Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
15,846,763
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250Logo-Hanh-Huong-AD-2019-tron-250

Tâm Hư Dối Thọ Nhận Mọi Cảm Giác Khổ Vui

11 Tháng Tám 201515:16(Xem: 4412)
Tâm Hư Dối Thọ Nhận Mọi Cảm Giác Khổ Vui

TÂM HƯ DỐI THỌ NHẬN MỌI CẢM GIÁC KHỔ VUI

Thích Đạt Ma Phổ Giác

Tâm Hư Dối Thọ Nhận Mọi Cảm Giác Khổ Vui

 

Đã làm người và được sống, bất cứ ai cũng đều có cảm giác khoái lạc hay khổ đau. Cảm giác có thể sảng khoái hay dễ chịu hoặc không nằm trong hai điều đó. Chúng ta có thể thọ nhận sự dễ chịu hay sảng khoái là tùy thuộc theo đối tượng. Nếu cảm giác bị mất đi do bệnh tật thì con người phải sống đời thực vật mà không biết gì, tức là chúng ta không cảm nhận được sự sảng khoái và khó chịu.

Kinh Phật dạy tất cả thọ đều vô ngã, vì nó không thực thể cố định, không phải là ta, là của ta, chủ yếu là do sự tác động của đối tượng mà có cảm thọ dễ chịu hay khó chịu. Có những trường hợp không khó chịu cũng không khoái lạc, ta gọi là thọ xả.

Trong từng phút giây phát sinh đủ thứ cảm giác liên tục bởi sự tác động của sự dễ chịu hoặc khó chịu hay không nằm trong hai trường hợp đó. Ba loại cảm giác này phát sinh liên tục không có lúc nào dừng nghỉ tùy theo sự tác động đối tượng qua môi trường sống của chúng ta hằng ngày. Đang khát nước bởi ánh nắng oi bức của buổi trưa hè, được uống một ly nước cam, ta sẽ cảm nhận sự dễ chịu của nó qua hương vị ngọt ngào.

Trong tình yêu người ta thường thọ nhận cảm giác khoái lạc qua nhịp đập của trái tim, nên cuộc sống của chúng ta đương nhiên là phải hưởng thụ, nhưng càng hưởng thụ nhiều và luyến ái vào nó, chúng ta sẽ bị nghiện các cảm giác khoái lạc đê mê mà trở nên tham đắm và ghét bỏ.

Cái gì đến với ta mà ta nhận gọi là thọ, khi chúng ta thọ nhận sẽ đưa đến luyến ái và dính mắc vào đó muốn gìn giữ mãi. Ngày xưa có ông Phạm chí Trường-Trão là cậu ruột của Tôn giả Xá-lợi-phất. Ông này rất thích biện luận ngay khi còn nhỏ.

Một hôm ông biện luận với người chị của ông lúc ấy đang mang thai Xá-lợi-Phất và ông biện luận không lại bà chị. Ông nghĩ rằng những lần trước chị ta biện luận thua ta, nay chị ta biện luận hơn ta thì có lẽ lần này là do cái bào thai trong bụng tác động đến chị. Bây giờ ta thua chị chưa xấu hổ mấy vì ta là em, nhưng mai sau này mà thua cháu nữa thì xấu hổ biết mấy!

Ông cảm thấy hổ thẹn nên bỏ nhà ra đi, tầm sư học đạo để sau này trở thành người biện luận giỏi nhất thiên hạ và phải làm sao biện luận hơn người cháu của mình mới được.

Ông đi từ xứ nọ đến xứ kia để tìm thầy học. Người ta hỏi ông muốn học gì? Ông nói: Tôi muốn học hết tất cả kinh sách trong đời. Người ta bảo: Ông nói khoác, suốt đời ông học một bộ kinh đã được chưa mà nay bảo sẽ học hết kinh sách. Ông ta bực mình nói: Tôi ở nhà biện luận thì thua chị, đến đây thì bị mọi người châm biếm, chỉ trích.

Ông bắt đầu kể từ đó, học đến nỗi không có thì giờ cạo tóc, cạo râu, cắt móng tay. Vì thế người ta gọi ông là Phạm chí Trường-Trão có móng tay dài và râu tóc luộm thuộm.

