Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,854,451
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Phật Chú Có Nên Dịch Nghĩa Không ?

15 Tháng Tám 201507:36(Xem: 7736)
Phật Chú Có Nên Dịch Nghĩa Không ?

Phật Chú Có Nên Dịch Nghĩa Không ?

buddha

Có Hai Câu Hỏi ?

 

1. Phật Chú Có Nên Dịch Nghĩa Không ?

2. Tri Thức, Trí Thức, Học Thức, Khác Nhau Thế Nào ?

 

Nam Mô Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni Phật

1.     Về Mật Chú :

Lúc hồi còn học ở Thừa Thiên, Các ôn Trưởng Lão thường dạy các Thầy các chú không nên ham biết mật ngữ trong chú nói gì mà cứ nghiệm hiểu đề danh của “Chú” là biết hết cả rồi. Chú tâmthọ trì do Tâm cảm tha thiết là Ứng quả rõ ràng. Dịch ra rồi, tất cả mầu nhiệm sẽ biến mất hết.

Thú thật lời dạy chí thiết đó, chúng tôi tuy không dám không tin, nhưng lòng vẫn còn muốn khám phá ! Điều hiểu tất đã hiểu, vì ngay nơi đề danh như : Bạt Nhứt Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Đắt Sanh Tịnh Độ Đà La Ni”. Đề Danh qúa rõ, “Nhổ bỏ hết cội gốc phiền não chướng nghiệp tất sanh về Tịnh Độ” Gọi tắt là Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú.

 

    Mãi cho đến khi có vị sư dịch Chú Bát Nhã :

    Yết Đế Yết Đế Ba La Yết Đế Ba La Tăng Yết Đế Bồ Đề Ta Bà Ha…… Rằng Là,

1.Qua rồi qua rồi, qua bên kia rồi, tất cả qua bên kia rồi, giác ngộ rồi đó.

(Gate, gate, paragate,parasamgate, bodhi svaha!)

English :Gone,gone,gone beyond,gone altogether beyond, bodhi.

France: Allez,allez, allez au-dela,allez completment au-dela, sur la rive du Satori

2. Vượt qua,vượt qua, vượt qua bên kia,hoàn toàn vượt qua,tìm thấy giác ngộ.

3.Đi qua, đi qua,Đi qua bờ bên kia, đã đi qua đến bờ bên kia. Reo vui.

(4). Còn nghe nói mơ hồ :     Bổng nghe ai đó họ ngậm ngùi ! Sao tựa như tiếng gọi “Tiến lên tiến lên..tiến mạnh lên ….vậy !

Thử tụng các lời dịch đó, nếu thấy đó là Tân Học ! Là diệu tụng…hơn đọc ..Yết đế…Cứ tự nhiên.

Tóm lại : Cùng hiểu Bát Nhã Ba La MậtTrí Huệ Đại Thặng là tốt.

    Từ lâu, tôi muốn dịch Chú Lăng Nghiêm, nhưng rồi nhận thấy trong Thần Chú ẩn quá nhiều Mật Nghĩa ! Có khi một chữ mà chữ ẩn còn có năm bảy chữ không lộ. Tôi chợt hiểu.

Phàm ngôn của mình mà dịch chú. Nói ra, chẳng khác gì nhà giáo ngoại mất “tư cách con người”là Đắt Lộ; y nói bập bẹ tiếng Việt chưởi Đức Phật bằng thằng,chưỡi ông bà tổ tiên Người Việt là ma quỷ hồi thời Chúa Trịnh Tráng Nhà Lê ! Chúa Trịnh đuổi, y qua Macau 1652 thì phải.

 Rồi mới đây trên net thấy ca ngợi Chú Đại Bi đã được dịch !?

