Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
14,868,485
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Vực Thẳm (song ngữ)

03 Tháng Bảy 201514:52(Xem: 7305)
Vực Thẳm (song ngữ)
VỰC THẲM 

Gil Fronsdal - Chuyển Ngữ: Nguyễn Văn Tiến

Vực Thẳm (song ngữ)

Vực Thẳm

Nhà sư lãnh đạo các công việc của tu viện, đã kể câu chuyện nầy như sau:

Tôi giống như đang đứng ở khúc cuối của con đường cùng, sau hai mươi sống trong tu viện. Tôi đã cống hiến bản thân mình, siêng năng tu tập, cùng tuân thủ theo giới luật của tu viện. Nhờ tôi trải qua nhiều nỗ lực thực hành, nên những nguồn năng lượng trong tâm tôi như sự tập trung, sự tỉnh thức, và lòng từ bi, đã trở nên rất mạnh mẽ, nhiều đến nỗi vị sư trụ trì chưa bao giờ trông thấy ai như thế, trước kia. Mọi người đều cảm thấy sự an lạc, cùng với sự thanh thản, khi họ tiếp xúc với tôi. Tôi chỉ còn rất ít sự dính mắc, mà người khác trông thấy được.

Tuy nhiên, tôi vẫn chưa giác ngộ. Ở tu viện nầy, có những nhà sư khác đến tu hành sau tôi, và họ cũng đã thực hành ít kỹ lưỡng hơn tôi, nhưng họ đã đạt được những cấp độ khác nhau của sự giác ngộ. Mọi người đều cho rằng trường hợp của tôi là kỳ lạ nhất.

Rồi một ngày kia, vị sư trụ trì kéo tôi ra bên cạnh ông, rồi ông nói chuyện với tôi thật lâu. Chúng tôi bàn luận về lý do tôi đã không có sự tiến bộ, lý do con người tôi như bị ai kéo ghì lại, bởi vì tôi đã sợ hãi để buông xả hoàn toàn. Mặc dù tôi tin tưởng rằng tôi đã đặt niềm tin vào đời sống tinh thần, nhưng tận trong trái tim tôi là một sự hoài nghi không-rõ-ràng, nhưng dai dẳng. Từ hồi còn bé đến giờ, một phần của tâm trí tôi như đứng trên ngọn đồi cao, nhìn xuống đợi chờ một thảm kịch kinh hãi, đe dọa đến gần. Vào phút cuối của buổi nói chuyện, nhà sư trụ trì bảo tôi rằng ông đã nghĩ ra một cách duy nhất, để thắp lửa vào ngọn đèn giác ngộ của tôi. Khi ông cho tôi cơ hội nầy, mắt tôi đầy lệ vì vui mừng ... nhưng rồi ông bảo tôi, điều nầy có nghĩa là tôi phải bước xuống căn phòng dưới tầng hầm, có tên là "Vực Thẳm".

Đã qua rất nhiều thế hệ, không có một ai bước vào căn phòng nầy. Chỉ có những nhà sư trụ trì là biết được các điều bí mật xảy ra bên trong căn phòng. Và, không còn một ai khác. Cánh cửa mầu đỏ của căn phòng luôn khóa chặt, nhưng chắn chắn, đây là một điều không cần thiết. Một bầu không khí kinh hãi, phát ra từ phía bên trong, làm các nhà sư lo sợ khi họ phải đi ngang qua, gần cánh cửa phòng.

Trong lúc chúng tôi đi bộ xuống tầng hầm, vị sư trụ trì giải thích cho tôi biết rằng, đây là cơ hội cuối cùng, và duy nhất của tôi vào căn phòng nầy. Một khi tôi bước vào căn phòng, tôi sẽ không có đường quay trở lại. Đứng trước cửa phòng, tôi có cảm giác buồn vui lẫn lộn trước khi bước vào. Vị sư trụ trì cẩn thận giải thích những lời hướng dẫn, mà vị thầy của ông đã truyền lại cho ông. Lời hướng dẫn của ông, tôi nhớ như sau: "Tôi sẽ phải bước vào phòng. Nhà sư trụ trì sẽ đóng ập cửa, rồi cánh cửa sau lưng tôi được khóa lại, và trong mọi trường hợp ông không được mở cửa ra nữa. Khi tôi vào phòng rồi, tôi đơn giản chỉ cần đi bộ đến phía bên kia của căn phòng, rồi bước ra ngoài bằng cánh cửa bên đó. Chuyện nầy nghe có vẻ khá dễ dàng".

