rẻ trong cuộc đời mình.

Một câu trong Kinh thánh nói, “Như một người suy nghĩ trong tâm, hắn là người như thế.” Trạng thái không dễ chịu này mà chúng ta đang nói về, sự phân cách, “chỉ một sợi tơ tằm” khác biệt đến từ phương cách một người “tư duy trong tâm hắn.” (Chữ “Tâm” ở đây không phải ám chỉ vào đặc tính của cảm giác, mà nó về tâm trạng, bản chất của vấn đề, thực chất, như trong Bát Nhã Tâm Kinh.) “Như một người suy nghĩ trong tâm, hắn là người như thế.” — tương tự như một người bắt đầu thấy bản thể của đời sống — rồi hắn là đời sống. Giờ đây, chúng ta thấy thực chất của “đời sống là gì” nhiều bao nhiêu, thì chúng ta thấy “chỉ một sợi tơ tằm” khác biệt sẽ là bấy nhiêu. Nó sẽ dẫn ta tới hai chữ quen thuộc và ta thường hay thay phiên nhau để dùng: quyết địnhvấn đề.

Cuộc sống từ sáng đến tối không ngoài những quyết định. Ngay trong phút giây mở mắt sáng sớm thức dậy chúng ta đã quyết định: Ta nên thức dậy bây giờ hay ngủ thêm năm phút nữa rồi hãy thức? Nhất là, ta nên thức dậy và ngồi đây! Ta nên có một tách cà phê trước tiên không? Ta nên có gì cho điểm tâm? Ta nên làm gì trước tiên hôm nay? Nếu hôm nay là ngày nghỉ, ta có nên đến ngân hàng hay không? Hay là ta chỉ nên hưởng thụ? Ta có nên viết lá thư mà ta chưa viết? Từ sáng tới tối chúng ta quyết định từ việc này sang việc nọ và đó là chuyện bình thường; không có gì là lạ cả. Nhưng chúng ta lại nhìn thấy đời sống trong hình thức của vấn đề, chứ không phải của quyết định.

Cụ thể như, bạn có thể nói, “Vâng! Việc đi đến ngân hàng hay chọn lựa đi siêu thị, chỉ là một quyết định đơn giản. Nhưng những gì tôi có trong đời sống của tôi là một vấn đề.” Nó có thể có dính dáng với công việc làm của ta; có thể là chúng ta đang làm một công việc mà chúng ta thật sự không thích. Hay là có lẽ chúng ta đang bị thất nghiệp.. hay bất cứ gì khác. Chúng ta không nghĩ đó chỉ là một quyết định, chúng ta nghĩ nó là những khó khăn. Tất cả chúng ta đều lo lắng về phương pháp giải quyết vấn đề đời sống của mình; tất cả chúng ta nhìn cuộc đời như là một chuỗi vấn đề khó khăn, ít nhất là trong một đoạn thời gian nào đó. Cho một ví dụ khác: “Tôi có việc làm ở San Diego, tôi có người bạn gái ở đây và tôi rất thích khí hậu ở đây nữa — nhưng oái oăm thay, có một việc làm dành cho tôi với mức lương cao hơn ở Kansas City.” Chúng ta cảm thấy chúng ta không thể nào chỉ chọn lựa một quyết định — và vậy cho nên chúng tavấn đề. Đây là nguyên nhân cuộc sống của loài người tự bị tắt nghẽn và khoảng cách của “chỉ một sợi tơ tằm” bắt đầu hiện ra.

Chúng ta nên làm gì về những vấn đề của mình — trong khi phản kháng lại cơn nóng nảy, phân tích, phẫn nộ, cảm thấy bối rối không biết nên làm gì? Tôi không đang nói về những sự kiện nhỏ; chúng ta sẽ chọn một số quyết địnhtiếp tục từ đó. Nhưng khi chúng ta có những sự việc trọng đại trong cuộc đời — “Tôi có nên mắc vào mối quan hệ này không?” “Tôi có nên cắt đứt mối quan hệ này không?” “Nếu tôi muốn chấm dứt mối quan hệ này, tôi phải nên làm thế nào?” — chúng ta lấy làm rắc rối về những gì để làm. Đó là nơi mà đoạn trích dẫn này được dùng: “Như một người suy nghĩ trong tâm, hắn là người như thế.” Cái gì thật sự kiến lập nên quyết định cho vấn đề là phải từ sự suy nghĩ phát ra từ Tâm. Từ những gì chúng ta thấy trong đời sống của mình như-nó-là, rồi chúng ta quyết định.

Giả thiết chúng ta đã tọa thiền trong hai năm qua; chúng tathể không biết được, nhưng chúng ta có lẽ thấy một cách khác hơn đối với những vấn đề về phương cách chấm dứt một mối quan hệ hơn là chúng ta đã làm trước khi chúng ta tu tập. Bởi vì chúng ta nghĩ về mình và người đối tượng, ai là người đã thay đổi. Tu tập đúng đắn sẽ thay đổi lối nhìn của chúng ta về cuộc đời, và vì thế những gì chúng ta vận hành với đời cũng bắt đầu có khác đi. Người ta muốn có một hệ thống máy móc cho việc chọn một quyết định, để giải quyết vấn đề. Không thể nào có một hệ thống nhất định được. Nhưng nếu chúng ta biết nhiều hơn về chúng ta như-nó-là, rồi từ đó chúng ta mới kiến lập quyết định thích hợp hơn (nếu không là tốt nhất).

Cụ thể là: giả sử chúng ta nói tới mẹ Teresa, “Vâng! Như mẹ Teresa, bà có thể cân nhắc để quyết định sống ở San Francisco tốt hơn là ở Calcutta; đời sống về đêm ở đó thì tốt hơn nhiều. Bà sẽ có nhiều nơi tốt hơn để lựa chọn cho buổi ăn tối. Khí hậu thì khỏi nói, nó dễ chịu hơn rất nhiều.” Nhưng bà đã quyết định như thế nào? Làm sao bà lại chọn một quyết định là ở một nơi cực kỳ khốn khổ nhất của Calcutta để làm việc? Cái quyết định đó từ đâu mà ra? “Như một người suy nghĩ trong tâm, hắn là người như thế.” Bà có lẽ gọi nó là lời cầu nguyện khẩn thiết: từ nhiều năm sống với chính tự thân, bà nhận thấy ra nơi nào bà làm việc hay những gì bà làm không giống như là một vấn đề, mà chỉ là một quyết định.

Nếu chúng ta biết chúng ta là ai nhiều bao nhiêu, thì những vấn đề của chúng ta cũng thay đổi nhiều hơn bấy nhiêu, “Tôi là thế này cho nên tôi sẽ làm thế, hay là ở một chừng mực nào đó tôi sẳn lòng để làm việc ấy.” Thỉnh thoảng chúng ta chọn lựa bằng cách, chỉ nhìn người khác rất miễn cưỡng, rất khó chịu. “Bạn nghĩ gì mà sẽ làm cái đó? Nếu là tôi thì tôi không làm thế.” Nhưng nếu đối với tôi, từ trong tận đáy lòng, đó là những gì tôi cảm nhận về tôi và cuộc đời tôi đang biểu lộ chính nó như-nó-là, thì nó không còn là một vấn đề nữa.

