Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới

Hai Bài Thơ Của Tuệ Trung Thượng Sĩ

15 Tháng Chín 201513:55(Xem: 11748)
Hai Bài Thơ Của Tuệ Trung Thượng Sĩ
HAI BÀI THƠ CỦA TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ

 HT Thích Tâm Châu Dịch Và Chú Thích

Canh Hoa Tam

ĐỐN TỈNH (Chợt Tỉnh)
Tuệ Trung Thượng Sĩ
*
Đoán tri không, hữu bất tương sa (sai) 
Sinh tử nguyên tòng nhất phái ba. 
Tạc dạ nguyệt minh, kim dạ nguyệt, 
Tân niên hoa phát, cố niên hoa . 
Tam sinh thúc hốt chân phong chúc
Cửu giới tuần hoàn thị nghĩ ma. 
Hoặc vấn như hà vi cứu cánh
Ma-ha bát-nhã tát-bà-ha
***

Có, không chỉ một mà thôi, 

Tử, sinh đợt sóng chuyển nhồi tạo ra.
Trăng nay, trăng cũng đêm qua,
Hoa cười năm mới cũng hoa năm rồi. 
Ba sinh, đuốc trước gió mồi,
Tuần hoàn chín cõi, kiến ngồi cối xay.
Tới nơi cứu cánh sao đây ?
Siêu nhiên tuệ giác, vẹn đầy “Sa ha”
(Thích Tâm Châu dịch )
-----

Chú thích (Thích Tâm Châu)
Đại ý:

Bài thơ này Thượng Sĩ khuyên chúng ta cần phải tỉnh thức mau chóng về sự đối đãi ở đời để đi đến chỗ nhất như
Trong chân thể, có không chỉ là một. 
Sinh tử do làn sóng vọng động của vọng tâm sinh khởi, hết sóng thì nước yên. 
Trăng tối qua, trăng tối nay, ánh sáng của nó cũng chỉ là một. 
Hoa năm cũ , hoa năm mới đều là một thể chất của hoa. 
Thời gian của quá khứ, hiện tại, vị lai như cầm ngọn đuốc trước gió lùa. 
Chín cõi của chúng sinh còn bị luân hồi sinh tử, như kiến trên miệng cối xay. 
Muốn đạt tới giác-ngộ cứu-cánh, cần phải thành-tựu trí-tuệ siêu-việt.

 

KIẾN GIẢI (Thấy biết)
Tuệ Trung Thượng Sĩ
*
Kiến-giải trình kiến-giải, 
Tự niết mục tác quái.
Niết mục tác quái liễu, 
Minh minh thường tại. 
----
Nơi mình, kiến-giải trình ra,
Đưa tay chà mắt đốm hoa hiện bày.
Lạ lùng, chà mắt, buông tay, 
Tính chân tự-tại rạng ngời thường như.
----
(Tuệ Trung Thượng Sĩ. Thích Tâm Châu dịch -- in trong Cánh Hoa Tâm . Canada 2001)


Chú thích (Thích Tâm Châu)

Đại ý
Kiến-giải (Darsana) : Ấn Độ gọi là triết học . Có nghĩa là sự thấy biết, sự nghiên cứu sâu xa đến căn bản chân lý của sự sự, vật vật. Tức là sự hiểu biết phân biệt chân, giả, đúng, sai, hay, dở đối với sự vật . Đây là một thi kệ, trình bày sự thấy biết của Tuệ Trung Thượng Sĩ. Tuệ Trung Thượng Sĩ tên thực là Trần Tung, con trai Trần Liễu, anh ruột Trần Quốc Tuấn, và là anh vợ vua Trần Thái Tông là Hoàng Hậu Nguyên-Thánh Thiên-Cảm.Vua Trần Thái Tông phong cho ông tước Ninh Hưng Vương. Khi còn nhỏ, ông đã hâm mộ cửa Phật. Tính tình thanh cao, thuần hậu. Ông tham học nơi thiền sư Tiêu Dao ở Phúc Đường. Ông trực tiếp cầm quân chống quân Nguyên Mông. Ông làm Tiết Độ sứ ở Thái Bình. Ít lâu sau ông lui về ở ấp Tịnh -bang, lập Dưỡng- Chân -Trang và tiếp tục tham cứu đạo Phật. Vua Trần Thánh Tông thường tham cứu thiền học nơi ông. Nhà vua rất khâm phục, ban cho ông hiệu “Tuệ Trung Thượng Sĩ”.

