Logo Hanh Huong
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,268,320
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Quyển 30 đến 31

17 Tháng Chín 201417:07(Xem: 4702)
Quyển 30 đến 31

 

Đại Tạng No. 1451

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ

- Mùla-Sarvàstivàda -

TỲ-NẠI-DA TẠP SỰ

- Mùla-Sarvàstivàda Vinaya Ksudraka Vastu -

(Cuộc đời đức Phật và các đệ tử)

Hán dịch: Tam Tạng Nghĩa Tịnh, đời Đường, Trung Quốc

Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh, PL 2542 - TL 1998

 Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự

 

Quyển thứ ba mươi

 

--- ooOoo ---

 

Nội nhiếp tụng:

 

    Cận viên tùng Bí-sô,

    Bán nguyệt thỉnh giáo thọ,

    Y Bí-sô tọa hạ,

    Kiến quá bất ưng ngôn,

    Bất sân ha, lễ thiếu,

    Ý hỷ lưỡng chúng trung,

    Tùy ý đối Bí-sô,

    Tư danh bát tôn pháp.

 

- Này A Nan Đà! Ta đã chế tám kính pháp mà Bí-sô ny không được vượt qua. Nếu Đại Thế Chủ Kiều Đàm Dy có thể phụng trì tám kính pháp này thì được xuất gia thọ cận viên thành tựu tánh Bí-sô ny.

 

Nghe Phật thuyết về tám kính pháp xong, tôn giả A Nan Đà đảnh lễ Phật từ giã, đến gặp Đại Thế Chủ, nói:

 

- Đại Thế Chủ nên biết, Thế Tôn đã hứa cho người nữ được xuất gia trong pháp luật thiện thuyết của Phật, thọ cận viên thành tựu tánh Bí-sô ny. Nhưng Ngài chế định cho Bí-sô ny tám kính pháp không được vượt qua và phải chuyên cần tu học đến trọn đời. Tôi sẽ thuyết minh tám kính pháp của Thế Tôn chế ra, hãy lắng nghe và ghi nhớ kỹ.

 

Đại Thế Chủ thưa:

 

- Xin tôn giả nói ra, chúng con đang nhất tâm lắng nghe.

 

Tôn giả nói:

 

- Như Thế Tôn dạy, các Bí-sô ny phải tùy thuận theo Bí-sô cầu xuất gia thọ cận viên thành tựu tánh Bí-sô ny. Đây là kính pháp thứ nhất không được vượt qua, cho đến trọn đời các Bí-sô ny phải chuyên cần tu học.

 

Như vậy, tôn giả thuyết minh đến kính pháp cuối cùng.

 

Sau khi nghe tôn giả A Nan Đà thuyết minh các kính pháp xong, Đại Thế Chủ với thân tâm hoan hỉ đảnh lễ phụng trì, bạch với tôn giả A Nan Đà:

 

- Đại đức! Ví như cô gái thuộc gia đình quí tộc trong bốn dòng họ, tắm rửa sạch, thoa dầu thơm, chải sạch tóc móng tay, mặc y phục đẹp mới. Có người dùng hoa Chiêm bát, Ôn bát la ... kết làm vòng hoa đến trao cho cô ấy. Khi thấy đem hoa đến, cô ấy hoan hỉ nhận lấy đặt lên đỉnh đầu. Thưa đại đức! Con cũng như vậy, dùng cả thân, ngữ, ý thọ trì trên đỉnh đầu tám kính pháp của đức Như Lai.

 

Bấy giờ, Đại Thế Chủ thọ tám kính pháp cùng năm trăm Thích nữ ngay khi ấy được xuất gia thọ cận viên thành tựu tánh Bí-sô ny.

 

Cụ thọ Ô Ba Ly thưa Thế Tôn:

 

- Như lời Phật dạy, nếu Đại Thế Chủ thọ trì tám kính pháp, chính là xuất gia, chính là viên mãn giới cụ túc, thành tựu tánh Bí-sô ny. Không biết đối với những người nữ khác thì sự việc ấy như thế nào?

 

Phật bảo Ô Ba Ly:

 

- Những người nữ khác theo trình tự cho xuất gia và thọ viên đúng pháp.

 

Khi nghe dạy như vậy, những người nữ không biết trình tự ấy như thế nào. Họ đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

 

- Đại Thế Chủ dẫn đầu cùng năm trăm Thích nữ thọ pháp tôn kính, đó chính là xuất gia thọ cận viên thành tựu tánh Bí-sô ny. Muốn thọ cận viên, những người nữ khác đều theo trình tự sau:

 

- Người nữ nào đến cầu xuất gia, phải đến gặp một Bí-sô ny, đích thân lễ kính. Bí-sô ny ấy cần hỏi các chướng pháp. Nếu họ không bị các chướng ngại thì được thu nhận, truyền ba quy y và năm học xứ; trước lễ tôn tượng, sau lễ vị thầy, dạy họ chắp tay thưa:

 

- Thân giáo sư ghi nhận cho, con là ... kể từ hôm nay cho đến trọn đời xin quy y Phật Đà lưỡng túc trung tôn; quy y Đạt Ma ly dục trung tôn ; quy y Tăng già chư chúng trung tôn.

 

Sư nói:

 

- Tốt.

 

Thưa rằng:

 

- Lành thay!

 

Tiếp theo là truyền năm học xứ. Thầy dạy họ thưa như thế này:

 

- Thân giáo sư ghi nhận cho, như các vị Thánh giả A-la-hán trọn đời không sát sinh, không trộm cắp, không dâm dục tà hạnh, không nói dối, không uống các loại rượu. Con tên ... kể từ hôm nay cho đến trọn đời cũng không sát sinh, không trộm cắp, không dâm dục tà hạnh, không nói dối, không uống các loại rượu như vậy.

 

Đây chính là năm chi học xứ của con. Năm chi học xứ này của các vị A-la-hán, con xin luôn luôn học tập, thi hành, thọ trì (nói như vậy ba lần). Xin thân giáo sư chứng tri cho, con là Ô Ba Tư Ca quy y Tam bảo, thọ trì năm học xứ.

 

Vị thầy bảo:

 

- Tốt.

 

Trò thưa:

 

- Lành thay.

 

* Duyên xứ tại thành Thất La Phiệt, bấy giờ Thế Tôn khiến cho Đại Thế Chủ và năm trăm Thích nữ thọ trì tám kính pháp. Được Phật cho phép, tức thì họ được xuất gia thọ cận viên thành Bí-sô ny tánh. Nhân đó, ny chúng tiếp tục cho người khác xuất gia thọ cận viên thành Bí-sô ny tánh. Tuần tự như vậy, họ truyền cho người khác xuất gia, làm cho ny chúng hưng thịnh.

 

Sau đó một thời gian, các Thượng tọa Bí-sô ny đi đến gặp Đại Thế Chủ Kiều Đàm Dy, thưa rằng:

 

- Lành thay! Xin Thánh giả biết cho, Bí-sô ny chúng con xuất gia đã lâu. Các Bí-sô trẻ tuổi khác xuất gia thọ cận viên chưa lâu, nên khiến họ cung kính theo lớn nhỏ.

 

Nghe họ nói như vậy, Đại Thế Chủ Kiều Đàm Dy bảo:

 

- Này các em, hãy chờ một lúc, tôi đến gặp tôn giả A Nan Đà hỏi về việc này.

 

Đại Thế Chủ Kiều Đàm Dy liền đi đến gặp tôn giả A Nan Đà thưa về việc trên. Nghe xong, tôn giả nói:

 

- Này Đại Thế Chủ hãy chờ một lúc, tôi sẽ đến bạch Phật.

 

Đến gặp đức Phật, lạy sát chân Ngài, đứng qua một bên, tôn giả A Nan Đà thưa:

 

- Bạch Thế tôn, các vị thượng tọa Bí-sô ny xuất gia đã lâu. Có các Bí-sô trẻ tuổi mới xuất gia thọ cận viên nên khiến họ y theo lớn nhỏ mà cung kính các vị kia, việc này có được không?

 

Phật bảo A Nan Đà:

 

- Ông không nên mở miệng nói việc này. Vì sao? Nếu người nữ kia không xuất gia trong pháp luật thiện thuyết thì khi gặp Bí-sô, các trưởng giả Bà la môntín tâm đều mang thức ăn ngon đến cúng dường đầy đủ.

 

- Này A Nan Đà, cũng có trưởng giả Bà la môn với tín tâm dùng tấm thảm mới trắng sạch trải trên đường, thưa rằng xin quý vị Sa-môn đi trên tấm này để cho chúng con được lợi ích lớn lâu dài, luôn luôn an lạc.

 

- Này A Nan Đà, cũng có các trưởng giả Bà la môn với tín tâm dùng tóc trải trên đất, thưa như thế này:

 

- Xin quý vị Sa-môn đi trên tóc của con để cho con được lợi ích lớn lâu dài, luôn luôn an lạc.

 

Lại nữa, này A Nan Đà, nếu người nữ không xuất gia trong pháp luật thiện thuyết của Ta thì dù cho ánh sáng của mặt trời mặt trăng cũng không che khuất được uy đức của các đệ tử Ta huống chi các loại ngoại đạo khác như thây chết.

 

Lại nữa, này A Nan Đà, nếu người nữ không xuất gia, giáo pháp của Ta được thanh tịnh hoàn toàn không uế nhiễm đủ một ngàn năm. Do họ xuất gia nên chính pháp giảm còn năm trăm năm. Thế nên, này A Nan Đà, Ta khiến Bí-sô ny thọ cận viên đến một trăm tuổi cũng cần phải tôn trọng, chắp tay, nghênh tiếp, cung kính, đảnh lễ vị Bí-sô mới thọ cận viên.

 

* Duyên xứ như trước. Trong các chúng Bí-sô ny phát sinh những tăng sự về chúng bốn người, chúng năm người, chúng mười hai người. Họ tập hợp hết hai bộ Tăng già, sự vụ thêm nhiều ra làm trở ngại việc giáo thọ, đọc tụng, thiền quán. Các Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

 

- Việc của hai chúng khác nhau, chỉ trừ xuất tội, thọ cận viên, và các pháp sự trong nữa tháng v.v ... cần phải cộng tác, ngoài ra đều làm riêng.

 

Thành Thất La Phiệt có một trưởng giả lấy vợ chưa bao lâu thì người vợ có thai. Đủ tháng, khi mẹ vừa sinh một bé gái thì cha qua đời. Nuôi con vừa khôn lớn thì người mẹ cũng quá vãng.

 

Một hôm, nhân đi khuất thực, ny Thổ La Nan Đà đến nhà ấy. Thấy cô gái, vị ny hỏi:

 

- Con sống với ai?

 

Đáp:

 

- Thánh giả, con không có nơi nương cậy nên chẳng lệ thuộc ai cả.

 

Hỏi:

 

- Như vậy sao không xuất gia?

 

Đáp:

 

- Ai cho con xuất gia?

 

Ny nói:

 

- Ta có thể giúp con, hãy đi theo ta.

 

Theo về đến trú xứ ny, được xuất gia nhưng sau đó vì bị phiền não lôi kéo nên cô này lại hoàn tục.

 

Nhân đi khuất thực, ny Thổ La Nan Đà gặp lại cô này, hỏi:

 

- Thiếu nữ, con sống thế nào?

 

Đáp:

 

- Thánh giả, không có nơi nhờ cậy, con sống rất khổ sở.

 

Bảo:

 

- Như vậy sao con không xuất gia lại?

 

Đáp:

 

- Con đã hoàn tục ai cho con xuất gia?

 

Ny bảo:

 

- Ta cho phép.

 

Khi đã xuất gia, cô ta đi khuất thực. Trưởng giả Bà la môn trông thấy, cùng nhau chê bai:

 

- Các Thích-ca nữ khéo làm chuyện thật tốt! Có lúc xuất gia tu tập phạm hạnh, có lúc lại bỏ đạo trở lại nhiễm vào bụi trần, hành động theo tình ý, thật là việc bậy bạ.

 

Nghe như vậy, chư ny bạch Bí-sô ; Bí-sô bạch Phật. Phật suy nghĩ: "Ny hoàn tục có những lỗi như vậy".

 

Ngài chế định từ nay về sau ny đã hoàn tục không được xuất gia lại. Trưởng giả Bà-la-môn ấy chê bai đúng vì người kia làm tổn giảm chánh pháp của Ta. Thế nên, khi Bí-sô ny xả bỏ pháp phục hoàn tục, không được xuất gia. Nếu cho họ xuất gia lại, Bổn sư bị tội vượt pháp.

 

 

 

Nhiếp tụng sáu trong biệt môn sáu:

 

    Nhân độ Kiều Đáp Di,

    Xuất gia hữu ngũ lợi

    Khả ư ngũ chúng nội,

    Ha trách tự ưng tri.

 

* Duyên xứ như trước. Tại Bà La Ny Tư có một trưởng giả tên Cù Đáp Ma rất giàu có, lấy vợ chưa lâu, mang hàng hóa đi đến thành Đắc Xoa để giao dịch. Đến nơi, ông ta vào nhà kia ở lại. Thấy ông ấy đến, trưởng giả chủ nhà ấy tên là Danh Xưng mừng rỡ chào đón mời ngồi. Nhân đó họ quen nhau rồi trở nên thân thiết.

 

Bấy giờ, Cù Đáp Ma bán hàng cũ, mua hàng mới rồi trở về xứ mình.

 

Sau đó, vì buôn bán trưởng giả chủ nhân này đến Bà La Ny Tư và đi vào nhà Cù Đáp Ma để nghỉ lại. Gặp bạn đến, Cù Đáp Ma mừng rỡ ngạc nhiên reo lên chào đón nói với nhau những điều thân thiết từ lâu.

 

Bấy giờ trưởng giả Đắc Xoa bảo Cù Đáp Ma:

 

- Nên làm cách gì để sau khi chúng ta qua đời con cháu chúng ta cùng nhau thân ái không xa lìa?

 

Đáp Ma nói:

 

- Lành thay lời nói này, từ nay chúng ta hãy chỉ bụng kết thân, hai nhà chúng ta nếu sinh nam nữ thì kết thông gia với nhau.

 

Đắc Xoa nói:

 

- Thật tốt, ý tôi cũng như vậy.

 

Bấy giờ trưởng giả Đắc Xoa bán vật cũ mua đồ mới chở về xứ mình. Vợ ông ta có thai, đủ tháng sinh một bé trai, tròn hai mươi mốt ngày hội họp thân tộc đặt tên cho bé là Du Phương.

 

Ở Ba-La-Ny-Tư, Cù Đáp Ma nghe người kia sinh con trai nên rất vui mừng, suy nghĩ: "Trưởng giả Đắc Xoa kết thân với ta nay đã sinh nam, ta nên sinh nữ. Cậu bé kia là rể, vậy ta nên gửi y phụcanh lạc để trang sức".

 

Ông ta sai sứ mang đến cho Đ?c Xoa tặng vật và thư với nội dung:

 

- Nghe bạn sinh con trai, tôi rất vui mừng, nên gửi y phục đến, mong bạn nhận cho.

 

Nhận được vật và thư, trưởng giả Đắc Xoa hồi âm. Nhận được thư, Cù Đáp Ma ý mong cầu có con gái. Không bao lâu người vợ có thai, đủ tháng sinh một bé gái tuy hình dáng xinh đẹp nhưng gầy thua người thường. Thân tộc tập họp cùng nhau đặt tên. Mọi người bàn nhau:

 

- Cô này hình dáng mảnh mai, lại là con gái của Cù Đáp Ma nên đặt tên là Cù Đáp Ma gầy.

