Logo Hanh Huong
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,261,090
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Quyển 32 đến 34

17 Tháng Chín 201417:07(Xem: 4622)
Quyển 32 đến 34

 

Đại Tạng No. 1451

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ

- Mùla-Sarvàstivàda -

TỲ-NẠI-DA TẠP SỰ

- Mùla-Sarvàstivàda Vinaya Ksudraka Vastu -

(Cuộc đời đức Phật và các đệ tử)

Hán dịch: Tam Tạng Nghĩa Tịnh, đời Đường, Trung Quốc

Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh, PL 2542 - TL 1998

 Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự

 

Quyển thứ ba mươi hai

 

--- ooOoo ---

 

Nhiếp tụng hai trong biệt môn bảy.

 

    Ny bất trú lan-nhã,

    Bất cư thành ngoại tự,

    Bất hứa môn tiền vọng,

    Diệt bất thị song trung.

 

* Đức Phật ở vườn Trúc Lâm, thành Vương Xá. Trong thành này có một dâm nữ tên là Liên Hoa Sắc sống bằng nghề biểu diễn sắc đẹp. Có Bà-la-môn đến bảo:

 

- Cô bé thích không, hãy cùng ta ân ái.

 

Hỏi:

 

- Anh có tiền không?

 

Đáp:

 

- Không có.

 

Cô bảo:

 

- Hãy đi kiếm tiền, rồi đến gặp nhau.

 

Đáp:

 

- Tôi sẽ đi kiếm.

 

Sau khi đi qua các nơi ở phương Nam, kiếm được năm trăm tiền vàng, anh ấy trở lại để gặp cô ta.

 

Bấy giờ, nhờ thiện tri thứctôn giả Mục Kiền Liên, Liên Hoa Sắc xuất gia thọ cận viên chứng quả A-la-hán, tùy theo sự an lạc, rời khỏi thành Vương-xá, đi đến Thất La Phiệt.

 

Khi ấy, Thế Tôn chưa ngăn Bí-sô ny trú ở Alannhã. Liên Hoa Sắc đến trú ở nơi vắng lặng trong rừng rậm, ngồi nhập định hưởng thọ giải thoát lạc.

 

Bà-la-môn kia đem năm trăm tiền vàng đến thành Vương-xá, hỏi mọi người:

 

- Cô Liên Hoa Sắc đã đi đâu vậy?

 

Đáp:

 

- Cô ấy xuất gia trong pháp Thích-tử, đã đi về thành Thất La Phiệt.

 

Nghe như vậy, anh ta đến rừng Thệ Đa hỏi các Bí-sô:

 

- Cô gái tên Liên Hoa Sắc ở thành Vương xá du hành đến đây, hiện nay đang trú ở đâu?

 

Đáp:

 

- Cô ấy đã từ bỏ việc phi pháp, xuất gia, chuyên tu tập thiền quán trong rừng rậm.

 

Đến gặp vị ny ấy, anh ta nói:

 

- Thiếu nữ! Trước đây có lời cam kết, nay đem tiền đến, em hãy cùng tôi hưởng lạc.

 

Đáp:

 

- Này Bà-la-môn! Tôi đã vứt bỏ nghiệp tội ác, người hãy đi đi.

 

Bảo:

 

- Này cô bé! Tuy em bỏ ta nhưng ta không bỏ em đâu, hãy đến đây đừng bỏ nhau.

 

Hỏi:

 

- Người yêu mến chỗ nào trên thân thể của tôi?

 

Đáp:

 

- Ta yêu đôi mắt của em.

 

Liên Hoa Sắc liền dùng thần lực móc hai tròng mắt đưa cho người kia.

 

Bà-la-môn suy nghĩ: "Nữ Sa-môn trọc đầu này lại có thể giở trò yêu thuật như thế".

 

Anh ta cú vào đầu của vị ny kia rồi bỏ đi.

 

Vị này đem sự việc trên thưa với ny chúng. Ny chúng bạch Bí-sô, Bí-sô bạch Phật. Phật suy nghĩ: "Do Bí-sô ny trú ở A-lan-nhã nên có lỗi như vậy".

 

Ngài chế định, từ nay về sau các Bí-sô ny không được đến thiền quán trong rừng rậm và nơi hoang vắng. Nếu ai vi phạm, bị tội vượt pháp.

 

* Duyên khởi tại thành Thất La Phiệt. Như Thế Tôn dạy, Bí-sô ny không được trú ở A-lan-nhã. Khi ấy, các Bí-sô ny lại tịnh tọa thiền quán ở các ngã đường trong thôn phường nên bị lỗi như trước. Họ đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

 

- Bí-sô ny nên tu tập thiền định trong chùa.

 

Nghe Phật bảo các Bí-sô ny tu tập thiền định trong chùa, người thế tục kia có tín tâm liền làm chùa ny ngoài thành cho chư ny đến trú ngụ, lại bị giặc và kẻ ác đến quấy nhiễu. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Không được làm chùa ny ngoài thành, nên làm trong thành.

 

* Duyên xứ như trước. Bí-sô ny Thổ La Nan Đà đứng trước chùa để trông ngóng, đùa cợt người qua lại. Những người thế tục cùng nhau bất mãn chê bai. Bí-sô bạch Phật. Phật nghĩ rằng: "Ny ở trước cửa chùa có lỗi như vậy nên chế định ny không được ở dưới cửa chùa". Bí-sô ny nào đứng trước cửa chùa, bị tội vượt pháp.

 

* Duyên xứ như trước. Sau khi Phật đã chế định chư ny không được đứng trước cửa chùa, họ lại nhìn qua cửa sổ từ xa cùng nhau đùa cợt, gây lỗi như trước. Phật dạy:

 

- Đây cũng như trước, ai vi phạm bị tội vượt pháp.

 

Nhiếp tụng ba trong biệt môn bảy.

 

    Hứa trước Tăng-khước-kỳ,

    Hữu nam trì bất dục,

    Giao cù bất ưng việt,

    Nghi tại nhất biên hành.

 

* Duyên xứ như trước. Ở trong tự viện, khi làm việc, các Bí-sô ny mặc cả năm y, nóng nực mệt nhọc, nhân đó gầy ốm, nên thưa với Bí-sô. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Ởû trong chùa, khi làm việc, các Bí-sô ny nên mặc Tăng khước-kỳ.

 

Đến chùa thấy như vậy, người thế tục sinh dục tưởng, người có tín tâm cùng nhau chê bai. Bí-sô bạch Phật, Phật dạy:

 

- Nếu những người thế tục chê bai việc này, từ nay về sau các Bí-sô ny không nên mặc Tăng khước kỳ mà làm việc trước mặt Trưởng-giả Bà-la-môn. Ai vi phạm bị tội vượt pháp.

 

Khi làm việc trước người thế tục, ny nên mặc Tăng-khước-kỳ kín hai vai và tay, mặc y năm điều rồi mới làm việc.

 

* Duyên xứ như trước. Bí-sô ny Thổ La Nan Đà đến tắm ở chỗ tắm của đàn ông. Đến đó tắm, thấy ny cô xuống dưới nước, các thiếu niên bảo nhau:

 

- Xem nữ Sa-môn trọc đầu này, thân thể như trâu nước hoang.

 

Ny bạch Bí-sô, Bí-sô bạch Phật. Phật suy nghĩ: "Do Bí-sô ny đến tắm chỗ tắm của đàn ông nên có lỗi như vậy, từ nay trở đi Bí-sô ny không được đến tắm nơi tắm của đàn ông. Ai vi phạm bị tội vượt pháp".

 

* Duyên xứ như trước. Bí-sô ny Thổ La Nan Đà đứng ở giữa ngã tư đường thấy người thế tục đến liền đùa cợt. Mọi người bảo nhau:

 

- Nữ Sa-môn trọc đầu này nào hợp với chuyện đứng ở ngã tư chọc ghẹo bọn ta.

 

Ny bạch Bí-sô. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Từ nay về sau Bí-sô ny không được đi qua ngay giữa ngã tư đường, nên đi bên lề nào thuận tiện. Ai đi qua ngay giữa, bị tội vượt pháp.

 

 

 

Nhiếp tụng thứ tư trong biệt môn bảy.

 

    Nhược thị nhị hình nữ,

    Hoặc thị hợp đạo loại,

    Hoặc thường huyết lưu xuất,

    Cập thị vô huyết nhân.

 

* Duyên xứ như trước. Khi ấy có Bí-sô ny cho nhị hình nữ xuất gia. Thấy ny khác đến, người này biểu hiện tướng khác lạ. Vị khác hỏi:

 

- Cô là người gì?

 

Đáp:

 

- Này chị! Tôi là người nhị hình.

 

Ny bạch Bí-sô, Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Đấy là phi nam phi nữ không nên cho xuất gia, dù cho thọ cận viên rồi cũng không phát sinh Luật Nghi Hộ, hãy mau tẫn xuất. Từ nay về sau, nếu có người nữ đến cầu xuất gia, cần phải hỏi họ trước rằng ngươi có phải là người nhị hình không. Nếu ai không hỏi mà cho xuất gia, Bổn sư bị tội vượt pháp.

 

* Duyên xứ như trước. Có Bí-sô ny cho người nữ chung hai đạo xuất gia. Khi tiểu tiện, đại tiện ra luôn làm dơ nhớp chỗ ấy. Đến nơi, thấy như vậy, các ny khác hỏi:

 

- Ai làm nhớp nơi này vậy?

 

Đáp:

 

- Thưa chị! Tôi không cố ý làm nhớp nơi ấy đâu, chỉ vì hai đạo hợp lại nên khi muốn tiểu tiện thì đại tiện theo ra.

 

Ny bạch Bí-sô. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Đấy là phi nam phi nữ không nên cho xuất gia, dù cho thọ cận viên rồi cũng không phát sinh luật-nghi-hộ, hãy mau tẫn xuất. Từ nay về sau, nếu có người nữ đến cầu xuất gia, cần phải hỏi họ trước rằng ngươi có phải là người có hai đạo hợp lại không. Nếu không hỏi mà cho xuất gia, Bổn sư bị tội vượt pháp.

 

Khi ấy, có Bí-sô ny cho người nữ bị bệnh thường lưu huyết xuất gia. Y nội họ bị nhớp nên có nhiều ruồi bu vào. Chư ny hỏi:

 

- Cô thường bị lưu huyết phải không?

 

Đáp:

 

- Tôi là người bị bệnh lưu huyết.

 

Ny bạch Bí-sô. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Người này cũng như trước, không được cộng trú.

 

* Duyên xứ như trước. Có Bí-sô ny cho người nữ không có kinh nguyệt xuất gia. Thấy các ny khác hằng tháng có kinh kỳ xuất hiện, họ sinh ý hiềm khích, bảo:

 

- Cô có ý nghĩ xấu, không chịu ly dục nên thường bị nguyệt kỳ.

 

Đáp:

 

- Thấy kinh nguyệt, vì sao chị lại chê bai. Đây là việc bình thường của phụ nữ, chị không có hay sao?

 

Nói:

 

- Tôi không xuất kinh làm sao có việc ấy.

 

Ny bạch Bí-sô, Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Đây là hoàng-môn nữ, nên cho họ về vì không thể sinh thiện pháp. Khi có người nữ đến cầu xuất gia, nên hỏi họ: - Cô có phải là người không có kinh phải không. Ai không hỏi bị tội vượt pháp.

 

 

 

Nhiếp tụng năm trong biệt môn bảy:

 

    Đạo tiểu trước nội y,

    Cận Bí-sô bất thóa,

    Tăng ny bất đối thuyết,

    Đương ư tự chúng biên.

 

* Duyên xứ như trước. Có Bí-sô ny độ người nữ âm đạo quá nhỏ xuất gia. Khi đi tiểu, người ấy ở trong chỗ tiểu quá lâu mới ra. Các ny khác hỏi:

 

- Vì sao ở lâu vậy?

 

Đáp:

 

- Đường tiểu tôi quá nhỏ, căn không đầy đủ nên tiểu lâu.

 

Ny bạch Bí-sô. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Đấy là hoàng-môn nữ nên tẫn xuất ngay.

 

* Duyên xứ như trước. Có chư ny bị nguyệt kỳ thấm ướt y và ngọa cụ, nhiều ruồi bu vào, tuy cố giặt giũ nhưng vẫn vết ố như trước. Biết như vậy, Phật bảo:

 

- Nên dùng nội y cùng màu sắc ấy.

 

Chư ny mặc như vậy. Khi ấy, Bí-sô ny Thổ La Nan Đà cũng mặc y này đi vào thành khất thực, trên đường đi, y bị sút xuống.

 

Thấy vậy, mọi người hỏi:

 

- Vật gì rơi trên đất vậy?

 

Nổi sân, ny nói:

 

- Này kẻ ti tiện! Hãy mau về nhà hỏi mẹ chị mày, họ sẽ nói cho mày biết.

 

Phật dạy:

 

- Bí-sô ny mặc nội y, cần phải buộc dây lưng thì không có lỗi này. Ai không buộc dây lưng bị tội vượt pháp.

 

* Duyên xứ như trước. Cụ thọ Đại Ca Nhiếp Ba vào buổi sáng mặc y mang bát vào thành khất thực. Thấy vậy, Thổ La Nan Dà vội chạy đến bên cạnh tôn giả và nhổ nước bọt xuống đất và nói to:

 

- Vật rất ngu rất độn.

 

Ca Nhiếp Ba nói:

 

- Đây không phải lỗi của cô, chính là lỗi của A Nan Đà vì cố xin cho nữ nhân ác hạnh xuất gia trong pháp luật thiện thuyết.

 

Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

 

- Hành động của Thổ La Nan Đà trái pháp Sa-môn. Những dâm nữ còn không thốt ra những lời thô bỉ như vậy. Từ nay trở đi, Bí-sô ny thấy Bí-sô không được nhổ nước miếng và nói rất ngu rất độn. Ai vi phạm bị tội vượt pháp.

 

* Duyên xứ như trước. Có Bí-sô phạm lỗi kia thấy Bí-sô ny đến liền mời ngồi. Cô này hỏi:

 

- Thánh giả, muốn làm việc gì?

 

Đáp:

 

- Tôi phạm tội, muốn sám hối.

 

Ngồi đối diện nhau, Bí-sô thưa:

 

- A Ly Di Ca (thánh giả nữ) ghi nhớ cho, tôi là Bí-sô ... phạm tội ..., nay đối trước A Ly Di Ca phát lộ tội ấy ra không che dấu. Do phát lộ nên tôi được an lạc.

 

Ny hỏi:

 

- Thánh giả cũng phạm tội ấy hay sao? Đó không phải là việc thiện.

 

Bí-sô ấy im lặng xấu hổ.

 

Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Bí-sô không được phát lộ sám hối tội với Bí-sô ny, nên phát lộ sám hối với Bí-sô thanh tịnh đồng kiến giải. Ai vi phạm bị tội vượt pháp.

 

* Duyên xứ như trước. Có Bí-sô ny phạm tội, thấy Bí-sô đến nên chí thành cung kính, đảnh lễ sát hai chân, chắp tay thưa:

 

- Thánh giả! Xin thương xót con mà ngồi lại một lúc.

 

Bí-sô hỏi:

 

- Muốn làm việc gì?

 

Đáp:

 

- Thánh giả! Con phạm tội, muốn phát lộ.

 

Trước Bí-sô đang ngồi, ny chắp tay thưa:

 

- Thánh giả ghi nhớ cho, con là Bí-sô ny ... phạm tội ... như trước.

 

Phật dạy:

 

- Bí-sô ny không được phát lộ với Bí-sô, nên phát lộ với Bí-sô ny thanh tịnh. Ai vi phạm bị tội vượt pháp.

 

 

 

Nhiếp tụng sáu trong biệt môn bảy:

 

    Bí-sô tác yết ma,

    Ny khả dụng tâm thính,

    Phu tòa linh nhân tọa,

    Ny tọa ưng phân biệt.

 

* Duyên xứ như trước. Như Thế Tôn dạy, yết ma của Bí-sô và Bí-sô ny khác nhau trừ yết-ma chung. Khi ở giữa Tăng, ny tác yết ma, không thể bình tỉnh nên tác pháp bất thành. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Bí-sô nên tác yết ma, ny nên lắng nghe.

 

Chư ny không biết lắng nghe như thế nào. Phật dạy:

 

- Nên chí tâm lắng nghe và ghi nhớ kỹ những lời đây là yết ma lần thứ nhất, đây là yết ma lần thứ hai, thứ ba, nên làm như vậy (đây là hai chúng truyền giới cho ny)

 

* Duyên xứ như trước. Như Thế Tôn dạy nên tụng kinh, các Bí-sô không trải tòa ngồi. Phật dạy:

 

- Nên trải.

 

Khi khác, chư ny đến nghe pháp, họ lại trải chỗ ngồi tốt. Có một vị ny thình lình bị xuất nguyệt kỳ làm bẩn chỗ ngồi. Nghe pháp xong, họ ra về, vị tri sự thu xếp tọa cụ, thấy nhiều ruồi bu nên đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

 

- Ny đến nghe pháp, không nên bố trí ngồi tòa tốt.

 

Như Thế Tôn dạy, Bí-sô ny không nên ngồi tọa cụ tốt để nghe pháp. Do đó, khi có ny đến, họ bố trí tọa cụ nhỏ. Một hôm, nhân Đại Thế Chủ Kiều-Đàm Dy đến nghe pháp, họ cũng bố trí cho tọa cụ nhỏ. Đại Thế Chủ nói:

 

- Khi còn ở thế gian, con cũng chưa từng ngồi tọa cụ nhỏ này, nay làm sao ngồi.

 

Các Bí-sô nói:

 

- Đại Thế Chủ, đây là lệnh của Thế Tôn, không cho Bí-sô ny ngồi tọa cụ tốt đẹp để nghe pháp.

 

Đáp:

 

- Làm sao con lại có lỗi xấu như họ vậy, do trước đây vị ny kia không chánh niệm nên sinh ra lỗi như vậy.

 

Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

 

- Từ nay ta cho phép, Bí-sô ny nào tâm có chánh niệm, khi họ đến nghe pháp, nên bố trí tọa cụ tốt, chớ nghi ngại.

 

 

 

Nhiếp tụng bảy trong biệt môn bảy:

 

    Cô tửu dâm nữ xá,

    Đồ trung bất xúc nữ,

    Tùy thời khai nội y,

    Ca vũ bất ưng tác.

 

* Duyên xứ như trước. Vào buổi sáng, ny Thổ La Nan Đà mặc y mang bát, theo tuần tự khất thực, thấy một cô gái trang sức y phục đính anh lạc tốt đẹp, nên hỏi:

 

- Thiếu nữ ơi! Ở đâu mà có y phục đính anh lạc xinh đẹp thế này?

 

Đáp:

 

- Thánh giả! con nhờ bán rượu nên sắm được y phục đính anh lạc xinh đẹp thế này.

 

Ny suy nghĩ: "Đây là phương tiện tốt".

 

Tiếp tục đi về phía trước với ý nghĩ vương vấn về chuyện này, lại gặp một cô gái gầy yếu mặc y phục cũ dơ đang đi, ny hỏi: cô ở nhà ai?

 

Đáp:

 

- Thánh giả! Con không có chỗ ở, nếu có ăn mặc là con chịu làm ngay.

 

Hỏi:

 

- Như vậy sao cô không bán rượu?

 

Đáp:

 

- Thánh giả! Hạng như con làm sao bán rượu? Nhà bán rượu phải rộng lớn, có đầy đủ bàn ghế chổ ngồi, chén muỗng, mâm tô, tiền vốn nhiều, phục vụ đúng phép, khách đến đông đảo, mới có lợi nhuận.

 

Ny nói:

 

- Nếu cô cần vật gì, ta sẽ sắm cho đầy đủ, khi thu được tiền có đưa cho ta không?

 

Đáp:

 

- Con đưa.

 

Gần chùa ny, Thổ La làm một quán lớn, cung cấp đầy đủ vật cần dùng, đưa nhiều tiền vốn để cô kia bán rượu. Những kẻ ăn nhậu thường lai vãng đến đấy làm cho những quán rượu khác đều bất mãn ganh tị. Bí-sô ny Thổ La Nan Đà thu hoạch được nhiều tài lợi. Một hôm, vua tổ chức đại hội, kêu gọi đến các quán bán rượu. Mọi người báo rằng:

 

- Bên cạnh chùa của Bí-sô-ny Thổ La Nan Đà có quán nhậu lớn với đủ loại rượu ngon, nhiều người đến uống thu hoạch nhiều tài lợi, sao không gọi đến, lại làm khổ đến chúng tôi?

 

Nghe báo như vậy, sứ giả đến giữ cô gái kia. Cô ta la to lên:

 

- Thánh giả Thổ La Nan Đà ơi! Vương gia sai người đến bắt ngang con đưa đi, mong người mau đến đây.

