Logo Hanh Huong
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
13,782,784
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Kinh Bát Đại Nhân Giác Dịch Việt Và Chú

13 Tháng Sáu 201507:40(Xem: 6711)
Kinh Bát Đại Nhân Giác Dịch Việt Và Chú

PHẬT THUYẾT KINH BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC[1]

佛說八大人覺經
********

Đời Hậu Hán nước An-tức Tam tạng Pháp sư An Thế Cao[2] soạn dịch

Phước Nguyên dịch Việt và chú thích.

Kinh Bát Đại Nhân Giác Dịch Việt Và Chú

đệ tử Phật, ngày cũng như đêm, thường xuyên chí thành, hết lòng trì tụng, quán niệm khắc ghi, tám điều giác ngộ, của bậc Đại nhân.

Điều thứ nhất giác ngộ[3]:

Thế gian vô thường[4], quốc độ nguy hiểm, mỏng manh không bền.

Bốn đại[5] chủng tự tánh vốn rỗng không[6] và gây ra khổ đau[7].

Năm ấm[8] vô ngã[9], sinh diệt biến đổi, không khi nào ngừng

giả dối không có chủ thể cố định.

Tâm là cội nguồn của điều ác;

Thân là đầm lớn của tội lỗi

Quán sát như thế, thoát dần sinh tử.

Điều thứ hai giác ngộ[10] :

Tham muốn nhiều là khổ đau.

Sống chết cực nhọc,

Đều từ tham muốnsinh khởi

Ít muốn và dính mắc,

Thì không tạo tác[11].

Thân và tâm sẽ thành đạt sự tự tại[12].

Điều thứ ba giác ngộ[13]:

Tâm không biết vừa đủchán ngán[14]

Mà chỉ luôn tham cầu được nhiều

Nên làm phát sinh và gia tăng tội ác.

Bậc Bồ-tát[15] phải luôn luôn, không được giống như vậy.

Thường xuyên nhớ nghĩ đến sự biết đủ.

An nhàn, thanh bần, giữ gìn đạo hành

Chỉ lấy Tuệ giác, để làm sự nghiệp!

Điều thứ tư giác ngộ[16]:

Lười biếng lơ đễnh, tất sẽ đưa đến đọa - lạc.

Nên phải thường xuyên, hành trì tinh tấn.

Để phá tan phiền não ác nghiệt xấu xa

Bẽ gãy hàng phục bốn loại ác ma,

Để vượt thoát ra khỏi ngục tù của ấm[17] và giới.

Điều thứ năm giác ngộ[18]:

Mê lầm ngu si[19] chính là cội gốc sinh tử

Cho nên bậc Bồ-tát,

Phải thường xuyên, nhớ nghĩ khắc ghi:

Học rộng nghe nhiều, tăng trưởng Tuệ giác,

Thành tựu biện tài, ngõ hầu giáo hóa hết thảy

Đều đạt được an vui vĩ đại.

Điều thứ sáu giác ngộ[20]:

Khốn cùng nghèo khổ, thì nhiều oán giận

Và hay bị trói buộc bởi ác duyên ngang trái

Bồ-tát bố thí[21] suy nghĩ nhớ ghi

Kẻ oán người thân bình đẳng không khác

Không nhớ nghĩ điều ác cũ và không ghét người xấu ác.

Điều thứ bảy giác ngộ[22]:

Năm thứ dục lạc[23]tội lỗitai họa.

Tuy làm người thế tục, nhưng không bị nhiễm dục lạc thế gian.

Thường nghĩ nhớ ba y[24], Bát đất[25]các loại pháp khí

Theo đuổi chí nguyện xuất gia[26]

Giữ đạo trong sạch, Phạm hành cao xa

Bủa lòng từ bi ra khắp tất cả.

Điều thứ tám giác ngộ[27]:

Sanh tử bùng cháy, cho nên khổ não vô lượng.

Vì thế tâm cần phải khởi hành trên cỗ xe vĩ đại[28].

Hóa độ cùng khắp hết thảy.

Nguyện thay thế chúng sinh,

Nhận lãnh vô số khổ não cùng cực.

Làm cho vạn loại chúng sinh

Cuối cùng thành tựu an vui vĩ đại.

Tổng kết 

Tám điều cơ sở[29] kể trên,

Là điều giác ngộ của Chư Phật[30],

Các vị Bồ tát và bậc Đại Nhân[31],

Các ngài đã từng tinh tấn hành đạo,

Tu tập từ bituệ giác.

Nương thuyền Pháp thân[32],

Mà lên bờ giác Niết-bàn[33],

Rồi trở lại cuộc sinh tử,

Hóa độ giải thoát chúng sinh;

Cũng lấy tám điều này,

Chỉ đường mở lối cho hết thảy,

Khiến cho mọi chúng sinh, giác ngộ được :

« Sinh tử là khổ đau»,

buông bỏ năm thứ dục thứ dục lạc,

Tu tập tâm theo con đường Thánh[34].

Nếu là đệ tử Phật,

Thì phải trì tụng tám điều này,

Thì ở trong mỗi ý niệm,

Tiêu diệt được vô lượng tội tỗi,

Tiến thẳng tức khắc[35] đến Tuệ giác,

Mau chóng thành đạt sự giác ngộ trực tiếp[36],

Vĩnh viễn đoạn trừ sanh tử,

Thường trụ an vui tịch tĩnh[37].

PHẬT THUYẾT KINH BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC

- HẾT-

*********

PL. 2559,

Thị Ngạn Am,

Dịch xong, đầu mùa Hạ An Cư năm Ất Mùi

Phước Nguyên.

 

 

THƯ MỤC THAM KHẢO ĐỐI CHIẾU

Các Tụng bản Hán ngữ trích dẫn theo Taishō Edition of Chinese Tripiṭaka 大正新脩大藏經 Đại chánh tân tu Đại tạng kinh, có đánh số trang, số tập ở phần cước chú. Dẫn: Đại/Đại chánh/ T (Taishō). Số trang ở phần cước chú theo đúng số trang Đại chánh.

*Hán bản:

Chánh bản:

Đại Tạng 17, No 0779, trang 0715b03, 佛說八大人覺經 Phật thuyết Bát Đại Nhân Giác Kinh, Hậu Hán, , Tam tạng An Thế Cao dịch.

Bản đối chiếu:

-                      Đại  Tạng 01, No 0026, trang 0540c19 八念經  Bát Niệm Kinh, thuộc Trung A-hàm, Phật-đà-da-xá dịch.

-                      Bản Việt, TT. Tuệ Sỹ dịch, Trung A-hàm, Kinh 74. Bát Niệm, Hương Tích ấn hành.

*Văn bản Pāli:

-                      Kinh Anuruddhamahāvitakkasuttaṃ, Thuộc bộ Aṅguttaranikāyo, Aṭṭhakanipātapāḷi, 3. Gahapativaggo.

-                      Kinh Anuruddhamahāvitakkasuttaṃ, Bản việt, TT. Minh Châu dịch, Tăng Chi Bộ Kinh, phẩm gia chủ, TT.ĐHVH ấn hành.