Bài thi kệ “Kiến-giải”của ông nảy sinh trong trường hợp trai tăng trong Hoàng Cung. Nhân, vua Trần Thánh Tông làm lễ trai tăng, thỉnh các bậc danh tăngThượng Sĩ vào cung cúng dường, cầu siêu cho Hoàng Hậu đã mất. Trai tăng xong, nhà vua xin mỗi vị một bài thi-kệ ngắn về kiến giải của mình. Đến lượt Thượng Sĩ, Thượng Sĩ liền viết ngay bài thi kệ này.

Thi kệ này, hàm ý, nói về nghĩa chân và vọng. Chân, như thực không thay đổi. Vọng, giả dối, không thực, hay thay đổi. Mắt vẫn sáng, lấy ngón tay ấn vào mắt, mắt hiện ra những hoa đốm trong hư-không. Khi tay không ấn nữa, mắt trở lại sáng như cũ. Đem sự thấy biết của mình trình bày, so sánh với sự thấy biết khác, chỉ là sự thấy biết vọng, chứ không phải chân! Vì còn có sự đối đãi !

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 1364)
Người đã đến, vầng hồng dương rạng rỡ Bước nhiệm huyền bừng nở những đài sen,
(Xem: 1342)
Trong những bài thuyết pháp, Lục Tổ Huệ Năng nói nhiều đến thấy tánh, trí huệ Bát nhã… nhưng ngài cũng nói nhiều đến ...
(Xem: 2164)
Tôi là dòng suối nhỏ Reo ca dưới mặt trời Uốn mình qua rừng vắng Lòng cuộn lá thu rơi.
(Xem: 3014)
Khi Phật giáo lần đầu du nhập vào Trung Quốc, những người nắm giữ quyền lực không chỉ dần tin và thực hành theo Phật giáo mà họ cũng cố gắng kiểm soát nó.
(Xem: 3131)
Phật giáo Tây Tạng đã trải qua những thời kỳ thăng trầm gắn với những biến cố lịch sử làm thay đổi đời sống con người và xã hội.
(Xem: 4374)
Hình ảnh con trâu tượng trưng cho tâm ý của chúng sinh. Mỗi người ai cũng đều có một con “trâu tâm" của riêng mình.
(Xem: 5071)
Đông đã qua rồi xuân ở đây Vườn xuân hoa nở nắng xuân đầy Xuân tâm rạng chiếu mầm xuân dậy Ánh nguyệt ngời soi tuệ nghiệp xây
(Xem: 3764)
Chúng ta đã quen với thể loại thơ Thiền sáng tác nhiều thế kỷ trước từ các ngài Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sỹ, Hương Hải…
(Xem: 2436)
Cầu cho Nước Mỹ an lành, Hùng mạnh bác ái dẫn đầu Năm Châu, Tự Do lan tỏa địa cầu, Nhân dân hạnh phúc, yên an, thái bình...
(Xem: 3498)
Nơi thành Xá Vệ xưa kia Vợ chồng nhà nọ rất chi là giàu Vì cha ông họ từ lâu Chết đi để lại đời sau gia tài.
(Xem: 4354)
Bốn người bạn thuở xa xưa Môn sinh trường học trầm tư vùng này Cùng nhau quán tưởng hàng ngày, Một hôm cam kết từ nay thi tài
(Xem: 3883)
Gia đình điền chủ thời xưa Có con trai nọ mới vừa sinh ra Đẹp lòng mẹ, hài lòng cha Khi chàng khôn lớn cả nhà vui tươi.
(Xem: 3692)
Bốn chín ngày đêm nhập định thiền Kiết già phu tọa cạnh bờ thiêng Thân tâm khế hợp điều hơi thở Ý tứ hài hoà quán pháp duyên
