Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
14,710,949
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Con Đường

30 Tháng Sáu 201512:06(Xem: 4743)
Con Đường
Con Đường
(The Path – Gil Fronsdal)

 Gil Fronsdal
Chuyển Ngữ: Nguyễn Văn Tiến

Con Đường

Con Đường 

 

Khi đến tu viện, các nhà sư và các sư cô mới vào tu, thường hỏi vị sư trụ trì hướng dẫn cách thực hành Con Đường Giải Thoát. Nếu họ giữ lòng cương quyết về việc tìm kiếm Con Đường, vị sư trụ trì sẽ đưa họ đến một góc xa khuất nhất trong khu vườn của tu viện, nơi mà ít có người đặt chân đến. Ở đó, ông chỉ cho họ một lối đi hẹp, nơi mà con đường biến vào đám bụi rậm, hòa lẫn cùng cây cối. Ông nói với họ, "Quý vị sẽ tìm thấy Con Đường ở cuối lối đi nầy." Sau đó, vị sư trụ trì già quay đi, để lại những vị tu sĩ mới tự đi lấy một mình.

Bởi vì nhà sư trụ trì đã khơi dậy tính tò mò, nên những vị tu sĩ mới nầy bắt đầu ngay vào việc tìm kiếm Con Đường. Tuy nhiên, chẳng mấy chốc trên con đường mòn họ đi, xoay vòng qua đột ngột. Khi họ đi vòng theo khúc ngoẹo, họ liền phải đối mặt với một tấm gương rất lớn. Tấm gương đã ngăn chận ngay trên con đường họ đi. Những vị tu sĩ mới, đã bối rối khi nhìn thấy hình ảnh của chính họ trong gương. Có vài người tự hỏi, "Chẳng lẽ tôi đã đi nhầm đường." Tuy nhiên, không cần biết bao nhiêu lần, họ đã cố gắng đi ngược trở lại, hoặc họ đi trở lại từ đầu, sớm muộn gì họ cũng lại trông thấy tấm gương chận đường họ, một lần nữa.

Có một số người phỏng đoán là tấm gương được đặt trên con đường mòn, là để cho họ biết rằng Con Đường thật sự là ở trong tâm họ, chứ không phải là ở thế giới bên ngoài. Sự hiểu biết nầy đã làm cho một số người sợ hãi. Nên họ đã bỏ chạy. Có một số người lại cảm thấy không còn tỉnh táo, và tuyệt vọng. Có một số người lại cảm thấy nóng như lửa, vì tức giận. Thỉnh thoảng, có những người vì quá thất vọng, đã ném một hòn đá nặng vào hình ảnh của họ phản chiếu trong gương. Tuy nhiên, không ai có thể làm vỡ được tấm gương. Mỗi lần họ ném hòn đá vào gương, hòn đá văng ngược trở ra, đập trúng vào người họ. 

Nhưng, đã có một số tu sĩ vẫn còn đứng nán lại trước gương, chăm chú nhìn vào hình ảnh của chính họ. Những hình ảnh nầy làm cho họ như bị thôi miên, và cũng làm cho họ vui mừng. Vì quá vui mừng nên họ sinh ra lòng tự phụ, rồi họ tự nhận họ chính là Con Đường Phật Giáo vĩ đại. Và, dĩ nhiên, trên thực tế họ chỉ là những tu sĩ mới bắt đầu tu hành, đang cố gắng đi vòng chung quanh tấm gương. Họ tin rằng tấm gương đã chặn đường của họ, nên họ nhanh nhẹn tìm lối vượt qua bằng cách nhảy vào những bụi cây rậm rạp bao bọc chung quanh, nhưng vô ích, lúc họ chạy ra thì người họ đã dính đầy máu, bởi vì thân thể họ bị trầy xước, bởi vì gai đầy như là mảng nhện trong bụi rậm.

Thỉnh thoảng, có người lại trông thấy bà mẹ hoặc ông bố đang đứng cạnh họ, hình ảnh đó phản chiếu ở trong gương. Đây thật là một cảnh tượng kỳ lạ, cha mẹ của họ có thật sự đang đi bộ với họ hay không, chắc chắn trong đầu họ đang đặt một câu hỏi như thế. Vì họ biết, họ đang sống ở tu viện một mình. Vào những lúc khác, họ không nhìn thấy hình ảnh của họ trong gương, bởi vì họ đã bị che khuất vào đám đông.

