Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Bài Mới Nhất trang Văn Học
Điền Email để nhận bài mới

Như Tự Soi Gương

Tuesday, June 16, 201516:57(View: 9827)
Như Tự Soi Gương

NHƯ TỰ SOI GƯƠNG 

Đức Chánh


Như Tự Soi GươngTheo truyền thống giới luật của đạo Phật thì vào mỗi nửa tháng, tất cả người xuất gia đều cùng nhóm họp tại một trú xứ nào đó để lắng nghe vị Luật sư (Vinayadharo) tuyên thuyết giới luật mà họ đã phát nguyện lãnh thọ gọi là lễ Bố-tát(Uposatha). Mục đích của buổi lễ này là nhằm tạo cơ hội cho người xuất gia tịnh hóa bản thân dẫn đến sự thanh tịnhhòa hợp của tập thể Tăng-già. Nếu người xuất giavi phạm bất kỳ giới điều nào trong các điều luật được tụng đọc (hoặc tự nhận ra hoặc do người khác chỉ bảo) thì tự thú nhận trước Tăng chúng và nguyện ăn năn sám hối, quyết không để tái phạm. Nếu không vi phạm thì giữ tâm niệm hoan hỷ im lặng. Đây là cơ hội giúp cho người xuất gia kiểm thảo lại tư cách đạo đức của mình trong đời sống cá nhân và trong các sinh hoạt tập thể, tựa như một người nhìn vào gương để thấy rõ khuôn mặt của mình vậy. Do đó mà giới luật Phật giáo có câu:
Như người tự soi gương, Đẹp xấu sanh vui buồn; Thuyết giới cũng như vậy, Toàn, hủy, sanh mừng lo.

Bên cạnh lễ Bố-tát thuyết giới được tiến hành nửa tháng một lần và mang ý nghĩa vừa tịnh hóa cá nhân vừa tịnh hóa tập thể, trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, người xuất gia thường xuyên dùng Chánh pháp (lời Phật dạy) hay Giới luật làm gương để soi rọi các hành vi của mình gọi là “phản tỉnh” (paccevekkhana)1. Việc người xuất gia thường xuyên soi “gương Chánh pháp” hay “gương Giới luật”như vậy cốt yếu là để giúp cho vị ấy nhận rõ các hành vi thiện hay bất thiện của mình, qua đó mà có thái độ ứng xử cho đúng pháp hay đúng với tinh thần lời Phật dạy. Căn bản của nếp sống tiến triển giới đứcgiải thoát tâm linh của người xuất gia nằm ở chỗ vị ấy thường xuyên giác tỉnh hay phản tỉnh về mọi hành vi thuộc thân, miệng, ý của mình, nhận rõ chúng là thiện hay bất thiện để tinh tấn tu tập. Nếu chúng là thiện thì sinh tâm hoan hỷnỗ lực làm thêm. Nếu chúng là bất thiện thì phải sinh tâm xấu hổ sợ hãi (tàm quý) mà kiên quyết từ bỏ. Đây gọi là phương pháp tịnh hóa ba nghiệp (tikamma-parisodhana) hay thực tập Chánh tinh tấn (Sammà-vàyàma), tức nỗ lực dứt trừ mọi điều ác và nỗ lực làm các việc lành, trên cơ sở xem xét thân hành, khẩu hành và ý hành của chính mình hay phản tỉnh tự nội. Sau đây là một trong số các cách phản tỉnh như vậy, được ngài Mục-kiền-liên nói với các vị đồng phạm hạnh2:

“Chư Hiền, ở đây, Tỷ-kheo cần phải quán sát như sau: “Không biết ta có ác dục, có bị ác dục chi phối không?”. Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta có ác dục và bị ác dục chi phối”, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn đoạn trừ các ác, bất thiện pháp ấy. Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta không có ác dục, không bị ác dục chi phối”, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học các thiện pháp.

Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phải quán sát như sau: “Không biết ta có khen mình chê người hay không?”… Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta không có khen mình chê người”, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học các thiện pháp.

Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phải quán sát như sau: “Không biết ta có phẫn nộ, có bị phẫn nộ chi phối không?”… Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta không có phẫn nộ, không bị phẫn nộ chi phối không”, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học các thiện pháp.

Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phải quán sát như sau: “Không biết ta có hiềm hận, có bị hiềm hận chi phối không?”… Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta không có hiềm hận, không bị hiềm hận chi phối”, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học các thiện pháp.

Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phải quán sát như sau: “Không biết ta có cố chấp, có bị cố chấp chi phối không?”… Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta không có cố chấp, không bị cố chấp chi phối”, thì chư Hiền, Tỷ- kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học các thiện pháp.

Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phải quán sát như sau: “Không biết ta có nói lời liên hệ đến phẫn nộ không?”… Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta không có nói những lời liên hệ đến phẫn nộ”, thì chư Hiền, Tỷ- kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học các thiện pháp.

Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phải quán sát như sau: “Ta bị buộc tội, không biết ta có chống đối vị đã buộc tội ta không?”… Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta bị buộc tội, ta không có trở lại chống đối vị đã buộc tội ta”, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học các thiện pháp.

Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phải quán sát như sau: “Ta bị buộc tội, không biết ta có trở lại chỉ trích vị đã buộc tội ta không?”… Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta bị buộc tội, ta không có trở lại chỉ trích vị đã buộc tội ta”, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học các thiện pháp.

Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phải quán sát như sau: “Ta bị buộc tội, không biết ta có trở lại chất vấn vị đã buộc tội ta không?”… Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta bị buộc tội, ta không có trở lại chất vấn vị đã buộc tội ta”, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học các thiện pháp.

Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phải quán sát như sau: “Ta bị buộc tội, không biết ta có tránh né vấn đề với một vấn đề khác, trả lời ra ngoài vấn đề, để lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn của ta không?”… Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta bị buộc tội, ta không có tránh né vấn đề với một vấn đề khác, trả lời ra ngoài vấn đề, để lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn của ta”, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học các thiện pháp.

Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phải quán sát như sau: “Ta bị buộc tội, không biết ta có giải thích thỏa mãn hành động của ta cho vị buộc tội biết không?”… Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta bị buộc tội, ta có giải thích thỏa mãn hành động của ta cho vị buộc tội biết”, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học các thiện pháp.

Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phải quán sát như sau: “Không biết ta có hư ngụynão hại không?”… Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta không có hư ngụy và não hại”, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học các thiện pháp.

Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phải quán sát như sau: “Không biết ta có tật đố và xan tham không?”… Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta không có tật đố và xan tham”, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học các thiện pháp.

Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phải quán sát như sau: “Không biết ta có gian trá và lường gạt không?”… Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta không có gian trá và lường gạt”, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học các thiện pháp.

Lại nữa, chư Hiền, Tỷ-kheo phải quán sát như sau: “Không biết ta có ngoan cốquá mạn không?”… Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta không có ngoan cố và quá mạn”, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học các thiện pháp.

Lại nữa, chư Hiền, ở đây Tỷ-kheo cần phải quán sát như sau: “Không biết ta có chấp trước thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả không?”. Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta có chấp trước thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả”, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn đoạn trừ những ác, bất thiện pháp ấy. Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo quán sát và biết rằng: “Ta không chấp trước thế tục, không cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả”, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học thiện pháp”.

Chư Hiền, nếu trong khi quán sát, Tỷ-kheo thấy rõ rằng tất cả các ác, bất thiện pháp chưa được đoạn trừ trong nội tâm, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn đoạn trừ các ác, bất thiện pháp ấy. Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát thấy rõ rằng tất cả các ác, bất thiện pháp đã được đoạn trừ trong nội tâm, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học thiện pháp.

Chư Hiền, ví như một phụ nữ hay một đàn ông trẻ tuổi, trong tuổi thanh xuân, tánh ưa trang điểm, tự quán sát mặt mày của mình trong một tấm kính sạch sẽ và trong suốt, hay trong một bát nước trong sáng. Nếu người ấy thấy bụi bặm hay cấu uế trên mặt mình, thì người ấy tinh tấn đoạn trừ bụi bặm hay cấu uế ấy. Nếu người ấy không thấy bụi bặm hay cấu uế trên mặt mình, thì người ấy sẽ hoan hỷ nghĩ rằng: “Thật sự ta được điều tốt đẹp; thật sự ta được thanh tịnh”. Cũng vậy chư Hiền, nếu trong khi quán sát, Tỷ-kheo thấy rõ rằng tất cả các ác, bất thiện pháp chưa đoạn trừ ở nội tâm, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn đoạn trừ các ác, bất thiện pháp ấy. Chư Hiền, nếu Tỷ- kheo trong khi quán sát thấy rõ rằng các ác, bất thiện pháp đã đoạn trừ ở nội tâm, thì chư Hiền, Tỷ-kheo ấy phải sống với tâm niệm hoan hỷ, ngày đêm tu học thiện pháp”.

