Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sách Văn Học Phật Giáo
Sitemap Hoavouu.com
Bài Mới Nhất trang Văn Học
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
19,800,401

Chương 11 Phát Triển Samatha

Tuesday, April 15, 201400:00(View: 2654)
Chương 11 Phát Triển Samatha

ĐẠO PHẬT TRONG ĐỜI SỐNG HÀNG NGÀY   
Tác giả: Nina Van Gorkom

Chương 11 
Phát triển samatha (samatha bhavana)
Khi trước mặt sau lưng,
Không có một người nào,
Như vậy an lạc lớn,
Sống một mình trong rừng.
Ta sẽ đi một mình,
Đến ngôi rừng Phật khen,
Hưởng an lạc đã được,
Vị Tỷ-kheo thọ hưởng,
Nhờ sống đời tinh tấn,
Sống riêng chỉ một mình.
Cho ẩn sĩ thiền định.

Đó là những lời của một vị hoàng tử người muốn sống một mình trong rừng (Tiểu bộ kinh Tập III, Trưởng Lão Tăng kệ, Chương X, Phẩm X kệ, 234, Ekavihåriya). Chẳng phải tất cả chúng ta đều có giây phút muốn không có ai ở trước mặt, ai ở sau lưng, những giây phút mà ta chỉ muốn ở một mình hay sao? Dường như không thể tìm thấy sự tĩnh lặng trong cuộc sống hàng ngày. Chúng tamọi người xung quanh suốt cả ngày, và có tiếng ồn khắp mọi nơi. Tuy nhiên, nguyên nhân thực sự của sự bất an của chúng ta không nằm ở bên ngoài mà ở bên trong chúng ta; nguyên nhân thực sự chính là phiền não của chúng ta. Chúng tathể không tạo nên tội ác nghiêm trọng như sát sinh hay trộm cắp, nhưng chúng ta có những suy nghĩ bất thiện và tốn quá nhiều thời gian nói về những lỗi lầmthiếu sót của người khác. Chúng ta tự hại mình bằng cách ấy. Bất thiện là gây hại cho cả thân và tâm. Chúng ta có thể thấy sự khác biệt toát ra bên ngoài giữa một người bất an và một người tĩnh lặng và có nhiều từ tâm.

Thật không dễ thay đổi thói quen của mình. Nếu chúng ta đã quen nói theo cách bất thiện thì chúng ta không thể mong đợi thay đổi mình ngay lập tức. Chúng ta đã tích lũy sự bất thiện trong bao lâu rồi? Bởi những xu hướng bất thiện đã được tích lũy, chúng ngăn trở ta làm những việc thiện, nói những lời chánh ngữsuy nghĩ một cách chân chánh, chúng ta cảm thấy bất antrạo cử. Chúng ta muốn có được sự tĩnh lặng trong tâm nhưng chúng ta không biết tìm nó ở đâu.

Bố thí (Dåna), trì giới (síla) và phát triển tâm trí (bhåvanå) là những cách để có thiện tâm thay cho bất thiện tâm.

Đức Phật đã khuyến khích mọi người phát triển tất cả các loại thiện pháp, dù đó là dana, síla hay bhåvanå. Tại khoảnh khắc có thiện tâm – kusala citta thì không có lobha, moha, dosa và thay vào đó là sự an tịnh. Khi chúng ta cúng dường vật thực và đảnh lễ các vị sư, cũng có sự an tịnh. Không phải lúc nào cũng có cơ hội cho bố thítrì giới, nhưng luôn có cơ hội cho phát triển thiện pháp thuộc về bhåvanå- phát triển tâm trí tại bất cứ thời điểm nào, đó là bao gồm: nghiên cứu giáo lý, samatha (phát triển an tịnh) và vipassanå. Có thể thực hiện dana và síla mà có hoặc không có paññå, nhưng không thể phát triển tâm trí mà không có paññå.

Với việc nghiên cứu Giáo pháp- một dạng của phát triển tâm trí – bhåvanå, chúng ta sẽ có thêm hiểu biết về Giáo lý thông qua nghiên cứu Tam tạng – gồm Tạng Kinh, Tạng Luật và Tạng Vi diệu pháp. Nếu chúng ta nghiên cứu Giáo pháp, suy ngẫm về Giáo phápgiải thích cho người khác, sẽ có nhân duyên cho thiện tâm sinh khởi cùng với trí tuệ (paññå). Cả cuộc sống của chúng ta và người khác đều sẽ được phong phú hơn. Nghiên cứu Giáo pháp sẽ giúp chúng ta có được cái hiểu đúng đắn về cuộc đời mình.

Samatha- sự phát triển an tịnh và vipassana- sự phát triển tuệ giác, đều thuộc về phát triển tâm trí – bhåvanå. Nhưng mỗi một loại đều có mục đích khác nhau và con đường phát triển khác nhau. Mục đích của samatha là an tịnh. Trong samatha, phiền não bị tạm thời đè nén, nhưng không bị tận diệt. Mục đích của vipassanå là thấy mọi thứ như chúng là. Chánh kiến, hay trí tuệ – paññå, được phát triển trong vipassanå có thể tận diệt phiền não.