 

Nghe tiếng kêu, ny vội chạy đến, mắng chưởi:

 

- Đồ ác vật, vì sao ngươi muốn bắt cô gái của ta?

 

Đáp:

 

- Thánh giả! Chẳng lẽ người được phép mở quán rượu hay sao?

 

Ny bảo:

 

- Ta đạp lên đầu kẻ oán gia, chuyện bán rượu có liên quan gì đến việc của ngươi?

 

Hỏi:

 

- Thánh giả! Người cũng có oán gia ư?

 

Đáp:

 

- Ngươi chính là oán gia vì bắt cô gái ta mang đi.

 

Nhân đó, hai bên tranh cãi nhau. Thấy thế, các Trưởng giả Bà-la-môn hỏi vì sao như vậy. Nghe kể lại sự việc, họ cùng nhau chê trách:

 

- Các Thích nữ hành động trạo cử gây ra việc phi pháp. Nữ Sa-môn trọc đầu không giữ tịnh hạnh mà lại bán rượu.

 

Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật suy nghĩ và chế:

 

- Ny Thổ La Nan Đà gây ra sự việc trái với pháp của Thích Nữ. Từ nay về sau, Bí-sô ny không được bán rượu. Ai vi phạm bị tội vượt pháp.

 

* Duyên xứ như trước. Trong khi Bí-sô ny Thổ-La Nan Đà mặc y mang bát khất thực, thấy một dâm nữ mang y phục đính anh lạc xinh đẹp, hỏi:

 

- Cô bé được những y phục đính anh lạc xinh đẹp này ở đâu vậy?

 

Đáp:

 

- Thánh giả! Con bán hương sắc nên được y phục này.

 

Ny suy nghĩ:

 

- Đây phương tiện tốt, ta nên thử xem có khá hơn không.

 

Vừa suy nghĩ về việc này vừa đi khất thực, đến một chỗ kia, thấy một thiếu nữ với y phục dơ bẩn, hình dáng ốm đói, đi lại không vững nhưng thân thể xinh đẹp, ny hỏi:

 

- Này cô gái, con ở nhà ai vậy?

 

Đáp:

 

- Con không thuộc ai cả. Ai cho ăn mặc, con thuộc người ấy.

 

Hỏi:

 

- Như vậy vì sao con không hành nghề dâm nữ?

 

Nghe hỏi, cô gái bịt tai, đáp:

 

- Thánh giả! Chưa từng nghe gia tộc của con có làm việc xấu ấy.

 

Ny nói:

 

- Này cô bé, con gái làm nghề này rất nhiều. Con không phải vương nữ, không phải sinh ra từ gia đình trưởng giả, quý tộc Bà-la-môn. Vả lại các cô gái đều thích đàn ông, nếu ta không xuất gia cũng sẽ hành nghề ấy.

 

Nghe lời ny khuyến dụ, cô gái đáp:

 

- Thánh giả! Làm dâm nữ cũng được hay sao? Phải đầy đủ các điều kiện mới làm được việc ấy. Trước hết, phải có nhà rộng, y phục hoa hòe sáng đẹp, trang sức anh lạc, ai thấy cũng yêu mến. Khi đàn ông đến nhà, tùy theo sự sang hèn của họ mà phục vụ cung cấp sự ăn uống hoa hương.

 

Ny bảo:

 

- Này cô bé, những nhu cầu đó, ta đều sắm đủ và cung cấp ăn mặc cho con nhưng khi thu tài vật có đưa cho ta không?

 

Đáp:

 

- Con đưa hết.

 

Gần chùa, ny làm một nhà lớn, trang bị đầy đủ vật cần dùngcung cấp đồ tắm rửa hương hoa y phục anh lạc. Được ăn uống đầy đủ, cô gái trở nên mập tròn xinh đẹp nhất so với các cô dâm nữ khác làm cho mọi người chen chúc nhau tìm đến. Thấy như vậy, các dâm nữ khác cùng nhau ganh ghét. Thổ La Nan Đà thu hoạch được nhiều tài vật.

 

Một hôm, nhân đại hội, vua cần dùng nhiều hương thoa. Các sứ giả tập họp các dâm nữ để làm hương thoa. Các dâm nữ dèm pha với sứ giả:

 

- Gần chùa của ny cô Thổ La Nan Đà cũng có dâm nữ nên gọi họ đến.

 

Bị sứ giả đến nơi gọi ra, các dâm nữ kêu lên:

 

- Thánh giả ơi! Có quan của vua đến bắt chúng con đi.

 

Vội vàng chạy ra, ny bảo sứ giả:

 

- Ngươi là kẻ hung ác bắt cô gái của ta.

 

Đáp:

 

- Thánh giả cũng làm nhà dâm hay sao?

 

Ny bảo:

 

- Ta đạp trên đầu kẻ oán gia, chuyện nuôi dâm nữ của ta, liên can gì đến việc của ngươi?

 

Sự việc diễn tiến như trên ... cho đến... Phật chế:

 

- Từ nay về sau các Bí-sô ny không được làm nhà nuôi dâm nữ. Ai vi phạm bị tội Thổ-la-để-dã.

 

* Duyên xứ như trước. Bí-sô ny Thổ La Nan Đà lại đem một thiếu nữ đến nơi sơn dã, đại lộ làm nghề khoe sắc đẹp của mình để kiếm tiền nên người khác bắt, ny liền mắng chưởi như trước ... cho đến ai vi phạm tội này bị tội Thổ-la-để dã.

 

* Duyên tại thành Vương-xá, Lục chúng Bí-sô thường ca múa với mọi người. Họ thưa rằng:

 

- Các đại đức, chúng tôi thường bị nhạc sĩ bắt ca múa nhạc đều do nhóm 12 Bí-sô ny. Nếu họ không ngầm đưa y bát các vật ... cho con hát để chúng não loạn tôi thì họ không thể bắt buộc tôi tấu nhạc, xin trị phạt họ. Nay thật đúng lúc nên tính kế cho.

 

Ô Ba Nan Đà nói rằng hãy cùng nhau đánh chúng.

 

Cùng nhau tán đồng, kéo đến chỗ kia, vừa gặp Bí-sô ny Thổ La Nan Đà, họ bảo nhau:

 

- Đấy là cô ny đầu sỏ, hãy đến trừng trị.

 

Cùng nhau tiến tới, họ giữ lấy ny cô, đánh lên đầu, đập vào chân, vào hông, hoặc đánh bằng tích trượng. Thân thể bị bầm tím không thể đi được, cô ta phải xức dầu toàn thân và nằm mẹp trên giường.

 

Thấy vậy, chư ny hỏi:

 

- Vì sao như vậy?

 

Đáp:

 

- Bị đánh.

 

Hỏi:

 

- Ai vậy?

 

Đáp:

 

- Tôn giả Lục chúng.

 

Hỏi:

 

- Chị gây lỗi gì?

 

Đáp:

 

- Họ là pháp huynh, tôi là pháp muội, răn dạy nhau là việc thường tình; so đo chi với người khác mà phiền hỏi lỗi lầm.

 

Nghe như vậy, chư ny đều cùng nhau chê trách:

 

- Tại sao Bí-sô lại đánh ny chúng!

 

Họ thưa Bí-sô, Bí-sô bạch Phật. Phật suy nghĩ: - Nếu khi Bí-sô đánh Bí-sô ny thì có sự xúc chạm thân thể. Ngài bảo các Bí-sô:

 

- Các Bí-sô không được đánh ny, ai vi phạm bị tội vượt pháp.

 

* Duyên xứ tại thành Thất La Phiệt. Như Thế Tôn dạy chư ny mặc nội y, tuy họ mặc y này nhưng vẫn bị thấm máu làm bẩn ngọa cụ. Có nhiều ruồi bu vào, làm cho họ nhàm gớm ưu sầu buồn bã.

 

Ny bạch Bí-sô; Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Từ nay Ta cho phép chư ny mặc y lót bên trong y nội.

 

Chư ny tuân hành mặc y lót nhưng vẫn bị thấm dơ. Phật dạy:

 

- Nên thường xuyên giặt sạch, khi nằm ngủ nên phải chánh niệm. Ai không làm như vậy, bị tội vượt pháp.

 

* Duyên khởi tại thành Vương-xá. Có Bí-sô ny tên Bản Thắng. Sau khi vị này qua đời, thi thể được hỏa táng ở Thi Lâm. Nhóm mười hai Bí-sô ny ca múa bên cạnh tử thi này. Chư ny bất mãn đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

 

- Pháp của ny là không được tự ca múa. Ai vi phạm bị tội vượt pháp.

 

 

 

Nhiếp tụng tám trong biệt môn bảy:

 

    Tăng ny căn nhược chuyển,

    Chí tam giai tẩn xuất,

    Quảng thuyết pháp dữ duyên,

    Liên hoa sắc vi sứ.

 

* Duyên xứ như trước. Cụ thọ Ô Ba Ly thưa Thế Tôn:

 

- Đại đức! Nếu ny chuyển căn, sự việc ấy như thế nào?

 

Phật dạy:

 

- Đồng cận viêny theo hạ lạp như cũ, sau đó đưa sang chùa Tăng.

 

Họ lại bạch Phật:

 

- Thế Tôn! Nếu ny chuyển căn thì y vào hạ cũ, đưa sang chùa Tăng. Nếu Tăng chuyển căn có được giữ theo hạ cũ và đưa sang chùa ny không?

 

Phật dạy:

 

- Cùng đưa họ sang chùa ny.

 

Hỏi:

 

- Thưa Đại đức! Hai hạng người ấy đi đến nơi kia rồi chuyển căn trở lại thì phải làm sao?

 

Phật dạy:

 

- Tùy theo điều kiện của họ, trả về lại chỗ cũ.

 

- Đại đức! Nếu họ chuyển căn đến lần thứ ba thì phải làm thế nào?

 

Phật dạy:

 

- Nếu đến lần thứ ba thì họ không phải là Tăng ny, phải trả họ về thế tục, chớ nên nghi ngại.

 

* Duyên xứ như trước. Có trưởng giả tên Thiên Dữ giàu có nhiều tài sản, cưới vợ về sống chung. Ở một nơi khác, có một trưởng giả tên Lộc Tử cũng giàu có và cưới vợ về sống chung. Cả hai nhà đều khoe khoang tài sản và đều cho mình hơn. Sau đó, họ trở thành bạn thân qua lại tốt đẹp, có vật gì lạ đều đem biếu tặng nhau.

 

Bấy giờ, trong thành mọi ngườiviệc phải cùng nhau đến tập họp ở công viên. Sau khi luận nghị xong, họ đều trở về nhà. Hai trưởng giả Thiên Dữ và Lộc Tử vẫn ở lại trong vườn, cùng nhau đàm luận.

 

Thiên Dữ nói:

 

- Bằng cách gì, sau khi chúng ta qua đời, con cháu chúng mình vẫn thân ái nhau không chia lìa?

 

Lộc Tử nói:

 

- Lành thay lời của bạn! Vậy từ nay chúng ta hãy chỉ bụng kết thân. Nếu hai nhà chúng ta sinh trai gái thì kết sui gia.

 

Đáp:

 

- Thật hay, ý tôi cũng như vậy.

 

Sau khi hứa hẹn, ai về nhà ấy.

 

Sau đó, vợ Thiên Dữ sinh một bé gái xinh đẹp tuyệt trần nhưng tính hay khóc. Nhưng khi có Bí-sô đến nhà thuyết pháp cho cha nghe thì bé gái này không khóc nữa và lắng tai chuyên chú nghe. Sau hai mươi mốt ngày, thân thuộc vui mừng tập họp cùng nhau đặt tên cho bé gái. Họ bàn nhau: "Bé gái này ưa thích pháp nên lắng tai nghe, lại là con của Thiên Dữ nên đặt tên là Pháp Dữ".

 

Được tám Bà từ mẫu nuôi dưỡng, Pháp Dữ mau lớn như hoa sen vượt lên trong nước.

 

Nghe trưởng giả kia sinh con gái, trưởng giả Lộc Tử suy nghĩ:

 

- Bạn ta sinh con gái, sao ta bỏ qua được, nên gửi y phục anh lạc đến để tỏ lòng chúc mừng. Cháu ấy là dâu mới của ta chứ gì.

 

Lộc tử gửi quà kèm thư với nội dung:

 

- Nghe bạn sinh cháu gái, tôi rất vui mừng, xin gửi y phục anh lạc để chúc mừng, xin bạn nhận cho tấm lòng thành thực của tôi.

 

Nhận thư, Thiên Dữ gửi thư đáp lại với nội dung:

 

- Nếu bạn sinh trai, chắc chắn tính chuyện hôn nhân.

 

Sau khi nhận thư, tâm ý Lộc Tử mãi hoài vọng cầu con trai. Không bao lâu, người vợ có thai, đủ tháng sinh một bé trai. Sau hai mươi mốt ngày, thân tộc vui mừng tập họp làm lễ đặt tên. Họ bàn nhau: "Ngày sinh của cháu trai này nhằm sao Tỳ-Xá Khư vậy nên đặt tên là Tỳ Xá Khư. Cháu trai này được tám bà nhũ mẫu săn sóc.

 

Nghe Lộc Tử sinh con trai, trưởng giả Thiên Dữ suy nghĩ:

 

- Trưởng giả Lộc Tử kết thân với ta, nay đã sinh nam còn ta sinh gái. Cháu ấy là rể ta, vậy ta nên sai người mang y phục anh lạc đến với lời chúc mừng rằng nghe bạn sinh con trai, tôi rất vui mừng, nay gửi y phục đến, xin bạn nhận cho.

 

Được tin, Lộc Tử đáp lời:

 

- Từ lâu hứa kết thân, nay mới toại nguyện, chờ chúng khôn lớn sẽ tính chuyện hôn nhân.

 

Khi khôn lớn, lòng chỉ muốn xuất gia, Pháp Dữ quỳ xuống, thưa với cha:

 

- Trong lòng con chỉ muốn xuất gia trong pháp luật thiện thuyết.

 

Cha bảo:

 

- Này con! Trước đây cha có hứa gã con cho Tỳ Xá Khư con của trưởng giả Lộc Tử. Cậu ấy là chồng con nên việc kia không thể được.

 

Khi vị Bổn sư là Bí-sô ny Liên Hoa Sắc đến thăm hỏi, Pháp Dữ thưa:

 

- Thánh giả! Con muốn xuất gia trong pháp luật thiện thuyết, thọ cận viên thành Bí-sô ny tánh, xin thầy đến đây, ngầm cho con được xuất gia. Vì sao? - Cha con ngăn cản nên không sao đi được.

 

Ny bảo:

 

- Lành thay! Cô bé có thể phát tâm ưa thích cầu xuất gia như vậy. Các dục vị ngọt rất ít, đau khổ rất nhiều. Như Thế Tôn dạy, những người có trí biết rõ năm lỗi của dâm dục nên không làm theo.

 

Thế nào là năm:

 

    Một: Quán sát dục ít vị ngọt mà lỗi lầm nhiều, thường có các khổ.

    Hai: Người làm theo dục thường bị trói buộc.

    Ba: Người làm theo dục không biết nhàm chán.

    Bốn: Người làm theo dục thì ác nào cũng làm.

    Năm: Đối với cảnh dục, chư Phật Thế Tôn và chư Thanh văn cùng các bậc thắng nhân đắc chánh kiến dùng vô lượng cách nói về lỗi lầm của dục. Thế nên, người trí không nên làm theo dục.

 

Lại nữa, người trí biết xuất gia có năm lợi thù thắng; đó là:

 

    Một: Công đức xuất gia là phước lợi của ta, người khác không có được. Thế nên người trí phải cầu xuất gia.

    Hai: Tự biết ta là kẻ thấp hèn, bị người khác sai khiến, sau khi xuất gia được sự cúng dường lễ bái khen ngợi của người. Thế nên người trí phải cầu xuất gia.

    Ba: Bỏ thân ở cõi này sẽ sinh thiên, thoát khỏi ba ác đạo. Thế nên người trí phải cầu xuất gia.

    Bốn: Do xả bỏ thế tục nên thoát ly sinh tử, sẽ đắc Niết bàn an ổn vô thượng. Thế nên người trí phải cầu xuất gia.

    Năm: Thường được chư Phật và chúng Thanh-văn cùng các bâïc thượng nhân khen ngợi. Thế nên người trí phải cầu xuất gia.

 

Lúc này, con hãy quán sát lợi ích ấy, với tâm chí thành xả bỏ lưới tục cầu công đức lớn. Như vậy, ta sẽ độ con xuất gia. Hãy tạm ở đây, chờ ta đi bạch Phật.

 

Đến gặp Thế Tôn, Bí-sô ny Liên Hoa Sắc đảnh lễ sát chân Phật, đứng qua một bên, chắp tay bạch Phật:

 

- Đại đức Thế Tôn! Pháp Dữ là con gái trưởng giả Thiên Dữ, ưa thích xuất gia thọ cận viên thành tựu tánh Bí-sô ny trong pháp luật thiện thuyết của Phật, nhưng trước đây người cha có hứa gả cho Tỳ Xá Khư con trai của Lộc Tử nên cha mẹ ngăn cản không cho xuất gia.

 

Bấy giờ, Thế Tôn bảo cụ thọ A Nan Đà:

 

- Ông hãy đi bảo với chư ny, Pháp Dữ con gái trưởng giả Thiên Dữ ý muốn xuất gia, hãy sai ny Liên Hoa Sắc đến chỗ của Pháp Dữ và bảo với cô ấy rằng phụng hành lệnh của Thế Tôn thọ ba quy y và năm học xứ rồi cho cạo tóc xuất gia thọ mười giới ngay trong nhà.

 

Vâng theo lệnh của đức Thế Tôn, A Nan Đà bảo các ny chúng. Chư ny tập họp, sai ny Liên Hoa Sắc, đến gặp cô ấy bảo rằng:

 

- Này thiếu nữ! Nay ny Tăng già vâng lệnh của Thế Tôn, cho con được xuất gia ngay ở đây, trước tiên thọ ba quy y và năm học xứ, nên chí tâm lĩnh thọ.

 

Sau khi thọ xong, lại dạy:

 

- Hiện nay con đã là cận sự nữ.

 

Thứ đến truyền mười học xứ, sau đó bảo cô ấy: - Con đã xuất gia xong, hãy chuyên cần tu học, hộ trì pháp theo như lời Thế Tôn dạy.

 

Khi ấy, cô này rất hoan hỷ sinh tâm khát ngưỡng, nhất tâm ghi nhận.

 

Quán sát tâm tính của cô này, Liên Hoa Sắc tùy căn cơ thuyết pháp làm cho khai ngộBốn Thánh đế. Pháp Dữ dùng chày trí tuệ kim cương phá tan hai mươi núi thân kiến, chứng quả dự lưu.

 

Liên Hoa Sắc trở về bạch với Thế Tôn:

 

- Tuân lệnh dạy của Thế tôn, con đã làm xong.

 

Phật bảo cụ thọ A Nan Đà:

 

- Ông đến bảo chư ny chúng, hãy sai Liên Hoa Sắc đến nhà cô kia, truyền pháp chánh học cho sáu pháp và sáu tùy pháp trong hai năm.

 

Theo lời dạy của Thế Tôn, cụ thọ A Nan Đà đến bảo ny chúng sai Liên Hoa Sắc đến gặp Pháp-Dữ, tuân theo lệnh Phật cho thọ sáu pháp và sáu tùy pháp. Bảo cô ấy rằng:

 

- Từ nay, con đã là chánh-học-nữ, nên phụng hành tu tập trong hai năm, hộ trì theo pháp mà Thế Tôn đã giảng dạy.

 

Bấy giờ, Liên Hoa Sắc tùy theo căn cơ mà thuyết diệu pháp. Pháp Dữ nghe pháp xong, chứng quả Nhất-lai.

 

Trong hai năm học sáu pháp và sáu tùy pháp, Pháp Dữ đã trưởng thành dung nhan xinh đẹp tuyệt trần. Thân tộc cùng nhau đến chiêm ngưỡng.

 

Biết cô gái đã trưởng thành, trưởng giả Lộc Tử sai sứ đến nói với trưởng giả Thiên Dữ:

 

- Hai trẻ đã khôn lớn, xin tính chuyện thành thân, xin chọn ngày lành để sửa soạn thịnh lễ.

 

Thiên Dữ đáp:

 

- Lành thay việc này, nên làm như vậy.

 

Trưởng giả cho mời thầy tướng để chọn ngày tháng tốt. Trưởng giả Thiên Dữ sai người thông báo khắp bà con gần xa biết:

 

- Vào ngày ... đám cưới Pháp Dữ con gái tôi, xin bà con lớn nhỏ đều cùng đến chung vui, có thể mang đến những vật trang hoàng.