*Văn bản trích dẫn cước chú:

- Mahāsatipaṭṭhānasuttanta, No 9, p. 227,

- D 2 Satipaṭṭhānasūtta, No 10, p. 76, M 1.

- Abhidharmakośabhāyam of Vasubandhu, Ed., A. Thakur, Jayasṣal Research Institut, Patna, 1975.

- Dīghanikāyo Mahāvaggapāi 1. (14.) Mahāpadānasutta.

- Bồ Tát Bản Sanh Man Luận, Đại 3, tr. 344.

- Tạp A-hàm quyển 48, Đại 02, No. 0099, tr. 0355b02.

- Kinh Thánh Cầu, Trung Bộ I, ĐHVH, 1973.

- Thích thị yếu lãm, q. trung, Đại 54, tr. 279

- Kinh Đại Bản, Trường III, ĐHVH, 1972, tr. 28.

 

_________________________________________

 PHỤ LỤC 1

 NGUYÊN VĂN CHỮ HÁN

PHẬT THUYẾT KINH BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC

ĐẠI TẠNG KINH 17, SỐ 779

T17n0779_p0715b01(00)║
T17n0779_p0715b02(00)║ No. 779
T17n0779_p0715b03(00)║佛說八大人覺經
T17n0779_p0715b04(00)║
T17n0779_p0715b05(00)║ 後漢安息國三藏安世高譯
T17n0779_p0715b06(00)║為佛弟子,常於晝夜,至心誦念,八大人覺:
T17n0779_p0715b07(00)║第一覺悟:世間無常,國土危脆;四大苦空,
T17n0779_p0715b08(01)║五陰無我;生滅變異,虛偽無主;心是惡源,
T17n0779_p0715b09(02)║形為罪藪。如是觀察,漸離生死。
T17n0779_p0715b10(00)║第二覺知:多欲為苦,生死疲勞,從貪欲起;
T17n0779_p0715b11(01)║少欲無為,身心自在。
T17n0779_p0715b12(00)║第三覺知:心無厭足,唯得多求,增長罪惡;
T17n0779_p0715b13(01)║菩薩不爾,常念知足,安貧守道,唯慧是業。
T17n0779_p0715b14(00)║第四覺知:懈怠墜落;常行精進,破煩惱惡,
T17n0779_p0715b15(01)║摧伏四魔,出陰界獄。
T17n0779_p0715b16(00)║第五覺悟:愚癡生死。菩薩常念,廣學多聞,
T17n0779_p0715b17(01)║增長智慧,成就辯才,教化一切,悉以大樂。
T17n0779_p0715b18(00)║第六覺知:貧苦多怨,橫結惡緣。菩薩布施,
T17n0779_p0715b19(01)║等念冤親,不念舊惡,不憎惡人。
T17n0779_p0715b20(00)║第七覺悟:五欲過患。雖為俗人,不染世樂;
T17n0779_p0715b21(01)║念三衣,瓶缽法器;志願出家,守道清白;
T17n0779_p0715b22(03)║梵行高遠,慈悲一切。
T17n0779_p0715b23(00)║第八覺知:生死熾然,苦惱無量。發大乘心,
T17n0779_p0715b24(01)║普濟一切;願代眾生,受無量苦;令諸眾生,
T17n0779_p0715b25(02)║畢竟大樂。
T17n0779_p0715b26(00)║如此八事,乃是諸佛菩薩大人之所覺悟。
T17n0779_p0715b27(01)║精進行道,慈悲修慧,乘法身船,至涅槃岸;
T17n0779_p0715b28(02)║復還生死,度脫眾生。以前八事,開導一切,
T17n0779_p0715b29(03)║令諸眾生,覺生死苦,捨離五欲,修心聖道。 若佛弟子,
T17n0779_p0715c01(00)║誦此八事,於念念中,滅無量罪;進趣菩提,
T17n0779_p0715c02(01)║速登正覺;永斷生死,常住快樂。
T17n0779_p0715c03(00)║佛說八大人覺經

 


 

PHỤ LỤC 2

KINH VĂN TƯƠNG ĐƯƠNG ĐỐI CHIẾU

***

Kinh Anuruddhamahāvitakkasuttaṃ[38]

Thuộc bộ Aṅguttaranikāyo, Aṭṭhakanipātapāḷi, 3. Gahapativaggo.

30. Ekaṃ samayaṃ bhagavā bhaggesu viharati suṃsumāragire bhesakaḷāvane migadāye. Tena kho pana samayena āyasmā anuruddho cetīsu viharati pācīnavaṃsadāye. Atha kho āyasmato anuruddhassa rahogatassa paṭisallīnassa evaṃ cetaso parivitakko udapādi – ‘‘appicchassāyaṃ dhammo, nāyaṃ dhammo mahicchassa; santuṭṭhassāyaṃ dhammo, nāyaṃ dhammo asantuṭṭhassa; pavivittassāyaṃ dhammo, nāyaṃ dhammo saṅgaṇikārāmassa; āraddhavīriyassāyaṃ dhammo, nāyaṃ dhammo kusītassa; upaṭṭhitassatissāyaṃ[upaṭṭhitasatissāyaṃ (sī. syā. pī.)] dhammo, nāyaṃ dhammo muṭṭhassatissa [muṭṭhasatissa (sī. syā. pī.)]; samāhitassāyaṃ dhammo, nāyaṃ dhammo asamāhitassa; paññavato ayaṃ dhammo, nāyaṃ dhammo duppaññassā’’ti.

Atha kho bhagavā āyasmato anuruddhassa cetasā cetoparivitakkamaññāya – seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya; evamevaṃ – bhaggesu suṃsumāragire bhesakaḷāvane migadāye antarahito cetīsu pācīnavaṃsadāye āyasmato anuruddhassa sammukhe pāturahosi. Nisīdi bhagavā paññatte āsane. Āyasmāpi kho anuruddho bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ

Nisinnaṃ kho āyasmantaṃ anuruddhaṃ bhagavā etadavoca –

‘‘Sādhu sādhu, anuruddha! Sādhu kho tvaṃ, anuruddha, (yaṃ taṃ mahāpurisavitakkaṃ) [satta mahāpurisavitakke (sī. pī.) dī. ni. 3.358] vitakkesi – ‘appicchassāyaṃ dhammo, nāyaṃ dhammo mahicchassa; santuṭṭhassāyaṃ dhammo, nāyaṃ dhammo asantuṭṭhassa; pavivittassāyaṃ dhammo, nāyaṃ dhammo saṅgaṇikārāmassa; āraddhavīriyassāyaṃ dhammo, nāyaṃ dhammo kusītassa; upaṭṭhitassatissāyaṃ dhammo, nāyaṃ dhammo muṭṭhassatissa; samāhitassāyaṃ dhammo, nāyaṃ dhammo asamāhitassa; paññavato ayaṃ dhammo, nāyaṃ dhammo duppaññassā’ti. Tena hi tvaṃ, anuruddha, imampi aṭṭhamaṃ mahāpurisavitakkaṃ vitakkehi – ‘nippapañcārāmassāyaṃ dhammo nippapañcaratino, nāyaṃ dhammo papañcārāmassa papañcaratino’’’ti.