Thông qua samatha, chúng ta phát triển an tịnh và tạm thời giải thoát khỏi tham (lobha), sân (dosa), si (moha). Khi chúng ta nhận ra rằng trong một ngày, tâm bất thiện sinh khởi thường xuyên đến thế nào, chúng ta sẽ muốn phát triển suy nghĩ chân chánh hơn. Samatha là một cách phát triển thiện tâm, cả ở những khoảnh khắc không có cơ hội cho dana và síla. Samatha là cách phát triển an tịnh ở mức độ cao hơn, nhưng chúng ta phải có hiểu biết đúng về cách phát triển nó và chúng ta phải biết rõ đặc tính của loại an tịnhthiện pháp. Một số người có thể nghĩ rằng, có sự an tịnh khi họ ở một mình trong rừng, nhưng liệu sự an tịnh đó có luôn phải là thiện pháp hay không? Thay cho thiện tâm lại vẫn có thể có nhiều tâm tham, tâm sân và tâm si. Như vậy, để phát triển samatha, chúng ta phải có hiểu biết rất chính xác về các loại tâm khác nhau sinh khởi, nếu không chúng ta sẽ dễ dàng lầm lẫn coi tâm bất thiệnan tịnh.

Để phát triển samatha cần có các đề mục thiền riêng biệt (kammaììhåna), gồm bốn mươi loại tất cả. Tùy thuộc vào từng cá nhân mà có đề mục hành thiền phù hợp. Nếu chúng ta muốn cố gắng sử dụng loại đề mục nào khác ngoài một trong bốn mươi loại đề mục này, chúng ta sẽ không thể đạt được sự an tịnh thực sự.

Hiểu đúng về đặc tính của an tịnh và của đề mục thiền là yếu tố quan trọng nhất để phát triển samatha. Chúng ta có thể nghĩ rằng samatha chỉ là việc chú tâm hay định tâm trên một đối tượng, nhưng loại citta nào sinh khởi khi chúng ta cố gắng định tâm? Liệu có phải chúng ta đã bị dính mắc vào ý niệm “sự định tâm của tôi” hay không? Khi citta là akusala citta, sẽ không thể có sự phát triển tâm trí. Vì vậy, điều rất quan trọng là biết rõ khi nào citta là kusala citta và khi nào thì không.

Định tâm là gì? Định tâm hay nhất tâm, trong tiếng Pali được gọi là “ekaggatå cetasika” (tâm sở nhất tâm) hay “samådhi”, là một tâm sở đi kèm với mỗi tâm. Chức năng của nó là tập trung trên một đối tượng. Chẳng hạn, cái thấy là một citta kinh nghiệm đối tượng thị giác. Tâm sở nhất tâm – ekaggatå cetasika đi kèm với tâm chỉ thực hiện chức năng tập trung vào đối tượng ấy. Mỗi một citta chỉ có thể có một đối tượng tại một thời điểm và ekaggatå cetasika tập trung trên đối tượng đó. Bất kể là citta thấy, citta nghe, citta đi kèm với tham, sân, sự quảng đại hay trí tuệ, đều có ekaggatå cetasika đi kèm trong những sát na khác nhau đó. Chất lượng của ekaggatå cetasika tùy thuộc vào tâm mà nó đi kèm. Khi ekaggatå cetasika đi kèm với tâm bất thiện (akusala citta) thì nó là bất thiện (akusala), và khi nó đi kèm với tâm thiện (kusala citta) thì nó là thiện (kusala).

Trong samatha, chánh định chỉ có thể sinh khởi khi có cái hiểu đúng về sự phát triển an tịnh. Khi có an tịnh thì ngay lúc đó cũng có cả chánh định đi kèm với tâm thiện.

Liệu samatha có thể được phát triển trong cuộc sống hàng ngày hay chúng ta cần phải sống ở nơi hẻo lánh? Nếu chúng ta muốn phát triển an tịnh ở mức độ cao hơn, cần phải có những nhân duyên riêng biệt được đáp ứng, như chúng ta sẽ thấy. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người đều có thể hay có ý định phát triển an tịnh ở mức độ cao hơn. Nếu chúng tahiểu biết đúng về samatha, cũng có thể có nhân duyên cho những khoảnh khắc an tịnh trong cuộc sống hàng ngày sinh khởi. Chẳng hạn, trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta có thể suy ngẫm về sự bất tịnh trên thân hay trên những xác chết, đó cũng thuộc về bốn mươi đề mục thiền có thể tạo duyên cho sự an tịnh. Đối với một số người, việc quán tử thi có thể hữu ích để bớt dính mắc vào ngũ dục. Tất cả chúng ta đều có lúc thấy xác người hay xác động vật chết. Nếu chúng ta đã được đọc về quán tử thi và suy ngẫm về điều đó, sẽ có nhân duyên cho những suy nghĩ thiện sinh khởi vào lúc đó, thay vì có tâm bất thiện đi kèm với sân. Chúng ta có thể nhớ về điều Đức Phật dạy về tính vô thường của tất cả các pháp hữu vi.