Sau đó, đột nhiên, nhà sư trụ trì mở cửa, rồi ông đẩy tôi ngay vào phòng. Trước khi tôi kịp bình tĩnh lại, tôi nghe thấy tiếng khóa cửa sau lưng tôi.

Căn phòng nầy thật sự rất lớn, có lẽ chiều rộng khoảng 30 mét (tương đương với 100 feet). Ở mặt bên kia của căn phòng là cánh cửa, giống y hệt như cánh cửa tôi vừa bước vào.

Căn phòng không có sàn nhà. Tôi đang đứng trên chỗ-nhô-ra-của-mỏm-núi-đá, chiều ngang 60 xăng-ti-mét (tương đương với 2 foot), và có chiều dài bằng cánh cửa. Ngay chính giữa tôi và cánh cửa bên kia là một vực thẳm. Vực thẳm mà tôi chẳng nhìn thấy đáy. Từ đáy vực sâu, đưa lên âm thanh ken két như tiếng ghiền đá, cùng với âm thanh vỡ nứt. Thỉnh thoảng, một quả cầu lửa bắn lên trên.

Tôi đã sợ hãibối rối. Tôi cần phải làm gì đây, làm sao tôi có thể đi qua phía bên kia được? Tôi đã dành trọn ngày đầu tiên đứng trên chỗ-nhô-ra-của-mỏm-núi-đá để học hỏi về căn phòng, vì tôi tưởng rằng tôi sẽ tìm ra được cách bí mật để đi qua phía bên kia. Tôi đã dành trọn ngày thứ hai đập mạnh vào cánh cửa, để hy vọng rằng ai đó sẽ mở cửa cho tôi ra ngoài. Tôi đã khóc gần như trọn ngày thứ ba, rồi trong khi ngồi trên chỗ-nhô-ra-của-mỏm-núi-đá, một chiếc dép đã rơi ra khỏi chân tôi. Khi chiếc dép rơi xuống vực, những âm thanh ken két như tiếng ghiền đá, vang vọng lên còn nhiều hơn trước.

Vào ngày thứ tư, sau nhiều lần tôi suy nghĩ về lời hướng dẫn, tôi cảm thấy tuyệt vọng. Lời hướng dẫn thật đơn giản: Hãy đi bộ đến bên kia của căn phòng, rồi bước ra bằng cánh cửa bên đó. Tôi có thể tin tưởng vào Nhà Sư Trụ Trì không?

Mệt mỏi và đói bụng, vào ngày thứ năm tôi đã chẳng còn chút hy vọng nào nữa. Tôi tự thuyết phục tôi rằng, tôi không còn sự lựa chọn nào khác, ngoài việc cố gắng đi đúng theo lời hướng dẫn, tôi quyết định bước chân ra ngoài chỗ-nhô-ra-của-mỏm-núi-đá. Tôi cố gắng không tưởng tượng, những điều gì đang chờ đợi tôi dưới vực sâu. Vì quá hãi sợ, nên tôi nhìn thẳng về phía trước, và đưa chân đi một bước về phía bên kia phòng, chân tôi đang bước vào nơi-tôi-không-biết. Khi tôi đặt chân xuống, chỗ-nhô-ra-của-mỏm-núi-đá tự kéo dài ra về phía trước, nên giúp cho chân tôi đứng vững vàng.

Phải mất thêm một ngày nữa, tôi mới dám bước chân thêm bước thứ nhì, và cuối cùng khi tôi quyết định đi tiếp, chỗ-nhô-ra-của-mỏm-núi-đá một lần nữa tự kéo dài ra phía trước, để nhận lấy chân tôi. Tôi tiếp tục bước đi vào chỗ-hư-không (còn gọi là tánh-không, dưới cái nhìn Phật Giáo), và theo cùng với mỗi bước chân tôi đi, chỗ-nhô-ra-của-mỏm-núi-đá kéo dài thêm ra. Và cứ như thế, chẳng mấy chốc, tôi đã đến phía bên kia phòng.

Kể từ ngày hôm ấy, tự tôi buông xả, rồi tôi bước chân vào nơi tự do của sự giác ngộ, thật dễ dàng.

 

The Abyss 

The work leader of the monastery told this story:

I had reached an impasse after twenty-five years in the monastery.  I had devoted myself diligently to monastic practice.  Through much effort my powers of concentration, mindfulness, and compassion were among the strongest the Abbot had ever seen. I was known for my peace and equanimity. I had few obvious attachments.