Sau khi học xong ông tự thấy mình có khả năng biện tài vô ngại, không ai có thể đủ sức tranh luận với ông, ông bèn trở về nhà thăm chị và hỏi người cháu đó ở đâu. Bà chị bảo: Con tôi cháu cậu đã đi theo tu học với Sa môn Cù-đàm rồi. Ông hỏi: Sa môn Cù-đàm là người nào mà có thể làm cho cháu ta khuất phục mà nhận làm thầy, cháu ta là một người thông minh, tài giỏi từ khi còn trong bào thai?

Ông bèn đi tìm Xá-lợi-Phất. Khi đến chỗ Phật, ông nghĩ: Ông này đã thuyết phục được cháu ta làm đệ tử, chắc không phải là tay vừa. Bây giờ ta có nói gì chắc cũng sẽ bị bác bỏ, tức còn có ngôn ngữ luận bàn là còn quá dỡ. Nghĩ vậy, ông ta sẽ nói là không lãnh thọ gì hết.

Ông đến nơi gặp Sa môn Cù-đàm và nói rằng: Này Cù-đàm ông có biết không, tất cả pháp, tôi đều không thọ pháp nào cả. Không ngờ Phật hỏi lại: Vậy cái nhất thiết pháp chẳng thọ đó, ông có thọ không? Ông nghĩ: Bây giờ nói thọ thì mâu thuẫn quá, vừa mới nói không thọ đó mà bây giờ bảo có thọ làm sao được. Ông bèn trả lời không thọ. Phật nói: Ông không thọ thì ông cũng như bao nhiêu người khác, chứ ông có gì đặc biệt đâu mà ông tự kiêu hãnh, đến đây để biện tài tranh luận?

Như vậy, nếu chúng ta còn thọ một cái gì, còn chấp một cái gì là còn bị trói buộc, mê lầm vì còn chấp ngôn ngữ. Chính vì vậy, khi có tu học chúng ta sẽ thấy rõ ràng tất cả thọ đều vô ngã.

Phật dạy: Tất cả thọ đều vô ngã, Chúng ta hay bị kẹt vào cảm giác, cho dù cảm giác đó mang đến cho ta sự vui vẻ hạnh phúc hay khổ đau tột cùng. Cảm giác sảng khoái chúng ta gọi là thọ lạc, cảm giác khó chịu chúng ta gọi là thọ khổ và cảm giác không sảng khoái hay khó chịu chúng ta gọi là thọ xả.

Cuộc sống của chúng ta đủ thứ cảm giác do ta thọ nhận không ngoài ba thứ: Thọ vui, thọ khổ, thọ không khổ không vui. Do chúng ta bám víu và thọ nhận vào cảm giác khoái lạc, nên ta chìm đắm trong cảm giác đó mong mỏi được bền bỉ và lâu dài, ngược lại khi chúng ta thọ nhận sự đau khổ ta cứ ghim gút nó vào lòng mà không tự thọ xả.

Chúng ta thường xuyên làm việc thiện lành tốt đẹp thì hay có cảm giác sảng khoái nhiều hơn người làm việc xấu ác. Người làm việc ác mà cảm thấy thỏa mãn là thứ cảm xúc vô cảm, loại người này luôn làm tổn hại nhân loại.

Một người đến chửi mắng ta, ta có cảm giác bực tức và khó chịu, cảm giác này phát sinh bởi do chấp trước có cái thân này là thật ngã nên ta đùng đùng nỗi giận tìm cách trã đũa người đó. Chúng ta thường phân biệt giữa thiện và ác nhiều hơn mà không chú ý đến thọ xả, do đó ta sẽ thấy vui khi có cảm giác dễ chịu và sẽ thấy ghét khi có cảm giác khó chịu.

Một vị tu sĩ được nhiều người tôn trọng, cung kính ái mộ và nên người đó cảm thấy hạnh phúc vì được nhiều người tán thán, nhưng cảm giác hạnh phúc này chính là sự tự hào hãnh diện về mình. Cùng một thọ khổ và thọ lạc với một đối tượng, chúng có thể mang lại cảm giác sảng khoái hay khó chịu khác nhau.