Vậy khi có điều gì đó trong cuộc đời mình chừng như không thể giải quyết được, có nghĩa là chúng ta nghĩ rằng, có một vấn đề ngoài kia mà chúng ta nhìn vào như một vật thể, như là một quả bưởi. Chúng ta đã không nhìn vấn đề như là tự thân. Một cách để biến thể một vấn đề trở thành một sự giải quyết là, ngồi xuống với nó, tọa thiền. Cho một ví dụ cụ thể, sự quyết định về nơi tôi sẽ làm việc: nếu tôi ngồi với nó, những tư tưởng sẽ trôi dạt tới về tất cả những điều e ngại của tôi, cái này hay chuyện kia về một việc làm ở tiểu bang khác. Tôi cứ lập Niệm (đặt tên) từng tư tưởng một, rồi để chúng bềnh bồng trôi qua; tôi lo lắng, phân tích, hay náo động không cần thiết. Tôi duy trì để trở về lại với kinh nghiệm trực quán trong thân thể mình là một sự thật của vấn đề trong hiện tại. Tôi chỉ ngồi với phồng xẹp, mà thở xuyên qua nó. Trong khi làm việc này, tôi va chạm nhiều hơn với “tôi là ai” và sự quyết định trở nên rõ ràng ra. Nếu tôi cảm thấy hoàn toàn xáo trộn thì đó không phải là do có vấn đề gì để cho tôi phải tìm một phương cách giải quyết, mà là vì tôi chỉ không biết được “tôi là ai” trong sự liên hệ với vấn đề đó.

Cho một ví dụ, giả sử tôi không biết là tôi nên gã cho một người có nhiều tiền hay cho một người khác mà không có lý do gì — tôi chỉ thích anh ta thôi. Nếu tôi có một câu hỏi như thế nảy sinh, thì tất phải có lãnh vực nào đó về bản thân tôi mà tôi không được biết. Vấn đề thì không phải ngoài kia. Vấn đề thì ở đây: Tôi không biết “tôi là ai”. Khi tôi biết được “tôi là ai”, cũng giống như mẹ Teresa, tôi sẽ không có vấn đề gì về những gì nên phải làm. Trong khi tôi biết nhiều hơn về “tôi là ai”, tôi bắt đầu tháo gỡ bớt những gì không cần thiết cho đời sống của mình xuống mức độ, những gì mà cuộc đời tôi thật sự cần. Tôi không còn thấy bất ngờ là, tôi nhất định phải có cái đó, cái kia. Đó không phải là tôi từ bỏ chúng, mà chỉ là tôi không thật sự thấy cần chúng nhiều nữa. Nhiều người tọa thiền qua nhiều năm thấy cuộc đời của họ trở thành đơn giản một cách đáng kể — không phải vì đức hạnh, mà là mong cầu ít lại, lòng ham muốn tự nhiên bị trôi dạt mất. Những người quen biết tôi hiện tại, không tin rằng, nhiều năm về trước tôi không thể nào đi làm nếu màu sơn móng tay không trùng hợp với màu son trên môi: Tôi thật rất lấy làm khó chịu với vấn đề này. Dù cho tôi không bao giờ có nhiều tiền, tôi vẫn luôn luôn có áo quần thật sang trọng. Thật ra, không có gì là sai với việc chưng diện sang trọng; tôi không nói là thế. Tôi muốn nói rằng, khi lòng ham muốn Tự ngã là sự quan tâm chính, thì bạn sẽ có rất nhiều khó khăn với sự quyết định của mình. Và những khó khăn đó sẽ trở thành vấn đề nữa. Nhưng khi bạn tu tập, sự quan tâm chính của bạn, về những gì bạn thật sự mong muốn cho cuộc đời mình, sẽ thay đổi; tham vọng và sự thiếu quyết đoán dần dần mất đi.

Cho nên chúng ta có khó khăn vào Giáng sinh, lăng xăng không ngừng để thỏa mãn ham muốn của những người khác. Chúng ta phải biết cho bản thân, cái gì là quan trọng. Rồi sau đó, chúng ta biết chừng mực là bao nhiêu để làm cho thích hợpDĩ nhiên sự hiểu biết này về “tôi là ai” thì luôn luôn rời rạc, không trọn vẹn, thậm chí còn rất sơ cấp. Tuy nhiên, trong khi chúng ta tu tập càng nhiều, thì đời sống càng ít đi vấn đề hay than phiền.

Tôi không muốn ám chỉ rằng, chúng ta không bao giờ nên vui vẻ. Chúng ta sẽ có một khát vọng, mà khát vọng ấy thì cũng đầy nét vui vẻ mà lại hài hòa với điều kiện hiện tại của chình mình. Nếu chúng ta cần nhiều thời gian lẩn tránh, đó chỉ là cách mà chúng ta nhìn bản thânđời sống của mình. Nhưng theo thời gian, quá trình đó sẽ thu nhỏ lại. Bởi vì chúng ta không thể tiếp xúc được với cái cốt lõi — tâm của chính mình — mà không có sự thay đổi những gì chung quanh nó. T.S. Eliot đã viết về cái điểm tựavũ trụ xoay quanhĐiểm tựa đó không phải là một cái gì cả. Trong khi chúng ta tu tập, chúng ta biết càng nhiều hơn về nó là cái gì. Nhưng không có sự kiên trì liên tục, kiên nhẫn công phu, thì đối với phần lớn trong chúng ta đều có khuynh hướng lầm lẫn về tu thiền. Ví dụ, chúng ta có lẽ đòi hỏi tự thân rất nhiều sự tự từ bỏ; nhưng đôi khi từ bỏ chính mình cho người khác có thể là không tốt cho người đó. Đôi khi chỉ là những việc để làm. Khi nào chúng ta đối diện với một quyết định cần phải chọn lựa hoặc là làm hay không một việc gì đó cho người, rồi cuối cùng nói, “Không! Tôi sẽ không làm điều đó cho bạn” — quyết định này từ đâu ra, từ khả năng để lập một quyết định sáng suốt? Nó đến từ sự trong sáng tăng trưởng về “chúng ta là ai” và cuộc đời của chúng ta như thế nào. Trải qua nhiều năm, tôi làm việc giúp người khác càng ít hơn, theo cái ý nghĩa mà tôi thường hay nghĩ. Cho đến khi nào bất kỳ ai có khó khăn gì đến gõ cửa, thì tôi cảm thấy là tôi phải nói chuyện với họ lập tức. Giờ thì tôi thường hay đặt bản thân mình trước tiên trong nhiều lúc; đó không hẳn là vì tính ích kỹ, mà có thể là vì đó là việc làm tốt nhất để làm thế.

Sự hiểu biết về những gì cần làm thì từ từ rõ ràng với quá trình tu tập. Sự quyết định trở thành bản chất của sự quyết định (tự nó biểu thị mà không có sự đắn đo), không có vấn đề thương tâm. Một khóa tu là một phương thức đẩy chúng ta vượt qua giai đoạn làm cho ta hốt hoảng về những vấn đề của mình. Bằng cái cấu trúc hướng dẫn chúng ta, dù cho ta có muốn hay là không, trong không gian mà có thể giúp ta thấy rõ ràng hơn. Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là tọa thiền mỗi ngày. Tôi không phải nói về lối ngồi theo những lề lối cũ. Nếu cách ngồi đó không tốt, thì nó còn tệ hơn là không ngồi gì cả. Chúng ta phải biết chúng ta đang làm gì. Bằng không, chúng ta xây dựng một thế giới tưởng tượng, mà có thể có hại nhiều hơn là không tọa thiền gì cả.

Hỏi: Dường như là, nếu ta có ý tưởng về đúng và sai, nó quấy rầy liền.

Joko: Chắc chắn là vậy! Bởi vì những thứ này là tư tưởng, và tư tưởng trong đầu ta về cái gì đúng và sai là cái nhìn cá nhân của ta — và thường hay dựa trên cảm giác — nó ngăn cản với sự thấy của ta về bản thân hay người khác một cách rõ ràng.

 Hỏi: Tôi nghĩ câu trả lời sẽ là nhìn sự thật theo chiều hướng như-nó-là.