 

Trưởng giả Lộc tử cũng báo cho thân thuộc biết. Nhưng thân thuộc của ông ta rất nhiều, cùng kéo nhau đến đầy cả thành Thất La Phiệt.

 

Khi ấy, vua Thắng Quang nước Kiều Tát La cùng trong cung và quan dân đều nghe vào ngày lành ... Pháp Dữ con gái trưởng giả Thiên Dữ kết hôn với con trai trưởng giả Lộc Tử. Thân thuộc tập trung đầy khắp trong thành. Vua ra lệnh các đại thần cùng tương trợ với họ. Vâng mệnh vua, đại thần ra lệnh những nhà quý tộc ở thành phố xóm làng trong nước đem những vật trang trí kỳ lạ đặc biệt đến hỗ trợ cho đám cưới con của trưởng giả. Nghe lệnh vua, các nhà quý tộc đều đem các vật trân kỳ đến hỗ trợ. Bấy giờ, khắp nơi trong thành phố, các ngã đường, mọi người đều dọn dẹp sạch sẽ không còn vật nhơ bẩn, đốt hương thơm phức, rãi các hương thơm như trong vườn hoan hỷ rất khả ái.

 

Trông thấy như vậy, rất ngạc nhiên, Pháp Dữ hỏi gia nhân:

 

- Hiện nay muốn tổ chức hội Bạch-hoa khác mùa phải không?

 

Gia nhân đáp:

 

- Nhờ phước báo của cô nên tổ chức hội Bạch-hoa khác mùa để làm lễ cưới cho cô.

 

Nghe như vậy, trong lòng buồn rầu, Pháp Dữ vội chạy đến gặp cha, quỳ thưa:

 

- Đối với năm dục, lòng con không ưa thích, xin cha cho con đến ở Già-lam của Bí-sô ny nơi vườn vua.

 

Cha nói:

 

- Khi chưa sinh con, cha đã có lời cam kết gả cho Tỳ Xá Khư con của trưởng giả Lộc Tử. Cậu ấy là chồng con, cha không có quyền. Vả lại, đại vương Thắng Quang nước Kiều Tát La và quan dân sang hèn đều nghe biết chuyện gả con cho Tỳ Xá Khư con của Lộc Tử, làm sao họ cho phép con đến ở chùa ny trong vườn vua? Con muốn cho cha và thân tộc bị nhốt trong lao tù à! Ngày mai là đám cưới chớ nên khinh suất.

 

Thân tộc đều đến bảo:

 

- Thiếu nữ! Hiện nay con không được làm chuyện hấp tấp, con đang tuổi sung mãn khó tu tập phạm hạnh.

 

Nghe khuyên bảo như vậy, Pháp dữ càng tinh tấn, tâm ý chuyên chú cần cầu thánh đạo nhưng vẫn không đắc được phương tiện ly dục.

 

Trong lúc ấy, Đại sư Thế Tôn thấy biết tất cả. Thông thường, chư Phật luôn có tâm đại bi làm lợi ích cho tất cả, là bậc hùng dũng, đệ nhất trong việc cứu độ, không nói hai lời, luôn an trú trong định và tuệ, hiển phát ba minh, tu tập hoàn toàn tam học, khéo điều phục ba nghiệp, vượt bốn bạo lưu, ổn định trong bốn thần túc, tu tập bốn nhiếp hạnh đã từ lâu, xả trừ năm cái, viễn ly năm chi, vượt khỏi năm cõi, đầy đủ sáu căn, viên mãn sáu độ, cho bảy thánh tài khắp nơi, nở hoa bảy giác ngộ, xa rời tám nạn, ưa thích tám chính đạo, đoạn hẳn chín kết, thông suốt chín định, viên mãn mười lực, tiếng vang mười phương, trong các quyền lực là bậc thù thắng, được pháp vô úy, chiến thắng ma oán, phát tiếng sấm lớn, rống lên tiếng sư tử, ngày đêm hai mươi bốn giờ luôn dùng Phật nhãn quán sát thế gian ai tăng, ai giảm, ai gặp khổ nạn, ai hướng về đường ác, ai bị chìm trong bùn dục, ai có thể được hóa độ, dùng phương tiện gì cứu họ thoát ra, cho Thánh tài đến người không Thánh tài, dùng trí tuệ An Thiện Na phá mạc mắt vô minh, khiến người không có thiện căn trồng thiện căn, người đã có thiện căn càng tăng trưởng thêm, hướng về đường trời người an ổn vô ngại đến thành Niết Bàn. Như có thuyết bài kệ:

 

    Giả sử đại hải triều,

    Có khi không điều độ,

    Phật với người đáng độ,

    Cứu độ rất đúng lúc,

    Đối với các hữu tình,

    Phật từ bi không bỏ,

    Nghĩ cách cứu khổ họ,

    Như trâu mẹ theo nghé.

 

Trong khi đang đi kinh hành, đức Phật mỉm cười, miệng phóng ra năm luồng ánh sáng vi diệu, khi chiếu xuống, lúc chiếu lên. Hào quang chiếu xuống tận địa ngục vô gián và các địa ngục khác. Những nơi bị nóng đốt đều được mát mẻ. Những nơi ở nước đá đều được ấm áp. Các hữu tình ấy đều được an lạc. Chúng suy nghĩ: "Ta cùng các ngươi đã chết khỏi địa ngục sinh chỗ khác phải không?"

 

Khi ấy, Thế Tôn khiến cho các hữu tình sinh tín tâm rồi, lại hiện ra tướng khác. Thấy tướng trạng khác ấy, chúng lại suy nghĩ: "Chẳng phải chúng ta chết ở nơi này mà sinh đến nơi khác, chắc chắn chúng ta nhờ vào sức uy đức của bậc đại thánh vô thượng làm cho thâm tâm chúng ta hiệân nay cảm thọ được sự an lạc".

 

Đã sinh kính tín thì có thể diệt các khổ, chúng thọ thân thắng diệu ở trời người sẽ làm bậc pháp khí, thấy chân đế lý.

 

Hào quang chiếu lên tận cõi trời Sắc Cứu Cánh, trong đó diễn thuyết về các pháp khổ, Không, Vô thường, Vô ngã và nói hai bài kệ:

 

    Ngươi nên cầu xuất ly,

    Siêng tu theo lời Phật,

    Chiến thắng quân sinh tử,

    Như voi xô nhà cỏ,

    Ngay trong pháp luật này,

    Thường sống không phóng dật,

    Làm khô biển phiền não,

    Không còn cảnh giới khổ.

 

Ánh sáng ấy sau khi chiếu khắp ba ngàn thế giới, xoay trở lại chỗ Phật. Nếu Phật Thế Tôn thuyết về việc quá khứ thì hào quang trở vào lưng; Nếu nói về vị lai thì hào quang đi vào ngực; nếu nói về địa ngục thì hào quang đi vào dưới chân; nếu nói về bàng sinh thì hào quang đi vào gót chân; nếu nói về ngạ quỷ thì hào quang đi vào ngón chân; nếu nói về nhân sự thì hào quang đi vào đùi; nếu nói về lực luân vương thì hào quang vào tay trái; nếu nói về chuyển luân vương thì hào quang đi vào tay phải; nếu nói về cõi thiên thì hào quang đi vào rún, nếu nói về Thanh-văn thì hào quang đi vào miệng; nếu nói về Duyên giác thì hào quang đi vào giữa hai lông mày; nếu nói về Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì hào quang đi vào đỉnh đầu. Sau khi nhiễu quanh Phật ba vòng, hào quang đi vào miệng Phật.

 

Bấy giờ, cụ thọ A Nan Đà chắp tay cung kính bạch Phật:

 

- Thế Tôn! Đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác vui vẻ mỉm cười, tất có nhân duyên.

 

Tôn giả nói kệ thỉnh Phật:

 

    Miệng tỏa ra nhiều loại hào quang,

    Tràn khắp đại thiên vô số sắc,

    Chiếu khắp các quốc độ mười phương,

    Như ánh mặt trời khắp hư không,

    Phật là thắng nhân của chúng sinh,

    Trừ được kiêu mạnưu sầu,

    Tự nhiên, không thỉnh, Phật mỉm cười,

    Tất có diễn thuyết pháp hy hữu,

    Thế Tôn xem xét thật rõ ràng,

    Vì người muốn nghe, giảng chính pháp.

    Như vua sư tử rống tiếng lớn,

    Xin vì chúng con giải quyết nghi,

    Như núi Diệu Cao trong biển lớn,

    Không có nhân duyên không lay động,

    Đức Phật từ bi tự tại cười,

    Vì người khát ngưỡng, giảng nhân duyên.

 

Thế Tôn bảo A Nan Đà:

 

- Đúng vậy! Đúng vậy! Này A Nan Đà, có nhân duyên đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác mới biểu hiện mỉm cười. Này A Nan Đà đã gặp đồng nữ Pháp Dữ mà Ta đã giao cho chúng Bí-sô ny tuần tự truyền ba quy y, năm giới, mười giới, làm Thức Xoa Ma Noa học sáu pháp và sáu tùy pháp trong hai năm không? Ngày mai, cô ấy sẽ lấy chồng, thân thuộc đã tập họp.

 

A Nan Đà thưa:

 

- Con đã gặp.

 

Phật dạy:

 

- Này A Nan Đà! Không thể để cô ấy ở trong nhà ăn thức ăn tàn túc, không bao lâu nữa sẽ chứng quả Bất hoàn và quả A-la-hán. Ông nên đi bảo chư ny rằng Pháp Dữ đã học xong sáu pháp và sáu tùy pháp trong hai năm rồi, ny chúng nên sai Liên Hoa Sắc làm sứ giả đến nhà kia tác pháp phạm hạnh bản pháp.

 

Sau khi nghe A Nan Đà truyền lệnh của Phật, chư ny tập họp sai Liên Hoa Sắc đến nhà kia tác bản-pháp. Sau khi tác pháp, Liên Hoa Sắc bảo Pháp Dư:

 

- Không bao lâu nữa, con sẽ thọ cận viên.

 

Tùy theo căn cơ, Liên Hoa Sắc thuyết pháp, làm cho Pháp Dữ chứng quả bất hoàn, phát sinh năng lực thần thông. Liên Hoa Sắc đi về thưa lại với Thế Tôn. Phật bảo A Nan Đà:

 

- Ông đến trú xứ của ny chúng truyền lệnh của Ta như vầy:- Hai chúng Tăng Ny nên truyền cận viên cho Pháp Dữ, lấy ny Liên Hoa Sắc làm sứ giả.

 

Tuân hành lời Phật dạy, A Nan Đà đến bảo ny chúng và tập họp Tăng già, giữa hai bộ Tăng lấy Liên Hoa Sắc làm sứ giả đến truyền cận viên cho Pháp Dữ tại chỗ ấy.

 

Sau khi hai chúng đã tác pháp, Liên Hoa Sắc đến chỗ Pháp Dữ, bảo:

 

- Này thiếu nữ, hai bộ Tăng già đã cho con thọ cận viên xong, Phật đã cho phép hãy khéo phụng hành.

 

Liên Hoa Sắc lại thuyết pháp. Được nghe thuyết pháp, Pháp Dữ sinh tâm rất nhàm chán, quán sát năm thủ uẩn Vô thường, Khổ, Không, Vô-ngã. Sau khi biết rõ như vậy, vị này dùng chày kim cương trí tuệ phá tan các phiền não, chứng quả A-la-hán với ba minh, sáu thần thông, đủ tám giải thoát, đắc như thật tri:

 

- Ta không còn sinh nữa, phạm hạnh đã thành tựu, việc cần đã làm xong, không còn thọ thân sau; tâm không còn chướng ngại như tay vỗ hư không, như dao cắt mùi hương, không còn có thương ghét, xem vàng như đất, xả ly hoàn toàn danh lợi, được chư Thiên Thích, Phạm đều cung kính.

 

Không thể có trường hợp vị ny A-la-hán không còn các lậu mà ở trong nhà bạch y, ăn thức ăn tàn túc, sống theo pháp thế tục. Sau khi đắc quả, Pháp dữ thưa với cha mẹ:

 

- Cha mẹ biết cho, con đã chứng quả A-la-hán, nay muốn đến chùa ny trong vườn vua.

 

Cha mẹ bảo:

 

- Nếu như vậy, sợ bị pháp luật của vua làm tội cho cha, hãy tính kế cùng đi với Phật.

 

Đáp:

 

- Lành thay! Xin cha làm việc ấy.

 

Bấy giờ, trưởng giả Thiên Dữ thỉnh Phật và Bí-sô Tăng, đồng thời sai sứ đến báo với trưởng giả Lộc Tử:

 

- Bạn thân biết cho, Pháp Dữ con tôi không thích thế tục, quyết định xuất gia, hãy mau đến đây cố ép làm lễ cưới.

 

Trưởng giả Lộc Tử tâu với vua Thắng Quang nước Kiều Tát La:

 

- Trước đây thần và Thiên Dữ có hứa hẹn chỉ bụng kết thân. Hiện nay, con gái của ông ấy muốn bỏ tục xuất gia nên thần đem thân quyến đến ép làm lễ cưới.

 

Vua đáp:

 

- Tùy ý khanh.

 

Trưởng giả ra lệnh cho thân tộc chuẩn bị hôn sự.

 

Bấy giờ, trưởng giả Thiên Dữ bày biện các món ăn uống, sai sứ giả đến bạch Phật, thức ăn đã sẵn sàng, thưa Ngài đã đúng giờ.

 

Thế Tôn mặc y mang bát cùng chúng Bí-sô đến nhà trưởng giả Thiên Dữ và an tọa. Chư Tăng cũng theo thứ tự an tọa. Trưởng giả Thiên Dữ cùng thân quyến dâng lên các món ăn uống hảo hạng cúng dường đầy đủ đến Phật và chư Tăng.

 

Bấy giờ, trưởng giả Lộc Tử cùng thân thuộc, vương tử, đại thần và mọi người đưa Tỳ Xá Khư với đầy đủ nghi lễ, đến cửa ngỏ muốn làm lễ cưới dâu. Biết đức Phậtđại chúng đã thọ trai, súc miệng, xếp bát xong, trưởng giả Thiên Dữ cùng quyến thuộc đặt chỗ ngồi thấp nhỏ ở trước Đại sư để nghe giảng giáo pháp.

 

Bấy giờ, sau khi thuyết giảng diệu pháp, làm cho họ lợi ích hoan hỷ xong, Thế Tôn đứng dậy ra về.

 

Ny Pháp Dữ đã đoạn trừ hoặc của ba cõi, đắc vô sở úy. Trong lúc lễ cưới đang bày trước mắt, vương tử, đại thần, mọi ngườiTỳ Xá Khư cùng thân tộc hòa tấu âm nhạc đứng đợi thì Pháp Dữ theo sau Thế Tôn đi ra đến cổng.

 

Trông thấy Pháp Dữ, Tỳ Xá Khư liền đưa tay nắm lấy bàn tay của Pháp Dữ. Giữa trăm ngàn đại chúng đều trông thấy, Pháp Dữ hiện thần thông như thiên nga chúa giang hai cánh ra, bay lên hư không biểu hiện thần biến.

 

Thấy thần thông như vậy, vương tử, đại thần, và Tỳ Xá Khư cùng quyến thuộc, mọi người đều thán phục, nằm mọp xuống đất như cây đại thọ ngã, lạy vọng về chân vị ấy, biểu lộ sự sám hối, thưa lớn:

 

- Thánh nữ! Ngài đã chứng ngộ công đức thù thắng như vậy mà muốn làm cho ngài ở tại gia hưởng thụ dục lạc, ăn thức ăn tàn túc, thật không hợp lý.

 

Sau khi xuống đất, Pháp Dữ giảng thuyết diệu pháp cho đại chúng. Được nghe pháp, vô lượng trăm ngàn người được kiến giải thù thắng. Có người đắc quả dự lưu, nhất lai, bất hoàn. Có người xuất gia trong Phật pháp, đoạn trừ phiền não chứng quả A-la-hán. Có người phát tâm Thanh văn, Duyên giác, đại Bồ đề. Đại chúng đều được quy y Tam bảo cầu xuất ly sinh tử.

 

Sau khi đã được đại lợi như vậy, Pháp Dữ đến gặp Phật, đ?nh lễ sát chân rồi từ giã.

 

Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Bí-sô:

 

- Chúng Thanh văn ny trong pháp luật của Ta, Bí-sô ny Pháp Dữ là người thuyết pháp đệ nhất.

 

Sau khi nghe đức Phật giảng dạy, các Bí-sô đều có nghi ngờ, bạch với Thế Tôn:

 

- Ny Pháp Dữ này từng tạo nghiệp gì mà được xuất gia ngay trong nhà của mình, đắc giới nhờ Phật cho phép sai sứ đến truyền, ngay tại chỗ ấy chứng quả A-la-hán, là người thuyết pháp đứng nhất trong chúng, xin Ngài từ bi giảng nói bản nghiệp của vị ấy.

 

Phật bảo các Bí-sô

 

- Nghiệp mà tiền thân Pháp Dữ đã làm nay quả báo chín nên được hưởng thụ chứ không phải nhờ vào việc khác ... nói rộng như các nơi khác và thuyết bài kệ:

 

    Giả sử trăm ngàn kiếp,

    Nghiệp đã làm không mất,

    Khi nhân duyên hội ngộ,

    Tự nhận lấy quả báo.

 

- Này các Bí-sô! Trong Hiền Kiếp này khi loài người thọ hai vạn tuổi, có đức Phật ra đời hiệu Ca Nhiếp Ba Như Lai Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác, mười hiệu đầy đủ. Tại Bà La Ny Tư có một trưởng giả giàu có vô cùng, lấy vợ chưa bao lâu thì có thai, đủ tháng sinh một bé gái. Khi khôn lớn, cô gái này muốn xuất gia nhưng cha mẹ không thuận. Có vị lão ny là Bổn sư của cô ấy. Cô ta bạch với Bổn sư: - Thánh giả! Có thể làm cho con xuất gia, thọ cận viên thành tựu tánh Bí-sô ny ở đây không?

 

Đáp:

 

- Con hãy an tâm, ta sẽ đi bạch Phật.

 

Sau khi nghe vị lão ny thưa thỉnh, đức Phật liền sai ny ấy đến nhà kia cho cô ấy xuất gia thọ ba quy y, năm học xứpháp chánh học, rồi được hai bộ Tăng già sai vị ny ấy cho thọ cận viên. Vị ny ấy quán sát căn tính, tùy cơ thuyết pháp làm cho cô gái chứng quả A-la-hán tại nhà, được đức Phật ấy khen ngợi là người thuyết pháp đệ nhất.

 

Khi ấy lão ny suy nghĩ:

 

- Cô gái này xuất gia và thọ cận viên, nghe pháp, hiểu rõ, chứng quả A-la-hán đều nhờ vào ta mà được ích lợi thù thắng này.

 

Sau khi suy nghĩ như vậy, vị lão ny phát nguyện:

 

- Ta trọn đời tu tập phạm hạnh trong giáo pháp của đức Ca Nhiếp Ba Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác, có được những thiện căn gì, như đức Phật Ca Nhiếp Ba thọ ký cho Bồ tát Đồng tử trong đời tương lai khi loài người thọ 100 tuổi, được thành Chánh giác hiệu Thích Ca Mâu Ny; xin nguyện trong giáo pháp của đức Phật ấy, ta như cô gái này không rời khỏi nhà mình mà được xuất gia thọ các học xứ, nghe pháp liễu ngộ, đoạn trừ các phiền não, chứng quả A-la-hán. Như đức Phật Ca-Nhiếp Ba khen ngợi cô ny này là người thuyết pháp số một trong ny chúng, ta nguyện trong đời tương lai cũng như vậy.

 

- Này các Bí-sô! Ý các ông nghĩ sao? Lão ny kia nào phải người nào lạ, hiện nay chính là Pháp-Dữ. Nhờ vào xưa kia, khi ở trong giáo pháp đức Phật Ca Nhiếp Ba, Cô ấy trọn đời tu tập phạm hạnh, đem thiện căn tu tập được để hồi hướng phát nguyện vẫn ở tại nhà dựa vào sứ giả mà được xuất gia, thọ học xứ, thành Bí-sô ny, đoạn trừ các phiền não, chứng quả A-la-hán, nhờ Phật thọ ký là người thuyết pháp đệ nhất.

 

- Này các Bí-sô, do đó, Ta giảng dạy:- Nghiệp đen bị quả báo đen, nghiệp tạp bị quả báo tạp, nghiệp trắng được quả báo trắng. Các ông phải chuyên cần tu tập nghiệp trắng, xa lìa nghiệp đen và tạp ... cho đến nói bài kệ.

 

Các Bí-sô nghe lời Phật dạy, đều rất hoan hỷ tín thọ phụng hành rồi đảnh lễ sát chân Phật từ giã.