 

Nghe vị này sinh con gái, trưởng giả kia suy nghĩ: "Bạn ta sinh con gái sao ta lại điềm nhiên, nên gửi y phục anh lạc để bày tỏ sự vui mừng. Cô bé ấy là dâu mới của ta, có gì mà ngại".

 

Ông ta gửi thư với nội dung:

 

- Nghe bạn sinh con gái nên tôi rất vui, xin gửi đến y phục anh lạc để bày tỏ sự chúc mừng, mong bạn nhận cho tấm lòng gửi đến.

 

Sau khi xem thư, người kia báo thư lại:

 

- Trước đây đã hứa kết thân, nay mới toại nguyện, chờ khi chúng thành nhân sẽ tính chuyện hôn nhân.

 

Nhận được thư, khi con gái vừa cập kê, Cù Đáp Ma liền dạy bảo cho có học thức.

 

Trưởng giả Đắc Xoa cũng dạy bảo con trai thông thạo các nghề. Trước đây, trưởng giảtư thông với dâm nữ nên đưa con đến để học âm thư, sách này dạy về chuyện nam nữ tư thông với nhau, những việc riêng tư bí mật trá ngụy khó biết.

 

Sau một thời gian dài học tập, cậu ta thưa:

 

- Mẹ ơi, con đã học xong, nay muốn về nhà.

 

Người mẹ ấy bảo:

 

- Con hãy học cho giỏi đã, chớ vội về nhà.

 

Đáp:

 

- Mẹ ơi, con học đã giỏi, nhớ nhà phải về.

 

Bà ta lén gói bột đá đỏ trong lụa, bảo:

 

- Nếu con nhất quyết đi về, ta sẽ tự đập bể đầu cho chảy máu ra.

 

Đáp:

 

- Mẹ ơi, đã khổ nhọc giữ lại, con tạm thời chưa về.

 

Mẹ bảo:

 

- Này vật bần hàn, con tự nói đã học giỏi âm thư sao lại không biết lẽ nào ta lại đập bể đầu vì con người khác. Ta dự định đem bột đỏ ướt bọc trong lụa để trên đầu rồi ép cho chảy nước xuống. Thấy vậy, mọi người cho là máu. Con thật vô trí, chưa thể nói chuyện về được.

 

Nghe mẹ nói như vậy, cậu ta tạm thời ở lại nhưng không bao lâu lại thưa:

 

- Mẹ ơi, con muốn về nhà.

 

Mẹ nói:

 

- Con nên ở lại.

 

Đáp:

 

- Con đi thôi.

 

Mẹ bảo:

 

- Nếu con đi, ta sẽ nhảy xuống giếng chết.

 

Đáp:

 

- Mẹ ơi, nếu quyết như vậy, con không về nhà.

 

Mẹ nói:

 

- Này vật ngu si, con tự nói thông hiểu âm thư nhưng lại không biết khi nào ta lại nhảy xuống giếng chết vì con người khác. Ta đã dự tính đặt dưới đáy giếng nệm cỏ dày nên khi nhảy xuống dưới, mọi người thấy vậy cho là chết. Con thật vô trí, chưa thể nói về nhà được.

 

Sau một thời gian ngắn, cậu ta lại thưa:

 

- Mẹ ơi, con muốn về nhà.

 

Mẹ bảo:

 

- Con đã ân cần ba lần xin về, nếu không chịu ở lại ta sẽ làm cháo sữa, ăn xong rồi đi.

 

Sau khi cháo sữa chín, đổ đầy mâm đồng, thêm vào nhiều bơ mật, trước mặt cậu ta, bà ta ăn hết, sau đó ói ra mâm, rồi ra lệnh:

 

- Con hãy ăn lại đi.

 

Đáp:

 

- Mẹ ơi, thức ăn đã mữa ra, làm sao ăn lại?

 

Người mẹ liền khóc lóc. Nghe tiếng khóc, hàng xóm đến hỏi vì sao như vậy.

 

Nghe người mẹ nói, họ bảo:

 

- Vì người nấu cháo sao lại không ăn?

 

Đáp:

 

- Đây là thức ăn ói ra, làm sao ăn lại?

 

Đấm ngực khóc lớn, người mẹ bảo mọi người:

 

- Có khi nào đem thức ăn ói ra cho người ăn không?

 

Mọi người áp đến ép cậu ta phải ăn. Bị áp bức, cậu ta định ăn cháo ấy. Người mẹ liền nắm tay kéo ra, vả vào mặt cậu ta nói:

 

- Kẻ ngu si tự bảo rằng đã hiểu rõ âm thư, con thật vô trí, tại sao chính mắt thấy thức ăn ói ra lại lấy ăn?

 

Nhân đó, bà ta đuổi cậu ấy về, không cho ở nữa.

 

Sau khi bị đuổi, con trưởng giả về nhà cũ, làm nghề chủ buôn, đưa năm trăm người mang nhiều hàng hóa đi về hướng Nam của đất nước. Với ai cậu ta cũng nói về chuyện nhàm chán nữ sắc. Tuần tự, họ đi dần đến Ba La Ny Tư.

 

Bấy giờ, khi đi lại buôn bán, các thương nhân đều tư thông với dâm nữ nhưng đoàn người này vì nghe lời thiện nên không đến nhà bọn chúng.

 

Dâm nữ bàn nhau:

 

- Chị em nên biết, thương khách ở phương Bắc trước đây phần nhiều đều có tư thông với chúng ta, nay đều ly dục không thèm nhìn đến.

 

Một cô bảo:

 

- Tôi nghe chủ buôn giỏi về âm thư nên rất nhàm chán xem thường phụ nữ, vì vậy những người khác đều không qua lại chúng ta nữa.

 

Trong nhóm, có một dâm nữ lớn tuổi hỏi mọi người:

 

- Hắn có phải là đàn ông không?

 

Đáp:

 

- Đúng là đàn ông, các căn đều đủ.

 

Bảo:

 

- Nếu con gái ta dụ hắn được thì phải được bầu làm trưởng nhóm.

 

Đáp:

 

- Nếu được như vậy thì đưa cô ấy đứng đầu, bằng không sẽ thế nào?

 

Đáp:

 

- Sẽ trả các cô năm trăm tiền vàng.

 

Mọi người đồng ý.Bà ta đến ở bên cạnh nhà chủ buôn để hàng hóa, và cũng chứa nhiều hàng hóa không thiếu gì cả. Khi gia nhân của chủ buôn có việc đến cửa hàng, bà ấy hỏi:

 

- Người ở đâu?

 

Đáp:

 

- Tôi là gia nhân của chủ buôn.

 

Bà nói:

 

- Con ta cũng là chủ buôn mang hàng hóa đến phương khác, nếu không như vậy thì phải cầu xin người khác rồi. Từ nay, con đến nhà ta, cần gì cứ tùy ý lấy.

 

Nghe như thế, người này thường đến lấy vật đem về. Thấy vậy, chủ buôn ngạc nhiên hỏi:

 

- Ngươi lấy những vật lạ này ở đâu?

 

Gia nhân đáp:

 

- Cách đây không xa, có một bà già, nhà chứa nhiều hàng hóa. Bà ấy nói rằng con bà cũng là chủ buôn mang hàng hóa đi bán ở phương khác, nếu không như vậy thì đã cầu xin người khác rồi, cần gì hãy lấy tùy ý. Bà ấy cần gì sẽ xin nơi con mình.

 

Nghe nói, chủ buôn sinh cảm tình với bà lão, bảo gia nhân:

 

- Bà mẹ ấy đã cung cấp những vật dụng như vậy thì cũng như mẹ ta.

 

Gia nhân đến bảo với bà ấy:

 

- Đối với bà, chủ buôn rất có cảm tình, xem như mẹ mình.

 

Bà lão nói:

 

- Bao giờ tôi được gặp mặt con trai?

 

Đáp:

 

- Lành thay, con sẽ báo với chủ buôn.

 

Được gia nhân về báo lại, chủ buôn vui vẻ đồng ý và đi ngay đến cửa hàng của bà già.

 

Gặp nhau, hai bên vui cười đón tiếp, bà già hỏi:

 

- Con tên gì?

 

Đáp:

 

- Con tên Du Phương.

 

Mẹ nói:

 

- Thương chủ, con ta cũng đồng tên với con ; vậy con khác nào con ta. Hãy tới lui với nhà ta, đừng ngại gì cả.

 

Đáp:

 

- Như vậy lòng con không còn phân biệt.

 

Bà mẹ sai con gái:

 

- Con hãy đến gặp gỡ anh trai.

 

Vâng lệnh, cô gái ra ngoài thăm hỏi chủ buôn.

 

Khi thấy cô gái đến với dung nhan xinh đẹp hiếm có trên đời, chủ buôn sinh tâm luyến ái như bị trúng gió, ngất ngây không còn biết làm gì. Giây lâu chợt tỉnh, chủ buôn nói với mẹ:

 

- Thiếu nữ con nhà ai?

 

Đáp:

 

- Này con yêu mến, đây là em con.

 

Hỏi:

 

- Đã thuộc về ai chưa?

 

Đáp:

 

- Chưa thuộc về ai cả.

 

Hỏi:

 

- Mẹ ơi, như vậy sao không gả cho con?

 

Mẹ nói:

 

- Muốn nó phục vụ con, nên không tính chuyện cho người khác. Nhưng có một chuyện làm cho ta lo ngại là ưa thích gần gũi nhất thời, khi chán thì vứt bỏ.

 

Đáp:

 

- Mẹ ơi, nếu được gả cho, con quyết không ruồng bỏ.

 

Mẹ nói:

 

- Như vậy thì có bao nhiêu tài vật hãy đưa vào nhà mẹ, mới tin lòng con, lời nói không đổi.

 

Đáp:

 

- Xin vâng.

 

Khi chủ buôn vận chuyển tài sản vào nhà, bà ta liền đưa hết ra ngoài theo ngõ sau.

 

Khi biết đã đưa hết vật, chủ buôn bảo:

 

- Xin chọn ngày tốt để thành thân.

 

Bà ta liền báo với các dâm nữ:

 

- Vào ngày ... các cô hãy trang sức với y phục thật xinh đẹp cùng đến nhà tôi để chung vui.

 

Đến ngày cưới, chủ buôn ngạc nhiên, hỏi:

 

- Mẹ ơi, vì sao lễ lớn lại không có đàn ông, chỉ toàn là đàn bà?

 

Bà già nói dối:

 

- Đàn ông chưa đến .

 

Có một cô gái nói vào tai chủ buôn:

 

- Anh không biết chúng tôi đều là dâm nữ hay sao?

 

Chủ buôn suy nghĩ:

 

- Ta bị dâm nữ lừa gạt rồi.

 

Sau nhiều ngày ăn ở với nhau, dâm nữ bảo chủ buôn:

 

- Hãy cho em tiền vàng.

 

Đáp:

 

- Tài sản của ta đều đưa hết vào nhà em, nay lại đòi nữa, lấy đâu mà đưa.

 

Cô ta im lặng.

 

Một hôm, nhân chủ buôn say rượu ngủ mê, nên bị dâm nữ dùng dây rơm bó lại đem ném ra ngoài đường. Khi trời sáng, có người đi lại, chủ buôn mới tỉnh thức, thấy thân mình như vậy nên rất hối hận, nước mắt tuôn rơi, lại bị lửa đói thiêu đốt. Để tìm thức ăn, con trưởng giả đến nơi cần mướn người có sức, xin làm thuê.

 

Bấy giờ, trưởng giảĐáp Ma làm thêm nhà mới, cần nhiều người làm thuê, sai người đi đến vùng ngoại ô tìm người làm nên gọi đến con trưởng giả (chủ buôn). Thấy dáng điệu người này rất mềm yếu, Cù Đáp Ma bảo sứ giả:

 

- Ta xem người này chưa từng làm việc, hãy tìm người khác. Nghe như vậy, người kia càng thêm buồn bã, nước mắt đầm đìa nhìn vào mặt trưởng giả.

 

Trưởng giả kinh ngạc hỏi:

 

- Ngươi là con nhà ai từ đâu đến đây, tên họ gì?

 

Người kia thổn thức nghẹn ngào nói:

 

- Cha ơi, con là người phương Bắc, ở thành Đắc Xoa, tên là Du Phương. Con vì duyên trời nên đến đây nhưng không biết phải đến nơi nào, nay gặp khổ nạn chẳng biết sống chết lúc nào.

 

Thấy người kia nói như vậy, Cù Đáp Ma sinh lòng thương xót, hỏi:

 

- Ngươi có biết trưởng giả Danh Xưng ở thành Đắc Xoa không?

 

Đáp:

 

- Cha ơi, con thật bạc phúc, người ấy là cha ruột của con.

 

Nghe người kia nói về cha mình, Cù Đáp Ma biết là cựu thân nên động lòng từ ái, ôn tồn nói:

 

- Con hãy an tâm đừng nên buồn thảm, hãy làm rể của ta, đây là nhà của con.

 

Người kia liền được an ủi, không còn sầu khổ. Trưởng giả liền cung cấp y phục, vật trang sức, tắm rửa, dầu thơm, thức ăn uống, phòng ở, tất cả những vật cần dùng không thiếu thứ gì cả.

 

Trưởng giả lại bảo vợ:

 

- Bà hãy chuẩn bị đầy đủ tất cả vật trang sức, anh lạc cho con gái của chúng ta. Chàng rể đã đến, hãy tổ chức hôn lễ.

 

Trước thân thuộc, trưởng giả nói với Du Phương:

 

- Nay là ngày tốt, hãy làm đám cưới.

 

Du Phương đáp:

 

- Thưa cha, chưa thể thành thân được, đợi con tìm lại hàng hóa đã.

 

Trưởng giả bảo:

 

- Con tùy ý sử dụng tài sản trong nhà, đã không thiếu thốn, tìm thêm làm gì?

 

Nhưng bản ý của Du Phương là muốn đến nhà dâm nữ để báo thù riêng nên đáp:

 

- Thưa cha, ngày cưới vợ, con phải bày biện đầy đủ nghi lễ, lẽ nào như kẻ lưu tục tùy tiện cưới vợ.

 

Trưởng giả im lặng.

 

Khi ấy, Du Phương ra khỏi thành du ngoạn thấy có tử thi đang trôi theo dòng sông lớn. Trên bờ, chim quạ muốn ăn thịt ấy nhưng đưa mỏ không tới đành phải ngóng theo bờ sông. Chúng dùng chân kẹp đũa chà sát trên mỏ làm cho nó dài ra, mổ ăn thịt nơi tử thi. Sau khi ăn xong, chúng dùng một chiếc đũa chà lên mỏ làm cho ngắn lại như cũ. Thấy vậy, Du Phương nhặt lấy một chiếc đũa rồi trở về. Sau đó, anh ta mang năm trăm tiền vàng đến nhà dâm nữ, bảo:

 

- Hiền thủ! Trước đây ta không có tiền nên bị trói ném ra ngoài, nay đã có tiền hãy cùng nhau vui thú.

 

Thấy có tiền, cô ta liền xáp lại. Khi thuận tiện, Du Phương dùng chiếc đũa cọ vào mũi của cô ta, làm cho nó dài ra chừng mười tầm.

 

Bấy giờ, trong nhà kinh sợ, mời hết các thầy thuốc để chữa trị. Nhưng không ai có thể làm trở lại như cũ nên họ đều ra về.Thấy thầy thuốc bỏ về, cô gái càng kinh hoàng, cầu khuẩn với Du Phương:

 

- Xin Thánh tử từ bi, tha thứ cho lỗi cũ chớ nghĩ việc trả thù, chữa trị cho em.

 

Du Phương đáp:

 

- Trước hết phải thề, ta mới trị cho. Phải trả lại hết nhưng tài sản trước đây lấy của ta, rồi ta trị liệu.

