Logo Hanh Huong
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
13,760,707
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Con Đường

30 Tháng Sáu 201512:06(Xem: 4445)
Con Đường
Con Đường
(The Path – Gil Fronsdal)

 Gil Fronsdal
Chuyển Ngữ: Nguyễn Văn Tiến

Con Đường

Con Đường 

 

Khi đến tu viện, các nhà sư và các sư cô mới vào tu, thường hỏi vị sư trụ trì hướng dẫn cách thực hành Con Đường Giải Thoát. Nếu họ giữ lòng cương quyết về việc tìm kiếm Con Đường, vị sư trụ trì sẽ đưa họ đến một góc xa khuất nhất trong khu vườn của tu viện, nơi mà ít có người đặt chân đến. Ở đó, ông chỉ cho họ một lối đi hẹp, nơi mà con đường biến vào đám bụi rậm, hòa lẫn cùng cây cối. Ông nói với họ, "Quý vị sẽ tìm thấy Con Đường ở cuối lối đi nầy." Sau đó, vị sư trụ trì già quay đi, để lại những vị tu sĩ mới tự đi lấy một mình.

Bởi vì nhà sư trụ trì đã khơi dậy tính tò mò, nên những vị tu sĩ mới nầy bắt đầu ngay vào việc tìm kiếm Con Đường. Tuy nhiên, chẳng mấy chốc trên con đường mòn họ đi, xoay vòng qua đột ngột. Khi họ đi vòng theo khúc ngoẹo, họ liền phải đối mặt với một tấm gương rất lớn. Tấm gương đã ngăn chận ngay trên con đường họ đi. Những vị tu sĩ mới, đã bối rối khi nhìn thấy hình ảnh của chính họ trong gương. Có vài người tự hỏi, "Chẳng lẽ tôi đã đi nhầm đường." Tuy nhiên, không cần biết bao nhiêu lần, họ đã cố gắng đi ngược trở lại, hoặc họ đi trở lại từ đầu, sớm muộn gì họ cũng lại trông thấy tấm gương chận đường họ, một lần nữa.

Có một số người phỏng đoán là tấm gương được đặt trên con đường mòn, là để cho họ biết rằng Con Đường thật sự là ở trong tâm họ, chứ không phải là ở thế giới bên ngoài. Sự hiểu biết nầy đã làm cho một số người sợ hãi. Nên họ đã bỏ chạy. Có một số người lại cảm thấy không còn tỉnh táo, và tuyệt vọng. Có một số người lại cảm thấy nóng như lửa, vì tức giận. Thỉnh thoảng, có những người vì quá thất vọng, đã ném một hòn đá nặng vào hình ảnh của họ phản chiếu trong gương. Tuy nhiên, không ai có thể làm vỡ được tấm gương. Mỗi lần họ ném hòn đá vào gương, hòn đá văng ngược trở ra, đập trúng vào người họ. 

Nhưng, đã có một số tu sĩ vẫn còn đứng nán lại trước gương, chăm chú nhìn vào hình ảnh của chính họ. Những hình ảnh nầy làm cho họ như bị thôi miên, và cũng làm cho họ vui mừng. Vì quá vui mừng nên họ sinh ra lòng tự phụ, rồi họ tự nhận họ chính là Con Đường Phật Giáo vĩ đại. Và, dĩ nhiên, trên thực tế họ chỉ là những tu sĩ mới bắt đầu tu hành, đang cố gắng đi vòng chung quanh tấm gương. Họ tin rằng tấm gương đã chặn đường của họ, nên họ nhanh nhẹn tìm lối vượt qua bằng cách nhảy vào những bụi cây rậm rạp bao bọc chung quanh, nhưng vô ích, lúc họ chạy ra thì người họ đã dính đầy máu, bởi vì thân thể họ bị trầy xước, bởi vì gai đầy như là mảng nhện trong bụi rậm.