However, I had not yet attained realization.  Other monks, with less time in the monastery and less thorough practice had reached various levels of awakening. Everyone thought my circumstance was most strange.

Then one day the Abbot took me aside for a long talk. We discussed how I was held back by my fear of completely letting go. As much as I trusted the spiritual life, at my core was some deep, unarticulated nagging mistrust. As long as I could remember, a part of me was on the lookout for impending tragedy.  At the end of the conversation the Abbot told me he could think of only one more catalyst for my enlightenment. Just the possibility brought me tears of joy … until he told me it meant entering a basement room called “the Abyss.”

No one in many generations had entered this room. Only the abbot was entrusted with the secret knowledge of what was inside. No one else knew.  While the red door to the room was kept locked, it didn’t need to be.  An atmosphere of terror emanated from within and the monks were afraid to walk anywhere close to the door.

Walking down to the basement the Abbot explained that my one and last opportunity was inside this room.  Once I entered this room, there would be no turning back.  Standing in front of the door I had mixed feelings about entering.  The abbot carefully explained the instructions that had been transmitted to him. I was to step into the room.  The abbot was to close and lock the door behind me and under no circumstance was he to unlock it again. On entering the room I was simply to walk to the other side of the room and exit through the door there. It sounded easy enough.

Suddenly, the abbot opened the door and pushed me inside. Before I could get my bearings, I heard the door lock behind me.

The room proved to be huge, perhaps 100 feet wide. On the other side of the room was a door just like the one I had entered.

The room had no floor.  I was standing on a two foot ledge as wide as the door. Between me and the other door was a gaping abyss. I could not see the bottom.  From the depths came horrible grinding and cracking sounds.  Occasionally a ball of flame shot upward.

I was scared and perplexed.  How was I supposed to walk across?  I spent the first day standing on the ledge studying the room, certain that I was meant to discover some secret way to get across.  I spent the second day banging on the door hoping that someone would let me out.  I cried most of the third day until, while sitting on the ledge, one of my slippers fell off my foot. As it fell the grinding noises seemed to get worse.

On the fourth day I desperately and repeatedly reviewed the instructions.  They were so simple: Walk across the room and out the other door. Could I trust the Abbot?

Tired and hungry, on the fifth day I gave up all hope.  Convinced I had no other choice but to try the instructions, I decided to walk out off the ledge.  I tried not to imagine what awaited me down in the depths. Terrified, I looked straight ahead and took a step into the room, into the unknown.  As my foot came down, the ledge stretched forward, receiving me with a firm, stable base.

It took me another day to take the second step, but when I finally did, the ledge again extended itself outwards to receive my foot.  I continued walking into the emptiness and with each step the ledge became longer. Soon enough I had reached the opposite side.