     TT Nguyên Tạng Chủ Biên Trang Nhà Quảng Đức, thảo luận với tôi về điều nầy, sau đó thì có vài Phật Tử phone hỏi 2 câu hỏi có vẻ nóng bỏng như trên. Về vấn đề có nên dịch Thần Chú Không ? Trả lời không phải khó, nhưng để thẩm thấu ý nghĩa Tôi xin hỏi quí vị : “Khi nói, Não bộ con người, Ngũ Tạng con người, Phổi, Gan, Mật, Tim, Óc vô cùng mầu nhiệm, quí báu Phải không ? Trân trọng quí giá vô cùng, tất cả ai ai cũng hiểu cũng quí, Phải không ? Tò mò muốt biết ?

“ Mổ ra coi chơi ? Banh ra coi cho biết nó quí như thế nào “? Ô Kê ? Được chứ ?! Ha ha ! Tất là, không ai chịu làm chứ  gì ? Để yên như thế ! Quí giá vô cùng tận ! Banh nó ra rồi ? Chèn ôi ! Rụng rời ! Hết  tụng ?!

  Sự kín nhiệm của Phật chú không nên dịch là thế đó ! Đừng chủ quan kết luận rằng, xưa nay các Thầy vì “dốt” nên không ai dịch.

Ai, hân hoan điều đó thì cứ mà hân hoan ! Còn phần lớn, thọ trì nhiều, tín tâm vững là ấn điểm quan trọng cho việc Trì Chú.

   Còn ai muốn chơi trội, là nhơn sư , không biết có giống người cơm nóng sốt không thích ăn, phơi cho nguội khô rồi mới ăn . Tùy ý !? Tụng theo bản dịch như ăn cơm nguội cũng có người thích kiểu ăn nầy.

   Ăn, Sáng Ăn ! Trưa ăn ! Muốn no thì ăn ! Muốn hết Nghiệp thì Tu ! Thì, Trì Chú ! Đó là “Thực Phẩm ngon” của Người Tu Hành xưa cũ.

A Di Đà Phật.

2.   Về, -Tri –Trí  -Học /Thức :

TRI THỨC,

Ai đó trong nhân loạivui lòng hướng dẫn, chỉ dẫn, sửa sai cho Người khác,với một cõi lòng thiết tha thành thật, đúng đắn Tận tâm không câu nệ thời gian, một lần hai lần ba lần nhiều lần mà vẫn vui vẻ cho đến cuối cùng; Người hưởng thọ sự giáo dục bang trợ được thông suốt trọn vẹn đúng như pháp. Người Thầy đó là bậc Tri Thức. Bậc hiểu biếtkhông lộ cho ai biết là bậc TRI THỨC.

   Chỉ dẫn, mới một lần, hai lần đã vội càu nhàu sì sạt, đưa người yếu đuối qua đường, người ta ngờ ngạt, chậm chạp thì đã sừng sộ quay tới quay lui. Ỷ lại thông minh, lên bực giảng bị hỏi những câu nan giải thì đỏ mặt giận hờn nói càn thích bậy. Trên lập trường giao lưu với cuộc đời chỉ biết xưng danh như thùng rỗng, tự ái tràn đầy, đã không Tri-Thức, Học thức, Trí thức cũng không, như thế là người không Tri Thức dù cho có thêm bằng cấp học thức gì đó. Nhứ thế, chã có thức nào hết.

 

Trí Thức, Thực luận về Trí Thức, là người có Bản Tánh đặc biệt xuất sắc. nghe những lý luận về nhiều phương diện Họ biết ngay điều đó là đúng hay không đúng . Không có trình độ để cấp bằng cấp Trí Thức, chì có quí kính và ngưỡng mộ.

  Thí dụ, Trong nhiều các trường hợp nhưng đây chỉ áp dụng trường hợp hội luận. để thấy ai là Người Tri-Thức. Người tu, còn có Vô Sư Trí.

Luận giả nói : Trên thế gian nầy mọi loài, mọi thứ, mọi vật, có hình hay không có hình đều do, Một Đấng  có tên là “Tạo Hóa” tạo ra ! Khán thính giả đều vỗ tay (!). Không ai có ý kiến (?)

     Nhưng, người Trí Thức cho đó là Luận giả nói sai.  Tại sao ? Người Trí Thức khẳng định trong thế gian không có Đấng Tạo Hóa ? Đấng tạo hóa chỉ là bịa đặt của danh ngôn ! Hay từ một biện trí thiếu sáng suốt rồi dẫn thành một ẩn kín mưu mô hay đầu tư …sẽ, hay đã xuất hiện.

  Vậy luận lý của Trí thức :

Là, Đấng đó, do đâu mà có ? Ai bày ra ? Đấng đó tự có ? Hay có Cha có Mẹ đẻ ra ! Hay từ hư không xuất hiện có đủ chứng minh chưa?

   Có khi lại dựng đứng lý luận, Tạo Hóa như ông thợ gốm, nhồi đất sắt nặn ra chậu, vung, bình, chén …Đúng thế, nhưng đất sắt, nước, ông Thợ

phải nhờ vật liệu mà ông không tự có. Cũng chỉ là thợ gốm.

Nếu không do đâu mà có ? Thì là nói hoang đưởng vô bằng cớ ! Nếu trưng dẫn có giấy trắng mực đen in ra ! Là do có người in ấn ra ! Vì có sách in ấn ra, nên có Đấng Tạo Hóa thật , Thế thì người in ấn ra giấy trắng mực đen đó chính là Đấng tạo hóa. Đấng Tạo Hóa cũng chỉ là một người bình thường như bao người bình thường khác ? Người bình thường đó lại  có thể sinh sản ra mọi thứ, mọi hình, mọi vật ? Đừng đùa, trẻ nít cười đấy !

Ta thữ lý luận theo logic trí thức. Ông Đấng nầy giả tỉ là người Do Thái đi, đâu có thể sanh ra người Việt Nam được, còn nói chi Tây, Mỹ, Ma-rốc, Tàu mọi v.v…   Nhưng còn lạ lùng quái dị nữa, nào thú vật, Bò Heo Chó…Kể cả làm bão lụt nửa , cũng là đấng ấy làm ra (?) Không có lý nào cái ông Đấng nầy có đủ các hình trạng : Người đẻ ra Người ! Mèo đẻ ra mèo ? Làm gì có chuyện muốn biến gì cũng được. Không đúng đâu bạn! Đừng ép người ta ăn thuốc độc !  Lý thuyết thiên hình vạn trạng trong một “Thể Đấng ” Chỉ có cách đặt kín trong Thần Học mới tạm dấu não loạn mê hoặc để hù kẻ ngu thời tiền sử! Quẹt cây diêm quẹt chúng thất kinh hồn via tưởng có vô số ông thần lửa nằm trong Hộp diêm quẹt !.

        Tà thuyết có vũ lực đến đâu cũng không tấn công làm lộng được Trí của người trí. Người đó đúng là TRÍ THỨC. Trí Thức là như thế.

 

Học Thức,

Học Thức là Từ nơi sự học hiểu theo các lớp có Trường ốc Do Chánh Phủ thiết lập, hay do tư nhân thiếp lập, có thi cử rõ ràng, có chứng minh, bằng cấp, đó là cái thực học, học thức chính gốc của họ, Từ nơi Học. Còn phải nói đúng nghĩa, là phải hiểu thấu tường tậu sự đã học để thực hành không ra ngoài cái hiểu biết của học, nên gọi là Học Thức !

    Còn nửa, Học Thức dù có bằng cấp bảo đảm, nhưng thiếu Trí Thức, tâm địa hẹp hòi, thì có thể đi ngược Khoa Học tin hảo tin quàng bị sa ngã vào Nhất thần hay đa thần giáo dễ như trở bàn tay. Tệ hơn, do thiếu Tri-thức nên cố nổi gân cổ để bao biện che lấp cho nhiều lỗi lầm như nhà viết  con chiên tú gàn chẳng hạn.

Người Học Thức mà có tâm giúp đời, giúp nước, họ có thể gom thu những hiểu biết sáng tạo, phải nói, phải viết đứng sự thật, mở mang cho tiến hóa ! Nếu vọng ngọai, tà tín gồng gánh thêm vào cái biến thức phi nhân nghĩa đạo đức bôi nhọ chính cái bằng cấp “Thực Học” của mình ! Trịn lên bằng cấp là những tôi tớ của Thực dân. Thành ra kẻ tồi trên dòng khoa bảng.

 

Do thiếu Học thức, nên ở đời thường lầm ! Rồi lại hay chê : Ông ấy có bằng cấp có học thức mà sao “Ngu” quá vậy. Có những lời chê quá đáng như thế là vì không chịu hiểu kỷ hai chữ Học Thức.

  Phuơng Tây có câu: “Cái ngu cửa người Học-thức, Ngu hơn cái “Ngu”

Của người không học thức”. Nên rõ ràng, Ông nầy ổng đậu bằng Kỷ Sư Cầu Cống, thì ổng là học thức về cầu cống, ổng đâu cỏ thể vào nhà thương mỗ xẽ người bịnh đau ruột được ! Phải không ?

Ông nầy ổng là BS Toàn Khoa, Bịnh gì ổng cũng hiểu, ổng trị bá bịnh, những ổng vẫn tin ông Trời là vạn năng, đó là tự ổng có đức tin không hướng theo lối văn minh khoa học, ổng không thèm phân biệt tà và chánh thế thôi, dù ổng cũng là văn minh khoa học?  Không Nên chê trách vào cái bằng cấp của người ta được.

 Trên đời nầy tự do muốn tin những gì mà Người có Trí không TIN. Thì nên tìm vào Thần Học. Tóm lại, học thức chỉ “Hơn” người không học thức mà thôi. Tuy nhiên, Người có bằng cấp mà đủ Trí, đủ Tri, là Người Toàn Vẹn. Đó là Người Học Thức xứng đáng.

   Quan trọng hơn và thú vị hơn là nhà Học ThứcNhân Bản ! Nhà học thức nầy sau giờ làm việc về nhà “Chào Cha Mẹ Con Mới Về” ! Tiếng gọi “CHA MẸ” thiêng liêng nhất chỉCha Mẹ Ruột ! Còn thằng cha ngoại lai tuyệt đối không bao giờ gọi ! Trừ phi nhân thêm hai chân.

Đó là Học Thức Nhân Bản.

Kính Chào bái chư vị Tri Thức.

 

   