Thỉnh thoảng, có người lại trông thấy bà mẹ hoặc ông bố đang đứng cạnh họ, hình ảnh đó phản chiếu ở trong gương. Đây thật là một cảnh tượng kỳ lạ, cha mẹ của họ có thật sự đang đi bộ với họ hay không, chắc chắn trong đầu họ đang đặt một câu hỏi như thế. Vì họ biết, họ đang sống ở tu viện một mình. Vào những lúc khác, họ không nhìn thấy hình ảnh của họ trong gương, bởi vì họ đã bị che khuất vào đám đông.

Thế rồi, sau đó vào thời điểm thích hợp, các nhà sư và các sư cô cũng đã dừng lại, họ đã bình tâm, và họ ngắm nhìn lại hình ảnh của họ trong gương. Đối với nhiều người, đây là lần đầu tiên họ có cái nhìn kỹ càng, và sâu xa vào chính bản thân họ. Một số người kết luận rằng tấm gương, và hình ảnh trong gương chính là khúc cuối của Con Đường. Những người mà kết luận như thế, họ sẽ còn tiếp tục bị mắc kẹt bởi ý nghĩ nầy, rất lâu. Tuy nhiên, những người khác nhớ lại lời hướng dẫn của vị sư trụ trì về sự tìm kiếm Con Đường, nơi mà "ở cuối lối đi nầy". Khi các nhà sư và các sư cô nầy dừng lại, rồi nhìn kỹ càng, và sâu xa vào hình ảnh giống như họ trong gương, rồi một sự hiểu biết tuyệt vời đã hiện ra trong tâm trí họ: "Hình ảnh nầy là của tôi, nhưng tôi không phải là hình ảnh nầy." Rồi họ đưa tay ra, và nhẹ nhàng chạm tay vào gương, tấm gương nay đã chào thua họ. Giống y hệt như một cánh cửa lớn, lặng lẽ, mở toang ra, trước mặt họ là một phần của khu vườn đang rộng mở, rực rỡ, chan hòa dưới ánh nắng mặt trời, khu vườn nầy không giống bất cứ khu vườn nào, dù cho họ có tưởng tượng chăng nữa, lại đang có mặt ở trần gian. Và ở ngay nơi góc đường, phía xa kia, vị sư trụ trì già đang đứng chờ đợi họ, tay ông đang giữ hai cái xẻng.

The Path 

When arriving at the monastery new monks and nuns would commonly ask the abbot for instruction on the Path of practice. If they were insistent enough about finding the Path, the abbot would take them to a remote corner of the monastery garden where people seldom went. There he pointed them to a narrow walkway that disappeared into the bushes and trees. He told them, “You will find the Path at the end of this walkway.” Then the old abbot turned away, leaving each novice to walk on alone.

Intrigued, the new monastics set off in search of the Path. Before long, however, the trail took a sharp turn. When they rounded the corner they came face to face with a very large mirror. It blocked their way. Seeing their own image reflected in the mirror confused the new monastics. Some wondered, “Maybe I have taken the wrong path.” Still, no matter how many times they tried to retrace their steps or start over, sooner or later they found the mirror blocking their way again.

More than a few assumed the mirror was placed on the trail to show them that the real Path was in them, not in the external world. This understanding frightened some. They ran away. Others collapsed in hopelessness. Some simmered in anger. Occasionally, someone would become so upset that they would hurl a heavy rock at their reflection. The mirror, however, was impervious. Each time they threw a rock at it the stone bounced back and struck them instead.

There were some monastics among them who lingered in front of the mirror, each gazing at his or her own likeness. It mesmerized and delighted them. They spilled over with the conceit of themselves somehow being the great Buddhist Path. And, of course, there were those novices who simply tried to walk around the mirror. Believing it blocked their way, they plunged headlong into the surrounding thicket of bushes only to emerge scratched and bloodied by an impenetrable web of thorns and undergrowth.

From time to time one of them would see his or her mother or father standing next to them in their reflection. This was an eerie sight, as there was no doubt in their minds about whether their parents were walking with them or not. They knew they were alone. At other times, their reflected image was obscured by crowds of people.