Nhìn chung, người xuất gia có nhiều cơ duyên thuận lợi để hoàn thiện tư cách đạo đức hay nếp sống đức hạnh của mình. Đó chính là Giới luật Phật chế được tuyên thuyết mỗi nửa tháng trong sinh hoạt Tăng-già, bên cạnh Chánh pháp hay những lời Phật dạy được lưu giữ trong các bản kinh mà người xuất gia phải tìm hiểu học hỏithực tập hàng ngày. Ngoài ra, bầu không khí thanh tịnhhòa hợp thể hiện trong nếp sống Tăng- già hay gương sáng đạo hạnh của chư vị tôn đức cộng trú cũng là yếu tố hỗ trợ và khích lệ rất lớn cho vị ấy về phương diện tiến triển giới đức. Nói cách khác, người xuất gia có “gương Giới luật”, “gương Chánh pháp” và “gương Tăng-già” giúp cho mình soi rọi và phản tỉnh hàng ngày, nhờ đó tư cách đạo đức hay giới hạnh của vị ấy càng được củng cố và phát triển. Người xuất gia càng khéo vận dụng các loại “gương đức hạnh” này để xem xétphản tỉnh về chính mình thì giới đức, tâm đức, tuệ đức, giải thoátgiải thoát tri kiến đức của vị ấy càng có dịp tiến triển, cùng lúc vị ấy hưởng được nhiều hạnh phúcan lạc lớn; vì khi một người có giới hạnh, theo thiện pháp, không vi phạm điều xấu ác, thì theo đó cuộc sống sẽ đổ đầy niềm vui và tuần tự tiến bộ dẫn đến hoàn thiện 3, như lời Đức Thế Tôn từng giảng giải cho Tôn giả Ànanda:

“Này Ànanda, giới hạnhý nghĩa không hối tiếc, có lợi ích không hối tiếc. Không hối tiếcý nghĩa hân hoan, có lợi ích hân hoan. Hân hoaný nghĩa hoan hỷ, có lợi ích hoan hỷ. Hoan hỷý nghĩa khinh an, có lợi ích khinh an. Khinh aný nghĩa an lạc, có lợi ích an lạc. An lạcý nghĩa định, có lợi ích định. Định có ý nghĩa như thật tri kiến, có lợi ích như thật tri kiến. Như thật tri kiếný nghĩa nhàm chán, ly tham, có lợi ích nhàm chán, ly tham. Nhàm chán, ly thamý nghĩa giải thoát tri kiến, có lợi ích giải thoát tri kiến. Như vậy, này Ànanda, các thiện giới thứ lớp dẫn tới tối thượng. Như vậy, này Ànanda, các thiện giới thứ lớp đưa đến tối thượng”4.■

Chú thích:

  1. Kinh Giáo giới La-hầu-la Am-bà-la lâm, Trung Bộ.
  2. Kinh Tư lượngTrung Bộ.
  3. Mã ấp tiểu kinhTrung Bộ.
  4. Kinh Có lợi ích gì, Tăng Chi Bộ
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 15)
Tánh Không được đồng hóa với như mộng. Đây là điều hệ thống Kinh Đại Bát Nhã thường nói.
(View: 117)
Toàn thể thế giới chúng ta, bên ngoài là thế gian, bên trong là tâm. Tất cả chúng là một biển vô tận của các pháp hữu vi đang vận hành.
(View: 119)
Việc tu tập ở thiền viện nhấn mạnh vào việc hoàn thành mọi công tác tốt đẹp. Là tu sĩ, chúng tôi đặt nặng giá trị của việc chánh niệm về những điều bình thường
(View: 142)
Danh vọng nương nơi cái tôi mà tồn tại. Không có cái tôi, danh vọng không hiện hữu.
(View: 168)
Đã tử lâu lắm rồi, người Phật tử đã nghe nói về thời mạt pháp.
(View: 217)
Gần đây chúng ta thấy xuất hiện trên mạng xã hội nhiều bài viết kêu gọi người Phật tử phải cảnh giác với việc “trộm tăng tướng” hay “tặc trụ”.
(View: 217)
Trong nhiều bài pháp tôi đã viết, thì thường đề cập đến vấn đề làm phước, tích phước, tích đức, hay tu thiện... V
(View: 241)
Bố thí và cúng dường là một trong những hạnh đầu tiên để làm cho cõi này tốt đẹp hơn, và là những bước đi đầu tiên của Phật tử trên đường giải thoát.
(View: 262)
Thuyết âm mưu không phải là vấn đề mới, nó vốn xảy ra từ xa xưa, bên Đông hay bên Tây đều có cả.
(View: 293)
Sự xuất hiện của hành giả Thích Minh Tuệ đã tạo ra một biến động chưa từng có trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam.
(View: 297)
Bệnh đau là chuyện tất yếu của con người. Trừ những người có phước đức về sức khỏe sâu dày, còn lại hầu hết đều trải qua bệnh tật.
(View: 319)
Thời thơ ấu, chúng ta ưa thích đọc truyện Cô Ba Cháo Gà Địa Ngục Du Ký, rồi ưa nghe kể chuyện vong nhập, chuyện trừ tà…
(View: 524)
Con đi Tu là để cầu giải thoát, hàng ngày con chỉ xin ăn một bữa, con không nhận tiền của ai.
(View: 312)
Karma là một từ tiếng Phạn có nghĩa là “hành động”. Một cách đơn giản để hiểu nghiệp là nhìn nó như những khoảnh khắc nhân quả.
(View: 435)
Từ nghệ thuật, có những nhân vật bước ra đời sống. Từ đời sống, cũng có vài con người đi vào nghệ thuật. Nhưng trở thành hình tượng trung tâm
(View: 335)
Làm sao có được hòa bình và hạnh phúc trong thế giới đầy biến động và nghi kỵ như hiện nay?
(View: 369)
Cho tới hôm nay, “hạnh đầu đà” không còn là cụm từ xa lạ. Nhắc đến nó ta sẽ nghĩ ngay đến sư Minh Tuệ, mặc dù ông không phải là người thực hành hạnh này đầu tiên và duy nhất.
(View: 373)
Nhân duyên đưa đến lời dạy này của Đức Phật bắt nguồn từ sự cầu thỉnh chân thành của trưởng giả tên là Kiên Cố(Kevadha)
(View: 408)
Thực ra, chúng ta không cần tới “một Phật Giáo” nào khác cho thế gian hay cho xuất thế gian,
(View: 336)
Thực hành Chánh Pháp là vì lợi ích chúng sinh, muốn chúng sinh được thoát khổ, an vui.
(View: 414)
Ngay cả vũ trụ cũng không thoát được luật nhân quả, luân hồi (tái sinh.)
(View: 450)
Con người hơn loài thú vật nhờ ngôn ngữ. Ngôn ngữ giúp con người thông tin, chia sẻ kinh nghiệm, thậm chí giúp cho ý nghĩ sáng tạo - vì tư duytư duy trên và bằng ngôn ngữ.
(View: 519)
Ngày từng ngày vơi đi như cát biển khô chảy qua kẽ ngón tay Đời từng đời nối tiếp như nước sông chảy ra biển
(View: 574)
Gấn một tháng nay, hiện tượng thầy Minh Tuệ gây xôn xao trên mạng xã hội, trong và ngoài nước;