‘‘Yato kho tvaṃ, anuruddha, ime aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, tato tvaṃ, anuruddha, yāvadeva [yāvade (saṃ. ni. 2.152)] ākaṅkhissasi, vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharissasi.

‘‘Yato kho tvaṃ, anuruddha, ime aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, tato tvaṃ, anuruddha, yāvadeva ākaṅkhissasi, vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharissasi.

‘‘Yato kho tvaṃ, anuruddha, ime aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, tato tvaṃ, anuruddha, yāvadeva ākaṅkhissasi, pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharissasi sato ca sampajāno sukhañca kāyena paṭisaṃvedissasi yaṃ taṃ ariyā ācikkhanti – ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharissasi.

‘‘Yato kho tvaṃ, anuruddha, ime aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, tato tvaṃ, anuruddha, yāvadeva ākaṅkhissasi, sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharissasi.

‘‘Yato kho tvaṃ, anuruddha, ime ca aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, imesañca catunnaṃ jhānānaṃ ābhicetasikānaṃ diṭṭhadhammasukhavihārānaṃ nikāmalābhī bhavissasi akicchalābhī akasiralābhī, tato tuyhaṃ, anuruddha, seyyathāpi nāma gahapatissa vā gahapatiputtassa vā nānārattānaṃ dussānaṃ dussakaraṇḍako pūro; evamevaṃ te paṃsukūlacīvaraṃ khāyissati santuṭṭhassa viharato ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa.

‘‘Yato kho tvaṃ, anuruddha, ime ca aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, imesañca catunnaṃ jhānānaṃ ābhicetasikānaṃ diṭṭhadhammasukhavihārānaṃ nikāmalābhī bhavissasi akicchalābhī akasiralābhī, tato tuyhaṃ, anuruddha, seyyathāpi nāma gahapatissa vā gahapatiputtassa vā sālīnaṃ odano vicitakāḷako anekasūpo anekabyañjano; evamevaṃ te piṇḍiyālopabhojanaṃ khāyissati santuṭṭhassa viharato ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa.

‘‘Yato kho tvaṃ, anuruddha, ime ca aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, imesañca catunnaṃ jhānānaṃ ābhicetasikānaṃ diṭṭhadhammasukhavihārānaṃ nikāmalābhī bhavissasi akicchalābhī akasiralābhī, tato tuyhaṃ, anuruddha, seyyathāpi nāma gahapatissa vā gahapatiputtassa vā kūṭāgāraṃ ullittāvalittaṃ nivātaṃ phusitaggaḷaṃ pihitavātapānaṃ; evamevaṃ te rukkhamūlasenāsanaṃ khāyissati santuṭṭhassa viharato ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa.

‘‘Yato kho tvaṃ, anuruddha, ime ca aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, imesañca catunnaṃ jhānānaṃ ābhicetasikānaṃ diṭṭhadhammasukhavihārānaṃ nikāmalābhī bhavissasi akicchalābhī akasiralābhī, tato tuyhaṃ, anuruddha, seyyathāpi nāma gahapatissa vā gahapatiputtassa vā pallaṅko gonakatthato paṭikatthato paṭalikatthato kadalimigapavarapaccattharaṇo [kādali… paccattharaṇo (sī.)] sauttaracchado ubhatolohitakūpadhāno; evamevaṃ te tiṇasanthārakasayanāsanaṃ khāyissati santuṭṭhassa viharato ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa.

‘‘Yato kho tvaṃ, anuruddha, ime ca aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, imesañca catunnaṃ jhānānaṃ ābhicetasikānaṃ diṭṭhadhammasukhavihārānaṃ nikāmalābhī bhavissasi akicchalābhī akasiralābhī, tato tuyhaṃ, anuruddha, seyyathāpi nāma gahapatissa vā gahapatiputtassa vā nānābhesajjāni, seyyathidaṃ – sappi navanītaṃ telaṃ madhu phāṇitaṃ; evamevaṃ te pūtimuttabhesajjaṃ khāyissati santuṭṭhassa viharato ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa. Tena hi tvaṃ, anuruddha, āyatikampi vassāvāsaṃ idheva cetīsu pācīnavaṃsadāye vihareyyāsī’’ti. ‘‘Evaṃ, bhante’’ti kho āyasmā anuruddho bhagavato paccassosi.

Atha kho bhagavā āyasmantaṃ anuruddhaṃ iminā ovādena ovaditvā – seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya, evamevaṃ – cetīsu pācīnavaṃsadāye antarahito bhaggesu suṃsumāragire bhesakaḷāvane migadāye pāturahosīti. Nisīdi bhagavā paññatte āsane. Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi – ‘‘aṭṭha kho, bhikkhave, mahāpurisavitakke desessāmi, taṃ suṇātha…pe… katame ca, bhikkhave, aṭṭha mahāpurisavitakkā? Appicchassāyaṃ, bhikkhave, dhammo, nāyaṃ dhammo mahicchassa; santuṭṭhassāyaṃ, bhikkhave, dhammo, nāyaṃ dhammo asantuṭṭhassa; pavivittassāyaṃ, bhikkhave, dhammo, nāyaṃ dhammo saṅgaṇikārāmassa; āraddhavīriyassāyaṃ, bhikkhave, dhammo, nāyaṃ dhammo kusītassa; upaṭṭhitassatissāyaṃ, bhikkhave, dhammo, nāyaṃ dhammo muṭṭhassatissa; samāhitassāyaṃ, bhikkhave, dhammo, nāyaṃ dhammo asamāhitassa; paññavato ayaṃ, bhikkhave, dhammo, nāyaṃ dhammo duppaññassa; nippapañcārāmassāyaṃ, bhikkhave, dhammo nippapañcaratino, nāyaṃ dhammo papañcārāmassa papañcaratino’’.

‘‘‘Appicchassāyaṃ, bhikkhave, dhammo, nāyaṃ dhammo mahicchassā’ti, iti kho panetaṃ vuttaṃ. Kiñcetaṃ paṭicca vuttaṃ? Idha, bhikkhave, bhikkhu appiccho samāno ‘appicchoti maṃ jāneyyu’nti na icchati, santuṭṭho samāno ‘santuṭṭhoti maṃ jāneyyu’nti na icchati, pavivitto samāno ‘pavivittoti maṃ jāneyyu’nti na icchati, āraddhavīriyo samāno ‘āraddhavīriyoti maṃ jāneyyu’nti na icchati, upaṭṭhitassati samāno ‘upaṭṭhitassatīti maṃ jāneyyu’nti na icchati, samāhito samāno ‘samāhitoti maṃ jāneyyu’nti na icchati, paññavā samāno ‘paññavāti maṃ jāneyyu’nti na icchati, nippapañcārāmo samāno ‘nippapañcārāmoti maṃ jāneyyu’nti na icchati. ‘Appicchassāyaṃ, bhikkhave, dhammo, nāyaṃ dhammo mahicchassā’ti, iti yaṃ taṃ vuttaṃ idametaṃ paṭicca vuttaṃ.

‘‘‘Santuṭṭhassāyaṃ, bhikkhave, dhammo, nāyaṃ dhammo asantuṭṭhassā’ti, iti kho panetaṃ vuttaṃ, kiñcetaṃ paṭicca vuttaṃ? Idha, bhikkhave, bhikkhu santuṭṭho hoti itarītaracīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārena. ‘Santuṭṭhassāyaṃ, bhikkhave, dhammo, nāyaṃ dhammo asantuṭṭhassā’ti, iti yaṃ taṃ vuttaṃ idametaṃ paṭicca vuttaṃ.

‘‘‘Pavivittassāyaṃ, bhikkhave, dhammo, nāyaṃ dhammo saṅgaṇikārāmassā’ti, iti kho panetaṃ vuttaṃ, kiñcetaṃ paṭicca vuttaṃ? Idha, bhikkhave, bhikkhuno pavivittassa viharato bhavanti upasaṅkamitāro bhikkhū bhikkhuniyo upāsakā upāsikāyo rājāno rājamahāmattā titthiyā titthiyasāvakā. Tatra bhikkhu vivekaninnena cittena vivekapoṇena vivekapabbhārena vivekaṭṭhena nekkhammābhiratena aññadatthu uyyojanikapaṭisaṃyuttaṃyeva kathaṃ kattā [pavattā (ka.)] hoti. ‘Pavivittassāyaṃ, bhikkhave, dhammo, nāyaṃ dhammo saṅgaṇikārāmassā’ti, iti yaṃ taṃ vuttaṃ idametaṃ paṭicca vuttaṃ.

‘‘‘Āraddhavīriyassāyaṃ, bhikkhave, dhammo, nāyaṃ dhammo kusītassā’ti, iti kho panetaṃ vuttaṃ, kiñcetaṃ paṭicca vuttaṃ? Idha, bhikkhave, bhikkhu āraddhavīriyo viharati akusalānaṃ dhammānaṃ pahānāya kusalānaṃ dhammānaṃ upasampadāya thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu. ‘Āraddhavīriyassāyaṃ, bhikkhave, dhammo, nāyaṃ dhammo kusītassā’ti, iti yaṃ taṃ vuttaṃ idametaṃ paṭicca vuttaṃ.

‘‘‘Upaṭṭhitassatissāyaṃ, bhikkhave, dhammo, nāyaṃ dhammo muṭṭhassatissā’ti, iti kho panetaṃ vuttaṃ. Kiñcetaṃ paṭicca vuttaṃ? Idha, bhikkhave, bhikkhu satimā hoti paramena satinepakkena samannāgato, cirakatampi cirabhāsitampi saritā anussaritā. ‘Upaṭṭhitassatissāyaṃ, bhikkhave, dhammo, nāyaṃ dhammo, muṭṭhassatissā’ti, iti yaṃ taṃ vuttaṃ idametaṃ paṭicca vuttaṃ.

‘‘‘Samāhitassāyaṃ, bhikkhave, dhammo, nāyaṃ dhammo asamāhitassā’ti, iti kho panetaṃ vuttaṃ. Kiñcetaṃ paṭicca vuttaṃ? Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi…pe… catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. ‘Samāhitassāyaṃ, bhikkhave, dhammo, nāyaṃ dhammo asamāhitassā’ti, iti yaṃ taṃ vuttaṃ idametaṃ paṭicca vuttaṃ.

‘‘‘Paññavato ayaṃ, bhikkhave, dhammo, nāyaṃ dhammo duppaññassā’ti, iti kho panetaṃ vuttaṃ. Kiñcetaṃ paṭicca vuttaṃ? Idha, bhikkhave, bhikkhu paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā. ‘Paññavato ayaṃ, bhikkhave, dhammo, nāyaṃ dhammo duppaññassā’ti, iti yaṃ taṃ vuttaṃ idametaṃ paṭicca vuttaṃ.

‘‘‘Nippapañcārāmassāyaṃ, bhikkhave, dhammo nippapañcaratino, nāyaṃ dhammo papañcārāmassa papañcaratino’ti, iti kho panetaṃ vuttaṃ. Kiñcetaṃ paṭicca vuttaṃ? Idha, bhikkhave, bhikkhuno papañcanirodhe cittaṃ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati. ‘Nippapañcārāmassāyaṃ, bhikkhave, dhammo, nippapañcaratino, nāyaṃ dhammo papañcārāmassa papañcaratino’ti, iti yaṃ taṃ vuttaṃ idametaṃ paṭicca vutta’’nti.

Atha kho āyasmā anuruddho āyatikampi vassāvāsaṃ tattheva cetīsu pācīnavaṃsadāye vihāsi. Atha kho āyasmā anuruddho eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva – yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṃ pabbajanti, tadanuttaraṃ – brahmacariyapariyosānaṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi. ‘‘Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’’ti abbhaññāsi. Aññataro ca panāyasmā anuruddho arahataṃ ahosīti. Atha kho āyasmā anuruddho arahattappatto tāyaṃ velāyaṃ imā gāthāyo abhāsi –

[theragā. 901-903] ‘‘Mama saṅkappamaññāya, satthā loke anuttaro;

Manomayena kāyena, iddhiyā upasaṅkami.

‘‘Yathā me ahu saṅkappo, tato uttari desayi;

Nippapañcarato buddho, nippapañcaṃ adesayi.

‘‘Tassāhaṃ dhammamaññāya, vihāsiṃ sāsane rato;

Tisso vijjā anuppattā, kataṃ buddhassa sāsana’’nti. dasamaṃ;

Gahapativaggo tatiyo.

Tassuddānaṃ –

Dve uggā dve ca hatthakā, mahānāmena jīvako;

Dve balā akkhaṇā vuttā, anuruddhena te dasāti.

****

 

BÁT NIỆM KINH, TRUNG A HÀM

ĐẠI TẠNG KINH 1, SỐ 0026[39].

T01n0026_p0540c18(00)║ (七四)中阿含長壽王品

T01n0026_p0540c19(08)║ 八念經第三(第二小土城誦)

T01n0026_p0540c20(00)║我聞如是: 一時,佛遊婆奇瘦,

T01n0026_p0540c21(04)║在鼉山怖林鹿野園中。 爾時,

T01n0026_p0540c22(09)║尊者阿那律陀在枝提瘦水渚林中。彼時,

T01n0026_p0540c23(09)║尊者阿那律陀在安靜處燕坐思惟,心作是念:「道從無欲,

T01n0026_p0540c24(03)║非有欲得。道從知足,非無厭得。道從遠離,

T01n0026_p0540c25(03)║非樂聚會,非住聚會,非合聚會得。道從精勤,

T01n0026_p0540c26(02)║非懈怠得。道從正念,非邪念得。道從定意,

T01n0026_p0540c27(02)║非亂意得。道從智慧,非愚癡得。」 於是,

T01n0026_p0540c28(04)║世尊以他心智知尊者阿那律陀心中所念、所思、所行。

T01n0026_p0540c29(00)║世尊知已,即入如其像定,

T01n0026_p0541a01(06)║以如其像定猶若力士屈申臂頃,

T01n0026_p0541a02(08)║如是世尊從婆奇瘦鼉山怖林鹿野園中忽沒不現,

T01n0026_p0541a03(05)║住枝提瘦水渚林中尊者阿那律陀前。是時,

T01n0026_p0541a04(05)║世尊便從定覺,歎尊者阿那律陀曰:「善哉,善哉!

T01n0026_p0541a05(03)║阿那律陀!謂汝在安靜處燕坐思惟,心作是念:

T01n0026_p0541a06(02)║『道從無欲,非有欲得。道從知足,非無厭得。

T01n0026_p0541a07(01)║道從遠離,非樂聚會,非住聚會,非合聚會得。

T01n0026_p0541a08(00)║道從精勤,非懈怠得。道從正念,非邪念得。

T01n0026_p0541a09(00)║道從定意,非亂意得。道從智慧,

T01n0026_p0541a10(03)║非愚癡得。』 「阿那律陀!

T01n0026_p0541a11(11)║汝從如來更受第八大人之念,受已,便思道從不戲、樂不戲、行不戲,

T01n0026_p0541a12(01)║非戲、非樂戲、非行戲得。阿那律陀!

T01n0026_p0541a13(04)║若汝成就此大人八念者,汝必能離欲、

T01n0026_p0541a14(05)║離惡不善之法,至得第四禪成就遊。阿那律陀!

T01n0026_p0541a15(03)║若汝成就大人八念,而復得此四增上心,現法樂居,

T01n0026_p0541a16(00)║易不難得者,如王、王臣有好緘簏,

T01n0026_p0541a17(02)║盛滿種種衣,中前欲著,便取著之,中時、

T01n0026_p0541a18(03)║中後若欲著衣,便取著之,隨意自在。阿那律陀!

T01n0026_p0541a19(01)║汝亦如是,得糞掃衣為第一服,汝心無欲,

T01n0026_p0541a20(01)║行此住止行。 「阿那律陀!若汝成就大人八念,

T01n0026_p0541a21(00)║而復得此四增上心,現法樂居,易不難得者,

T01n0026_p0541a22(00)║如王、王臣有好廚宰,種種淨妙甘美餚膳。

T01n0026_p0541a23(01)║阿那律陀!汝亦如是,常行乞食為第一饌,

T01n0026_p0541a24(00)║汝心無欲,行此住止行。 「阿那律陀!

T01n0026_p0541a25(03)║若汝成就大人八念,而復得此四增上心,現法樂居,

T01n0026_p0541a26(00)║易不難得者,如王、王臣有好屋舍,

T01n0026_p0541a27(03)║或樓閣宮殿。阿那律陀!汝亦如是,

T01n0026_p0541a28(05)║依樹下止為第一舍,汝心無欲,行此住止行。 「阿那律陀!

T01n0026_p0541a29(00)║若汝成就大人八念,而復得此四增上心,

T01n0026_p0541b01(01)║現法樂居,易不難得者,如王、王臣有好床座,

T01n0026_p0541b02(00)║敷以氍氀、毾[毯-炎+登],覆以錦綺、羅縠,有襯體被,

T01n0026_p0541b03(00)║兩頭安枕,加陵伽波和邏、波遮悉哆羅那。

T01n0026_p0541b04(00)║阿那律陀!汝亦如是,草座葉座為第一座,

T01n0026_p0541b05(00)║汝心無欲,行此住止行。 「阿那律陀!

T01n0026_p0541b06(03)║若汝成就大人八念,而復得此四增上心,

T01n0026_p0541b07(03)║現法樂居,易不難得者,如是汝若遊東方,

T01n0026_p0541b08(03)║必得安樂,無眾苦患;若遊南方、西方、北方者,

T01n0026_p0541b09(02)║必得安樂,無眾苦患。 「阿那律陀!

T01n0026_p0541b10(06)║若汝成就大人八念,而復得此四增上心,現法樂居,

T01n0026_p0541b11(02)║易不難得者,我尚不說汝諸善法住,

T01n0026_p0541b12(03)║況說衰退?但當晝夜增長善法而不衰退。

T01n0026_p0541b13(04)║「阿那律陀!若汝成就大人八念,

T01n0026_p0541b14(07)║而復得此四增上心,現法樂居,易不難得者,

T01n0026_p0541b15(06)║汝於二果必得其一,或於現世得究竟智,

T01n0026_p0541b16(06)║或復有餘得阿那含。 「阿那律陀!汝當成就此大人八念,

T01n0026_p0541b17(01)║亦應得此四增上心,現法樂居,易不難得已,

T01n0026_p0541b18(00)║然後於枝提瘦水渚林中受夏坐也。」 爾時,

T01n0026_p0541b19(00)║世尊為尊者阿那律陀說法,勸發渴仰,

T01n0026_p0541b20(01)║成就歡喜,無量方便為彼說法,勸發渴仰。

T01n0026_p0541b21(01)║成就歡喜已,入如其像定,以如其像定,

T01n0026_p0541b22(02)║猶若力士屈申臂頃,

T01n0026_p0541b23(08)║如是世尊從枝提瘦水渚林中忽沒不見,

T01n0026_p0541b24(09)║住婆奇瘦鼉山怖林鹿野園中。 彼時,尊者阿難執拂侍佛。於是,

T01n0026_p0541b25(01)║世尊便從定覺,迴顧告曰:「阿難!

T01n0026_p0541b26(05)║若有比丘遊鼉山怖林鹿野園中者,

T01n0026_p0541b27(07)║令彼一切皆集講堂,集講堂已,還來白我。」

T01n0026_p0541b28(07)║ 尊者阿難受佛教已,稽首禮足,即行宣敕:

T01n0026_p0541b29(08)║「諸有比丘遊鼉山怖林鹿野園中者,令彼一切皆集講堂。」

T01n0026_p0541c01(01)║集講堂已,還詣佛所,頭面禮足,卻住一面,

T01n0026_p0541c02(01)║白曰:「世尊!

T01n0026_p0541c03(13)║諸有比丘遊鼉山怖林鹿野園中者,已令一切皆集講堂,

T01n0026_p0541c04(07)║唯願世尊自當知時。」 於是,世尊將尊者阿難往詣講堂,

T01n0026_p0541c05(02)║於比丘眾前敷座而坐,坐已,告曰:「諸比丘!

T01n0026_p0541c06(02)║我今為汝說大人八念,汝等諦聽,善思念之。」時,

T01n0026_p0541c07(00)║諸比丘受教而聽。 佛言:「大人八念者,

T01n0026_p0541c08(02)║謂道從無欲,非有欲得。道從知足,非無厭得。

T01n0026_p0541c09(01)║道從遠離,非樂聚會,非住聚會,

T01n0026_p0541c10(04)║非合聚會得。道從精勤,非懈怠得。道從正念,

T01n0026_p0541c11(03)║非邪念得。道從定意,非亂意得。道從智慧,

T01n0026_p0541c12(03)║非愚癡得。道從不戲、樂不戲、行不戲,非戲、非樂戲、

T01n0026_p0541c13(00)║非行戲得。 「云何道從無欲,

T01n0026_p0541c14(07)║非有欲得?謂比丘得無欲,自知得無欲,

T01n0026_p0541c15(07)║不令他人知我無欲,得知足、得遠離、得精勤、得正念、

T01n0026_p0541c16(02)║得定意、得智慧、得不戲;自知得不戲,

T01n0026_p0541c17(03)║不欲令他知我無欲,是謂道從無欲,非有欲得。

T01n0026_p0541c18(02)║「云何道從知足,非無厭得?謂比丘行知足,

T01n0026_p0541c19(01)║衣取覆形,食取充軀,是謂道從知足,

T01n0026_p0541c20(02)║非無厭得。 「云何道從遠離,非樂聚會,非住聚會,

T01n0026_p0541c21(00)║非合聚會得?謂比丘行遠離,成就二遠離,

T01n0026_p0541c22(00)║身及心俱遠離,是謂道從遠離,非樂聚會,

T01n0026_p0541c23(00)║非住聚會,非合聚會得。 「云何道從精勤,

T01n0026_p0541c24(01)║非懈怠得?謂比丘常行精進,斷惡不善,

T01n0026_p0541c25(02)║修諸善法,恒自起意,專一堅固,

T01n0026_p0541c26(06)║為諸善本不捨方便,是謂道從精勤,非懈怠得。

T01n0026_p0541c27(05)║「云何道從正念,非邪念得?謂比丘觀內身如身,

T01n0026_p0541c28(02)║觀內覺、心、法如法,是謂道從正念,非邪念得。

T01n0026_p0541c29(02)║「云何道從定意,非亂意得?謂比丘離欲、

T01n0026_p0542a01(02)║離惡不善之法,至得第四禪成就遊,

T01n0026_p0542a02(04)║是謂道從定意,非亂意得。 「云何道從智慧,

T01n0026_p0542a03(05)║非愚癡得?謂比丘修行智慧,觀興衰法,得如是智,

T01n0026_p0542a04(01)║聖慧明達,分別曉了,以正盡苦,

T01n0026_p0542a05(05)║是謂道從智慧,非愚癡得。 「云何道從不戲、樂不戲、

T01n0026_p0542a06(02)║行不戲,非戲、非樂戲、

T01n0026_p0542a07(11)║非行戲得?謂比丘意常滅戲,樂住無餘涅槃,心恒樂住,歡喜意解,

T01n0026_p0542a08(02)║是謂道從不戲、樂不戲、行不戲,非戲、非樂戲、

T01n0026_p0542a09(01)║非行戲得。 「諸比丘!

T01n0026_p0542a10(11)║阿那律陀比丘成就此大人八念已,然後枝提瘦水渚林中受夏坐也。

T01n0026_p0542a11(00)║我以此教彼在遠離獨住,心無放逸,

T01n0026_p0542a12(02)║修行精勤。彼在遠離獨住,心無放逸,

T01n0026_p0542a13(04)║修行精勤已,族姓子所為,剃除鬚髮,著袈裟衣,至信、

T01n0026_p0542a14(00)║捨家、無家、學道者,唯無上梵行訖,

T01n0026_p0542a15(04)║於現法中自知自覺,自作證成就遊,生已盡,梵行已立,

T01n0026_p0542a16(00)║所作已辦,不更受有,知如真。」 是時,

T01n0026_p0542a17(04)║尊者阿那律陀得阿羅呵,心正解脫,得長老上尊,

T01n0026_p0542a18(01)║則於爾時而說頌曰:

T01n0026_p0542a19(00)║「遙知我思念, 無上世間師,

T01n0026_p0542a20(00)║正身心入定, 乘虛忽來到。

T01n0026_p0542a21(00)║如我心所念, 為說而復過,

T01n0026_p0542a22(00)║諸佛樂不戲, 遠離一切戲。

T01n0026_p0542a23(00)║既從彼知法, 樂住正法中,

T01n0026_p0542a24(00)║逮得三昧達, 佛法作已辦。

T01n0026_p0542a25(00)║我不樂於死, 亦不願於生,

T01n0026_p0542a26(00)║隨時任所適, 立正念正智。

T01n0026_p0542a27(00)║鞞耶離竹林, 我壽在彼盡,

T01n0026_p0542a28(00)║當在竹林下, 無餘般涅槃。」

T01n0026_p0542a29(00)║佛說如是,尊者阿那律陀及諸比丘,

T01n0026_p0542b01(03)║聞佛所說,歡喜奉行。

T01n0026_p0542b02(00)║八念經第三竟(千九百五十四字)



[1] Đại 17, No 0779, tr. 0715b03: 佛說八大人覺經. Pāli tương đương : A.8.30. Anuruddha mahāvitakka sutta; Kinh Bát Niệm, T01n0026, tr. 0540c19. Cf. No.46, No.125 (43.6).

[2] An Thế Cao là con của vua nước An Tức, tên là Thanh, tự là Thế Cao, tên nước là An, nên gọi là An Thế Cao. Nghĩa là Thế Cao là người nước An Tức. Nước này nằm ở Ba Tư, nay là Iran. Damghan ngày nay là vương đô của An Tức ngày xưa. An Tức do vua Arsakes xây dựng vào năm 250 trước TL, nằm ở Tây Bắc Ấn Độ.

[3] Tu tập Tứ Niệm Xứ, thứ tự tương đương điều 5: Chánh niệm, Kinh Bát Niệm, Trung A-hàm, Đại 1 và  điều 5 Anuruddha mahāvitakka sutta. Trong Mahāsatipaṭṭhānasuttanta, No 9, P 227, D 2 (Cf.Satipaṭṭhānasūtta, No 10, P 76, M 1) chép: “Ekāyano aya, bhikkhave, maggo sattana visuddhiyā, soka- paridevāna samatikkamāya dukkha-domanassāna atthagamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya, yadida cattātro satipaṭṭhānā” : Này các Tỷ-kheo! Đây là con đường Nhất Thừa, dẫn chúng sanh đến sự thanh tịnh, vượt qua sầu não, tiêu diệt khổ ưu, thành tựu tuệ giác, chứng nhập Niết-bàn, đó là bốn niệm trụ.

[4] 無常Skt. Anitya; nityatā,Pāli. Anicca.

[5] Tứ đại 四大, Skt. catvāri mahā-bhūtāni,Pāli.  cattāri mahā-bhūtāni; 1. Địa Đại 地大(Skt.  pthivī dhātu, Pāli. pahavī-mahā-bhūta); 2. Thủy Đại水大(Skt.  ab-dhātu,Pāli. āpo-mahā-bhūta); 3. Hỏa Đại 火大 (Skt. tejo-dhātu,Pāli. tejo-mahā-bhūta); 4. Phong Đại 風大 (Skt. vāyu-dhātu,Pāli . vayo-mahā-bhūta).

[6] 空 Không: Tánh không, Pāli. Suññatā, Skt. Śūnyata.

[7] Khổ 苦, Pāli. Dukkha, skt. Duhïkha; Tiền tố từ là dus, duh, nghĩa là xấu, ác, có nguy hiểm cho, có hại cho, khó chịu, đau buồn, phiền muộn, tai họa...

[8] Ngũ Ấm 五陰, skt. pañca-skandha, Pāli. pañca-khandha: còn gọi là Ngũ Uẩn: Hán. 五蘊, Ngũ Chúng 五眾, Ngũ Tụ 五聚. Ấm 陰: che đậy,  Uẩn  蘊 Skt: skandha, Pāli: khandha, Hán phiên âm, Tắc Kiện Đà 塞健陀, dịch là tích tụ, loại biệt, tức là năm loại khác nhau về các pháp hữu vi. Còn; gồm: 1. Sắc 色, Skt., Pāli: rūpa; 2. Thọ 受, Skt., Pāli: vedanā; 3. Tưởng 想, Skt. sajñā, Pāli.saññā; 4. Hành 行; Skt. saskāra; Pāli. sakhāra; 5. Thức 識 Skt. Vijñāna, Pāli viññāa.

[9] Vô ngã, 無我 Pāli .Anattān; Skt. Nirātman, Nairātman, Anātman. Nir: phủ định từ, Ātman động từ cănvan: hơi thở, hô hấp. Nên theo ngữ học này, thì Nirātman tức là không có thần ngã, tự ngã, linh hồn... có gốc rễ từ hơi thở hay hô hấp.

[10] Tu tập thiểu dục, thứ tự tương đương điều 1: thiểu dục hay vô dục, Kinh Bát Niệm, Đại 1 và  điều 1 Anuruddha mahāvitakka sutta.

[11] Dịch từ chữ 無爲, Skt. asaskta, Pāli. asakhata không tạo tác, không bị chi phối, lệ thuộc bởi nhân duyên.

[12] Skt. Iśvara: không bị ràng buộc, trói buộc, tùy ý v.v.. Hán 自在 Tự tại, có bốn loại tự tại: Quán cảnh, Quán chiếu, Tác dụngThường hằng tự tại.

[13] Tu tập tri túc, thứ tự tương đương điều 2: tri túc, Kinh Bát Niệm, Đại 1 và Anuruddha mahāvitakka sutta.

[14] Chán ngán đối với năm thứ dục lạc.

[15] Bồ Tát, Skt. Bodhisattva, Pāli. Bodhisatta Tạng བྱང་ཆུབ་སེམས་དཔའ  byang chub sems dpa'.  Skt. Bodhi danh từ, giống đực. Bodhi: danh từ, có động từ căn Budh: hiểu biết, học tập, liễu tri, tận tri… Bodhi được suy ra từ động từ căn căn budh bằng việc cộng thêm với một hậu tố “i” ở loại thứ nhất (kt pratyaya).  Sattva: giống đực, có động từ Saint, hiện tại phân từ của nó có nghĩa là “sự tồn tại” hay “sự hiện hữu” (to be hay being) và được giải thích là một chúng sinh hay hữu tình

[16] Tu tập tinh tấn, thứ tự tương đương điều 4: tinh tấn, Kinh Bát Niệm, Đại 1 và  Anuruddha mahāvitakka sutta.

[17] Skt. skandha, Pāli. khandha, Hán phiên âm, Tắc Kiện Đà 塞健陀, dịch là tích tụ, loại biệt, tức là năm loại khác nhau về các pháp hữu vi. Dịch là Uẩn: Tích tập; Ấm: Che đậy, đôi khi dịch là chúng/tụ v.v.. (Ngũ Ấm (五陰), Ngũ Chúng (五眾), Ngũ Tụ (五聚). 蘊 Skt: skandha, Kosa 1: “rāśyāyadvāragotrārthā skandhāyatanadhātava/”: Uẩn, xứ giới, có nghĩa là tụ, sinh mônchủng tộc.”Tì-bà-sa 74, tr.383c16:  «Uẩn có nghĩa là tụ 聚, là hiệp 合, là tích 積, là lược 略.» Vì từ Skt. rāśi, đống, tụ, tích tụ.

[18] Tu tập trí tuệ, thứ tự tương đương điều 7: Trí Tuệ, Kinh Bát Niệm, Đại 1 và  Anuruddha mahāvitakka sutta.

[19] Pāli. Avijja, Skt. Avidya. A là tiền tố từ phủ định, có nghĩa là “vô” hoặc “không”. Vidya đi từ động từ cănVid, có nghĩa là hiểu biết, nhận thức, học hỏi, quán triệt, thấy rõ… Nên, Avidya là không có sự hiểu biết, không có sự học hỏi, không có sự quán triệt, không có sự thấy rõ… Kinh Saccakā Trung Bộ I, tr. 249,  ĐHVH 1973:  “Đối với ai, các lậu hoặc chưa được đoạn trừ, những lậu hoặc liên hệ đến phiền não, sanh khởi lậu hữu, đáng sợ hãi, đưa đến quả khổ dị thục, hướng đến sanh, già, chết trong tương lai. Vị ấy ta gọi là si ám”.

[20] Tu tập bố thí, Kinh Bát Niệm, Đại 1 và  Anuruddha mahāvitakka sutta không có điều tương đương.

[21] Bố thí布 施 Skt., dāna (dakiā), phiên âm là Đàn-na 檀那, Đản-na 柁那, Đàn hoặc Thí  施. Nếu là dakṣiṇā thì phiên âm: Đạt sấn 達嚫, Đại sấn 大嚫, Sấn 嚫. Dịch ý là tài thí 財施, thí tụng 施 頌, sấn thí 嚫 施, nghĩa là vì lòng từ bi đem phúc lợi ban cho người. Câu Xá: “Kim ida dāna  nāma? Yadapi dīyate tad dānam” : Cái gì được gọi là Thí? Cái gì được cho cái đó gọi là Thí. (A Tỳ Đạt Ma Câu Xá, Phạn, Phẩm Nghiệp, 585)

[22] Tu tập yểm ly, Kinh Bát Niệm, Đại 1 và  Anuruddha mahāvitakka sutta không có điều tương đương

[23]Ngũ  dục 五欲, Skt. pañca kāmā,Pāli.  Pañca kāmā ; 1. Sắc dục 色欲, Skt. rūpa-kāma; 2. Tài dục 聲欲, skt. śabda-kāma; 3. Danh dục 香欲,  Skt. gandha-kāma; 4. Thực dục 味欲rasa kāma; 5. Thùy dục 觸欲, Skt. spraṣṭavya-kāma.

[24] Ba y gồm: 1. Đại y: Skt. saghātī (Tăng-già-lê y), 2. Thượng y: Skt. Uttarasagha, Pāli.Uttarāsagha (Uất-đa-la-tăng y), 3. Hạ y, Skt. antarvāsa, Pāli. Antaravāsaka.

[25] Ngõa bát 瓦鉢, Skt. mattikā-patta. Thích thị yếu lãm, q. trung, Đại 54, tr. 279: “Có lần đức Phật đang trụ tại thôn đất trắng Tôn bà, bấy giờ thiên thần Tôn bà bạch Phật rằng: Các đức Phật đời quá khứ đều thụ dụng loại bát đất (ngõa bát) xứ này”. Sau đó, đức Phật cho phép các vị Tỷ kheo dùng bát đất”.