 

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ

 

TỲ-NẠI-DA TẠP-SỰ

 

Quyển thứ ba mươi hai hết.

 

--- o0o ---

Quyển thứ ba mươi ba

 

--- ooOoo ---

 

Nhiếp tụng chín trong biệt môn bảy:

 

    Tự ngoại bất vi sám,

    Độc bất linh thế phát,

    Bất nhẫm ny tự ốc,

    Chuyên đẳng bất khai thân.

 

* Duyên xứ như trước. Có một Bí-sô ny đến chỗ Bí-sô để học với vị này nhưng có lỗi bị quở trách nên đi về chùa mình nằm buồn bã. Thấy vậy, Thân giáo sư hỏi:

 

- Vì sao nằm buồn bã như vậy?

 

Đáp:

 

- Thưa Thân Giáo-sư, con bị quở trách, giờ phải làm sao đây?

 

Thầy đáp:

 

- Này con! Còn làm gì nữa, Vị Quỹ Phạm Sư ấy vì muốn chính pháp tồn tại nên quở trách con, hãy mau đến sám hối xin vị ấy hoan hỷ cho.

 

Đáp:

 

- Lành thay! Con đến xin sám hối.

 

Đến phòng ở nơi rừng Thệ Đa nhưng không gặp, cô ny đi tìm, gặp vị kia đang đi kinh hành ngoài chùa, liền làm lễ sát chân. Vị kia không nhận lễ và bỏ đi. Những kẻ nam nữ thấy vậy cho rằng cô ta bị dục nhiễm trói tâm nên bảo:

 

- Tôi biết Thánh giả có tâm sám hối nhưng vị ấy không nhận vậy nên đến đây với chúng tôi, cần gì chúng tôi sẽ tìm kiếm cho.

 

Nghe vậy, cô ny này xấu hỗ im lặng trở về chùa. Ny thưa Bí-sô; Bí-sô bạch Phật. Phật suy nghĩ: Vì các Bí-sô không nhận cho ny sám hối nên làm cho các nam nữ tham đắm dục lạc sinh ra nhận thức xấu.

 

Phật dạy:

 

- Bên ngoài chùa, Bí-sô và Bí-sô ny không được xin vị khác hoan hỷ. Bí-sô nhận sự sám hối của họ, không được bỏ đi. Ai vi phạm bị tội vượt pháp.

 

* Duyên xứ như trước. Các Bí-sô ny sai người thợ cạo tóc cho mình. Thấy họ trẻ tuổi, ny sinh tâm ái dục. Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

 

- Bí-sô ny các cô, tâm thường loạn động, nếu không chế phục tâm ý thì luôn bị phiền não dối gạt. Tính của phái nữ, tâm dục rất mạnh, từ nay trở đi Bí-sô ny không được một mình sai người cạo tóc. Khi cạo tóc, nên nhờ một cô ny khác ngồi bên cạnh. Nếu người cạo tóc sinh tâm dục nhiễm biểu hiện tướng khác lạ, vị ny kia nên bảo:

 

- Hiền thủ nên biết, thân người nữ do xương thịt giả hợp tạo thành, hư vọng không thật, chớ sinh tà niệm với Bí-sô ny mà bị khổ địa ngục.

 

Nếu Bí-sô ny sinh tà niệm, nên bảo rằng:

 

- Này cô em, cô đã nhận lấy sự việc xuất gia bỏ tục, nên nhớ lại khi thọ cận viên giữa hai bộ chúng, cô đã thành khẩn hứa điều gì.

 

Như Thế Tôn dạy:

 

- Các dục nhiễm vị ngọt rất ít, lỗi lầm lại nhiều. Cô hãy vứt bỏ ác niệm, giữ tâm xuất gia.

 

Nói như vậy thì tốt, nếu không nói, vị ny bạn bị tội vượt pháp.

 

* Duyên xứ như trước. Bí-sô ny Thổ La Nan Đà khuyến khích một trưởng giả làm chùa ny và có nhiều ny cùng cư trú ở đó. Sau đó, có năm trăm khách buôn từ phương Nam đến thành Thất La Phiệt muốn tìm nơi nghỉ ngơi nhưng không có chỗ nên tạm trú bên đường. Ngày sắp về chiều, trời muốn đổ mưa, họ đều ưu sầu không biết phải làm sao. Thấy vậy, ny Thổ La Nan Đà hỏi:

 

- Hiền thủ! Trời đã đổ mưa, sao không mau thu dọn hàng hóa tìm nơi gửi gắm?

 

Đáp:

 

- Thánh giả! Khách buôn chúng tôi tìm nơi để trú khắp nơi nhưng người trong thành này không có nhân nghĩa, không cho thuê phòng, biết làm sao đây?

 

Ny bảo:

 

- Này các vị! Đêm đã phủ vây, trời lại mưa, vì sao không trả giá cao; nếu không thu dọn thì tất cả hàng hóa tất bị hư tổn, ai chịu mua cho?

 

Đáp:

 

- Thánh giả! Thật khó lường được nhân tình ở đây, dù đã trả giá cao nhưng vẫn họ không chịu. Đây là nghiệp xấu của tôi, biết làm thế nào; đợi đến sáng mai mới đi tìm chỗ.

 

Ny bảo:

 

- Các vị! Nếu cho gấp bội thì có thể vào chùa nghỉ.

 

Đáp:

 

- Lành thay! Xin tuân lời Thánh giả.

 

Khi họ di chuyển vào chùa, Thổ La Nan Đà cũng vào chùa đuổi hết ny chúng ra ngoài lấy chỗ cho khách buôn thuê. Chư ny tứ tản đi đến chùa khác trong đêm mưa tối, y phục ướt dầm bùn nước.

 

Đến chùa kia, ny bên ấy hỏi:

 

- Này chị em! Vì sao phải lội mưa trong đêm tối đến đây?

 

Nghe họ trình bày lại sự việc trên, các vị ny thiểu dục đều chê trách:

 

- Tại sao Bí-sô ny lại đuổi ny chúng ra khỏi chùa do thí chủ dâng để cho người thế tục thuê?

 

Họ đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

 

- Không được đem chùa cho người thế tục thuê. Ai vi phạm, bị tội vượt pháp.

 

* Duyên xứ như trước. Bí-sô ny Thổ La Nan Đà đi vào chỗ tắm của đàn ông lấy gạch kỳ thân để tắm rửa. Thấy vậy, bọn đàn ông phát sinh tâm dục, bảo nhau:

 

- Hãy xem cô ny trọc học cách tắm rửa của chúng ta.

 

Nhân mọi người chê trách, bạch Phật. Phật dạy:

 

- Không được ở nơi những người ngu ám loạn tâm dâm dục ấy mà tắm rửa kỳ cọ thân thể. Bí-sô ny dùng gạch kỳ thân thể, bị tội vượt pháp.

 

 

 

Nhiếp tụng mười trong biệt môn bảy:

 

    Bất dĩ cốt cập thạch,

    Nhược mộc cập quyền khai,

    Duy dụng thủ ma thân,

    Dư vật giai bất hợp.

 

* Duyên xứ như trước. Phật không cho ny kỳ cọ thân thể bằng gạch, ny liền dùng xương, đá, gỗ, sừng để kỳ cọ thân thể lại bị lỗi như trước. Phật dạy:

 

- Nên kỳ cọ bằng tay, ngoài tay ra dùng vật khác kỳ cọ, bị tội vượt pháp.

 

-ooOoo-

 

Tổng nhiếp tụng môn thứ tám:

 

    Trừ tháp sám môn tiền,

    Bị sai bất ưng súc,

    Bất cộng nữ do phụ,

    Tả lạc tam y xà.

 

Nhiếp tụng một trong tụng môn tám:

 

    Trừ tháp tổn ba la,

    Tăng chế bất ưng việt,

    Ny vô nạn thính nhập,

    Giáo giới đẳng tùy thời.

 

* Duyên xứ như trước. Sau khi Bí-sô ny Bản-Thắng qua đời, hỏa thiêu đã xong, nhóm mười hai ny thu nhặt cốt của vị kia, xây tháp nơi rộng rãi, đem phướn lọng bằng lụa đẹp, vòng hoa đặt trên tháp, rưới nước thơm chiên đàn để cúng dường. Họ sai hai ny cô biết tán tụng hằng ngày đem bột rửa và nước sạch đến, nếu thấy Bí-sô khách đến thì đưa bột rửa để rửa tay chân, đưa hương hoa, xướng kệ tụng, dẫn đi nhiễu quanh tháp.

 

Một hôm, có một Bí-sô A-la-hán tên Kiếp Tỳ Đức cùng năm trăm môn đồ du hành nhân gian, đến Thất La Phiệt ngang đường bên tháp. Nếu không quán sát thì vị A-la-hán cũng không biết việc quá khứ. Trông thấy tháp, vị ấy nghĩ rằng ai đã mới xây tháp thờ tóc và móng của Như Lai ở đây vậy, ta hãy đến làm lễ.

 

Thấy vị kia đến, hai ny cô đưa bột rửa và nước để rửa tay chân rồi đưa hương hoa, tán kệ đi trước dẫn năm trăm người đi nhiễu, làm lễ tháp ấy. Xong việc, đoàn người ra đi. Cách tháp ấy không xa, đang ngồi an tịnh dưới gốc cây, thấy vậy, tôn giả Ô Ba Ly hỏi:

 

- Cụ thọ Kiếp Tỳ Đức, hãy quán sát xem đã lễ bái tháp của ai.

 

Với suy nghĩ:

 

- Vì sao cụ thọ Ô Ba Ly bảo ta quán sát tháp của ai, tôn giả quán sát biết trong tháp có an trí xương cốt của Bí-sô ny Bản Thắng.

 

Do còn tập khí sân nên vị này không chịu nỗi, quay lại bảo:

 

- Cụ thọ Ô Ba Ly, ngài đang ở đây, mụt ghẻ sinh trong Phật pháp mà không để ý đến.

 

Nghe nói, Ô Ba Ly im lặng không đáp.

 

Vị A-la-hán bảo môn đồ:

 

- Này các cụ thọ! Nếu các vị kính thọ giáo pháp của đấng Đại sư thì hãy cùng nhau đến đống gạch ấy, mỗi người cầm đi một viên cho phá tan tháp ấy.

 

Môn đồ vâng lệnh thầy, mỗi người cầm đi một viên gạch, trong chốc lát cái tháp không còn.

 

Thấy sự việc ấy, hai Bí-sô ny kêu khóc thất thanh, vội chạy đi báo với ny chúng. Nhóm mười hai ny cô và các ny chưa ly dục nghe tháp bị phá nên khóc to:

 

- Hôm nay sư huynh của ta mới chết.

 

Bí-sô ny Thổ La Nan Đà hỏi hai cô ny:

 

- Tiểu muội! Vừa rồi ai nói với vị kia?

 

Đáp:

 

- Đại tỷ! Họ là khách Tăng làm sao biết được, ở đó không xa, tôn giả Ô Ba Ly nói với họ.

 

Thổ La Nan Đà nói:

 

- Tiểu muội! Ta vừa nghe nói biết ngay là kẻ cạo tóc khi trước, có ác hạnh ấy tuy đã xuất tục nhưng tánh tình không thay đổi, hãy đến trừng trị cho hắn tiêu đời. Như Thế Tôn có nói kẻ phá hoại đồ chúng, đồ chúng không để yên, chúng ta nên đến đó, lẽ nào bỏ qua. Nỗi giận dữ lên, cầm dao bén, chùy sắt, gậy nhọn, họ đi đến chỗ Tôn-giả để giết ngài.

 

Trông thấy chư ny rần rần kéo đến, tôn giả suy nghĩ: "Xem các ny này bộ dạng vội vã, tất có ý xấu muốn hại ta, vậy nên quán sát".

 

Nhập định, thấy chư ny đang phẫn nộ muốn đến gây hại, Tôn giả vội thu tâm nhập vào định Diệt tận nhưng quên dùng thần lực gia hộ đại-y.

 

Đến nơi, chư ny dùng dao bằm chém, dùng chày sắt, cây nhọn đâm đập khắp thân thể. Do định lực nên hơi thở Tôn giả ngừng lại, người như thây chết. Chư ny bàn nhau:

 

- Chúng ta đã giết kẻ oán gia ác hạnh, báo thù đã xong, vậy hãy về chùa.

 

Bàn bạc xong, họ bỏ đi.

 

Sau khi xuất định, thấy y bị hư nát, tôn giả Ô Ba Ly trở về trú xứ. Trông thấy vậy, các Bí-sô hỏi:

 

- Cụ thọ! Vì sao như vậy?

 

Đáp:

 

- Cụ thọ! Các Bí-sô ny sắp giết chết tôi.

 

Hỏi:

 

- Vì sao?

 

Tôn giả kể lại sự việc trên. Nghe như vậy, các Bí-sô thiểu dục đều bất mãn, bàn nhau: "Đại đức nên biết, các Bí-sô ny đối với Bí-sô giả nhưsân hận chỉ nên không lễ kính, chào hỏi, sao lại được cẩu thả cầm dao bén, chày sắt, cây nhọn đến giết cụ thọ Ô Ba Ly đến nỗi sắp chết, sao có lý này được!"

 

Một người nói:

 

- Các đại đức! Việc này đã qua, không nên truy lại làm gì, từ nay về sau phải làm sao đây?

 

Đáp:

 

- Còn muốn gì nữa, hãy đi bạch Phật.

 

Có người nói:

 

- Cần gì bạch Phật, nên lập quy chế, không cho chư ny vào rừng Thệ Đa.

 

Sau khi mọi người cùng nhau lập quy định, chư ny nào nghe thì không đi vào và cũng không cung kính.

 

Bấy giờ, thông thường vào ban ngày, Đại Thế Chủ đến lễ Thế Tôn rồi mới ra về. Khi vị này vào chùa, Bí-sô bảo:

 

- Này Kiều Đáp Dy, chúng Tăng cùng quy định không cho ny vào chùa, nên không được vào.

 

Đáp:

 

- Thánh giả! Chẳng lẽ con đồng như những kẻ gây lỗi lớn hay sao?

 

Bảo:

 

- Chúng tăng đã quy định, tôi làm sao đây.

 

Như vậy, ny phải trở lại trú xứ của mình.

 

Biết rõ nhưng Thế Tôn vẫn cố hỏi A Nan Đà:

 

- Có phải đại thế chủ bị bệnh không?

 

Đáp:

 

- Không bệnh.

 

Hỏi:

 

- Vì sao không thấy đến?

 

A Nan Đà đem sự việc trên bạch Phật. Phật dạy:

 

- Này A Nan Đà! Các Bí-sô quy định việc này đúng nhưng các Bí-sô ny tùy thuộc Bí-sô, nếu không vào chùa thì không có cung kính. Từ nay về sau, các Bí-sô ny muốn vào chùa cần phải thưa với Bí-sô giữ cổng mới được vào, lại cũng không nên giáo giới với ny.

 

Như Thế Tôn có dạy ny phải thưa cho biết mới được vào chùa tăng và không được tự tiện giáo giới họ. Chư ny không biết thưa như thế nào. Phật dạy:

 

- Khi ny muốn vào chùa Tăng, phải thưa:- Thánh giả biết cho, con muốn vào chùa.

 

Vị Bí-sô giữ cửa nên bảo họ:

 

- Này các cô! Nếu không cầm dao, chùy với ý gây hoạn nạn thì được vào chùa. Ai không thưa trước mà tự ý vào chùa, bị tội vượt pháp. Thấy ny vào chùa, Bí-sô nào không hỏi cũng bị tội vượt pháp.

 

Như Thế Tôn dạy, Bí-sô không nên tự tiện giáo giới các Bí-sô ny; bấy giờ Lục chúng Bí-sô giáo giới không ngừng. Phật dạy:

 

- Nếu Bí-sô ny có lỗi, Bí-sô Tăng già chưa cho họ pháp hoan hỷcá nhân tự tiện giáo giới thì bị tội vượt pháp. Pháp trưởng tịnh, pháp tùy ý căn cứ pháp giáo giới mà tiến hành.

 

 

 

Nhiếp tụng hai trong biệt môn tám:

 

    Ny sám bất ưng khinh,

    Tùy ý bất trưởng tịnh,

    Cánh hỗ đương thu tạ,

    Ny chúng tọa ưng tri.

 

* Duyên xứ như trước, có một Bí-sô ny đến học tập với Bí-sô. Nhân bị Bí-sô không vừa ý quở trách nên ny ra về. Đến chùa, hỏi ra, vị Bổn sư bảo ny này đi sám hối. Ny đến phòng xin sám hối ... rộng như trước. Khi được cô ny đến sám hối, Bí-sô để chân trên đầu rồi bỏ đi. Ny im lặng đi về chùa. Các ny khác hỏi:

 

- Chị đã xin sám hối với Quỹ Phạm Sư rồi phải không?

 

Đáp:

 

- Không nên gặp lại vị thầy như vậy.

 

Hỏi:

 

- Vì sao?

 

Nghe ny này kể lại sự việc, chư ny cùng nhau bất mãn: "Các chị em hãy xem kẻ khinh miệt nữ nhân nên khi được xin hoan hỷ không thèm nhận, lại còn lấy chân để trên đầu rồi bỏ đi".

 

Ny thưa Bí-sô, Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Chư ny chê bai đúng, từ nay về sau, khi ny đến sám hối, Bí-sô không được đạp chân lên đầu rồi bỏ đi. Ai làm như vậy, bị tội vượt pháp.

 

Khi ny bị khiển trách không nên vội vàng xin sám hối ngay, nên phải tuần tự cầu xin sám hối.

 

Họ không biết theo tuần tự như thế nào. Phật dạy:

 

- Trước hết nên nhờ một Bí-sô hay Bí-sô ny, cận sự nam, cận sự nữ đến gặp vị thầy khéo léo làm cho vị thầy hoan hỷ rồi mới sám hối.

 

* Duyên xứ như trước. Như Phật có dạy nên tác pháp Tùy ý đối với ba việc kiến, văn và nghi, hết hạ an cư Bí-sô tác pháp tùy ý xong lại làm Trưởng- tịnh. Có Bí-sô nói:

 

- Tôi xem Trưởng tịnh cùng với Tùy ý đều là làm cho thanh tịnh, thế nên biết Trưởng tịnh tức là Tùy ý.

 

Có người nói:

 

- Hai việc Tùy-ý và Trưởng tịnh khác nhau.

 

Họ bạch Phật. Phật dạy:

 

- Hai việc tuy khác nhưng đều là thanh tịnh. Thế nên biết rằng Tùy-ý rồi không cần làm Trưởng tịnh nữa.

 

* Duyên xứ như trước. Khi ấy các Bí-sô có hiềm khích nhau, không nhịn nhau được nên cùng tìm lỗi của nhau. Trong lúc tùy ý giữa đại chúng, họ cùng nhớ lại đem ra trách vấn nhau sự vi phạm các việc về giới, kiến, nghi, mạng. Bấy giờ bạn thân, hai thầy và các bạn đồng học với họ vì phe nhóm của mình mà cạnh tranh lẫn nhau, gây chuyện phá Tăng lớn, phát sinh ý kiến riêng tư khác nhau. Những vị trung lập cùng nhau ngăn cản:

 

- Các cụ thọ! Chớ nên đấu tranh hãy sống với tâm xuất gia của mình. Như Thế Tôn dạy ở một nơi nào đó có các Bí-sô đấu tranh với nhau, sống bằng cách phẫn nộ tranh cãi nhau; đối với những nơi ấy, Ta không muốn nghe đến huống chi đi đến nơi ấy. Nếu sự việc ấy chấm dứt, Ta sẽ đến đó. Nếu Bí-sô ấy vứt bỏ ba pháp là:

 

- Ba thiện căn không tham, không sân và không si và gây ra nhiều ba pháp bất thiện căn tham, sân, si thì các Bí-sô ấy phẫn nộ cạnh tranh cùng nhau tranh cãi, cùng nhau luận chiến sống với sự hận thù. Nếu các Bí-sô ấy vứt bỏ ba pháp là ba bất thiện căn tham, sân và si, thi hành nhiều ba pháp không tham, không sân, không si thì các Bí-sô ấy không còn phẫn nộ tranh cãi với nhau, không còn sống bằng luận chiến hận thù với nhau. Thế nên các Bí-sô phải vứt bỏ pháp ác, tu tập thiện pháp.

 

Bấy giờ, các Bí-sô vẫn tranh cãi không ngừng. Có những vị trung lập cùng nhau ngăn cản, nói:

 

- Cụ thọ! Chớ nên tranh đấu hãy sống với tâm xuất gia.

 

Nhưng các Bí-sô ấy không ngừng phẫn nộ, cùng nhau tranh cãi. Thấy vậy, những người thế tục cùng nhau chê trách:

 

- Các Sa-môn trọc đầu này khi tác pháp Tùy-ý, không giữ tâm xuất gia, cùng nhau tranh đấu.

 

Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

 

- Này các Bí-sô, các trưởng giả Bà-la-môn hiềm khích hợp lý, từ nay về sau Bí-sô nào biết Bí-sô khác có hiềm khích thì không nên tác pháp Tùy-ý chung một chỗ, phải sám hối trước sau đó mới tiến hành tác pháp chung.

 

Bấy giờ, vào ngày Tùy-ý các Bí-sô mới sám hối nhau, lại tức giận tranh cãi nhau, tâm không hỷ xả. Phật dạy:

 

- Không nên sám hối trong ngày tác pháp Tùy-ý, nên tiến hành việc sám hối trong tám chín ngày trước.

 

Như Thế Tôn dạy:

 

- Nên tiến hành việc sám hối trong tám chín ngày trước. Các Bí-sô đều cùng nhau sám hối. Phật dạy:

 

- Các Bí-sô không nên sám hối tất cả, chỉ những người có hiềm khích chống đối mới sám hối cầu xin sự hoan hỷ với nhau.

 

* Duyên xứ như trước, như Thế Tôn dạy:

 

- Năm năm nên làm đại hội Đảnh-kế.

 

Bấy giờ, các trưởng giả Bà-la-môn cư sĩ cùng muốn việc thắng thượng nên làm đại hội vô-giá. Hai bộ tăng già đều tập họp. Như Thế Tôn dạy phải ngồi theo thứ tự tuổi hạ, khi chư ny y vào tuổi hạ để ngồi gây ra huyên náo. Phật dạy:

 

- Người nữ tánh tham, trong lúc đại hội thì hai, ba, bốn người ở trước ngồi theo thứ tự, số ny còn lại tùy ý ngồi gần những người quen biết.

 

 

 

Nhiếp tụng ba trong biệt môn tám:

 

    Môn tiền bất trưởng tịnh,

    Đương tu sai nhị ny,

    Nhược chí trưởng tịnh thời,

    Sai nhân đãi ny bạch.

 

* Duyên xứ như trước. Như Thế Tôn dạy, yết-ma của Bí-sô và Bí-sô ny tiến hành riêng trừ loại yết-ma chung. Vào ngày trưởng tịnh, các Bí-sô ny đều tập trung đến rừng Thệ Đa để làm trưởng tịnh. Bí-sô làm trưởng tịnh cho ny ở ngay cổng lớn. Thấy sự huyên náo, các trưởng giả bà-la-môn cùng kéo đến xem, họ liền đứng yên.

 

Nghe việc này, Phật bảo các Bí-sô:

 

- Không được làm trưởng tịnh ngoài cổng.

 

Bấy giờ, các Bí-sô cho ny làm trưởng tịnh trong chùa Tăng, nhân vì tụ tập nên nhiều miệng lắm lời.

 

Nghe sự việc này, Phật dạy:

 

- Do đó, Bí-sô không được làm Trưởng tịnh cho ny trong chùa Tăng.

 

Chư ny không biết nên trở lại trong chùa mình. Phật dạy:

 

- Ny đến nữa đường, Bí-sô đến đấy cùng làm Trưởng tịnh.

 

Bấy giờ, các Bí-sô thi hành theo lời dạy, có các Bà-la-môn trưởng giả đang đi, giữa đường gặp phải Bí-sô và ny đang làm trưởng tịnh nên họ có ý nghĩ xấu, bàn bạc nhau: "Sa-môn trọc đầu nam này và Sa-môn trọc đầu nữ này đang bàn về việc gì?".

 

Một người nói:

 

- Hãy xem ý này, còn sự bàn luận gì nữa, người tại gia chúng ta nói chuyện riêng với nhau, ny lén nghe, đến nơi vắng này nói với Bí-sô, Bí-sô nghe xong đem nói với vương gia, những hình phạt vua đối với chúng ta đều do bọn trọc nam nữ này thêu dệt cả.

 

Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Không nên làm trưởng tịnh trên đường đi, vào ngày trưởng tịnh ở mỗi nữa tháng nên sai hai cô ny đến giữa Tăng thưa lên sự thanh tịnh và thỉnh việc giáo thọ.

 

Ny sai người không có năng lực, khi vào trong Tăng không thể trình bày được sự thanh tịnh. Phật dạy:

 

- Nên sai người có khả năng.

 

Khó có được hai người, Phật dạy:

 

- Một người có khả năng thì được vào giữa Tăng.

 

Tuy đã đến chùa, thấy sự uy nghi của Phật và chúng Tăng, họ không biết sẽ thưa sự thanh tịnh với ai nên trở về lại, thế nên ny chúng không làm Trưởng tịnh, họ bạch Phật. Phật dạy:

 

- Nên sai một ny đến bạch.

 

Họ sai một ny nhưng cũng không biết làm nên phải bị lỗi như trước. Phật dạy:

 

- Bí-sô được sai nên đứng ngay cửa, họ sẽ đến bạch, nhận lời bạch rồi sẽ thưa lại Tăng già. Tăng già nên tác pháp bạch nhị để sai người giáo thọ.

 

 

 

Nhiếp tụng bốn trong biệt môn tám:

 

    Bị sai bất tị khứ,

    Đương vấn giáo sư danh,

    Trước mạo vi bát nang,

    Kết man ny bất hợp.

 

* Duyên xứ như trước. Phật dạy:

 

- Bí-sô sai người chờ ny thưa sự thanh tịnh; tuy có đứng nơi cửa nhưng khi ny đến họ lại bảo đừng đến gần tôi, đừng đụng vào tôi, rồi bỏ đi.

 

Chờ không được, ny phải trở về chùa. Do đó, ny chúng không trưởng tịnh được. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Bí-sô do Tăng sai không nên bỏ đi, cần phải nhận cho họ thưa và nói thế này chị em nên ngồi chớ gần đụng chạm vào tôi và có thể thưa sự thanh tịnh. Nếu ai không nhận mà bỏ đi ngay, bị tội vượt pháp.

 

Như Thế Tôn dạy:

 

- Nên sai người đứng ở ngay cửa, chờ ny đến để giáo thọ.

 

Một hôm, người được sai đến cửa bị ch?m trễ, có một kẻ lõa hình trùm tấm chăn lông đang xem bánh xe sinh tử dưới cửa. Thấy vậy, ny suy nghĩ:

 

"Ta nên đến vị kia để thưa sự thanh tịnh".

 

Ny đến làm lễ vị kia và ngồi xổm, thưa:

 

- Thánh giả ghi nhận cho ...

 

(Trong lúc ấy kẻ kia im lặng suy nghĩ: "Ta thử xem nữ Sa-môn trọc đầu này nói gì) ... ny chúng trong chùa ở vườn vua sai con đến thỉnh vấn đảnh lễ dưới chân Thánh chúng ở trong rừng Thệ Đa, ít bệnh ít não, đi đứng thoải mái, sức lực hơn bình thườngan lạc không? Vào ngày Bao Sái Đà, chúng Bí-sô ny đều bạch sự thanh tịnh.

 

Nghe xong, ngoại đạo không biết nói gì nên im lặng. Ny lại dạy nói:

 

- Thánh giả hãy nói khả nhĩ.

 

Nghe vậy, kẻ ấy không hiểu gì nên nói tiếng "úm" rồi cúi đầu bỏ đi.

 

Khi ấy, hai ny cô trở về chùa mình. Sau đó, người giáo thọ ny đến cửa, chờ mãi không thấy ny đến nên trở về phòng mình.

 

Vào lúc thuyết giới, sau khi tác pháp đơn bạch, người thọ sự bạch với đại chúng:

 

- Vị nào đem ny chúng đi thưa sự thanh tịnh về?

 

Trong chúng không một ai đáp:

 

- Là tôi.

 

Chúng đều suy nghĩ:

 

- Lẽ nào ny chúng lại không đến thưa sự thanh tịnh. Do đó, họ không sai người hỏi vị kia có đến không.

 

Sau khi thượng tọa tụng giới, tác pháp Bao Sái Đà xong, sau khi thuyết giới bảo ny thanh tịnh trở lại chỗ cửa nhưng không thấy có người nên phải trở lại chùa. Chúng Bí-sô ny trưởng tịnh bất thành. Sáng hôm sau, chư ny cùng đến chỗ của Tăng, hỏi:

 

- Thánh giả! Vì sao không nhận chúng Bí-sô ny thưa sự thanh tịnh?

 

Các Bí-sô nói:

 

- Này các cô! Trước ngày Trưởng tịnh, có sai cô ny nào đến báo sự thanh tịnh?

 

Hai ny trước đây đứng ra trước nói:

 

- Chính là chúng con, khi đến cửa, thấy có thánh giả hình dạng như vậy đang xem bánh xe sinh tử. Chúng con đến thưa sự thanh tịnh rồi mới trở về chùa.

 

Nghe ny nói có thưa sự thanh tịnh với người hình dạng như vậy, Bí-sô biết họ là ngoại đạo lõa hình. Họ cùng nhau bàn luận:

 

- Bí-sô ny này đến thưa sự thanh tịnh với ngoại đạo.

 

Nghe thưa về sự việc này, Phật suy nghĩ: "Vì các Bí-sô ny đến thưa sự thanh tịnh mà không hỏi tên vị giáo thọ sư nên có lỗi này". Ngài bảo các Bí-sô:

 

- Hai ny kia không phạm tội; từ nay về sau nếu Bí-sô ny đến nói sự thanh tịnh cần phải hỏi danh hiệu vị Bí-sô giáo thọ. Nên hỏi là Thánh giả tên gì. Nếu ai không hỏi tên mà thưa sự thanh tịnh, bị tội vượt pháp.

 

Như Thế Tôn dạy:

 

- Ny thưa sự thanh tịnh phải hỏi tên vị giáo thọ, khi ny đến thưa, có lúc đã biết mà vẫn hỏi tên. Phật dạy:

 

- Không cần hỏi tên của Bí-sô đã quen biết.

 

* Duyên xứ như trước. Bấy giờ, Đại-thế-chủ Kiều Đàm Dy bị bệnh. Ny chúng đến thăm, hỏi:

 

- Thánh giả! Vì sao không ra khỏi phòng?

 

Đáp:

 

- Này cô, ta bị bệnh.

 

Hỏi:

 

- Trước đây, ngài dùng vật gì để trị bệnh này?

 

Đáp:

 

- Khi còn ở đời, ta thường bịt khăn trên đầu.

 

Hỏi:

 

- Như vậy, nay sao không làm?

 

Đáp:

 

- Nay, Ta đã xuất gia, Thế Tôn chưa cho phép, làm sao dám dùng.

 

Nghe họ thưa, Phật dạy:

 

- Ở trong chùa, ny nên đội khăn.

 

* Chuyện tại thành Vương-xá. Khi ấy trong thành có Bà-la-môn đi từng nhà xin ăn, đến một nhà kia, nói rằng:

 

- Cho tôi xin.

 

Chủ nhân nói:

 

- Không có, hãy đi đi.

 

Khi đi ra, thấy Đại-thế-chủ vào nhà ấy khất thực, người này suy nghĩ:

 

- Họ cũng không cho người này hay chỉ không cho ta?

 

Vì muốn tìm lỗi của chủ nhân, ông ta đứng lại.

 

Chủ nhân suy nghĩ:

 

- May thay, nhà ta được Phật-mẫu đến.

 

Ông ta vội bố trí chỗ ngồi và mời ny an tọa rồi tự tay nói cười đặt các món ăn thượng hạng vào đầy bát rồi dâng lên. Thấy vậy, với tâm ganh ghét, Bà-la-môn bảo với ny:

 

- Cho tôi xem trong bát có những thức ăn gì?

 

Ny ấy giở bát ra, ông ta liền nhổ nước miếng vào. Đại-thế-chủ nói:

 

- Vì sao người làm bẩn thức ăn trong bát. Nếu người muốn xin, ta sẽ cho ngay.

 

Khi ấy, Bà-la-môn im lặng không đáp.

 

Ny bạch Bí-sô, Bí-sô bạch Phật. Phật suy nghĩ: "Tính của người nữ ít có uy đức làm cho kẻ ngu gây ra nghiệp ác chịu nhiều quả báo khổ" .

 

Ngài bảo các Bí-sô:

 

- Từ nay về sau, khi ny đi khất thực nên mang túi bọc bát, che ở trên mà đi.

 

Chư ny không biết túi bọc bát như thế nào. Phật dạy:

 

- Nên làm túi vải vuông chừng một thước mộc, góc trên chừa hai miếng vải dài, đặt bát vào trong; nơi góc làm dây đeo ngắn; đem đi khất thực ngăn bụi đất lại dễ mang đi. (xứ Thần Châu này đến nay chưa có túi bát. Do góc đáy túi bát nhọn nên bát không lay động, nếu đáy bằng phẳng bát bị chuyển động tràn thức ăn ra.)

 

* Duyên tại thành Thất La Phiệt. Người ở nước phía Đông thường thích hoa viên. Một lúc nọ mọi người trong thành tổ chức hội vui chơi lớn, cùng nhau mang các loại thức ăn hảo hạngâm nhạc đến vườn hoa. Có một người sai sứ giả về bảo với vợ hãy làm vòng hoa và bảo người đem đến gấp. Trong nhà người ấy có vườn hoa đẹp, người vợ tuân lời vào vườn hái hoa nhưng không biết kết nên phải mời người kết vòng hoa đến. Khi ấy những người kết vòng hoa đang bận làm cho người khác ở hội vui chơi của nhân dân trong thành. Tìm không có người, trong lòng vợ buồn bã suy nghĩ:

 

- Chồng bảo ta kết vòng hoa đẹp, ta không biết làm lại không tìm người được, biết làm sao đây!

 

Nhân khất thực, ny Thổ La Nan Đà đi vào nhà ấy, bảo:

 

- Này cô em, hãy cho tôi bát cơm.

 

Đáp:

 

- Thánh giả hãy đi đi, tôi đang buồn rầu, không ai đem ra cho.

 

Ny nói:

 

- Cô em có việc gì?

 

Nghe cô ta kể ra, ny hỏi:

 

- Sao cô không làm?

 

Đáp:

 

- Tôi vốn không biết làm nhưng thánh giả biết kết không?

 

Đáp:

 

- Cô em! Nay ta đã già, khi còn trẻ việc gì mà chẳng biết.

 

Cô ta nói:

 

- Thánh giả! Nếu vậy xin thương xót mà kết vòng hoa cho tôi.

 

Đáp:

 

- Cô em! Nếu có thể cho ta các món ăn uống thì ta làm cho.

 

- Xin vâng, cô ta nói.

 

Ny liền để bát qua một bên, ngồi duỗi hai chân, chú tâm kết vòng hoa. Thấy vậy, cô gái tấm tắc khen vòng hoa đẹp và rất vui mừng cho thức ăn đầy bát. Đến nhà khác, ny cũng kết vòng hoa, nhận được nhiều thức ăn rồi mới về chùa.

 

Khi ấy, người kết vòng hoa đến gặp cô gái, bảo:

 

- Đưa hoa cho tôi kết vòng.

 

Đáp:

 

- Sao người đến trễ vậy, hoa đã kết xong và đem đến vườn rồi.

 

Hỏi:

 

- Ai kết vậy?

 

Đáp:

 

- Thánh giả Thổ La Nan Đà.

 

Nghe nói, người kia chê trách:

 

- Nữ Sa-môn làm việc phi pháp; tại sao lại đoạt sự mưu sinh của ta?

 

Ny bạch Bí-sô; Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Việc ấy trái pháp nữ Sa-môn, thật đáng chê trách. Thế nên ny chúng không được kết vòng hoa. Ai vi phạm, bị tội vượt pháp.

 

Phật chế không cho ny kết vòng hoa, vào lúc đại hội đỉnh kế của Thế Tôn và hội năm năm, sáu năm, vua Thắng Quang, phu nhân Thắng Man, phu nhân Hành Vũ, trưởng giả Cấp Cô, Tỳ Xá Khư mẹ Lộc Tử, Tiên Thọ, Cố Cựu và Đại Danh ... cận-sĩ-nam, cận-sĩ-nữ đều cầu sự thắng thượng nên cùng nhau dâng hương hoa. Tăng ny khắp nơi đều tập họp đến. Hoa đẹp quá nhiều mà ít người kết. Những người có tín tâm tìm người kết vòng hoa nhưng không được nhiều nên nói với chư ny:

 

- Hiện nay! Chúng con vì cúng dường Đại-sư, các vị có thể kết vòng hoa giúp cho không?

 

Ny đáp:

 

- Quý vị chẳng biết hay sao, Đại-sư có dạy không cho chư ny kết vòng hoa, nay chúng tôi phải giúp làm phước như thế nào đây.

 

Ny bạch Bí-sô, Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Vì việc của Tam bảo, ny được kết vòng hoa.

 

Ở ngay cổng, dưới hành lang, các Bí-sô ny ngồi duỗi chân để kết vòng hoa. Thấy vậy, người thế tục nói đùa:

 

- Thánh giả đều là các cô gái kết vòng hoa đi xuất gia.

 

Chư ny xấu hổ chẳng biết nói gì. Bí-sô bạch Phật, Phật bảo:

 

- Nhưng người thế tục chê bai hợp lý. Chư ny không nên ngồi kết hoa ở cổng, dưới hành lang, trước hiên. Ai vi phạm bị tội vượt pháp. Người biết kết hoa nên làm nơi kín, chớ cho thế tục chê bai.

 

 

 

Nhiếp tụng năm trong biệt môn tám:

 

    Bất ưng súc đồng khí,

    Biến tửu linh bình phục,

    Nhẫm phòng dữ tục lữ,

    Cuống hoặc tác y vu.

 

* Duyên xứ như trước. Đến nhà thợ đồ đồng, ny Thổ La Nan Đà bảo:

 

- Hiền thủ! Có thể làm cho tôi bát lớn bằng đồng không?

 

Đáp:

 

- Thánh giả! Đó là nghề của tôi, sao lại không được, muốn làm lớn hay nhỏ?

 

Đáp:

 

- Làm loại lớn nhất.

 

Hỏi:

 

- Bát lớn để làm gì?

 

Ny mắng:

 

- Này vật bần hàn, ngươi làm không cho ta hay sao, ta trả giá cao cho ngươi, hãy làm cái lớn.

 

Người thợ suy nghĩ: "Làm lớn theo ý họ, ta có hại gì".

 

Thấy làm xong bát lớn, ny lại bảo:

 

- Hãy làm bát nhỏ để vừa vào bát lớn cho ta.

 

Lần lượt sai họ làm như vậy, đến bảy cái bát đặt lồng vào nhau. Thổ La Nan Đà sai cầu-tịch-nữ lau chùi cho sạch dùng sợi ngũ sắc đan túi lồng vào. Khi có nơi nào thỉnh, ny này sai ny nhỏ đội đến nhà ấy, an trí chúng bên cạnh chỗ ngồi.

 

Thấy vậy, người thế tục hỏi:

 

- Thánh giả! Đang mở cửa hàng bán đồ đồng phải không?

 

Đáp:

 

- Này kẻ ngu si! làm sao ngươi biết vật ta cần dùng. Cái lớn đựng cơm, cái thứ nhì đựng canh, cái thứ ba vắt thức ăn ngon, những cái còn lại để các món khác.

 

Đáp:

 

- Nếu vậy, còn cần nhiều bát nữa, nếu có vật khác đem đến thì để vào đâu?

 

Nghe nói, họ im lặng. Ny bạch Bí-sô, Bí-sô bạch Phật. Sau khi suy nghĩ, Phật chế:

 

- Ny sắm bát đồng có những lỗi như vậy. Từ nay về sau chư ny không được tự sắm bát đồng. Ai vi phạm bị tội vượt pháp, ngoại trừ muỗng đồng, dĩa để muối, chén đồng để uống nước.

 

* Duyên xứ như trước. Con gái của vợ chồng trưởng giả nọ có tròng mắt bên phải thông suốt nên bị cho là ác tướng không ai chịu cưới làm vợ. Một trưởng giả khác lấy vợ chưa lâu thì vợ qua đời, đến bảy lần như vậy nên người đời gọi là trưởng giả sát-phụ. Ông ta lại tìm cô gái người khác để cưới làm vợ. Họ bảo:

 

- Chẳng lẽ tôi muốn giết con gái hay sao?

 

Ông ta lại đi hỏi góa phụ. Họ bảo:

 

- Lẽ nào tôi muốn tự sát?

 

Không có vợ nên ông ta phải quản lý việc nhà. Có người bạn đến hỏi:

 

- Vì sao bạn tự làm việc nhà, lẽ nào không tìm được vợ hay sao?

 

Đáp:

 

- Tôi thật bạc phước, cưới vợ chưa lâu thì vợ qua đời, đến người vợ thứ bảy cũng không còn sống nên mọi người đặt tên tôi là Sát Phụ.

 

Hỏi:

 

- Sao không tìm người khác?

 

Ông ta đem sự việc trên kể lại.

 

Bạn nói:

 

- Vậy sao không xin cưới cô gái có tròng mắt thông suốt?

 

Đáp:

 

- Họ cũng không chịu đâu!

 

Bạn nói:

 

- Tôi biết nhà ấy nuôi con gái đã lâu, cần phải gã lấy chồng, hãy đến hỏi đi.

 

Thấy trưởng giả đến, họ hỏi:

 

- Ông đến cần gì?

 

Đáp:

 

- Muốn xin cưới cô gái.

 

Hỏi:

 

- Cô gái nào?

 

Đáp:

 

- Cô gái tròng mắt thông suốt.

 

Người cha nói:

 

- Xin theo ý ông, vào ngày ... cùng nhau tổ chức hôn lễ.

 

Do rượu trong nhà bị nóng hư, phải đặt rượu ở ngoài nên các nhà làm rượu đều làm cho họ. Khi ấy, Thổ La Nan Đà đi vào nhà cô gái có tròng mắt thông suốt để khất thực. Gia nhân bảo:

 

- Tôi đang bận rộn làm rượu, không thể cho thức ăn.

 

Ny hỏi lý do, họ bảo:

 

- Rượu nhà tôi bị hư.

 

Ny bảo:

 

- Vì sao không làm cho thành rượu ngon?

 

Đáp:

 

- Thánh giả! Con không biết làm, ngài có phương pháp, mong ban ân cho.

 

Ny nói:

 

- Thiếu nữ! Nay ta đã già không còn làm nữa, khi xưa con trẻ chuyện gì không biết.

 

Đáp:

 

- Xin Thánh giả thương con làm cho rượu ngon lại.

 

Ny bảo:

 

- Này thiếu nữ! Nếu có thể trả cho ta thức ăn ngon thì làm cho rượu ngon.

 

Đáp:

 

- Xin đưa nhiều.

 

Ny bảo:

 

- Hãy đem nồi rượu ra đây cho ta xem.

 

Khi họ đem ra, Thổ La Nan Đà xem xét trên dưới nồi vì sao rượu bị hư. Biết là do nóng cháy nên ny mở nắp ra, bảo đặt nồi trên cát ướt, lại dùng rêu xanh quấn bọc nồi lại, quạt đi hơi nóng. Nhân khí lạnh mát nên rượu ngon lại. Thân tộc đều tập họp đến.

 

Khi ấy, những nhà làm rượu đã làm xong, chờ mãi nhưng không đến lấy nên sai người đi hỏi vì sao không lấy rượu. Họ đáp:

 

- Rượu nhà tôi ngon trở lại không phiền lấy nữa.

 

Hỏi:

 

- Ai bày cho người vậy; rượu đã hư làm cho ngon lại hay sao?

 

Đáp:

 

- Thánh giả Thổ La Nan Đà ban ân cho tôi, đã làm việc này.

 

Nghe vậy, họ bất mãn:

 

- Sa-môn Thích nữ làm chuyện phi pháp. Vì sao lại đoạt nghề nuôi sống của ta!

 

Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Đây thật trái pháp Sa-môn Thích-nữ, bị chê trách hợp lý. Thế nên chư ny không được dạy họ làm biến đổi rượu hư. Ai vi phạm, bị tội Thổ La Để Dã.

 

* Duyên xứ như trước. Có trưởng giả nọ thích làm việc bố thí, bỗng bị bệnh nặng càng ngày càng nguy kịch. Tự biết mạng sống không còn bao lâu, ông ta đem tài vật cấp thí cho Sa-môn, Bà-la-môn, kẻ cô độc, người ăn xin, bạn bè, thân tộc, chỉ còn căn nhà chưa cho ai cả. Nghe vậy, Thổ La Nan Đà đến nhà ấy, bảo:

 

- Này trưởng giả! Thông thường người nữ được lợi dưỡng rất ít, đến lượt ngài hỷ xả ban cho ít nhiều.

 

Đáp:

 

- Thánh giả đã đến chậm, tài vật của tôi đã cho hết rồi, chỉ còn căn nhà này.

 

Ny nói:

 

- Trưởng giả! Tôi có hy vọng nên đưa mặt đến đây, nay phải về không, thật chẳng vừa ý.

 

Đáp:

 

- Thánh giả! Chỉ có nhà này, ý ngài muốn lấy, con cũng không tiếc.

 

Ny đáp:

 

- Nếu vậy, tôi nhận lấy, cầu nguyện ông hết bệnh khổ.

 

Sau khi trưởng giả qua đời, thân thuộc tập họp đến đặt trên xe linh kết lụa xanh vàng đỏ trắng rực rỡ, đi đến Thi Lâm.

 

Nghe trưởng giả qua đời, Bí-sô ny Thổ La Nan Đà vội đến nơi, niêm phong nhà lại và đứng một bên.

 

Sau khi hỏa thiêu, trở về thấy nhà bị niêm phong, thân tộc hỏi:

 

- Ai đóng lại vậy?

 

Ny đáp:

 

- Người được cho nhà đã đến đóng cửa.

 

Hỏi:

 

- Thánh giả! Nhà đã cho ai?

 

Đáp:

 

- Đã cho ta.

 

Hỏi:

 

- Thánh giả! Nếu vậy hãy cho tôi thuê, sau sẽ trả tiền.

 

Ny hỏi:

 

- Chắc không?

 

Đáp:

 

- Chắc chắn.

 

Ny liền mở cửa cho vào.

 

Bấy giờ, đến nhà ấy, nghe sự việc như vậy, Bà-la-môn trưởng giả đều chê trách:

 

- Sa-môn Thích-nữ làm việc phi pháp, sao lại đem nhà cho người khác thuê?

 

Ny bạch Bí-sô, Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Thật trái với pháp Sa môn, chê trách thật đúng; từ nay trở đi các Bí-sô ny không được cho người thuê nhà. Ai vi phạm bị tội vượt pháp.

 

* Duyên xứ như trước. Trưởng giả nọ ưa bố thí, biết mình sắp qua đời nên bố thí hết của cải chỉ còn một cửa hàng. Nghe như vậy, ny đến xin sự việc như trước ... cho đến khi ông ấy chết ny liền niêm phong cửa làm mọi người chê bai. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Nếu ai cho thuê cửa hàng bị tội vượt pháp.

 

* Duyên xứ như trước. Thổ La Nan Đà vào thành khất thực trong thấy cô đồng lắc linh đi các nhà nói chuyện lành dữ, được nhiều lợi vật đủ để nuôi thân, nên suy nghĩ: "Đây là phương pháp tốt, ta nên làm theo".

 

Sau khi tìm có linh, sáng sớm ny vào thành, đi đến từng nhà lắc linh vang dậy, tắm gội thân thể cho các trai gái của người, dối gạt nói ra sự lành dữ, những điềm sẽ đến, người có bệnh nhờ trời sẽ khỏi, làm cho cả thành đều nghe biết tiếng tăm. Ai có điều thỉnh cầu đều tìm đến yết kiến. Từ đó không ai hỏi đến những cô đồng thầy bói cả.

 

Khi ấy những cô đồng trước đây, đến hỏi mọi người:

 

- Có việc gì, cần ta xem tướng không?

 

Mọi người đáp:

 

- Không làm phiền người nữa. Tôi có Thánh sư thông thạo các việc, xem tướng trị bệnh đều vừa ý cả.

 

Họ hỏi là ai. Đáp:

 

- Thánh giả Thổ La Nan Đà.

 

Nghe nói vậy, họ bất mãn nói:

 

- Thích nữ phi pháp dối làm cô đồng, đoạt sự mưu sống của ta.

 

Bí-sô bạch Phật. Phật suy nghĩ:

 

- Ny làm cô đồng có những lỗi như vậy, dối nói những điều quỷ quyệt gây ra bất mãn.

 

Ngài bảo các Bí-sô:

 

- Từ nay! Ta không cho phép ny làm cô đồng. Ai vi phạm bị tội vượt pháp.

 

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ

 

TỲ-NẠI-DA TẠP-SỰ

 

Quyển thứ ba mươi ba hết.

 

--- o0o ---

 

Quyển thứ ba mươi bốn

 

--- ooOoo ---

 

Nhiếp tụng sáu trong biệt môn tám:

 

    Bất cộng nữ nhân dục,

    Diệc bất nghịch lưu tẩy,

    Bát để ưng an thế,

    Bất súc lưu-ly bôi.

 

* Duyên xứ như trước. Sau khi xuống sông tắm rửa thân thể xong, cô gái nọ lên bờ ngồi chải tóc. Mang bột tắm đến đó tắm rửa, thấy cô gái chải tóc nên Bí-sô ny Thổ La Nan Đà tức giận ganh tỵ, suy nghĩ: "Con nhỏ ngu si muốn tranh hơn ta nên chải đầu tóc, cho rằng trước đây ta không có tóc hay sao; hãy trừng trị cho nó bỏ lỗi, sau này có gặp ta không còn dám cạnh tranh hơn nữa".

 

Ny lặng lẽ cầm bột Yêm Ma La bỏ lên đầu cô kia rồi lấy tay chà sát lên. Cô gái hỏi:

 

- Thánh giả! Tôi có lỗi gì, vừa gội đầu tóc xong lại bị người dùng bột Yêm-ma-la bỏ lên đầu vậy?

 

Ny nói:

 

- Vì ngươi đã cho rằng Thổ La Nan Đà trước đây không có tóc, đầu đã dơ bẩn hãy đi gội lại.

 

Cô gái bất mãn chê trách. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Ny làm việc phi lý thật đáng chê trách. Từ nay về sau, chư ny không được bỏ bột tạp lên tóc sạch của người khác. Ai vi phạm bị tội vượt pháp.

 

* Duyên xứ như trước. Cùng với chư ny đến tắm trong sông, Thổ La Nan Đà đứng chỗ ngược dòng nước chảy mạnh để cảm giác lạc thọ. Chư ny hỏi:

 

- Thánh giả! Vì sao làm như vậy?

 

Đáp:

 

- Này các em! Ta hưởng thụ cảm giác thích thú.

 

Chư ny nói:

 

- Thánh giả! Đấy là pháp bất tịnh, không nên đứng chỗ ngược dòng nước chảy mạnh để hưởng cảm giác thích thú.

 

Đáp:

 

- Đây là pháp rất tịnh, có gì trái lý, nếu là bất tịnh thì chỗ nào ngăn cấm?

 

Ny bạch Bí-sô, Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Chư ny chê trách như vậy là hợp lý. Từ nay về sau, chư ny không được đứng nơi ngược dòng nước chảy mạnh để hưởng cảm giác thích thú. Ai vi phạm bị tội Thổ La Để Dã.

 

* Duyên xứ như trước. Các Bí-sô ny để bát sắt tùy tiện nên sinh rỉ sét, hoặc đem gõ đập nên bát bị hư nhiều. Ny bạch Bí-sô, Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Chư ny không nên để bát tùy tiện, nên dùng thiếc mỏng làm đế lót bát.

 

Như Thế Tôn dạy làm đế lót bát bằng thiếc, chư ny dùng thiếc bọc hết cả bát. Thấy vậy, người tục hỏi:

 

- Đây là vật gì?

 

Đáp:

 

- Các vị, Thế Tôn chế định dùng thiếc lót bát.

 

Họ bảo:

 

- Thánh giả! Lẽ nào Phật bảo bọc hết cả bát hay sao, các vị nói dối, đây không phải là việc làm của Sa-môn Thích nữ.

 

Nghe nói, ny xấu hổ im lặng không đáp. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Người tục chê trách đúng lý. Thế nên chư ny không được dùng thiếc bọc kín cả bát, chỉ nên dùng đế thiếc nhỏ đủ đỡ bát.

 

Họ lại làm nhiều kiểu hình dáng kỳ lạ, Phật dạy:

 

- Không được, đế có hai loại, một như lá cây Bồ-đề hay lá cây đa-căn; hai như bàn tay.

 

* Duyên xứ như trước. Ny Thổ La Nan Đà có chén bằng lưu ly. Gặp lúc khách đến nhà, phụ nữ kia sang gặp ny hỏi:

 

- Thánh giả! Xin cho mượn chén lưu-ly.

 

Ny hỏi:

 

- Làm gì?

 

Đáp:

 

- Thánh giả! Chàng rễ đến nhà nhưng không có chén dùng được.

 

Được ny đưa cho mượn, người kia vô ý làm vỡ chén, đến thưa:

 

- Thánh giả! Con xin đền trả.

 

Ny bảo:

 

- Này cô em! Không cần đền trả, hãy đưa lại chén cũ cho tôi.

 

Hỏi:

 

- Thánh giả! Mua cái khác thế vào được không?

 

Đáp:

 

- Chỉ cần cái cũ.

 

Vì họ cạnh tranh như vậy, Bí-sô bạch Phật. Phật suy nghĩ:

 

- Do chư ny có chén lưu ly nên gây ra lỗi như vậy.

 

Ngài bảo các Bí-sô:

 

- Chư ny không được cất chứa chén lưu ly. Ai vi phạm bị tội vượt pháp.

 

 

 

Nhiếp tụng bảy trong biệt môn tám:

 

    Do phụ chế tích trượng,

    Khởi vũ thời chiêu tội,

    Thấp bỉnh thọ thỉnh thực,

    Thuyết pháp bạn bạch tri.

 

* Duyên xứ như trước. Có một trưởng giả giàu sang nhiều tài sản, vợ sinh được một trai nên rất vui mừng, mời các thân thuộc cùng nhau hỷ lạc. Người vợ và chồng ngủ phòng riêng, đến sáng chưa thức dậy.

 

Bấy giờ, có Bí-sô đi khất thực thấy nhà ấy nhiều cửa nên đi vào trong nhà nhưng không biết lối ra, đi lạc vào tận trước phòng trưởng giả. Ông ta thức dậy đúng lúc Bí-sô đi qua bên cạnh người vợ. Thấy vậy, trưởng giả kêu lên:

 

- Kẻ này cùng vợ ta làm việc phi pháp.

 

Ông ta đánh Bí-sô vỡ đầu chảy máu, bát bể. Người vợ thức dậy nói:

 

- Bí-sô không có lỗi, hãy cho người đi.

 

Mang hình dạng như vậy, Bí-sô đi về rừng Thệ-Đa. Các Bí-sô hỏi:

 

- Vì sao như vậy?

 

Sau khi nghe vị ấy thuật lại, Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

 

- Bí-sô khất thực không được vội vàng đi vào nhà nhiều cửa, nên dùng bánh bột làm dấu trước cửa, sau đó mới vào.

 

Khi vào, Bí-sô lặng lẽ đi, gặp phải phụ nữ lõa hình bỏ chạy nên bị người tục hiềm trách. Phật dạy:

 

- Khi sắp vào nhà nên lên tiếng cho họ biết.

 

Bí-sô lên tiếng ha ha gây ồn ào rồi đi vào. Người nhà bảo:

 

- Ngài nào phải trẻ con mà kêu tiếng ha ha đi vào nhà tôi?

 

Đáp:

 

- Phật bảo đi vào phải lên tiếng nên tôi kêu ha ha.

 

Họ bảo:

 

- Không còn cách gì để lên tiếng hay sao mà chỉ dùng tiếng ha ha này để báo cho biết.

 

Bí-sô im lặng; Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

 

- Bí-sô không nên kêu tiếng ha ha để vào nhà người.

 

Sau khi Phật chế, họ lại dùng tay đập cửa để vào nhà người. Người nhà ngạc nhiên hỏi:

 

- Vì sao lại đập phá nhà tôi?

 

Bí-sô im lặng không thể trả lời. Phật dạy:

 

- Không nên đập cửa, hãy làm tích trượng.

 

Bí-sô không biết làm. Phật dạy:

 

- Đầu gậy, gắn vòng tròn bằng miệng chén, kết những vòng nhỏ mà khi lắc phát ra âm thanh để cho họ biết.

 

Khi bị chó sủa, họ dùng gậy đánh. Phật dạy:

 

- Không nên dùng gậy để đánh chó, nên đưa lên cho chúng sợ.

 

Gặp phải chó dữ, bị dọa càng dữ thêm; Phật dạy:

 

- Ném một miếng bánh xuống đất cho nó.

 

Khi đến nhà không có tín tâm, Bí-sô rung gậy chờ mãi sinh mỏi mệt nhưng cũng không được người trong nhà ra hỏi. Phật dạy:

 

- Không nên rung nhiều, chừng hai ba lượt, không có người hỏi, nên bỏ đi.

 

* Duyên xứ như trước. Trưởng giả nọ mời Phật và chư Tăng đến nhà thọ trai. Bí-sô Tăng già đều đi dự, Phật ở lại chùa, sai người đi lấy thức ăn. Năm nguyên nhân mà Phật sai người đi lấy thức ăn là:

 

    1. Vì muốn yên tịnh.

    2. Thuyết pháp cho các thiên nhân.

    3. Thăm người bệnh.

    4. Xem xét ngọa cụ.

    5. Chế học xứ cho chúng Thanh văn.

 

Nay, vì chế học xứ nên Ngài ở lại chùa.

 

Bấy giờ, trưởng giả tạm che nhà lá thỉnh chúng Tăng an tọa. Vào mùa mưa lạnh, trưởng giả dâng cháo, sau đó bánh khô, đến bánh nướng, rồi củ ăn. Các Bí-sô húp cháo có tiếng rột rột ...; tiếng cắn bánh khô nghe lách cách ...; tiếng nhai bánh nướng nghe lạp xạp ...; tiếng mưa rơi trên mái nhà nghe tí tách ...; tiếng uống nước trong bình nghe lổn xổn; những tiếng động khác nhau này hợp thành âm hưởng. Có Bí-sô trước đây biết ca múa nghe âm vận này, nhớ đến tiếng sáo tiếng đàn ngày trước nên đè nén không nỗi liền đứng dậy khỏi chỗ ngồi múa tay theo âm điệu và nói với đại chúng rằng:

 

- Các đại đức! Đây là tiếng rột rột, đây là tiếng lách cách, đây là tiếng lạp xạp, đây là tiếng tí tách, đây là tiếng lổn xổn.

 

Đồng thời vị ấy búng tay hòa theo rất hợp tiết điệu. Trong đại chúng có vị không trụ tâm liền mỉm cười. Những vị chánh ý đều rất kinh ngạc. Những người dọn ăn đều cười to lên, hoặc có ý chê trách. Thí chủ rất khó chịu. Bí-sô đến nhận thức ăn rất xấu hổ, đem về chùa đặt chúng qua một bên, lạy sát chân Thế Tôn. Thông thường, Thế Tôn thăm hỏi người nhận thức ăn:

 

- Đại chúng dùng thức ăn có ngon và no đủ không?

 

Đáp:

 

- Đại đức! Thức ăn ngon đầy đủ nhưng thí chủ rất khó chịu.

 

Hỏi:

 

- Vì sao?

 

Họ kể lại sự việc.

 

Sau khi thọ trai, ra ngoài rửa chân xong, Thế Tôn vào phòng ngồi yên lặng đến chiều mới xuất định. Đến an tọa giữa đại chúng Bí-sô, Ngài hỏi Bí-sô đã múa:

 

- Với tâm ý nào mà ngươi múa trong nhà thí chủ vậy?

 

Đáp:

 

- Bạch Đại đức, với ý chê bai việc ấy và tâm trạo cử nên con múa.

 

Phật bảo các Bí-sô:

 

- Bí-sô nào múa men với tâm trạo cử bị tội vượt pháp. Nếu có ý chê bai việc kia, không phạm. Này các Bí-sô, những sự việc này đều do ăn uống gây ra tiếng động đưa đến lỗi như vậy. Thế nên Bí-sô không nên ăn uống có tiếng; ai vi phạm bị tội vượt pháp.

 

Sau khi Phật chế định, có người với tín tâm đem bánh khô, củ, mía đến cúng. Thấy Bí-sô không dám nhận, họ nói:

 

- Thánh giả! Khi Phật chưa xuất thế, chúng con đều lấy ngoại đạo làm phước điền.

 

Khi Thế Tôn xuất thế, chúng con lấy các vị làm phước điền cao thượng nhất. Chúng con có chút ít vật nhỏ mọn đem đến cúng dường mà các vị đều không nhận, lẽ nào làm cho chúng con không có tư lương trên đường đi sang đời sau hay sao? Lại như Đức Phật dạy:

 

- Bố thí phải đúng lúc, đây chính là lương thực mới và các trái cây vừa chín, trước đem dâng cúng các vị có giới đức đầy đủ, sau đó tự dùng, để được phước vô cùng. Cầu mong quý ngài từ bi thu nhận cho chúng con.