Chúng ta đọc trong The rathe rígåthå (Tiểu bộ kinh tập III, Trưởng lão tăng kệTrưởng lão ni kệ) về những người luôn bất an, những người không thể tìm thấy sự bình an trong tâm. Quán thân bất tịnhquán tử thi nhắc họ về chân lý vô thường. Trong Trưởng lão tăng kệ (Tiểu bộ kinh III, Phẩm VI kệ, 213, Kulla), chúng ta đọc về vị tì kheo Kulla, người thường bị tham dục chi phối. Đức Phật đã nhắc vị ấy hành thiền quán trong một nghĩa địa. Việc quán tiến trình thối náttiêu diệt của vật bất tịnh đã tạo duyên cho vị ấy đạt được sự an tịnh tới tầng thiền đầu tiên, hay còn gọi là sơ thiền. Từ đó, vị ấy đã phát triển tuệ giácđạt được a la hán quả. Những câu kệ sau đây mô tả sự chứng đắc của vị ấy:

Kulla đến nghĩa địa,
Thấy bỏ một đàn bà,
Vất ném trong nghĩa địa,
Làm mồi cho sâu ăn.
Kulla, hãy nhìn thân,
Bệnh hoạn nhớp hôi thối,
Nước ứ chảy, rỉ chảy,
Được kẻ ngu thích thú.
Sau khi nắm gương pháp,
Đạt được chánh tri kiến,
Ta quán sát thân này,
Trống rỗng cả trong ngoài.
Đây thế nào, kia vậy,
Kia thế nào, đây vậy,…

Kulla đã được nhắc nhở về sự thật và Ngài đã thấy mọi thứ như chúng là.

Có những người, việc quán thân bất tịnh hay quán tử thikhông hữu ích; đối với họ, thay vào đó, có thể niệm ân Đức Phật, Đức Pháp và Đức Tăng – cũng là những đề mục thuộc bốn mươi đề mục thiền. Hoặc họ có thể niệm “giới” (síla) hay “bố thí” (dana), cũng là những đề mục thiền khác. Việc niệm bố thí (niệm thí) có thể giúp chúng ta có thêm sự rộng lượng, quảng đại. Trong Thanh tịnh đạo (VII, 107), chúng ta đọc rằng người bắt đầu phát triển đề mục thiền này, cần phảiquyết định như sau: “Từ nay trở đi, lúc nào có người hiện diện để nhận, thì ta sẽ không ăn dù chỉ một miếng, nếu không bố thí một cái gì trước đó”. Sau khi người ấy đã bố thí, người ấy có thể tưởng niệm lại như sau: “Thật sự là lợi lạc cho ta, thật là lợi ích lớn cho ta, rằng trong cuộc đời bị ám ảnh bởi ô nhiễm của lòng tham (biển lận) ta an trú với tâm không bị ô nhiễm bởi tham. Ta bố thí một cách rộng rãi bàn tay rộng mở, thích thú trong sự từ bỏ, mong được kẻ khác yêu cầuvui mừng được cho được san sẻ”. Đối với việc tưởng niệm nay, chúng ta phải biết đặc tính của sự quảng đại; chúng ta không thể tưởng niệm sự quảng đạichúng ta không thể đạt được an tịnh với đề mục thiền này nếu chúng ta không có lòng quảng đại trong cuộc sống hàng ngày của mình.

Có những đề mục thiền khác như Tứ vô lượng tâm ((Brahmavihåras), bao gồm: tâm từ (mettå), tâm bi (karuùå), tâm hỷ (muditå) và tâm xả (upekkhå). Tuy nhiên, những phẩm chất này không thể là đề mục thiền của chúng ta nếu chúng ta không thực hành chúng trong cuộc sống hàng ngày. Làm sao chúng ta có thể phát triển đề mục thiền là tâm từ khi chúng ta không biết đặc tính của tâm từ khi nó sinh khởi trong cuộc sống hàng ngày? Chúng ta có thể có những giây phút từ tâm trong sáng, nhưng chắc chắn cũng có nhiều khoảnh khắc vị kỷ chen lẫn khi đó. Chẳng phải chúng ta dính mắc với mọi người hay sao? Rất cần thiết phải biết chính xác khi nào có khoảnh khắc của tâm từ trong sáng và khi nào có sự dính mắc. Cần phải có cái hiểu đúng biết phân biệt rõ ràng sự khác biệt giữa các đặc tính này và vì vậy, chúng ta sẽ lại thấy rằng hiểu biết đúng là không thể thiếu được trong samatha.

Nếu như chúng ta biết đặc tính của tâm từ, chúng ta có thể phát triển tâm từ và khi đó, nó sẽ tạo duyên cho sự an tịnh. Đề mục này có thể giúp chúng tathiện tâm thay cho các suy nghĩ ác ý.

Chánh niệm hơi thở là một đề mục thiền khác. Để phát triển an tịnh với đề mục này, chúng ta phải có hiểu biết đúng về nó và biết chánh niệm ra sao về đặc tính của hơi thở. Theo Thanh tịnh đạo, chánh niệm hơi thở là một trong những đề mục thiền khó nhất, vì hơi thở rất vi tế, không phải tất cả mọi người đều có thể chánh niệm về nó.