In due course some of the monks and nuns finally calmed down enough to stop and look into their reflection. For many it was the first time they ever really looked deeply into themselves. More than a few concluded that the mirror and the reflection were the end of the Path. Those who did ended up stuck for a very long time. The others, however, remembered the abbot’s directive about finding the Path at the “end of this walkway.” When these monks and nuns stopped and looked deeply into their likeness in the mirror, a wonderful realization arose in their minds instead: “The reflection is of me, but I am not the reflection.” Then when they reached out and lightly touched the mirror, it gave way. Like a great door silently swinging open, it revealed a bright, expansive, sunlit section of garden unlike anything they could ever have imagined existed. Just beyond, at the edge of the path, stood the old abbot holding two shovels.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 478)
Của Tăng Đoàn Âu Mỹ do Hòa Thượng Thích Như Điển, Phương Trượng Chùa Viên Giác, Đức Quốc, làm trưởng đoàn Tại chùa Hương Sen Perris, California
(Xem: 74)
Khi được khen ai cũng vui tươi, Khi bị chê ai cũng buồn chán, Người khôn vượt khỏi khen chê, Thân tâm an ổn, vui tươi làm lành.
(Xem: 80)
Lá và cành khô đã gẫy đổ, giạt theo mặt hồ từ những ngày tàn xuân. Một số cành khác đã mục rữa từ dưới nước, nhưng vẫn gắng bám rễ nơi sình lầy...
(Xem: 104)
Phần lớn quý vị của thế hệ trước thì muốn một cuộc sống điềm đạm, chậm rãi, thâm trầm. Đa số những người trẻ hiện nay thì muốn sống vội, sống nhanh.
(Xem: 98)
Lẽ thường, nếu biết rằng phút giây nữa mình sẽ chết thì chắc chắn chúng ta sẽ tận tâm tu tập, cầu nguyện,tuyệt không hề xao lãng.
(Xem: 87)
Tôi sinh ra trong một gia đình có ít nhiều gắn bó với Phật giáo. Bà nội tôi lúc cuối đời đã dồn hết những đồng tiền bà dành dụm cả đời để
(Xem: 101)
Tranh giành, tranh đấu, tranh cãi, tranh đua là nhữngtập khí cố hữu của chúng sinh. Cội nguồn của mọi sựtranh chấp ấy là tham dục và kiến dục.
(Xem: 137)
Câu nói cửa miệng của người đời là ‘sướng như tiên’. Kỳ thực thì chư Thiên, chư tiên là những vị có phước báo lớn nhưng vẫn còn khổ.
(Xem: 87)
Giới như ngọn đèn sáng hay phá tan tối tăm, mờ mịt. Giới như sức mạnh hay dựng đứng những gì đã ngã. Giới như ánh sáng trí tuệ hay chuyển hóa các phiền muộn, khổ đau.
(Xem: 109)
Thế gian lìa sanh diệt Giống như hoa trong không Trí chẳng đắc có không Mà hưng tâm đại bi.
(Xem: 156)
Trong cái thấy biết mọi hình ảnh sự vật, chúng ta chạy theophân biệt là gốc vô minh; trong cái thấy biết, thấy chỉ là thấy không phân biệt là Niết-bàn.
(Xem: 94)
Chúng ta là những sinh thể sống. Chúng ta phải tiếp nhận tình cảm liên tục, chỉ như thế thì đời sống mới trở thành đầy đủ ý nghĩa nhiều hơn, nhiều hạnh phúc sâu xa bên trong hơn.
(Xem: 101)
Ngày xưa khi Đức Phật ngồi Thiền dưới cội bồ-đề và chứng được Túc Mạng Minh, Ngài nhớ lại vô sốkiếp trước đã làm gì, ở đâu như nhớ chuyện ngày hôm qua.
(Xem: 492)