From that day on, letting go into the freedom of realization has come easily.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 134)
Những ai có lòng từ mẫn chân thành chia sẻ tịnh tài hay tịnh vật dù ít dù nhiều tùy khả năng, thì việc bố thí nầy được xem như là Quảng Đại Tài Thí...
(Xem: 10)
Hơi thở là sự tiếp nối chuỗi cuộc sống trong luân hồi sinh tử của nghiệp báo. Hơi thở tượng trưng cho sự sống. Hơi thở tạo nên...
(Xem: 58)
Trong khi thực hành thiền định, hành giả bắt đầu điều phục thân và điều phục tâm
(Xem: 102)
Trước thời Thế Tôn, nhân loại đã biết và nói đến vô thường của các sự vật hiện tượng. Tuy vậy, cái thấy biết về vô thường này chưa toàn triệt,
(Xem: 89)
Kinh MN 1 (Mulapariyaya Sutta) là Kinh khởi đầu Trung Bộ, được Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch là Kinh Pháp Môn Căn Bản.
(Xem: 128)
Bàn tay ta vun đắp, thành bại thuộc vào duyên, Vinh nhục ai không gặp, Có chi phải ưu phiền.
(Xem: 79)
Đạo Phật chủ trương hòa bình, lấy từ bi hóa giải hận thù, lấy sự xả buông để khắc chế tham ái. Chiến tranh, xung đột, bạo động là biểu hiện rõ ràng của tham lam, sân hận và si mê.
(Xem: 82)
Đối với đạo Phật, ba ngôi Tam bảo rất quý báu, hiếm có khó gặp ở thế gian nên người con Phật (chư Tăng, Ni, Phật tử nói chung) phải kính lễ, tôn thờ.
(Xem: 120)
Chúng ta được dạy, nếu khéo lắng nghe, ta sẽ được trí tuệ. Nếu không biết lắng nghe, ta sẽ không được gì cả.
(Xem: 578)
Kính Mừng Thọ 70 tuổi HT Thích Như Điển tổng hợp những bài viết cho Hoà Thượng Phương Trượng
(Xem: 202)
Mắt ở đây phải hiểu là cách nhìn, cái mà mình cảm thấy, cái mà mình cho rằng, cái mà mình biết do nhìn thấy
(Xem: 110)
Hai từ " buông bỏ " thời buổi bây giờ là một thành ngữ nghe vô cùng sáo rỗng, đã được xử dụng nhiều nhất trong kỷ nguyên thời đại mới (new age).
(Xem: 312)
Nếu bạn say mê đọc kinh Phật, ưa thích những phân tích kỹ càng về giáo điển, muốn tìm hiểu các chuyện xảy ra thời Đức Phật đi giảng dạy nơi này và nơi kia, hiển nhiên đây là một tác giả bạn không thể bỏ qua
(Xem: 151)
Các nhà hiền triết Ấn Độ giáotu sĩ Phật giáo đã nhận diện tầm quan trọng và lợi ích sức khỏe khi một hành giả thực tập thiền đều đặn trong mỗi ngày.
(Xem: 215)
Theo tuệ giác của Thế Tôn, nếu các căn gặp cảnh trần vừa ý, thọ lạc rồi sinh tâm yêu thích, đắm nhiễm thì đó là cội nguồn của mọi khổ đau.
(Xem: 141)
Kiếp sống này biến mất rất nhanh chóng Giống như thứ gì đó được viết trên mặt nước với một que cây -ĐỨC PHẬT-
(Xem: 155)
Từ non cao, những đợt lá vàng cuốn theo gió, rơi theo dòng suối, trôi giạt xuống con sông nhỏ trong làng; rồi từng nhóm lá xuôi dòng, tấp vào bờ này hay bờ kia.
(Xem: 137)
Cuộc đời là một chuỗi những bài kiểm tra. Khó khăn chính là những bài kiểm tra. Chúng ta đang ở trong một trường đời.
(Xem: 168)
Trong công việc khó có thể tránh khỏi hoàn cảnh bất lợi, nhiều người sợ gặp phải hoàn cảnh khó khăn, cảm thấy nghịch cảnh là một cú sốc lớn.
(Xem: 143)
Đối với hàng Phật tử tại gia, năm giới là năm điều học căn bản để tạo dựng nên một nếp sống đạo đức, tốt đẹplành mạnh.
(Xem: 363)
Nguyên bản: Meditating while dying; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 225)
Từ non cao, những đợt lá vàng cuốn theo gió, rơi theo dòng suối, trôi giạt xuống con sông nhỏ trong làng; rồi từng nhóm lá xuôi dòng, tấp vào bờ này hay bờ kia.
(Xem: 177)
Duyên khởiđạo lý quan trọng trong toàn bộ giáo pháp của Thế Tôn.
(Xem: 214)
Trong khi thực hành thiền quán, hành giả thường hay vướng vào năm chướng ngại, mà thuật ngữ Phật học gọi là
(Xem: 107)
Nhóm Tỳ-kheo được vô lậu giải thoát sau khi nghe Tỳ-kheo do Bồ-tát Văn-thù-sư lợi biến hóa ra giảng giải cho về pháp giới thể tánh.
(Xem: 350)
Pháp Như Thật là pháp thực hành thuộc về Thiền Huệ, nhưng tại sao lại cần phải thực hành pháp Như Thật? Tại sao phải học Thiền Huệ?
(Xem: 164)
Mẹ Hiền, hai tiếng nầy nghe thân thương, êm ái, ngọt ngào biết bao. Nghe mãi không nhàm, nghe hoài không chán.
(Xem: 197)
Tôi hiểu ngay là cả nhà, mỗi người đều đang dán mắt và bấm bấm, quẹt quẹt vào mặt kính cái smartphone của mình.
(Xem: 211)
Trong quan hệ 12 nhân duyên, nhân vì xúc (căn tiếp xúc trần) nên sinh thọ (cảm giác vui, khổ và trung tính), nhân vì thọ nên sinh ái (yêu ghét)...
(Xem: 209)
Nguyên bản: Gaining favorable condition for the time of death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D.; Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 309)
Bùi Giáng là nhà thơ, là dịch giả, là nhà bình luận văn học. Ông sinh ngày 17 tháng 12/1926 tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; từ trần ngày 7 tháng 10/1998 (thọ 71 tuổi) tại Sài Gòn
(Xem: 224)
Để đạt đến pháp giới vốn là pháp giới thể tánh, vốn là pháp giới bạch tịnh này, kinh điển thường dạy VănTư-Tu.
(Xem: 305)
Sau khi kết thúc đời sống hiện tại, chúng ta sẽ theo nghiệp mà thọ sinh vào cảnh giới tương ứng.
(Xem: 225)
Muốn thấy Phật thì Tâm phải như gương sáng. Thấy hết, biết hết mà không bao giờ khởi niệm.
(Xem: 190)
Công việc được hoàn tất tốt đẹp qua sự hưởng ứng và trợ giúp của quý Phật tử tại địa phương và các anh chị em huynh trưởng và đoàn sinh Gia Đình Phật Tử tại Đức Quốc.
(Xem: 337)
Nhiều Kinh điển Đại thừa (Mahayana Sutras)/Kinh điển Phật giáo Phát triển đã giảng 3 phương pháp thiền quán để đạt đến giải thoát, đó là ba cánh cửa của giải thoát.
(Xem: 226)
Xuất gia là tu hạnh giải thoát. Tự mình tu để được giải thoát,đồng thời hướng dẫn chỉ dạy cho người khác tu cùng giải thoát nữa.
(Xem: 409)
Một trong những biệt tài thuyết pháp của Thế Tôn là dùng hình ảnh để ví dụ minh họa chothính chúng dễ hiểu, dễ cảm nhận vấn đề Ngài muốn nói.
(Xem: 335)
Những ngày cuối hạ oi bức, không làn gió thoảng. Cây cối trơ ra như những tượng đá trong vườn thần chết. Mọi thứ như dừng đứng để chờ đợi một phép lạ.
(Xem: 227)
Bà mẹ già ngồi ở băng ghế sau chiếc xe hơi bỏ mui màu đỏ sậm đang rẽ quặt xuống xa lộ. Bà ghì chặt lấy cái giỏ đồ ...
(Xem: 333)
Đạo đức là nền tảng luân lý mà bất kỳ thời đại nào cũng cần phải xây dựng, cũng cố và phát triển.Con người nếu khôngđạo đức thì không dùng được.
(Xem: 313)
Hôm nay nhân đọc bản dịch từ Phạn văn ra Việt ngữ nầy của Giáo Sư Lê Tự Hỷ, chúng tôi vô cùng hoan hỷ vì rằng đây là những tài liệu rất bổ ích cần phải tham khảo
(Xem: 193)
Những ngày cuối hạ oi bức, không làn gió thoảng. Cây cối trơ ra như những tượng đá trong vườn thần chết.
(Xem: 361)
Những người chưa vào đạo Phật, hoặc chưa hiểu đạo Phật, thường nghĩ rất sai lầm, tưởng rằng đạo Phật là một đạo chán đời, bi quan...
(Xem: 308)
Bạn có thể cho con cái bạn sống trong một căn nhà to lớn, ăn uống đầy đủ ngon lành, lại học chơi cả đàn dương cầm...
(Xem: 493)
Học Phật là một công cuộc bền bỉ và trường kỳ, mà đơn vị để đo đạc ấy phải tính bằng “hằng-hà-sa kiếp sống” cũng như...
(Xem: 320)
Mọi sinh vật có thật đâu Thảy đều “vô ngã”, “ta” nào là “ta” Trí người nếu hiểu rõ ra Thoát ly phiền não cho xa tức thời, Theo đường thanh tịnh tuyệt vời.
(Xem: 317)
Bà Thanh Đề là mẹ của ngài Mục Kiền Liên (cũng gọi là Mục Liên), Bà tính tình tham lam,độc ác, không tin Tam Bảo, tạo ra nhiều tội lỗi...
(Xem: 569)
Tu thiền (Bhavanã Jhãna) Phật giáo là tiến trình tu tập, hành trì miên mật một pháp môn nào đó để kinh nghiệm trực tiếp trên ...
Quảng Cáo Bảo Trợ