 

Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Nên thu nhận những vật cúng dường này, bánh khô cùng canh cơm trộn nhau ăn, củ và mía chẻ nhỏ ra ăn để không có tiếng.

 

* Duyên xứ như trước. Có trưởng giả thỉnh Phật và Tăng đến nhà thọ trai. Các Bí-sô không đến cùng lúc mà đi riêng với bạn nên khi vào nhà ấy rồi, họ phải chờ người khác. Mọi người chưa đến hết, họ lại bảo chủ nhà:

 

- Hãy dọn thức ăn để chúng tôi dùng trước.

 

Sau khi ăn no, họ đi rồi lại có người khác đến và bảo dọn ăn. Tuần tự như vậy làm cho chủ nhà rất mệt nhọc, bảo:

 

- Thánh giả hãy ngồi chờ đến một lúc, con dọn ăn từng nhóm rất phiền phức.

 

Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Khi thọ thỉnh của người khác, không được đi lộn xộn, ai đi trước đến cửa nhà họ, phải chờ nhau cùng vào một lượt. Ai đi tùy tiện bị tội vượt pháp.

 

Như Thế Tôn dạy không được đi tùy tiện, có Bí-sô bệnh, thị giả chờ ăn xong mới đem thức ăn về. Vì chờ đợi thức ăn nên vị này suy kiệt. Bí-sô bạch phật. Phật dạy:

 

- Có năm trường hợp được đến ăn trước và ăn trong phòng. Năm trường hợp ấy là:

 

    1. Khách mới đến.

    2. Người sắp đi xa.

    3. Người bệnh.

    4. Người nuôi bệnh.

    5. Bận làm tri sự.

 

* Duyên xứ như trước. Trưởng giả kia giàu sang nhiều tài sản, rất có tín tâm thỉnh Phật và Tăng đến nhà cúng dường. Thế Tôn không đi vì năm lý do như nói ở trước, hiện nay vì chế giới. Sau khi thọ trai, các Bí-sô muốn về chùa nhưng bản ý chủ nhà muốn nghe pháp, không có một Bí-sô nào thuyết cả, làm cho họ chê trách. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Họ chê trách hợp lý, thế nên thọ trai xong các Bí-sô không được về chùa ngay mà nên thuyết pháp cho họ. Ai trở về chùa ngay, bị tội vượt pháp.

 

Phật bảo thuyết pháp, các Bí-sô không biết ai nên thuyết pháp. Phật dạy:

 

- Nên khiến thượng tọa thuyết pháp cho họ. Nếu vị ấy không thuyết được thì khiến vị thứ hai. Nếu cũng không được thì sai vị thứ ba. Nếu vị này không làm được thì tuần tự sai nhau hoặc dự bị thỉnh trước người có khả năng.

 

* Duyên xứ như trước. Có một trưởng giả với tín tâm, thường xuyên đến rừng Thệ Đa để nghe chánh pháp. Một hôm, ông ta thỉnh Phật và Tăng đến nhà thọ trai. Bí-sô đều đi, Phật ở lại chùa vì có năm lý do như nói ở trước, đây là chế giới. Phật không thân hành đi, sai người lấy thức ăn. Như Thế tôn dạy:

 

- Sau khi thọ trai, thí chủ thích nghe pháp nên thuyết cho họ.

 

Do đó, đại chúng sai một người ở lại thuyết pháp còn tất cả ra về. Khi ấy, thí chủquyến thuộc đều đến một nơi tạo thành khung cảnh rất uy nghiêm để cùng nghe giáo pháp. Họ thỉnh:

 

- Thưa thánh giả!û Xin thuyết pháp cho chúng con.

 

Thấy uy lực lớn của họ như vậy, Bí-sô sinh tâm sợ sệt nên không thể thuyết pháp được. Trưởng giả suy nghĩ: "Có nhiều thân thuộc của ta quá, Bí-sô e sợ nên không thể nói pháp vậy ta nên thuyết".

 

Trưởng giả thưa:

 

    - Thánh giả, như Thế Tôn dạy:

    Bố thí được giàu to,

    Trì giới được sinh thiên,

    Tu tập đoạn phiền não,

    Đây là pháp nên theo.

 

Nghe nói như vậy, Bí-sô ấy không biết nói gì đáp lại đành về chùa. Về đến chùa, các Bí-sô hỏi:

 

- Cụ thọ ở lại đó có thuyết pháp không?

 

Đáp:

 

- Các cụ thọ để một mình tôi ở lại không có bạn hỗ trợ, thân tộc thí chủ cùng tập trung đến rất uy nghiêm làm cho tôi sợ sệt không thể thuyết pháp được. Thấy tôi run sợ, thí chủ lại vì tôi tuyên dương diệu pháp.

 

Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Lời nói của Bí-sô ấy là hợp lý. Thế nên không được sai người thuyết pháp một mình. Từ nay về sau, nên sai bốn Bí-sô làm bạn với người thuyết pháp.

 

* Duyên xứ tại thành Vương Xá. Như Thế Tôn dạy, nên cho bốn người làm bạn với Bí-sô thuyết pháp. Có nơi mời thỉnh, Tăng sai Bí-sô thuyết pháp và bốn người làm bạn. Bấy giờ, Bí-sô làm bạn có duyên sự đi ra ngoài, đều không báo cho biết nên khi đến giờ thuyết pháp thì lỡ việc. Họ đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

 

- Những Bí-sô làm bạn với người thuyết pháp khi muốn đi ra chỗ khác nên thưa rồi mới đi. Nếu ai không thưa, bị tội vượt pháp.

 

 

 

Nhiếp tụng tám trong biệt môn tám:

 

    Tả dược xỉ hữu độc,

    Quát thiệt bí ưng tẩy,

    Do kỳ tội nghiệp tận,

    Chứng đắc A-la-hán.

 

* Duyên xứ tại thành Thất La Phiệt. Có một Bà-la-môn lấy vợ chưa lâu, sinh được một trai. Vừa khôn lớn, cậu ta xuất gia trong pháp luật toàn thiện. Một hôm bị bệnh, vị này đến y sĩ, bảo:

 

- Hiền thủ! Tôi bị bệnh, xin chữa trị cho.

 

Đáp:

 

- Thánh giả! Ngài nên dùng thuốc tả dược như vậy sẽ hết bệnh.

 

Sau khi dùng thuốc, Bí-sô bị kiết lỵ, dùng nước lạnh tẩy tịnh nên thuốc không tác dụng. Y sĩ đến hỏi:

 

- Thánh giả, thuốc tả dược có tốt không?

 

Đáp:

 

- Thuốc không tác dụng lại bị kiết lỵ.

 

Hỏi:

 

- Thánh giả dùng nước lạnh tẩy tịnh phải không?

 

Đáp:

 

- Đúng vậy.

 

Y sĩ nói:

 

- Dùng nước lạnh tẩy tịnh sao lại không chuyển sang kiết lỵ, ngài nên dùng thuốc tả dược như trước nhưng không tẩy tịnh. Sau khi hết bệnh mới tẩy tịnh.

 

Đáp:

 

- Hiền thủ, Phật chưa cho phép.

 

Y sĩ:

 

- Thánh giả! Phép dùng thuốc là như vậy không được làm khác.

 

Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Nếu như vậy, Ta cho phép khi bị tả lỵ chưa hết, nên lau cho sạch.

 

Bí-sô không biết lau bằng vật gì, Phật dạy:

 

- Nên dùng đất cục, lá cây, giẻ rách hay giấy cũ để lau cho sạch, đợi khi hết bệnh dùng nước nóng tẩy tịnh.

 

* Duyên xứ như trước. Trong rừng kia có con rắn độc. Những trẻ mục đồng phóng lửa đốt rừng. Lửa cháy bốn bề, rắn kinh hoàng lăn lộn bò trên lửa chạy ra nên sống sót, đến nằm cuộn dưới cây đại thọ.

 

Du hành nhân gian đến dưới gốc cây, cụ thọ Xá Lợi Tử thấy rắn độc này bị lửa đốt thân cháy xém lở lói chịu nhiều đau khổ, nên ngài quán sát nhân duyên đời trước của nó có thiện căn không. Sau khi quán sát, tôn giả biết có thiện căn. Tôn giả lại quán sát xem nó có tương quan với ai, thì biết thấy đời trước nó có tương quan với mình nên dùng nước rưới lên và nói ba câu pháp. Tôn giả bảo:

 

- Hiền thủ nên biết, các hành vô thường, các pháp vô ngã, niết-bàn tịch diệt, nên sinh tâm niệm ân cần thanh tịnh với ta, bỏ thân bàng sinh để sinh lên cõi thiện.

 

Nói xong, tôn giả lại lên đường.

 

Khi ấy có chim thứu đến bắt lấy rắn ăn. Rắn độc này nhờ có thiện tâm đối với tôn giả nên sau khi qua đời sinh vào gia đình Bà-la-môn giỏi về sáu việc.

 

(nguyên chú: 1. Tự biết tổ chức lễ hội. 2. Dạy người tổ chức. 3. Giỏi biết đọc tụng. 4. Biết pháp xả thí. 5. Biết pháp nhận vật. 6. Biết rõ việc tiếp xúc tịnh).

 

Biết rắn đã chết, cụ thọ Xá Lợi Tử quán sát xem sinh về đâu, thấy nó thọ sinh vào gia đình Bà-la-môn thông thạo sáu việc ở thành Thất La Phiệt. Để hóa độ nó, tôn giả thường đến nhà Bà-la-môn ấy, truyền tam quy ngũ giới cho hai vợ chồng. Một hôm, thấy tôn giả đi một mình đến nhà, Bà-la-môn hỏi:

 

- Thánh giả không có thị giả hay sao?

 

Đáp:

 

- Thị giả của tôi, chẳng phải sinh ở chỗ nhà cỏ mà nhờ từ nhà ngài.

 

Bà-la-môn nói:

 

- Con chưa có con nhỏ làm thị giả được. Vợ con đang mang thai, nếu sinh con trai sẽ dâng cho ngài làm thị giả.

 

Sau khi chúc phúc:

 

- Chúc ngài an lạc, tôi đồng ý. Tôn giả từ giã.

 

Đủ tháng, người phụ nữ ấy sinh một bé trai. Khi bú sữa, nó cắn cào làm vú mẹ sưng to. Chơi đùa với các đồng tử khác, lúc tức giận nó dùng răng dùng móng cào cắn họ, gây vết thương lở lói rất lâu lành.

 

Biết thời điểm xuất gia của đồng tử đã đến, Xá Lợi Phất đến nhà ấy thuyết pháp cho cha mẹ nó. Thấy nó lân la đến, tôn giả suy nghĩ: "Đây là thị giả của ta phải không?".

 

Cha bảo với con:

 

- Khi con chưa sinh ra, cha đã hứa dâng con cho Thánh giả để làm thị giả, nay hãy theo ngài chớ có lưu luyến.

 

Đây là người mang thân sau cùng, đồng tử đứng nghiêm trang rất lâu nhìn kỹ mặt tôn giả rồi đi theo sau ngài.

 

Về đến chùa, tôn giả cho đồng tử xuất gia, đến thọ cận viên, dạy học theo giáo pháp. Một hôm, Bí-sô này dùng cây đánh răng, sau khi nạo lưỡi không rửa lại vứt bỏ. Ruồi đến đậu lên nạo lưỡi để ăn đều bị chết. Rắn mối đến ăn ruồi cũng bị chết. Mèo vàng đến ăn rắn mối cũng chết theo. Chó đến ăn mèo cùng bỏ mạng. Kiến đến ăn chất còn thừa lại đều bị chết. Bấy giờ, có một Bí-sô đứng bên cạnh, thấy rõ hết sự việc như vậy.

 

Đến sáng sớm mai, đến chỗ ấy để đánh răng, thấy chó ... bầy kiến chết chung một nơi, các Bí-sô rất ngạc nhiên về việc này nên bàn bạc nhau:

 

- Vì sao chó và kiến chết chung một chỗ.

 

Có người nói không biết, có người nói hãy truy tìm ai đã gây ra lỗi này. Khi ấy, Bí-sô kia bảo mọi người:

 

- Hôm qua, tôi thấy thiếu niên Bà-la-môn đêï tử của Xá Lợi Phất dùng cây đánh răng ở đây, sau khi nạo lưỡi không rửa mà vứt bỏ lại; vì vậy gây ra cái chết cho chúng.

 

Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

 

- Này các Bí-sô, nên biết trong loài người cũng còn mang độc như rắn không khác. Từ đây về sau khi dùng cây đánh răng, nạo lưỡi xong phải rửa sạch mới vứt bỏ đi; không rửa sạch mà bỏ bị tội vượt pháp.

 

Như Thế Tôn dạy:

 

- Sau khi dùng cây nạo lưỡi xong phải rửa sạch mới vứt bỏ, có những Bí-sô gặp lúc thiếu nước không biết phải làm thế nào. Phật dạy:

 

- Dùng tro đất chà sạch ở trên rồi vứt.

 

Một hôm, Bí-sô có mang độc trong người tự nhuộm y và phơi nắng cho khô. Đến thấy nhuộm y, cụ thọ Ô Ba Nan Đà hỏi:

 

- Cụ thọ, tôi muốn giúp đỡ.

 

Đáp:

 

- Lành thay, tùy ý đại đức.

 

Với tánh ưa làm việc ác, Ô Ba Nan Đà dùng y mới che trên y cũ đang phơi nắng, lại chuyển y còn ướt đang phơi phủ trên phần y khô. Vị kia nói:

 

- Đại đức đừng làm như vậy.

 

Vẫn như trước, đến ba lần Ô Ba Nan Đà cũng không chịu ngừng lại. Bí-sô ấy nỗi giận muốn bắt giữ lại. Ô Ba Nan Đà liền bỏ chạy và vị kia đuổi theo. Đến nơi, thấy họ đuổi nhau, Xá Lợi Tử bảo:

 

- Cụ thọ muốn làm việc gì vậy?

 

Do quá tức giận, vị kia cứ rượt theo mãi. Bị rượt quá gấp, Ô Ba Nan Đà bẻ cành cây dọa đánh nhưng vị kia vẫn rượt theo. Xá Lợi Phất phải dùng lời ôn hòa khuyên nhủ để vị kia không đuổi theo nữa. Nhờ vậy Ô Ba Nan Đà chạy đi xa. Còn đang tức giận, vị kia cắn lấy cành cây làm cho lá cây bị rơi rụng hết.

 

Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Với người như vậy, không nên quậy phá làm cho họ nỗi sân.

 

Như Thế Tôn dạy:

 

- Không nên quậy phá nhau làm cho nỗi sân, sau đó gặp lúc đến phiên làm tri sự, Ô Ba Nan Đà đến bảo Bí-sô có độc:

 

- Cụ thọ hãy làm việc như vậy.

 

Thấy đến bảo như vậy, vị kia lại rất tức giận. Bí-sô bạch Phật. Phật dạy:

 

- Đối với người mang độc như vậy mà trước đây có oán hận, không nên tự mình đi đến sai họ làm việc, nên sai người bên cạnh báo họ biết việc phải làm. Họ nghe sai nên làm, chớ để lỡ việc.

 

Bí-sô có độc kia tinh tấn tu tập không mỏi mệt, phá tan bánh xe năm cõi, đoạn trừ phiền não, chứng A-la-hán ... cho đến được trời người đều cung kính ... nói rộng như ở nơi khác.

 

Các Bí-sô thưa với tôn giả Xá Lợi Tử:

 

- Đệ tử tôn giả rất sân độc, người như vậy mà còn chứng quả A-la-hán thật là hy hữu.

 

Bấy giờ, tôn giả Xá Lợi Phất kể lại sự việc trước đây cho các Bí-sô biết.

 

Các Bí-sô đều có nghi ngờ, thưa với Thế Tôn:

 

- Đại đức! Bí-sô kia trước đây đã tạo nghiệp gì mà bỏ được thân rắn sinh làm người?

 

Phật dạy:

 

- Này các Bí-sô, vị ấy tự gây nghiệp, khi thành quả thục phải tự nhận lấy ... nói rộng như nơi khác, cho đến nói bài kệ:

 

    Giả sử qua trăm kiếp,

    Nghiệp đã làm không mất,

    Khi có đủ nhân duyên,

    Tự nhận lấy quả báo.

 

- Này các Bí-sô hãy chú ý nghe, trong Hiền Kiếp này khi loài người thọ hai vạn tuổi. Có đức Phật Ca Nhiếp Ba Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác đầy đủ mười hiệu xuất hiện ở đời, trú ở Bà La Ny Tư, Tiên nhân đọa xứ, trong vườn Thi Lộc.

 

Khi ấy, Bí-sô có độc này xuất gia trong pháp của Phật ấy, thường tu tập quán từ bi. Thấy vậy, các Bí-sô thường gọi từ-quán, từ-quán ...

 

Vị ấy nói:

 

- Các vị đừng gọi tôi là Từ Quán, Từ Quán nữa!

 

Ngăn đến ba lần nhưng các Bí-sô vẫn không ngừng gọi. Quá tức giận các Bí-sô, vị này nói ra lời ác:

 

- Ta là Từ Quán còn ngươi là rắn độc trong loài người.

 

Phật dạy:

 

- Các Bí-sô nghĩ thế nào? Người xuất gia tu tập từ bi quán trong chánh pháp của đức Ca Nhiếp Ba Như Lai nào phải ai xa lạ, chính là Bí-sô này. Do đời trước, vị ấy tức giận nói ra lời ác với Thanh văn đệ tử của Phật nên thường sinh làm rắn độc trong năm trăm đời, nhờ năng lực còn lại của nghiệp khác nên được sinh làm người, chịu quả báo ác độc. Đời trước, vị ấy tạo các thiện nghiệp do đọc tụng tu tập các giới phẩm, đối với uẩn, xứ, giới, duyên khởi, xứ, phi xứ, được thông suốt, nhờ thiện căn này nên được xuất gia trong pháp của Ta, đoạn trừ các phiền não, chứng quả A-la-hán.

 

- Này các Bí-sô, do nhân duyên này, Ta thường tuyên bố nghiệp đen bị quả báo đen, nghiệp tạp bị quả báo tạp, nghiệp trắng được quả báo trắng.

 

- Này các Bí-sô, nên tu tập nghiệp trắng từ bỏ nghiệp đen, nghiệp tạp.

 

Các Bí-sô nghe lời Phật dạy, tâm rất hoan hỷ đảnh lễ sát chân Phật phụng hành rồi từ giã.

 

 

 

Nhiếp tụng chín trong biệt môn tám:

 

    Tam y tùy sự trước,

    Lan-nhã pháp ưng tri,

    Dục thủ môn diệu hoa,

    Bất ưng trú phi xứ.

 

* Duyên xứ như trước. Ở trong chùa, các Bí-sô thường mặc y Tăng-già-chi. Khi quét dọn, dùng phân bò tráng nền, vào nhà xí, tiểu tiện, nhuộm y, tẩy cáu bẩn, đều xử dụng Tăng-già-chi làm các việc như y bảy điều, năm điều. Thấy vậy, có người bảo các Bí-sô:

 

- Các y này nếu không dùng khác nhau mà xử dụng tùy tiện thì không hợp lý.

 

Như Thế Tôn dạy:

 

- Tăng-già-chi là đại y lẽ nào được xử dụng làm việc khác.

 

Người khác nói:

 

- Lời cụ thọ nói rất hay, vậy hãy cùng nhau bạch Phật.

 

Phật dạy:

 

- Này các Bí-sô, cùng nhau ngăn cản như vậy là hợp lý. Tăng-già-chi là chủ trong các y, thế nên không được mặc tùy tiện, xử dụng làm việc.

 

Như Thế Tôn dạy:

 

- Không được tùy tiện mặc Tăng-già-chi.

 

Các Bí-sô không biết nên dùng vào chỗ nào. Phật dạy:

 

- Khi vào tụ lạc, đi khất thực, thọ thực, vào ăn trong chúng, lễ bái tháp, nghe Phật-pháp, nghe pháp suốt ngày đêm, lễ bái hai thầy và đồng phạm hạnh; những trường hợp này nên mặc đại-y. Y Ôn-đa-la-tăng-già nên mặc nơi sạch sẽ và các việc như ăn ... Y An Hằng Bà Sa tùy ý xử dụng, mặc bất cứ chỗ nào cũng không phạm.

 

* Duyên xứ như trước. Như Thế Tôn dạy:

 

- Nếu mặt trời đã mọc, các chim đều hót, nông phu canh tác ... như nói ở trước cho đến ... xa lìa chỗ huyên náo, ở nơi yên tịnh, chánh tâm chuyên tu tập thiền quán.

 

Bấy giờ, có Bí-sô ít học kém hiểu biết đến nơi vắng vẻ làm am cỏ, ngày đêm chuyên cần tư duy trừ khi khất thực. Những kẻ chăn bò đều biết rõ.

 

Có bọn giặc bị người khác làm hại, gây nhiều thương tổn lại thêm đói khát, chúng bàn nhau không biết phải đi đâu. Một tên bảo:

 

- Trong chỗ Lan-nhã kia có người Thích-tử, phàm Sa-môn tính ưa cất chứa, lại thêm từ bi, lòng không sợ hãi. Các bạn cùng nhau đi đến đó tất được thu hoạch.

 

Bọn giặc đều khen:

 

- Lời này thật hay, hãy cùng nhau đi tất có hy vọng.

 

Cả bọn cùng đi đến chỗ Lan-nhã. Thấy họ đêùn, Bí-sô chào đón lành thay. Bọn giặc không e sợ, ở lại một thời gian ngắn rồi bảo:

 

- Thánh giả! Chúng tôi lạnh cần lửa.

 

Đáp:

 

- Tôi ở Lan-nhã không có lửa để xin.

 

Họ lại hỏi:

 

- Thánh giả! Khát quá rất cần nước.

 

Bí-sô lại đáp:

 

- Không có.

 

Bọn giặc lại hỏi:

 

- Cần ít bột để đắp vết thương, xin vui lòng cho.

 

Bí-sô cũng đáp:

 

- Không có.

 

Bọn giặc lại hỏi:

 

- Thánh giả! Tôi cần vật cũ để bó vết thương.

 

Bí-sô đáp không có.

 

Họ lại xin dầu để thoa trên vết thương. Bí-sô cũng đáp không có.

 

Họ lại nói:

 

- Thánh giả, đói quá cần thức ăn.

 

Đáp:

 

- Không có.

 

Giặc lại hỏi:

 

- Hiện nay là lúc nào thuộc về tháng sao gì?

 

Bí-sô đáp:

 

- Tôi ở Lan-nhã, không rõ những việc ấy.

 

Trong nhóm có người trước đây biết Tăng-pháp nên tức giận nói:

 

- Thánh giả! Bỏ qua việc trước, tôi xin hỏi lại, ngài đắc A-la-hán, Bất-hoàn, Nhất-lai, Dự-lưu quả phải không?

 

Đáp:

 

- Tôi sống ở Lan-nhã.

 

Giặc nói:

 

- Gác việc ấy lại, xin hỏi thánh giả, ngài đắc Phi-tưởng-phi-phi-tưởng-xứ, Vô-sở-hữu-xứ, Thức-xứ, Không-xứ, Bốn tịnh lự phải không?

 

Bí-sô đáp:

 

- Tôi sống ở Lan-nhã.

 

Hỏi:

 

- Thánh giả! Ngài là vị Tam tạng trì Kinh, Luật, Luận phải không?

 

Bí-sô cũng đáp như trước.

 

Giặc hỏi:

 

- Thánh giả, ngài tên là gì?

 

Bí-sô cũng đáp như trước.

 

Hỏi:

 

- Đây là phương nào?

 

Bí-sô cũng đáp như trước. Những việc mà giặc hỏi, Bí-sô đều đáp là tôi ở Lan-nhã. Bọn giặc tức giận, bảo mọi người:

 

- Chúng ta tuy là giặc nhưng Bí-sô này là giặc lớn. Vì sao, chính tên mình mà ông ta cũng không biết, dối hiện uy nghi, lừa gạt người đời.

 

Bấy giờ bọn giặc đều tức giận nên cùng nhau đánh đập gây thương tích cho Bí-sô, y bát tích trượng đều hư nát chỉ còn mạng sống. Nữa đêm, bọn giặc bỏ ra đi. Bị nguy khốn này, sáng hôm sau Bí-sô mới về lại được rừng Thệ Đa. Thấy vậy, các Bí-sô hỏi:

 

- Cụ thọ! Vì sao thân hình tan tác đến như vậy?

 

Vị này kể lại sự việc trên. Các Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

 

- Ta sẽ chế các pháp hành cho Bí-sô ở Lan-nhã. Người ở Lan-nhã phải trữ nước lửa, tô dầu, bột và vải cũ, chừa lại một chút thức ăn, phải biết ngày giờ, thời tiết, phương hướng, thông thạo Kinh Luật Luận, cho đến tự biết tên họ mình. Bí-sô ở Lan-nhã nào không theo quy định này bị tội vượt pháp.

 

* Duyên xứ như trước. Có ngoại đạo tà mạng bị nhiễm bệnh nặng, đến gặp y sĩ để xin trị liệu. Y sĩ bảo:

 

- Nên làm phòng tắm rửa sạch thân thể thì có thể hết bệnh.

 

Đáp:

 

- Hiền thủ! Tôi có thể làm phòng tắm ở đâu được, chỉ tùy lúc đi lang thang khất thực để sống mà thôi.

 

Bảo:

 

- Thánh giả! Sa-môn Thích-tử tắm rửa mỗi nữa tháng ở phòng tắm, ngài có thể đến đó để tắm rửa.

 

Khi Bí-sô tắm, ngoại đạo ấy mặc áo đỏ đi vào bên trong phòng tắm mà không bị ngăn cảnmọi người tưởng nhầm là Bí-sô. Vội vã tắm rửa xong, ngoại đạo đi ra ngoài phơi nắng. Khi ấy, có Cầu-tịch đến chỗ vị ấy, nói:

 

- Ông lão đi tắm với tôi.

 

Nghe nói, ngoại đạo lắc đầu không muốn tắm nữa. Bị Cầu-tịch nắm tay kéo đi, ngoại đạo kêu lớn:

 

- Sa-môn Thích-tử đều không sạch sẽ, dùng tay bất tịnh chạm vào thân thể đã tắm sạch.

 

Hỏi:

 

- Ta là Sa-môn, ông là vật gì?

 

Đáp:

 

- Ta là ngoại đạo.

 

Cầu tịch nói với mọi người:

 

- Ai đưa ngoại đạo vào trong phòng tắm như vậy.

 

Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật dạy:

 

- Khi tắm rửa nên giữ kỹ cửa nẻo, thấy Bí-sô vào, nên hỏi tên họ.

 

Gặp người quen, họ cũng hỏi danh hiệu, Phật dạy:

 

- Không nên như vậy.

 

* Bấy giờ, Phật ở nước Kiều Tát La. Khi du hành nhân gian, Ngài đi đến tụ lạc tên Dục Lê và trú tại khu vườn cây ở đó. Trong thôn, có Bà-la-môn tên Diệu Hoa, được cấp đất đai rất nhiều, hưởng thụ vô số, thường được vua Thắng Quang dâng cúng.

 

Diệu Hoa có dạy một đệ tử thân cận tên Thọ-Sinh. Người này đa văn thông tuệ, biện luận lưu loát, cùng năm trăm người học tập các kinh điển bí yếu của Bà-la-môn.

 

Bấy giờ, Diệu Hoa nghe về Kiều Đáp Ma là con giòng họ Thích Ca từ bỏ sự nghiệp thế tục, cạo bỏ râu tóc mặc y ca-sa, với tâm chánh tín xuất gia, đã chứng Vô-thượng Chánh-đẳng Bồ-đề, có danh tiếng lớn vang khắp các nước, ai cũng đều biết, mười hiệu tròn sáng, trời người cung kính, tự mình giác ngộ không do thầy dạy:

 

- Sinh tử đã hết, phạm hạnh đã lập, không còn thọ thân sau, với tri kiến như thật diễn thuyết diệu pháp đầu, giữa, cuối đều thiện, văn nghĩa vi diệu, thuần nhất viên mãn, thanh tịnh phạm hạnh, hóa độ nhân gian trong nước Kiều Tát La, hiện nay đang đến đây trú ở trong vườn cây của tụ lạc Dục-Lê này. Ta đã từng đọc sách thượng cổ, ai thân thể trang nghiêm đầy đủ ba mươi hai tướng của bậc đại nhân, người ấy chỉ có hai sự nghiệp, nếu sống tại gia sẽ làm vua Chuyển Luân Vương dùng pháp hóa trị khắp bốn châu thiên hạ, bảy báu đầy đủ. Đó là:

 

- Luân-bảo, Tượng-bảo, Mã-bảo, Châu-bảo, Nữ-bảo, Chủ tàng thần bảo, Chủ binh thần bảo, đủ ngàn người con tướng mạo tuấn tú, có đại uy đức, dũng mãnh vô song, đến đâu cũng được mọi người quy phục, khắp cả bốn biển đều được cảm hóa, không có oán địch đao gậy đau khổ, chỉ dùng chánh pháp giáo hóa nhân dân. Nếu vị ấy xuất gia, như nói ở trên sẽ chứng đại bồ đề.

 

Nghe sự việc như vậy, Diệu Hoa bảo đệ tử Thọ Sinh:

 

- Con biết không, ta nghe Kiều Đáp Ma là con giòng họ Thích Ca từ bỏ sự nghiệp thế tục, cạo bỏ râu tóc mặc y ca-sa, với tâm chánh tín xuất gia ... nói đủ như trên cho đến nước Kiều Tát La, hiện nay đang đến đây trú ở trong vườn cây của tụ lạc Dục Lê này. Ta đã từng đọc sách thượng cổ, ai thân thể trang nghiêm đầy đủ ba mươi hai tướng của bậc đại nhân, người ấy chỉ có hai sự nghiệp, nếu sống tại gia sẽ làm vua Chuyển Luân Vương. Nếu vị ấy xuất gia sẽ thành Phật, danh tiếng vang khắp, nói đủ như trên. Con hãy đích thân đến xem xét tướng hảo theo lời đồn ấy là thật hay hư.

 

Thọ Sinh thưa:

 

- Xin vâng lời thầy dạy.

 

Người này cùng với các vị Bà-la-môn kỳ túc thông minh bác học đến gặp Thế Tôn. Đến nơi, đứng một bên Phật, các vị Bà-la-môn dùng các lời lẽ thăm hỏi Thế Tôn rồi ngồi ở trước. Thế tôn thuyết pháp vi diệu, chỉ dạy làm cho họ được lợi ích hoan hỷ. Khi Phật thuyết pháp, thanh niên Thọ Sinh mang giày da đi qua lại trước Phật, lâu lâu đứng lại nghe, lại hỏi ngang ngược, nói xong rồi bỏ đi, tỏ thái độ rất kiêu ngạo trước Thế tôn, lòng không e ngại với tâm chống cự lại, cho rằng mình thắng thế.

 

Thế Tôn bảo:

 

- Ngươi thông hiểu minh luận sao lại có hành động như vậy, đại Bà-la-môn mà nói lời bừa bãi.

 

Bà-la-môn nói giọng kiêu mạn:

 

- Này Kiều Đáp Ma, ta có lỗi gì?

 

Phật đáp:

 

- Khi Ta đang cùng với các vị đại nhânhọc thức đàm luận, ngươi mang giày da đi qua lại không ngừng, không biết lớn nhỏ, không có tâm cung kính, dùng lời nói bậy bạ để gây rối.

 

Người này nói:

 

- Này Kiều Đáp Ma! Theo pháp Bà-la-môn của ta, vừa đi vừa nói chuyện với người, đứng ngồi nằm ... đều có thể cùng nói chuyện, không lỗi gì cả. Các Sa-môn trọc đầu bị phiền não trói buộc không sinh trai gái, ta dùng lời nói tầm thường để đàm luận, nào có lỗi gì?

 

Phật nói:

 

- Ngươi có việc cần nên đến gặp Ta, nhưng ngươi chưa được bậc tôn trưởng dạy bảo.

 

Nghe nói như vậy, tức giận nỗi lên không thể nhịn được, Thọ Sinh muốn cật vấn đức Phật, nên nói:

 

- Này Kiều Đáp Ma! Những người thuộc họ Thích Ca như voi hoang dã, nên đối với Bà-la-môn không biết cách cung kính cúng dường tôn trọng.

 

Phật hỏi:

 

- Này Thọ-sinh, các Thích Ca tử có lỗi gì mà ngươi nói lời như vậy.

 

Đáp:

 

- Này Kiều Đáp Ma! Trước đây vì việc của thầy và chuyện riêng nên tôi có đến thành Kiếp Tỷ La.

 

Những người nam nữ họ Thích ở trên lầu, thấy tôi vào thành đang đi trên đường, họ chỉ chỏ nói với nhau:

 

- Đây là thanh niên Thọ Sinh, đệ tử của Bà-la-môn Diệu Hoa. Bọn họ chỉ biết chỉ chỏ chứ không có tâm ý cung kính.

 

Phật nói:

 

- Này thanh niên, như chim trăm-lưỡi hót được nhiều tiếng, ở trong tổ mình mặc sức hót vang. Những người họ Thích đang ở địa phương của mình nên tùy ý đàm luận nào có lỗi gì.

 

Thưa:

 

- Này Kiều Đáp Ma! Trong thế gian chỉ có bốn đẳng cấp lớn. Đó là Bà-la-môn, Sát-lị, Bích-xá, Miệt-đạt-la. Những người này đều tôn trọng cúng dường tôn kính các Bà-la-môn. Chỉ riêng họ Thích Ca không có sự việc này.

 

Khi ấy, Thế tôn suy nghĩ: "Thanh niên này đem giòng họ Thích sánh như voi hoang, thật là sự hủy nhục thái quá. Ta nên nói về nhân duyên nguồn gốc chủng tộc từ quá khứ để chấm dứt tâm kiêu mạn của nó".

 

Sau khi suy nghĩ như vậy, Thế Tôn thấy tổ tiên của thanh niên này trong thời trước do nô tỳ giòng họ Thích Ca sinh ra. Thích Ca tử là hạng chủ của anh ta, nên hỏi:

 

- Ngươi họ gì?

 

Đáp:

 

- Này Kiều Đáp Ma! Tôi họ Tiễn-đạo.

 

Phật bảo:

 

- Này thanh niên, Ta thấy tổ phụ đời trước của ngươi do nô tỳ của họ Thích Ca sinh ra. Hiện nay các Thích Ca tử hạng chủ của ngươi.

 

Khi ấy, các vị kỳ túc Bà-la-môn khác cùng thưa với Phật:

 

- Này Kiều Đáp Ma! Chớ nói Thọ Sinh do nô tỳ sinh ra. Vì sao? Thọ Sinh này đa văn thông tuệ biện luận lưu loát có thể cùng Kiều Đáp Ma y cứ chánh pháp luận nghị ngược xuôi.

 

Phật bảo Bà-la-môn:

 

- Nếu nói Tho Sinh đa văn nhiều trí tuệ có thể tranh luận, các vị hãy im lặng để anh ta đàm luận. Nếu không thể nói được thì anh ta im lặng để các vị trả lời.

 

Các Bà-la-môn nói:

 

- Thọ Sinh nhiều trí tuệ có thể biện luận cùng Kiều Đáp Ma, chúng ta hãy im lặng.

 

Khi ấy, Thế Tôn bảo Thọ Sinh:

 

- Ngày xưa, có vua tên Cam Giá sinh bốn con trai là Cự Khẩu, Lư Nhĩ, Tượng Kiên, Túc Xuyến. Vì có lỗi nên bốn người con này đều bị đuổi. Họ đều đem theo em gái mình đi theo về phương khác, đến bên bờ sông cạnh núi Tuyết-sơn là nơi trước kia vị tiên Kiếp Tỷ La trú ngụ. Cách đó không xa, họ làm nhà cỏ để tạm trú. Sau đó, họ bỏ em gái ruột của mình ra, lấy em gái khác mẹ để làm vợ và sinh trai gái.

 

Bấy giờ, vua Cam Giá nhớ đến các con mình, bảo với đại thần:

 

- Con ta đang ở đâu?

 

Tâu:

 

- Đại vương, trước đây có việc nên họ bị đại vương đuổi đi ... cho đến hiện nay đã có trai gái.

 

Vua bảo đại thần:

 

- Con ta có khả năng làm nên việc như vậy hay sao?

 

Đáp:

 

- Đúng vậy.

 

Nhà vua liền đứng dậy, đưa tay phải lên khen ngợi:

 

- Con ta có khả năng làm được sự việc như vậy; chuyện này chính do miệng đại thần nói ra. Nhân đó, chủng tộc ấy có hiệu là Thích Ca (dịch là khả-năng). Này thanh niên, ngươi có từng nghe thị tộc Thích Ca với sự việc như vậy hay không?

 

Đáp:

 

- Tôi có nghe.

 

Phật nói:

 

- Này thanh niên, vương gia Cam Giá có một nữ tỳ đẹp tên là Tri Phương với hình dáng xinh đẹp. Cô ta làm vợ một tiên nhân, sinh một con trai. Khi vừa sinh ra, bé trai này kêu lên:

 

- Đừng lau thân tôi, chờ tôi tắm rửa cho sạch nhơ bẩn đã.

 

Trong thời xưa ấy, mọi người đều kêu là quỷ Tiễn Đạo. Ngươi có từng nghe về chủng tộc này không?

 

Khi ấy, thanh niên này im lặng không đáp. - Thế Tôn hỏi đến ba lần nhưng anh ta vẫn im lặng. Bấy giờ, thần Kim Cương Thủ cầm chùy kim cương đang ở trên đầu anh ta, phóng ra lửa cháy ánh sáng rực rỡ, bảo:

 

- Này thanh niên, khi đức Phật hỏi ba lần, ngươi không chịu đáp vì tâm dối trá, ta sẽ dùng chùy kim cương đập đầu ngươi vỡ làm bảy phần.

 

Do uy lực của Phật khiến cho thanh niên thấy thần Kim Cương nên rất kinh hãi lông toàn thân dựng lên, thưa với Phật:

 

- Này Kiều Đáp Ma! Trước đây, tôi nghe có chủng tộc như vậy.

 

Các vị kỳ túc Bà-la-môn nói:

 

- Đúng như lời Kiều Đáp Ma nói, chúng tôi đều tin rằng chủng tộc của Thọ Sinh đầu tiên là con của nô tỳ.

 

Khi nghe họ nói là con nô tỳ, thanh niên này buồn bã, cúi đầu im lặng không thể nói gì được.

 

Thấy như vậy, Thế Tôn suy nghĩ:

 

- Ta nên an ủi Thọ Sinh cho anh ta hết buồn rầu.

 

Thế Tôn thuyết giảng vô số nhân duyên, vô số thí dụ làm cho anh ta chấm dứt tâm kiêu mạn, không còn ưu buồn, rồi bảo:

 

- Này thanh niên, hãy gát việc ấy qua một bên, ngươi đến đây với ý gì hãy làm đi.

 

Thọ Sinh liền quán sát ba mươi hai tướng của thân Phật, chỉ thấy ba mươi tướng, còn hai tướng âm tướng và tướng lưỡi vì chưa thấy, nên phân vân nói kệ hỏi:

 

    Xưa nghe Đại Mâu Ny

    Đủ ba-hai tướng tốt,

    Con quán sát thân Phật,

    Thiếu hai tướng trên thân.

    Chưa thấy, Nhân-trung-tôn

    Tướng kín ẩn trong thân,

    Và lưỡi đẹp rộng dài,

    Trong miệng, không ai biết,

    Cầu xin Ngài hiện tướng,

    Cho con hết nghi ngờ.

    Chánh-giác Đại danh văn,

    Người đời khó thấy được.

 

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ

 

TỲ-NẠI-DA TẠP SỰ

 

Quyển thứ ba mươi bốn hết.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 1301)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(Xem: 1350)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 1507)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 1439)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 2094)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 1827)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 1796)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 2102)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 2548)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 3114)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 1984)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 2835)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 2678)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 4562)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 2890)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 3192)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2354)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 2977)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 2563)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 3124)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2355)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 2723)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 3060)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 3095)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 3977)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 3517)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 3502)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 4021)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 3394)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 3022)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(Xem: 3900)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 4595)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 3541)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 5932)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 5875)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(Xem: 4010)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 19945)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3435)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 6812)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4311)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 4172)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 3736)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4055)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 5482)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4253)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 3921)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 3987)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 4082)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 4809)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 3609)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 4897)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 4863)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 6508)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 4708)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
(Xem: 5547)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4418)
Thưa Tôn giả Gotama, những ngày về trước, những ngày về trước nữa, rất nhiều Sa-môn, Bà-la-môn là du sĩ ngoại đạo ngồi...
(Xem: 4772)
Lời dạy của Đức Phật được kiết tập thành kinh điển và bảo lưu trong nhiều truyền thốngbộ phái Phật giáo.
(Xem: 16746)
Toàn bộ Đại Tạng Kinh tiếng Việt trên 203 tập đã dịch và in xong...
(Xem: 5358)
Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ngôi vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ...
(Xem: 5604)
Nếu thấy thân người nữ Cùng với vẻ diễm kiều Người ngu không biết rõ Vọng sinh ý dâm nhiễm.
Quảng Cáo Bảo Trợ