[26] Xuất gia, Pāli . Pabbajito, Pabbajana, nó đi từ Pa+vaj+e, có nghĩa là đi đến, xuất gia hay đi tu hành v.v.. Skt. Pravrajyā.  Dīghanikāyo Mahāvaggapāi 1. (14.) Mahāpadānasutta. 52: ‘Eso kho, deva, pabbajito nāma sādhu dhammacariyā sādhu samacariyā [sammacariyā (ka.)] sādhu kusalakiriyā [kusalacariyā (syā.)] sādhu puññakiriyā sādhu avihisā sādhu bhūtānukampā’ti. ‘Sādhu kho so, samma sārathi, pabbajito nāma, sādhu dhammacariyā sādhu samacariyā sādhu kusalakiriyā sādhu puññakiriyā sādhu avihisā sādhu bhūtānukampā: Tâu Hoàng tử, xuất gia nghĩa là khéo tu phạm hạnh, khéo tu tịnh hạnh, khéo hành thiện nghiệp, khéo hành công đức nghiệp, khéo giữ không hại chúng sanh, khéo có lòng từ đối với chúng sanh. Bản việt, T.Minh Châu dịch, Kinh Đại Bản, Trường III, ĐHVH, 1972, tr. 28. Bồ Tát Bản Sanh Man Luận (Đại 3, tr.344): “Chư Phật trong ba đời, do tác nhân xuất giathành tựu Đạo quả giác ngộ”. Cf. Kinh Thánh Cầu, Trung Bộ I, ĐHVH, 1973, tr.163.

[27] Tu tập lợi tha tuyệt đối, Kinh Bát Niệm, Đại 1 và  Anuruddha mahāvitakka sutta không có tương đương.

[28] Đại thừa 大乘; Skt. Mahāyāna.

[29] Sự 事”,  Skt. Vastu: cơ sở, nền móng v.v..

[30] Pāli Buddha, Skt. Buddha có động từ căn Budh : có nghĩa là hiểu biết, liễu tri, tận tri… Theo Thập Hiệu Kinh (T17n0782, tr. 720bc.): Phật là đấng đầy đủ tất cả trí tuệ, đầy đủ và viên minh ba sự Giác ngộ ; cũng trong kinh này qua câu hỏi của một vị Bà-la-môn đức Phật đã trả lời về ý nghĩa từ «Phật ». Trong Đại Bát Niết Bàn Kinh (Quyển 18, T12, tr. 469bc): giải thích Phật là Đấng tự mình giác ngộ, lại có khả năng làm cho người khác giác ngộ nữa. Ngài Moggallānađã ghi lại những bài kệđức Phật đã trả lời cho một Bà-la-môn khi vị này hỏi ngài tại sao có danh hiệu là Phật (T26n1537, tr.0461c01).

[31] Đại Nhân 大人, có thể được dịch bởi Skt. Mahāpurua,  Pāli. Mahāpurisa; Purua: là người có nhân cách, có phẩm tính cao, v.v… Gọi là Đại nhân. Cũng dùng để chỉ cho Phật khi dịch là Đại Trượng Phu, Đại Sĩ Phu, ở đây chỉ cho Phật; Kinh Tạp A-hàm quyển 48, có chép lời ca ngợi đức Phật của một vị thiên tử như sau: “Đại sĩ (Mahāpurua) là rồng lớn, Đại sĩngưu vương, Đại sĩ phu là người có dũng lực, Đại sĩ phu là con ngựa tốt, Đại sĩ phu là bậc thượng thủ, Đại sĩ phu là người tối thắng” (Cf.  雜阿含經卷第四十八, T02n0099, tr. 0355b02: “大士之大龍, 大士之牛王,大士夫勇力, 大士夫良馬,大士夫上首, 大士夫之勝” ).

[32] Pháp thân法身, Skt. dharma-kāya,  Pāli. dhamma-kāya

[33]  Skt. Nirvāa , Pāli Nibbāna, từ Prakrit cổ là ivvāaNirvāa nó là phân từ thụ động quá khứ của động từ ni-căn vā: có nghĩa là “đã, hoàn thành, hoàn tất…” + Nirvāti với ý nghĩa nghĩa "thổi tắt", "dập tắt" (một ngọn lửa), như thế thì Nirvāa mang nghĩa đã bị dập tắt, thổi tắt, nên Niết-bàn là muốn chỉ cho dập tắt lửa phiền não, hay thổi tắt lửa ái dục v.v..

[34] Thánh Đạo ở đây có lẽ chỉ cho Bát Thánh Đạo, Skt. Āryāshtāngamārga hay Āryāṣṭāngikamārga; Pāli. Āriyāṭṭhāngikamagga. Có nghĩa là con đường Thánh, có tám yếu tố hay tám thành phần.

[35] Tiến thú 進趣. Skt. Saṃprasthitena có động từ sa-pra-sthā, có nghĩa là khởi hành, đứng lên, khởi dậy, tiến lên, hay phát khởi để đi tới mau chống, tức khắc.

[36] Gọi tắt cho A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề 阿耨 多羅三藐三菩提心; Skt.  Anuttarāsamyaksabodhi. A-nậu-đa-la 阿耨 多羅 Skt. Anuttarā: vô thương, tối thượng, vượt mức, tuyệt mức,…. Tam-miệu 三藐, Skt. Samyak: trực tiếp, đích thực, hiện thực, chính xác, hợp lý…. Tam-bồ-đề  三菩提, Skt. Sabodhi: toàn giác, tỉnh giác chính xác, bồ-đề…

[37] Trong nguyên bản An Thế Cao dùng là “khoái lạc”, tham chiếu Pāli và văn kinh tương đương, nên dịch là tịch lạc, an lạc, v.v..

[38] Cf. Bản việt, TT. Minh Châu dịch, Tăng Chi Bộ Kinh, phẩm gia chủ, TTĐHVH ấn hành.

[39] Cf. bản việt, TT.Tuệ Sỹ dịch, Trung A-hàm, Kinh 74. Bát Niệm, Hương Tích ấn hành.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 829)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 1112)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 957)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 1473)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 1472)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 1443)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 1743)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 2062)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 2719)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 1731)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 2553)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 2393)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 4152)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 2601)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 2885)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2090)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 2682)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 2235)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 2833)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2056)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 2478)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 2787)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 2723)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 3637)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 3177)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 3260)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 3681)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 2998)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 2773)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(Xem: 3609)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 4144)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 3248)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 5361)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 5296)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(Xem: 3760)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 19639)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3151)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 6529)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4005)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 3849)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 3498)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 3700)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 5151)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4028)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 3605)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 3754)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 3807)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 4537)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 3377)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 4578)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 4612)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 6145)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 4421)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
(Xem: 5247)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4157)
Thưa Tôn giả Gotama, những ngày về trước, những ngày về trước nữa, rất nhiều Sa-môn, Bà-la-môn là du sĩ ngoại đạo ngồi...
(Xem: 4538)
Lời dạy của Đức Phật được kiết tập thành kinh điển và bảo lưu trong nhiều truyền thốngbộ phái Phật giáo.
(Xem: 15597)
Toàn bộ Đại Tạng Kinh tiếng Việt trên 203 tập đã dịch và in xong...
(Xem: 5091)
Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ngôi vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ...
(Xem: 5385)
Nếu thấy thân người nữ Cùng với vẻ diễm kiều Người ngu không biết rõ Vọng sinh ý dâm nhiễm.
(Xem: 6392)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, Luận tập bộ toàn, kinh văn số 1691. HT Thích Như Điển dịch
Quảng Cáo Bảo Trợ