Hơi thở là gì? Cái mà chúng ta gọi là hơi thở chính là rúpa – sắc, một hiện tượng vật lý. Sắc trên thân có thể được tạo duyên bởi một trong bốn yếu tố: nghiệp, tâm (citta), nhiệt độ và vật thực. Hơi thở được tạo duyên bởi citta. Chừng nào còn có citta, chừng ấy còn có hơi thở được tạo duyên bởi citta. Tất cả chúng ta đều dính mắc vào cuộc sống và những thứ chúng ta hưởng thụ trong cuộc sống, nhưng cuộc sống rất mỏng manh. Cuộc sống được duy trì nhờ hơi thở, tức là sắc sinh rồi diệt. Khi chúng ta trút hơi thở cuối cùng, cái chết sẽ đến và vậy thì, việc có của cải và tất cả những gì chúng ta dính mắc còn có nghĩa gì đây? Khi chánh niệm về hơi thở được phát triển với hiểu biết đúng, nó có thể tạo duyên cho sự an tịnh, nhờ đó sẽ tạm thời thoát khỏi phiền não. Tuy nhiên, đặc tính của hơi thở cần phải được biết một cách rõ ràng.

Thanh tịnh đạo (VIII, 197, f.f) giải thích rằng hơi thở xuất hiện khi nó chạm vào chót mũi hay môi trên. Nó diệt ngay lập tức tại nơi nó xuất hiện. Chúng ta không nên đi theo hơi thở đi vào và đi ra, chúng ta chỉ nên hay biết hơi thở nơi mà nó chạm vào chót mũi hay môi trên. Thanh tịnh đạo giải thích điều này qua ví dụ hình ảnh người gác cổng:

Đây ví dụ về người gác cổng: cũng như một người gác cổng không khám xét những người ở trong và ngoài thành, hạch hỏi “Ông là ai? Ở đâu? Đi đâu? Cầm cái gì trong tay đó?… Bởi vì đó không phải việc của người ấy, nhưng anh ta phải xét từng người khi nó đến tại cổng, cũng vậy, những hơi thở vô đã vào bên trong và những hơi thở ra đã đi ra, thì không phải cái bận tâm của vị tỳ kheo, nhưng vị ấy chú tâm đến chúng ngay khi chúng đến ngang cái cửa mũi.

Nếu chúng ta theo dõi hơi thở vào và hơi thở ra, theo Thanh tịnh đạo, tâm của chúng ta sẽ bị “phân tách vì bất an và tán loạn”. Hiểu biết đúng về phương pháp phát triển đề mục thiền này là không thể thiếu. Nếu chúng ta nghĩ rằng tất cả những cần làm là chỉ cố gắng định tâm thật vững chắc trên hơi thở, khi đó chúng ta có thể đã định tâm với tâm tham, tâm sân và tâm si. Nếu chúng ta vui thú với việc quan sát hơi thởmục đích của chúng tacảm thấy dễ chịu thì lại có tâm tham và như vậy không phải là phát triển tâm trí – bhåvanå. Một số người có xu hướng luyện tập hơi thở để nâng cao sức khỏe, nhưng nếu chúng ta muốn phát triển an tịnh, chúng ta phải biết cái gì là bhåvanå và cái gì không phải là bhåvanå. Mục đích của đề mục thiền này là an tịnh –thiện pháp, vì vậy cần phải có paññå để biết chính xác khi nào citta là kusala citta và khi nào là akusala citta. Khi có những khoảnh khắc của sự an tịnh, khi đó không có sự dính mắc.

Vô cùng khó để chánh niệm hơi thở một cách đúng đắn để có được sự an tịnh thực sự, sự giải thoát khỏi tham, sân và si. Chúng ta rất dễ coi cái không phải là hơi thởhơi thở, tức là sắc được tạo duyên bởi citta. Một số người quan sát cử động của bụng và nhầm lẫn cho đó là chánh niệm về hơi thở. Nếu chúng ta không có tích lũy cho chánh niệm về hơi thở, chúng ta không nên ép bản thân phải quán đề mục ấy. Có nhiều đề mục thiền khác có thể tạo duyên cho sự an tịnh.

chánh niệm về hơi thở ở cả samatha và vipassanå. Đâu là sự khác biệt giữa đối tượng chánh niệm trong samatha và đối tượng chánh niệm trong vipassanå? Trong samatha, có sati hay biết, tức là không quên, về hơi thở nhằm tạm thời đè nén phiền não. Trong samatha, đối tượng của chánh niệm không phải là đặc tính của bất kỳ danh hay sắc nào xuất hiện qua một trong sáu căn tại khoảnh khắc hiện tại như trong vipassanå. Có paññå trong cả samatha và vipassanå, nhưng paññå trong samatha không biết nama và rúpa như chúng là, là vô ngã (anattå). Paññå trong samatha biết khi nào citta là kusala citta và khi nào là akusala citta; nó biết làm thế nào để phát triển an tịnh – cái có thể tạm thời đè nén phiền não. Mục đích của vipassanå là thấy mọi thứ như chúng là. Trong vipassanå, chánh kiến được phát triển để hay biết tất cả danh và sắc xuất hiện, bất kể chúng ta đang làm gì. Cả khi chúng ta phát triển an tịnh bằng chánh niệm hơi thở, cũng có nama và rúpa xuất hiện và chúng có thể được biết như chúng thực là: là vô thườngvô ngã. Paññå trong vipassanå biết nama và rúpa như chúng là.