Chúng ta chánh niệm tỉnh giác về thọ để không bị tham đắm và dính mắc vào đó mà tạo ra sự khổ, Phật dạy pháp quán cảm thọ trong cảm thọ để chúng ta thấy rõ các cảm giác buồn, vui, thương, ghét… chỉ là do sự chấp trước của chúng ta mà thôi.

Trong hạnh phúcxen lẫn sự đau khổ, trong đau khổhạnh phúc và chẳng có gì thật sự gọi là đau khổ hay hạnh phúc cả, tất cả đều do ta chấp trước mà tạo ra sự khổ vui.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 5)
Làm giàu chính đáng là việc khó đối với nhiều người. Nhưng khi khấm khá rồi mà biết an hưởng “không phóng dật, không tham đắm, không tạo những ác hạnh đối với chúng sinh” lại càng khó khăn hơn.
(Xem: 33)
Trong nhà thiền luôn nhắc mọi người, phải sống trở về với cái thực tại đang hiện hữu sáng ngời, đó là thiền chân thật.
(Xem: 65)
Theo nhận thức của số đông, bậc đạo sư phải là vị niên cao lạp trưởng, thâm niên tu hành. Trong khi Thế Tôn chứng đạo và hành đạo khi tuổi đời chỉ dưới bốn mươi đã gây ra dị nghị, phân vân cho không ít người.
(Xem: 132)
Có năm phương cách để đối trị sân hận. Chúng giúp xóa tận gốc rễ của sân hận. Đó là gì? Nếu sân nổi lên, cần làm như sau: vun trồng tâm từ, vun trồng tâm bi, vun trồng tâm xả…
(Xem: 121)
Điểm khởi đầu của hành trì Phật pháp là tĩnh tâm và giữ chánh niệm, nghĩa là luôn luôn ghi nhớ việc ý thức về cách mình đang hành động và nói năng với người khác,
(Xem: 366)
Tôn giáo xưa cổ phương Đông này đang giúp nhiều người phương Tây các nan đề tâm bệnh hiện đại. Tác giả: Olga Khazan. Dịch giả: Nguyên Giác
(Xem: 179)
Đức Phật có lần nhắc nhở các thầy rằng, những điều chúng ta cần hiểu và hành, thật ra chúng rất đơn giản và không nhiều, chỉ chừng như những lá cây trong một nắm tay nhỏ thôi.
(Xem: 156)
Thiền vẫn được coi là dành cho hàng có căn cơ bậc trung và thượng. Vì điều động tâm vọng động không phải là việc dễ dàng.
(Xem: 210)
Hoàng hôn. Rồi lại bình minh. Rồi lại một chiều vạt nắng kéo về phương tây. Chim bay mỏi cánh không đuổi kịp mặt trời. Góc trời sẫm tím như hối hả chìm sâu về phía trước.
(Xem: 398)
Nếu có chùa, và có cả đạo tràng… sẽ là tuyệt vời. Thực tế xây chùa dễ, xây dựng đạo tràng mới khó.
(Xem: 140)
Giáo sư, chuyên gia Phật học Rhys Davids cho rằng đạo Phật sở hữu hai lý tưởng lớn có thể được vận dụng để làm lợi lạc cho cuộc đời.
(Xem: 268)
Tạp Chí Hoa Đàm Số 5, với chủ đề “Phật Giáo với Dân Tộc”; “Thiền Trong Hành Động,” do Đạo Sinh dịch Việt; “Những Bước Thăng Trầm” do Phạm Kim Khánh dịch Việt; và “Bóng Bay Gió Ơi” của nhà văn Nguyễn Thị Khánh Minh
(Xem: 191)
Nói theo nhận thức kinh Phật, trần thế này không hẳn hoàn toàn là bể khổ, như người ta thường ví von: “biển khổ mênh mông sóng ngập trời”,
(Xem: 201)
Thiền duyệt có nghĩa là niềm vui trong thiền tập. Khi mới bắt đầu tập thiền, tôi tưởng muốn an tâm và phát triển định lực ta cần phải cố gắngvất vả ghê gớm lắm.
(Xem: 192)