Joko: Đó cũng tốt. Một lần nữa, đó có nghĩa là gì theo thuật ngữ của tình trạng tu tập thật sự có thể không quá đơn giản như là lúc nói. “Sự khác biệt chỉ một sợi tơ tằm” … nó là gì?

Hỏi: Nếu điều gì đó mà tôi dự định làm và thứ gì khác chợt phát sinh bất ngờ, cho nên có hai thứ tôi phải chọn — trong cái khoảng trống đó, tôi bắt đầu tức giận và có tư tưởng vị kỷ…

Joko: Bạn có một “vấn đề” phải không?

Hỏi: Hơn “chỉ một sợi tơ tằm”!

Joko: Hơn “chỉ một sợi tơ tằm”! Phải rồi!

Hỏi: Sự khác nhau có lẽ có liên quan đến nhận thức ra những gì đến với tôi, trách nhiệm đến với tôi.

Joko: Bạn có luôn biết chúng là gì không?

Hỏi: Không!

Joko: À! Những thứ tạo ra sự khác biệt hai bên của “chỉ một sợi tơ tằm”, đã làm cho chúng ta không thể thấy là cái gì? Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm và bổn phận, nhưng chúng ta lại lầm lẫn giữa chúng với nhau nữa, rồi biến hóa (do sự lầm lẫn) chúng thành vấn đề cho mình. Những gì chúng ta làm (do sự lầm lẫn) đã tạo ra sự khác biệt của hai hiện tượng cách nhau chỉ một sợi tơ tằm?

Hỏi: Chúng ta ham muốn.

Joko: Đúng thế!

Hỏi: Chúng tatư tưởng về cho những gì cho ra cho người khác.

Joko: Chúng ta chỉ có thể thật sự bố thí khi chúng ta không cần đền trả. Đúng không? Tôi muốn, muốn, muốn. Chỉ nhận diện là tôi muốn, muốn, muốn đời sống của tôi thế này, không phải thế nào khác hơn — đó có nhiều dính dấp với sự khác biệt giữa hai bên “chỉ một sợi tơ tằm”. Tất cả chúng ta đều muốn đời sống xảy ra theo ý của mình, thích thoải mái hơn. Thú vị. Còn gì nữa? Tương lai đầy hy vọng? Không có tương lai! “Rồi đây nó sẽ tốt đẹp hơn vài một ngày nào đó.” Ai đoán biết được?

Hỏi: Đối với tôi, đó là sự qui hàng. Nếu tôi có thể qui phục những gì đang xảy ra, thì tôi không còn phải nuôi dưỡng những thứ mà tôi phải đâm xầm vào.

Joko: Nếu chúng ta có thể thật sự đầu hàng, thì cũng là điều tốt. Nhưng những gì đứng cản trên bước đi của người qui hàng kia? Ta. Và cái “Ta” gồm có những gì?

Hỏi: Giận dữ. Tôi muốn nó theo cách khác! Đó không phải là những gì mà tôi dự định.

Joko: Đúng thế! Và những thứ này đều là tư tưởng. Nếu chúng ta (nhận) thấy những tư tưởng này chỉ là những tư tưởng (làm được hay không?) thì chúng ta có thể trở về với những gì cần phải làm.

Hỏi: Khi chúng ta thấy một vấn đề, chúng ta có nên dùng nghị lực, ý chí của mình để thay đổi nó không?

Joko: Bạn đang nói về sự khác biệt giữa quyết địnhvấn đề. Nếu bạn thật sự thấy ra bất cứ vấn đề như là bản thể của mình, thay vì nhìn nó như là một vấn đề cần phải giải quyết, bạn có thể tự hỏi, “Cái gì đang xảy ra đây?” Những gì bạn thấy đang xảy ra thường là cơn giận của chính mình, hay là nỗi sợ hãi, hay chỉ là tư tưởng. Bạn càng làm quen với chúng nhiều hơn, thì cũng quen với sự đi theo của những căng thẳng sinh lý, dù có muốn hay là không thì sự chọn lựa muốn thay đổi hay không của bạn trở thành tỏ rõ ra đó. Tôi không nói là, đừng bao giờ thay đổi bất cứ gì. Nhưng nó sẽ trở nên rõ ràng, cũng giống như là đối với mẹ Teresa.

Hỏi: Đó là một phương pháp giải quyết mọi vấn đề phải không?

Joko: Giải quyết vấn đề? Không có sự giải quyết vấn đề gì cả; nhưng cái phút giây mà bạn ôm lấy cuộc đời và thể hợp với nó, bạn thấy được nó là gì, những gì đang xảy ra. Rồi khoảng “cách chỉ một sợi tơ tằm” kia biến mất, bạn có hiểu không? Bởi vì vấn đề không có ở đó. Chỉ có bản thể của bạn. Nó không còn có gì đáng sợ cả. Trong khi chúng ta tọa thiền một cách kiên nhẫn, chúng ta có khuynh hướng thấy nhiều hơn những gì để làm. Nó không còn gì là huyền bí cả. Chúng ta biết khi nào để thay đổi sự việc và khi nào thì không. Như đã nói, chúng ta thu thập thêm khả năng chấp nhận sự việc mà chúng ta không thể thay đổi, dũng cảm thay đổi những gì cần phải đổi và chỉ có trí tuệ mới biết sự khác biệt nên đổi hay không.

Hỏi: Cái gì tạo cho chúng ta muốn làm sự việc thích hợp?

Joko: Chúng ta luôn luôn muốn làm những điều thích hợp khi chúng ta tiếp xúc với thực chất của mình. “Như một người suy nghĩ trong tâm, hắn là người như thế.” Không chỉ là “Hắn là người như thế.” Mà “Hắn là thế” cho nên hắn làm thế.

Bức Ngoặc

Tất cả chúng ta đều muốn một đời sống tự docảm thông, một kiếp người trọn vẹn và đầy ý nghĩaMột đời sống đầy ý nghĩa trọn vẹn thì không bị trói buộc vào bất cứ gì cả, không ràng buộc vào sự tu tập hay vào một pháp tu, và ngay cả cũng không vào một đạo sư, thậm chí cũng không chấp vào Chân lý — bởi vì nếu chúng ta còn bị trói buộc vào Chân lý, thì chúng ta sẽ không bao giờ có thể thấy nó.

Tôi có một lần xem một câu chuyện qua tin tức trên màn ảnh về một người đàn ông, ông tìm thấy thật nhiều thùng mà trong ấy chứa đầy ắp đồ phụ tùng xe. Ông ta không có một hiểu biết gì về những thứ này dùng vào việc gì, nhưng ông vốn là người có hứng thú làm những việc lấp ráp đồ vật với nhau. Và cũng chính vì cái ẩn số kia càng tạo ra nhiều nét kỳ thú hơn cho cái tính tò mò của ông. Cho nên ông bắt đầu công việc tay chân này. Ông đã phải mất gần mười năm thời gian để lấp ráp hàng ngàn bộ phận nhỏ, lớn lại với nhau. Khi ông hoàn thành công việc, thì ông mới biết đó là một chiếc xe Ford kiểu T mới toanh, bóng loáng và thật đẹp. Nhưng (rõ ràng là ông chưa có vợ! Vì nếu có không đã không có mười năm làm cái công việc này?) ông đã lấp ráp chiếc xe này ngay trong căn phòng khách của ông. Cho nên, sau nhiều thời gian đắn đo suy nghĩ, ông đã quyết định phá vỡ tấm vách phía trước của căn phòng và đẩy chiếc xe ra mái hiên nhà — một sự cải tiến dứt khoát. Mái hiên nhà thì cao đến bốn bộ tây, cho nên ông lại phải xây một cái dốc để xuống cái sân. Cuối cùng, ông mới có thể chạy chiếc xe ra đường lộ. Một chiếc xe Ford kiểu T thật sự, hoạt động tốt.

Đây là một câu chuyện tuyệt diệu, bởi vì nó giống như những gì chúng ta luôn làm cho cuộc đời của chúng ta vậy. Chúng ta xây dựng lên một tác phẩm kỳ lạ mà chúng ta gọi là “Tôi”. Thật là không may mắn, chúng ta lại không khéo léo lắm trong việc kiến trúc cái “Tôi” này; vì trong khi chúng ta xây dựng nó, chúng ta có cái cảm nhận không ổn lắm rằng, cái “Tôi” (giống như chiếc xe Ford kia) thì bị giam giữ bên trong những bức tường. Cái “Tôi” kia có thể trông thật bóng bẫy, nguy nga, thậm chí rất bề thế, nhưng vẫn cảm thấy bị xiết chặt, bó buộc một cách khó chịu đối với chúng ta.

Giờ thì tới sự chọn lựa mấu chốt: có hai cách để đi, mỗi khi chúng ta cảm thấy bị tù túng và bồn chồn về cái “Tôi”. Một là giả bộ rằng, không gian chúng ta đang sống thì vốn thật sự đã được tính trước, gầy dựng lên với ý định có đủ chổ cho chiếc xe và chúng ta trang trí những bức tường hay tạo ra mánh khóe bằng những tấm kính để làm cho ta thấy như có nhiều không gian, từ đó ta có ảo tưởngthoải máirộng rãi. Hai là nhận thức rằng, cái “Tôi” cứng ngắt, tù túng này, bằng cách này hay cách khác phải dời nó đi, vậy chúng ta vượt qua nó để tới một nơi có nhiều ánh sáng và không khí hơn.

Ở vào điểm này (khi chúng ta bắt đầu nghiên cứu cái “Tôi” (chiếc xe) mà chúng ta đã gầy dựng lên) sự tu tập của chúng ta mới thật sự bắt đầu. Chúng ta không còn hy vọng để sửa chữa sự kiện, hoàn cảnh chung quanh nữa; thay vì chúng ta dời chiếc xe (cái Tôi) ra để chúng ta có thể xem xét kỹ càng nó hơn. Dĩ nhiên đây cũng không phải là giai đoạn cuối cùng; giai đoạn cuối của đời sống đâu phải là xem xét và phân tích cái Ngã, để tìm xem nó thoi thóp như thế nào; mà là đem cuộc đời của ta ra phố chợ (thế gian) nơi mà nó có thể vận hành trọn vẹn.

Nỗi đau khổ bị giam giữ trong những bức tường là sự khích lệ tiên khởi cho phần lớn chúng ta để làm một điều gì đó; chúng ta biết chúng ta phải làm điều gì đó về những bức tường giam kia. Nó là một bước quan trọng to lớn để dời chiếc xe ra mái hiên, nơi mà chúng ta có thể có thêm một chút ánh sáng vào nó, thêm một chút không gian và tầm nhìn. Trong tu tập, nó là một ngã quẹo rất quan trọng. Vậy những gì chúng ta phải làm ở đây để đến được cái ngã quẹo này?

Hãy xem xét cái quan niệm về “Sự từ bỏ”. Chúng ta thường cảm thấy rằng, để cho đời sống của chúng ta có một khởi điểm mới, thì khởi điểm cũ phải bị khước từ đi. Hãy xem xét coi chúng ta có thể từ bỏ những gì? Chúng ta có thể từ bỏ thế gian vật chất, theo cái quan điểmchúng ta đang nhận thức về nó; hay là chúng ta có thể từ bỏ thế giới cảm giáctâm linh của mình.

Nhiều truyền thống khuyến khích từ bỏ tất cả những sở hữu vật chất. Những nhà sư theo truyền thống chỉ giữ một hộp nhỏ để đựng vài thứ cần thiết. Đây có phải là sự tự nguyện từ bỏ không? Theo tôi thì đó là không phải; mặc dù, việc làm đó rất ích lợi cho sự tu tập. Nó tương tự như là, chúng ta cảm thấy là buổi ăn tối chưa trọn vẹn nếu không có món tráng miệng; để rồi chúng ta sống theo phương cách là buổi ăn tối không có món tráng miệng (giống như khôngtư hữu) trong một thời gian để học cái tâm ra sao trong khi buổi ăn tối không trọn vẹn; và đó là một cách tu tập tốt.

Kế tiếp, xa hơn nữa, chúng ta có thể cảm thấy rằng, những gì đang diễn tiến trong tư duycảm giác của chúng ta thì không ổn: “Tôi nên từ bỏ tất cả những cái đó; tôi nên dẹp bỏ nó đi. Tôi thật không tốt khi có suy nghĩ hay cảm giác thế này.” Nhưng đó cũng không phải là sự nguyện từ bỏ nữa; nó là sự đùa giỡn với quan niệm tốt và xấu.

Vài người trong chúng ta làm một sự cố gắng tối hậu. Bởi vì chúng ta lầm lẫn và nản lòng về đời sống hàng ngày của mình, chúng ta cuối cùng quyết định, “Tôi phải đi tới Chứng ngộ — tôi phải sống một đời sống tâm linh tròn đầy và từ bỏ tất cả những thứ khác.” Điều đó thật là tốt nếu chúng ta hiểu nó có ý nghĩa là gì. Nhưng với tất cả những hiểu biết sai lầm về sự tự nguyện từ bỏ, những tiềm ẩn sâu nhất ở lãnh vực này được gọi là huấn luyện tâm linh, trong đây chúng ta có những ý niệm như là “Tôi nên trong sạch, thánh thiện, khác biệt hơn những người khác.. có lẽ nên sống một nơi hẻo lánh, một vùng thật yên tĩnh.” Và những thứ đó cũng không có dính dấp gì với sự tự nguyện từ bỏ cả.

Vậy cái gì là sự tự nguyện từ bỏ? Có tình trạng như thế tồn tại không? Có lẽ chúng ta có thể làm sáng tỏ vấn đề này tốt nhất bằng cách xem xét một từ ngữ khác, “không ràng buộc”. Chúng ta thường nghĩ rằng nếu chúng ta lãng phí thời gian với những sự kiện hời hợt trong đời sống mình, cố gắng thay đổi chúng, lo lắng về chúng hay về bản thân, chúng ta đang thỏa thuận với tình trạng của “sự tự nguyện từ bỏ” — nơi chốn mà thật tế chúng ta không cần “từ bỏ” bất cứ gì, chúng ta chỉ cần nhận thức là, sự từ bỏ chân chính là tương đương với “không ràng buộc”.

Quá trình của sự tu tập là nhìn xuyên thấu, chứ không phải loại trừ, bất cứ gì mà chúng ta chấp chặc vào. Chúng ta có thể có nhiều tài sản và không bị nó ràng buộc, hay là chúng tathể không có gì cả nhưng lại rất chấp chặc vào tình trạng “không có” này. Thông thường, nếu chúng ta thấy thông suốt cái thực chất của chấp thủ, chúng ta sẽ có khuynh hướng sở hữu ít hơn, nhưng đó là một tình trạng không cần thiết. Phần lớn sự tu tập bị kẹt ở giai đoạn này do lãng phí thời gian cho hoàn cảnh chung quanh và cái tâm lơ đảng của hành giả. “Tâm của tôi nên phải yên lặng.” Tâm của chúng ta không phải là vấn đề; vấn đề ở đây là đừng bị ràng buộc vào những hoạt động của tâm. Những tình cảm của chúng ta thì vô hại ngoại trừ chúng điều khiển ta (đúng vậy, vào lúc này, nếu chúng ta chấp vào chúng) — để rồi cho chúng có cơ hội tạo ra sự bất hòa cho mọi người. Vấn đề trước tiên trong tu tập là để thấy rằng chúng ta đang chấp thủ. Trong khi chúng ta kiên định, nhẫn nại tu thiền, chúng ta bắt đầu biết rằng, chúng ta không là gì cả, chỉ có sự chấp thủ: chúng (sự chấp thủ) cai trị đời sống của chúng ta.

Nhưng chúng ta không thể nào dứt bỏ chấp thủ bằng lời nói được. Chỉ khi nào chúng ta đạt được sự tỉnh giác về thực chất của nó (chấp thủ), thì nó sẽ lắng dịu xuống và nhỏ dần đến mức không đáng kể, rồi héo tàn; giống như một lâu đài cát bị những đợt sóng dập lên nhiều lần, cuối cùng nó cũng bị xóa tan và bằng phẵng — bấy giờ ta không còn thấy nó đâu nữa, hay nhớ nó hình dạng ra sao nữa.

Câu hỏi được đặt ra không phải là làm thế nào để dứt khoát hay từ bỏ những chấp thủ; mà là làm sao để nhận thấy ra cái thực chất của nó, vô thường, thay đổi, và trống rỗng. Chúng ta không cần phải dứt bỏ gì cả. Điều khó nhất, ngủ ngầm nhất, là sự chấp thủ vào những gì mà chúng ta nghĩ là sự thật “tâm linh” (chân lý). Chấp thủ vào cái mà chúng ta gọi là “tâm linh” thì rất linh động, làm cản trở đời sống tâm linh. Nếu chúng ta bị vướng mắc vào bất cứ gì, chúng ta không thể có tự do hay tình cảm chân thật.

Chừng bao lâu chúng tađịnh kiến về phong cách mà chúng ta phải ra sao hay người khác phải như thế nào, thì chúng ta còn đang bị trói buộc; mà đời sống tâm linh chân chính thì đơn thuần chính là sự vắng bóng của những thứ này. “Để học hỏi về cái ngã, là phải quên đi cái Ngã.” là những lời của thiền sư Đạo Nguyên Hy Huyền.

Trong khi chúng ta tiếp tục tọa thiền hôm nay, hãy chú ý về vấn đề trung tâm: tu tập về không ràng buộc. Hãy tiếp tục một cách cần cù, nhận biết nó có thể là rất khó và biết sự khó khăn đó thì không phải là điểm muốn bàn. Mỗi người trong chúng ta có một sự lựa chọn. Nó sẽ là cái gì? Một đời sống tự tại và sự cảm thông — hay là gì khác?

Đóng lại Cánh cửa

Vào thập niên 1960, lão sư Bạch Vân An Cốc bắt đầu chuyến viếng thăm mỗi năm để giảng pháp ở Mỹ. Trong mỗi lần viếng thăm, ngài hướng dẫn khóa tu học trong một tuần ở đây, miền nam California. Giống như những người khác bắt đầu tu thiền với lão sư Bạch Vân trong những lần ghé sang, tôi tu tập một cách tập trung với ngài trong bảy ngày mỗi năm, và cho phần còn lại trong năm thì tiếp tục tọa thiền riêng một mình. Những khóa tu này thật là khó khăn tột đỉnh đối với tôi, và tôi phải nói rằng, nếu từng có một sự tu tập xáo trộn nhất hiện hữu thì đó chính là sự tu tập của tôi. Nhưng có cơ hội để theo học với ngài, mặc dù chỉ một tuần cho mỗi năm, và thấy cái phong thái của ngài — khiêm nhường, hòa nhã, đầy nghị lực, và không gò bó — thì cũng đủ cho tôi bền lòng đi tới.

Ngài đã quá lớn tuổi khi tôi biết ngài, ở vào tuổi tám-mươi và có nhiều khó khăn trong sự đi lại. Khi ngài lê chân vào trong thiền đường, tôi không biết là ngài có thể đi tới tọa vị của ngài hay không nữa. Chỉ từng chút, ông lão lưng còng, xê dịch vào chỗ ngồi. Nhưng khi ngài bắt đầu buổi pháp thoại, thì tôi không thể nào tin tưởng được! Nó giống như một tia chớp chạy xuyên qua căn phòng — đầy sức sống, tự nhiên, sự dâng hiến toàn diện. Không cần biết ngài nói những gì, hay ngài có người thông dịch. Sự hiện diện của ngài đã biểu lộ pháp: không thể nào quên nếu đã có một lần đối diện.

Hai phẩm chất ưu tú của lão sư Bạch Vân gây ấn tượng sâu đậm trong tôi nhiều nhất. Tôi muốn nói là ngài thật sáng ngời và lại rất bình thường ở trong cùng một lúc. Nhìn vào đôi mắt của ngài trong buổi nói chuyện nghiêm trang, giống như nhìn vào hố thẳm ngàn dặm — không có gì ở đó cả. Thật là kỳ diệu. Nhưng có gì đó trong khoảng không gian bao la kia, có đầy sức xoa dịu mãnh liệt.

Ngoài buổi tọa thiền, ngài chỉ là một người đàn ông nhỏ con bình thường, đi lanh quanh với cây chổi trên tay và ống quần xăn cao, ăn cà rốt. Ngài rất thích cà rốt.

Lão sư Bạch Vân đã cho tôi kinh nghiệm đầu tiên của tôi về những gì mà một thiền sư chân chính là thế nào, và nó là một kinh nghiệm khiêm nhường bởi vì ngài rất ư là khiêm nhường. Tỏa ra từ ngài là tự tại, tự nguyện, và lòng bi mẫn, những báu vật mà tất cả chúng ta tìm kiếm trong sự tu tập của mình. Nhưng chúng ta phải cẩn thậnchúng ta đừng tìm kiếm những thứ quí giá này không đúng chỗ, bên ngoài ta, lầm lẫn không thấy rằng, thực chất cuộc sống của ta chính là phẩm vật vô giá — có lẽ chưa đánh bóng, nhưng nó đã hoàn hảo, trọn vẹn và đầy đủ.

Khi bạn đi thẳng vào nó, pháp thì thật là đơn giản và luôn luôn sẳn sàng; nhưng khó khăn là chúng ta không biết thế nào để thấy nó. Vì bởi chúng ta không biết, cho nên ngọc báu này, tự do này, ở ngoài tầm với của chúng ta.

Tự do như là một thứ gì rất khó khăn để diễn tả. Phương thức thông thường để tìm kiếm tự do của chúng ta là nhìn nó như một thể trạng độc lập, như muốn đến một nơi nào đó, hay làm một việc gì đó. Chúng ta hy vọng rằng, cái gì “ngoài kia” sẽ cho chúng ta tự do; khi chúng ta nằm trong cảnh ngộ không vừa lòngtù túng, chúng ta luôn có một cánh cửa mở toang để chúng ta có thể thoát ra đi để tìm một hy vọngtự do mới. Tất cả chúng ta ai cũng làm qua thế, không ai là ngoại lệ; nó mang cho chúng ta một chữ khó diễn tả khác, “lời cam kết/ủy thác”.

Một khía cạnh quan trọng trong sự tu tập của chúng tatìm kiếm một cách trung thực ở sự diễn tiến đều đặn của hy vọng, sợ hãi, và tất cả những ý đồ, những thứ này là một sự phản ảnh về sự thiếu tận tụy với cuộc sống của mình. Để làm được điều này, chúng ta cần phải đóng cánh cửa kia, cái cửa mà chúng ta thích luôn luôn mở rộng ra, và rồi quay mặt lại đối diện với bản tâm như-nó-là của mình. Đây là sự ủy thác hay sự cam kết, và không có nó thì sẽ không có tự do.

Xuyên qua quá trình tu tập, chúng ta làm hao mòn những ảo tưởng về ý muốn chạy ra ngoài để tới một nơi chốn nào khác ở ngoài kia. Chúng ta đặt phần lớn sự cố gắng của chúng ta vào việc duy trìbảo vệ cái bản Ngã; chính cái Ngã này tạo ra cái nhìn thiếu hiểu biết là “Ta” tồn tại riêng biệt từ tất cả những thứ khác trong đời sống. Chúng ta phải chú tâm về cái kiến trúc giả tạo này và quan sát xem nó hoạt động ra sao, bởi vì — mặc dù nó không thật và không có thực tánh — ngoại trừ khi chúng ta hiểu thấu nó, bằng không chúng ta sẽ tiếp tục hành động theo sợ hãi và ngạo mạn. Ngạo mạn, ý tôi muốn nói là, cảm thấy mình đặt biệt, không bình thường như người khác. Chúng ta có thể kiêu căng về bất cứ việc gì: về thành quả của mình, về trở ngại của mình, thậm chí về thái độ khiêm nhường của mình. Từ nỗi lo sợ và lòng kiêu ngạo, chúng ta bám víu vào tất cả mọi thứ như thái độ tự cao, hay phê phán, và từ đó tạo ra không biết bao nhiêu là khốn khổ cho bản thân và người khác.

Tự do thì có dính dáng mật thiết với mối quan hệ của chúng ta để đưa đến đau đớnđau khổ. Tôi muốn phân chia sự khác biệt giữa đau đớnđau khổĐau đớn đến từ kinh nghiệm đời sống mà phát sinh như-nó-là, mà không có bị tô điểm. Chúng ta có thể gọi nó là niềm vui về kinh nghiệm trực giác. Nhưng khi chúng ta cố gắng trốn chạy và vượt thoát từ kinh nghiệm đau đớn của mình, thì chúng ta đau khổ. Vì bởi nỗi sợ hãi về đau đớn, tất cả chúng ta gầy dựng lên một kiến trúc Ngã để bảo bọc mình, và do đó chúng ta đau khổ. Tự do là sự chấp nhận mạo hiểm có thể bị thương tổn bởi cuộc đời; nó là cái kinh nghiệm của bất cứ gì phát khởi trong mỗi phút giây hiện tại, nhức nhối hay dễ chịu. Trạng thái này đòi hỏi sự ủy thác toàn diệntriệt để cho đời sống của mình. Khi chúng ta có thể trao trọn vẹn cho tự thân, không giữ lại một điều gì và không một tư tưởng trốn tránh cái kinh nghiệm ở phút giây hiện tại, thì sẽ không có khổ đau. Lúc ấy chúng ta hoàn toàn kinh nghiệm đau đớn của mình, nó thì rất hạnh phúc.

Tự do và sự ủy thác thì liên kết rất gần với nhau. Khi hai người lập sự ủy thác với nhau trong sự kết hôn, họ đóng cánh cửa trong tim của họ, cũng như khóa chặc cái cơ hội trốn chạy khi có sự bùng cháy và sức ép cuộc đời, vì sức ép này có thể làm cho mối quan hệ của họ bị gãy đổ. Nhưng khi chấp nhận như một phần của sự ủy thác, sự thiêu đốt và sức ép lại làm cho họ trưởng thành và mối quan hệ nở hoa. Tôi không đang nói rằng, con người nên ủy thác bản thân với bất cứ mối quan hệ đến với họ — đó là điều điên rồ. Ý tôi là, sự tu tập của chúng ta nên là sự ủy thác tự thân cho kinh nghiệm trong mỗi phút giây hiện tại của mình. Giống như sự ủy thác hôn nhân đặt chúng ta dưới sức nóng và sức ép, tọa thiền cũng như thế ấy. Chúng ta có thể nói rằng, việc đầu tiên chúng ta phải làm trong tu thiền là kết gã tự thân. Chúng ta đóng cánh cửa và ngồi êm lặng với những gì như-nó-là, cảm giác sức đốt và sức ép.

Thường thì người ta có ý niệm rằng, khi họ bắt đầu tu tập, mọi thứ sẽ tốt đẹpdễ chịu. Nhưng tu thiền trạng thái nào thì cũng có nhưng ngoại trừ thú vị. Bằng cách ngồi đó trong giây phút hiện tại, những bức tường của cái kiến trúc bảo vệ cái Ngã đang bị sụp dần, và tiến trình này có thể rất mơ hồđau đớn. Kinh nghiệm trên thân những cảm giác mơ hồđau đớn thay vì lẩn tránh chúng là mấu chốt đi tới tự do. Chúng ta phải ôm chầm lấy nỗi khốn khổ, làm cho nó trở thành người bạn tốt nhất của mình, và đi thẳng vào nó để tới tự do.

Quí báu của tự dođời sống của ta như-nó-là, nhưng nếu chúng ta không hiểu mối quan hệ giữa đau đớntự do, chúng ta có thể tạo ra đau khổ cho chính mình và người khác. Chúng ta phải sẳn lòng sống bên bờ vực thẳm eo hẹp, ở đó và sống với bất cứ những gì phát sinh trong từng phút giây. Sự hãnh diện, tham vọng, kiêu ngạo, đau đớn, niềm vui — đừng cố gắng thử lôi kéo những gì sinh khởi trong lúc tọa thiền. Ngồi với sự chú tâm ở mức độ cao nhất mà ta có thể đến, sự chấp thủ đến lúc thì sẽ héo tàn đi.

Khi lão sư Bạch Vân ở tuổi tám-mươi-tám, trong ngày sinh nhật cuối cùng của ngài trước khi tịch, ngài có viết, “Những ngọn đồi phát triển cao hơn.” Khi có cái nhìn trong sáng hơn, chúng ta nhận ra rằng, không có gì là cần hoàn tất cả; mà chỉ có những gì cần nên làm mà thôi. Đó là điều kỳ lạ; khi chúng ta thật sự chia sẽ những gì chúng ta có — thời gian của mình, vật sở hữu, và quan trọng nhất là tự thân — thì đời sống của ta lại vận hành thật suôn sẻ. Có một câu chuyện về cái giếng nước được nuôi dưỡng bởi một dòng nước suối thật nhỏ; nó luôn luôn cung cấp lượng nước tốt. Một ngày kia, cái giếng kia bị đóng nắp và lãng quên cho đến khi một người nào đó mở nắp nó ra sau nhiều năm. Bởi vì không ai lấy nước từ cái giếng, cho nên dòng suối nhỏ kia đã ngừng cung cấp nước cho cái giếng, và rồi cái giếng bị khô cạn. Nó cũng tương tự như chúng ta: chúng ta có thể cho ra chính mình và mở lòng ra thêm, hoặc là chúng ta có thể giữ lại và khô héo đi. 

Tu thiền là đang đóng dần cửa của lối nhìn nhị nguyên về đời sống, và để làm được việc này cần phải có sự ủy thác. Khi bạn thức dậy vào một buổi sáng và không muốn tọa thiền, đóng cái cửa đó lại (ghi nhận ý tưởng đó). Đưa chân ra khỏi giường và bước đi. Nếu bạn cảm thấy lười trong khi làm việc, đóng cái cửa đó lại (ghi nhận ý tưởng đó) và làm cho tốt nhất. Trong mối quan hệ, đóng cái cửa của sự chỉ trích và khắt khe, tàn nhẫn lại. Trong tọa thiền, đóng cái cửa của nhị nguyên lại và cởi lòng ra cho cuộc đời như-nó-là. Dần dần, trong khi chúng ta học kinh nghiệm đau khổ của mình, thay vì bỏ chạy cho xa, đời sống sẽ phơi bày ra cho chúng ta như những niềm vui.

Sự ủy thác

Ngày xưa, có một chàng trai trẻ yêu điên cuồng một người đàn bà trẻ đẹp nhưng rất ư là độc ác. Người đàn bà trẻ đẹp và độc ác kia muốn anh chàng này không được nghĩ gì cả ngoại trừ về nàng, và nàng đã tuyên bố, “Tôi sẽ trao trọn bản thân cho chàng chỉ khi nào chàng cắt cái đầu của mẹ chàng và mang nó đến cho tôi.”

Bấy giờ, chàng trai trẻ kia rất yêu mến mẹ của mình. Nhưng anh ta đã bị làm cho cuồng dại bởi người đàn bà độc ác đến nổi anh không thể đợi cho đến khi nàng yêu cầu lần thứ hai. Cho nên chàng trai kia vội vã trở về nhà và cắt đầu của mẹ mình. Anh ta túm lấy tóc của chiếc đầu và vội vàng ra đi vào trong bóng đêm, bởi vì anh ta không thể đợi được để gặp lại người yêu độc ác của mình. Với chiếc đầu của mẹ trong tay, anh ta phóng nhanh ngựa theo con đường với hết khả năng của mình. Trong khi ấy, chiếc đầu cất tiếng nói với anh: “Đừng vội vã, con của ta; coi chừng bị té và gây thương tích cho mình.”

Câu chuyện kể về tình thương bất diệt của người mẹ và sự ủy thác không hề thay đổi của bà. Sự ủy tháctình thương chân thật là hai chị em sinh đôi. Từ ngữ “ủy thác” là bắt nguồn từ cổ ngữ Latin committere, có nghĩa là “nối liền”, giao phó, tiếp nối. Nó có nghĩa là chuyển giao một người hay một vật cho một người khác để chăm nom.

Để hiểu sự ủy thác, chúng ta phải tăng thêm nhận thức qua trực giác về bản chất sự thật — không chỉ trong đầu, mà trong tận gân cốt của ta: Ta là ai và mọi vật là cái gì. Chúng ta có thể cảm giác rằng chúng ta đã ủy thác rồi cho một công việc làm nào đó hay một người nào đó; nhưng sự ủy thác chân chính là những gì thật sâu thẳm. Sự ủy thác của chúng ta sẽ thiếu sức mạnhquyết tâm, ngoại trừ khi chúng ta hiểu lời nguyền cơ bản của ta, đó là sự ủy thác cho tất cả khả năng cảm thụ, chứ không phải chỉ một số nào đó được lựa chọn ra. Trong quan niệm thông thường của sự ủy thác, chúng ta có chiều hướng nghĩ sự việc như thế này, “Được! Bây giờ chúng ta đã ủy thác cho nhau; một cách rõ ràng là, nàng chỉ nên hành xử một lề lối nhất định: nàng nên yêu chỉ một mình tôi thôi, nàng chỉ nên luôn luôn bên cạnh tôi thôi, nàng nên luôn đặt tôi trước hết tất cả mọi thứ..” Nếu chúng ta ủy thác hết cho công việc của mình thì chúng ta trở nên chiếm giữ nó: công việc của tôi, hay kế hoạch của tôi, hay công ty của tôi, hay lợi nhuận của tôi. Chúng ta có lẽ cũng sẽ nói, “Bởi vì tôi được ủy thác, tôi phải có cách hành xử nhất định trong sự ủy thác này.” Theo quan niệm thông thường của chúng ta về sự ủy thác, đối tượng của sự ủy thác trở nên — trong lối nhìn của ta — đối tượng chúng ta sở hữu, một sự đầu tư, và nó nên mang đến cho ta sự an toànhạnh phúc.

Thật ra sự ủy thác của chúng ta thường là một sự hỗn hợp của Phật tánh — phần của chúng ta có thể nói, giống như người mẹ trong câu chuyện trên, “Dù cho nàng có làm bất cứ điều gì, tôi vẫn yêu nàng, tôi mong những gì tốt nhất cho nàng” — và phần kia của chúng ta thì nói, “Tôi giao phó tình cảm của tôi cho nàng nếu …” Cái “nếu” độc hại kia là gì! Sự ủy thác chân thành và tình cảm thật sự không có những cái “nếu”. Chúng không bị lung lay bởi hoàn cảnh đi qua. Như nhà văn Shakespeare đã viết, “Tình yêu không phải là tình mà thay đổi khi nó bị sự đổi thay tìm gặp.”

Sự ủy thác không thể nào bị cưỡng chế bởi sự la rầy, bởi giận dữ, bởi đột kích, bởi bất kỳ mưu mẹo nào để làm vui lòng, dù chúng ta cố gắng tất cả những thứ này. Nó không thể ép buộc dù bất cứ phương thức nào. Để thêm đậm nét sự ủy thác của mình, chúng ta phải là chứng nhân của những mánh khóe và mưu mẹo của mình, là chứng nhân của mưu đồ vi tếthô thiển để được những gì mình muốn; những thứ này thì luôn là sự an toànbảo đảm cho bản thân. Người mẹ trong câu chuyện trên chắc chắn đã không có sự an toànbảo đảm; bà chỉ có cái đầu. Nhưng ngay cả trong lúc đã chết, bà vẫn mong điều tốt nhất cho con trai của bà. Dĩ nhiên chúng ta không giống như thế. Chúng tacon người bình thường.

Tôi không bao giờ bảo bất kỳ một ai, “Chỉ ủy thác bản thân cho ai đó — rồi chiến đấu ra từ đó.” Ngay cả nếu chúng ta trải qua nhiều tháng, nhiều năm quyết định là “chính là người này đây,” chúng ta có lẽ chỉ bắt đầu ủy thác mình cho người đó. Chúng ta tự lừa gạt lấy chính mình và người khác nếu chúng ta nghĩ rằng, bởi vì chúng ta lập vài lời hứa hẹn, chúng ta phải lập một sự ủy thác.

Trong sự ủy thác chúng ta phải đóng cái cửa lại. Bởi vì chúng ta chưa nhận diện được ra Phật tánh, chúng ta không thể (hay sẽ không) ủy thác cho chỉ bất cứ ai. Dù thế, sau nhiều lo lắng và phân vân, cuối cùng chúng ta ủy thác cho một người hay một vật. Một khi chúng ta đã làm vậy, thì chúng ta phải đóng cánh cửa của cái lò và nấu nó. Sự ủy thác có nghĩa là, chúng ta không để sẳn cho ta một con đường tẩu thoát. Bất kỳ mối hôn nhân nào, bất kỳ mối quan hệ nào — bao gồm sự ủy thác cho con cái của ta, cho cha mẹ của ta, cho bạn bè của ta — là về loại chọn lựa này.

Khi chúng ta “đóng cái cửa” thì chúng ta sẽ hạnh phúc không? Đôi khi thôi! Nhưng đó không phải là điểm trọng yếu. Điểm quan trọng của sự ủy thác không phải là nó có làm hài lòng chúng ta hay không. Dĩ nhiên, thỉnh thoảng thì cũng có, nhưng đừng đặt kỳ vọng vào đó.

Sự ủy thác thì không luôn luôn là phải cho một người khác. Chúng ta có thể lập một sự ủy thác cho tình trạng cô độc. Phần lớn con người, loại ủy thác như vậy là sự tu tập tốt, ít nhất thỉnh thoảng cũng một lần. Có thể chúng ta ủy thác bản thân cho tình trạng cô độc trong sáu tháng, hay một năm, hay năm năm. Vài người trong chúng ta thấy tình trạng cô độc chỉ là cuộc sống một mình; chúng ta nhìn nó như là trạng thái cô đơn và khốn khổ. Nhưng tôi không phải đang nói về kiểu rút lui vào trong một hang động. Tôi có ý là tình trạng cô độc (nhập thất) để cho chúng ta có thể tu tập, dâng hiến tự thân cho mọi loài và mọi người. Nếu chúng ta thực hiện sự tu tập như vậy, chúng ta phải thành thật về những gì kín đáo đi kèm theo nó. Không ai muốn dâng hiến bản thân cho mọi loài và mọi người. Ở một mức độ sâu thẳm, đây là sự tu tập đòi hỏi sự quyết tâm cao độ mà không có nhiều người thiết tha để làm.

Jesus có nói, “Ngay trong khi các người đã làm nó dù là chỉ một phần nhỏ, trong đó cũng có ta.” Chúng ta không thể ủy thác cho bất kỳ cái gì hay bất cứ một ai, ngoại trừ chúng ta ủy thác cho tất cả. Đó không có nghĩa là chúng ta phải ưa thích nó, hoặc là chúng ta có thể làm nó để được trọn vẹn. Mà đó là do sự tu tập. Nó rất quan trọng cho mỗi người trong chúng ta nhận thức ra những gì, trong đời sống cá nhân của mình, là “một phần nhỏ”. Chúng ta lập tức nghĩ về những người nghèo đói. Nhưng “một phần nhỏ” là những gì “nhỏ” đối với “tôi”, hay đối với “bạn”. Cái phần nhỏ đối với bạn là gì? Những gì trong đời sống của bạn mà bạn ít quan tâm tới nhất? Đối với phần lớn trong chúng ta “một phần nhỏ” là những người mà chúng ta không thích hay có phiền phức với họ: những người mà chúng ta xem như là không cần thiết (cho mình). “Một phần nhỏ” này cũng có thể là những người mà chúng ta e sợ, những người gây cho chúng ta lo lắng khi gần họ. Một cách tế nhị hơn, họ có thể là nhóm người mà chúng ta cảm thấy rằng chúng ta phải chỉ thị, hướng dẫn họ, hay soi đường dẫn lối cho họ, hay cần phải giúp họ.

Bạn có thể không tán đồng, “Hãy nên thực tế một chút. Làm thế nào tôi có thể hy sinh bản thân cho một người mà tôi không thể nào chịu đựng được? Sự thật mà nói, nếu tôi ở gần hắn trong phạm vi ba mươi bộ Anh thì đã là quá sức chịu đựng của tôi rồi.” Bằng cách nào chúng ta có thể làm được việc đó? Thế này! Chúng ta học cách tu tập với nó. Có nghĩa là, hãy tuyệt đối thành thật với chính mình: nhận biết ra rằng chúng ta không thích người đó và không muốn gần gũi hắn, và dĩ nhiên (ta sẽ cũng luôn luôn) quan sát tất cả cảm giác tư tưởng phát sinh chung quanh mối quan hệ này. Chúng ta cũng hay dùng phương pháp này với công việc của mình kia mà. Vài người trong chúng ta đang làm những công việc mà lại cảm giác bên trong (hay che dấu ẩn tàng phía dưới nét mặt) “Tôi có bằng cấp đại học. Tại sao tôi chỉ sắp xếp những cái hộp vào trong kệ? Làm thế nào tôi có thể dâng hiến bản thân cho một công việc như đày tớ này?”

Con người luôn mong muốn sự tu tập thì nhẹ nhàng, dễ dàng. Nhưng nó không dễ dàng chút nào cả. Rất dễ dàng khi nói rằng, “Ô! Tôi sẳn lòng ủy thác cho thế gian, cho pháp.” Nhưng thực hành thì là một vấn rất khó để làm. Thế gian, pháp, thì phơi bày khắp nơi cho chúng ta bằng mỗi tạo vật và hoàn cảnhchúng ta đang đối diện. Chúng taủy thác cho người trên đường đang nôn mửa vào rảnh nước kia không? Chúng taủy thác cho người bán hàng trong cửa tiệm khi nãy đã vừa thối tiền không đủ cho ta, hay cho người đang có hành động trịch thượng đối với ta hay không?

Chúng ta vốn sẳn có Phật tánh, cho nên chúng ta biết rằng có hạnh phúc là quyền kế thừa của chúng ta. Nhưng nó ở đâu? Nó đang đợi chờ chúng ta trong mỗi buổi tu tậpchúng ta đang nói. Chỉ khi nào trải qua sự tu tập như thế chúng ta mới có thể đi đến hạnh phúc hay sự ủy thác chân thật trong công việc, mối quan hệ của chúng ta, trong tất cả phương diện của đời sống của chính mình.

Bởi vì sự khó khăn to lớn của chúng ta là đối với con người, chúng ta không nói rõ ràng được về sự ủy thác của mình (hay là thiếu sự ủy thác) với đối tượng. Ví dụ: Nếu chúng ta để cho căn phòng của mình hỗn loạndơ bẩn, vậy là chúng ta không có tận tụy với sự ủy thác rồi. Chúng ta đang báo hiệu ra rằng, có gì đó quan trọng đối với chúng ta hơn là chính cuộc đời của chúng ta đang sống. (Tôi đã được nuôi dưỡng bởi một người mẹ hoàn hảo, và trong nhiều năm tôi luôn phản đối lại tình trạng ăn mặc bê bối.) Chúng ta không phải đang nói về sự gọn gàng đặc biệt. Dù thế, sự tu tập của chúng ta nên bao gồm mỗi người và vật, con mèo, bóng đèn, tấm giấy chà nhám, cọng rau, miếng tả. Nếu chúng ta không chăm sóc cẩn thận, thì chúng ta không biết sự ủy thác là cái gì. Sự ủy thác không phải là những thứ xảy ra ngẫu nhiên. Sự ủy thác là một năng lực. Và nó phát triển giống như bắp thịt phát triển: bằng cách huấn luyện.

Tôi không muốn lập ra một bảng điều lệ cho những gì “nên”. Tôi không nói nhiều về lời dạy hay châm ngôn bởi vì người ta hay hiểu sai về chúng: “Tôi nên ăn mặc lịch sự. Joko nói thế.” Nhưng chúng ta cần nhìn vào xu hướng cá nhân, hay liệng đồ vật tứ tung, để đèn sáng không cần thiết, lấy nhiều thức ăn vào dĩa nhiều hơn mình có thể tiêu thụ. Tại sao? Nếu sự ủy thác của chúng ta không trọn vẹn, vậy những gì chúng ta gọi tên cho sự ủy thác của mình về hôn nhân, con cái, công việc, tu tập, phật pháp, sẽ bị làm mất ý nghĩa đi. “Ngay trong khi các người đã làm nó cho một phần nhỏ, trong đó cũng có ta.” Nếu chúng ta muốn biết hạnh phúc, chúng ta không thể nói ra, “Không sao! Tôi chỉ hơi bất cẩn thế thôi.” Sự tu tập của chúng ta là luôn luôn cho “Một phần nhỏ” kia.

Sự ủy thác là một công năng. Bởi vì chúng ta cố gắng tránh né hoạt động, chứng nhân phải luôn sắc bén như mũi đinh. Tôi không cần biết bao nhiêu kinh nghiệm giác ngộ bạn níu bám vào. Không có chi cả ngoài đời sống hàng ngày này. Cái bàn này chính là pháp. Ngày hôm qua thì đầy bụi bặm; hôm nay thì bụi bặm đang vẫn được lau chùi. Chúng ta đang đi đến cuối đoạn đường của một khóa tu. Nhưng đừng tự dối lừa mình: Khóa tu khó khăn (thật sự) mới bắt đầu vào lúc ta quay trở lại đời sống hàng ngày của mình kia.
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Quảng Cáo Bảo Trợ