Một số đề mục thiền của samatha có thể là sự quán niệm của chúng ta trong đời sống hàng ngày và chúng có thể tạo duyên cho những khoảnh khắc an tịnh. Tuy nhiên, có một số người có tích lũy phát triển an tịnh ở mức độ cao hơn, thậm chí đến các tầng thiền. Khi có đạt đến mức độ an tịnh cao hơn, tâm sở nhất tâm, tức ekaggatå cetasika hay samådhi, đi kèm với tâm có sự an tịnh cũng ở mức độ cao hơn. Samådhi được phát triển khi có đủ nhân duyên, chúng ta không thể ép bản thân trở nên định tâm được.

Trong phát triển samatha, có ba giai đoạn của samådhi: giai đoạn sơ định (parikamma samådhi), giai đoạn cận định (upacåra samådhi) và giai đoạn an chỉ định (appanå samådi) đi kèm với tâm thiền (jhånacitta). Khi vẫn ở giai đoạn sơ thiền của samådhi, tức là giai đoạn parikamma samådhi, citta hay biết đề mục thiền, nhưng nó không phải là tâm thiền; nó là tâm dục giới (kåmåvacara citta). Kåmåvacara citta là những tâm sinh khởi trong cuộc sống hàng ngày, vì dụ, khi chúng ta thấy, nghĩ hay mong ước điều gì đó. Khi samådhi đạt đến giai đoạn cận định, hay upacåra samådhi, thì sẽ có sự an tịnh ở mức độ cao hơn, nhưng tại giai đoạn đó, citta vẫn là tâm dục giới (kåmåvacara citta), không phải là tâm thiền (jhånacitta). Khi samådhi đạt đến giai đoạn an chỉ định, hay appanå samådhi, citta khi đó là tâm thiền (jhånacitta). Tâm thiền kinh nghiệm đề mục thiền ở mức độ toàn định; tại khoảnh khắc đó, chúng ta được giải phóng khỏi các tác động ngũ quanvì vậy, giải phóng khỏi phiền não sinh khởi từ các giác quan đó. Tâm thiền là tâm thức ở mức độ cao hơn tâm dục giới.

Nếu mọi người không biết về các giai đoạn samådhi khác nhau, họ có thể nghĩ sai lầm rằng họ có tâm thiền hoặc họ có thể hoài nghi, liệu họ đã đạt tầng thiền hay chưa. Tâm thiền luôn đi kèm với paññå. Nếu chúng ta còn có hoài nghi, rõ ràng là chưa có paññå. Ngay cả nếu chúng ta không có ý định phát triển các tầng thiền thì vẫn rất cần phải biết về các mức độ samådhi khác nhau. Chúng ta có thể đã vun trồng samådhi trong kiếp quá khứ và nếu có đủ nhân duyên, một trong những mức độ samådhi có thể sinh khởi. Những người chưa nghiên cứu Giáo pháp có thể lẫn lộn giữa định tâm và jhåna. Có chánh địnhtà định. Khi mọi người định tâm trên một đề mục thiền theo cách sai lầm, chẳng hạn với tâm tham, đó là tà định. Họ có thể, do tà định, có những kinh nghiệm khác thường mà họ lầm tưởng là jhåna. Hoặc họ thậm chí có thể cho những kinh nghiệm như vậy là đã đạt đến niết bàn.

Có nhiều giai đoạn jhåna và mỗi giai đoạn cao hơn sẽ vi tếan tịnh hơn giai đoạn trước. Có rúpa-jhåna, còn được dịch là “thiền sắc giới”, và arúpa-jhåna, được dịch là “thiền vô sắc giới”. Arúpa-jhåna vi tế hơn rúpa-jhåna; đề mục thiền của tâm thiền vô sắc giới (arúpa-jhånacitta) không phải là những đối tượng có thể được kinh nghiệm qua các căn.

Trong số bốn mươi đề mục thiền, chỉ có một số đề mục có thể dẫn đến cận định (upacåra samådhi), một số dẫn đến thiền sắc giới (rúpa-jhåna) nhưng chưa phải là giai đoạn cao nhất, và một số dẫn đến giai đoạn thiền sắc giới (rúpa-jhåna) cao nhất. Có bốn (hay một số người nói là năm) giai đoạn rúpa-jhåna.

Những người nhận thấy điểm bất lợi của những đề mục thiền sắc giới (rúpa-jhåna), những đề mục thiền kém vi tế hơn thiền vô sắc giới (arúpa-jhåna), sẽ phát triển các đề mục thiền của arúpa-jhåna. Có bốn giai đoạn của tầng thiền arúpa-jhåna, đó là: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, và Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Tưởng trong tầng thiền vô sắc giới thứ tư vô cùng vi tế.

Trong số những người phát triển samatha, có rất ít người có thể đạt được jhana. Cần phát triển rất nhiều kỹ năng để đạt được jhana. Chúng ta nên biết các nhân duyên để đạt được jhana và cái gì cản trở việc đạt được jhana. Chúng ta đọc trong Thanh tịnh đạo (VII, 8) rằng vô cùng khó khăn để đạt được giai đoạn sơ định (parikamma samådhi) hay giai đoạn cận định (upacåra samådhi), để đạt được jhana và để phát triển các kỹ năng trong jhana nhằm có được các thần thông.

Ngày nay mọi người muốn kinh nghiệm cái gì đó vượt khỏi thế gian này, bởi vì họ cảm thấy khó khăn hay buồn chán về cuộc sống. Chẳng phải đôi lúc chúng ta vẫn muốn biết tương lai hay sao? Chúng ta có thể tò mò về những gì thầy bói tiên đoán về cuộc đời ta. Có nhiều người trong chúng ta xem tử vi trên báo hàng ngày, và ngay cả khi nói rằng chúng ta không tin vào những thứ ấy, chúng ta vẫn không thể không coi trọng nó. Những người ốm đau không muốn nghe theo bác sĩ mà đến gặp những người mà họ cho là sẽ chữa trị hiệu quả hơn bác sĩ. Chúng ta có thể đến gặp thầy bói hoặc những người nói họ có khả năng tiên tri, nhưng chúng ta vẫn không hề biết về bản thân mình. Chúng ta vẫn có phiền não, chúng ta vẫn có vô minh, chúng ta vẫn phải tiếp tục trong vòng luân hồi sinh tử. Chừng nào chúng ta còn có tham, sân và si trong tâm mình, chừng đó không thể tìm thấy hạnh phúc thực sự.

Trong thời kỳ Đức Phật, mọi người phát triển jhana đến khi họ trở nên rất thuần thục và họ thậm chí đạt được các thần thông. Nhưng người đạt đến các tầng thiền sắc giới (rúpa-jhåna) và thiền vô sắc giới (arúpa-jhåna) cao nhất và đã “chứng đắc” tại những tầng thiền ấy có thể tự mình tiếp tục phát triển thần thông. Việc phát triển thần thôngvô cùng khó khăn, chỉ rất ít người trong số người đắc các tầng thiền mới có thể phát triển chúng. Thần thông được phát triển bằng samatha gồm có bay trên không khí, đi trên mặt nước, xuyên qua lòng đất; “thiên nhĩ thông” hay khả năng nghe được âm thanh từ các cõi; “tha tâm thông”, khả năng đọc được suy nghĩ của người khác; năng lực nhớ được tiền kiếp của chúng sinh; và “thiên nhãn thông”, thấy được sự sinh diệt của chúng sinh.

Chúng ta đọc trong Kinh Sa môn quả (Trường bộ kinh Tập I, số 22, 87, 88) rằng Đức Phật đã nói với vua Magadha về vị sa môn đạt được thần thông. Đức Phật đã nói như sau:

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến các thần thông. Vị ấy chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, biến hình; đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền, như ở trong nước; đi trên nước không chìm như trên đất liền; ngồi kiết già đi trên hư không như con chim; với bàn tay, chạm và rờ mặt trăngmặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên…

Trong Đạo Phật, chúng ta học về luật nhân quả. Mọi người thường ấn tượng trước những thứ kỳ lạ khi họ không biết nhân duyên gì khiến cho chúng sinh khởi. Mỗi một hiện tượng trong cuộc sống của chúng ta đều có nhân duyên mà qua đó chúng sinh khởi. Khi chúng ta hiểu điều này, chúng ta không còn ngạc nhiên trước các hiện tượng kỳ lạ. Ngài Mục Kiền Liên, Ngài A Nậu Lâu Đà và các vị đệ tử khác đều có thần thông, nhưng họ không dính mắc vào chúng và coi chúng là ngã, bởi vì họ nhận ra rằng những hiện tượng đó sinh khởi nhờ nhân duyên.

Samatha là mức độ cao của thiện nghiệp (kusala kamma) và nó mang đến quả thiện (kusala vipåka). Samatha có thể giúp mọi người an tịnh hơn. Nhưng phiền não không thể bị tận diện bằng samatha, ngay cả khi an tịnh được phát triển đến mức độ các tầng thiền (jhana). Phiền não cũng không thể bị tận diệt bằng các thần thông. Jhana và thần thông không thể dẫn đến chấm dứt vô minh. Đức Phật, khi ngài còn là vị Bồ tát, đã phát triển samatha, nhưng Ngài cũng phát triển cả vipassanå để có thể trở thành vị Phật toàn giác.

Trong Tạng Luật (Phân tích giới tì khưu I, Chương Veranja, 3) chúng ta đọc rằng Đức Phật đã nói với vị bà la môn Verañja về “ba canh” trong đêm Ngài thành đạo. Ở canh thứ nhất, Ngài đã nhớ lại nhiều kiếp sống trước của mình, đó là năng lực thần thông được phát triển qua samatha. Ở canh hai, Ngài quán xét về sự sinh tử của chúng sinh, cũng là một năng lực thần thông. Ở canh ba, Ngài tận diệt mọi phiền não và chứng đạt vị quả Phật. Chúng ta đọc rằng:

Trong khi tâm được an trụ… ta đây đã hướng dẫn tâm đến trí tuệ đoạn tận các lậu hoặc. Ta đây đã biết rõ: Đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự diệt khổ, đây là sự thực hành đưa đến sự diệt khổ… Trong khi ta đây biết được như thế, thấy được như thế, thì tâm cũng đã được giải thoát khỏi dục lậu, tâm cũng đã được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm cũng đã được giải thoát khỏi vô minh lậu. Khi ta đã được giải thoát, trí tuệ giải thoát đã khởi lên và ta đã biết rõ rằng: Sự tái sanh đã cạn kiệt, Phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn (đưa đến) bản ngã nào khác (tương tợ) như vầy nữa. Này Bà-la-môn, quả vậy vào canh cuối của đêm ta đã chứng đạt Minh thứ ba này. Ta đã diệt tận vô minh và làm cho minh sanh khởi, ta đã diệt tận bóng tối và làm cho ánh sáng sanh khởi….

Tứ diệu đế có thể được biết thông qua vipassanå. Làm sao chúng ta có biết rằng nama và rúpa là khổ (dukkha) nếu chúng ta không hay biết các đặc tính của chúng khi chúng xuất hiện tại thời điểm hiện tại? Chỉ khi ấy, chúng ta mới biết chúng là vô thường, khổ và bất toại nguyện. Loại hiểu biết này có thể dẫn đến sự tận diệt phiền não.

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 624)
Tư Tưởng Phật Giáo Trong Văn Học Thời Trần - Tác giả: Nguyễn Vĩnh Thượng
(View: 2668)
Emily Elizabeth Dickison là nhà thơ lớn của Mỹ trong thế kỷ thứ 19. Bà sống phần lớn cuộc đời trong cô độc.
(View: 592)
Ni Giới Việt Nam Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ - Thích Nữ Giới Hương. Hồng Đức Publishing. 2020
(View: 577)
Tác phẩm “Xây dựng hạnh phúc gia đình” của Hòa thượng Thích Thắng Hoan là cẩm nang hướng dẫn xây dựng hạnh phúc cho người Phật tử tại gia.
(View: 2957)
“Nói Thiền tông Việt Nam là nói Phật giáo Việt Nam. Và những bậc cao Tăng làm sáng cho Phật giáo, làm lợi ích cho dân tộc từ thế kỷ thứ 6 mãi đến nay đều là các Thiền sư.”
(View: 1159)
Ai đã truyền Việt Nam Phật Giáo qua Trung Quốc: Khương Tăng Hội, người Việt Nam. Vào năm nào: năm 247 tây lịch.
(View: 1073)
Tư tưởng Phật giáo trong văn học thời Lý bản PDF - Nguyễn Vĩnh Thượng
(View: 3209)
Thầy Tuệ Sỹ Là Viên Ngọc Quý Của Phật Giáo và Của Việt Nam - Nguyễn Hiền Đức
(View: 2601)
Dưới Bóng Đa Chùa Viên Giác - hồi ký về một ngôi chùa đã đi vào lịch sử Phật giáo tỉnh Quảng Nam. Viên Giác Tùng Thư 2019 - Nhà xuất bản Liên Phật Hội
(View: 22722)
Tác phẩm Trí Quang Tự Truyện bản pdf và bài viết "Đọc “Trí Quang Tự Truyện” của Thầy Thích Trí Quang" của Trần Bình Nam
(View: 2902)
Tôi đặt bút bắt đầu viết "Lời Vào Sách" nầy đúng vào lúc 7 giờ sáng ngày 21 tháng 6 năm 1995 sau khi tụng một thời kinh Lăng Nghiêmtọa thiền tại Chánh điện.
(View: 2628)
Có lẽ đây cũng là một trong những viễn ảnh của tâm thức và mong rằng những trang sách tiếp theo sẽ phơi bày hết mọi khía cạnh của vấn đề, để độc giả có một cái nhìn tổng quát hơn.
(View: 3042)
Ai trói buộc mình? Không biết có bao giờ chúng ta tự đặt câu hỏi đó với chúng ta chưa? Đến chùa học pháp hay đi tu chỉ để cầu giải thoát. Mục đích tu hoặc xuất gia là cầu giải thoát sinh tử. Giải thoát có nghĩa là mở, mở trói ra. Cầu giải thoát là đang bị trói. Nhưng ai trói mình, cái gì trói mình? Khi biết mối manh mới mở được.
(View: 2356)
Sống Trong Từng Sát Naphương pháp thực tập sống tỉnh thức, sống và ý thức về sự sống trong từng mỗi phút giây. Đây là phương thức tu tập dựa trên tinh thần Kinh Bốn Lãnh Vực Quán Niệm.
(View: 2312)
Nguyên bản: How to practice the way to a meaningful life. Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma. Anh dịch: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(View: 3928)
Mối Tơ Vương của Huyền Trân Công Chúa (Phóng tác lịch sử tiểu thuyết vào cuối đời Lý đầu đời Trần) HT Thích Như Điển
(View: 2667)
Nguyệt San Chánh Pháp Số 84 Tháng 11/2018
(View: 6988)
Nhẫn nhục là thù diệu nhất vì người con Phật thực hành hạnh nhẫn nhục thành thục, thì có thể trừ được sân tâm và hại tâm, là nhân tố quan trọng để hành giả thành tựu từ tâm giải thoátbi tâm giải thoát.
(View: 17956)
Tác giả: Diệu Hạnh Giao Trinh sưu tầm và kể chuyện, Nguyễn Minh Tiến hiệu đínhgiới thiệu
(View: 2694)
Cảm Đức Từ Bi - tác giả Huỳnh Kim Quang
(View: 3412)
Một bản dịch về Thiền Nhật Bản vừa ấn hành tuần này. Sách nhan đề “Thiền Lâm Tế Nhật Bản” của tác giả Matsubara Taidoo. Bản Việt dịch do Hòa Thượng Thích Như Điển thực hiện.
(View: 3197)
Tuyển tập “Bát Cơm Hương Tích” của Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng là một phần lớn của đời tác giả, ghi lại những gì Thầy mắt thấy tai nghe một thời và rồi nhớ lại...
(View: 3724)
Quyển sách "Hãy làm một cuộc cách mạng" trên đây của Đức Đạt-lai Lạt-ma khởi sự được thành hình từ một cuộc phỏng vấn mà Ngài đã dành riêng cho một đệ tử thân tín là bà Sofia Stril-Rever vào ngày 3 tháng giêng năm 2017.
(View: 4379)
THIỀN QUÁN VỀ SỐNG VÀ CHẾT - Cẩm Nang Hướng Dẫn Thực Hành - The Zen of Living and Dying A Practical and Spiritual Guide
(View: 3501)
Mùa An Cư Kiết Hạ năm 2016 nầy tôi bắt đầu viết tác phẩm thứ 67 để sang năm 2017 xuất bản với nhan đề là "Nước Mỹ bao lần đi và bao lần đến"
(View: 3669)
Người đứng mãi giữa lòng sông nhuộm nắng, Kể chuyện gì nơi ngày cũ xa xưa, Con bướm nhỏ đi về trong cánh mỏng, Nhưng về đâu một chiếc lá xa mùa (Tuệ Sỹ)
(View: 8723)
TĂNG GIÀ THỜI ĐỨC PHẬT Thích Chơn Thiện Nhà xuất bản Phương Đông
(View: 14012)
Người học Phật có được một tài liệu đầy đủ, chính xác, đáng tin cậy, dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ và dễ tra cứu khi cần...
(View: 4094)
Tác phẩm nầy chỉ gởi đến những ai chưa một lần đến Mỹ; hoặc cho những ai đã ở Mỹ lâu năm; nhưng chưa một lần đến California...
(View: 4425)
Từ Mảnh Đất Tâm - Huỳnh Kim Quang
(View: 3870)
Một năm lại sắp trôi qua với những vết tích điêu tàn, khổ nạn để lại trên khắp trái đất. Nhìn lại, chúng ta không khỏi giật mình, và chạnh lòng thương tưởng
(View: 3884)
Chung trà cuối năm uống qua ngày đầu năm. Sương lạnh buổi sớm len vào cửa sổ. Trầm hương lãng đãng quyện nơi thư phòng..
(View: 4125)
Một năm lại sắp trôi qua với những vết tích điêu tàn, khổ nạn để lại trên khắp trái đất. Nhìn lại, chúng ta không khỏi giật mình, và chạnh lòng thương tưởng
(View: 4380)
Nước lũ từ thượng nguồn cuồn cuộn đổ về, lại thêm nước từ đập thủy điện ồ ạt xả ra. Dân không được báo trước.
(View: 4243)
Trải hơn 25 thế kỷ, Chánh Pháp của Phật vẫn được tuyên dươnglưu truyền bởi hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia, đem lại giải thoátgiác ngộ cho...
(View: 5251)
Là người mới bắt đầu học Phật hoặc đã học Phật nhưng chưa thấm nhuần Phật pháp chân chính, chúng tôi biên soạn...
(View: 4226)
Hôm nay là ngày 10 tháng 6 năm 2015, tại thư phòng chùa Viên Giác Hannover, Đức Quốc, tôi bắt đầu viết tác phẩm thứ 65 của mình...
(View: 4228)
Bắt đầu vào hạ, trời nóng bức suốt mấy ngày liền. Bãi biển đông người, nhộn nhịp già trẻ lớn bé. Những chiếc...
(View: 7360)
Phật giáo ra đời từ một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại - Ấn Độ - và nhanh chóng phổ biến tại các nước phương Đông...
(View: 14434)
Trong tập sách nhỏ này tôi đã bàn đến hầu hết những gì mọi người đều công nhậngiáo lý tinh yếu và căn bản của Đức Phật... Con Đường Thoát Khổ - Đại đức W. Rahula; Thích Nữ Trí Hải dịch
(View: 25922)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
(View: 11761)
Tập sách do Minh Thiện và Diệu Xuân biên soạn
(View: 14864)
Phật GiáoVũ Trụ Quan (PDF) - Tác giả: Lê Huy Trứ
(View: 8514)
Hạnh Mong Cầu (sách PDF) - Lê Huy Trứ
(View: 10328)
Đọc “Dấu Thời Gian” không phải là đọc sự tư duy sáng tạo mà là đọc những chứng tích lịch sử thời đại, chứng nhân cùng những tâm tình được khơi dậy trong lòng tác giả xuyên qua những chặng đường thời gian...
(View: 5831)
Báo Chánh Pháp Số 48 Tháng 11/2015
(View: 8356)
Nguyệt san Chánh Pháp Tháng 10 năm 2015
(View: 6083)
Báo Chánh Pháp Số 46 Tháng 9/2015 - Chuyên đề Vu Lan - Mùa Báo Hiếu
(View: 24919)
Phương Trời Cao Rộng - Truyện dài của Vĩnh Hảo, Chiêu Hà xuất bản tại California, Hoa Kỳ năm 1993, tái bản năm 1995
(View: 5347)
Tiếng nói của những người con Phật có tấm lòng từ bi và trí tuệ đi vào đời...
Quảng Cáo Bảo Trợ