Theo một số trường phái Phật giáo, Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni lần đầu tiên Giác NgộẤn Độ vào thế kỷ thứ 6 trước Dương Lịch, qua sự thực hành con đường tu tập.
(Xem: 232)
Hiện tại có tính bình đẳng cho tất cả mọi người. Dầu ở bất cứ nơi nào trên trái đất, dầu tôi và anh ở múi giờ khác nhau, người ta vẫn chung nhau một hiện tại, ai cũng nói lúc này là bây giờ.
(Xem: 702)
Con ngườimột phần nhỏ của một tổng thể, mà chúng ta gọi là “Vũ Trụ,” phần này bị hạn chế trong thời giankhông gian.
(Xem: 605)
Thế gian có hai sở y, hoặc có hoặc không, bị xúc chạm bởi thủ. Do bị xúc chạm bởi thủ nên hoặc y có hoặc y không.
(Xem: 722)
Trung tuần tháng 12 năm 2018, tôi đọc trên báo, thấy lá thư của Ông Einstein được bán đấu giá với số tiền khủng 2,892,500 dollars
(Xem: 556)
Bút hiệu Mộc Đạc nghe lạ, nhưng hiển nhiên là không dính gi tới chuyện thơ dài hay ngắn, hay hay dở, vui hay buồn, thế sự thực tế hay khoa học viễn tưởng
(Xem: 543)
Muốn tìm được con đường thì cần phải đọc chi tiết toàn bản văn, suy nghiệm những lý lẽ mới thấy được tư tưởng của cổ đức phát tiết ra ngoài hiện thực thiên nhiên
(Xem: 479)
Trời có lúc nắng lúc mưa, người có lúc may mắn hoặc xui xẻo. Nhưng không có cái gì tự dưng sinh ra hay mất đi, tất cả đều có lý do của do của nó.
(Xem: 486)
Nhà sư Phật giáo sống như thế nào sau cánh cửa thiền? Đây là điều mà người bình thường cả Đông lẫn Tây đều khó có điều kiện được biết.
(Xem: 437)
Sự sống vẫn luôn tiếp diễn trong từng khoảnh khắc, bốn mùa thay lá, xuân đến xuân đi, mỗi phút giây đều tuần hoàn vô tận.
(Xem: 380)
Tất cả các tôn giáo ra đời điều vì mục đích phục vụ đời sống tâm linh, tính ngưỡng cho con người.
(Xem: 384)
Bài viết này trước hết sẽ giải thích sự nối kết mật thiết giữa lòng vị thahạnh phúc và sau đó xem xét chứng cứ khoa học mà nó chỉ ra sự tương thuộc giữa hai khía cạnh quan trọng này trong xã hội loài người.
(Xem: 368)
Đầu năm mới, người thế gian mừng tuổi nhau với mong ước gặp điều tốt đẹp may mắn, làm ăn phát tài thăng tiến.
(Xem: 1344)
Nhà sư Nhật bản Kenjitsu Nakagaki đang tìm cách thuyết phục người Tây Phương về ý nghĩa của chữ Vạn (Swastica) mà người Nhật gọi là manji.
(Xem: 483)
Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832) là một văn sĩ, thi sĩ, kịch tác gia, khoa học gia, triết gia, chính tri gia, nói chung là một nhà thông thái lừng danh nhất của nước Đức
(Xem: 360)
Xuân đến Xuân đi nghi Xuân hết Hoa tàn hoa nở chỉ là Xuân. Xuân lai Xuân khứ nghi Xuân tận Hoa lạc hoa khai chỉ thị Xuân.
(Xem: 386)
Khi con người lạc hậu còn đi bộ. Rồi lần lần biết cưỡi ngựa, cưỡi trâu. Rồi lần hồi thông minh tìm ra hơi nước, Rồi máy bay, xe lửa, xe hơi.
(Xem: 464)
Essence of the Heart Sutra: The Dalai Lama’s Heart of Wisdom Teachings” (Tinh Yếu Tâm Kinh: Cốt Lõi Lời Đức Đạt Lai Lạt Ma Dạy Về Trí Tuệ) – tác giả ghi là Tenzin Gyatso The Fourteenth Dalai Lama.