 

Cô ta đáp:

 

- Nếu em làm sai sẽ đền gấp bội. Đã nói rõ trước mọi người, em nào dám dối trá.

 

Sau khi được Du Phương dùng chiếc đũa cọ vào sống mũi cô ta, làm sao cho bình phục lại như cũ, cô ta đem trả lại tất cả những vật đã chiếm đoạt trước đây. Nhận lại hàng hóa, Du Phương trở về nhà để tổ chức hôn lễ lớn, mời hết thân thuộc đến cưới vợ lập gia đình.

 

Có căn nhà ngoài thành, Cù Đáp Ma bảo chàng rể:

 

- Con hãy đem vợ đến ở đó, ta cấp hết cho con những thôn phường thuộc nơi đó.

 

Không bao lâu, người vợ có thai, khi sắp sinh, bảo chồng:

 

- Em muốn trở về nhà để nhờ mẹ trông nom.

 

Đáp:

 

- Tùy ý .

 

Sau khi về nhà cha mẹ, sinh được một trai, cô ta trở lại nhà mình. Không bao lâu, cô ta có thai lần nữa. Khi sắp sinh, cũng như trước, muốn trở về nhà mẹ nên cô ta đi cùng xe với chồng và con. Giữa đường, người chồng xuống xe, đến nằm ngủ dưới một gốc cây, bị rắn độc cắn nên qua đời. Khi ấy, trong xe, người vợ sinh một bé trai. Sau khi sinh, thiếu phụ xuống xe, đến gốc cây báo với chồng:

 

- Em đã sinh con, anh hãy vui mừng.

 

Gọi mãi, không thấy nói gì, cuối cùng dùng tay lay chồng, biết đã chết, vợ gào khóc đấm ngục đau đớn thống khổ. Có một kẻ gian trộm lấy bò đi mất, chỉ còn xe không. Càng thêm đau buồn, thiếu phụ nhìn khắp bốn hướng không thấy có ai cả, đành bồng hai con đi về quê cũ. Trên đường đi, gặp phải mưa to, nước sông dâng cao không thể đi qua được. Thiếu phụ suy nghĩ: "Nếu mang cả hai con lội qua một lần thì sợ mẹ con ta không an toàn".

 

Thiếu phụ để đứa lớn lại, bồng đứa nhỏ lội qua, đặt trên bờ bên kia.Trong lúc thiếu phụ trở lại bồng đứa lớn, lội đến giữa dòng, trên bờ có một chó sói đến cắn lấy đứa nhỏ. Nghe tiếng bé kêu khóc, bà mẹ la to lên. Tưởng mẹ kêu sang, đứa lớn nhảy xuống dòng sông nên bị nước cuốn chết mất. Lên bờ, mẹ đuổi theo chó sói, giành lại được nhưng con đã qua đời. Sau khi khóc lóc, mẹ vừa thả xác con xuống sông lại thấy đứa lớn trôi đến. Nghĩ là con còn sống, mẹ lội xuống đưa lên nhưng thấy đã chết. Đau đớn khóc lóc, chạy lên bờ sông, bỏ lại xác chồng và con, người mẹ lang thang một mình đi theo đồng trống, chỉ mặc một tấm y, kêu gào vang động, đấm ngục áo não không tự chủ được, khi đi khi ngồi lăn lộn trên đất.

 

Vì vậy, Bí-sô nên biết, khi quả báo do nghiệp trước đã chín thì tự thân phải chịu không thể tránh thoát. Trong khi ấy, cha mẹthân thuộc ở nhà bị sét đánh chết hết chỉ còn một nô tỳ còn sống.Thấy nô tỳ khổ sở kêu khóc chạy đến, thiếu phụ hỏi:

 

- Vì sao chạy nhanh như vậy?

 

Nô tỳ ngã lăn ra đất khóc lóc nói:

 

- Cả nhà đều bị sét đánh chết chỉ còn một mình con sống sót.

 

Nghe vậy, thiếu phụ kêu gào đau khổ không thể tự kiềm chế được, nói kệ:

 

    Trong đời trước, ta đã

    Từng làm nghiệp ác

    Mà chồng, con, cha, mẹ

    Thân thuộc chết một lần

    Ta là kẻ bạc phước,

    Lang thang đi một mình,

    Thân tộc đều tan nát,

    Mặt mũi nào muốn sống,

    Thà ở trong rừng núi,

    Nơi đồng trống vắng người

    Không thể sống trong nhà

    Ngày đêm càng ưu sầu.

 

Sau khi nói kệ, từ giã nô tỳ, một thân một mình thiếu phụ lang thang khắp nơi. Đến một tụ lạc, vào nhà kia, thiếu phụ thấy một bà già đang se sợi kiếp bối nên xin ở tạm. Được bà mẹ cho phép, thiếu phụ đến bên cạnh cùng se sợi. Có một thợ dệt trẻ tuổi thường mua sợi của bà lão. Hôm khác, bà lão mang sợi mịn đi đến chỗ thiếu niên. Anh ta hỏi:

 

- Trước đây sợi thô nay sao sợi mịn đẹp?

 

Đáp:

 

- Đây không phải ta làm.

 

Hỏi:

 

- Ai làm vậy?

 

Đáp:

 

- Có người khách làm được sợi mịn đẹp.

 

Hỏi:

 

- Mẹ ơi, con chỉ có một mình, không ai đỡ tay sao không cho sang đây, con sẽ cung cấp y phục thức ăn.

 

Đáp:

 

- Ta về hỏi họ đã, ý như thế nào sẽ báo sau.

 

Anh ta liền thanh toán sợi với giá trị cao, bày thức ăn ngon, đưa hương hoa trang sức để bà lão đem trở về.

 

Thấy vậy, Cù Đáp Ma gầy hỏi:

 

- Mẹ ơi, nơi nào mua sợi lại được cả tiền và hương hoa đẹp?

 

Đáp:

 

- Này thiếu nữ, chẳng những thanh toán giá trị bằng tiền mà còn được y phục, hoa đẹp, thức ăn thơm ngon no đủ, hoan hỷ trở về.

 

Rất ngạc nhiên nên thiếu phụ hỏi rõ việc này, và được bà già kể lại về lòng tốt của thợ dệt. Bà ta lại nói:

 

- Này thiếu nữ, thợ dệt ấy chưa có vợ, nếu con chịu sống chung thì được cung cấp đầy đủ y phục thức ăn.

 

Đáp:

 

- Mẹ ơi, đừng nói lời ấy nữa, đối với chuyện gia đình con rất chán ngán, chỉ mong sống lây lất qua ngày chứ không cầu gì hơn.

 

Bà già nói:

 

- Theo lý, đàn bà không có nơi nương tựa, thật khó được giúp đỡ, hãy tìm nơi để an thân.

 

Bằng cả trăm cách, bà ta thuyết phục cho cô ta cải giá. Thiếu phụ xiêu lòng nên theo sự yêu cầu của bà ấy.

 

Biết như vậy, thợ dệt đem lễ vật đến rước đi. Thợ dệt này tính rất độc dữ, tuy cô ta không lỗi gì cũng bị đánh khổ sở. Đi đến gặp bà lão, thiếu phụ than trách:

 

- Vì sao lại gả tôi cho dược xoa vậy, thường bị khổ sở, biết làm sao đây?

 

Đáp:

 

- Thiếu nữ, con chớ lo buồn, nếu có con trai tất con được yêu mến và gia tài sản nghiệp đều thuộc về con.

 

Không bao lâu, cô ấy có thai. Biết như vậy, chồng không hành hạ nữa. Do đó, cô ta sinh ý khinh mạn hơi quá đáng. Thấy vậy, thợ dệt ngầm ngầm tức giận. Một hôm, sau khi cùng nhau ăn tiệc, thợ dệt say rượu về nhà gõ cửa. Đang lúc sắp sinh, người vợ phải ngồi yên nên tuy nghe gọi cửa nhưng không làm sao đi ra xem được.Với bản tính độc dữ, lại thêm say rượu nên mối hận trong lòng thợ dệt được dịp phẫn nộ thêm. Sau khi sinh con, vợ mới ra mở cửa, bảo với chồng:

 

- Em vừa sinh con trai, anh hãy vui mừng.

 

Nghe nói như vậy, đã sẵn ý độc dữ nên chồng suy nghĩ:

 

- Khi nó có thai, đã khinh mạn ta, nay đã sinh con càng thêm cao ngạo, nếu không giết đi tất thành kẻ thù.

 

Kẻ ác này bảo vợ:

 

- Hãy mau nấu chảo dầu lên.

 

Khi thấy dầu đã sôi, hắn ta bảo vợ:

 

- Ngươi hãy ném đứa nhỏ vào chảo dầu đi.

 

Vợ van xin:

 

- Đây là con anh, mới sinh chưa biết chi, nào có lỗi gì mà muốn giết đi, thật không nên!

 

Bị kẻ ác dùng gậy đánh trên lưng, trên đời này không thương ai bằng thân mình, người vợ không chịu đau đớn nổi nên phải bỏ con vào chảo dầu sôi. Thấy con đã chín, chồng ác bảo vợ:

 

- Ngươi hãy ăn thịt này đi.

 

Đáp:

 

- Làm sao tôi ăn thịt con mình được!

 

Tên chồng ác càng hành hạ khổ sở. Chịu khổ không nổi, vợ đành phải ăn thịt con mình.

 

Như Thế Tôn dạy:

 

    - Nhiễm dục là lỗi nhỏ,

    Ngu cũng có thể trừ,

    Sân si là họa lớn,

    Người trí nên viễn ly.

 

Bấy giờ, thợ dệt hối hận đứng ngồi không yên như lửa đốt trong lòng, rất là buồn bực, phiền muộn mệt mỏi nên ngủ quên. Người vợ suy nghĩ: "Người này giết con rồi bắt ta ăn thịt, thật là Dạ xoa mang hình người, phải mau chạy trốn".

 

Mang theo lương thực đi đường, cô ta chạy ra ngoài thành.

 

Có thương khách ở phương Bắc muốn về lại nước mình, cô ta đi theo để sống qua ngày. Thấy cô ta hình dáng xinh đẹp nên chủ đoàn buôn yêu mến, hỏi:

 

- Thiếu nữ, cô tùy thuộc ai và đi về đâu?

 

Đáp:

 

- Trước đây tôi có chồng nhưng bị rắn độc cắn chết, một con trẻ mới sinh bị chó sói hại chết, một đứa hai tuổi bị chết đuối, cha mẹ thân thuộc đều bị sét đánh chết. Không nơi nương tựa, tôi lang thang khắp nơi nên tạm nhờ vào đoàn buôn để sống qua ngày.

 

Nghĩ rằng cô này xinh đẹp thật khó tìm được nên chủ buôn nhận làm vợ. Thình lình, trên đường đi bị giặc cướp đoạt, tài sản mất hết, chủ buôn bị bỏ mạng. Thấy cô này dáng điệu đáng yêu, tướng giặc cung cấp y phục thức ăn và lấy làm vợ.

 

Sau đó vua phương Bắc tru diệt tướng cướp và đua cô ta về làm đại phu nhân. Không bao lâu, vua băng hà. Quần thần tổ chức nghi lễ lớn. Trong nước, theo phép chôn người chết, vua và phi hậu đều táng chung trong một lăng. Trộm muốn phá lăng nên đào xuống quan tài. Trong mộ, Cù Đàp Di Gầy bị bụi đất rơi vào mũi nên hách xì. Nghe tiếng kêu, cho là thây ma hiện quỷ nên bọn trộm sợ hãi bỏ chạy tứ tảùn.Thấy ánh sáng chiếu xuống mộ, Cù Đáp Di Gầy mới lần theo lỗ đào chui ra. Đã ra ngoài rồi, hoang mang nhìn khắp nơi, ngổn ngang trăm nỗi khổ đau, không biết sống thế nào đây, lại thêm toàn thân đói khát, do đó cô ta điên cuồng không còn nhớ gì nữa, bôi bùn đất đầy người, tay chân rách nát, trần truồng cô độc lang thang ra đi, trải qua vạn dặm đến thành Thất La Phiệt.

 

Như Thế Tôn dạy, nghiệp báo của chúng sinh bất khả tư nghị, nghiệp đã gây ra rồi phải tự chịu, ác duyên vừa hết, thiện quả mới sanh.

 

Dần dần, cô ta đi về thành rừng Thệ Đa.

 

Khi ấy, Thế Tôn đang thuyết diệu pháp cho đại chúng vây quanh. Trông thấy Thế Tôn với ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm toàn thân siêu tuyệt thế gian, hào quang tròn sáng hơn ngàn nhật quang, như núi báu chúa, cô ta nhìn quên cả mệt mõi. Nhờ chăm chú chiêm ngưỡng Phật, cô ta phục hồi bản tâm, quan sát lại thân mình rất xấu hổ nên ngồi bẹp xuống đất không dám tiến bước.

 

Trong tất cả mọi lúc, đức Như Lai đại sư đều thấy biết tất cả, luôn rãi lòng từ lợi ích cho hữu tình, là bậc cứu hộ đệ nhất, hùng lực vô cùng không có hai lời, luôn an trú trong định tuệ, biểu hiện ba minh, tu tập hoàn toàn tam học, điều phục hoàn toàn ba nghiệp, vượt bốn bạo lưu, an định trong bốn thần túc, tất cả mọi lúc tu tập bốn nhiếp pháp, xả trừ năm cái, viễn ly năm trần, siêu việt năm đạo, sáu căn đầy đủ, viên mãn sáu độ, bố thí khắp bằng bảy thánh tài, nở hoa bảy giác ngộ, xa lìa tám nạn, thích tám đường chánh, vĩnh viễn đoạn trừ chín kiết, thông suốt chín định, viên mãn mười lực, tiếng vang khắp mười phương, có năng lực thù thắng tối thượng, được pháp vô úy chiến thắng ma oán, phát tiếng sấm lớn, rống lên tiếng sư tử, ngày đêm sáu thời thường dùng Phật nhãn quán sát trong thế gian ai tăng, ai giảm, ai gặp khổ nanï, ai hướng đến ác xứ, ai bị chìm trong bùn dục, ai có thể giáo hóa được, bằng phương pháp gì để cứu thoát họ, làm cho người không có thánh tài được thánh tài, dùng trí an thiện na phá mạc vô minh, làm cho người chưa có thiện căn trồng thiện căn, đã có thiện căn làm cho tăng trưởng, đặt trên đường trời người an ổn vô ngại hướng đến thành Niết bàn.

 

Như bài tụng:

 

    - Giả sử đại hải triều,

    Có lúc sai kỳ hạn,

    Đối với người đáng độ

    Phật hóa độ đúng lúc,

    Phật đối với hữu tình,

    Luôn từ bi không bỏ,

    Nghĩ cứu khổ nạn chúng,

    Như trâu mẹ theo nghé.

 

Thế Tôn bảo A Nan Đà:

 

- Ông ra ngoài chúng, lấy thượng y đưa cho Cù Đáp Di Gầy vợ thương chủ mặc vào rồi dẫn vào đây nghe pháp.

 

Tuân lời Phật dạy, A Nan Đà lấy thượng y đắp lên cho cô ta rồi đưa đến gặp Phật lạy sát hai chân ngồi qua một bên.

 

Quán sát căn tánh của cô ta, đức Như Lai đại sư tùy cơ thuyết pháp làm cho hiểu rõBốn thánh đế dùng chày trí tuệ kim cương phá tan núi hai mươi thân kiến, chứng quả dự lưu.

 

Sau khi chứng quả, cô ta đứng dậy, chắp tay hướng về Phật, hết sức tán thán rồi bạch:

 

- Thế Tôn! Xin ngài từ bi cho con được bỏ thế tục xuất gia trong pháp luật của Phật, thành Bí-sô ny tịnh tu phạm hạnh.

 

Thế Tôn cho phép và giao cô ta cho Đại Thế Chủ. Được Đại Thế Chủ cho xuất gia, thọ cận viên, dạy học Tỳ nại da, giáo giới đúng pháp, vị này siêng năng nhất tâm không biếng nhác, quán sát biết rõ năm nẻo luân hồi không ngừng, các hành vô thường phải bị hoại diệt, đoạn trừ mê hoặc về ba cõi, phá tan bánh xe năm nẻo, chứng quả A-la-hán, đầy đủ cả ba minh sáu thông tám giải thoát, đắc như thật tri: Ta sinh đã hết, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, không thọ thân sau, tâm không còn chướng ngại như tay vỗ hư không, dao cắt mùi hương, không còn thương ghét, xem vàng như đất cục, vứt bỏ hết cả danh lợi, được chư thiên Thích, Phạm đều cung kính.

 

Khi ấy, Thế Tôn bảo các Bí-sô:

 

- Trong các Bí-sô ny đệ tử của Ta, Cù Đáp Dy Gầy là bậc trì luật đệ nhất.

 

Khi nghe đức Phật ghi nhận như vậy, có các vị ny trong ny chúng đến nghe Cù Đáp Dy Gầy thuyết pháp. Để làm cho các vị ny sinh tâm nhàm chán, Cù Đáp Dy Gầy giảng thuyết về nhân duyên sự nghiệp của mình. Nghe như vậy, các vị ny đem sự việc này nói với các Bí-sô.

 

Một hôm, Cù Đáp Dy Gầy đến làm lễ sát chân Phật. Thấy vậy, các Bí-sô rỉ tai nhau nói về nghiệp duyên của vị ấy.

 

Sau khi lễ Phật, Cù Đáp Dy Gầy xin cáo lui.

 

Tuy biết rõ nhưng Thế Tôn vẫn cố hỏi A Nan Đà:

 

- Các Bí-sô rỉ tai nhau nói những việc gì vậy?

 

Sau khi A Nan Đà bạch lại sự việc trên, Phật bảo:

 

- Nghiệp báo của chúng sinh bất khả tư nghị, tất cả thế gian đều do tâm tạo tác, đều do nghiệp sinh, tồn tại theo nghiệp, tự làm nghiệp gì sẽ bị quả báo ấy.

 

Bấy giờ, các Bí-sô đều phân vân, thưa với Thế Tôn:

 

- Đại đức Thế Tôn! Trước đây Cù Đáp Dy Gầy đã tạo nghiệp gì mà chồng bị rắn cắn chết, một đứa con bị chó sói hại, một đứa bị chết đuối, cha mẹ thân thuộc đều bị sét đánh chết, ăn thịt con mình, loạn tâm điên đảo lang thang đi đến gặp Phật, được xuất gia thọ cận viên trong pháp luật toàn hảo, đoạn trừ các phiền não chứng quả A-la-hán, được Phật thọ ký là bậc trì luật đệ nhất trong ny chúng?

 

Phật dạy:

 

- Này các Bí-sô nên biết, do đã gây nghiệp đời trước, nay quả báo chín nên vị ny này phải chịu nhận lấy không phải do bốn đại bên ngoài ... cho đến thuyết bài kệ, như nói ở nơi khác. Này các Bí-sô hãy lắng nghe. Ngày xưa, tại tụ lạc nọ có một trưởng giả giàu với nhiều tài sản, cưới vợ đã lâu nhưng không có con nên rất lo buồn: "Ta có nhiều tài sản nhưng không người thừa kế, sau khi qua đời tất bị quan thu hết".

 

Nghe vợ hỏi vì sao buồn bã như vậy, ông ta nói rõ việc này. Vợ suy nghĩ: "Không biết do nghiệp chồng ta mỏng manh hay là ta vô phước nên không có con. Hay là chồng ta thay đổi tình cảm với ta mà tìm vợ khác nên chống tay lên má trước mặt ta, nói những lời buồn bã, ta nên tự làm không nên phiền ông ấy sai khiến".

 

Bà ta nói với chồng:

 

- Em có nghiệp xấu nên không thể có con trai, anh hãy cưới vợ khác để sinh trai gái.

 

Đáp:

 

- Hiền thủ! Há em không nghe rằng nhà có hai vợ, muốn kiếm miếng nước lạnh để uống bột cũng khó. Trong nhà ấy, thường có sự tranh cãi cùng nhau gây gỗ không lúc nào ngưng.

 

Người vợ làm bộ tình cảm nói với chồng:

 

- Thánh tử! Hãy cưới vợ đi, nếu cô ta bằng tuổi em gái, em sẽ xem như em gái ; nếu bằng con gái thì chăm nom như con gái mình.

 

Nghe như vậy, chồng liền tìm vợ bé. Tại Tụ lạc khác có một trưởng giả. Vợ ông ta sinh được một gái hai trai. Khi cô gái lớn lên thì cha mẹ qua đời. Người kia tìm đến gặp hai người em để xin cưới chị làm vợ. Được sự đồng ý, ông ta tổ chức đám cưới với nghi lễ to lớn. Theo thói thường, con người có mới nới cũ, người chồng không còn nhớ vợ cũ. Trước đây về trong bụng có ác bệnh nên không thể sinh trai gái, nay bị chồng ruồng bỏ thì sinh tâm rất đố kỵ nhân đó hết bệnh nên có thai. Bà ta bảo với chồng:

 

- Anh hãy vui mừng, em đã có thai.

 

Chồng bảo:

 

- Hiền thủ! Nếu em sinh trai, sau khi ta qua đời, nó sẽ thừa kế ta làm chủ nhà.

 

Vợ nói:

 

- Thật như lời nói, vợ sau của chàng nếu không bỏ độc cho em xẩy thai thì có sự việc này.

 

Chồng nói:

 

- Hiền thủ! Trước đây ta đã nói với nàng, nhà có hai vợ chắc chắn gây loạn với nhau. Em đang chưa có gì mà đã nói trước lời ấy.Vợ không nói gì cả. Đủ tháng, sau khi sinh được một con trai, bà ta suy nghĩ: "Đứa bé này sinh ra nhờ ân trời, tất bị vợ sau gây tổn hại. Ta hãy đưa nó cho cô ta nuôi làm con".

 

Sau khi suy nghĩ như vậy, bà ta bảo với vợ sau:

 

- Này tiểu muội! Chị cho đứa bé này cho em nuôi dưỡng, đều là con chung của mình, tình cảm không khác gì.

 

Người vợ sau nói:

 

- Thật tốt.

 

Sau một thời gian ngắn cùng nhau nuôi dưỡng, người vợ bé sinh ác ý, suy nghĩ: "Nó không phải con ta lẽ nào kế tục cho nhà ta. Khi nó trưởng thành, mẹ làm đại phu nhân con làm chủ nhà thì ta bị làm nô bộc, việc này chắc như vậy, cần gì ta nuôi dưỡng kẻ oán thù, hãy mau giết cho sớm". Đã có ý nghĩ ác như lửa thêm củi, ngọn lửa càng cháy mạnh, ôm lòng độc ác cũng như vậy. Bà ta dùng dầm tre nhọn đâm vào trong yết hầu đứa bé. Bị đau đớn quá, nó kêu khóc vang.

 

Mẹ ruột hỏi mẹ sau:

 

- Vì sao em bé khóc vậy?

 

Đáp:

 

- Không biết.

 

Được người mẹ bồng bế yêu thương vỗ về, đứa bé càng la khóc lớn. Dùng ngón cái vạch miệng đứa bé, thấy có dầm tre, người mẹ kinh hoàng móc lấy ra đau đớn đến nỗi đứa bé bị qua đời. Quá đau khổ, người mẹ đấm ngực khóc than kêu gào thảm thiết.

 

Bà con thân cận đến hỏi lý do, bà ta nói:

 

- Con tôi bị mẹ kế ganh ghét dùng dầm tre đâm vào miệng nó làm cho đau đớn đến chết.

 

Nghe nói, bà con thân cận đều kinh hoàng tụ tập lại hỏi vì sao mẹ kế làm như vậy. Bà ta khóc lóc nói ra hết mọi việc. thân tộc gần xa đều tụ tập lại cùng nhau tức giận mẹ kế:

 

- Trẻ con không lỗi gì vì sao giết một cách đau khổ như vậy?

 

Nghe như vậy, bà ta đấm ngực thề:

 

- Nếu tôi có tâm đố kỵ giết chết con trẻ này, sẽ làm cho chồng tôi bị rắn độc cắn chết, một đứa con bị chó sói làm chết, một đứa bị nước cuốn chết, cha mẹ thân thuộc đều bị sét đánh chết hết ; tôi phải ăn thịt con, tâm bị điên cuồng, trần truồng đi lại không biết gì cả.

 

- Này các Bí-sô! Các ông nghĩ sao? Người vợ sau của trưởng giả nào phải người nào khác, nay chính là ny Cù Đáp Di Gầy. Vì trong thời quá khứ, tâm cô ta quá độc hại, giết con của người lại còn thề độc. Do nghiệp ấy nên chồng bị rắn cắn chết, một đứa con bị chó sói hại, một đứa bị nước cuốn trôi. Cha mẹ thân thuộc bị sét đánh chết hết.

 

Lại nữa, này các Bí-sô, vào thời Phật Ca Diếp, Cù Đáp Di Gầy này xuất gia trong Phật pháp làm Bí-sô ny, giữ gìn phạm hạnh đến trọn đời nhưng không chứng quả, y chỉ với một vị ny làm thân giáo sư trong giáo pháp đức Phật ấy và đã được Thế Tôn thọ ký là người trì luật số một. Khi Cù Đáp Di lâm chung phát nguyện:

 

- Ta tu tập phạm hạnh đến trọn đời trong giáo pháp của đức Ca Nhiếp Ba Như Lai vô thượng chánh đẳng giác, có làm được những thiện căn. Phật Ca Diếp thọ ký cho đồng tử trong đời tương lai khi loài người sống đến một trăm tuổi sẽ thành Chánh Giác hiệu Thích Ca Mâu Ni. Ta nguyện được xuất gia trong giáo pháp đức Phật ấy, đoạn các phiền não chứng A-la-hán. Như Phật Ca Diếp Ba tuyên bố thân giáo sư của ta là người trì luật số một trong ny chúng ; ta cũng như vậy, sẽ được Phật thọ ký là bậc trì Luật số một.

 

Khi ấy, các Bí-sô bạch Phật:

 

- Trước kia, cha mẹ của người ấy đã tạo nghiệp gì mà bị sét đánh chết ; chồng tạo tội gì mà bị rắn cắn chết, hai con gây ác gì mà bị chó sói hại, nước cuốn trôi chết?

 

Phật bảo các Bí-sô:

 

- Do các nghiệp họ tự tạo đều đã thành thục, ... rộng như nói ở trước.

 

- Này các Bí-sô hãy lắng nghe:

 

- Trong hiền kiếp này khi loài người sống hai vạn tuổi, có Phật Ca Diếp Ba Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác đầy đủ mười hiệu ra đời, trú tại rừng Thi Lộc, Tiên nhân đọa xứ thành Ba La Ny Tư. trong thành này có một trưởng giả giàu có vô cùng, làm một trú xứ bên bờ sông, gần bên thành. Chư Tăng các nơi đến đây đều trú nơi này.

 

Bấy giờ, trưởng giả có đưa tài vật cho người trong thôn để làm ăn. Người nọ nhận tài vật đến ba lần nhưng đều làm tiêu tán hết. Do đó, trưởng giả gọi đến mắng:

 

- Ngươi thật khôngtrí tuệ, ba lần đưa cho tài vật đều làm tiêu tán hết, nếu không trả lại thì không cho ngươi về.

 

Đáp:

 

- Trưởng giả, xin ngài dung thứ lần nữa, đưa tài vật để buôn bán. Nếu không trả lại hết thì cả vợ chồng và hai con tôi đều làm nô tỳ.

 

Sau khi họ làm cam kết, trưởng giả đưa tài vật. Họ lại làm cho tiêu tán nữa. Trưởng giả nhận lấy cả vợ chồng con cái đưa làm tịnh nhân của chùa nhưng ở trong thành. Hằng ngày họ qua sông đến chùa để phục vụ việc nấu cơm, vợ và hai con làm thức ăn. Có vị Bí-sô La hán làm tri sự cho Tăng. Một hôm, gặp mưa nước sông dâng cao, vợ chồng con cái đều không qua được. Vị La hán ngạc nhiên vì sao họ không sang, liền đến gặp họ, nói:

 

- Đã sắp đến giờ ăn sao không đi làm, sẽ làm cho chúng tăng bị mất bữa ăn.

 

Nghe như vậy, họ đều tức giận, cha mẹ thân quyến đều nguyền rủa:

 

- Kẻ ấy vô cớ gây khổ sở cho ta, vì sao không bị sét đánh chết cho rồi.

 

Người chồng nói:

 

- Trên đường đi đến đây, sao ông ta không bị rắn cắn chết cho rồi.

 

Một đứa con nói:

 

- Sao không bị chết chìm cho rồi.

 

Đứa kia lại nói:

 

- Sao không bị chó sói hại cho rồi.

 

- Này các Bí-sô đừng nghĩ gì khác, tịnh nhân ngày xưa nào phải ai lạ, nay chính là hai vợ chồng; cha mẹ của họ nay là những kẻ bị sét đánh chết ; chồng là kẻ nay bị rắn cắn chết ; hai đứa con thời ấy nay bị chết trôi và chó sói hại. Trong thời quá khứ, những kẻ ấy bằng tâm độc hại nói lời thô ác về vị La hán nên chịu lấy quả báo ấy.

 

- Này các Bí-sô, do nhân duyên này, Ta thường tuyên bố nghiệp đen nhận quả báo đen, nghiệp trắng nhận qu? báo trắng, nghiệp tạp nhận quả báo tạp.

 

Các ông cần phải siêng năng tu tập nghiệp trắng, tránh xa nghiệp đen tạp.

 

Các Bí-sô nghe lời Phật dạy, đều rất hoan hỉ tín thọ phụng hành, đảnh lễ sát chân Phật rồi từ giã.

 

* Duyên xứ như trước. Bấy giờ các Thích nữ vô tội bị kẻ ngu si Ác Sinh tàn sát. Những Thích nữ quá đau khổthân thuộc anh chị em và chồng đều bị tiêu diệt nên đến xin xuất gia trong giáo pháp thiện thuyết của Phật. Sau khi được xuất gia, như tiếng vang của cái linh, sự ưu sầu giảm dần, sau đó lại bị dục phiền não bùng lên không thể ngăn lại được. Như Thế Tôn dạy rắn độc lớn có năm lỗi là:

 

    1- Nhiều tức giận.

    2- Nhiều kết hận.

    3- Oán thù.

    4- Không biết ân.

    5- Ác độc.

 

Người nữ cũng như vậy, sân, hận, thù, oán, không biết ân, ác độc. Sự ác độc của nguời nữ là giống nhau về nhiều tâm dục nhiễm.

 

Bấy giờ, các Thích nữ Bí-sô ny cùng nhau tập họp bàn luận, đi đến gặp Bí-sô ny Thổ La Nan Đà, đảnh lễ rồi ngồi qua một bên, bạch:

 

- Thánh giả! Phiền não do tâm dâm dục thật khó kiềm chế, thường quậy phá người nữ, làm sao ngăn cấm?

 

Đáp:

 

- Này các chị em ơi, phải làm gì nữa, các cô còn trẻ đẹp hãy xả học xứ đi, tìm chàng trai lái buôn trẻ tuổi có nhiều tài sản cùng nhau ân ái thì phiền não do tâm dục tự nhiên không còn. Nếu còn trẻ tuổi, ta cùng đi với các cô.

 

Nghe như vậy, chư ny làm lễ sát chân rồi trở về, cùng nhau bàn luận:

 

- Này các chị em, Thánh giả Thổ La Nan Đà nói như vậy, chúng ta sẽ làm thế nào đây?

 

Có người nói:

 

- Lời nói của Thổ La Nan Đà rất đúng, chúng ta nên đi tìm kiếm việc ấy.

 

Người khác nói:

 

- Các chị em, người nữ được xuất gia trong giáo pháp thiện thuyết của Phật, thật khó gặp, hãy đến hỏi thánh giả Cù Đáp Di Gầy.

 

Mọi người đều đồng ý rồi cùng nhau đến gặp vị ấy, đảnh lễ dưới hai chân, bạch:

 

- Thánh giả, tâm dục gây phiền não thật khó ngăn cấm, thường quậy phá người nữ, chúng tôi nên dùng phương pháp gì để ngăn cấm?

 

Đáp:

 

- Này các em, chớ nói về tên dục, vì sao? Vị ngọt của nó rất ít mà nguy hiểm quá nhiều. Như Thế Tôn dạy, những người có trí, biết rõ năm lỗi của dâm dục vậy không nên làm. Năm lỗi ấy là:

 

    1- Quan sát dục vị ngọt ít, lỗi nhiều, thường có các khổ.

    2- Khi hành dục thường bị trói buộc.

    3- Người làm việc dâm dục không biết nhàm chán.

    4- Người vì làm việc dâm dục không việc ác nào không làm.

    5- Đối với các dục cảnh, chư Phật Thế Tôn và chúng Thanh Văn cùng các bậc hiền nhânchánh kiến dùng vô số cánh nói về lỗi lầm của dục.

 

Thế nên, người trí không nên làm theo thói dục.

 

Lại nữa, người trí biết sự xuất gia có năm thắng lợi. Đó là:

 

    1- Công đức xuất gialợi ích riêng của ta không chung với người khác ; Vì thế người trí nên cầu xuất gia.

    2- Tự biết mình là kẻ ti tiện bị người khác sai khiến; sau khi xuất gia được người khác cúng dường, lễ bái, khen ngợi; Vì thế người trí nên cầu xuất gia.

    3- Sau khi bỏ thân ở cõi này, sẽ sinh lên cõi thiên, xa lìa ba nẻo ác; Vì thế người trí nên cầu xuất gia.

    4- Do từ bỏ thế tục nên thoát khỏi sinh tử, sẽ được Niết Bàn an ổn vô thượng; Vì thế người trí nên cầu xuất gia.

    5- Thường được chư Phật, chúng Thanh Văn và các bậc thượng nhân khen ngợi; Vì thế người trí nên cầu xuất gia.

 

Các em nên quan sát lợi ích ấy, dùng tâm cương quyết cắt bỏ các lưới dục, cầu công đức lớn. Các chị em ơi, muốn nghe những tội lỗi đời trước của tôi khi sống theo dục hay phiền não của đời này vì làm theo dục?

 

Chư ny đáp:

 

- Để việc đời trước lại, xin nói việc hiện tại.

 

Khi ấy, Cù Đáp Di tuần tự nói về đời mình:

 

- Chỉ trong đời này, bị mất cả cha mẹ, chồng con đều bị chết hết, ăn cả thịt con mình, bị chôn sống trong mộ, điên cuồng mê loạn ...

 

Nghe kể như vậy, chư ny buồn sợ, dựng cả tóc gáy, chú tâm lắng nghe, nhìn sửng vào mặt Cù Đáp Di Gầy. Khi ấy, quán sát căn tính của họ, Cù Đáp Di Gầy tùy cơ thuyết pháp làm cho họ được khai ngộ Bốn Thánh Đế.

 

Nghe pháp, họ đều chứng quả Dự lưu ... như nói đầy đủ ở trước.

 

Sau khi đắc quả, họ thưa với Cù Đáp Di Gầy:

 

- Chỉ còn chút nữa, chúng tôi bị Thổ La Nan Đà đẩy xuống bùn dục, trầm luân mãi trong sinh tử.

 

Cù Đáp Di gầy hỏi:

 

- Vị ấy làm gì?

 

Nghe họ kể lại sự việc trên, Cù Đáp Di Gầy nói:

 

- Này chị em, biết làm thế nào, vị ấy làm việc ác nên gây tổn hại Phật pháp.

 

Các Bí-sô ny thiểu dục cùng nhau chê bai:

 

- Tại sao Bí-sô ny lại bảo người khác xả học xứ để ân ái cùng người thế tục?

 

Các Bí-sô ny thưa với Bí-sô, Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Bí-sô ny không được dạy người khác xả học xứ, khuyên họ hoàn tục. Nếu ai khuyến khích việc ấy, phạm tội Thổ la để dã.

 

Duyên xứ như trước. Có một Bí-sô ny la mắng Bí-sô. Vì xấu hổ nên Bí-sô im lặng. Các Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

 

- Bí-sô ny không được la mắng Bí-sô. Ai vi phạm bị tội vượt pháp. Ny không được la mắng Bí-sô, như vậy cũng không nên la mắng Bí-sô ny, chánh học nữ, cầu tịch, cầu tịch nữ. Ba chúng dưới đều phải cúi đầu nghe không được la mắng năm chúng. Ai vi phạm bị tội vượt pháp.

 

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ

 

TỲ NẠI DA TẠP SỰ

 

Quyển thứ ba mươi hết.

 

--- o0o ---

 

Quyển thứ ba mươi mốt

 

--- ooOoo ---

 

Nhiếp tụng bảy trong biệt môn sáu:

 

    Ny bất tại tiền hành,

    Kiến tăng ưng khởi kính,

    Bạch tăng bán già tọa,

    Quy tục cật vô duyên.

 

* Duyên xứ như trước. Bấy giờ, tại trú xứ Đông Lâm của mẹ Lộc Tử, vào sáng sớm, cụ thọ Đại Ca Nhiếp Ba mặc y mang bát vào thành khất thực. Ny cô Thổ La Nan Đà cũng đi khất thực. Trông thấy Đại Ca Nhiếp Ba, cô ta suy nghĩ: "Ta nên trừng trị kẻ ngu này".

 

Thấy Ca Nhiếp Ba sắp đi đến nhà nào, Thổ La Nan Đà liền đến nhà ấy trước và đứng sau cánh cửa ngõ. Khi Ca Nhiếp Ba đến, cô ta lên tiếng:

 

- Thánh giả! Xin đi qua, nhà này chưa có thức ăn chín.

 

Tôn giả đi qua.

 

Sau khi nói như vậy, cô ta đi đến nhà khác, chờ Ca-Nhiếp Ba đến và nói như trước. Lần lượt như vậy, cho đến nhiều nhà đều nghe như nhau, Ca Nhiếp Ba rất ngạc nhiên. Nếu A-la-hán mà không quán sát trước thì cũng không biết nên ngài nhập định quán sát ai quậy phá mình, biết là ny cô Thổ La Nan Đà, nên bảo:

 

- Này chị em! Cô không có lỗi gì, chỉ do cụ thọ A Nan Đà gây ra tội lỗi này, cố xin Thế Tôn cho những hạng phụ nữ ác hạnh như vậy xuất gia thọ cận viên.

 

Các Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật suy nghĩ: "Do Bí-sô ny nên có nhiều lầm lỗi, nơi Bí-sô khất thực, Bí-sô ny không được đi trước".

 

Sau khi suy nghĩ, Ngài bảo các Bí-sô:

 

- Việc ấy, Ca Nhiếp Ba nói đúng. Thế nên, từ nay Ta chế định cho các Bí-sô ny không được đi trước Bí-sô khất thực.

 

Các Bí-sô ny không dám đi trước nên khất thực bị khó khăn, thưa với Bí-sô. Bí-sô thưa với Phật. Phật dạy:

 

- Gặp Bí-sô khất thực, Bí-sô ny tránh qua chỗ khác.

 

* Duyên xứ như trước. Bí-sô ny Thổ La Nan Đà đang thuyết pháp cho đại chúng vô số trăm ngàn người. Nhân thấy cụ thọ Đại Ca Nhiếp Ba đi đến, mọi người đều đứng lên nhưng Thổ La Nan Đà vẫn ngồi yên. Mọi người thưa với Thổ La Nan Đà:

 

- Thánh giả! Đại Ca Nhiếp Ba, trời người đều cung kính. Trông thấy ngài, chúng con đều cung kính đứng dậy, Thánh giả vẫn điềm nhiên ngồi yên, thật không tốt.

 

Đáp:

 

- Ông ấy vốn là môn đồ ngoại đạo tà giáo rất ngu rất độn, đến đây xuất gia. Ta là Thích nữ xuất gia với Phật, thông suốt ba tạng lại giỏi thuyết pháp, khế hợp chân lý vấn đáp lưu loát, lẽ nào thấy ông ấy mà lại đứng lên chào?

 

Nghe nói như vậy, cả đại chúng đều bất mãn chê bai. Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

 

- Các trưởng giả Bà-la-môn có tín tâm chê bai đúng. Từ nay về sau, Bí-sô ny trông thấy Bí-sô phải đứng lên chào, ai vi phạm bị tội vượt pháp.

 

Như Thế Tôn dạy, ny thấy Bí-sô phải đứng dậy chào, sau đó vào lúc nọ, Bí-sô ny Liên Hoa Sắc đang thuyết giảng giáo pháp cho đại chúng trước cửa chùa. Nhân đi khất thực, cụ thọ A Nan Đà đến trú xứ của ny. Trông thấy vị ấy đến, Liên Hoa Sắc vội vàng đứng dậy chào. A Nan Đà đến ngồi vào chỗ ấy, hỏi:

 

- Sư cô đang thuyết pháp gì cho đại chúng vậy?

 

Đáp:

 

- Đang giảng thuyết kinh ...

 

Khi ấy, cụ thọ A Nan Đà giảng thuyết ý nghĩa kinh ấy cho đại chúng. Sư cô Liên Hoa Sắc nhất tâm đứng yên nghe pháp. Vì mãi mê thuyết pháp, A Nan Đà không bảo cô ấy ngồi xuống. Mệt mỏi vì đứng quá lâu lại bị nắng chiếu trên người, cô ấy nóng ngất ngã lăn ra đất. Trong chúng, những kẻ không có tín tâm cùng nhau chê bai:

 

- Tôi nghe ny cô Liên Hoa Sắc không có các dục nhiễm, ngày nay thấy A Nan Đà tướng mạo tuấn tú nên sinh ý niệm khác lạ, lửa dục đốt tâm bị ngã lăn ra đất.

 

Nghe như vậy, các Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

 

- Này các Bí-sô, các trưởng giả Salamôn nói lỗi ấy rất đúng. Từ nay về sau, khi Bí-sô ny đến chỗ Bí-sô nghe thuyết pháp, nên bảo họ:

 

- Này sư cô hãy an tọa. Bí-sô nào thuyết pháp mà quên bảo ngồi, Bí-sô ny nên thưa cho vị ấy biết rồi tùy chỗ mà ngồi.

 

* Duyên xứ như trước. Như Thế Tôn dạy, này các Bí-sô, nhờ thí dụ này có thể hiểu được ý nghĩa của pháp. Các ông hãy lắng nghe, Ta sẽ dạy bảo tóm lược:

 

- Mặt trời mọc nghĩa là Như Lai xuất hiện trong thế gian, dụ như mặt trời mọc lên chiếu ánh sáng rực rỡ.

 

Các chim đều hót nghĩa là người thuyết pháp phải cân nhắc nghĩa lý.

 

Nông phu canh tác nghĩa là những tín thí đàn-việt kinh doanh trong ruộng phước trí của đệ tử Ta.

 

Bọn giặc đều bị tán loạn nghĩa là ma-quân và ngoại đạo đều chạy trốn.

 

Như vậy, này các Bí-sô, hãy mau thi hành những giáo lệnh cần làm mà đức Như Lai Đại sư dạy cho các đệ tử Thanh Văn, chỉ vì thương xót nên dùng tâm đại bi làm cho thành tựu lợi ích. Những việc cần làm, Ta đã làm xong. Các ông hãy tu tập việc cần làm như xa lìa sự ồn ào, ở riêng chỗ yên tịnh, đến khu rừng vắng dưới gốc cây, hoặc trong căn phòng trống, hoặc sườn núi hoặc nơi hang động, hoặc nơi đám cỏ, hoặc nơi đất trống, hoặc nơi nghĩa địa, thi-lâm, tùy nghi dùng ngọa cụ đủ che thân. Với những chỗ ấy, các ông có thể quan sát tâm ý, chuyên cần tu tập thiền quán không nên phóng dật, chớ để sau này sinh tâm hối hận. Đây là những lời giáo giới của Ta.

 

Nghe lời Phật dạy như vậy, các Bí-sô đi đến rừng núi hang động nơi vườn cây, ao nước, nhiều hoa trái, nhất tâm thiền quán xa lìa phóng dật.

 

Các Bí-sô ny cũng đến gần vườn vua, nơi rừng cây mát hoặc nơi khác. Tùy lúc, chỉ thọ nhận ngọa cụ dùng đủ thân thể. Khi ngồi kiết già yên tịnh tư duy, bị trùng chui vào đường tiểu tiện làm cho họ đau đớn. Nghe như vậy, Thế tôn bảo các Bí-sô:

 

- Chư ny không nên ngồi kiết già tu thiền định, nên ngồi bán già.

 

Chư ny làm đúng theo lời Phật dạy, có khi bị trùng nhỏ chui vào thân làm cho khó chịu. Phật dạy:

 

- Nên dùng y cũ và lá mềm lót kỹ rồi mới ngồi thiền định.

 

* Duyên xứ như trước. Cụ thọ Ô Ba Ly thưa Thế Tôn: - Đại đức! Nếu Bí-sô ny xả giới hoàn tục rồi, cầu xuất gia lại, được xuất gia thọ cận- viên không?

 

Phật dạy:

 

- Này Ô Ba Ly! Ny đã xả giới một lần, không được xuất gia lại.

 

* Duyên xứ như trước. Cụ thọ Ô Ba Ly thưa Thế Tôn:

 

- Đại đức! Trước đây có chế định Bí-sô ny không được cật vấn những lỗi về phá giới, phá kiến, phá uy nghi, phá chánh mạng của Bí-sô, vậy có trường hợp nào các Bí-sô ny được thưa hỏi về tội lỗi của Bí-sô không?

 

Phật bảo:

 

- Này Ô Ba Ly! Không có trường hợp nào các Bí-sô ny được trách hỏi Bí-sô về những lầm lỗi tương tự như loại tội trên.

 

 

 

Nhiếp tụng tám trong biệt môn sáu:

 

    Trưởng giả dữ tiền thực,

    Tiền xúc bất tương tị,

    Bất vấn ẩn tiết sự,

    Cận viên tọa ưng tri.

 

* Duyên xứ như trước. Trưởng giả kia giàu có vô cùng, lấy vợ đã lâu nhưng không có trai gái gì cả. Sau này, khi tài sản đều tiêu tán hết, ông ta bảo vợ:

 

- Hiện nay ta đã già không thể làm ra tiền nữa, muốn đến rừng Thệ Đa để cầu xuất gia.

 

Vợ nói:

 

- Thánh tử! Nếu ông xuất gia, tôi biết nương tựa vào đâu, cũng nên xuất gia.

 

Chồng nói:

 

- Hiền thủ! Vậy hãy cùng đi.

 

Đưa vợ đến gặp Đại thế chủ Kiều Đàm Di, lạy sát hai chân, thưa:

 

- Thánh giả! Đây là vợ của con ưa thích xuất gia trong pháp luật thiện thuyết, xin ngài từ bi nhận cho. Con cũng đi đến rừng Thệ Đa đểû xuất gia.

 

Đáp:

 

- Lành thay, nam tử, vợ chồng có thể phát được tâm thắng diệu này cùng nhau xuất gia thật là việc tốt. Như Thế Tôn dạy, người xuất gia có năm thắng lợi, công đức vô biên được chư Thánh khen tặng. Năm thắng lợi ấy như đã nói ở trước. Người hãy đến đây, ta cho xuất gia.

 

Đại thế chủ Kiều Đáp Di liền xuống tóc cho người vợ. Trưởng giả đến rừng Thệ Đa cầu xin một Bí-sô cho mình xuất gia.

 

Bấy giờ khắp nơi gần xa trong thành đều nghe việc này, họ nói:

 

- Trưởng giả có phước nên được xuất gia, được nhiều vật tứ sự cúng dường tốt đẹp.

 

Một hôm, Bí-sô này đi vào thành khất thực. Bí-sô ny (vợ cũ) kia cũng đi khất thực. Gặp lúc đói kém, khất thực khó khăn, gặp nhau, Bí-sô này hỏi:

 

- Nhân giả, sinh sống như thế nào?

 

Đáp:

 

- Gặp thời buổi đói kém, khất thực khó khăn, sống rất khổ cực.

 

Bí-sô bảo:

 

- Tôi được cúng dường nhiều thức ăn uống, nếu Phật cho phép sẽ chia cho hết một nữa.

 

Về đến trú xứ, Bí-sô ny này thưa với ny chúng sự việc này. Nghe xong, ny chúng thưa với Bí-sô. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Nếu các Bí-sô gặp Bí-sô ny như vậy, gặp lúc đói kém khất thực khó được nên chia sớt cho họ, chớ nên nghi ngại.

 

Như Thế Tôn dạy, nếu các Bí-sô gặp Bí-sô ny như vậy, gặp lúc đói kém khất thực khó được nên chia sớt cho họ, chớ nên nghi ngại; sau khi khất thực Bí-sô liền chia bớt một nữa thức ăn cho Bí-sô ny và vị ấy thường đến nhận như vậy. Một hôm, Bí-sô ny ấy được thức ăn nên không đến nhận nữa. Bí-sô suy nghĩ: "Ny đã được thức ăn nơi khác nên không đến nhận nữa, để dành làm gì".

 

Nghĩ như vậy nên Bí-sô không chia phần.

 

Hôm sau, ny đến xin thức ăn, Bí-sô bảo:

 

- Nhân giả! Hôm qua không thấy đến nên không chia thức ăn ra, hiện nay tuy có nhưng đã thành thức ăn tàn túc ố xúc, không thể dùng được.

 

Nghe như vậy, ny lạy sát chân rồi trở về, đến trú xứ ny kể lại sự việc. Ny thưa Bí-sô. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Từ nay trở về sau, Bí-sô ny được dùng tàn xúc thực của Bí-sô và Bí-sô được dùng tàn xúc thực của Bí-sô ny.

 

* Duyên xứ như trước. Bấy giờ giữa Tăng, có Bí-sô hỏi Bí-sô ny về chuyện kín vụn vặt khác với giới bên Tăng. Nghe hỏi, ny xấu hổ, che mặt chịu trận. Các Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

 

- Bí-sô không nên hỏi Bí-sô ny về những chuyện kín vụn vặt. Nhưng Bí-sô ny có thể hỏi với nhau. Bí-sô nào vi phạm bị tội vượt pháp.

 

Bị Bí-sô lại hỏi việc kín giống giới bên Tăng, họ lại xấu hổ. Phật dạy:

 

- Bảo vị ny khác hỏi ny này.

 

Sau khi họ đem sự việc ấy nói cho ny khác rồi, vị này mới đem báo lại cho Bí-sô. Do không nói trực tiếp nên ít bị xấu hổ.

 

* Duyên xứ như trước. Cụ thọ Xá Lợi Tử ... sau khi cho một Bí-sô ny thọ cận viên, nói kệ bảo:

 

    Ngươi thọ giới cụ-túc,

    Trong giáo pháp tối thắng,

    Phải chí tâm phụng trì,

    Khó được thân không chướng,

    Đoan chính để xuất gia,

    Thanh tịnh được viên mãn,

    Đây là lời chân thật,

    Hiểu biết của Chánh-giác.

 

Khi dạy xong, Xá Lợi Phất bảo:

 

- Này cô có thể ra đi.

 

Trong lúc ấy, bị nguyệt kỳ xuất ra nên vị ny này xấu hổ không dám đứng dậy.

 

Quán sát biết rõ sự việc, Xá Lợi Phất liền đứng dậy bỏ đi.

 

Ny chúng hỏi:

 

- Này cô, vừa thọ giới cận viên xong, chưa rời khỏi đàn tràng, vì sao đã gây phiền não cho thân-giáo-sư, bảo đứng dậy không tuân lời như vậy?

 

Đáp:

 

- Thưa các chị, vị ấy là bậc đại nhân không nên để thấy việc xấu nhỏ mọn của em. Sao các chị không biết cho lại còn trách mắng? Vì ngồi xổm nên nguyệt kỳ của em xuất ra, làm sao đứng dậy đi?

 

Nghe như vậy, chư ny nói với Bí-sô. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Từ nay về sau, khi truyền cận viên cho ny không để họ ngồi xổm, nên ngồi trên gạch hoặc trên tòa cỏ hay trên nệm nhỏ vì chư ny thân thể mềm yếu.

 

 

 

Nhiếp tụng chín trong biệt môn sáu:

 

    Bí-sô dư ngọa cụ,

    Ung dữ Bí-sô ny,

    Ny bất đạp kiều bản,

    Bất trước trang thân vật.

 

* Duyên xứ như trước. Bấy giờ, cùng năm trăm Bí-sô ny du hóa nhân gian, khi vừa đến rừng Thệ Đa thì trời sắp tối, Đại thế chủ Kiều Đáp Di suy nghĩ: "Trời đã chiều tối không thể vào thành kịp, chúng ta nên cùng nhau tùy nơi cư trú, chờ đến sáng rồi vào thành". Cùng nhau ngủ nơi đất trống trong chùa, y phục của họ đều bị lấm đất dơ bẩn. Sáng hôm sau, họ suy nghĩ: "Bây giờ, nếu không đảnh lễ Đ?i sư thì vào thành rồi cũng phải trở lại". Do đó, họ đến gặp Phật, đảnh lễ sát chân rồi ngồi qua một bên. Thấy y phục của họ dính bụi đất dơ nhớp, biết nhưng Phật vẫn hỏi Kiều Đáp Di:

 

- Vì sao y phục bị dơ nhớp như vậy?

 

Kiều Đáp Di thưa lại sự việc.

 

Đức Phật bảo cụ thọ A Nan Đà:

 

- Những ngọa cụ dư của Bí-sô có đưa cho ny không?

 

Bạch:

 

- Không đưa.

 

Phật bảo A Nan Đà:

 

- Từ nay về sau ngọa cụ dư cũ của Bí-sô đã thọ dụng nên cho lại Bí-sô ny, chớ nên nghi ngại.

 

Như Thế Tôn dạy, nên cho Bí-sô ny ngọa cụ; các Bí-sô khi phân ngọa cụ đều lấy loại xấu kém nhất để dùng và giữ lại loại tốt nhất đưa cho Bí-sô ny. Phật dạy:

 

- Không nên giữ loại tốt lại để đưa cho Bí-sô ny, nên đưa loại thô, tùy thời cung cấp chớ để thiếu thốn, nếu cần thức ăn cũng nên đưa.

 

* Duyên xứ như trước. Vào sáng sớm, cụ thọ Đại Ca Nhiếp Ba mặc y mang bát vào thành khất thực. Bí-sô ny Thổ La Nan Đà từ ngoài đi đến muốn về trú xứ. Gặp khi nước sông lớn, thấy Ca Nhiếp Ba đi trên cầu ván nên Thổ La Nan Đà suy nghĩ: "Hãy trừng trị vật ngu độn này".

 

Cô ta vội đến bên cầu, dùng sức đạp tấm ván. Bị rơi xuống sông, y phục ướt hết, bát chìm dưới nước, tích trượng trôi mất, Ca Nhiếp Ba nói:

 

- Cô không phạm lỗi, chính do cụ thọ A Nan Đà gây ra lỗi này vì cố xin Thế Tôn độ hạng phụ nữác hạnh này xuất gia làm ny trong Phật pháp.

 

Nghe như vậy, Bí-sô bạch Phật. Phật suy nghĩ: "Do Bí-sô ny nên có nhiều lỗi lầm".

 

Ngài bảo:

 

- Từ nay về sau, Bí-sô ny không được đi chung với Bí-sô trên cầu. Ai vi phạm bị tội vượt pháp.

 

Như Thế Tôn dạy:

 

- Bí-sô ny không được đi chung với Bí-sô trên cầu;

 

Gặp trường hợp có cầu lớn vững chắc, các Bí-sô ny không dám đi chung. Phật dạy:

 

- Nếu cầu to lớn vững chắc, cùng đi chung không phạm lỗi.

 

* Duyên xứ như trước. Vào buổi sáng, Bí-sô ny Thổ La Nan Đà mặc y mang bát vào thành khất thực, tuần tự đi đến chỗ của phu nhân Thắng Man. Trông thấy, phu nhân chào đón:

 

- Lành thay! Rồi trải tòa mời cô ấy ngồi cùng nhau đàm đạo.

 

Thổ La Nan Đà hỏi Thắng Man:

 

- Này chị! Làm sao cho mông to eo nhỏ?

 

Đáp:

 

- Thánh giả! Cần gì hỏi việc này, con chỉ dùng vật bó eo lại cho vui lòng vua.

 

Ny hỏi:

 

- Tôi đang rảnh, muốn hỏi rõ.

 

Đáp:

 

- Thánh giả! Con dùng vật quấn chặt eo lại nên mông nhô ra.

 

Ny nói:

 

- Vì vậy nên khi trông thấy, mọi người đều yêu mến.

 

Thắng Man im lặng.

 

Về đến trú xứ, ny ấy vẫn mang y này. Chư ny hỏi:

 

- Đây là y phi pháp nào hợp cho ny dùng?

 

Họ thưa các Bí-sô. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Đây là y phi pháp, ai dùng bị tội vượt pháp.

 

* Duyên xứ như trước. Bí-sô ny Thổ La Nan Đà thấy ngực phu nhân tròn đẹp nên hỏi như trước. Phu nhân đáp:

 

- Con mặc áo che ngực.

 

Lại thấy phu nhân dùng áo đỡ ngực, đai buộc lưng, Thổ La Nan Đà đều hỏi, được trả lời như trước. Cô ta liền học và xử dụng các loại này. Phật dạy:

 

- Không được xử dụng. Ai dùng bị tội vượt pháp.

 

 

 

Nhiếp tụng mười trong biệt môn sáu.

 

    Bất thế thủy ô y,

    Bất trì tử thai tử,

    Bất thôn ư b?t tịnh,

    Xúc kỷ tử phi tha.

 

* Duyên xứ như trước. Một hôm, Bí-sô ny Thổ La Nan Đà vào thành khất thực. Đại Ca Nhiếp Ba cũng vào thành khất thực và đang đi bên cạnh mương nước. Thấy tôn giả, Thổ La Nan Đà suy nghĩ: "Ta hãy sửa trị người ngu này". Bưng cục đất lớn đến bên cạnh tôn giả, cô ta ném vào mương nước làm cho nước hôi thối dơ nhớp làm bẩn cả y của vị kia.

 

Tôn giả nói:

 

- Cô không có lỗi, chính cụ thọ A Nan Đà gây ra lỗi này ... như trên.

 

Các Bí-sô nghe như vậy nên bạch Phật. Phật dạy:

 

- Bí-sô ny không được làm cho nước dơ bẩn làm nhớp y Bí-sô. Ai vi phạm bị tội vượt pháp.

 

* Duyên xứ như trước. Có một trưởng giả giàu có nhiều của cải, cưới vợ chưa bao lâu lại mang hàng hóa đi buôn bán nơi khác. Ở nhà, người vợ ăn ngon mặc đẹp, tâm dâm dục bùng cháy, thông dâm với một đàn ông khác nên có thai. Sau vài tháng cô ta suy nghĩ: "Ta nên phá thai, nếu để thế này, ngày về tất chồng sẽ hại ta". Sau khi trục thai ra, cô ta lo lắng không biết đem để nơi nào. Trong lúc ấy, nhân đi khất thực, Bí-sô ny Thổ La Nan Đà đến nhà ấy, bảo:

 

- Người đẹp ơi, hãy cho thức ăn vào bát.

 

Đáp:

 

- Thánh giả hãy đi đi, không có người đưa thức ăn vì tôi đang buồn khổ.

 

Hỏi:

 

- Người đẹp ơi, có người chết à!

 

Đáp:

 

- Không có người chết nhưng tôi bị xẩy thai không biết bỏ ở đâu?

 

Bảo:

 

- Này người đẹp, nếu ta đem bỏ cho, cô có thể thường xuyên cúng dường thức ăn vào bát không?

 

Đáp:

 

- Xin vâng.

 

Hỏi:

 

- Cô có thể cung cấp luôn cho thị giả và người tri sự của ta không?

 

Đáp:

 

- Xin cấp cả.

 

Ny cô liền dùng bát lớn đựng thai chết đ?n chỗ nhà vắng để vứt bỏ. Trước đó, trong nhà ấy có nhóm đàn ông lêu lỏng đang đứng tụ tập, trông thấy nên hỏi:

 

- Thích nữ trọc đầu muốn làm gì vậy?

 

Đáp:

 

- Chỉ do bọn đàn ông vô lại các ngươi tư thông với phụ nữ của người, gây ra tội lỗi này làm ta phải đi bỏ.

 

Nghe như vậy, bọn đàn ông mắng chưởi bỏ đi. Trên đường đi, gặp chư ny, họ nói:

 

- Này vật tội lỗi, ny Thổ La Nan Đà của các ngươi đang làm nghiệp ácvứt bỏ thai nhi.

 

Chư ny im lặng, về thưa lại Bí-sô. Bí-sô bạch Phật. Phật suy nghĩ:

 

- Ny dùng bát lớn có lỗi như vậy. Thế nên chư ny không được dùng bát lớn.

 

Phật bảo các Bí-sô:

 

- Thổ La Nan Đà hành động trái hạnh Sa-môn, chư ny không được làm những việc phi pháp như vậy, không được dùng bát lớn. Ny nào dùng bát lớn, làm việc phi pháp như vậy, bị tội vượt pháp.

 

Như Phật đã chế ny không được dùng bát lớn, chư ny không biết dùng bát cỡ nào. Phật dạy:

 

- Bát nhỏ của Bí-sô bằng bát lớn của Bí-sô ny.

 

* Duyên xứ như trước. Ny cô Cấp Đa sau khi nhỏ một giọt nước bất tịnh vào miệng, lại đưa một giọt vào hạ căn. Nghiệp báo của chúng sinh bất khả tư nghị, do đó cô ta có thai và sinh đồng tử Ca Nhiếp Ba.

 

Bấy giờ, ny cô Cấp Đa không dám đưa tay tiếp xúc nên đứa bé khóc lóc. Những người thân hỏi:

 

- Vì sao đứa bé khóc?

 

Nghe hỏi ny im lặng, các ny khác nói:

 

- Thế Tôn chế giới không được tiếp xúc nam giới nên cô ấy không dám gần vì vậy đứa bé khóc lóc.

