Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
19,036,377

Tu Là Dừng, Chuyển Và Sạch Nghiệp

Monday, July 30, 201200:00(View: 2870)
Tu Là Dừng, Chuyển Và Sạch Nghiệp

TÀI SẢN KHÔNG BAO GIỜ MẤT 
Tuyển Tập Một Số Bài Giảng
Của Hòa Thượng Thích Thanh Từ
Nhà xuất bản: Phương Đông 2012

TU LÀ DỪNG, CHUYỂN
VÀ SẠCH NGHIỆP

Giảng tại chùa Phong Hòa
Sa Đéc - 2000.

Đề tài tôi giảng hôm nay: Tu là dừng nghiệp, chuyển nghiệp, và sạch nghiệp. Trước khi đi vào đề tài, tôi xin đặt một câu hỏi: “Tại sao chúng ta phải tu?” Quý Phật tử thường đi chùa, lễ Phật, ăn chay, chắc rằng ai cũng nói mình biết tu rồi, phải không? Vậy nếu có người hỏi tại sao phải tu, thì quý vị trả lời thế nào? Ở đây tôi sẽ giải thích về điều này.

Chúng ta đều ý thức rằng người biết tu là người cầu tiến, là người vươn lên. Tại sao? Thí dụ có người trước kia say rượu lè nhè, nhưng bây giờ người đó biết tu theo Phật, giữ năm giới. Do giữ giới nên không uống rượu say nữa, đó là đã tiến hơn xưa. Hoặc như người chuyên đi ăn trộm, người đó bị xã hội đánh giá là hạng bất lương. Bây giờ người đó biết tu, thọ giới của Phật. Phật cấm không được trộm cướp. Khi không còn trộm cướp nữa, thì người đó có tiến bộ chưa?

Thường thường thế gian thấy ai hư hỏng, rồi thức tỉnh lại, làm lành thì người ta bảo người đó giác ngộ. Đó là một bước tiến. Như vậy vì cầu tiến mà chúng ta tu. Người biết tu là lúc nào cũng sửa đổi hành vi xấu, ngôn ngữ xấu, ý niệm xấu của mình trở thành hay, trở thành tốt. Như vậy có phải là tiến bộ không? Cho nên nói biết tu là có tiến. Vì vậy muốn cầu tiến, người Phật tử phải tập tu. Đó là lý do thứ nhất.

Lý do thứ hai, chúng ta tu là vì muốn đem lại sự an lạc cho bản thân mình trong hiện tạivị lai. Tại sao? Thí dụ như một Phật tử trước kia chưa biết tu, ở gia đình vợ chồng nghi ngờ nhau không hòa thuận. Bây giờ nếu hai vợ chồng biết tu, giữ ngũ giới tức không tà dâm, không ngoại tình với kẻ khác, thì vợ chồng hết nghi nhau. Hết nghi nhau thì bình an, hạnh phúc. Như vậy nhờ tu mà đem lại sự bình an cho gia đình, sự tốt đẹp cho xã hội. Nên người biết tu là người tiến lên, chuẩn bị cho cuộc sống luôn được an lạc. Thế mới thấy tu là việc thiết yếu. Phật tử khi hiểu được lợi ích đó rồi ai cũng phát tâm tu. Đó là lý do thứ hai.

Khi đã phát tâm tu theo Phật, thì điều đầu tiên Phật dạy chúng ta tu là để dừng nghiệp.Tại sao tu để dừng nghiệp? Trước khi trả lời câu này, tôi xin ôn lại lịch sử đức Phật một chút.

Chúng ta nhớ đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi ngồi dưới cội Bồ Đề suốt bốn mươi chín ngày đêm, đến đêm thứ bốn mươi chín, từ đầu hôm đến canh hai Ngài chứng được Túc Mạng Minh.

Túc Mạng Minh tức là trí sáng suốt, thấu rõ hết bao nhiêu kiếp về trước của mình, đã từng làm gì, ở đâu, cha mẹ anh em tên gì... đều biết rõ hết. Chẳng những một đờivô số đời cũng đều biết rõ. Nên gọi là Túc Mạng Minh, tức trí sáng suốt, biết vô số mạng kiếp về trước. Sau này đi giảng đạo, Ngài nhắc lại đời trước Ngài đã từng làm gì, ở đâu, lợi ích cho ai v.v... Những sự việc như thế được kết tập lại gọi là kinh Bản Sanh và Bản Sự, hiện giờ vẫn còn.

Từ canh hai đến canh ba, Ngài chứng được Thiên Nhãn Minh. Thiên Nhãn Minh là tất cả những gì gần xa, nhỏ nhiệm nhất Ngài đều thấy được. Cho nên khi đức Phật chứng được Thiên Nhãn Minh rồi, Ngài nhìn thấy trong bát nước có vô số vi trùng. Ngày xưa nói trong nước có vi trùng người ta không tin. Nhưng bây giờ nhờ khoa học chế ra kính hiển vi, người ta mới thấy vi trùng. Như vậy đức Phật đã thấy hơn hai ngàn năm rồi, bây giờ chúng ta mới biết. Bằng Thiên Nhãn Minh Ngài nhìn rất xa, thấy ngoài thế giới này, còn có vô số thế giới khác, tính không hết. Danh từ chuyên môn trong nhà Phật gọi là Hằng hà sa số. Hằng hà đó là sông HằngẤn Độ, sa số là số cát. Sông HằngẤn Độ dài tới mấy ngàn cây số, thì cát sông Hằng chừng bao nhiêu? Vô số kể. Phật nói thế giới trong hư không nhiều như số cát sông Hằng vậy. Ngày xưa không ai tin điều này cả. Nhưng bây giờ nhờ các nhà thiên văn, người ta tìm thấy rõ ràng ngoài thiên hà của chúng ta, còn vô số thiên hà nữa. Cho nên biết trong vũ trụ không biết bao nhiêu là thế giới. Như vậy Phật nói không sai, vì đó là cái thấy thật.

Kế đó, Ngài nhìn thấy con người khi chết rồi lại tái sanh vào các loài. Người ta cứ nghĩ chết rồi là hết, hoặc bảo chết rồi trở lại làm người. Nhưng Phật thấy rõ ràng, khi chúng ta chết rồi, do nghiệp của mình tạo hàng ngày, hoặc lành hoặc dữ; nếu lành thì nó dẫn chúng ta sanh trong cõi lành, nếu dữ nó dẫn chúng ta sanh vào cõi dữ. Cho nên trong kinh có một đoạn Phật nói: “Ta nhìn thấy chúng sanh do nghiệp dẫn đi luân hồi trong lục đạo như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường, thấy rõ ràng ai nghiệp gì, đi đường nào, không có nghi ngờ."

Vì vậy Phật dạy chúng ta tu, bước đầu là dừng nghiệp. Dừng nghiệp để làm gì? Để khi chết chúng ta không bị nghiệp ác dẫn đi vào đường ác. Nếu cứ tạo nghiệp ác, thì khi chết chúng ta bị nghiệp dẫn trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Cho nên người Phật tử tu là làm sao trong hiện tại, dừng những hành động xấu ác, để bản thân là một người tốt, có lợi ích cho xã hội, chết đi mình lại được nghiệp lành dẫn sanh vào cõi lành. Như vậy có phải tu là để cho chúng ta an ổn trong đời này và đời sau không? Vì tầm quan trọng như vậy cho nên chúng ta mới tu.

Như hàng Tăng Ni xuất gia, lẽ ra các vị ở ngoài đời hưởng những lạc thú thế gian, tại sao lại cạo đầu vào chùa ăn chay, mặc áo nhuộm cho khổ vậy? Có cái gì cần, cái gì quý, mình mới làm điều đó chứ. Vì thấy rõ được lợi ích việc tu tập rồi, nên chúng ta mới đi tu.

Đến canh năm, khi sao mai vừa mọc, Ngài liền chứng được Lậu Tận Minh, tức là trí sáng suốt thấy rõ nguyên nhân vì sao con người phải luân hồi sanh tử. Ngài thấy rõ ràng, không nghi ngờ gì hết. Nên sau đó Ngài đến vườn Lộc Uyển, giảng bài pháp đầu tiên cho năm anh em ông Kiều Trần Như nghe. Đó là bài pháp Tứ Diệu Đế. Ngài chỉ rõ quả đau khổ và nhân gây ra đau khổ; chỉ cho quả giải thoátnhân tu sẽ được giải thoát. Đó là do Phật tu chứng được nên Ngài nói ra, chớ không phải như các triết gia suy luận rồi nói.

Vì vậy Phật dạy chúng ta trên đường tu, phải làm sao đạt được kết quả tốt đẹp, làm sao tu cho cuộc đời của mình hiện tại an vui, hạnh phúc, lợi ích cho chúng sinh. Khi chết đi sinh trở lại, được làm người tốt đẹp hơn, cao quý hơn. Tu là như vậy.

Ở đây, điểm quan trọng tôi muốn nhấn mạnh: Tu là dừng nghiệp, là chuyển nghiệp và sạch nghiệp. Dừng nghiệp, tức là dừng những nghiệp ác, chúng ta không tạo những tội lỗi phải chịu khổ đau nữa. Vậy tu dừng nghiệp bằng cách nào?

Trong nhà Phật dạy, dù tại gia hay xuất gia, khi bước chân vào đạo, trước tiên phải gìn giữ giới luật. Gìn giữ giới luật là tu dừng nghiệp. Tại sao? Bởi vì đức Phật thấy rõ ràng, con người khi nóng giận hay tham lam rất là cuồng loạn. Điều tội ác nào người ta cũng có thể làm được. Mà tạo tội ác thì phải đọa, phải chuốc quả đau khổ. Vì vậy Phật dạy phải giữ những điều giới, đừng tạo ác. Không tạo ác thì khỏi đọa.

Như hàng Phật tử tại gia, đức Phật dạy phải giữ năm giới:

1- Không được sát sanh.

2- Không được trộm cướp.

3- Không được tà dâm.

4- Không được nói dối.

5- Không được uống rượu, không được hút á phiện, xì ke, ma túy.

Năm điều đó cần phải gìn giữ cho đúng. Như người nam khi chưa biết tu, có ai rủ uống rượu thì sao? Tuy ban đầu chưa biết uống, nhưng bạn bè rủ thì vị tình, uống rồi thành ghiền. Ghiền rồi thành say. Đối với á phiện, xì ke, ma túy cũng vậy. Trước đâu có, cha mẹ sanh ra đâu có ghiền. Do bị bạn bè rủ rê mà không biết tu mới nhào theo. Nhào theo rồi thì hư một đời, hại gia đình, hại xã hội. Nên Phật cấm những điều đó là thương hay làm khó khăn mình? Đó là Phật thương. Bởi rượu, á phiện, xì ke, ma túy là hố sâu nguy hiểm, Phật muốn cho chúng ta không rớt vào hố đó, nên mới dùng hàng rào giới luật để chặn.

Thí dụ Phật tử đã thọ ngũ giới rồi, nếu bạn bè tới rủ uống rượu, liền nói: "Tôi đã thọ giới Phật rồi, không được uống rượu. Thôi, tôi xin không uống”. Như vậy là ngăn chặn mình tạo tội. Nếu không thọ, không giữ giới thì bạn bè rủ cứ ngồi uống có sợ gì đâu. Rồi tới ăn trộm, ăn cướp, cho đến giết người... trong những việc đó có gì bình an không hay việc nào cũng khổ. Mình làm cho mình khổ, mình làm cho người khác cũng khổ, cứ khổ lây với nhau.

Bây giờ Phật cấm không được giết người, dù giận bao nhiêu đi nữa, cũng không dám động đến sinh mạng của người khác, đó là tu. Tu là giữ giới. Cho nên bước đầu vào đạo, Phật bảo phải giữ năm giới. Chúng ta hứa giữ để trong lòng lúc nào cũng nhớ không được làm các việc đó. Nhờ hứa với Phật, hứa với quý thầy như vậy, không dám quên nên không tạo tội. Đây gọi là dừng nghiệp.

Chúng ta đối nơi thân, nơi miệng, nơi ý thường hay buông lung tạo tội. Thí dụ nơi thân, trẻ nhỏ thấy con chim đậu trên cành cây, nó làm sao? Nó muốn bắn. Nhiều khi con chim nhỏ xíu không đáng gì hết, không được một miếng ăn nữa, mà cũng cứ bắn. Thấy con cóc, con nhái, muốn lấy đá chọi v.v... Bây giờ mình biết tu thì việc gì không có lợi cho mình, cho người mà làm đau khổ chúng sanh thì đừng làm. Nhờ không làm nên không khổ cho những con vật nhỏ, không khổ cho người. Như vậy nhờ biết gìn giữ giới, không làm việc ác, đó là chúng ta tu.

Đến miệng, chúng ta toàn nói lành hay cũng có khi nói dữ? Có người nào nói lành suốt đời chưa, hay khi vui thì nói lành, khi giận thì nói dữ. Bây giờ chúng ta biết tu rồi, vui nói lành mà giận thì thôi, làm thinh, đừng nói gì cả. Bởi vì nếu nói thì sẽ nói bậy, nói tội lỗi. Cho nên khi giận, làm thinh bỏ qua, một hồi sẽ hết. Chúng ta giữ thân không làm đau khổ cho chúng sanh, miệng không nói lời dữ, lời ác khiến người khinh miệt mình. Đó là bảo vệ giá trị tinh thần đạo đức của mình.

Quý Phật tử thấy khi giận lời nóigiá trị thật không? Thí dụ khi giận người ta nói “Mày là con chó”, nói thế mà mình có thành con chó đâu. Nếu tỉnh táo, mình sẽ trả lời: “Tôi đâu có bốn chân đâu mà thành con chó”. Nhưng đằng này, nghe nói con chó liền muốn tát tai người ta, như vậy vô tình mình nhận là chó rồi. Bởi vừa nói chó là mình cắn liền, phải không? Khi nóng giận người ta dễ điên cuồng, không có chút gì khôn ngoan, sáng suốt cả. Cho nên khi nóng giận cần phải im lặng, đó là người khôn, người khéo tu.

Như vậy chúng ta tu thân, tu miệng và tu luôn cả ý nữa. Ý của quý vị nghĩ tốt nhiều hay nghĩ xấu nhiều? Có khi xấu nhiều tốt ít, có khi tốt nhiều xấu ít, tốt xấu lẫn lộn. Bây giờ tu rồi khi nghĩ một điều gì xấu, chúng ta biết đó là bậy, là tội lỗi nên không nghĩ nữa, cấm nó như vậy lâu dần thành quen. Nghĩ tốt thì cho nghĩ, nghĩ xấu thì dừng. Đó là chúng ta tu.

Nếu người thân không làm những điều xấu ác, miệng không nói những lời dữ, ý không nghĩ những điều bậy xấu, thì người đó là người tốt. Người ta nói tu hiền, nhưng hiện nay có nhiều người tu mà chưa hiền. Ăn chay thì ăn mà không hiền chút nào cả. Bởi tu không phải chỉ ăn chay mà tu là sửa thân đừng làm tội lỗi, miệng đừng nói tội lỗi, ý đừng nghĩ tội lỗi. Còn ăn chay, ăn mặn chỉ là phần phụ thôi. Người ăn mặn mà nói năng đàng hoàng hiền lành, còn người ăn chay mà la lối bậy bạ thì ai hơn ai? Hiểu vậy quý vị mới thấy lẽ thật của sự tu.

Ngay trong đời sống này phải tạo cho mình một cuộc sống có giá trị. Nếu trong gia đình hai vợ chồng đều biết tu. Chồng không làm bậy, không nói bậy, không nghĩ bậy, vợ cũng vậy thì gia đình đó đầm ấm, hạnh phúc không? Sở dĩ ngày nay gia đình chia ly, đau khổ, là vì người ta không biết tu. Tu dừng nghiệp là đừng làm bậy, đừng nói bậy, đừng nghĩ bậy thôi, chứ chưa làm gì hay tốt. Bao nhiêu đó cũng khó rồi.

Lâu nay người ta quen buông lung, bây giờ chặn lại nên khó, chớ việc đó đâu phải khó. Nếu giận người ta mà mình làm thinh, không la lối gì hết. Một hồi cơn giận sẽ nguôi, và từ từ mình quên hết. Quên hết thì có thiệt thòi gì cho mình đâu. Còn nóng chửi người ta, người ta đánh lại mình thì sẽ sinh ra bao nhiêu chuyện rắc rối, bao nhiêu phiền nãotội lỗi khác nữa. Tất cả chúng ta ai cũng cần phải tu để trở thành người hay tốt. Đó là người khôn ngoan, sáng suốt. Nếu để thân miệng ý lăng xăng lộn xộn hoài, đó là người xấu, người dở.

Tôi đã nói phần tu là dừng nghiệp. Kế đến phần tu là chuyển nghiệp.

Chuyển là đổi. Chuyển nghiệp là chuyển đổi nghiệp của mình. Tôi thường hay nói, Phật tử chúng ta hiểu nghĩa chữ tu dở hơn cả mấy chú sửa xe honda nữa. Tại sao vậy? Vì mấy chú đó gọi sửa xe hư ít là “tiểu tu”, xe hư nhiều hơn là “trung tu”, xe hư thật nhiều là “đại tu”. Có khi nào mình đem chiếc xe cũ hư đi sửa, tới ngày lấy nó y nguyên như cũ mà mình vẫn chịu không? Đâu có. Phải sửa tốt hơn ngày mình giao xe mới được.

Như vậy tu là sửa từ cái hư, cái xấu trở thành cái tốt, cái hay. Người biết sửa là người biết tu. Quý Phật tử tu bao nhiêu năm rồi, có biết sửa chưa hay chỉ xin Phật thôi. Có gì buồn, lạy Phật: “Phật cứu độ con”, “Phật cho con hết bệnh hoạn”, “cho con hết tai nạn” v.v... Nếu tu như vậy chắc Phật cũng lắc đầu, không biết nói sao. Bởi đức Phật từng bảo rằng: “Ta không có quyền ban phước, xuống họa cho ai”. Nếu Ngài ban phước xuống họa cho người, thì Ngài không dạy mình tu dừng nghiệp, chuyển nghiệp, không dạy tu nhân quả. Nhân tạo lành thì được hưởng quả lành; nhân tạo ác thì phải chịu quả ác. Phật chỉ dạy chúng ta biết thế nào là tội phải tránh, thế nào là phước nên làm, đó là dạy chúng ta tu.

Phật tử bây giờ không chịu tu, có việc gì liền chạy xin Phật cho nhanh. Chỉ tốn có một dĩa quả, một bó nhang là xong. Phật tử xin thì xin, chứ Phật đâu có cho được. Lâu nay Phật tử chúng ta cứ tu như vậy, không cần biết đúng hay sai với ý nghĩa chữ tu trong nhà Phật gì cả. Bởi tu không đúng ý nghĩa, nên càng tu càng thấy lung tung. Trong nhà sanh chuyện phiền não với nhau; ra phố đi đâu đụng đó. Nếu biết tu đúng với những lời Phật dạy thì càng tu gia đình càng hạnh phúc, càng tu láng giềng càng mừng vui, được gần người hiền, người lành.

Như vậy chuyển nghiệp là chuyển thế nào? Từ nghiệp xấu ngày xưa đã làm, bây giờ đổi thành nghiệp tốt. Như khi xưa mình tạo những hành động xấu xa, làm đau khổ cho người, bây giờ mình dừng không làm việc ấy nữa. Ngang đó mình khỏi tội lỗi, nhưng chưa được bao nhiêu phước. Nên bây giờ không làm khổ người, mà còn làm lợi ích, giúp đỡ cho người được vui vẻ. Đó là chuyển nghiệp xấu thành nghiệp tốt. Chuyển được thân nghiệp là làm các việc lành, giúp người này cứu kẻ kia. Mọi người được an vui thì người đó trở thành người tốt, đáng khen. Đó là tu chuyển nghiệp về thân.

Miệng chúng ta ngày xưa nói dữ nói dối, bây giờ biết tu rồi không nói dữ, không nói dối, mà còn nói lời hiền hòa, dễ thương, nói lời chân thật. Gặp người buồn khổ, nói lời an ủi cho người bớt khổ. Người không hiểu đúng lẽ thật, nói cho người hiểu đúng lẽ thật, đó là tu. Chuyển nghiệp xấu của thân thành nghiệp tốt của thân; chuyển nghiệp xấu của miệng thành nghiệp tốt của miệng; chuyển nghiệp xấu của ý thành nghiệp tốt của ý.

Nếu có gì phiền hà làm cho mình khó chịu, vừa muốn giận liền tự nhắc “không được giận”, “giận là xấu, bỏ”. Nên nghĩ người làm sai là người đáng thương, chứ không đáng giận. Như vậy chuyển từ ghét giận trở thành thương mến, tâm hung dữ trở thành tâm từ bi. Như vậy là tu. Tu là từ nghiệp xấu chuyển thành nghiệp tốt. Việc này dễ làm hay khó làm? Dừng nghiệp đã là khó rồi, huống nữa phải làm cái tốt. Chính vì vậy người tu mới được thế gian kính phục. Nếu trong xã hội, trong gia đình, ai cũng biết chuyển nghiệp xấu thành nghiệp tốt hết thì gia đình đó thế nào? Gia đình đó hoàn toàn được hạnh phúc, xã hội cũng tốt đẹp theo. Nên biết chúng ta tu là đem lại sự an vui, hạnh phúc cho mình, cho mọi người.

Trong kinh Phật dạy rất rõ: “Chúng sanh tạo nghiệp từ thân, miệng, ý”. Cho nên sau khi giữ năm giới rồi, Phật tử phải tu thêm Thập thiện. Giữ năm giới là dừng được nghiệp ác, tu Thập thiện là chuyển nghiệp ác thành nghiệp lành. Hồi xưa, mình thường hay giết hại thì ngày nay thương chúng sanh. Thấy chúng sanh nào bị bắt, sắp bị giết hại, mình mua thả. Ngày xưa thay vì giết, bây giờ lại cứu. Hồi xưa mình tham lam trộm cắp của người ta, bây giờ có duyên mình bố thí. Hồi xưa mình có những hạnh xấu không trinh bạch, bây giờ tập tu hạnh trinh bạch.

Như vậy thay vì thân có ba nghiệp sát sanh, trộm cắp, tà dâm; bây giờ mình chuyển ba nghiệp đó. Sát sanh chuyển thành phóng sanh, trộm cướp chuyển thành bố thí, tà dâm chuyển thành trinh bạch. Được vậy đời mình tốt đẹp vô cùng.

Ngày xưa hay nói dối, hay nói hung dữ, bây giờ Phật dạy chuyển thành bốn thứ: nói lời chân thật, nói lời hòa ái, nói lời hòa hợp, nói lời đúng lý. Thay vì nói dối gạt, thì bây giờ chúng ta nói lời chân thật. Chuyển lời nặng nề ác độc thành lời hòa nhã dễ thương. Đó là chuyển bốn nghiệp nơi miệng.

Kế đến chuyển nơi ý. Ý chúng ta thường dễ sanh tham lam, khi tu dừng được tham lam rồi, chúng ta phải tập hỷ xả. Hỷ xả tức là tha thứ, là buông bỏ. Thí dụ ngày xưa, chúng ta làm một muốn được hai, làm hai muốn được ba bốn... cứ muốn chồng lên. Bây giờ chúng ta làm việc vừa phải, có đủ cho cuộc sống mình bình an thôi. Phần dư vui vẻ đem ra giúp đỡ cho những người thiếu, đó gọi là hỷ xả.

Ngày xưa chúng ta hay nóng giận. Giận người này giận người nọ, thì ngày nay tập lòng từ bi thương xót mọi người, để mình không khổ, mà mà người cũng không khổ. Nói tới từ bi chúng ta thấy rất khó. Tại sao? Vì ở đời có người ăn nói dễ thương, có người ăn nói khó thương. Có người tư cách dễ thương, có người tư cách khó thương... nên mình cũng khó thương. Bây giờ từ bi là phải thương tất cả, thì làm sao mà thương đây?

Thí dụ khi vào bệnh viện tâm thần, chúng ta bị những người điên trong đó kêu tên mình chửi, hoặc nhổ nước bọt lên mình v.v... lúc đó chúng ta thế nào? Cự lộn với họ hay là thương họ. Mình không có lỗi lầm gì với họ, mà họ chửi mình, rồi còn phun nước bọt vô mình, dễ giận không? Nhưng nếu giận, mình cự lộn với họ thì người chung quanh sẽ nói sao? Đánh lộn với kẻ điên thì chỉ có người điên mới làm thôi. Người ta điên cho nên làm bậy, còn mình tỉnh phải thương họ, chứ đâu nên giận.

Phật tử xét kỹ, những người mình không làm quấy, không làm điều tội lỗi với họ, mà người ta nói mình quấy, mình có tội lỗi thì mình nên nghĩ: "Chuyện không có mà họ nói, đó là họ không tỉnh sáng. Người không tỉnh sáng là người đáng thương, chớ không đáng giận. Mình đang tỉnh sáng thì không nên hơn thua với người không tỉnh sáng. Nhớ như vậy chúng ta sẽ có lòng từ bi dễ dàng, không khó. Cứ thế mình tập tâm từ bi càng ngày càng lớn lên, đó là tu.

Tâm chúng ta thường ngày hay si mê, nghĩ sai trật, nghĩ lầm mà chúng ta tưởng là đúng. Như Phật tử đến tháng hai tháng ba, thường lên núi Sam để vay tiền Bà về làm ăn phải không? Đó là điều không có lẽ thật, thế mà Phật tử vẫn tin làm. Nếu tới miếu Bà vay tiền về làm ăn, ai cũng giàu hết, thì từ Long Xuyên lên Châu Đốc người ta cất nhà ngói hết. Nhưng quý vị thấy nơi đó có nhà ngói hết chưa? Kế cận miếu Bà dại gì không vô vay tiền làm ăn cho được giàu. Rõ ràng điều này đâu có đúng. Một việc không có lý như vậy, nhà Phật gọi là tà kiến. Tức hiểu biết sai lầm, không đúng sự thật. Thế mà Phật tử vẫn nghe theo, không phải sai lầm là gì?

Phật tử chúng ta phải có một nhận định đúng đắn mới gọi là tu. Nếu hiểu sai lầm như vậy không phải là tu. Chúng ta tu là để đem lại an vui, đem lại lợi ích cụ thể, thiết thực cho mình cho người. Phật tử tin được lý nhân quả, hiểu rõ gieo nhân thì gặt quả, nhân lành thì quả lành, nhân ác thì quả ác.

Ví như người nông phu phải lựa giống tốt gieo xuống ruộng, thì tới mùa thu hoạch mới được lúa tốt, nhiều. Nếu gieo giống xấu thì kết quả xấu, không nghi ngờ. Tuy nhiên không hẳn đơn giản giống tốt thì được quả tốt hết. Giống tốt còn phải biết bón phân, nhổ cỏ, coi chừng sâu rầy, nước nôi nữa, đó là những duyên phụ. Duyên chánh là chánh nhân tức hạt giống, duyên phụ là những điều kiện trợ giúp cho chánh nhân phát triển, đi đến kết quả tốt đẹp. Nếu có người nông dân tới mùa lúa mà không chịu gieo mạ, cứ chắp tay nhờ trời Phật cho con năm nay được trúng mùa thì có trời, Phật nào cho được không?

Chúng ta cũng như vậy, chỉ cầu xin mà không chịu tạo nhân tốt thì đòi quả tốt sao được. Điều đó không hợp với lẽ thật, không đúng với chánh pháp. Cho nên người Phật tử chúng ta phải thấy, phải hiểu cho đúng, đừng để sai lầm. Nếu sai lầm thì tự mình khổ và cũng làm cho người khác khổ nữa, chứ không có lợi ích gì.

Tôi đã nói hai phần, tu là dừng nghiệp áctu là chuyển nghiệp ác thành nghiệp thiện rồi. Kế đến tôi sẽ nói tu là làm cho sạch nghiệp. Tất cả các nghiệp chúng ta đã tạo, ngày nay biết tu chúng ta phải gột rửa hết. Như vậy muốn tu sạch nghiệp, phải tu bằng cách nào? Về điểm này, tôi sẽ hướng dẫn từ từ.

Nếu người tu Tịnh độ muốn được sạch nghiệp phải làm sao? Trong kinh Di Đà dạy chúng ta niệm Phật phải nhiếp tâm cho thanh tịnh. Do tâm thanh tịnh mới không nhớ bậy, không nghĩ bậy. Nghĩa là muốn tâm sạch thì phải nhớ Phật, phải niệm Phật, đừng nhớ chuyện hơn thua, phải quấy của thế gian, thì tâm dần dần trong sạch. Vì vậy muốn nghiệp sạch hoàn toàn thì phải ráng tu cho miên mật. Phật dạy người tu đến chỗ giải thoát, hết khổ đau, hết sanh tử thì hết nghiệp. Vì nghiệp dẫn mình đi trong luân hồi, bây giờ muốn hết luân hồi thì phải sạch nghiệp. Nên muốn sạch nghiệp thì chúng ta phải tu đến nơi đến chốn, chứ không thể tu lơ là được.

Ngày nay nhiều Phật tử hay ỷ lại mình còn khỏe, còn trẻ lo làm ăn đã, chừng nào già hãy niệm Phật rút thì Phật sẽ đón. Tu như vậy khỏe. Phật tử tưởng tượng điều đó đơn giản như thế, nhưng nó lại không có lẽ thực. Như trong kinh Di Đà nói, chúng ta niệm Phật từ một ngày, hai ngày, ba ngày cho đến bảy ngày nhất tâm bất loạn. Khi sắp chết Phật và Thánh chúng mới đón về Cực Lạc. Nếu nhất tâm từ một ngày, hai ngày, ba ngày đến bảy ngày thì tâm có còn nghĩ gì khác Phật không? Khi đó tâm thanh tịnh tức nghiệp cũng thanh tịnh. Như vậy là sạch các nghiệp xấu rồi.

Tôi thường nói trong ba nghiệp thân, miệng, ý thì trọng tâmý nghiệp. Ý nghĩ xấu thì miệng nói xấu, thân làm xấu. Ý nghĩ tốt thì miệng nói tốt, thân làm tốt. Như vậy gốc là ý. Vì vậy Phật dạy phải nhắm thẳng vào ý. Ý hoàn toàn trong sạch thì hết nghiệp, hết nghiệp thì được Phật đón về Cực Lạc không nghi. Nếu niệm sơ sơ, còn tính làm ăn đủ thứ thì chắc Phật không đón được đâu. Nhiều Phật tử tu, mang xâu chuỗi mà vẫn còn tính toán hơn thua nhiều quá thì làm sao mà Phật rước qua bên đó được.

Lại có người bảo mình mang nghiệp về Tây phương, thủng thẳng tu nữa cũng được. Điều đó tôi không tin. Ví dụ một con chó ghẻ lác bị xà mâu ăn, nó nằm dưới đất. Bây giờ bảo đem nó lên lầu ba cho hết xà mâu, có được không? Muốn nó hết xà mâu thì phải trị thuốc. Trị lành rồi thì ở dưới đất hay trên lầu gì nó cũng mạnh. Chúng ta ngay đây tu cho sạch nghiệp, thì dầu được về Cực Lạc hay ở đây, mình cũng thanh tịnh, an vui như ở Cực Lạc vậy thôi. Đó là một lẽ thật. Nên trong kinh Di Đà, đức Phật dạy phải niệm Phật cho tới bảy ngày được nhiếp tâm bất loạn, khi lâm chung Phật và Thánh chúng mới hiện ở trước, rước về cõi Phật.

Bây giờ tôi nói tới những vị tu Thiền. Trước tiên là tu theo thiền Nguyên Thủy. Trong kinh Đại Niệm Xứ của bộ A Hàm, Phật có dạy rằng: Người nào quán Tứ Niệm Xứ: Quán thân dơ nhớp, quán cảm thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán các pháp vô ngã. Quán như vậy suốt ngày, không nghĩ gì khác, từ một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày cho tới bảy ngày, người đó sẽ chứng từ quả A Na Hàm đến quả A La Hán.

Như vậy Phật dạy dù tu Tịnh Độ hay tu Thiền cũng phải nhiếp tâm, chuyên nhất. Một bên niệm danh hiệu Phật, một bên quán Tứ Niệm Xứ. Do quán nên thấy rõ trong nội tâm, buông sạch hết không nghĩ gì khác. Nhờ không nghĩ gì khác, tâm mới được trong sạch. Tâm trong sạch là nghiệp trong sạch. Nghiệp trong sạch nên chứng quả. Chứng quả là không còn trầm luân trong sanh tử nữa. Đó là tu theo thiền Nguyên Thủy.

Kế đến tôi nói tu theo Thiền tông. Chúng tôi hướng dẫn Tăng NiPhật tử tu thiền là xoay trở lại quán sát chính mình. Khi vừa mới khởi niệm nghĩ người này, người nọ liền buông, đừng chạy theo niệm. Như vậy từ một ngày, hai ngày tới bảy ngày, đi đứng ngồi nằm đều buông hết các tạp niệm, không theo nó. Lần lần nó lặng, không khởi các niệm thì tâm thanh tịnh. Bởi vì khởi niệm là nghĩ tốt, nghĩ xấu, là tạo nghiệp. Bây giờ hết nghĩ, lặng lẽ trong sạch, đó là thanh tịnh. Thanh tịnh thì nghiệp hết. Từ đó nhận ra bản tâm thanh tịnh của mình. Chính bản tâm này mới không bị nghiệp dẫn đi trong luân hồi sanh tử nữa.

Tôi thường hay dẫn câu chuyện vua Trần Nhân Tông khi còn là Thái Thượng Hoàng, Ngài có làm bài phú “Cư trần lạc đạo”, (ở cõi trần mà vui với đạo). Kết bài phú đó, Ngài dùng bốn câu kệ chữ Hán, câu chót Ngài nói rất rõ ràng: đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền, tức là đối với cảnh mà không có một ý niệm dính mắc thì đừng hỏi chi thiền cho dư. Tại sao? Vì khi tâm không chạy theo cảnh, không dính mắc cảnh, đó là thiền rồi.

Như vậy để thấy tất cả pháp của Phật dù Tịnh độ, thiền Nguyên Thủy hay Thiền tông đều dạy chúng ta tu cho sạch hết nghiệp. Mà nghiệp phát xuất từ ý cho nên ý lặng, ý được nhất tâm, đó là trong sạch. Trong sạch thì được thấy Phật, được chứng quả, được thể nhập hoàn toàn pháp thân. Chuyện tu rõ ràng như vậy, không có gì nghi ngờ nữa.

Tất cả chúng ta tu phải đi từ bậc. Bậc thứ nhất là dừng nghiệp, bậc thứ hai là chuyển nghiệp, bậc thứ ba là sạch nghiệp. Quý Phật tử muốn tu dừng nghiệp, trước phải phát tâm qui y, nguyện giữ năm giới, để đừng sa vào hố tội lỗi. Chặn đứng không sa vào hố tội lỗi rồi, kế đó mới tiến qua bước thứ hai là làm lợi ích cho người, tạo phước lành cho mình. Đến giai đoạn thứ ba, chúng ta biết tất cả nghiệp từ ý mà sanh cho nên mình dừng niệm. Thanh lọc tâm ý trong sạch là làm cho sạch nghiệp. Sạch nghiệp thì được giải thoát sanh tử.

Phật tử giữ được năm giới thì hiện tại trong gia đình hòa vui, trong xã hội mình là người lương thiện, tốt đẹp. Đời sau do không phạm giới sát sanh nên tuổi thọ dài. Không phạm giới trộm cướp nên giàu có. Không phạm giới tà dâm nên đẹp đẽ trang nghiêm. Không phạm giới nói dối nên nói năng lưu loát, ai cũng tin quý. Không phạm giới uống rượu, xì ke ma túy nên trí tuệ minh mẫn. Tu theo pháp ấy gọi là Nhân Thừa Phật giáo, tức đời này là người tốt, đời sau càng tốt hơn.

Sang bước thứ hai, làm mười điều lành gọi là tu Thiên Thừa Phật giáo, tức tiến thêm một bậc nữa. Công đức của mình tốt đẹp hơn, xứng đáng hơn nên được sanh các cõi trời. Người chuyên làm nghiệp lành, không tạo nghiệp dữ thì được sanh cõi trời.

Đến bước thứ ba là tu sạch nghiệp. Đây là chặng đường của hàng xuất gia, tu để giải thoát sinh tử. Tuy nhiên, nói vậy không có nghĩa là pháp tu này chỉ dành riêng cho người xuất gia. Nếu người xuất gia không làm đúng như vậy thì cũng không ra khỏi sanh tử. Còn người tại gia tu sạch được nghiệp rồi cũng ra khỏi sanh tử như thường.

Cho nên nhiều Phật tử không hiểu, cứ nghĩ rằng phải vô chùa, cạo đầu như quý Thầy, quý Cô tu mới giải thoát. Nếu ở chùa mà hay sân hay giận, hoặc còn tham lam thì có giải thoát nổi không? Giải thoát là do nghiệp sạch, tâm thanh tịnh, chớ không phải vô chùa mà được giải thoát. Bởi vì tâm là gốc tạo nghiệp, nếu tâm không thanh tịnh thì nghiệp không sạch, nghiệp không sạch thì làm sao giải thoát được. Chúng ta tu là phải làm sao tiến lên cho được sạch nghiệp.

Mỗi khi Phật tử qui y đều được phát lá phái, trong lá phái có bài kệ:

Chư ác mạc tác

Chúng thiện phụng hành

Tự tịnh kỳ ý

Thị chư Phật giáo.

Dịch:

Chớ làm các điều ác

Vâng làm các việc lành

Giữ tâm ý trong sạch

Là lời chư Phật dạy.

Chớ làm các điều ác là dừng nghiệp. Giữ năm giới, không làm các điều ác là dừng nghiệp. Vâng làm các việc lành là chuyển nghiệp. Nghiệp xấu chuyển thành nghiệp tốt. Giữ tâm ý trong sạch là sạch nghiệp. Là lời chư Phật dạy, Phật Thích Ca dạy như vậy, Phật Di Đà cũng dạy như vậy. Tất cả chư Phật đều dạy như vậy hết, chứ không riêng một đức Phật nào. Như vậy quý vị thấy rằng chỉ thuộc một bài kệ đó, tu hành chân chánh cũng đủ rồi.

Quý vị nhớ giữ năm giới cho trọn là dừng được các nghiệp ác. Từ giữ năm giới rồi, tập làm thêm các việc lành. Thân làm lành, miệng nói lành, ý nghĩ lành. Nhưng nói thân làm lành, có nhiều Phật tử lại hiểu là phải bố thí, làm phước mới được. Gặp trường hợp mình nghèo quá làm sao bố thí. Đừng nghĩ vậy, vì trong nhà Phật dạy bố thí có ba: Một là tài thí, tức đem tiền của giúp người. Hai là pháp thí, tức đem pháp cho người. Ba là vô úy thí, tức đem không sợ hãi đến với người.

Lại trong tài thí có phân làm hai: Một là ngoại tài, hai là nội tài. Ngoại tài tức đem tiền của hoặc đồ đạc giúp người ta. Nội tài là đem công sức từ chính bản thân mình ra giúp người. Ví dụ như Phật tử biết đánh gió, có người hàng xóm bên cạnh bị trúng gió, mình liền hoan hỷ đánh gió, giúp cho người ta hết bệnh, đó bố thí nội tài. Như vậy người nghèo cũng có thể bố thí vậy. Hoặc khi ra đường quý Phật tử thấy một cụ già lụm cụm muốn băng qua đường, mà xe cộ nhiều quá qua không được, mình cầm tay cụ đưa giùm qua đường, đó là bố thí nội tài.

Còn như người tu không có nội tài, ngoại tài thì bố thí pháp. Đem pháp nói cho quý Phật tử nghe, giúp Phật tử nhận rõ chánh tà. Thế nào là đạo đức, thế nào là phi đạo đức, giúp quý Phật tử hiểu, sống và ứng dụng Phật pháp vào cuộc sống để thân tâm luôn được an vui, đó là bố thí pháp.

Như vậy ở thế gian ai cũng có thể bố thí cả, chứ không phải chỉ giàu mới bố thí được. Còn pháp cũng đâu chỉ hạn cuộc người tu mới có thể bố thí, quý Phật tử hiểu đạo rõ ràng rồi, thấy ai làm sai làm trật mình nhắc họ, chỉ cho họ sửa đổi cũng là bố thí pháp. Như vậy tất cả chúng ta đều có quyền bố thí tài, bố thí pháp hết, chứ không phải riêng người nào.

Thứ ba là bố thí vô úy. Vô úy nghĩa là sao? Là không sợ. Ví dụ có người đó bệnh trầm trọng, có thể qua không khỏi mà họ sợ chết quá. Bây giờ mình giải thích cho họ hiểu con người sinh ra, có sinh ắt phải có tử, không ai thoát khỏi. Hoặc tử sớm hoặc tử muộn thôi. Bây giờ anh hay chị đi trước thì chúng tôi cũng đi sau, chứ có ai ở lại mãi được đâu. Chúng ta an ủi giúp họ bớt sợ hãi, đó là bố thí vô úy. Hoặc như có đứa bé, ban đêm đi trên những đoạn đường vắng quá, nó sợ ma thì mình đốt đuốc, nắm tay dẫn nó về nhà, đó là bố thí vô úy. Nhiều lắm, không biết bao nhiêu việc để chúng ta làm. Trong những hạnh bố thí này, ai ai cũng có thể làm được, chớ không riêng quý Thầy, quý Cô mới làm được. Cho nên người tu theo đạo Phật là phải giữ gìn ba nghiệp thân, miệng, ý của mình, chứ không phải tu chỉ biết ăn chay, chỉ biết đến chùa cúng Phật là đủ.

Ngày xưaTrung Quốc vào đời Đường, có một Thiền sư, người ta chưa biết Ngài tên gì, nhưng thấy Ngài trèo lên cháng ba cây, chặt nhánh kết lại thành chỗ ngồi giống như ổ quạ. Ngài tọa thiền trên đó, nên người ta đặt tên Ngài là Ô Sào Thiền sư. Ngài tu được ngộ đạo. Ai nấy biết tin đều đồn đãi khắp. Lúc đó có một nhà thơ nổi tiếngBạch Cư Dị rất hâm mộ Phật pháp, nghe danh Ngài ông tìm tới. Thấy Ngài ngồi trên cháng ba, ông đứng ở dưới chắp tay hỏi: “Bạch Hòa Thượng, xin Ngài dạy cho con pháp yếu vắn tắt nhất để con tu.” Ngài liền nói bài kệ:

Chư ác mạc tác

Chúng thiện phụng hành

Tự tịnh kỳ ý

Thị chư Phật giáo.

Nghe vậy ông cười: "Thưa Ngài, bài kệ này đứa con nít tám tuổi cũng thuộc nữa, nói chi con”. Ngài trả lời: "Phải, con nít tám tuổi cũng thuộc, nhưng ông già tám mươi làm cũng chưa xong!". Đó, quý Phật tử thấy chưa. Câu trả lời của Thiền sư cảnh tỉnh chúng ta rất nhiều. Chúng tathể không làm các điều ác lớn, chứ điều ác nhỏ vẫn phạm. Điều lành nhỏ đã làm, nhưng điều lành lớn cũng chưa làm được. Rồi tâm ý mình đã thanh tịnh chưa? Điều này thật khó, chớ không phải dễ. Cho nên nghe qua thì đơn giản, nhưng ứng dụng tu cho đến nơi, đến chốn thì không phải là dễ.

Cho nên tất cả quý Phật tử biết đạo lý rồi phải dè dặt, canh chừng tâm của mình, canh chừng miệng của mình, canh chừng hành động nơi thân của mình. Đừng cho nó hoặc vô tình hoặc cố ý tạo những điều tội lỗi. Lẽ thực là như vậy. Cho nên nói tới tu là nói tới nhìn lại mình nhiều hơn là nhìn kẻ khác. Phải nhớ nhìn lại xem lời nói mình có ngay thẳng chưa, ý nghĩ mình có chân chánh chưa. Để từ đó lo tu sửa lấy mình. Như vậy mới gọi là người tu.

Đa số Phật tử bây giờ nhìn mình ít mà nhìn người thì nhiều, phải không? Người ta làm quấy, làm ác, khi chết họ đọa địa ngục, chớ đâu phải mình đọa địa ngục. Can dự gì mình đâu mà cứ lo nhìn người ta hoài. Nhìn người dễ sanh ra bệnh hay phê phán. Mà phê phán chắc gì đã đúng? Nên tục ngữ ta có câu "suy bụng ta ra bụng người". Hễ ta không muốn thì người cũng chẳng ưa. Điều này đúng không? Có thể đúng mà cũng có thể không đúng. Thí dụ kẻ gian tham trộm cướp, họ nghĩ những người hiền cũng như vậy. Còn người hiền lương đức hạnh, cho rằng ai cũng hiền lương đức hạnh hết thì đúng chưa? Đó là cái nghĩ sai lầm.

Như vậy ở đời chúng ta đừng chủ quan. Phải biết rằng những gì mình làm, mình chịu trách nhiệmcố gắng chuyển đổi nếu nó xấu, đó mới thành công. Còn chuyện của người khác làm, người khác nghĩ thì họ sẽ có quả riêng của họ, mình bận tâm lo chuyện của họ chi cho mất thì giờ, vô ích. Nhưng thường thường chúng ta có bệnh hay dòm ngó chuyện của kẻ khác. Chẳng những dòm ngó mà còn cố tình nghe lỏm chuyện của người ta nữa. Thấy ai nói rù rì, muốn ghé lại nghe coi họ nói cái gì. Nghe rồi liền nghĩ bậy, nói bậy, làm bậy. Thử hỏi làm sao ba nghiệp thanh tịnh được. Ba nghiệp không thanh tịnh thì mong chi được giải thoát!

Tôi nhắc lại câu chót trong bài kệ của vua Trần Nhân Tông: “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”, nghĩa là đối cảnh mà tâm mình không có niệm khởi, không dính mắc, đó là thiền vậy. Nên người tu thiền là người đối với mọi cảnh, không bị nhiễm, không bị dính, không bị kẹt. Cho nên quý vị thấy hình ảnh Phật Di Lặc có sáu đứa nhỏ vây quanh, đứa móc lỗ tai, đứa móc lỗ mũi, đứa móc miệng, đứa thọc lét, nhưng Ngài vẫn cười. Tại sao? Vì Ngài đã tự tại, không còn dính mắc. Mấy đứa bé đó tượng trưng cho sáu trần ở bên ngoài. Móc lỗ tai là thinh trần, móc lỗ mũi là hương trần; móc con mắt là sắc trần v.v... Nó quấy nhiễu mà Ngài không dính mắc. Bởi không dính mắc nên Ngài là BồTát.

Chúng ta thì dính mắc đủ cả, nhiều nhất là lỗ tai và con mắt. Lỗ tai nếu nghe người ta chửi không thèm để ý là dễ, hay vừa nghe người ta chửi liền tức giận là dễ? Nghe chửi mà không thèm để ýhết sức khó. Còn nghe người ta chửi mà nổi giận lên thì con nít cũng làm được mà.

Như vậy quý Phật tử đừng sợ người ta nói nặng nói nhẹ mình. Khi nghe nói nặng nói nhẹ mà mình bỏ lơ không thèm vướng mắc, đó không phải là thua. Mà chính nhờ đó sau này người ta mới kính mình. Còn nếu mình tranh hơn với nhau, cãi cho lanh, cãi cho thắng, thì sau này người ta cười chứ không có gì hay hết. Nên nhớ người có đạo đức không tranh giành hơn thua. Quan trọng là mình phải thắng mình. Một ý niệm xấu mình liền biết, chận nó lại, một ý niệm tốt mình liền biết và cho nó tăng trưởng. Tu như vậy mới hay chứ không phải lắng nghe chuyện thiên hạ là hay.