(Xem: 3592)
Thành Xá Vệ nước Ấn xưa Có ông trưởng giả rất ư là giàu Tính tình hào hiệp từ lâu Sẵn lòng bố thí trước sau mọi nhà
(Xem: 3854)
Thiền sư cất túp lều tranh Một mình ẩn dật tu hành rừng sâu Thị thành xa lánh từ lâu Tâm hồn thanh thản, đạo mầu kiên trinh.
(Xem: 3558)
Trong vương quốc nọ thuở xưa Có chàng hoàng tử mới vừa sinh ra Vua cha cùng với hoàng gia Đón mừng quý tử thật là vui tươi,
(Xem: 3283)
Nắng chiều rơi rụng ven Sông. Lơ thơ tơ nắng nhuộm hồng bờ vai, Đò chiều cập bến đợi ai ? Mái chèo khắc khoải ngày dài đợi mong...!
(Xem: 4513)
Như Lai lẳng lặng chốn dương trần, Phóng rọi quang từ thoát khổ luân. Hóa giải nhiêu đường qua chín cõi, (**) Soi cùng khắp nẻo ứng ba thân.(*)
(Xem: 4124)
Từ ngày lọt lòng mẹ, Tôi biết thở một mình, Thuở bé nằm trong nôi, Tôi biết khóc gọi mẹ.
(Xem: 3613)
Ngày xưa ở tại nước kia Có bà goá phụ Đề Vi rất giàu Chồng thời chết đã từ lâu Lại không con cái, u sầu mãi thôi
(Xem: 3538)
Trong vương quốc nọ thuở xưa Có chàng hoàng tử mới vừa sinh ra Vua cha cùng với hoàng gia Đón mừng quý tử thật là vui tươi,
(Xem: 3671)
Thực tại được biết chắc sau này Của những gì trước đây được tưởng tượng bởi vô minh
(Xem: 4130)
Đêm tịnh huệ tọa thiền thu huyền mộng Giữa biển đời sóng dội gió bão giông! Hồn vũ trụ ngân vang khuya thạch động Hạt cát reo theo thế giới đại đồng...
(Xem: 3543)
Lái buôn tên gọi Tàu Dư Mỗi năm gần Tết thường ưa mang hàng Đi xa, đến một xóm làng Bán buôn quen biết đã hằng bao năm
(Xem: 6663)
Thuở xưa đức Quán Thế Âm Chọn nơi đây chốn sơn lâm tuyệt vời Mở mang Phật pháp giúp đời Đạo tràng xây dựng cho người tu tâm,
(Xem: 4036)
Ngày xưa ở một ngôi làng Nhiều người có của giàu sang vô cùng Ông kia giàu nhất trong vùng Có nhiều vàng bạc chứa trong nhà mình.
(Xem: 3351)
Ngày xưa ở một ngôi chùa Trụ trì là một thiền sư lâu đời Thầy tu từ thuở thiếu thời Cùng ngày với chú heo nuôi trong chùa
(Xem: 3455)
Người ta kể chuyện ngày xưa Có người trông giống thầy tu vô cùng Cột đầu, bện tóc, hở lưng Mặc đồ rách rưới, sống vùng hoang vu
(Xem: 3573)
Ngày xưa ở tại nông thôn Có gia đình nọ sống luôn thuận hòa Nuôi hai bò trong trại nhà Lông màu hung đỏ, mượt mà, dịu êm
(Xem: 3443)
Lời quê một chút gọi là, Ân sư - hiền mẫu - sơn hà sáng soi
(Xem: 4189)
Xin gửi tặng độc giả xa gần hai bài thơ của nữ thi sĩ người Mỹ Louise Glück (1943-), vừa đoạt giải Nobel Văn chương, ngày thứ năm vừa qua, 08.10.20.
(Xem: 4316)
Sống ĐẠO vui đời có áng THƠ, Tâm bình học ĐẠO chảy dòng THƠ. THƠ hay nguyện lớn, cần nương ĐẠO, ĐẠO cả rộng bàn, dựa ý THƠ.