Viết tại Chùa Bảo Vương, Mùa An Cư PL 2559

  HT. Thích Huyền Tôn

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 106)
Mục đích của Đạo Phật là diệt khổ và đem vui cho mọi loài, nhưng phải là người có trí mới biết được con đường đưa đến an lạc và hạnh phúc
(Xem: 75)
Người ta thường nói đạo Phật là đạo của từ bi và trí tuệ. Đối với nhiều người Phật tử, từ bi là quan trọng hơn cả, và nếu không có từ bi thì không có đạo Phật.
(Xem: 223)
Các nhà khảo cổ đang nghiên cứu tại Nepal đã phát hiện bằng chứng về một kiến trúc tại nơi sinh ra Đức Phật có niên đại thế kỷ thứ 6 trước công nguyên.
(Xem: 261)
Theo Đức Phật, tất cả những vật hiện hữu đều biến chuyển không ngừng. Sự biến chuyển này thì vô thuỷ vô chung. Nguồn gốc của vũ trụ không do một Đấng Sáng tạo (Creator God) tạo ra.
(Xem: 280)
Đức Phật đản sanh vào năm 624 trước Công nguyên. Theo lý giải của Phật Giáo Nam Tông thì Đức Phật sanh ngày Rằm tháng Tư Âm lịch.
(Xem: 294)
Nếu bạn say mê đọc kinh Phật, ưa thích những phân tích kỹ càng về giáo điển, muốn tìm hiểu các chuyện xảy ra thời Đức Phật đi giảng dạy nơi này và nơi kia, hiển nhiên đây là một tác giả bạn không thể bỏ qua
(Xem: 185)
Tánh Không là một trong những khái niệm quan trọng và khó thấu triệt nhất trong giáo lý Phật giáo Đại thừa.
(Xem: 348)
Nguyên bản: Meditating while dying; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 425)
Ba Mươi Hai Cách ứng hiện của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Bởi vì Quan Thế Âm Bồ Tát đồng một Sức Từ với đức Phật Như Lai cho nên ngài ứng hiện ra 32 thân, vào các quốc độđộ thoát chúng sanh
(Xem: 325)
Thể tánh của tâm là pháp giới thể tánh, bởi vì nếu không như vậy thì tâm không bao giờ có thể hiểu biết, chứng ngộ pháp giới thể tánh.
(Xem: 255)
Trong kinh tạng Nikāya, khái niệm con đường độc nhất (ekāyana magga) là một khái niệm thu hút nhiều sự quan tâm của học giới từ phương Tây cho đến phương Đông
(Xem: 232)
Thuật ngữ pháp (dharma, có căn động tự là dhṛ có nghĩa là “duy trì, nắm giữ”; Pāli: dhamma; Tây Tạng: chos) mang nhiều ý nghĩa và ...
(Xem: 290)
Trì danh là pháp tu Tịnh Độ phổ thông nhứt hiện nay. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm, có Mười cách trì danh khác nhau
(Xem: 284)
Phật dạy tất cả pháp hữu vi đều là vô thường sanh diệt không bền vững, như vậy thìthế gian cái gì có tạo tác có biến đổi đều là vô bền chắc.
(Xem: 376)
Nguyên bản: Removing obstacles to a favorable death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 315)
Mối liên hệ giữa hình thức sớm nhất của Phật giáo và những truyền thống khác mà chúng đã phát triển về sau là một vấn đề luôn tái diễn trong lịch sử tư tưởngPhật giáo.
(Xem: 440)
Nghiệp và Luân hồi là hai ý niệm đã có trong Ấn độ giáo, được giảng giải trong các Kinh Veda và Upanishad vào khoảng 1500 năm trước CN.
(Xem: 8805)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 851)
Mục tiêu cao cả của đạo Phật là dạy con người tu tập để thoát khổ, giác ngộgiải thoát.
(Xem: 327)
Phật giáo du nhập Nhật Bản vào thế kỷ thứ VI, sau đó trải qua thời kì Nara (710~785), thời kì Heian (794~1192) cho đến thời kì Kamakura (1192~1380), trước sau khoảng 700 năm, rồi phát sinh rất nhiều tông phái.
(Xem: 364)
Tổ Quy Sơn dặn: “Nói ra lời nào phải liên hệ với kinh điển. Đàm luận gì, phải xét lại lời người xưa”.
(Xem: 323)
Nhiều học giả phân vân là làm thế nào và tại sao những nhà Đại chúng bộ (Mahāsāṅghika) đã hình thành nên khái niệm về một Đức Phật siêu việt...
(Xem: 500)
Hoa Sen Diệu Phápgiáo pháp được thuyết giảng trong Kinh Pháp Hoa. Quang Trạch giải thích Diệu Pháp là nhân của đạo Nhất Thừa, là quả của đạo Nhất Thừa.
(Xem: 286)
Con người sống qui tụ lại thành một xã hội, và phát triển tập thể này rộng lớn dần dần thành một quốc gia.
(Xem: 1431)
Trước khi xác định Phật Giáo như là một hệ thống tư tưởng triết học (Buddhism as a philosophy) hay như là một tôn giáo (Buddhism as a religion), chúng ta sẽ tìm hiểu triết học là gì ? và Phật giáo là gì ?
(Xem: 414)
Lục độ Ba-la-mật-đa/ Sáu phương pháp tu Ba-la-mật-đa (Six Paramitas) là 6 pháp tu để giải trừ các khổ ách của Đại thừa Phật giáo.
(Xem: 390)
Theo quan điểm của Đại hoàn thiện thì ánh sáng trong suốt hiển hiện một cách tự nhiên và được gọi là "hoàn-toàn-tốt"
(Xem: 567)
Đức Phật ra đời vào năm 624 trước tây lịch tại nước Ấn Độ. Ngài thuyết pháp 49 năm. Phật giáo đã trở thành quốc giáo, vì các vua, các quan và dân chúng đa phần đều theo đạo Phật.
(Xem: 573)
Y Kinh Kinh Cang Bát Nhã Ba La Mật: Đức Thế Tôn Như Lai hỏi ngài Tu Bồ Đề: Như Lainhục nhãn không? Ngài Tu Bồ Đề thưa:
(Xem: 1418)
Cuốn sách “Luân Hồi trong Lăng Kính Lăng Nghiêm” được ra mắt cách đây 9 năm (2008), in lần thứ hai, ba và tư vào năm 2012, 2014 & 2016 tại Nhà xuất bản Phương Đông, và năm nay (2018) cũng tại NXB Hồng Đức
(Xem: 837)
điều chắc chắn là làm người, ai cũng có ý thức về tội lỗi. Điều này là không đúng, điều này là không tốt, điều này là không đẹp.
(Xem: 531)
Tựa đề của khảo luận này phát xuất từ tồn nghi của một pháp hữu trong khi dịch lại bản kinh Tập (Sutta Nipāta) ở văn hệ Nikāya.
(Xem: 953)
Khái niệm ‘nghiệp’, thật ra, đã có mặt trong văn học Bà-la-môn giáo từ rất lâu trước khi Đức Phật xuất hiện ở đời.
(Xem: 501)
Vũ trụ, con người hình thành như thế nào và tương lai sẽ ra sao? Câu hỏi chưa bao giờ được xếp lại. Khoa học lượng tử luôn tiên phong...
(Xem: 473)
rong lịch sử tư tưởng Ấn-độ, thuyết Trung đạo đã mang lại cho tư tưởng giới đương thời một không khí hoạt bát[1].
(Xem: 640)
Bản chất của ánh sáng trong suốt, mang tính cách nền tảng và rạng ngời, là cội nguồn tối hậu của tất cả mọi cấp bậc tri thức...
(Xem: 735)
Chánh Pháp là gì? Phật Pháp được chia thành ba thời kỳthời Chánh Pháp, thời Tượng Pháp, và thời Mạt Pháp.
(Xem: 1149)
Ông trị vì từ năm 269 TCN đến năm 232 TCN thuộc đời thứ 3 của triều đại Maurya. Đế chế của ông rộng lớn gần như tất cả tiểu lục địa Ấn Độ trãi dài từ Đông sang Tây.
(Xem: 821)
Trong Kinh Kim Cang, Phật dạy có 4 tướng: “Ngã – Nhân – Chúng Sanh – Thọ Giả”. Khi còn phàm phu, chấp thân này là thật là bền vững,
(Xem: 832)
Đạo Phật đang phát triển rộng rãi đến nhiều tầng lớp. Rất nhiều các bậc tri thức, các nhà khoa học chân chính, đến cả những người ...
(Xem: 1548)
Kiếp sống của mỗi con người sinh ra ở thế giới Ta Bà này, dù thọ mạngdài hay ngắn, nhìn chung có thể phân chia làm nhiều giai đoạn.
(Xem: 984)
Kể từ thời điểm Phật giáo khai sinh và nở hoa khắp mọi miềnthế giới, hễ mỗi khi nói đến hình ảnh một vị Phật xuất hiện trong tương lai,
(Xem: 704)
Phép luyện tập thiền định được hỗ trợ bởi sự thực thi các hành động vị tha, các hành động đó đồng thời cũng được thúc đẩy bởi tình thương yêu và lòng từ bi.
(Xem: 598)
Nếu đủ sức duy trì một cách đúng đắn sự nhận biết tâm thức thần bí nhất thì kết quả mang lại từ phép luyện tập đó sẽ trợ lực các bạn rất nhiều
(Xem: 765)
Thời-không vũ trụ chứa hàng triệu, tỉ, hàng ức cho đến không máy móc nào đếm hằng hà sa số hành tinh như trái đất mới biết con ngườimột sinh thể gần như bằng không.
(Xem: 924)
Trong các bài kinh thuộc hệ A Hàm hay kinh Đại Bát Niết Bàn v.v… Phật có nói đến địa ngục. Đề Bà Đạt Đa, Tì kheo Thiện Tinh, vua Lưu Ly v.v… đều đọa vào địa ngục ngay khi chết.
(Xem: 699)
Xét về niên đại, bản kinh có mặt ở thời Hậu Hán (23-220), xuất hiện trong Cao Tăng Truyện quahành trạng của ngài Nhiếp-ma-đằng (攝摩騰)[2].
(Xem: 653)
Thể dạng lắng sâu thường xuyên bên trong tâm thức thần bí nhất chỉ có thể thực hiện được với những người có một khả năng thật bén nhạy.
(Xem: 1388)
Bài viết này sẽ khảo sát một số thắc mắc thường gặp về Thiền Tông, hy vọng sẽ tiện dụng cho một số độc giả còn nhiều nghi vấn.
(Xem: 970)
Thức Thứ Tám hay A Lại Ya là thức chủ trong 8 thức. Thức nầy có nhiều cách gọi khác nhau để chỉ về nhiệm vụ của mình. Tựu chung thức nầy có 3 việc chính là: Năng tàng, Sở tàng và Ngã ái chấp tàng.
(Xem: 1056)
Khi còn vướng mắc trong sự tạo tác triền miên của khái niệm, chẳng hạn như suy nghĩ về cái đúng, cái sai, v.v. , thì các bạn sẽ không thể nào bước vào con đường tu tập về
(Xem: 958)
Học phái dịch thuật xưa của Phật giáo Tây Tạng đưa ra nhiều cách luyện tập dựa vào các phương pháp khác biệt nhau, gọi là các "cỗ xe"/thừa.
(Xem: 1888)
Thần tài trong Phật giáo, cụ thểPhật giáo Bắc truyền đã vay mượn giữa hình ảnh Bố Đại hòa thượng và các truyền thuyết về thần tài Trung Hoa, để tổng hòa nên một vị thần tài có nguồn gốc ngoài Phật giáo.
(Xem: 1415)
Thời Đức Phật tại thế, Ấn Độít nhất mười sáu tiểu vương quốc, mỗi vương quốc đều có ngôn ngữ hay phương ngữ riêng, nhưng có lẽ người dân của mỗi nước đều có thể giao tiếp và hiểu nhau được.
(Xem: 974)
Trong các kinh sách thừa hưởng từ [Phật giáo] Ấn Độ thì nguyên tắc căn bản đó lúc thì được gọi là "tâm thức tự tại
(Xem: 1585)
Kinh Hoa Nghiêm tiếng Sanskrit là Avatamsaka, tiếng Nhật là Kégon Kyo. Kinh nầy bằng tiếng Sanskrit do Bồ Tát Long Tho (Nagarjuna) soạn vào khoảng thế kỷ thứ 2 Tây Lịch.
(Xem: 1017)
Con người muốn có cuộc sống an lạchạnh phúc, cần phải tu nhơn tạo phước, chứ không phải chỉ cầu nguyện...
(Xem: 1000)
Phát huy sự chú tâm đúng đắn hướng vào một điểm nhằm mục đích gì? Việc luyện tập đó không nhất thiết là chỉ để giúp tâm thức đạt được một mức độ tập trung thật cao...
(Xem: 1390)
Đức Đạt Lai Lạt Ma Nói Về Phật Giáo Ứng Dụng - Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
Quảng Cáo Bảo Trợ