 

Họ đáp:

 

- Thế Tôn đại bi, sao lại không cho tiếp xúc con mình. Mẹ không bồng bế làm sao nó sống?

 

Nghe nói ny khen ngợi, đến thưa Bí-sô. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Được tiếp xúc con mình, nuôi dưỡng bồng bế không có lỗi.

 

* Duyên xứ như trước. Như lời Phật dạy con của mình thì được tiếp xúc, nuôi dưỡng bồng bế; người nữ nhiều luyến ái nên giữ lấy đứa bé tranh nhau bồng ẳm, chuyền vai này sang vai kia, làm cho đứa bé đến n?i gầy ốm. Thấy vậy, thân thuộc hỏi:

 

- Vì sao như vậy?

 

Nghe họ kể lại sự việc, mọi người bất mãn đem bạch Phật. Phật dạy:

 

- Chư ny không được tiếp xúc con nhỏ của người khác. Ai vi phạm bị tội vượt pháp.

 

Tổng nhiếp tụng môn thứ bảy:

 

    Cấp Đa ny bất trụ,

    Tăng khước kỳ, nhị hình,

    Đạo tiểu yết ma thời,

    Cô tửu ny căn chuyển,

    Tự ngoại bất dĩ cốt,

    Đệ thất nhiếp ưng tri.

 

Nhiếp tụng một trong tụng môn bảy:

 

    Cấp-đa dữ ny túc,

    Vương-xá, dược-xoa thần,

    Thí y nhi hệ cảnh,

    Xưng danh dữ tế thực.

 

* Duyên xứ như trước. Như Thế Tôn dạy, Bí-sô ny không được ngủ đêm với nam giới trong một phòng. Do đó ban đêm, Bí-sô ny Cấp Đa đưa đồng tử Ca Nhiếp Ba ra ngủ bên ngoài làm cho đứa bé khóc lóc. Nghe tiếng khóc, mọi người hỏi Cấp Đa:

 

- Ban đêm vì sao đồng tử Ca Nhiếp Ba khóc lóc như vậy?

 

Ny cô này im lặng, các ny khác nói:

 

- Thế Tôn không cho phép Bí-sô ny được ngủ đêm cùng phòng với nam giới nên để ở ngoài vì vậy nó khóc lóc.

 

Mọi người nói:

 

- Thế Tôn đại bi, nếu trẻ nhỏ không ngủ chung với mẹ sẽ bị bệnh hoạn, nên thưa với Phật.

 

Chư ny thưa Bí-sô, Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Này ny Cấp Đa nên xin với Tăng già cho yết ma được ngủ đêm cùng phòng với con. Nên xin như thế này:

 

-Trải tòa, đánh kiền chùy, sau khi ny chúng đã tập họp, ny Cấp Đa chắp tay lễ bái theo pháp, ngay trước thượng tọa, ngồi trên tòa cỏ, trên gạch, hay trên tấm nệm, chắp tay thưa rằng đại đức ny Tăng già lắng nghe, tôi là Bí-sô ny Cấp Đa sinh con trai, muốn cùng ngủ đêm cùng phòng với con. Nay theo Bí-sô ny Tăng già xin cho yết ma được ngủ đêm cùng phòng với con. Ngưỡng mong ny Tăng-già cho tôi yết ma được ngủ đêm cùng phòng với con, xin từ mẫn cho. (thưa ba lần như vậy).

 

Thứ đến bảo ny Cấp Đa đến chỗ thấy nhưng không nghe, sai một Bí-sô ny tác bạch yết-ma, theo như sau:

 

- Đại đức ny Tăng già lắng nghe, Bí-sô ny Cấp Đa này tự sinh con trai. Nay Cấp Đa theo Bí-sô ny Tăng già xin yết ma cho phép cùng ngủ đêm chung phòng với con. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Bí-sô ny Tăng già đồng ý, nay Bí-sô ny Tăng già tác yết ma cho Cấp Đa được ngủ đêm chung phòng với con. Đây là lời tác bạch.

 

Thứ đến tác yết ma:

 

- Đại đức ny Tăng già lắng nghe, Bí-sô ny Cấp Đa này tự sinh con trai. Nay Cấp Đa theo Bí-sô ny tăng già xin yết ma cho phép cùng ngủ đêm chung phòng với con. Nay Bí-sô ny tăng già tác yết ma cho Cấp-đa được ngủ đêm chung phòng với con. Nếu Bí-sô ny tăng già cho phép Cấp Đa được ngủ đêm chung phòng với con thì im lặng, vị nào không đồng ý thì nói ra. Bí-sô ny tăng già đã yết ma cho phép Cấp đa được ngủ đêm chung phòng với con rồi. Bí-sô ny tăng già đã cho phépim lặng, tôi xin ghi nhận như vậy.

 

Bí-sô ny nào đã được tăng già tác yết ma cho phép được ngủ đêm chung phòng với con rồi, thì được phép ngủ đêm chung phòng với con, chớ nghi ngại.

 

Bạn của ny Cấp Đa cũng ngủ cùng phòng, ny thưa Bí-sô, Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Ny có con được ngủ với con mình, người khác không được. Người khác ngủ chung bị tội vượt pháp.

 

Khi đã lớn, con của Cấp Đa vẫn ngủ chung phòng, ny thưa Bí-sô; Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Nếu con đã lớn, ny không được ngủ chung phòng.

 

* Phật ở vườn Trúc Lâm, thành Vương Xá.

 

Bấy giờ, có vị thần Dược xoa tên Sa Đa cư trú bên sườn núi trong thành này. Vị này thường ủng hộ đại vương Ảnh Thắng và phi hậu trong cung, phụ tướng các quan cùng nhân dân. Nhờ sức của vị này, vua và mọi người đều an lạc. Ở xứ này, mưa thuận gió hòa, ruộng lúa tươi tốt, hoa trái suối sông đều sung mãn, không bị đói kém, mong muốn dễ được.

 

Bấy giờ các Sa-môn, Salamôn, kẻ bần cùng cô độc, thương nhân ... đều đến tập trung ở nước Ma Yết Đàø, đều được Dược xoa này che chở. Dược-xoa Sa Đa lại lấy vợ thuộc đồng loại và chung sống với nhau.

 

Nước Kiền Đà La ở phương Bắc, có Dược-xoa tên Bán Giá La Sống và ủng hộ nơi ấy làm cho đất nước kia an ổn giàu có so với Ma Yết Đà không khác. Dược-xoa này cũng lấy vợ thuộc đồng loại và chung sống với nhau.

 

Một hôm, Dược-xoa ở các phương tổ chức đại hội. Khi gặp nhau, hai Dược xoa này rất mến mộ nhau kết làm bạn thân. Sau khi từ biệt trở về chốn cũ, Dược xoa Sa Đa gửi sang những hoa quả thượng hạngMa Yết Đà sang Bán Gia La. Dược xoa này cũng gửi những hoa quả ở phương Bắc sang Sa Đa. Nhiều lần như vậy, họ rất thân tình tốt đẹp với nhau. Nhân khi hội họp, lại được vui mừng gặp nhau, Sa Đa bảo với Bán Giá La:

 

-Làm cách gì để sau khi chúng ta qua đời, con cháu chúng mình thân ái nhau không rời.

 

- Bán Giá La nói:

 

- Lành thay lời này, ý tôi cũng như vậy.

 

Sa Đa nói:

 

- Từ nay hãy chỉ bụng kết thân, hai nhà chúng ta nếu sinh nam nữ thì kết hôn với nhau.

 

Người kia nói:

 

- Thật tốt.

 

Không bao lâu, vợ Sa Đa có thai, đủ tháng sinh một bé gái hình dáng xinh đẹp, ai cũng ưa thích. Khi sinh cô bé, các Dược xoa đều vui mừng, nên thân quyến đặt tên là Hoan Hỷ.

 

Nghe bạn sinh con gái, Bán Giá Đa rất vui mừng suy nghĩ: "Dược xoa Sa Đa là bạn thân của ta đã sinh con gái, ta sẽ sinh trai. Cô bé ấy là dâu mới yêu quý của ta, nên làm những chuỗi ngọc trang sức và y phục sai người đem sang và kèm thư với nội dung nghe bạn sinh con gái, tôi rất vui mừng nên gửi y phục sang, xin vui lòng nhận cho".

 

Sau khi nhận thư, Sa-đa gửi thư báo lại.

 

Do ý của Bán Giá La chỉ cầu con trai nên không bao lâu vợ có thai, đủ tháng sinh bé trai. Đến khi đặt tên, vì là con của Bán Giá Ca nên đặt tên là Bán Chi Ca.

 

Nghe Bán Giá Ca sinh con trai, Dược xoa Sa Đa suy nghĩ: "Bạn ta sinh con trai, chẳng lẽ ta bỏ lơ, hãy gửi y phục anh lạc để biểu lộ chúc mừng. Cháu ấy chính là chồng con gái ta chứ gì".

 

Dược xoa này gửi thư: "Nghe bạn sinh con trai, tôi rất vui mừng, xin gửi y phục anh lạc để chúc mừng, mong bạn nhận cho tấm lòng chân thật của tôi".

 

Sau khi nhận thư, vị kia viết thư báo lại: "Trước đây có hứa kết thân, từ nay đã toại nguyện, đợi chúng thành thân sẽ tiến hành chuyện hôn nhân".

 

Vợ Dược xoa Sa Đa lại có thai, khi ấy các núi phát tiếng vang như voi lớn rống. Đủ tháng, đến khi sinh, núi lại phát tiếng vang. Thân thuộc bàn nhau: "Đứa bé này, khi vào thai và khi sinh ra, núi đều phát tiếng vang, lại là con trai của Sa Đa vậy nên đặt tên là Sa Đa Sơn".

 

Khi cậu này khôn lớn, cha qua đời nên cậu ta lên làm gia chủ. Hoan Hỷ cũng đã trưởng thành, bảo với em:

 

- Chị muốn đi chơi trong thành Vương-xá, bắt lấy những trẻ con trai gái sơ sinh của mọi người để ăn thịt.

 

Em nói:

 

- Này chị, em từng nghe cha chúng ta ủng hộ chủ thành và nhân dân, làm cho họ được an lạc thoát khỏi những buồn khổ. Từ nay, chúng ta cũng nên hộ trì thêm. Đây là khu vực chúng ta phòng hộ. Nếu có kẻ khác đến gây tổn hại, chúng ta cũng phải ngăn lại, sao chị lại sinh ác niệm như vậy, hãy bỏ ý nghĩ âùy đi.

 

Nhưng vì tiền thân đã phát nguyện tà ác, do sức tập khí ấy nên Dược-xoa nữ này vẫn nói với em như trước.

 

Biết ý của chị mình khó thay đổi, em suy nghĩ: "Sức ta không thể ngăn được ác niệm của chị ấy, nhưng khi còn sống, cha đã hứa gả chỉ cho người khác, vậy ta nên tổ chức đám cưới".

 

Người em viết thư cho Dược xoa Bán Giá La với nội dung:

 

- Chị Hoan Hỷ của cháu đã lớn, xin bác mau đến đây làm việc kết thân.

 

Nhận được thư, Bán Giá La đem nhiều lễ vật đến thành Vương Xá cưới dâu đem về chỗ của mình.Sau khi về thành Ma Yết Già, sống tương đắc với chồng một thời gian, Dược xoa nữ nói:

 

- Anh ơi! em muốn đến thành Vương Xá bắt con trai gái sơ sinh của mọi người để ăn thịt.

 

Đáp:

 

- Hiền thủ, đấy là trú xứ của gia tộc em, kẻ khác đến gây hại còn muốn ngăn lại, tại sao em lại muốn làm việc bạo ngược phát sinh ác niệm như vậy, thôi đừng nói như vậy nữa.

 

Do sức huân tập của nguyện tà ác đã phát ở đời trước, cô ta biểu lộ bất mãn, ôm lòng sân hận tạm im lặng.

 

Sau một thời gian, cô ta sinh một con trai, lần lượt đến đứa thứ năm trăm. Đứa con nhỏ nhất tên Bé Yêu Thương. Ỷ vào sự cường thịnh của gia đình, mẹ muốn làm việc phi pháp. Tuy được chồng nhiều lần khuyên bảo nhưng bà ta không nghe lời. Biết tâm ý vợ nên chồng không nói nữa.

 

Khi ấy, Hoan Hỷ tùy ý tung hoành trong thành Vương Xá, tuần tự bắt trai gái sơ sinh của mọi người để ăn thịt.

 

Trong thành bị mất nam nữ, dân chúng cùng nhau tâu lên vua:

 

- Trai gái của chúng thần đều bị bắt trộm mất, không biết là ai đã gây việc tàn hại này, chúng thần quá đau khổ, phải làm gì đây, xin vua từ bi khéo tìm kiếm cho.

 

Vua ra lệnh hộ vệ khắp nơi, sai quân canh gác bốn cửa thành. Quân sĩ cũng bị bắt cóc, sáng ra mất ít người, không biết đi đâu. Phụ nữ có thai cũng bị bắt đưa đến nơi khác. Bấy giờ, tai nạn này khủng bố khắp trong thành Vương-xá. Các quan lại tâu vua:

 

- Trong đất nước này đang sinh tai nạn lớn.

 

Sau khi họ nói rõ sự việc, vua rất kinh hãi, triệu bốc sư đến để hỏi nguyên do ấy.

 

Đáp:

 

- Tai nạn khủng bố này đều do Dược-xoa gây ra, hãy mau sắm sửa thức ăn thơm ngon để cúng tế.

 

Vua hạ chỉ đánh trống truyền lệnh báo cho nhân dân:

 

- Kể cả chủ khách trong đất nước của ta đều phải chuẩn bị đầy đủ thức ăn hương hoa, quét dọn đường sá trong thành và làng xóm, trang trí xinh đẹp, đánh trống tấu nhạc, chuông linh, cờ phướng.

 

Nhân dân trong thành tuân theo lệnh vua, đều chí tâm bày biện thức ăn hương hoa ... trang hoàng đường sá như vườn Hoan Hỷ, cúng tế khắp nơi. Tuy mệt sức cúng tế đầy đủ nhưng tai họa vẫn không hết, họ khổ não lo buồn nhưng không biết tính sao cả.

 

Bấy giờ, thiên thần thủ hộ thành Vương xá báo mộng cho mọi người rằng trai gái của các người đều bị Dược xoa Hoan Hỷ ăn thịt. Các người hãy đến gặp đức Thế Tôn, Ngài sẽ trừ diệt tất cả tai họa.

 

Mọi người thưa với thần:

 

- Nó đã bắt trai gái của chúng con ăn thịt vậy là Dược xoa Ác Tặc, sao gọi là Hoan Hỷû?

 

Nhân đó, mọi người gọi là nữ Dược xoa Ha Lị Để.

 

Trong thành Vương xá, nghe như vậy, mọi người đều đến gặp đức Phật, lạy sát hai chân Ngài:

 

- Bạch Thế Tôn! Nữ Dược xoa Ha Lị Để này đã nhiều đêm gây chuyện bất lợi cho nhân dân trong thành Vương Xá. Trước đây, chúng con không ác niệm với nó nhưng nó lại có tâm độc hại với chúng con. Trẻ con trai gái mới sinh đều bị nó bắt ăn thịt. Cầu mong Thế tôn thương xót chúng con mà điều phục nó.

 

Khi ấy, Thế Tôn im lặng nhận lời.

 

Biết Phật đã nhận lời, họ đảnh lễ sát chân Phật rồi từ giã.

 

Sáng hôm sau, đức Phật mặc y mang bát vào thành khất thực, tuần tự đi bát xong, trở về chỗ cũ. Sau khi thọ trai, đức Phật đến chỗ ở của Dược xoa Ha Lị Để nhưng Dược xoa ấy đi vắng, để Bé Yêu Thương ở nhà. Thế Tôn dùng bát chụp trên Dược xoa con này. Do uy lực của Như Lai làm cho anh không thấy em nhưng em thấy các anh.

 

Khi về đến nhà, không thấy con nhỏ, nữ Dược xoa kinh hoảng chạy khắp nơi tìm kiếm và hỏi các con:

 

- Bé Yêu Thương ở đâu?

 

Đáp:

 

- Chúng con đều không thấy.

 

Dược xoa nữ đấm ngực khóc lóc nước mắt ràn rụa, miệng mồm khô héo, tinh thần mê loạn, trong lòng đau khổ chạy đến thành Vương-xá, đi khắp các phố phường, đường sá, vườn rừng, ao hồ, thiên miếu, đền thần, nhà khách, phòng trống nhưng vẫn không tìm được. Quá đau khổ nên bà ta phát điên cuồng, vứt bỏ hết y phục, lớn tiếng kêu gào, gọi to:

 

- Con yêu mến ơi, con đang ở đâu?

 

Chạy ra khỏi thành, tìm khắp các thôn xóm, tụ lạc lớn nhưng không gặp con, bà ta liền đi khắp tứ phương bốn biển nhưng cũng không gặp, nên xỏa tóc trần truồng lăn lộn, bò lê bò lết ngồi xổm trên đất; tuần tự như vậy đến bảy núi đen lớn, bảy núi vàng lớn, bảy núi tuyết lớn, ao Vô Nhiệt ở núi Hương Túy thuộc Chiêm Bộ Châu cũng không thấy, trong lòng quá đau đớn đến nghẹt thở. Bà ta lại đến Đông phương Tỳ Đề Ha, Tây phương Cù Đà Ny, Bắc phương Câu Lô Châu nhưng cũng không thấy. Bà ta lại xuống tận mười sáu các địa ngục Đẳng Hoạt, Hắc Thằng, Chúng Hợp, Khiếu Hoán, Đại Khiếu Hoán, Nhiệt, Cực Nhiệt, A Tỳ Chỉ, Át Bộ Đà, Ny Kích Bộ Đà, A Tra Tra, Ha Ha Bà, Hô Hô Bà, Thanh Liên Hoa, Hồng Liên Hoa, Đại Hồng Liên Hoa nhưng vẫn không tìm thấy. Bà ta lại lên núi Diệu cao, lên tầng thấp nhất trước, thứ đến lên tầng hai tầng ba, lên thẳng thiên cung Đa-văn, tận đỉnh núi Diệu-cao, vào vườn chúng xa, rồi vườn Hoan Hỷ thô tạp nhưng cũng không thấy, đến dưới gốc cây Viên Sinh, rồi Thiện Pháp đường, vào thành Thiện Kiến, muốn đi vào cung điện tối thắng của Đ? Thích.

 

Khi ấy, có đại thần Kim Cương cùng vô lượng Dược xoa đang giữ cửa ở đó. Thấy bà ta đến, họ đuổi ra khỏi thành Thiện Kiến.

 

Trong lòng càng đau đớn, bà ta đến chỗ Đa Văn Thiên vương, lăn lộn trên tảng đá lớn, kêu la khóc lóc, thưa:

 

- Đại tướng quân ơi, Bé yêu con của con bị người khác bắt mất rồi, không biết đang ở đâu xin chỉ cho con.

 

Đa Văn Thiên nói:

 

- Này chị ơi! Không nên đau khổ tự làm mình điên cuồng. Chị hãy xem lại gần nhà của chị, nơi hằng ngày đi lại, ai đến ở nơi ấy.

 

Đáp:

 

- Đại tướng quân, Sa-môn Kiều Đáp Ma sống nơi ấy.

 

Thiên vương nói:

 

- Nếu như vậy, hãy mau đến gặp Thế Tônquy y, Ngài sẽ làm cho chị gặp được ái nhi của mình.

 

Nghe nói như vậy, Dược-xoa rất vui mừng như chết đi sống lại, trở về chỗ ở cũ. Trông thấy Thế Tôn với thân thể trang nghiêm ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, hào quang sáng rực hơn ngàn mặt trời, như núi báu xinh đẹp, nên sinh tín ngưỡng không còn buồn khổ như đã gặp được con mình, bà ta đến làm lễ dưới chân Phật, ngồi qua một bên bạch với Thế Tôn:

 

- Con bị biệt ly với Bé Yêu Thương đã lâu, cầu mong Thế Tôn từ bi cho con được gặp.

 

Phật bảo nữ Dược xoa Ha Lê Để:

 

- Ngươi có bao nhiêu đứa con?

 

Đáp:

 

- Con có năm trăm đứa.

 

Phật hỏi:

 

- Này Ha Lê Để, trong năm trăm đứa, nếu thiếu một đứa có gì là khổ?

 

Đáp:

 

- Thế Tôn! Nếu hôm nay con không gặp Bé Yêu Thương, chắc phải trào máu nóng mà chết.

 

Phật bảo Ha Lê Để:

 

- Có cả năm trăm đứa con, không thấy một đứa mà bị khổ đến như vậy, huống gì họ chỉ có một đứa con, bị ngươi bắt lấy ăn thịt thì khổ đến như thế nào?

 

Đáp:

 

- Họ còn khổ gấp bội con nữa.

 

Phật dạy:

 

- Này Ha Lê Để, ngươi đã biết rõ khổ ái biệt ly, sao lại ăn thịt trai gái của họ?

 

Đáp:

 

- Cầu mong Thế Tôn chỉ dạy cho con.

 

Phật dạy:

 

- Này Ha Lê Để! Nên thọ giới của Ta, từ nay đem lại sự an ổn cho nhân dân trong thành Vương Xá, nếu làm được như vậy thì ngay tại chỗ ngồi gặp được bé Yêu.

 

Đáp:

 

- Thưa Thế Tôn! Từ nay về sau con tuân theo lời Phật dạy, đem lại sự an ổn cho dân chúng trong thành Vương-xá.

 

Sau khi thưa như vậy, đức Phật làm cho bà ta gặp được Bé Yêu.

 

Sau khi Ha Lị Để quy y thọ cấm giới với Như Lai, dân chúng trong thành Vương-xá được an lạc, không còn lo buồn.

 

Sau khi thọ ba quy ynăm giới cấm không sát sinh cho đến không uống rượu với đức Phật, Ha Lị Đ? bạch:

 

- Thế Tôn! Từ nay về sau, con và các con ăn gì đây?

 

Phật dạy:

 

- Này Thiện nữ! Ngươi không phải lo, các đệ tử Thanh-văn của Ta trong Chiêm Bộ Châu, mỗi khi ăn bố thí thức ăn cho chúng sinh và ở cuối chỗ dọn ăn để một mâm thức ăn, gọi tên của ngươi và các con, làm cho no đủ không còn khổ đói khát, ngoài ra khi ăn còn phải vận tâm làm cho các chúng sinh khác và chúng quỷ thần ở sông núi biển trong hiện tại đều được no đủ.

 

Phật bảo Ha Lị Để:

 

- Lại nữa, nay Ta giao phó cho ngươi làm thế này, cho đến khi nào pháp Ta chưa diệt hết, luôn ngày đêm ngươi và các con chí tâm ủng hộ các già-lam trú xứ của Tăng ny trong giáo pháp của Ta khắp cõi Chiêm-bộ châu không bị tổn hại, khiến cho được an lạc.

 

Khi Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Ha Lê Để, năm trăm đứa con và chúng Dược xoa hiện diện đều hoan hỷ đảnh lễ phụng hành.

 

Nghe lời Phật dạy, Các Bí-sô đều có nghi ngờ, thưa Thế Tôn:

 

- Ha Lê Để gây nghiệp gì mà sinh năm trăm đứa con và hấp tinh khí của người, ăn thịt trai gái mới sinh ở thành Vương-xá?

 

Phật bảo:

 

- Này các Bí-sô hãy lắng nghe, nữ Dược xoa này cùng dân trong thành chịu lấy quả báo do nghiệp đã gây.

 

Này các Bí-sô, thời quá khứ, trong thành Vương-xá có người chăn bò, lấy vợ chưa bao lâu đã có thai.

 

Bấy giờ, không có Phật chỉ có bậc Độc-giác xuất hiện trong thế gian, thích ở nơi tịch tịnh, thọ dụng ngọa cụ tùy nghi vừa phải, trong thế gian chỉ có phúc điền này.

 

Khi vị Độc giác này du hành nhân gian đến thành Vương-xá. Có năm trăm trăm người tổ chức hội hè, trang sức thân thể xinh đẹp, cùng nhau đem thực phẩmâm nhạc đến vườn hoa. Trên đường đi, trông thấy cô gái chăn bò đang có thai kia tay bưng bình sữa lạc, mọi người nói:

 

- Này cô ơi! Hãy đến nhảy múa cùng nhau vui chơi.

 

Nghe gọi như vậy, cô ta sinh tâm ham muốn, đưa mắt dương mi cùng nhau nhảy múa. Do quá mệt nhọc nên cô ta bị xẩy thai. Mọi người đã đi hết vào vườn hoa, cô ta buồn rầu ngồi ôm mặt, đem sữa lạc này bán được năm trăm quả xoài.

 

Bấy giờ, vị Độc giác đi đến chỗ cô ấy. Trông thấy vị này với thân tâm tịch tịnh, uy nghi từ tốn, đang đi trên đường, cô ta sinh ý kính ngưỡng tiến tới đảnh lễ sát hai chân, đem trái cây thơm ngon dâng lên vị thánh.

 

Các vị Độc giác chỉ dùng thân giáo hóa chứ không thuyết pháp. Vì muốn làm lợi ích cho cô kia, vị Thánh này như vua thiên nga dang rộng hai cánh bay lên hư không hiện các thần biến. Người phàm phu khi thấy thần biến, tâm liền quy hướng như cây đại thụ ngã xuống, cô ta nằm sát đất chắp tay phát nguyện:

 

- Con nguyện đem công đức cúng dường cho phước điền chân thật này, trong tương lai được sinh vào thành Vương-xá và ăn thịt hết trai gái sơ sinh của dân chúng trong thành này.

 

- Này các Bí-sô! Ýù các ông nghĩ sao, cô gái chăn bò nào phải ai khác, nay chính là nữ Dược xoa Ha Lị Để. Nhờ trong đời quá khứ cô ta cúng dường vị Độc-giác năm trăm trái xoài, lại phát nguyện ác nên ngày nay sinh trong thành Vương-xá, sinh năm trăm đứa con, hấp tinh khí của người, ăn nam nữ sơ sinh trong thành.

 

- Này các Bí-sô! Ta thường giảng dạy rằng nghiệp đen thành quả báo đen, nghiệp tạp thành quả báo tạp, nghiệp trắng thành quả báo trắng ... cho đến phải nhận lấy quả báo mình đã gây ra.

 

- Các Bí-sô! Nghe lời Phật dạy, tâm rất hoan hỷ, đảnh lễ sát chân Phật, từ giã.

 

* Duyên xứ như trước. Sau khi Ha Lê Để thọ ba quy ynăm giới cấm của Như Lai, bị các thần Dược-xoa khác gây ra tai nạn. Bà ta liền đem cho chúng Tăng các con của mình. Khi thấy Bí-sô đi khất thực, chúng hóa ra trẻ con đi theo sau. Khi phụ nữ trong thành Vương xá trông thấy, liền sinh ý yêu mến đến bồng bế, thì chúng biến mất. Họ hỏi các Bí-sô:

 

- Trẻ con ấy là ai?

 

Đáp:

 

- Con của Ha Lê Để.

 

Phụ nữ nói:

 

- Đấy là con ruột của oan gia Dược xoa độc hại phải không?

 

Bí-sô đáp:

 

- Họ đã bỏ tâm độc hại, bị các Dược xoa khác gây tai nạn nên đưa các con đến giao cho chúng tôi.

 

Các bà ấy suy nghĩ: "Nữ Dược xoa còn bỏ tâm ác đưa con mình cho Bí-sô, vậy sao không đem các con ta cho các ngài".

 

Họ đem con trai, gái giao cho Tăng già nhưng Tăng không nhận. Phụ nữ thưa:

 

- Thánh giả! Con của Dược xoa độc hại, quý Ngài còn nhận vì sao không nhận trai gái của chúng con?

 

Các Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

 

- Nên nhận.

 

Tuân lời Phật, các Bí-sô nhận chúng nhưng không giữ gìn để cho chúng tùy ý rong chơi khắp nơi.

 

Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Nếu đem một bé trai đến cho Tăng già, Bí-sô nhận rồi dùng một miếng Ca sa cũ buộc trên cổ để giữ gìn. Nếu họ đem đến nhiều, thượng trung hạ tọa tùy ý nhận lấy, giữ gìn như trước, chớ có nghi ngại.

 

Khi ấy, cha mẹ chúng đem tài vật đến chuộc về, Bí-sô không nhận. Phật dạy:

 

- Nên nhận.

 

Về sau, chúng có tâm ái mộ, lại đem y vật đến dâng cho Bí-sô để mong báo ân. Biết tâm chúng, Bí-sô không nhận. Phật dạy:

 

- Nên nhận.

 

Như Thế Tôn dạy, được nhận tài vật chuộc trẻ con, Lục chúng Bí-sô theo cha mẹ chúng đòi trả cho đủ. Phật dạy:

 

- Không được ra giá để đòi, nên tùy theo ý họ, nhận lấy vừa phải.

 

* Duyên xứ như trước. Sau khi Dược xoa nữ Ha Lị Để cho Tăng già các con mình, ban đêm bị đói, chúng khóc lóc đến sáng. Các Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

 

- Sáng sớm nên đem thức ăn uống gọi tên mà cúng tế cho chúng.

 

Có đứa muốn ăn đúng trai thời, Phật dạy:

 

- Nên cho. Có đứa muốn ăn phi thời.

 

Phật dạy:

 

- Nên cho.

 

Có đứa muốn ăn tàn thực trong bát của Bí-sô.

 

Phật dạy:

 

- Nên cho.

 

Có đứa muốn ăn đồ bất tịnh.

 

Phật dạy:

 

- Nên cho.

 

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ

 

TỲ-NẠI-DA TẠP-SỰ

 

Quyển thứ ba mươi mốt hết.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 1310)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(Xem: 1353)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 1510)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 1444)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 2101)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 1831)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 1806)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 2110)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 2551)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 3117)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 1985)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 2838)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 2678)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 4564)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 2894)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 3199)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2357)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 2978)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 2564)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 3127)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2357)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 2725)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 3063)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 3101)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 3987)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 3521)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 3509)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 4025)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 3401)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 3025)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(Xem: 3903)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 4601)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 3545)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 5937)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 5877)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(Xem: 4014)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 19947)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3438)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 6821)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4316)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 4175)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 3740)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4058)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 5506)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4265)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 3925)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 3992)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 4088)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 4819)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 3610)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 4903)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 4871)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 6509)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 4709)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
(Xem: 5549)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4420)
Thưa Tôn giả Gotama, những ngày về trước, những ngày về trước nữa, rất nhiều Sa-môn, Bà-la-môn là du sĩ ngoại đạo ngồi...
(Xem: 4779)
Lời dạy của Đức Phật được kiết tập thành kinh điển và bảo lưu trong nhiều truyền thốngbộ phái Phật giáo.
(Xem: 16766)
Toàn bộ Đại Tạng Kinh tiếng Việt trên 203 tập đã dịch và in xong...
(Xem: 5360)
Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ngôi vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ...
(Xem: 5606)
Nếu thấy thân người nữ Cùng với vẻ diễm kiều Người ngu không biết rõ Vọng sinh ý dâm nhiễm.
Quảng Cáo Bảo Trợ