Thế rồi, sau đó vào thời điểm thích hợp, các nhà sư và các sư cô cũng đã dừng lại, họ đã bình tâm, và họ ngắm nhìn lại hình ảnh của họ trong gương. Đối với nhiều người, đây là lần đầu tiên họ có cái nhìn kỹ càng, và sâu xa vào chính bản thân họ. Một số người kết luận rằng tấm gương, và hình ảnh trong gương chính là khúc cuối của Con Đường. Những người mà kết luận như thế, họ sẽ còn tiếp tục bị mắc kẹt bởi ý nghĩ nầy, rất lâu. Tuy nhiên, những người khác nhớ lại lời hướng dẫn của vị sư trụ trì về sự tìm kiếm Con Đường, nơi mà "ở cuối lối đi nầy". Khi các nhà sư và các sư cô nầy dừng lại, rồi nhìn kỹ càng, và sâu xa vào hình ảnh giống như họ trong gương, rồi một sự hiểu biết tuyệt vời đã hiện ra trong tâm trí họ: "Hình ảnh nầy là của tôi, nhưng tôi không phải là hình ảnh nầy." Rồi họ đưa tay ra, và nhẹ nhàng chạm tay vào gương, tấm gương nay đã chào thua họ. Giống y hệt như một cánh cửa lớn, lặng lẽ, mở toang ra, trước mặt họ là một phần của khu vườn đang rộng mở, rực rỡ, chan hòa dưới ánh nắng mặt trời, khu vườn nầy không giống bất cứ khu vườn nào, dù cho họ có tưởng tượng chăng nữa, lại đang có mặt ở trần gian. Và ở ngay nơi góc đường, phía xa kia, vị sư trụ trì già đang đứng chờ đợi họ, tay ông đang giữ hai cái xẻng.

The Path 

When arriving at the monastery new monks and nuns would commonly ask the abbot for instruction on the Path of practice. If they were insistent enough about finding the Path, the abbot would take them to a remote corner of the monastery garden where people seldom went. There he pointed them to a narrow walkway that disappeared into the bushes and trees. He told them, “You will find the Path at the end of this walkway.” Then the old abbot turned away, leaving each novice to walk on alone.

Intrigued, the new monastics set off in search of the Path. Before long, however, the trail took a sharp turn. When they rounded the corner they came face to face with a very large mirror. It blocked their way. Seeing their own image reflected in the mirror confused the new monastics. Some wondered, “Maybe I have taken the wrong path.” Still, no matter how many times they tried to retrace their steps or start over, sooner or later they found the mirror blocking their way again.

More than a few assumed the mirror was placed on the trail to show them that the real Path was in them, not in the external world. This understanding frightened some. They ran away. Others collapsed in hopelessness. Some simmered in anger. Occasionally, someone would become so upset that they would hurl a heavy rock at their reflection. The mirror, however, was impervious. Each time they threw a rock at it the stone bounced back and struck them instead.

There were some monastics among them who lingered in front of the mirror, each gazing at his or her own likeness. It mesmerized and delighted them. They spilled over with the conceit of themselves somehow being the great Buddhist Path. And, of course, there were those novices who simply tried to walk around the mirror. Believing it blocked their way, they plunged headlong into the surrounding thicket of bushes only to emerge scratched and bloodied by an impenetrable web of thorns and undergrowth.

From time to time one of them would see his or her mother or father standing next to them in their reflection. This was an eerie sight, as there was no doubt in their minds about whether their parents were walking with them or not. They knew they were alone. At other times, their reflected image was obscured by crowds of people.