“Hạt nắng Bồ Đề” là ghi nhận từng bước hành hương và tấm lòng mong cầu tu học mà anh Văn Công Tuấn đã thực hiện.
(Xem: 92)
Nghiệp (karma) là một hành động. Hành động ấy phát xuất từ một chủ thể nhắm đến và tác động lên một đối tượng.
(Xem: 587)
Bodhisattva (Sanscrit), Bodhisat(Pali). Viết trọn chữ theo tiếng Phạn là: Bồ Đề Tát Đỏa. Bồ Đề, Bodhi là Chánh Giác. Tát Đỏa, Sattva là chúng sanh.
(Xem: 129)
Tôi rất vui mừng hiện diện ở đây với quý vị, để chia sẻ một vài quan điểm của tôi, và có thể cũng là một số kinh nghiệm nào đó. C
(Xem: 79)
Thực tế, tôi rất vui mừngcảm thấy vinh dự lớn để đón nhận giá trị này và cũng có cơ hội để nói với những thanh thiếu niên nam nữ.
(Xem: 778)
Khi dòng sông phút trước không còn là dòng sông phút sau, thì đời người phút trước cũng không giống đời người phút sau.
(Xem: 569)
Tuyển tập Những Bài Viết Ngắn Của HT Thích Như Điển Phương Trượng Chùa Viên Giác Hannover Đức Quốc
(Xem: 940)
Nguyên tác: The Power of Fogiveness, Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Limerick (Ireland) 2011, Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 413)
Bất luận là người tu tại gia hay xuất gia, cần phải trên kính dưới hòa, nhẫn nhục điều người khác khó nhẫn được, làm những việc mà người khác khó làm được...
(Xem: 1149)
Quên mìnhbước đầu để dẹp bỏ những hàng rào ngăn cách với người khác. Không vì mình là vì muốn làm lợi ích cho số đông.
(Xem: 644)
Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn hiện thân trong cuộc đời dưới mọi dạng mọi hình như là những quý nhân để cứu độ, hay hiện lên và hay giúp đỡ (शब्दकोश)
(Xem: 500)
Tâm ý cân bằng hay tâm ý bất bình thườngảnh hưởng rất quan trọng đến sức khỏe con người.
(Xem: 465)
Bây giờ, ở đây, khi tôi sử dụng chữ “hạnh phúc”, tôi đang nói về hạnh phúc trong một ý nghĩa chân thành, sự hài lòng sâu xa.
(Xem: 916)
Là người Phật tử, dù tu tập theo pháp môn nào chúng ta cũng thường được nghe chư tôn đức dặn dò: "Tu tập phải luôn quay vào bên trong, quay về chính mình, không nhìn ngó ra ngoài".
(Xem: 451)
Theo kinh điển Nam truyền cũng như Bắc truyền, Bồ tát Di Lặc hiện trú tại cõi trời Đâu suất (Tusita), tầng trời thứ tư trong sáu tầng trời cõi Dục, đợi đủ nhân duyên sẽ giáng sanh xuống cõi Ta bà hóa độ chúng sanh.
(Xem: 607)
Bạn thân đồng sự pháp lữ Thích Minh Đạt, khai sơn chùa Quang Nghiêm ở Styockton, Giám luật Tăng Ni miền bắc California.
(Xem: 397)
Diễn viên: Nữ ngọc hoàng, táo Gia Đình Phật Tử (GĐPT), táo nam sửa chùa, táo nữ trai soạn. Khung cảnh: Cung đình.
(Xem: 409)
Lời tuyên bố của đức Phật "Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành" đã được xiển dương trong các kinh Bắc Tạng thành một công thức vĩnh hằng: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.
(Xem: 350)
Tại sao lại “ở đời vui đạo”?. Đạo là thực tại tối hậu, là chân lý tuyệt đối (so với chân lý tương đối), là Pháp thân, là Chân như, là tánh Không, là Như Lai tạng…
(Xem: 638)
Trong những thời rất xa xưa, lặng lẽ tu hành trong am vắng góc rừng được khuyến khích. Đó là những thời rất xa xưa… khi Kinh Phật ghi rằng “…đi tới góc rừng, tới gốc cây, hay tới một lều trống, nhà sư ngồi quán chiếu…”