(Xem: 459)
Nhân gian thường không hiểu trong Duyên có Nợ và trong Nợ có Duyên cho nên đã tách biệt Duyên và Nợ.
(Xem: 459)
Tứ nhiếp pháp là bốn phương pháp Bồ-tát dùng để nhiếp hóa chúng sinh, khiến họ khởi tâm cảm mến, rồi dẫn dắt họ vào Phật đạo,
(Xem: 813)
Câu thần chú lạc đề, lạc quẻ “Án ma hôm, bát mê khuya“ của bà lão thành tâm cũng có đủ thần lực sai khiến những hạt đậu nhảy từ bên này sang bên kia
(Xem: 561)
Như quý vị biết hạnh phúc được cảm nhận qua nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau, nhưng chung quy lại, hạnh phúc được cảm nhận ...
(Xem: 651)
Mù tỏa Lô sơn sóng Triết giang, Khi chưa đến đó hận muôn vàn. Đến rồi về lại không gì lạ, Mù tỏa Lô sơn sóng Triết giang.
(Xem: 673)
Mười câu chuyện sức mạnh của chân thật và nguyện cầu chân lý - Trích từ Tiểu Bộ Kinh Nikàya, Tâm Tịnh cẩn tập
(Xem: 581)
Những lúc như thế, hình ảnh khoảng sân cát trắng và lũ nhỏ ê a hiện lên trước mắt tôi lãng đãng y hệt như từ một giấc mơ nhiều ngàn đêm trước.
(Xem: 474)
Trong lời dạy của đức Phật, đất luôn là ẩn dụ quan trọng để Ngài sử dụng trong việc dạy dỗ hàng đệ tử học theo hạnh của đất.
(Xem: 469)
Đã có không ít những bài nghiên cứu về sự tương đồng giữa Duy thức học của Thế Thân và Phân tâm học của Sigmund Freud.
(Xem: 727)
Cư sĩ Nguyên Giác vừa cho xuất bản cuốn Kinh Nhật Tụng Sơ Thời mà theo sự nghiên cứu của các học giả đây là những lời dạy (kinh) cổ xưa nhất của Đức Phật
(Xem: 536)
Lòng từ bi trong Đạo Phật được định nghĩa như nguyện ước tất cả mọi chúng sanh được thoát khỏi khổ đau.
(Xem: 544)
Thời gian trôi qua thật nhanh, mới đó mà đã hết một năm. Tự hỏi, một năm trôi qua chúng ta đã làm được những gì?
(Xem: 676)
Cuối năm 1978, sau khi thành lập Hội Sinh Viên và Kiều Bào Phật tử Việt Nam tỵ nạn tại Đức, chúng tôi xúc tiến ngay việc viết báo để đi in bằng lối Photocopy.
(Xem: 623)
Ngày nay Phật Giáo đã đi vào sinh hoạt thường nhật của người dân Mỹ một cách sâu rộng, từ những giờ phút thực hành Thiền trong quân đội, sở cứu hỏa, ty cảnh sát, trường học và công tư sở đến phương thức trị liệu tâm lý trong y học.
(Xem: 690)
Đôi khi trong đời người ta, viết văn chỉ vì nhu cầu thôi thúc chứ thực ra nhà văn chưa chắc đã nắm vững một số kỹ thuật hoặc nguyên tắc viết văn. Ngay chính bản thân tôi cũng rơi vào trường hợp như vậy.
(Xem: 517)
Ca ngợi Ấn Độủng hộ việc ăn chay, nhà lãnh đạo tinh thần Tây Tạng nói hôm thứ Sáu (14-12) rằng tất cả chúng sinh phải được tôn trọng.
(Xem: 510)
Khi chúng ta lần đầu tiên tiếp cận những giáo lý của Đức Phật, chúng ta phải bắt đầu ngay từ đầu, tức là các thực hành sơ khởi (Ngondro).
(Xem: 723)
Với khám phá rất quan trọng, Einstein nhận thấy rằng hai sự vật không có thể được quan niệm như là riêng biệt. Nhị nguyên không phải là nhị nguyên mà là hai diện mục của một bản lai tương tự như hai mặt của một đồng tìền.
Quảng Cáo Bảo Trợ