In due course some of the monks and nuns finally calmed down enough to stop and look into their reflection. For many it was the first time they ever really looked deeply into themselves. More than a few concluded that the mirror and the reflection were the end of the Path. Those who did ended up stuck for a very long time. The others, however, remembered the abbot’s directive about finding the Path at the “end of this walkway.” When these monks and nuns stopped and looked deeply into their likeness in the mirror, a wonderful realization arose in their minds instead: “The reflection is of me, but I am not the reflection.” Then when they reached out and lightly touched the mirror, it gave way. Like a great door silently swinging open, it revealed a bright, expansive, sunlit section of garden unlike anything they could ever have imagined existed. Just beyond, at the edge of the path, stood the old abbot holding two shovels.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 30)
Duyên khởi là đạo lý quan trọng trong toàn bộ giáo pháp của Thế Tôn.
(Xem: 89)
Trong khi thực hành thiền quán, hành giả thường hay vướng vào năm chướng ngại, mà thuật ngữ Phật học gọi là
(Xem: 41)
Nhóm Tỳ-kheo được vô lậu giải thoát sau khi nghe Tỳ-kheo do Bồ-tát Văn-thù-sư lợi biến hóa ra giảng giải cho về pháp giới thể tánh.
(Xem: 139)
Pháp Như Thật là pháp thực hành thuộc về Thiền Huệ, nhưng tại sao lại cần phải thực hành pháp Như Thật? Tại sao phải học Thiền Huệ?
(Xem: 86)
Mẹ Hiền, hai tiếng nầy nghe thân thương, êm ái, ngọt ngào biết bao. Nghe mãi không nhàm, nghe hoài không chán.
(Xem: 83)
Tôi hiểu ngay là cả nhà, mỗi người đều đang dán mắt và bấm bấm, quẹt quẹt vào mặt kính cái smartphone của mình.
(Xem: 138)
Trong quan hệ 12 nhân duyên, nhân vì xúc (căn tiếp xúc trần) nên sinh thọ (cảm giác vui, khổ và trung tính), nhân vì thọ nên sinh ái (yêu ghét)...
(Xem: 147)
Nguyên bản: Gaining favorable condition for the time of death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D.; Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 240)
Bùi Giáng là nhà thơ, là dịch giả, là nhà bình luận văn học. Ông sinh ngày 17 tháng 12/1926 tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; từ trần ngày 7 tháng 10/1998 (thọ 71 tuổi) tại Sài Gòn
(Xem: 122)
Để đạt đến pháp giới vốn là pháp giới thể tánh, vốn là pháp giới bạch tịnh này, kinh điển thường dạy VănTư-Tu.
(Xem: 196)
Sau khi kết thúc đời sống hiện tại, chúng ta sẽ theo nghiệp mà thọ sinh vào cảnh giới tương ứng.
(Xem: 149)
Muốn thấy Phật thì Tâm phải như gương sáng. Thấy hết, biết hết mà không bao giờ khởi niệm.
(Xem: 153)
Công việc được hoàn tất tốt đẹp qua sự hưởng ứng và trợ giúp của quý Phật tử tại địa phương và các anh chị em huynh trưởng và đoàn sinh Gia Đình Phật Tử tại Đức Quốc.
(Xem: 243)
Nhiều Kinh điển Đại thừa (Mahayana Sutras)/Kinh điển Phật giáo Phát triển đã giảng 3 phương pháp thiền quán để đạt đến giải thoát, đó là ba cánh cửa của giải thoát.
(Xem: 247)
Kính Mừng Thọ 70 tuổi HT Thích Như Điển tổng hợp những bài viết cho Hoà Thượng Phương Trượng
(Xem: 163)
Xuất gia là tu hạnh giải thoát. Tự mình tu để được giải thoát,đồng thời hướng dẫn chỉ dạy cho người khác tu cùng giải thoát nữa.
(Xem: 286)
Một trong những biệt tài thuyết pháp của Thế Tôn là dùng hình ảnh để ví dụ minh họa chothính chúng dễ hiểu, dễ cảm nhận vấn đề Ngài muốn nói.
(Xem: 276)
Những ngày cuối hạ oi bức, không làn gió thoảng. Cây cối trơ ra như những tượng đá trong vườn thần chết. Mọi thứ như dừng đứng để chờ đợi một phép lạ.
(Xem: 155)
Bà mẹ già ngồi ở băng ghế sau chiếc xe hơi bỏ mui màu đỏ sậm đang rẽ quặt xuống xa lộ. Bà ghì chặt lấy cái giỏ đồ ...
(Xem: 173)
Đạo đức là nền tảng luân lý mà bất kỳ thời đại nào cũng cần phải xây dựng, cũng cố và phát triển.Con người nếu khôngđạo đức thì không dùng được.
(Xem: 234)
Hôm nay nhân đọc bản dịch từ Phạn văn ra Việt ngữ nầy của Giáo Sư Lê Tự Hỷ, chúng tôi vô cùng hoan hỷ vì rằng đây là những tài liệu rất bổ ích cần phải tham khảo
(Xem: 145)
Những ngày cuối hạ oi bức, không làn gió thoảng. Cây cối trơ ra như những tượng đá trong vườn thần chết.
(Xem: 266)
Những người chưa vào đạo Phật, hoặc chưa hiểu đạo Phật, thường nghĩ rất sai lầm, tưởng rằng đạo Phật là một đạo chán đời, bi quan...
(Xem: 231)
Bạn có thể cho con cái bạn sống trong một căn nhà to lớn, ăn uống đầy đủ ngon lành, lại học chơi cả đàn dương cầm...
(Xem: 403)
Học Phật là một công cuộc bền bỉ và trường kỳ, mà đơn vị để đo đạc ấy phải tính bằng “hằng-hà-sa kiếp sống” cũng như...
(Xem: 261)
Mọi sinh vật có thật đâu Thảy đều “vô ngã”, “ta” nào là “ta” Trí người nếu hiểu rõ ra Thoát ly phiền não cho xa tức thời, Theo đường thanh tịnh tuyệt vời.
(Xem: 233)
Bà Thanh Đề là mẹ của ngài Mục Kiền Liên (cũng gọi là Mục Liên), Bà tính tình tham lam,độc ác, không tin Tam Bảo, tạo ra nhiều tội lỗi...
(Xem: 383)
Tu thiền (Bhavanã Jhãna) Phật giáo là tiến trình tu tập, hành trì miên mật một pháp môn nào đó để kinh nghiệm trực tiếp trên ...
(Xem: 217)
Trong nhiều bài kinh từ Hán tạng cho đến Pali tạng, Đức Phật tán thán hạnh hiếu dưỡng cha mẹcông ơn ...
(Xem: 219)
Bút Phật không thủ chấp Mà vẫn ngát tâm hương Trong muôn ngàn ý tưởng Toả sáng lẽ Chơn Thường .
(Xem: 256)
Viên thành đạo nghiệp Tây Âu quốc. Giác ngộ chúng sanh đạo lý truyền.
(Xem: 219)
Nhiều người biết thầy Minh Đạo là một nhà thư pháp có nét chữ phóng khoáng với những phong cách đặc thù không lẫn với ai được.
(Xem: 284)
Nguyên tác: Preparing to Die; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 280)
Người tu hành lấy Nhẫn nhục làm sức mạnh. Nhẫn nhục là nhẫn về thân, khẩu, ý.
(Xem: 318)
“Về đâu, khi giông bão?” chính là câu hỏi cho cơn bão tâm, âm thầm mà cực kỳ dữ dội!
(Xem: 368)
Chủ nhật, 27 tháng 5, vợ chồng và con chúng tôi cùng bốn người bạn đến Chùa Hương Sen dự lễ Phật Đản. Đây là lấn đầu tiên chúng tôi đến Hương Sen.
(Xem: 532)
Tu là để SốngTỉnh Thức, và sống tỉnh thứclối sống thoát ly khỏi thân phận của ếch ngồi đáy giếng, tù đó có được tự dohạnh phúc thực thụ.
(Xem: 266)
Lý do đơn thuần chỉ vì việc học; nên chư Tăng Ni kẻ đến người đi, suốt một thời gian dài như thế, nay mới là thời điểm bắt đầu cho việc hoạt động phật sự tại đây trở thành nề nếp, quy cũ.
(Xem: 338)
Từ xa xưa có câu để lại là " đức năng thắng số", vậy đức năng ở đây được hiểu như thế nào? và cái gì tạo ra số và số được thể hiện ra sao?
(Xem: 259)
Nguyên bản: Liberation from Fear; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 308)
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều người thích việc sát sinh và có rất ít người tôn trọng sự sống.
(Xem: 215)
Đệ nhất Ban Thiền Lạt Ma đã viết mười bảy thi kệ mà người Tây Tạng thường tập trung quán chiếu trong đời sống hàng ngày về sự chết. Đức Đạt Lai Lạt Ma
(Xem: 249)
Văn nghệ trong khoá tu học Phật pháp Âu Châu lần thứ 30 năm 2018
(Xem: 328)
Thật quan trọng để tỉnh thức về sự chết – để quán chiếu rằng ta sẽ không sống mãi trên cuộc đời này.
(Xem: 186)
Tôi thật sự cảm thấy vinh dự lớn để nói chuyện với quý vị. Đặc biệt tại trường đại học, vì đây là trường Đại học Bombay rất nổi tiếng.
(Xem: 272)
Thượng võ, có nhiều nghĩa. Trong danh từ, nghĩa đơn giản là đề cao, ưa thích võ thuật. Nhưng tĩnh từ, có nghĩa là tâm hồn cao thượng của người đã sống được võ đạo, nghĩa là tử tế, công bằng, không gian lận.
(Xem: 401)
Những gì không phải của mình thì nên buông hết, chẳng nên nắm giữ làm gì, buông hết mới được an vui.
(Xem: 173)
Chúng tôi rất ngạc nhiên vì trong khi nghiên cứu, đối khảo kinh điển Phật giáo từ Pāli và Hán tạng, đã phát hiện nhiều trường hợp tương đồng giữa ngôn ngữ Pāli và tiếng Việt.
(Xem: 426)
Người không hiểu đặt câu hỏi “Tại sao cá đã bắt lên rồi lại đem thả, như thế có giả tạo không?; “Sao không đem tiền cho người nghèo mà đi cứu mấy con cá?”
(Xem: 339)
Người học Phật hẳn ai cũng từng nghe biết thuật ngữ vô minh, nghĩa đensi mê, tối tăm. Ngược lại với vô minh là minh, tức tuệ giác, sáng tỏ.
Quảng Cáo Bảo Trợ