(Xem: 492)
Đầu năm, lộc non nhú trên những cành cây tưởng đã khô mục, như là biểu tượng cho sức nhẫn nhục tuyệt vời lấp lánh dưới bầu trời Phật pháp.
(Xem: 380)
Năm Đinh Dậu với tinh thần từ bi hỷ xả, chúc mọi người bình an hạnh phúc. Xuân Mậu Tuất cầu cho đất nước luôn vươn lên, sánh vai cùng cường quốc năm châu.
(Xem: 849)
Đức Phật là một chúng sanh Giác Ngộ, nhưng rồi, ngay cả chi tiết về Giác Ngộ, phẩm chất cao nhất của tinh thần là vượt ngoài tư tưởng của chúng ta.
(Xem: 427)
theo lời dạy của Thế Tôn, ai nói nhiều nên chuyển qua nghe nhiều. Đã biết lắng nghe rồi, nếu có mở lời thì nên học nói lời chánh ngữ.
(Xem: 439)
Phật giáo là một hệ thống khoa học năng động, thực tiễn và đầy minh chứng trên cả hai phương diện: lý thuyếtthực hành, để giúp cho cuộc sống của chúng ta được an lành...
(Xem: 522)
Giáo lý vô thường trong đạo Phật không phải là một lý thuyết, luận thuyết. Nó là một sự thật. Và sự thật này đòi hỏi chúng ta phải thực tập, quán chiếu để thể nhập, chứng ngộ.
(Xem: 421)
Huynh trưởng Tâm Nghĩa – Lê Hữu Đàng là một vị huynh trưởng cao niên và thâm niên của Tổ chức GĐPT; anh cũng là cháu ruột của Đức Đệ Nhất Tăng Thống – Thích Tịnh Khiết.
(Xem: 370)
Phật Giáo truyền vào Hoa Kỳ khoảng một thế kỷ rưỡi - tính từ lúc những di dân Trung Hoa sang Mỹ làm việc và mang theo Phật Giáo vào giữa thế kỷ thứ 19
(Xem: 1204)
Thời thanh xuân, tiếng nói trong trẻo, du dương; trung niên, tiếng trầm như sấm; lão niên, tiếng khàn đục như cối xay.
(Xem: 456)
Trong vô vàn hình ảnh thí dụThế Tôn thường hay vận dụng khi nói pháp thì nắm lá cây nơi rừng Thân-thứ thật nhiệm mầu.
(Xem: 480)
Ngày nay trái đất đã thu hẹp lại, đó là nhờ phương tiện di chuyểnphương tiện thông tin. Người ở bên này trái đất có thể rất gần gũi với người ở bên kia trái đất
(Xem: 992)
Chúng ta biết rằng nhà khoa học Albert Einstein có những quan điểm rất gần với nhà Phật. Nhưng rồi cũng sẽ bất ngờ, khi thấy có lúc Einstein nói y hệt, gần như 100% y hệt như giáo lý nhà Phật.
(Xem: 503)
Tôi tin là chúng ta đang sống trong một thời đạicần phải xét một cách nghiêm túc thái độ của ta đối với thực phẩm. Nói theo Thiền là chúng ta cần ‘tỏa sáng nơi chỗ đứng của mình’.
(Xem: 621)
Người tu học thường nghe Phật dạy câu ‘Nhân thân nan đắc’. Thân người khó được, khó hơn cả việc con rùa mù sống trong đại dương...
(Xem: 493)
Tứ Thánh quả là bốn cấp độ đạo quả được Phật chỉ ra giúp hành giả đánh giá được sự tu chứng của mình. Người chứng được một trong bốn Thánh quả này được xem là có tư cách của bậc Thánh,
(Xem: 441)
Bài viết để sẽ rút gọn khi nói chuyện trong Lễ Trao Giải Ananda Việt Awards 2017 Chủ Nhật 14/1/2018 tại Trung Tâm Sangha Center, California.
(Xem: 414)
Đó là lời chào mừng của Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng, Trưởng ban Tổ chức Khóa Tu Học Phật Pháp Úc Châu kỳ thứ 17 tại Portsea Camp, cách phi trường Melbourne độ 2 tiếng đồng hồ lái xe
Quảng Cáo Bảo Trợ