(Xem: 4351)
Trước bàn thờ Phật trang nghiêm Đèn hay nến thắp sáng lên ánh hồng Con thầm cầu nguyện trong lòng Mong sao giác ngộ, thoát vòng u mê
(Xem: 3704)
Giòng sông nào đưa ta về tĩnh lặng? Cơn gió nào thổi cuốn não phiền đi? Cỏ và cây in dấu bước chân đi, Ngồi nơi đây, trú an trong tỉnh thức.
(Xem: 4776)
Pháp Phật viên dung vạn cõi hòa, Người trời liễu ngộ, lặng niềm ca. Tu chơn phá động qui đường chánh, Niệm ảo ghiền tham đến nẻo tà.
(Xem: 4190)
A Na Luật được sinh ra Ở trong vương tộc rất là nổi danh Thật thà, hoạt bát, thông minh Múa ca, âm nhạc quả tình tinh thông
(Xem: 6616)
Ở bên sườn núi thuở xưa Có ngôi chùa nhỏ với sư rất già Lông mày sư tựa tuyết pha Chòm râu cước trắng mượt mà đẹp thay,
(Xem: 5372)
Trong ngôi thiền viện thuở xưa Đứng đầu là một thiền sư lâu đời Lìa trần tuổi chín mươi hai Danh ngài viện chủ khó ai sánh cùng,
(Xem: 3980)
Ni cô quyết chí tu hành Cầu tìm giác ngộ lòng thành thiết tha Nên cô nhờ thợ tạc ra Một pho tượng Phật thật là uy nghi
(Xem: 6746)
Đọc Thơ Phật Của Thi Sĩ Tâm Tấn - Viết về tập thơ “Cuối Đời Lọc Những Tinh Sương” của thi sĩ Tâm Tấn
(Xem: 3975)
Ngày xưa, ngày xửa, ngày xưa Có hoàng tử nọ khi vừa sinh ra Tin lành tràn ngập quốc gia Vua, hoàng hậu với muôn nhà mừng vui,
(Xem: 5535)
Miền Nam Ấn Độ một thời Cách thành Vương Xá chỉ vài dặm thôi Quê hương đó chính là nơi Thầy Xá Lợi Phất ra đời thuở xưa,
(Xem: 4289)
Một chiếc nệm trắng tinh, Nếu chân bạn lấm lem. Mà bạn leo lên đó, Thì nệm cũng trở thành một tấm bùn nhơ.
(Xem: 4220)
Dù ta không có bạc tiền Vẫn còn bảy thứ để đem tặng người.
(Xem: 4246)
Khi chim còn sống trên đời Chim ăn kiến nhỏ thấy thời khó chi, Nhưng khi chim bị chết đi Kiến thời ăn nó có gì khó đâu.
(Xem: 3808)
Đây lời Phật dạy lâu rồi: "Ta xem chức tước, thứ ngôi trên đời Của hàng vua chúa mọi thời
(Xem: 4323)
Có chàng chiến sỹ thuở xưa Tìm qua thăm hỏi thiền sư một lời: "Thiên đường, địa ngục đôi nơi Thực chăng hay chỉ nói chơi đặt bày?"
(Xem: 3837)
Thuở xưa có một thanh niên Rất là hiếu thảo khắp miền biết danh Là con một, đã trưởng thành Nhưng chưa chịu lập gia đình với ai
(Xem: 3929)
Có ông lãnh chúa vùng kia Một hôm cho thuộc hạ đi triệu mời Thỉnh hai vị khách tới chơi Hai thiền sư nọ là người tiếng tăm.
(Xem: 4330)
Anh chàng Đại Lãng thuở xưa Có tài đô vật rất ư tuyệt vời Lại thêm sức mạnh hơn người, Khi trong nội bộ ngay nơi viện nhà
Quảng Cáo Bảo Trợ
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Get a FREE Online Menu and Front Door: Stand Banner Menu Display for Your Restaurant