Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
20,418,478

Tổng Luận Về Ý Nghĩa Từ Sila - Học Xứ

Saturday, July 4, 201506:39(View: 11501)
Tổng Luận Về Ý Nghĩa Từ Sila - Học Xứ

TỔNG LUẬN VỀ Ý NGHĨA TỪ ŚĪLA - HỌC XỨ

Phước Nguyên

Từ nơi bản thể tịch tĩnh của Đại Niết-bàn mà đức Thế-Tôn thiết định Śīla: học xứ, học giới,... nên học xứ ấy là nghiệp dụng của bản thể. Cho nên, muốn thể chứng bản tánh bất sanh, bất diệt, bất thường, bất đoạn, bất lai, bất khứ, bất nhất và bất dị của Niết bàn phải đi bằng con đường các học xứ.

Bồ Tát Anh Lạc Bản Nghiệp Kinh: “Nhược nhất thiết chúng sinh sơ nhập tam bảo hải dĩ tín vi bản, trụ tại phật gia dĩ giới vi bản”[1]: Hết thảy chúng sanh khi mới bắt đầu vào biển Tam bảo lấy tín làm gốc; khi sống trong ngôi nhà của Phật, thì lấy giới làm gốc.

Học xứ khởi sinh từ nơi tư tâm sở hay từ nơi ước muốn và thệ nguyện của một người tha thiết khất cầu pháp học xứ để sống đời thanh tịnh. Học xứ ấy là từ nơi hữu tác giới thểthành tựu vô tác giới thể.

Học xứ, tiếng Phạn là Śīla: có nghĩa là học tập theo các điều khoản đạo đức, học tập các điều thiện…chứ không có ý nghĩa cấm đoán, răn đe như các điều răn khắc khe. Hán phiên âm là Thi la và dịch là học xứ, học giới hay phổ thông dịch là giới.

Śīla hay học xứ được giải thích với rất nhiều ý nghĩa:

Tránh xa:

Học xứ có nghĩa là trung đạo, vì tránh xa hai cực đoan ép xác khổ hành và buông lung trong các dục.

Tránh xa khổ hành: Đây là sự tu tập không dẫn đến đời sống an lạcgiải thoát tối thượng.

Tránh xa buông lung trong các dục: Vì đây là sự chạy theo các dục để hưởng thụ khoái lạc, là sự thấp kém và đê tiện, không có an ổn tối thượng, không phù hợp với đời sống cao thượng.

Đức Phật thiết định các học xứ, để thi thiết lối sống tránh xa hai cực đoan ấy và thực hành trung đạo. Trung đạo ở đây không phải là con đường giữa, mà là con đường vượt ra khỏi hai cực đoanép xác khổ hạnhbuông lung theo các dục. Con đường ấy có khả năng dẫn sinh dẫn tới đời sống tịch tĩnh, giải thoát hoàn toàn khỏi mọi khát ái.

Từ bỏ:

Học xứ có nghĩa là từ bỏ đối với các ác nghiệp hay tà nghiệp như: sát sanh, trộm cắp, tà hạnh, vọng ngữ,... Vì vậy, học xứ có nghĩa là từ bỏ các tà nghiệp để dẫn tới chánh nghiệp.

Chánh Nghiệp từ Sanskirt là Samyakkarmānta, Pāli gọi là Sammākammanta. Karmānta của Sanskrit, có động từ căn k: tạo tác, hoạt động, hành động,... Hán dịch SamyakkarmāntaChánh nghiệp; Anh ngữ gọi là Right action, Right occupation,... Từ Samyak: có nghĩa là chính xác, trực tiếp, hợp lý, đích thực, hiện thực,…Hán dịch là: Chánh, Trực. Anh ngữ dịch là: Right. Ở đây từ từ Samyak nên hiểu là hợp lý. Hợp lý ở hai phiên diện: Thân và Khẩu.

Thân cận:

Học xứ có nghĩa là gần gũi với Định, Tuệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến.

Chúng ta cũng có thể nói khác đi, Học xứ gần gũi và đặt nền tảng dẫn đến sự thành tựu giải thoát và Niết-bàn.

Nhiếp hộ:

Học xứ có nghĩa là ngăn ngừa các ác pháp thuộc về thân và ngữ. Không thể ngăn ngừa các ác pháp thuộc về Ý.  Vì ý thì phải dùng định để điều phục chứ không thể dùng giới để ngăn ngừa những điều khoản phi pháp về ý được.

Học xứ có nghĩa là phòng hộ năm căn môn: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt và thân khiến năm trần cảnh: sắc, thanh, hương, vị và xúc, không có khả năng xâm nhập để dẫn sinh nghiệp đạo bất thiện.

Giải thoát:

Học xứ có nghĩa là giải thoát đối với các ác nghiệp đạo thuộc về thân và khẩu. Vì thân và khẩu không tạo tác ác nghiệp, bên cạnh Ý được phòng hộ bởi năng lực của định và khát ái bị kiếm Tuệ chém đứt. Do đó, sanh tử được chấm dứt, khổ đau bị đoạn tận. Nên học xứ được nói là giải thoát.

Thận trọng:

Śīlahọc xứ, phòng hộ các điều phi pháp một cách thận trọng, khiến các sai lầm từ thô đến tế, không có điều kiện sinh khởi làm ảnh hưởng đến đời sống phạm hành thanh tịnh.

Học xứ có nghĩa là thận trọng đối với với các oai nghi, như đi, đứng, nằm, ngồi. Thận trọng từng hành vi nhỏ nhiệm, cẩn trọng tháo gỡ từng sự trói buộc vi tế của thân và khẩu, đang kiềm hãm thân và khẩu trong sự phiền não.

Chế ngự:

Học xứ có nghĩa là chế ngự đối với các ác nghiệp, chế ngự các điều phi pháp thuộc thân và khẩu do tùy theo giới bổn; thế nên, học xứ có nghĩa là chế ngự.

Nâng lên và Gìn giữ:

Từ Sanskrit Śīla được giải thích ý nghĩa tương đương với từ Sanskrit Upadhārana, tiền tố từ Upa: chỉ sự tiếp cận, Dhārana: có nghĩa là thâu tóm, gìn giữ, thâu nhiếp, v.v.. cũng được hiểu là nâng cao, đưa cao. Nên Upadhārana được hiểu với nghĩa là tiếp cận học hỏi để gìn giữ hay tiếp cận học theo để nâng lên.

Tiếp cận học hỏi để gìn giữ, tức là tiếp cận học tập các điều khoản thiện pháp để giữ đời sống phạm hành thanh tịnh.

Tiếp cận học theo để nâng lên tức là tiếp cận học tập theo các điều khoản đạo đức, các điều khoản cao quý, để nâng hành từ những hành vi thấp hèn sang hành vi hợp lý, giải thoát cao thượng, nâng từ sinh tử lên Niết bàn.

Cho nên Śīla được giải thích ý nghĩa tương đương với từ Sanskrit Upadhārana vì nó gìn giữ về các điêu thiện, nếu không có các học xứ thì các thiện pháp hữu lậuvô lậu không có cơ sở để phát sinh.

Thanh Lương:

Từ Sankrit: Śītala có nghĩa là mát mẻ, tươi mát, êm diệu, tinh khiết v.v.. Hán dịch là Thanh lương, Anh ngữ chuyển dịch là Clear and cool; clear, pure v.v..

Học xứ có nghĩa là thanh lương, vì nó làm cho những oi bức khổ đau do thân và khẩu tạo tác lắng xuống, đưa đến sự êm diệu, tươi mát về thân và khẩu. Cho nên Śīla được giải thích tương đương với Śītala Thanh lương.

Diệu hành:

Diệu Hành là dịch từ chữ Sanskrit Sucarita, có nghĩa là việc làm thù diệu, hành động cao thượng.

Học xứ có nghĩa là diệu hành, vì nó có năng lực đưa người hành trì đi đến chỗ cao thượng, rời xa chỗ nguy hiểm đạt đến bình an đích thực.

Tư Tâm Sở:

Theo ngài Vāsubandhu (Thế Thân) thì Tư hay Ý chí (cetanā) có ba loại: Thẩm lự tư, Quyết định tư và Phát động tư[2].

Học xứ hiện diện và khởi sinh từ Tư Tâm Sở của một người có ý chí và phát ra lời nguyện: “Kể từ bây giờ cho đến trọn đời, từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cướp, từ bỏ tà hạnh, từ bỏ vọng ngữ” Vì nó là bảy tác ý, luôn đi kèm bảy trong mười nghiệp đạo thiện, từ nơi một người phát khởi ý chíthệ nguyện trọn đời từ bỏ các hành vi phi pháp trên. Nên Śīla được giải thích ý nghĩaCetanā hay rõ hơn là tư tâm sở.

Tâm sở Thọ, Tưởng và Hành:

Học xứ hiện diệnphát khởi từ tâm sở thọ, tâm sở tưởng và tâm sở hành của một người giữ gìn sự khước từ đối với thân và khẩu.

Hành: từ Sanskrit là Saskāra, Pāli gọi là Samkhara, Saskāra có rất nhiều nghĩa. Nếu nó đi từ động từ căn Sam-skri, thì có nghĩa là đặt vào với nhau, liên kết với nhau. Nhưng nếu nó đi từ động từ căn Sams-kri thì có nghĩa là hành động liên kết, tác động liên kếtSaskāra là hành động có tính liên kết, sự hoạt độngtính cách xông ướp, tập luyện, thường xuyên. Hán dịch Saskāra là Hành, có nghĩa là hoạt động, tác động, vận hành... Theo ngài Budhaghoṣa, thì Hành lấy hoạt động làm tướng, lấy nỗ lực làm dụng, lấy ý chí làm động cơ và lấy vô minh làm duyên[3]

Tưởng: Sanskrit gọi là Sajñā: căn động từ là jñā có nghĩa là: ấn tượng, ý niệm, khái niệm, tư tưởng, hiểu biết v.v..

Kết hợp

Từ Sanskrit Śīlana, có nghĩa là kết hợp, liên kết, nối kết, gắn kết v.v.. Vì Śīla-học xứ, có khả năng kết hợp với thiện nghiệp đạo của thân và ngữ. Nên Śīla được giải thích với ý nghĩa của từ Sanskrit Śīlana.

Không nên vượt qua:

Vì các học xứ là hàng rào ngăn cản tội lỗi, là bờ đê ngăn chặn nước lũ ác pháp. Nếu vượt qua các học xứ, không thi hành, không gìn giữ thì rơi vào điều ác, điều tội lỗi. Chữ “Tội” ở đây phải hiểu là hành động, việc làm … bị bậc Thánh chê trách.

Điểm hội tụ:

học xứ do đức Thế Tôn thiết định từ nơi bản thể Nhất như của Niết-bàn, nên học xứ ấy, là khởi điểm, và là điểm tụ hội của hết thảy thiện pháp.

Đình chỉ:

Các Học xứ có khả năng đình chỉ các hành động phi pháp, các việc làm xấu ác của thân nghiệpkhẩu nghiệp.

Thiện nghiệp

Học xứ có rất nhiều nghĩa, nhưng nghĩa căn bản là thiện, đạo đức, có khả năng phòng hộ hết thảy mọi ác pháp xảy ra đối với thân tâm của một người đã phát nguyện thọ trì.

Luật Nghi:

Từ Sanskrit gọi là savara: phòng hộ, do đi từ động từ căn vs: bao trùm, phòng hộ, ước nguyện,.. Hán  dịch là luật nghi với ý nghĩa là phòng hộ, chứ không phải điều luật cấm cản, khuôn phép ngăn cấm, quy phạm luật lệ v.v.. như một số học giả đã từng giải thích.

Học xứ có khả năng phòng hộ căn môn, hay căn luật nghi, Sanskrit gọi là indriya-saṃvara, Pāli là indriyesu guttadvāro, có nghĩa là: canh chừng cánh cửa nơi các giác quan. Kinh nói: “So cakkhunā rūpa disvā na nimittaggāhī hoti (…) rakkhati cakkhundriya, cakkhundriye savara āpajjati. Sotena (…)”[4]: “Vị tỷ-kheo ấy, khi nhìn thấy sắc, không nắm chặt các hình tướng (…), giữ gìn giác quan con mắt, canh chừng nơi giác quan con mắt”.

Có ba loại luật nghi: căn luật nghi[5], phòng hộ các giác quan; biệt giải thoát luật nghi[6], phòng hộ bằng các điều học giới đã phát nguyện thọ; và vô lậu luật nghi[7], phòng hộ do chứng pháp vô lậu.

Theo Ngài Thế Thân giải thích trong Câu-xá luận: Luật nghi (savara) chính là một loại tư (cetana) có khả năng ngăn chận các hành động xấu và điều phục (savṛṇotti) thân ngữ sau khi được biểu hiện qua việc cương quyết (vidhi) không tạo tác tội lỗi, qua sự phát nguyện giữ giới; vì thế đã dựa vào đó để lập thành luật nghi biệt giải thoát[8]. Và Ngài Thế Thân cũng nói: luật nghi (savara), có khả năng thu thúc (savṛṇoti) và trừ diệt hoặc ngăn chặn dòng tương tục của ác giới (dauḥṣīlyaprabandha)[9].

Học xứ có hai đặc tính phối hợp. Một là làm nền tảng cho định và tuệ; hai là phối hợp với định và tuệ làm sinh khởi các thiện pháp vô lậu, tương ứng với Niết bàn. Học xứnhiệm vụ làm chấm dứt tà hành để thành tựu đức hành, diệu hành, tịnh hành, chánh hành, ứng lý hành, và giải thoát hành.

Học xứ có rất nhiều ý nghĩa như thế nghĩa, ý nghĩa tinh yếu của nó là đình chỉ hành vi phi pháp, ngăn chặn các ác nghiệpthi hành theo các thiện pháp, ý nghĩa căn bản của Học xứ là thiện, đạo đức, có khả năng phòng hộ hết thảy mọi ác pháp xảy ra đối với thân và ngữ của một người đã phát nguyện thọ trì các học xứ ấy[10].

Phước Nguyên



[1] Cf. 菩 薩 瓔 珞 本 業 經 卷 下, 大 眾 受 學 品 第 七 (T25n1485, tr. 1020b06):“若 一 切 眾 生 初 入 三 寶 海 以 信 為 本,住 在 佛 家 以 戒 為 本”.

[2] Sidhikarma, Đại chánh, Thành Nghiệp Luận.

[3] Vism XVII. p.528.

[4] Cf. M.i. 269.

[5] Skt. indrya-savara

[6] Skt. prātimoka-savara.

[7] Skt. anāsravasavara.

[8] Sẽ bàn rõ luật nghi ở một bài khác.

[9] Cf. Câu-xá 14, Đại 29, tr. 72a.

[10] Đến đây là hết phần ý nghĩa của học giới, còn phần bản chất, chức năng, phân khoa của học giới, lợi ích của sự hành trì lãnh thọ học giới, tai hại của sự phá giới, nguyên tắc trì phạm các học giới v.v.. sẽ tiếp tục trình bày cụ thể ở những tiết sau.

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 39)
Trong các kinh thường ví chân tâm là viên ngọc, như viên ngọc như ý, viên ngọc ma ni, lưới Trời Đế Thích…Bài kệ này chỉ thẳng Viên Ngọc Tâm
(View: 127)
Trong Nguồn thiền, Tổ Khuê Phong Tông Mật nói: “Người ngộ ngã pháp đều không, hiện bày chân lý mà tu là thiền Đại thừa”.
(View: 139)
Trong Kinh Văn Thù quyển hạ có chép: Ngài Văn Thù thưa rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết bàn thì đệ tử của Ngài phân hóa bộ phái như thế nào?
(View: 224)
Vấn đề Nam tông và Bắc tông là một vấn đề tương đối rất cũ – cũ đến hơn một ngàn năm trăm năm kể từ ngày con người có được cái hạnh phúc biết đến giáo pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
(View: 201)
Trước những sự kiện diễn ra trong cuộc sống hằng ngày, tôi đã từng ngày đêm thao thức với biết bao câu hỏi “ Tại sao ?”
(View: 190)
Khổ đau và hạnh phúc là nỗi trầm tư hàng đầu trong kiếp nhân sinh. Nhiều người cho rằng hai cảm thọ ấy là do nghiệp quyết định.
(View: 259)
Mất 11 năm khổ công tầm đạo, Đức Phật Thích Ca đã đạt đại giác ngộ sau 49 ngày quyết tâm thiền định dưới cội cây bồ đề.
(View: 327)
Trước những sự kiện diễn ra trong cuộc sống hằng ngày, tôi đã từng ngày đêm thao thức với biết bao câu hỏi “ Tại sao ?”...
(View: 354)
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao?
(View: 265)
Chí đạo vốn ở tâm mình. Tâm pháp vốn ở vô trụ. Tâm thể vô trụ, tánh tướng tịch nhiên, chẳng phải có chẳng phải không, chẳng sanh chẳng diệt.
(View: 393)
Trước khi nhập Niết-bàn, đức Phật có di giáo tối hậu cho các chúng đệ tử: “Pháp và Luật mà Ta đã thuyết và qui định, là Đạo Sư của các ngươi sau khi Ta diệt độ.”
(View: 390)
Phật giáo là một tổ chức cộng đồng (Samasambhaga) ra đời sớm nhất trong lịch sử nhân loại (-5 CN).
(View: 382)
Đức Phật, một nhân vật lịch sử 3000 năm về trước, ra đời tại Bắc Ấn, là bậc giác ngộ toàn triệt, là bậc đạo sư với nghi biểu đặc biệt xuất hiện ở đời.
(View: 562)
Con người sanh ra để hưởng thụ qua lục dục như tài, sắc, danh, thực, thùy (Ngủ nghỉ), .v.v. Con người trải qua một chu kỳ già, bệnh và cuối cùng là chết.
(View: 477)
Nguyên bản: Teachings On The Eight Verses On Training The Mind. Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma . Anh dịch: Thupten Jinpa. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(View: 496)
Phật tánh với thành Phật là hai vấn đề khác nhau, không thể đồng nhất được.
(View: 539)
Kinh Tiểu Duyên (Aggaññasutta) trong tiếng Pali có nghĩa là kinh nói về nguyên nhân hay bài giảng về khởi nguyên các pháp.....
(View: 512)
Đức Phật đã dạy về những sự thật này ngay khi ngài đạt đến Giác Ngộ như một phần của những gì được biết như Chuyển Pháp Luân Lần Thứ Nhất.
(View: 524)
“Thiên đường có lối sao chẳng đi Địa ngục không cửa dấn thân vào”
(View: 464)
Khổ đau và hạnh phúc là nỗi trầm tư hàng đầu trong kiếp nhân sinh. Nhiều người cho rằng hai cảm thọ ấy là do nghiệp quyết định.
(View: 518)
Kính lễ đạo sư và đấng bảo hộ của chúng con, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát! Sự thông tuệ của ngài chiếu soi như mặt trời, không bị che mờ bởi vọng tưởng hay dấu vết của si mê,
(View: 933)
Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa, đã được chính Đức Thế Tôn tuyên dương là Bổn Kinh Thượng Thừa, bao gồm
(View: 730)
Trong phẩm Ứng Tận Hoàn Nguyên kinh Đại Bát Niết Bàn, nói về sự nhập Niết bàn của Đức Phật.
(View: 692)
Trong số các vị Tổ sư của Thiền phái Vô Ngôn Thông, Viên Chiếu được xem là vị Thiền sư danh tiếng, lỗi lạc bậc nhất.
(View: 931)
Nguyên tử giải phóng trở thành nguyên tử năng là đánh dấu thời đại đại phát minh của nhân loại. Là họa hay là phước tạm thời không bàn luận đến.
(View: 1161)
Luân hồinhân quả là hai sự kiện tương quan. Bởi chúng sanh còn nghiệp trái của nhân quả thiện ác nên mới bị luân hồi.
(View: 948)
“Tướng” là cái gì? “Tướng” chính là tướng trạng của sự vật biểu hiện nơi ngoài và tưởng tượng ở nơi trong tâm chúng ta.
(View: 873)
Kính Pháp Sư Hiền Đức, tôi là một tu sĩ đạo hiệu Thích Thắng Hoan có vài lời tâm niệm gởi đến Pháp Sư, một hôm tôi đến chùa...
(View: 1014)
Một trong những Pháp sư được tôn vinh nhất trong lịch sử châu Á, Ngài Huyền Trang – một nhà sư, học giả, dịch giả nổi tiếng...
(View: 874)
Một trong những Pháp sư được tôn vinh nhất trong lịch sử châu Á, Ngài Huyền Trang – một nhà sư, học giả, dịch giả nổi tiếng...
(View: 1142)
Mùa xuân là dịp để trở về, dừng bước chân hoằng hóa để quán chiếu mọi nhân duyên giữa đời.
(View: 1012)
Bản Pháp văn mà tôi giới thiệu ở đây, không phải là toàn văn được in trên giấy, mà chỉ là một phần gọn nhẹ và cô đọng, cắt bớt những giới luật khá khắt khe khó tiếp cận với người Tây phương, nên giản dị và dễ đi vào lòng người.
(View: 1023)
Trước đây rất lâu từ những năm 1930, người ta đã chất vấn, phê phán rằng những người theo Phật giáo không biết làm giàu.
(View: 1305)
Trong không gian mênh mông của vườn kinh điển Đại Thừa, Diệu Pháp Liên Hoa là đoá hoa vi diệu nhất mà chính Đức Thế Tôn đã ca ngợi
(View: 1056)
Trong cuộc sống, nếu một người mất đi niềm tin sẽ trở nên vị kỷ, bất cần và gặt hái khổ đau, dễ dàng bị tác động vào những...
(View: 1272)
Đức Phật đã dạy: "Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh." Tất cả mọi loài, ai cũng có cái tánh làm Phật. Mình hiểu lời Phật dạy một cách nôn na như vậy.
(View: 4277)
Các chuyên gia đã từng nói cơ năng não bộ của con người so với máy vi tính phức tạp nhất trên thế giới lại càng phức tạp hơn.
(View: 816)
Ngày nay, vấn đề kỳ thị chủng tộc, giai cấp, giới tính được con người quan tâmtranh đấu quyết liệt hơn bao giờ hết.
(View: 1296)
Phật tánhthực tại tối hậu của chúng sanh và các bậc giác ngộ. Kinh Đại Bát Niết Bàn đã dùng nhiều từ để chỉ Phật tánh này
(View: 991)
Kinh Biệt Giải Thoát Giới - tên gọi khác của Kinh Tư Lượng (Anumāna Sutta) - là bài kinh thứ mười lăm trong Majjhima Nikāya
(View: 1140)
Trong suốt hai ngàn năm lịch sử, đạo Phật luôn luôn có mặt trong lòng dân tộc Việt Nam khắp nẻo đường đất nước và gắn bó với dân tộc Việt Nam trong mọi thăng trầm vinh nhục.
(View: 1327)
Có nhiều bài kệ rất hay khi xướng lên hay khi tán tụng; hoặc giả khi mạn đàm Phật Pháp; nhưng cũng có lắm bài kệ...
(View: 1334)
Từ nhỏ, lúc mới vào chùa khi 15 tuổi của năm 1964 và năm nay 2020 cũng đã trên 70 tuổi đời và hơn 55 năm sống trong Thiền Môn
(View: 1632)
Duy Thức Học được gọi là môn triết họcmôn học này nhằm khai triển tận cùng nguyên lý của vạn hữu vũ trụ nhân sanh mà vạn hữu vũ trụ nhân sanh...
(View: 1198)
Vấn đề thế giới địa ngụcvấn đề rất nhiều nghi vấn, những người theo đạo Phật thì tin có thế giới địa ngục, những người không theo đạo Phật thì không tin có thế giới địa ngục và có một hạng người thì nửa tin nửa ngờ.
(View: 1597)
Vấn đề tụng niệm một số người không nắm được giá trịnghĩa lý của nó nên có thái độ khinh thường, xem nhẹ, không quan tâm, không chú trọng cho việc làm này...
(View: 1477)
Phật tại thế thời ngã trầm luân, Kim đắc nhân thân Phật diệt độ, Áo não tự thân đa nghiệp chướng, Bất kiến Như Lai kim sắc thân.
(View: 1299)
Có những bài tán nghe qua là hiểu liền nội dung; nhưng cũng có những bài tán rất khó hiểu, không biết lý do vì sao? Trong đó có bài tán “Chiên Đàn” là một.
(View: 2426)
“Thừa Tự”, theo quan niệm phong kiến xưa, có nghĩa là thọ hưởng của “hương hỏa” với trách nhiệm nối dõi việc thờ cúng Tổ tiên.
(View: 1822)
Nhà nghiên cứu phật học K.SCHMIDT1 đã có lần nêu lên những điểm tương đồng giữa tri thức luận của Kant và của Phật học,
(View: 1823)
Theo đức Phật, vũ trụ không có khởi nguyên, không có tận cùng và khoảng không vũ trụ vốn vô tận, gồm vô số thế giới như cát sông Hằng (Gangânadivâlukopama).
(View: 2407)
Phàm tất cả vạn pháp, vạn hữu trong vũ trụ được sanh ra và có mặt trên thế gian này đều có nguyên nhân, nguyên do đầu mối của nó.
(View: 1218)
Chữ khám phá ở đây rất chính xác. Không có sự truyền giáo của đạo Phật đến người Tây phương. Và, tuy người Âu châu khám phá đạo Phật rất trễ, nhưng đó là sự khám phá vô cùng lý thú.
(View: 4616)
“Nói Thiền tông Việt Nam là nói Phật giáo Việt Nam. Và những bậc cao Tăng làm sáng cho Phật giáo, làm lợi ích cho dân tộc từ thế kỷ thứ 6 mãi đến nay đều là các Thiền sư.”
(View: 1430)
“Nguyên nhân hình thành Phật giáo Đại Thừa” là một đề tài có phạm trù không rộng lắm, nên ít có người khảo sát và nguồn tư liệu về nó cũng rất hạn chế.
(View: 1373)
Những gợi ý dưới đây có thể giúp chúng ta lĩnh hội được ý nghĩa thâm sâu, khó hiểu của kinh một cách hiệu quả, đồng thời giữ gìn sự trung thực với nội dung của ý kinh.
(View: 1531)
Giải thoát nghĩa là cởi mở những dây ràng buộc mình vào một hoàn cảnh đau khổ nghịch ý.
(View: 1333)
Trong hệ thống kinh tạng Đại thừa, Pháp Hoa là một trong những bộ kinh quan trọng và phổ biến nhất.
(View: 1780)
Niết-bàn (Nirvana, Nibbana) là khái niệm của Phật giáo, một tôn giáo không công nhận và không thừa nhậnThượng Đế, có thần, có linh hồn trường cửu.
(View: 2435)
Bài này sẽ khảo sát một số khái niệm về các hiện tướng của tâm, dựa theo lời dạy của Đức Phật và chư Tổ sư
Quảng Cáo Bảo Trợ