(View: 836)
Bảo rằng mới, ừ thì là mới nhưng thật sự thì tháng năm đã từ vô thủy đến giờ.
(View: 818)
Hình ảnh đôi chân trần, y áo vá, 1 cái nồi cơm điện, ăn ngày một bữa, xin ăn qua ngày, không cầm tiền, không tích trữ thức ăn… Thầy mang lại thiện cảm lớn, xúc động mạnh cho nhiều người.
(View: 478)
Chúng ta, những người học Phật, chẳng thể không có tổ quốc, chẳng thể khônggia đình, và cũng chẳng thể không có “tự thân”.
(View: 614)
Sống ở trên đời, ai trong chúng ta chắc cũng có mang trong lòng bốn chữ “nhớ ơn, đền ơn”.
(View: 585)
Khi tôi mới đi học lớp vỡ lòng về Phật học, tôi còn nhớ như in một trong những vị Thầy đầu tiên của tôi có nói về ước nguyện của Thầy
(View: 560)
Trước đây những người theo Đại thừa thường cho rằng giáo lý Nguyên thủy, là giáo lý Tiểu thừa, không đưa đến quả vị tối hậu thành Phật,
(View: 664)
Chúng ta đều biết, đạo Phậttrung đạo. Đức Phật cũng nhờ tránh xa hai cực đoan dục lạc và khổ hạnhmà thành tựu đạo quả.
(View: 516)
Trên báo chí thường thuật nhiều tai nạn thảm khốc xẩy ra nhưng vẫn có người sống sót hay không hề hấn gì trong khi tất cả những người chung quanh chết hay bị thương nặng..
(View: 636)
Phật giáo đề cao sự tự giác, tự thực hành tu tập để đem lại sự thấy biết chân thật, mở lòng yêu thươngđến khắp muôn loài và an lạc cho tự thân.
(View: 594)
Chúng ta có thể xem xét bản chất của Đức Phật qua hai lăng kính: Đức Phật của lịch sửĐức Phật của đức tin (saddhā).
(View: 610)
Có một người đến vấn hỏi thiền sư, “Để phòng ngừa tai họa, xin thầy từ bi cho biết cái gì đáng sợnhất trên cõi đời này?”
(View: 579)
Người sống trên đời nhờ có ngôn ngữ mà giao tiếp được.
(View: 561)
Đức Phật ngài chỉ gia hộ, chỉ dẫn cho chúng sanh cách sống An và phương pháp Tự An, chứ Ngài không thể ban phát cho chúng sanh sự an lành, hạnh phúc,
(View: 672)
Không làm các điều ác Thực hành các điều thiện
(View: 619)
Thông điệp của Đức Phật bao gồm giáo lý(dhamma) và giới luật (vinaya).
(View: 604)
Đức Phật đến với cuộc đời không gì khác ngoài chỉ bày cho con người một nếp sống hạnh phúc an lạc.
(View: 674)
Như người bị trúng tên độc là một trong những ảnh dụ gây ấn tượng mạnh mẽ về những việc cần làm ngay.
(View: 589)
Bất cứ chuyến đi nào cũng giữ lại trong tôi nhiều kỷ niệm.
(View: 656)
Bệnh tật và thống khổ không thể tách rời nhau, cho nên gọi là “Bệnh thống” [病痛], “Bệnh khổ” [病苦], “Tật khổ” [疾苦].
(View: 735)
Sống ở đời ai cũng mong muốn gia đạo bình an, sự nghiệp ổn định và phát triển.
(View: 1212)
Một ngày nọ, Phật thấy một vị tăng khóc bên ngoài lối vào Tịnh xá Jetavana Vihara (Kỳ đà tinh xá).
(View: 905)
Trong những ngày vừa qua, câu chuyện về một vị sư mang tên T.M.T lan truyền trên mạng xã hội với hình ảnh một vị đầu trần
(View: 755)
Lòng từ bi giống như một hạt giống lành đặt vào lòng đất, từng ngày lớn lên thành sự thấu cảm, yêu thương.
(View: 637)
Bài bác có nghĩa là phủ nhận một điều gì đó và dùng lý lẽ để chứng minh điều đó là không đúng, theo sự hiểu biết của cá nhân của mình.
(View: 780)
Trong cuộc sống hiện đại, chúng ta gặp phải nhiều áp lựclo lắng từ công việc, cuộc sống xã hội, về giao tiếp theo truyền thống và trên mạng xã hội.
(View: 827)
Phật tử, chúng ta thường được nghe giảng “đạo Phật là đạo của từ bi và trí tuệ”, nhưng ý nghĩa thật sự của đạo Phật là gì?
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant