Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,855,933
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Tất Cả Là Không (song ngữ)

11 Tháng Bảy 201507:25(Xem: 4746)
Tất Cả Là Không (song ngữ)

Tất Cả Là Không
(It Is All Empty -  Gil Fronsdal)

Gil Fronsdal - Chuyển Ngữ: Nguyễn Văn Tiến


Tất Cả Là Không (song ngữ)Tất Cả Là Không

Mushin là một trong những nhà sư rạng rỡ hơn ai hết, trong tu viện. Sự an lạctính tình vui vẻ của ông, đã gây nguồn cảm hứng cho những ai tiếp xúc với ông. Ông dường như chẳng mong cầu gì cả, ông có tài riêng, là ông đến đúng nơi, và đúng lúc, khi có người cần ông giúp đỡ. Ông là người dọn dẹp trong tu viện, và ông luôn luôn kỹ lưỡng trong công việc ông làm, và chưa ai từng thấy ông bị khó chịu bởi bất cứ điều gì.

Một hôm tôi hỏi ông rằng, ông có gặp khó khăn trong cuộc sống ở tu viện không. Sau đây là những gì ông nói với tôi:

"Trước khi đến tu viện, cuộc sống của tôi rất khó khăn. Tôi thậm chí còn nghĩ đến việc tự tử, bởi vì tôi có quá nhiều đau khổ. Đối với tôi, tu việncon đường cùng. Tôi xem đây là cơ hội cuối cùng của tôi. Lần đầu, khi tôi đến đây, nhà sư trụ trì phỏng vấn tôi rất lâu. Ông đã hỏi tôi rất nhiều câu hỏi. Tôi đã nói với ông rất nhiều điều, mà tôi chưa bao giờ tiết lộ với ai cả. Vào phút cuối của buổi phỏng vấn, ông đã chào mừng tôi được ông nhận vào tu viện. Trước khi tôi chào ông từ giã, tôi hỏi ông chuyện thực hành tinh thần gì, mà tôi nên thực hiện. Vị sư trụ trì già ngước lên nhìn tôi với lòng từ bi, và sự tự tin, nên tôi nghĩ rằng ông đang chuẩn bị nói với tôi một điều gì rất quan trọng. Nhưng tôi đã nhầm khi câu ông nói chỉ là 'Hãy luôn luôn nhớ rằng, đi qua mọi cánh cửa, với tâm không-có-điều-kiện, và với tâm không-có-sự-hạn-chế.'

"Cả ngày hôm đó, tôi tự hỏi chắc là tôi đã nghe nhầm, nghe không có chính xác. Bởi vì, lời khuyên đi bộ qua những cánh cửa, lại có thể giúp ích cho kẻ chán đời, giống như tôi? Tôi nghĩ, có lẽ, vị sư trụ trì già nầy đang lú lẫn chăng.

"Nhưng ngày hôm sau, trước sự ngạc nhiên của tôi, những cánh cửa tu viện bắt đầu nói chuyện với tôi. Mỗi lần, tôi đi qua một cánh cửa, tôi nghe thấy một tiếng thì-thầm không rõ ràng. Lúc đầu, tôi nghĩ rằng tôi đang tưởng tượng, vì vậy tôi đã không thật tình chú ý. Nhưng sau khi tiếng thì-thầm nầy cứ tiếp tục xảy ra, nên tôi cố gắng hết sức mình, lắng nghe tiếng nói của những cánh cửa. Cuối cùng, tôi đã hiểu ra được câu nói nầy. Dường như mỗi cánh cửa, đang thì thầm những câu tương tự như: 'Tất cả là không.'

"Tôi hỏi những nhà sư khác, nếu họ có nghe những tiếng nói từ những cánh cửa, nhưng chẳng có ai nghe gì cả. Tôi hỏi họ có biết ý nghĩa của 'Tất cả là không.' Họ chỉ mỉm cười, và nhún vai, như thể họ chẳng có manh mối gì.

"Tôi quyết định, khá nhanh, rằng những tiếng nói là một lời nhắc nhở, về cuộc đời mà tôi đã bỏ lại phía sau lưng. Tất cả của cải của tôi, đi cùng với sự-theo-đuổi bất tận, mà tôi đã chạy theo sau, giống như là sự khao khát sôi sục để được mọi người ghi nhận thành tích của tôi, giống như là các tình cảm lăng nhăng vô độ của tôi với phụ nữ; tất cả điều nầy, thật sự, là không. Những cánh cửa thì-thầm dường như thể trấn an tôi rằng, tôi đã quyết định đúng đắn khi đến tu viện nầy. Những cánh cửa đã nhắc nhở tôi rằng, chẳng còn có điều gì bên ngoài các bức tường tu viện, để cho tôi rượt đuổi.

"Vì thế, đây là lần đầu tiên, những tiếng nói làm cho tôi hạnh phúc. Tin tưởng rằng thế giới mà tôi để lại phía sau lưng là sự tầm thường, không-quan-trọng, tôi hết lòng sống trong giới luật của tu viện. Thật là một niềm vui, khi tôi cuối cùng đã tìm ra được một cuộc sống có ý nghĩa! Tuy nhiên, những cánh cửa vẫn tiếp tục thì-thầm 'Tất cả là không,' cuối cùng, tôi bắt đầu hoài nghi về cuộc sống tu viện của tôi, có thật sự là tốt đẹp hay không. Hay là, cuộc sống trong tu viện nầy, cũng trống rỗng, và vô nghĩa? Tiếng nói càng lúc càng to hơn, như muốn làm tăng thêm sự lo lắng trong tâm tôi.

"Rồi, không lâu sau đó, tôi cảm thấy cuộc sống trong tu viện, cũng mang đến cho tôi nhiều thất vọng, giống y hệt như cuộc sống trước kia của tôi. Tôi đang cố gắng đi tìm một điều gì đó, để đem lại ý nghĩa, và mục đích cho cuộc sống, nên tôi đã quyết định dành nhiều thời gian cho thiền định, và qua đó phát triển đời sống nội tâm của tôi. Chắc chắn, việc theo đuổi thành tựu về tinh thần, sẽ thật sự có ý nghĩa.

"Việc thực hành thiền định, dường như làm nhẹ đi sự tuyệt vọng trong tim tôi, và khi tôi thiền định sâu xa, đã mang đến cho tôi tràn đầy sự tự tin. Tôi bắt đầu cảm thấy khá hạnh phúc, thậm chí tôi còn vui vẻ, và không còn quan tâm đến tương lai. Tôi đã tìm thấy chìa khóa của hạnh phúc, và tôi đã bị thuyết phục rằng, tôi đã vượt qua mọi nhà sư khác về sự cao quý. Nhưng mỗi khi tôi rời thiền đường, những cánh cửa lại thì-thầm, 'Tất cả là không.'

"Sau một thời gian, điều nầy bắt đầu chà xát, thân tâm tôi. Tôi ngày càng trở nên tức giận, vì những tiếng nói có vẻ gợi ý rằng, danh-tính-mới của tôi như là một người có tinh thần sâu sắc, thật ra là sự trống rỗng. Khi cơn giận trở nên quá sức tôi chịu đựng, tôi đã bị buộc phải thừa nhận rằng, sự kiêu căng, và lòng tự phụ của tôi, cũng chỉ là sự trống rỗng.

"Khi sự tức giận trôi qua, tôi tiếp tục với sự thực hành thiền định. Cuối cùng, với tôi chẳng còn điều gì, có ý nghĩa nữa. Nhưng sau đó, những tiếng nói bắt đầu bình luận về sự thiền định. Tôi nghe, một lần nữa, 'Tất cả là không.' Như vậy, chính thiền định cũng chẳng có ý nghĩa gì cả à?

"Sự tuyệt vọng của tôi, đã trở lại với một sự trả thù. Tôi đã cố gắng trốn chạy vào phòng của tôi, do đó tôi sẽ không phải đi qua bất cứ cánh cửa nào. Tôi đã trèo qua cửa sổ bất cứ khi nào tôi có thể làm được. Nếu tôi phải đi qua một cánh cửa, tôi chạy băng qua, cố gắng giữ khoảng cách giữa tôi và những giọng nói. Nhưng giờ đây, những tiếng nói đã trở nên thật lớn. Khi tôi chạy xuống hội trường, cụm từ 'Tất cả là không' vang vọng sau lưng tôi.

"Sau một thời gian, mọi suy nghĩ tôi có, mọi mong muốn tôi hy vọng, và mọi nỗ lực của tôi, đều bị tấn công bởi câu 'Tất cả là không,' đang vang vọng ra khắp tu viện. Tôi không thể nào chịu đựng được nữa. Tôi chạy về phía trước cổng tu viện, và tôi có ý định đi tìm một vách núi cao, rồi nhảy xuống tự tử. Thật là một điều vô lý để tiếp tục sống, khi mà cuộc sống lại quá khó khăn như thế nầy. Trên đường tôi đi đến cổng trước, những cánh cửa trở nên lớn hơn, nhưng mờ nhạt trước mắt tôi. Tôi đã quá sợ hãi để vượt qua những cánh cửa. Tôi cảm thấy tôi không thể nào tồn tại, nếu tôi phải nghe thêm một câu nói 'Tất cả là không.'

"Tôi đứng đó, thân tâm buốt giá, trong một thời gian rất lâu, nhưng sau đó, tôi nhớ đến câu thực hành mà vị sư trụ trì già đã nói với tôi, vào ngày đầu tiên tôi đến tu viện: 'Hãy luôn luôn nhớ rằng, đi qua mọi cánh cửa, với tâm không-có-điều-kiện, và với tâm không-có-sự-hạn-chế.' Lời hướng dẫn dường như trống rỗng, và vô nghĩa, khi lần đầu tiên tôi nghe nó. Bây giờ, nó trở nên rất to lớn. Tuy nhiên, tôi không thể chế ngự được chính mình, để đi qua cửa trước.

"Bên trong đầu tôi, một giọng nói liên tục lặp lại 'Tất cả là không. Tất cả là không.' Tâm tôi không thể tìm thấy bất cứ sự vật gì để dựa vào, bởi vì khi tâm tôi làm như thế, tôi lại được nhắc nhở rằng, sự vật nầy cũng là không. Tâm tôi càng ngày càng trở nên thu-nhỏ-lại, quay ngược trở vào trong tâm. Tâm tôi đẩy ra ngoài mọi thứ, cho tới khi những-gì-còn-lại trong tôi, chỉ là tâm sợ hãi. Sau đó, lần cuối cùng, một giọng nói bùng nổ ra, 'Tất cả là không,' và với câu nói nầy, tôi buông xả tâm tôi. Tôi đưa chân tôi quay trở lại, rồi, một lần nữa, tôi bước vào tu viện.

"Kể từ ngày đó, những tiếng nói đã ngừng lại, và tôi đã không bao giờ phải lo lắng, về ý nghĩa của bất cứ điều gì. Không-tuyệt-vọng, và cũng không-hy-vọng, đều thích hợp, đối với tôi. Hạnh phúc thay cho chúng ta, tánh-không thấm qua tất cả mọi vật."

 

It Is All Empty

Mushin was one of the more radiant monks in the monastery. His peace and joy inspired everyone who met him. Never seeming to want anything, he had a knack for being in the right place at the right time when others needed help. He was always thorough in doing his job as the monastery janitor and no one had ever seen him bothered by anything.

One day I asked him if monastic life had ever been difficult. This is what he said:

“Before coming to the monastery, my life was very hard. I even considered ending my life because my suffering was so great. For me the monastery was the end of the road. I saw it as my last chance. When I first arrived I had a long interview with the abbot. He asked me lots of questions. I told him things about my life that I had never revealed to anyone. At the end of the interview he welcomed me to the monastery. As I took my leave, I asked what sort of spiritual practice I should undertake. The old abbot looked up at me with such compassion and confidence that I thought he was preparing to tell me something very important. But I was confused when all he said was, ‘Always walk completely through the doors.’

“For the rest of that day I wondered if I had heard correctly. How could walking through doors be helpful advice to someone as despondent as me? Perhaps the old man was becoming senile.

“But the next day, to my surprise, the monastery doors started talking to me. Every time I went through a door I heard a faint whisper. At first I thought I was imagining it so I didn’t give it much attention. But when the whispering kept occurring, I strained to hear what was being said. Finally, I was able to make out the words. It seemed each door was whispering the same thing: ‘It is all empty.’

“I asked the other monks if they too heard the voices but none did. I asked them if they knew the meaning of ‘It is all empty.’ They just smiled and shrugged their shoulders, as if they didn’t have a clue.

“Pretty quickly I decided that the voices were a reminder of the life I had left behind. All my possessions, along with the endless pursuits I had run after, the burning drive for recognition, the insatiable womanizing; all of that was indeed empty. The whispering doorways seemed to be reassuring me that I had made the right decision in coming to the monastery. They were reminding me that no longer was there anything outside the monastery walls for me to go after.

“So, at first, the voices made me happy. Convinced that the world I left behind was shallow, I threw myself wholeheartedly into the monastic routine. What a delight it was to have finally found a meaningful life! But as the doorways continued to whisper ‘It is all empty,’ I eventually began to have doubts about my monastic life as well. Was this life also hollow, meaningless? Adding to my concerns, the voices started to grow louder.

“Before long I felt as much despair about monastic life as I had about my previous life. Trying to find something that would give meaning and purpose to my life, I decided to devote more time to meditation and thereby develop my inner life. Certainly the pursuit of real spiritual attainments would be meaningful.

“The meditation practice seemed to lighten my despair, and when my meditations were deep I was filled with confidence. I began to feel quite happy, even happy-go-lucky. I had found the key to happiness and was convinced that I was surpassing all the other monks in holiness. But every time I left the meditation hall the doors whispered again, ‘It is all empty.’

“After a while this began to grate on me. I became increasingly angry because the voices seemed to suggest that my newfound identity as a deeply spiritual person was empty. When the anger became too much to bear, I was forced to admit that I had been caught in pride and that my vanity, too, was empty.

“Once the anger passed, I carried on with my meditation practice. After all, nothing else seemed to make sense. But then the voices starting commenting on the meditation itself. I heard again ‘It is all empty.’ Did this mean that meditation itself was meaningless?

“My despair returned with a vengeance. I tried hiding in my room so I wouldn’t have to go through any more doors. I took to climbing through windows whenever possible. If I did have to pass through a door, I ran through trying to distance myself from the voices. But by now the voices had grown very loud. As I ran down the halls the phrase ‘It is all empty’ echoed after me.

“After a while, every thought I had, every wish I hoped for, and every effort I made was assaulted by ‘It is all empty’ resonating throughout the monastery. I couldn’t take it anymore. I ran toward the front gate of the monastery intending to find a tall mountain cliff and throw myself off. It no longer made sense to keep on living if life was going to be so hard. But as I came to the front gate the doors loomed large in front of me. I was too frightened to pass through them. I felt I couldn’t survive one more voice telling me that ‘It is all empty.’

“I stood there, frozen for a long time, but then remembered the practice the old abbot had given me on my first day in the monastery: ‘Always walk completely through the doors.’ The instruction seemed so empty and meaningless the first time I heard it. Now it seemed monumental. Still, I could not manage to get myself to pass through the front gate.

“Inside my head, a voice kept repeating ‘It is all empty. It is all empty.’ My mind couldn’t find any object to rest on because when it did I was reminded that it too was empty. My mind became increasingly contracted, turning in on itself. It kept pulling away from everything until all that was left was the frightened mind itself. Then, one last time, a voice boomed out, ‘It is all empty,’ and with that I let go of my mind. I turned around and re-entered the monastery.

“Since that day the voices stopped and I’ve never again worried about the meaning of anything. Neither despair nor hope is relevant for me. Happily, emptiness permeates everything.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 108)
Mục đích của Đạo Phật là diệt khổ và đem vui cho mọi loài, nhưng phải là người có trí mới biết được con đường đưa đến an lạc và hạnh phúc
(Xem: 81)
Người ta thường nói đạo Phật là đạo của từ bi và trí tuệ. Đối với nhiều người Phật tử, từ bi là quan trọng hơn cả, và nếu không có từ bi thì không có đạo Phật.
(Xem: 227)
Các nhà khảo cổ đang nghiên cứu tại Nepal đã phát hiện bằng chứng về một kiến trúc tại nơi sinh ra Đức Phật có niên đại thế kỷ thứ 6 trước công nguyên.
(Xem: 266)
Theo Đức Phật, tất cả những vật hiện hữu đều biến chuyển không ngừng. Sự biến chuyển này thì vô thuỷ vô chung. Nguồn gốc của vũ trụ không do một Đấng Sáng tạo (Creator God) tạo ra.
(Xem: 283)
Đức Phật đản sanh vào năm 624 trước Công nguyên. Theo lý giải của Phật Giáo Nam Tông thì Đức Phật sanh ngày Rằm tháng Tư Âm lịch.
(Xem: 295)
Nếu bạn say mê đọc kinh Phật, ưa thích những phân tích kỹ càng về giáo điển, muốn tìm hiểu các chuyện xảy ra thời Đức Phật đi giảng dạy nơi này và nơi kia, hiển nhiên đây là một tác giả bạn không thể bỏ qua
(Xem: 191)
Tánh Không là một trong những khái niệm quan trọng và khó thấu triệt nhất trong giáo lý Phật giáo Đại thừa.
(Xem: 348)
Nguyên bản: Meditating while dying; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 427)
Ba Mươi Hai Cách ứng hiện của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Bởi vì Quan Thế Âm Bồ Tát đồng một Sức Từ với đức Phật Như Lai cho nên ngài ứng hiện ra 32 thân, vào các quốc độđộ thoát chúng sanh
(Xem: 325)
Thể tánh của tâm là pháp giới thể tánh, bởi vì nếu không như vậy thì tâm không bao giờ có thể hiểu biết, chứng ngộ pháp giới thể tánh.
(Xem: 255)
Trong kinh tạng Nikāya, khái niệm con đường độc nhất (ekāyana magga) là một khái niệm thu hút nhiều sự quan tâm của học giới từ phương Tây cho đến phương Đông
(Xem: 232)
Thuật ngữ pháp (dharma, có căn động tự là dhṛ có nghĩa là “duy trì, nắm giữ”; Pāli: dhamma; Tây Tạng: chos) mang nhiều ý nghĩa và ...
(Xem: 290)
Trì danh là pháp tu Tịnh Độ phổ thông nhứt hiện nay. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm, có Mười cách trì danh khác nhau
(Xem: 285)
Phật dạy tất cả pháp hữu vi đều là vô thường sanh diệt không bền vững, như vậy thìthế gian cái gì có tạo tác có biến đổi đều là vô bền chắc.
(Xem: 377)
Nguyên bản: Removing obstacles to a favorable death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 315)
Mối liên hệ giữa hình thức sớm nhất của Phật giáo và những truyền thống khác mà chúng đã phát triển về sau là một vấn đề luôn tái diễn trong lịch sử tư tưởngPhật giáo.
(Xem: 440)
Nghiệp và Luân hồi là hai ý niệm đã có trong Ấn độ giáo, được giảng giải trong các Kinh Veda và Upanishad vào khoảng 1500 năm trước CN.
(Xem: 8806)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 851)
Mục tiêu cao cả của đạo Phật là dạy con người tu tập để thoát khổ, giác ngộgiải thoát.
(Xem: 327)
Phật giáo du nhập Nhật Bản vào thế kỷ thứ VI, sau đó trải qua thời kì Nara (710~785), thời kì Heian (794~1192) cho đến thời kì Kamakura (1192~1380), trước sau khoảng 700 năm, rồi phát sinh rất nhiều tông phái.
(Xem: 364)
Tổ Quy Sơn dặn: “Nói ra lời nào phải liên hệ với kinh điển. Đàm luận gì, phải xét lại lời người xưa”.
(Xem: 323)
Nhiều học giả phân vân là làm thế nào và tại sao những nhà Đại chúng bộ (Mahāsāṅghika) đã hình thành nên khái niệm về một Đức Phật siêu việt...
(Xem: 500)
Hoa Sen Diệu Phápgiáo pháp được thuyết giảng trong Kinh Pháp Hoa. Quang Trạch giải thích Diệu Pháp là nhân của đạo Nhất Thừa, là quả của đạo Nhất Thừa.
(Xem: 286)
Con người sống qui tụ lại thành một xã hội, và phát triển tập thể này rộng lớn dần dần thành một quốc gia.
(Xem: 1433)
Trước khi xác định Phật Giáo như là một hệ thống tư tưởng triết học (Buddhism as a philosophy) hay như là một tôn giáo (Buddhism as a religion), chúng ta sẽ tìm hiểu triết học là gì ? và Phật giáo là gì ?
(Xem: 415)
Lục độ Ba-la-mật-đa/ Sáu phương pháp tu Ba-la-mật-đa (Six Paramitas) là 6 pháp tu để giải trừ các khổ ách của Đại thừa Phật giáo.
(Xem: 390)
Theo quan điểm của Đại hoàn thiện thì ánh sáng trong suốt hiển hiện một cách tự nhiên và được gọi là "hoàn-toàn-tốt"
(Xem: 572)
Đức Phật ra đời vào năm 624 trước tây lịch tại nước Ấn Độ. Ngài thuyết pháp 49 năm. Phật giáo đã trở thành quốc giáo, vì các vua, các quan và dân chúng đa phần đều theo đạo Phật.
(Xem: 574)
Y Kinh Kinh Cang Bát Nhã Ba La Mật: Đức Thế Tôn Như Lai hỏi ngài Tu Bồ Đề: Như Lainhục nhãn không? Ngài Tu Bồ Đề thưa:
(Xem: 1419)
Cuốn sách “Luân Hồi trong Lăng Kính Lăng Nghiêm” được ra mắt cách đây 9 năm (2008), in lần thứ hai, ba và tư vào năm 2012, 2014 & 2016 tại Nhà xuất bản Phương Đông, và năm nay (2018) cũng tại NXB Hồng Đức
(Xem: 837)
điều chắc chắn là làm người, ai cũng có ý thức về tội lỗi. Điều này là không đúng, điều này là không tốt, điều này là không đẹp.
(Xem: 531)
Tựa đề của khảo luận này phát xuất từ tồn nghi của một pháp hữu trong khi dịch lại bản kinh Tập (Sutta Nipāta) ở văn hệ Nikāya.
(Xem: 953)
Khái niệm ‘nghiệp’, thật ra, đã có mặt trong văn học Bà-la-môn giáo từ rất lâu trước khi Đức Phật xuất hiện ở đời.
(Xem: 502)
Vũ trụ, con người hình thành như thế nào và tương lai sẽ ra sao? Câu hỏi chưa bao giờ được xếp lại. Khoa học lượng tử luôn tiên phong...
(Xem: 473)
rong lịch sử tư tưởng Ấn-độ, thuyết Trung đạo đã mang lại cho tư tưởng giới đương thời một không khí hoạt bát[1].
(Xem: 640)
Bản chất của ánh sáng trong suốt, mang tính cách nền tảng và rạng ngời, là cội nguồn tối hậu của tất cả mọi cấp bậc tri thức...
(Xem: 736)
Chánh Pháp là gì? Phật Pháp được chia thành ba thời kỳthời Chánh Pháp, thời Tượng Pháp, và thời Mạt Pháp.
(Xem: 1150)
Ông trị vì từ năm 269 TCN đến năm 232 TCN thuộc đời thứ 3 của triều đại Maurya. Đế chế của ông rộng lớn gần như tất cả tiểu lục địa Ấn Độ trãi dài từ Đông sang Tây.
(Xem: 821)
Trong Kinh Kim Cang, Phật dạy có 4 tướng: “Ngã – Nhân – Chúng Sanh – Thọ Giả”. Khi còn phàm phu, chấp thân này là thật là bền vững,
(Xem: 832)
Đạo Phật đang phát triển rộng rãi đến nhiều tầng lớp. Rất nhiều các bậc tri thức, các nhà khoa học chân chính, đến cả những người ...
(Xem: 1548)
Kiếp sống của mỗi con người sinh ra ở thế giới Ta Bà này, dù thọ mạngdài hay ngắn, nhìn chung có thể phân chia làm nhiều giai đoạn.
(Xem: 986)
Kể từ thời điểm Phật giáo khai sinh và nở hoa khắp mọi miềnthế giới, hễ mỗi khi nói đến hình ảnh một vị Phật xuất hiện trong tương lai,
(Xem: 706)
Phép luyện tập thiền định được hỗ trợ bởi sự thực thi các hành động vị tha, các hành động đó đồng thời cũng được thúc đẩy bởi tình thương yêu và lòng từ bi.
(Xem: 598)
Nếu đủ sức duy trì một cách đúng đắn sự nhận biết tâm thức thần bí nhất thì kết quả mang lại từ phép luyện tập đó sẽ trợ lực các bạn rất nhiều
(Xem: 767)
Thời-không vũ trụ chứa hàng triệu, tỉ, hàng ức cho đến không máy móc nào đếm hằng hà sa số hành tinh như trái đất mới biết con ngườimột sinh thể gần như bằng không.
(Xem: 924)
Trong các bài kinh thuộc hệ A Hàm hay kinh Đại Bát Niết Bàn v.v… Phật có nói đến địa ngục. Đề Bà Đạt Đa, Tì kheo Thiện Tinh, vua Lưu Ly v.v… đều đọa vào địa ngục ngay khi chết.
(Xem: 701)
Xét về niên đại, bản kinh có mặt ở thời Hậu Hán (23-220), xuất hiện trong Cao Tăng Truyện quahành trạng của ngài Nhiếp-ma-đằng (攝摩騰)[2].
(Xem: 653)
Thể dạng lắng sâu thường xuyên bên trong tâm thức thần bí nhất chỉ có thể thực hiện được với những người có một khả năng thật bén nhạy.
(Xem: 1388)
Bài viết này sẽ khảo sát một số thắc mắc thường gặp về Thiền Tông, hy vọng sẽ tiện dụng cho một số độc giả còn nhiều nghi vấn.
(Xem: 970)
Thức Thứ Tám hay A Lại Ya là thức chủ trong 8 thức. Thức nầy có nhiều cách gọi khác nhau để chỉ về nhiệm vụ của mình. Tựu chung thức nầy có 3 việc chính là: Năng tàng, Sở tàng và Ngã ái chấp tàng.
(Xem: 1056)
Khi còn vướng mắc trong sự tạo tác triền miên của khái niệm, chẳng hạn như suy nghĩ về cái đúng, cái sai, v.v. , thì các bạn sẽ không thể nào bước vào con đường tu tập về
(Xem: 958)
Học phái dịch thuật xưa của Phật giáo Tây Tạng đưa ra nhiều cách luyện tập dựa vào các phương pháp khác biệt nhau, gọi là các "cỗ xe"/thừa.
(Xem: 1890)
Thần tài trong Phật giáo, cụ thểPhật giáo Bắc truyền đã vay mượn giữa hình ảnh Bố Đại hòa thượng và các truyền thuyết về thần tài Trung Hoa, để tổng hòa nên một vị thần tài có nguồn gốc ngoài Phật giáo.
(Xem: 1418)
Thời Đức Phật tại thế, Ấn Độít nhất mười sáu tiểu vương quốc, mỗi vương quốc đều có ngôn ngữ hay phương ngữ riêng, nhưng có lẽ người dân của mỗi nước đều có thể giao tiếp và hiểu nhau được.
(Xem: 974)
Trong các kinh sách thừa hưởng từ [Phật giáo] Ấn Độ thì nguyên tắc căn bản đó lúc thì được gọi là "tâm thức tự tại
(Xem: 1585)
Kinh Hoa Nghiêm tiếng Sanskrit là Avatamsaka, tiếng Nhật là Kégon Kyo. Kinh nầy bằng tiếng Sanskrit do Bồ Tát Long Tho (Nagarjuna) soạn vào khoảng thế kỷ thứ 2 Tây Lịch.
(Xem: 1017)
Con người muốn có cuộc sống an lạchạnh phúc, cần phải tu nhơn tạo phước, chứ không phải chỉ cầu nguyện...
(Xem: 1000)
Phát huy sự chú tâm đúng đắn hướng vào một điểm nhằm mục đích gì? Việc luyện tập đó không nhất thiết là chỉ để giúp tâm thức đạt được một mức độ tập trung thật cao...
(Xem: 1390)
Đức Đạt Lai Lạt Ma Nói Về Phật Giáo Ứng Dụng - Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
Quảng Cáo Bảo Trợ