Chúng ta có bệnh, khi nói về mình chỉ toàn nói tốt và giấu cái xấu. Tại sao giấu cái xấu? Vì không muốn bỏ, không muốn chừa nên mới giấu. Bây giờ chúng ta biết tu rồi, cái gì xấu, cái gì dở phải thấy cho tường tận để chừa bỏ. Còn người khác mình chưa đủ khả năng giáo hóa họ thì thôi, đừng bày chuyện nói qua nói lại cho thêm phiền. Đó là quý Phật tử biết tu và khéo tu.

Như vậy bài giảng hôm nay tôi chỉ cần kết thúc bằng bốn câu kệ:

Đừng làm các điều ác

Vâng làm các việc lành

Giữ tâm ý thanh tịnh

Là lời chư Phật dạy.

Mong quý vị nhớ bài kệ này để việc tu có kết quả tốt đẹp.


TÂM HẠNH TỪ BI HỶ XẢ

Hầu hết Phật tử ai cũng biết mình tu theo đạo Phậtđạo từ bi, nhưng chưa biết thế nào là Từ thế nào là Bi. Theo chữ Hán giải nghĩa thì từ là ban vui, Bi là cứu khổ. Vậy ban vui cứu khổ là làm sao?

Từ bitình thương hoàn toàn vị tha, còn tình thương hoàn toàn vị kỷ gọi là ái kiến. Nhớ, cũng tình thương mà một bên là từ bi, một bên là ái kiến. Từ bi là nhân đưa con người tới an vui giải thoát. Ái kiến là nhân trói buộc con người con người đưa con người tới trầm luân sanh tử.

Tôi xin hỏi tất cả quý vị có mặt ở đây, các vị có tâm từ bi không? - Chắc ai cũng có tình thương hết nhưng tình thương đó không biết vị tha hay vị kỷ. Nhất là các bà tình thương dồi dào lắm. Khi xem cải lương hay chiếu bóng thấy người trong phim hoạn nạn thì khóc lu bu. Thương người hoạn nạn đó có phải từ bi? – Dường như là từ bi , nhưng không phải. Hầu hết chúng ta ai cũng có tình thương, nhưng tình thương vị kỷ nhiều hơn là vị tha. Thậm chí ở trong đạo mà tình thương vị kỷ vẫn còn!

Bây giờ tôi giản trạch cho quý vị hiểu thế nào là tình thương vị kỷ, thế nào là tình thương vị tha. Tình thương vị kỷ là thương người nhưng vì mình mà thương. Còn tình thương vị tha không phải vì mình mà vì người mà thương.

Ví dụ: Một phật tử lớn tuổi đi đường xách giỏ nặng, có đứa trẻ cũng đi trên đường xách dùm cái giỏ về tới tận nhà không lây tiền công . Phật tử đó nói đứa trẻ dễ thương quá! – Tại sao nó dễ xương? Vì nó xách dùm mình cái giỏ nặng mà không đòi tiền công , nên mình thương. Nếu mình đang xách giỏ nặng mà nó gởi thêm món gì nặng khoảng một ký nữa thì chắc là dễ ghét. Như vậy chúng ta thương người vì người làm lợi cho mình nên mình thương. Có những người rất chân chính ngay thẳng mà họ không làm lợi cho mình thì mình không thương. Ví dụ Phật tử buôn bán mỗi năm phải đóng thuế năm ngàn. Đến kỳ đóng thuế, nhân viên thuế vụ thâu đúng năm ngàn theo luật định không bớt đồng nào thì chú ấy không dễ thương. Người làm đúng luật mà không có lợi cho mình thì mình không thương. Ngược lại người làm lợi cho mình mà sai luật mình vẫn thương. Như vậy, chúng ta đặt tình thương trên bản ngã ích kỷ của mình. Tình thương nầy rất hạn hẹp và trói buộc. Gần nhất là vợ chồng thương nhau cũng là loại tình thương ích kỷ trói buộc.

Xưa lúc Phật còn tại thế, một hôm có người ngoại đạo hỏi:

- Cô Đàm, ái là khổ đau hay hạnh phúc?

Phật đáp:

- Ái là gốc của khổ đau.

Người ngoại đạo nghe Phật đáp lắc đầu không chấp thuận. Câu nói nầy của Phật đồn tới tai vua Ba Tư Nặc. Vua gọi vợ là phu nhân Mạt Lỵ, nói:

- Ngài Cô Đàm nói ái là gốc của khổ đau, trẫm không đồng ý. Như trẫm thương khanh , thương con và thương thần dân là khổ sao?

Phu nhân Mạt Lỵ đã quy y với Phật hiểu đạo lý, bà đáp:

Xin bệ hạ nghĩ, hiện giờ bệ hạ thương thiếp. Giả sử thiếp thương một người đàn ông khác thì bệ hạ sẽ làm gì?

- Sẽ giết.

Như vậy, mình thương người mà người không thương, lại thương người khác thì giết, không phải gốc khổ là gì? Tình thương đó vì mình hay vì ai? – Vì mình nên mất cái mình thích, liền nổi giận. Thương đó không phải tình thương vị tha mà là vị kỷ nên khổ.

Lại một hôm vua Ba Tư Nặc đến hỏi Phật:

- Nghe Thế Tôn nói ái là gốc khổ đau, con chưa hiểu điều đó, xin Thế Tôn giảng dạy.

Phật đáp bằng câu hỏi:

- Ví như dân trong nước có một vùng xảy ra tai nạn chết hết năm mười người. Đại Vương nghe tinđau khổ lắm không?

- Con thương chớ không khổ đau lắm.

Phật hỏi tiếp:

- Bây giờ giả sử công chúa con Đại Vương chết, Đại Vương thấy thế nào?

- Con rất đau khổ.

- Tại sao dạn chết năm mười người mà Đại Vương không khổ, chỉ một công chúa chết mà Đại Vương lại khổ?

Vua trả lời không được.

Thường dân chết năm mười người nhà vua chỉ thương chút thôi mà không khổ. Vì đối với dân nhà vua không có ái nên không khổ, còn đối với công chúa nhà vua có ái nên có khổ. Vậy quí vị có thấy ái là gốc của khổ đau chưa?- Dạ thấy. Đức Phật nói sanh tử trong mười hai nhân duyên, đầu mối là vô minh. Trong đời sống hiện tại, ái và thủ là tên khác của vô minh đưa con người tới sanh tử luân hồi. Vậy ái là gốc của luân hồi. Tất cả chúng ta có ái không? – Có. Muốn hiểu rõ từ bi chúng ta phải hiểu rành ái và từ bi khác nhau chỗ nào.

Từ bi là vì người khổ mà thương, thương không cột ràng. Ví dụ thấy người mù, người bịnh phong nghéo đói đi xin ăn, quí vị thương người tật nguyền giúp họ năm ba trăm cho đỡ khổ. Về sau nghe họ chết, tuy có cảm thương nhưng không khổ. Vì đó là lòng từ bi vị tha không trói buộc. Còn nếu con cháu trong nhà chết, quí vị than khóc xỉu lên xỉu xuống, có người muốn tự tử chết theo nữa. Vì tình thương này là ái, có trói buộc. Ai càng nặng thì khổ càng nhiều.

Lại có trường hợp ái người ta mà không được như ý thì trở thàng sân hận thù hằn. Chẳng hạn trong tình thương vợ chồng, nếu chồng hay vợ thay đổi tình cảm họ có thể giết nhau. Như vậy thương mà giết hại thì có thật thương không? Nếu thật thương thì đâu nỡ hại, mà hại thì đâu thật thương! Đây là tình thương của ích kỷ. Vì thương ích kỷ cho nên hại nhau. Do đó nói thương hại là vậy. Nếu thương vị tha không trói buộc thì không hại ai. Thấy người nghèo khổ thương, giúp là giúp, không bắt họ làm cái gì cho mình hết, họ không cần nữa là thôi không giúp. Họ đến với mình cũng được, họ đến với ai cũng tốt. Vì đây là lòng thương của từ bi vừa rộng rãi bao la, vừa làm cho người bớt khổ. Thương mà hết khổ, còn ái thì xiết chặt, nên ái nhiều là khổ nhiều. Chẳng những đau khổ đời nầy mà còn khổ ở những đời sau. Vì thương ai nhiều thì không muốn xa cách, khi chết sẽ tìm gặp lại nữa. nên trầm luân chết đi sanh lại buộc ràng không dứt.

Lại có những viêc làm thoáng thấy như từ bi, nhưng lại vị kỷ. Ví dụ thấy người đói rét hoạn nạn thương giúp đỡ họ, nhưng lại nghĩ mình giúp họ mai kia họ sẽ đền ơn lại. Trường hợp này không phải là từ bi. Lại có nhiều người có tâm tốt thấy người tật nguyền ăn xin, sẵn sàng đem tiền giúp đỡ, nghĩ giúp đỡ cho có phước sau này mình hưởng. Trường hợp này chưa thật là từ bi. Vì cho mà có hậu ý trông mong lợi cho mình về sau. Từ bi là thương giúp người mà không chút trông mong người đền trả, không mong lợi cho mình mai sau. Tâm từ bi như thế mới rộng lớn thênh thang.

Ngày xưa tôi có viết một bài đăng báo Từ Quang tựa là “Nhân hoa mà quả cỏ”. Mới nghe qua ai cũng ngạc nhiên hết. Câu chuyện này có liên hệ đến từ bi và ái mà chúng ta đang nói. Năm đó tôi bịnh, lên Bảo Lộc cất một cái am vừa tu vừa dưỡng bịnh. Lúc đó có mấy người tới thăm, tặng tôi những hột hoa Đà Lạt để trồng. Vì thất tôi mới cất thấy cũng quạnh hiu, trồng hoa cho nó tươi đẹp. Tôi nhận hột hoa, xới một khoảng đất, rải hột, hằng ngày tưới nước đều đặn. Khoảng một tuần thấy nó lên lấm tấm, tôi nghĩ mầm hoa mạnh. Tiếp tục tưới, khoảng nữa tháng sau tôi nhìn kỹ thấy toàn cỏ, không có cây hoa nào cả. Tôi thắc mắc, rõ ràng mình rải hột hoa sao lại lên cỏ? Tôi truy nguyên ra mới thấy mấy đàn kiến bò vô liếp đất tha hết hột hoa đi rồi mà tôi không hay, cứ tưới nước nên cỏ nó lên.

Sở dĩ tôi viết bài "Nhân hoa quả cỏ" là vì ngày xưa có một người đến than với tôi rằng: Gia đình em chồng con chết hết để lại mấy đứa cháu, con đem về nuôi cho ăn học, nhưng khi lớn khôn sao nó không thương con mà có vẻ phản bội lại. Bà lại thắc mắc tại sao chúng con làm việc tốt như vậy mà kết quả không được tốt.

Sau đó tôi tìm hiểu qua mấy đứa cháu thì nó kể: “Thực ra tui con nhờ bác nuôi, nhưng nuôi thì nuôi vậy. Mỗi sáng đi học, con bác thì bác cho hai đồng, tụi con thì một đồng, những việc nặng khó khăn thì bác giao cho tụi con làm, việc nhẹ thì để dành cho con bác. Cho tới đi chơi hay cái gì bác cũng giành ưu tiên cho con bác, tụi con chỉ được một phần nhỏ thôi”.

Hồi nhỏ cha mẹ nó chết, nó bơ vơ được bác đem về nuôi thì nó rất mừng, khi lớn lên nó thấy tình thương của bác không thật, nuôi nó như nuôi đầy tớ, nên nó không thương mà còn như phản lại. Quí vị đừng tưởng mình thương đem cháu về nuôi, nó lớn lên nó phải thương mình, nhưng khi lớn lên chẳng những nó không thương mà còn muốn phản nữa là tại sao? Việc này giống như tôi gieo hột hoa, đinh ninh sẽ lên cây hoa, chỉ cặm cụi tưới thôi, mà không canh chừng kiến tha hột hoa đi. Cũng vậy, người này nuôi cháu nghĩ mình có công nuôi là có ơn với nó rồi, mà không coi lại tình thương của mình đối với nó có đúng với tình thương của cha mẹ đối với con hay không, hay mình vẫn thấy nó là cháu gượng nuôi để nhờ. Chính vì gượng nuôi để nhờ nên nó không biết ơn. Cái thương này chưa thật là thương, vì nuôi mà đòi hỏi nó phải trả lại cho mình bằng công sức và xử sự với nó không công bằng. Còn thấy con cháu cách biệt quá, nên mất hết tình thương. Nếu con và cháu mà mình đối xử như nhau thì nó mới kính thương.

Chúng ta bắt đầu giúp người bằng tình thương, nếu không khéo nhìn kỹ, lâu ngày bị lệch mà không hay. Cái gì làm cho lệch? - Cái ích kỷ của bản ngã khiến cho cái của ta thì ưu việt sung túc hơn, cái không thuộc về ta thì đặt ở phần kém. Đó là tình thương không phải từ bi mà là thứ tình thươngxen lẫn ích kỷ của bản ngã. Nếu có bản ngã dự vào thì tình thương thể hiện qua việc làm trước sau cũng vị ngã. Còn tình thương do từ bi thì không ích kỷ; thương người, giúp cho người được an vui mà không mong cầu đòi hỏi cái gì hết.

Bây giờ nói đến hạnh từ bi. Trong các vị Bồ Tát, Bồ Tát Quán Thế Âm biểu hiện cho hạnh từ bi.

Ngài là nữ hay nam mà tượng nào cũng thấy dáng người nữ và được gọi là mẹ Quán Thế Âm? – Bồ Tát không có nam nữ, đây là hình ảnh biểu trưng cho đức từ bi, tình thương bao la không bờ bến. Mẹ hiền (nữ) thương con không bờ bến, dù cho con co thói hư tật xấu đến đâu cũng thương, nên gọi là từ mẫu. Mà từ mẫu thì gần với hạnh từ bi, cha ít gọi là từ phụ mà gọi là nghiêm phụ. Cho nên con cháu ngỗ nghịch thì cha trị, chớ mẹ ít trị được. Vì cha thì nghiêm, con cháu hư hỏng cha quở phạt, còn mẹ thì an ủi vỗ về, nên gọi là từ mẫu. Vì vậy tượng Bồ Tát Quán Thế Âm tượng trưng cho từ mẫu (người nữ).

Trong kinh Phổ Môn có đoạn: “Ưng hiện đồng nam thân đắc độ giả, tức hiện đồng nam thân đắc độ. Ưng hiện đồng nữ thân đắc độ giả, tức hiện đồng nữ thân đắc độ”. Tùy chúng sanh muốn hiện thân nào thì Bồ Tát Quán Âm hiện thân đó để độ. Như vậy Bồ Tát Quán Âm không nhất định là nam hay nữ. Nhưng vì hạnh từ bi gần với từ mẫu nên tạc tượng người nữ, tay trái cầm cái bình, tay phải cầm cành dương. Ngài cầm cái bình và cành dương để chi vậy? Có phải chúng sanh khổ, lạy mẹ Quán Âm, Ngài nhúng cành dương vào bình nước rưới cho mát mẻ hết khổ không? – Không. Bình nầy tên là tịnh bình chứa nước cam lồ. Trong kinh Phổ Môn có câu: “Nam mô Thanh Tịnh Bình Thùy Dương Liễu Quán Âm Như Lai cam lồ sái tâm nguyện”. Sái tâm nguyện là nguyện rưới nước cam lồ cho mọi người được mát mẻ. Đó là hình ảnh tượng trưng.

Bình thanh tịnh tượng trưng cho người giới đức thanh cao trong sạch, nước cam lồ tượng trưng cho lòng từ bi. Chỉ những người giới đức thanh tịnh mới có lòng từ bi. Phật tử thọ năm giới và giữ năm giới thanh tịnh mới có lòng từ bi. Tại sao? Vì nếu phạm giới sát sanh thì không có lòng từ bi. Nếu phạm giới trộm cắp cũng không có lòng từ bi. Nếu phạm giới trộm cắp cũng không có lòng từ bi. Nếu phạm giới tà dâm cũng không có lòng từ bi. Nếu phạm giới uống rượu cũng không có lòng từ bi. Như vậy năm giới mà phạm thì lòng từ bi không thể phát khởi. Muốn có lòng từ bi phải giữ giới cho thanh tịnh. Thế nên muốn có lòng từ bi trong sáng thì phải có giới đức trong sạch. Qúi vị kiểm lại coi những giới mình đã thọ có giữ thanh tịnh không? Nếu thanh tịnh thì mới phát lòng từ bi được, nếu có một giới không thanh tịnh thì chưa từ bi. Chẳng hạn vì mình mà giết hại sinh vật, vì mình mà trộm cắp của người, vì thú vui của mình mà làm điều xằng bậy làm khổ người, sao gọi là từ bi được? Người làm những việc đó đều không có từ bi. Muốn thực hiện hạnh từ bi điều tiên quyết là phải giữ giới. Giữ giới trong sạch tức là có bình thanh tịnh mới chứa được nước cam lồ.

Nước cam lồ là gì? Cam là ngọt, lồ đọc đúng là lộ là sương, ban đêm sương đọng lại thành nước vừa trong sạch vừa mát mẻ vừa ngọt ngào. Trong sạch mát mẻ ngọt ngào là đức tánh của từ bi. Nếu người có tình thương hoàn toàn vị tha thì tình thương đó hết sức trong sạch, ai khổ thì dùng lời an ủi, dùng phương tiện giúp đỡ. Gặp người có lòng từ bi, kẻ khổ được mát mẻ an ổn, liền hết khổ. Giả sử chúng ta đang giận ai đùng đùng mà người có uy đứctừ bi đến nói những lời chơn thật nhẹ nhàng khuyên giải, cơn giận nguội dần chúng ta được mát mẻ an ổn. Thế nên lòng từ bi tới đâu thì con người an vui mát mẻ tới đó. Do đó từ bi rất quan trọng chỉ có nước cam lồ mới đủ sức tượng trưng. Người có lòng từ bi thì sẵn sàng quêm mình vì mọi người, ngược lại nếu vì mình mà quên mọi ngườiích kỷ nhất.

Cành dương tượng trưng cho đức nhẫn nhục. Cành dương mềm mại tha thướt, gió thổi chiều nào dương ngã theo chiều nấy, có vẻ yếu mềm nhưng không gãy,

Thực hiện hạnh từ bi tiên quyết phải giữ giới, kế đó là nhẫn nhục. Nếu giữ giớikhông nhẫn nhục thì không thể nào thực hiện hạnh từ bi được. Tại sao? Vì những chúng sanh đang khổ là những chúng sanh ít phước dễ bực bội cọc cằn, hay làm những điều xằng bậy. Nếu từ bi mà thiếu nhẫn nhục khó mà giúp đỡ họ trọn vẹn được. Ví dụ một bác sĩ giỏi trị bịnh điên, có một bịnh nhân tới chữa trị, vừa vào phòng mạch họ nổi cơn la lối chửi bới bác sĩ, có khi còn đánh đập nữa. Nếu bác sĩ thiếu nhẫn nhục, bực tức đuổi bệnh nhân về thì không trị được bệnh cuồng điên cho bệnh nhân. Như vậy một bác sĩ giỏi muốn cứu được bệnh nhân điên cuồng phải nhẫn nhục chịu đựng cơn la lối chửi bới đánh đập mới cứu được họ. Nếu không thì lòng từ bi không thể thực hiện được. Đây là điều kiện hết sức thiết yếu.

Các Phật tử làm việc từ thiện xã hội cũng vậy. Có những người tật nguyền quí vị muốn giúp họ. Hiện tại quí vị có một ngàn đồng thấy mười người ăn xin, đổi mười tờ một trăm đồng để cho mỗi người một trăm. Cho được năm người, thì những người vừa xin trở lại xin nữa. Nếu quí vị có đức nhẫn nhục thì nhỏ nhẹ khuyên họ nên nhường cho những người chưa có và tiếp tục chia cho năm người còn lại, thì việc giúp đỡ đó mới vuông tròn. Nếu nổi nóng bỏ đi thì không giúp được họ. Qúi vị thấy chỉ một việc nhỏ mà thiếu đức nhẫn nhục thì không làm được huống nữa là việc lớn.

Xưa khi Phật còn tại thế, lúc bấy giờ Ngài còn trẻ đi giáo hóa tới một làng nọ. Làng nầy có vợ chồng người Bà-la-môn là một thầy tướng số giỏi, giàu, sanh được một cô con gái thật đẹp. Ông kén rể, muốn chọn một chàng rể có tướng tốt, tương lai sẽ làm vua một nước lớn. Bấy giờ Phật khất thực đi ngang qua nhà ông. Ông thấy Phật có 32 tướng tốt ở thế gian tương lai sẽ làm Chuyển luân Thánh Vương cai trị cả chư hầu. Phật khất thực xong tới cội cây ngồi thọ trai. Bấy giờ ông rủ bà ra để chỉ những tướng tốt của Phật cho bà xem. Ông nói với Phật:

- Tôi có một đứa con gái đẹp lắm, tôi muốn gả cho ông.

Phật đáp:

- Con gái ông đẹp, nhưng với mắt tôi đó chỉ là cái đãy da hôi thúi, tôi không nhận.

Nghe nói vậy ông Bà-la-môn chán nản về thuật lại câu chuyện cho con gái ông nghe. Cô ta là người tự cao, hãnh diện về sắc đẹp của mình, nay bị Phật nói là cái đãy da hôi thúi, tự ái, lòng sân hận nổi lên thề sẽ trả thù Phật. Thời gian sau cô được một ông vua kén làm hoàng hậu. Bấy giờ Phật vô tâm đi giáo hóa ở nước bà. Hoàng hậu được tin Phật tới xứ mình. Bà liền thực hiện việc báo thù, bèn tập trung đám côn đồ du đãng lại vây đón đường Phật chửi mắng thậm tệ. Họ mắng chửi quá, tôn giả A-nan không chịu nổi bén nói:

- Thưa Thế Tôn, chúng ta hãy đi nơi khác.

Phật hỏi:

- Đi đâu, A-nan?

- Đi nơi nào mà con người không đối xử thậm tệ như thế nầy.

- Giả sử chúng ta đi nơi khác, họ cũng đối xử thậm tệ như thế nầy nữa thì phải làm sao A-nan?

- Nếu họ đối xử thậm tệ nữa thì chúng ta về Xá Vệ, Ma Kiệt Đà, Ca-tỳ-la-vệ, nơi mà Thế Tôn đã giáo hóa.

- Nầy, A-nan, giả sử có một thầy thuốc giỏi, trước nhà để bảng: “Tôi chỉ trị cho những người bệnh nhẹ, người bệnh nặng hãy đi nơi khác” có được không?

- Thưa Thế Tôn không, thầy thuốc giỏi thì phải trị cho người bệnh nặng.

- Cũng vậy, người ở Xá Vệ, Ma Kiệt Đà… đã được ta giáo hóa rồi họ không còn mê muội xấu ác nữa. Những người ở đây họ còn mê muội cần sự giáo hóa của ta.

Tôn giả A-nan im lặng, những người mắng chửi Phật nghe Ngài nói vậy cảm động không chửi nữa, bèn nói:

- Cồ Đàm hãy ở lại đây giáo hóa, chúng tôi cần sự giáo hóa của Ngài.

Chúng ta thấy, đã thành Phật rồi, mà Ngài còn bị mắng chửi đối xử tệ bạc. Nhưng Ngài từ bi muốn giáo hóa những người nầy, nên Ngài chấp nhận sự chửi mắng của họ mới giáo hóa họ được. Có lòng từ bi mà thiếu đức nhẫn nhục thì không thể thực hiện hạnh từ bi. Vì vậy phải có cành dương mới rưới được nước cam lồ. Tăng NiPhật tửlòng từ bi muốn cứu giúp người phải lập đức nhẫn nhục mới thực hiện được hạnh từ bi. Muốn thực hiện hạnh từ bi và được gọi là từ mẫu thì phải nuôi đức nhẫn nhục chịu mọi cực khổ, chịu mọi khó khăn mới làm lợi ích cho người được. Không phải mang lòng từ bi đến với đời rồi được mọi người đón rước kính nể. Làm lợi cho người có khi họ xử tốt cũng có lúc họ xử tệ, lòng mình vẫn phải làm được.

Tôi xin hỏi các vị lạy Bồ Tát Quán Thế Âm cầu Ngài cứu độ cái gì? Cầu Ngài rưới nước cam lồ mát mẻ cho hết phiền não, hay theo hạnh từ bi của Ngài để chúng ta giữ giớinhẫn nhục để thực hiện hạnh từ bi như Ngài? Hạnh từ bi không thể nói suông. Làm việc từ thiện mà không giữ giới hay thiếu nhẫn nhục thì không bao giờ làm được. Cho nên học Phật pháp chúng ta phải nắm cho được cái căn bản, phải nắm vững từng phương tiện ban đầu cho đến cuối cùng. Nếu phương tiện ban đầu không biết thì phương tiện cuối cùng không thể thực hiện được. Vậy qua hình ảnh Bồ Tát Quán Thế Âm, chúng ta ai cũng có thể thực hiện được hạnh từ bi. Nhưng muốn thực hiện được phải giữ giới thanh tịnh và tu hạnh nhẫn nhục.

Bây giờ tới tâm hỷ xả. Hỷ là vui, xả là bỏ. Hỷ xả có dễ hơn từ bi không? Hiện tại quí vị vui ít mà buồn nhiều là tại sao? Vì ngồi lại nhớ giận người nầy, buồn người kia, trách người nọ. Giận buồn trách nên nét mặt không vui. Nếu không buồn giận ai cả thì nét mặt vui tươi an ổn. Người đời lòng thường chứ chấp cái tốt cái xấu. Cái tốt là mình giúp ai hay ai giúp mình cũng nhớ, cái xấu là mình giúp người bị người xử tệ hay vô cớ mà người ta sân giận gây oán thù với mình cũng nhớ và nhớ nhiều nhất. Thế nên ngồi lại nghĩ nhớ lung tung. Nhớ những người mình đã ban ơn giúp đỡ nay họ bội bạc rồi buồn giận than trách. Nhớ người hung hăng vô cớ gây tai vạ cho mình rồi sanh bực tức sân giận. Cả ngày buồn nhiều hơn vui. Nếu giúp đỡ người, làm việc tốt cho ai, xong rồi xả liền không chứa chấp thì an ổn vui tươi. Còn chứa chấp là còn nhớ công mình giúp họ, nếu họ quên ơn hay phản bội thì buồn giận. Làm xong xả liền thì không buồn giận ai cả. Đó là cái xả thứ nhất.

Cái xả thứ hai là xả phiền não, giận hờn, oán ghét. Các vị có m8at5 ở đây trong lòng quí vị có giận hờn oán ghét ai không?

- Chắc không nhiều thì ít, ít ai không có lắm. Do chứa những thứ đó trong lòng nên mỗi lần nhớ lại là bực bội buồn giận. Mỗi ngày nhớ khoảng mười người, mỗi người chùng 15 phút là phiền não 15 phút, là mười lần như vậy hết mấy tiếng đồng hồ phiền não. Do chứa chấp phiền não trong lòng nên vui ít buồn nhiều. Ở đây có ai suốt ngày bình tĩnh không có phiền não bực bội không?

- Có ít mà. Nhớ xả hết là an vui, không xả là không vui.

Tất cả quí vị có mặt ở đây có ai muốn đời mình tối tăm buồn khổ không? Hay muốn đời mình lúc nào cũng tươi sáng an lạc ai thấy cũng mến thướng? Chắc ai cũng muốn an vui, nhưng lại chứa những niệm phiền giận thì làm sao vui được! Muốn không phiền giận thì phải xả hết niệm cố chấp oán ghét trong lòng thì được an ổn vui tươi. Nhưng mà thế gian quí bà có cái giỏi nhớ dai, giận ai nhớ hoài không quên. Mới nghe thấy như nhớ giỏi nhưng không ngờ hai mươi năm đó là hai mươi năm đau khổ. Vì chứa trong lòng, mỗi lần nhớ tới chị đó là bực bội giận tức, mà giận tức là khổ, lại còn làm khổ lây cho người khác nữa. Ví dụ cho cái duyên nào đó bất chợt nhớ tới hình ảnh người mình giận, bất chợt con cháu tới thưa hỏi công việc trả lời cộc lốc làm cho nó buồn lây. Vì trong lòng đang phiền giận làm sao nói nhẹ nhàng vui vẻ được. Lòng bực bội không chỉ có ở ban ngày mà ban đem lúc ngủ ngo giấc giựt mình thức dậy nhớ đến người mình giận thì trằn trọc mất ngủ. Người đời quên ăn mất ngủ là tại chứa chấp phiền giận. Bây giờ buồn giận ghét thương bỏ hết. Ai chứa nó là dại, vì chứa nó như chứa thuốc độc trong bụng vậy. Biết nó là độc thì xổ hết ra mới hết khổ. Không xả được thì khổ dài dài. Khổ đau là tại mình cố chấp không chịu buông xả thương ghét buồn giận. Phật dạy phải hỷ xả hết, đừng chấp giữ cái gì cả. Nếu chấp giữ chẳng những tai họa ở đời nầy mà đời sau còn khổ nữa. Vì khi chết niệm thương ghét đó chứa nặng trong lòng, lúc thọ thân sau nó chiêu cảm gặp lại. Chính cái thương nhiều hay ghét nhiều là động cơ để gặp lại nhau, rồi theo ân oántiếp tục trả vay gây khổ cho nhau nữa. Thế nên trong gia đình có những đứa con rất mực hiếu thảo, lại có những đứa con ngỗ nghịch phá tan gia bại sản là tại sao? Tại hạt giống thương ghét nầy đây. Thương nhau nhớ nhau tìm gặp nhau đối xử tử tế. Ghét nhau cũng nhớ nhau tìm gặp nhau đối xử tệ bạc với nhau. Trong kinh Pháp Hoa Bồ Tát Thường Bất Khinh đến với ai cũng chắp tay xá và nói: “Tôi không dám khinh các Ngài vì các Ngài sẽ thành Phật”. Nghe Ngài nói như thế có người hoan hỷ, nhưng lại có những người không bằng lòng dùng gậy gộc đánh đập Ngài. Tuy bị đánh đập, Ngài chạy xa xa cũng nói: “Tôi không dám khinh các Ngài vì các Ngài sẽ thành Phật”. Về sau người hoan hỷ cũng gặp Ngài ở hội Linh Sơn, người đánh đập cũng gặp Ngài ở hội Linh Sơn. Vì đã gieo duyên với Ngài rồi; kẻ duyên thuận, người duyên nghịch.

Sau khi chết tái sanh quí vị có muốn gặp lại những người mà mình thù ghét không? – Nếu không muốn thì ngay bây giờ hãy xả bỏ, không chất chứa trong lòng niệm oán ghét người. Nếu còn chất chứa trong lòng thì sau sẽ gặp lại. Có nhiều gia đình có những đứa con ngỗ nghịch phá sản đuổi nó không đi, trái lại những đứa con hiếu thảo lại chết sớm. Tại sao vậy? Vì mấy người ân nghĩa với mình ở đời trước, đời nầy gặp lại trả xong nợ họ đi. Còn mấy người mình oán ghét nó trả cho hết oán ghét mới đi. Như vậy có ân có oán mới gặp nhau, hết ân hết oán là hết gặp, tâm thanh tịnhNiết bàn, không còn đi trong sanh tử nữa. Cho nên đức ỷ xả rất là quan trọng, nó đem lại cho chúng ta sự an vui trong hiện tạimai sau. Hơn thế nữa, buông xả tất cả thì tâm thnah tịnh, Niết bàn hiện tiền tự do tự tại.

Bây giờ tới hạnh hỷ xả. Trong các vị Bồ tát thì ngài Di Lặc tượng trưng cho hạnh hỷ xả. Tượng Bồ tát Di Lặc có sáu đứa bé, đứa móc tai, đứa móc mũi, đứa móc miệng… mà Ngài vẫn cười tỉnh bơ. Những đứa bé đó tượng trưng cho sáu đứa giặc: ở mắt, ở tai, ở mũi, ở lưỡi, ở thân, ở ý. Chúng nó cứ quấy phá hoài mà Ngài vẫn thản nhiên cười một cách tự tại, vì Ngài đã thực hiện được hạnh hỷ xả. Chúng tathực hiện được hạnh hỷ xả không? Thí dụ: Nghe khen một câu vừa lỗ tai, lúc đó mắt sáng lên, mũi nở ra là đã mất bình thường, còn nghe chê một câu liền tự ái nổi giận lên đó là bị đứa giặc móc lỗ tai làm cho mất bình tĩnh rồi. Còn những đứa giặc ở mắt, ở mũi, ở lưỡi… cũng vậy. Chẳng hạn đi làm trưa về mệt, bụng nghĩ sẽ được một bữa cơm ngon nhiều món ăn đặc sản. Nhưng bữa cơm trưa đó chỉ có rau luộc với nước tương khi ăn nuốt không vô, mệt, lòng bực bội muốn nổi sân lên. Như vậy sáu căn tiếp xúc với sáu trần lúc nào cũng bị chi phối làm cho chúng ta mất tự chủ. Còn Bồ tát Di Lặc thì mặc tình căn trần giao tiếp nhau không ngăn ngại, Ngài tự nhiên cười hỉ-hạ. Vì vậy tượng trưng Ngài bằng tượng ông già mập bụng phệ, mặc áo phạch ngực, miệng cười toe toét, không có chút phiền hà bực bội khi sáu đứa giặc quấy phá cả mắt, tai, mũi, miệng… Đó là Ngài thực hành được hạnh hỷ xả. Có nhiều vị học đạo nói: Thầy dạy xả tôi cũng xả. Đứa nào hồi trước làm tôi giận nay tôi bỏ. Tuy nói bỏ nhưng khi gặp lại trong lòng vẫn còn hầm hầm. Nói bỏ thì nói được nhưng khi thực hành thì không làm được. Như vậy chỉ xả ngoài miệng mà chưa thật xả trong lòng. Chúng ta phải thật sự xả để khi gặp người gặp cảnh trái ngược, lòng vẫn an vui tự tại. Hình ảnh Bồ tát Di Lặc và sáu đứa bé móc mắt móc tai v.v… nói lên hạnh hỷ xả thật sự trong khi đối diện với những cái bức xúc mà vẫn an nhiên vui vẻ. Người xả được như vậy thì cuộc đời đâu có cái gì làm cho khổ.

Chúng ta ứng dụng được hạnh hỷ xả trong cuộc sống hằng ngày thì cuộc đời thật vui tươi hạnh phúc. Ngược lại người câu mâu cố chấp, chuyện gì cũng muốn ăn thua, lúc nào cũng chực sẵn để đối địch thì bao giờ an ổn? Người ta nói nặng mình một câu, mình trả lại hai ba câu thì làm sao an ổn? Người không có đức hỷ xả thì chính bản thân họ đã khổ mà còn làm khổ lây cho người chung quanh nữa. Sống gần người hay câu mâu cố chấp chúng ta cảm thấy không thoải mái, không vui. Còn ở gần người có tâm hỷ xả có chuyện gì cũng hoan hỷ bỏ qua, chúng ta thấy rất thoải mái vui vẻ.

Chúng ta tu là đem nguồn vui cho chính mình, cho mọi người cgung quanh. Tu hạnh từ bi, nếu gặp người khổ, thì sẵn sàng cứu giúp là đem nguồn vui đến cho người. Người vui chúng ta cũng nhẹ nhàng vui theo. Hạnh hỷ xả cũng vậy, tuy người làm phiền nhiễu mình, nhưng mình hoan hỷ bỏ qua không cau có bực bội. Mình vui, họ không làm sao phiền nhiễu mình được. Như vậy hai hạnh từ bi hỷ xả là hai hạnh đem lại an vui hạnh phúc cho con người. Chẳng những cho bản thân mình, cho gia đình mình mà cho tất cả chúng sanh nữa. Thế nên Phật dạy chúng ta tu luôn luôn phải học hạnh từ bi hỷ xả, nhưng quí vị có chịu học đâu! Nếu có từ bi thì từ bi giới hạn, có nhiều hướng ái kiến. Hoặc có hỷ xả thì cũng xả chừng mực, chỉ xả với con cháu thôi, chớ người ngoài thì không xả; con cháu làm gì phiền, giận một lát rồi bỏ, nhưng người ngoài làm điều gì mích lòng thì nhớ hoài không quên. Như vậy chỉ xả có một chút thôi, chớ không có xả nhiều. Chúng ta học Phật pháp phải làm sao ngay trong đời nầy, bản thân chúng ta là những con người hạnh phúc, rồi đem hạnh phúc cho những người chung quanh. Đó là tu, chớ không phải tu là chờ trong gia đình hữu sự hoặc tai nạn khổ sở quá mới tới chùa dâng hương hoa cúng lạy Phật, cầu Phật độ cho tai qua nạn khỏi. Tai nạn qua rồi sẽ ăn chay hoặc xuống tóc trả lễ. Qúi vị có cầu nguyện vậy không? Xuống tóc có ích lợi gì cho người? Đợi tai nạn tới mới chịu tu. Khi tai nạn qua rồi, tu trả nợ xong thì đâu vào đó. Tu như vậy là tu hời hợt, người thực tu là phải thực hành hạnh từ bi hỷ xả mới được an vui hạnh phúc cho bản thân mình và giúp mọi người được an vui hạnh phúc. Ngược lại tu kiểu hời hợt như vừa kể, chẳng những không được an vui hạnh phúc mà càng đi chùa càng tu, phiền não càng nhiều. Đi chùaphiền não nhiều là tại sao? Tại vì chấp nê quá! Chẳng hạn có một Phật tử khá giả đến chùa trước thầy trụ trì mời uống trà, mình tới sau lúc thầy đang bận quên mời uống nước. Hôm đó đi chùa về buồn trách thầy tu mà trọng nhà giàu khinh nhà nghèo. Lại, một buổi tối đến chùa tụng kinh sám hối, các đứa trẻ nó tới trước đứng trước, mình đi sau đứng sau. Về nhà cũng trách mấy đứa nhỏ đi chùa mà không biết đạo lý gì cả, tụng kinh dá đứng trước mấy bà già. Đủ thứ chuyện, đi chùa mà cái gì cũng chấp, cái gì cũng phiền trách. Đi chùa như vậy thì càng đi chùa càng phiền não. Thế nên người biết tu là tập hỷ xả, bỏ hết không có gì quan trọng cả. Cái thân của quí vị rồi cũng xả bỏ. Nơi thân chúng ta có hai phần xả: một là xả ngoại tài, hai là xả nội tài. Xả ngoại tài là đem tiền bạc, tài sản mà mình có sẵn sàng giúp cho người nghèo khổ, không cần họ biết ơn hay đền ơn. Hoặc đem tài sản hiến vào quĩ công ích làm lợi cho nhiều người không mong cầu lợi lộc cho mình. Xả nội tài hy sinh thân mình để cứu cho người hết khổ. Việc nầy hơi khó làm, nên ở đây tôi chỉ nói lướt qua, mà đặt nặng phần xả kiến chấpnội tâm, cái nầy ai cũng làm được, không tổn hại tiền của, không tổn hại thân thể, nếu thực hiện là có kết quả liền, được nhẹ nhàng an vui tự tại. Còn nội tài thì tùy, ai tu cao thì xả cao, ai tu thấp thì xả thấp, không bắt buộc.

Người chân thật tu hành dù là cư sĩ hay xuất gia biết ứng dụng hạnh tu của Phật dạy qua hình ảnh của chư Bồ tátchúng ta thờ kính lễ lạy để nhớ đến công hạnh của các Ngài để thực hành theo. Như thờ và lễ kính Bồ tát Quán Thế Âm và hướng theo Ngài để tu hạnh từ bi, vì người khổ đau đem tình thương đến giúp cho người được an vui. Chớ không phải lạy Ngài để Ngài đem cành dương rưới nước cam lồ lên đảnh để được hết khổ. Thờ lạy như thế là mê tín. Thờ và lạy Bồ tát Di Lặc cũng vậy, chúng ta hướng theo Ngài để học và hành hạnh hỷ xả để không còn cố chấp phiền hận, mà sống hài hòa vui tươi với mọi người.

Hôm nay tôi nhắc quí vị học và hành hạnh từ bi qua hình ảnh Bồ tát Quán Thế Âmhọc hành hạnh hỷ xả qua hình ảnh Bồ tát Di Lặc. Hai hạnh nầy quí vị thực hành được chừng hai phần thì quí vị cũng bớt khổ nhiều rồi. Nếu thực hiện được năm phần thì đã là tiểu thánh chớ không phải thường. Nếu thực hiện được mười phần trọn vẹn thì chính hiệu là Bồ tát lớn. Chúng ta còn đang tu, thực hiện được từ hai đến năm phần đã quá hay rồi. Cái hay nầy không phải Phật ban thưởng cho chúng ta hết khổ, mà chính chúng ta thực hành theo những hạnh của Phật dạy qua hình tượng của chư Bồ tátchúng ta đang thờ. Vậy tất cả quí vị nhớ để ứng dụng.

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 267)
Tạo sao gọi là Phổ Môn? vì tự tính của mình phổ biến khắp hư không pháp giới, nên gọi Phổ Môn.
(View: 266)
“Quán” là xem xét, “Thế Âm” là âm thanh của thế gian. Quán Thế Âmxem xét âm thanh thế gian, tiêu biểu cho lòng từ bi của Bồ-tát.
(View: 1508)
Các tác phẩm của Thầy phần lớn được dịch từ Hán tạng, gồm giới kinh và các nguồn văn học Phật giáo Đại thừa với tư tưởng uyên thâm về triết họctâm lý học.
(View: 22983)
Đã phát khởi chí nguyện Đại thừa, lại kiên quyết thực hiện chí nguyện ấy, đó thực sự là cung cách hùng dũng của con sư tử đang vươn mình, và do đó phải được nhìn đến bằng cung cách của con voi chúa.
(View: 1990)
Tất cả các nhà đạo học và thế học muốn thành tựu kết quả tốt đẹp trong cuộc đời, thì trước hết, họ phải trải qua quá trình kham nhẫn, nỗ lực, tu, học, rèn luyện tự thân, giúp đỡ, và đem lại lợi ích cho tha nhân.
(View: 6126)
Bảy Đức Thế Tôn quá khứ từ Thế Tôn Tỳ Bà Thi, Thế Tôn Thích Ca, và chư Thế Tôn vị lai đều chứng ngộ Vô Thượng Bồ Đề từ sự chứng ngộ sự thật Duyên khởi.
(View: 1197)
Một bài pháp được ban cho chư Tăng Ni ở International Mahayana Institute tại Boudhanath, Nepal, ngày 2 tháng 2, năm 1975. Nicholas Ribush hiệu đính.
(View: 9771)
Quy Sơn Cảnh Sách Học Giải - Tác Giả: Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu; Thích Thiện Trí (Thánh Tri) Phỏng Việt Dịch và Viết Bài Học Giải
(View: 39569)
Nguyên xưa ngài Quán Nguyệt Pháp sư đem hai thời kinh khóa tụng: Mai đóng chung và chiều nhập chung lại làm một đại thể làm một tập lớn. - Chú giải: Ngài Quán Nguyệt; Dịch giả: HT Thích Khánh Anh
(View: 3998)
Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận.
(View: 12432)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(View: 3619)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(View: 1189)
"Niệm Phật" nghĩa là xưng danh hiệu - hay nhớ tưởng đến hình tướng, bản nguyện hay công đức của một đức Phật - như Phật Thích-ca hay Phật A-di-đà.
(View: 5012)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(View: 5170)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(View: 5402)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(View: 6348)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(View: 7046)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(View: 7286)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(View: 4663)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(View: 5812)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(View: 6132)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(View: 5261)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(View: 5856)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(View: 10363)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(View: 10377)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(View: 23054)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(View: 5999)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(View: 7236)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(View: 2477)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển thứ 32, Luận Tập Bộ Toàn; Kinh văn số 1678. Pháp Hiền dịch ra chữ Hán. HT Thích Như Điển dịch Việt
(View: 6757)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(View: 6178)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(View: 9758)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(View: 6042)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(View: 8194)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(View: 7179)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(View: 9696)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(View: 8041)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
(View: 29946)
Toàn bộ Đại Tạng Kinh tiếng Việt trên 203 tập đã dịch và in xong...
(View: 7089)
Tại thành Xá Vệ, vào buổi sáng sớm, Tỳ-kheo-ni Avalika khoác y ôm bình bát, đi vào thành Xá Vệ để khất thực.
(View: 6755)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, Luận tập bộ toàn, kinh văn số 1634, HT Thích Như Điển dịch
(View: 10138)
Dịch từ văn Phạn sang văn Trung Hoa: Pháp sư Pháp Đăng; Thật Xoa Nan Đà (Siksananda), Lược giải: Tỳ kheo Thích Minh Điền
(View: 14008)
Nguyên tác Hán văn: sa-môn Pháp Tạng, chùa Sùng Phúc, Kinh Triệu thuật
(View: 8850)
Thời đại Dao Tần, Pháp Sư ba tạng Cưu Ma La Thập, dịch văn Phạn sang văn Trung Hoa, Lược giải: Tỳ kheo Thích Minh Điền
(View: 9910)
Kinh "Chiếc lưới ái ân" được dịch từ kinh Pháp Cú, Hán tạng.
(View: 11736)
Bát Nhã Ba-La-Mật-Đa Tâm Kinhbài kinh được tụng đọc tại các chùa theo hệ thống Phật Giáo Đại Thừa, là bài kinh rất phổ thông...
(View: 11674)
Nhập Trung Quán Luận (PDF) - Tổ Sư Nguyệt Xứng - Chuyển dịch: Thích Hạnh Tấn, TN Nhật Hạnh
(View: 9484)
Luận rằng: Ông bảo lời ta không có đạo lý, nếu thế thì lời ông cũng không có đạo lý. Nếu lời ông không có đạo lý thì lời ta ắt có đạo lý.
(View: 9100)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh,Luận Tập Bộ Tòan thứ 32, Thứ tự Kinh Văn số 1631
(View: 8131)
Như Bà-la-môn nói, trong các kinh điển, bốn Vệ-Đà là chính; Lại, trong đó, niệm là chính ; lại trong niệm này, năng thuyênsở thuyên là chính;
(View: 8607)
Nếu hiểu được Luận này, Ắt được các pháp luận, Nghĩa sâu xa như thế, Nay sẽ rộng tuyên nói.
(View: 8768)
Kinh văn số 1672, Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32
(View: 17366)
Duy Thức Học, người nào nếu như nghiên cứu đến cũng phải công nhận là một môn học rất thực tế, rất sống động...
(View: 9696)
Từ A-Di Đà, tức là phiên âm từ chữ Sanskrit: अमित​ amita, có nghĩa là: Vô lượng, đây là dịch sát theo ngữ nguyên अमित​ amita của Sanskrit.
(View: 18205)
Nhiều người đọc Kinh Dược Sư hiểu sai ý của Phật Thích Ca muốn nói, hiểu sai nên đã đưa vào đường mê tín mà không biết, vì ở phần đầu của kinh Dược Sư...
(View: 6274)
"Tánh Không" (còn gọi là tính-không) là một từ ngữ liên hệ đến sự giảng dạy chính yếu của mọi ngành Phật giáo, nhưng ý nghĩa thật sự của từ ngữ nầy thường bị hiểu lầm.
(View: 5245)
Đạo Phật trên ý nghĩa thiết yếu là “biện chứng giải thoát” hay là con đường gỉai thoát. Gỉai thoát khỏi khổ đau, sinh tử luân hồi.
(View: 5226)
Lâu nay mình đã sống trọn vẹn hết thời giờ chưa? Mình có để lãng phí thời giờ hay không? Và bằng cách nào để chúng ta sống một cách có ý nghĩa?
(View: 5967)
Hai chữ “Sinh Tử” đã khiến cho biết bao nhiêu người bất kể trí ngu giàu nghèo từ xưa đến nay đều phải lưu ý tới và khổ tâm vì nó.
(View: 4126)
Những gì có mang một tính chất riêng (svalakṣaṇa) đều được gọi là pháp (dharma): “svalakṣaṇadhāraṇād dharmaḥ”[1], tức do duy trì yếu tính của tự thân nên nó được gọi là Pháp.
Quảng Cáo Bảo Trợ