Logo Hanh Huong
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
13,975,728
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Duy Thức Học Từ Nhận Thức Đến Thực Nghiệm

30 Tháng Chín 201510:57(Xem: 3474)
Duy Thức Học Từ Nhận Thức Đến Thực Nghiệm

DUY THỨC HỌC
TỪ NHẬN THỨC ĐẾN THỰC NGHIỆM

Thiên Hạnh

-Duy Thức Học Từ Nhận Thức Đến Thực Nghiệm

 

      Bài viết này xin không trình bày lần lượt hệ thống các lý thuyết căn bản về Duy thức học mà chú trọng những điểm thiết yếu chi phối toàn triệt quá trình nhận thức một cách cô đọng và đặc trưng nhất có thể.

     Thức( vijnana) là dòng trôi tương tục dao động sáng tạo với những biểu đồ phức tạp được chi phối bởi những hệ quy chiếu mang màu sắc chủ quan, do đó có tính cá biệt đặc thù của mỗi cá thể. Sự tương tục tích góp bổ sung tỷ lệ thuận với thời gian trong một hệ giao thoa có ý thứcvô thức, do đặc trưng này nên gọi là tâm(citta). Diễn biến tư duy, cân đong đo đếm phân biệt với vô cùng các giới hạn liên đới nên có danh xưng là ý( manas).

  HIỆU ỨNG KHÚC XẠ

Khúc xạ là ảo ảnh có được khi một sự vật đi qua một môi trường khác với ban đầu, ảo ảnh do tác động của sự chiết suất( độ cong gãy) mà có. Tương tự, những gì từ thế giới xung quanh( tướng phần) được chủ thể( kiến phần) tiếp cận( không phải là cảm nhận) để xuất hiện những khái niệm, phán đoán, kết luận,…( lượng_tam lượng). Một cá thể hữu tình( còn cấu nhiễm) sẽ có những cảm nhận thiếu xác đáng, lệch lạc và sai lầm, trong đó vai trò của tự ngã( ngã si, ngã ái,…) và các phiền não trở thành chủ đạo.

  HỘI CHỨNG KHIẾM KHUYẾT_TIẾP NỐI_BỔ SUNG

Tất cả sự vật hiện tượng gọi chung là thế giới thật chất là tập hợp của vô số thông tin tồn tại như chính nó( nhậm trì tự tánh), trong khi cái tôi cá thể nương vào thức chấp ngã, tự nhuốm màu những cặp kính chủ thể làm bước đệm có tác năng như bộ vi xử lý( bộ lọc). Bước trung gian phản ánh sự khu biệt, hãn hữu, cắt xén, làm biến dạng thế giới chung quanh. Do vậy, chủ thể cảm nhận thế giới đã bị nhuốm màu phân biệt cuối cùng cái có được là những gì méo mó lệch lạc( những tín hiệu đã thay đổi với những mức độ khác nhau).

   Sự đa mang là tất yếu khi đồng hành với sự tiếp cận các pháp là sự có mặt của các chủng tử( bija) đúng hơn là các chủng tử gốc( bản hữu chủng tử), một dạng năng lượng tiềm tàng( thế năng) chúng sẽ trở thành nguồn năng lượng phát khởi và phát huy tác dụng theo những xu hướng định sẵn( thiện, ác) khi có đủ điều kiện kích hoạt đủ liều lượng( động năng). Chủng tử câu sanh này khởi hiện thông qua thức, hình thành định hướng sức sống và sự sống của chủ thể đương tại theo một quy thức mới có tính lập đi lập lại( tập khí_vasana) để rồi khi cơ hội chín muồi( dị thục) lại tiếp tục hình thành những dạng năng lượng mới( tân huân chủng tử) đưa vào kho chứa( tàng thức) dự trữ cho những vòng chuyển vận tác khởi tương lai.

   THỨC VÀ SỰ HÌNH THÀNH QUAN NIỆM, LỐI SỐNG, HÀNH XỬ MANG TÍNH XÃ HỘI.

   Đứng trước một pho tượng Phật tọa vị bên trong Phật đường, nhà điêu khắc sẽ bị thu hút bởi đường nét, mảng tối sáng, tính cân đối trong nghệ thuật tạo hình; nhà chất liệu học thoạt tiên sẽ khởi lên sự đóan định về chất liệu cấu thành, ước định về tuổi thọ hay trọng lượng,…của bức tượng; còn nhà nghiên cứu nội thất thì nghiêng về sự đánh giá tỷ lệ giữa bức tượng và các phần còn lại, mức độ tối ưu trong sự phân bố không gian,…những ai có tín tâm với Đức Phật thì phát khởi lòng kính ngưỡng, tâm thức dâng lên những cung bậc rung động tâm linh, chẳng khác nào trước mặt họ chính là Đức Phật đang hiện hữu sống động.

   Con người đánh giá cảm nhận tự nhiên thông qua thức, không ai giống ai và hệ lụy là những cách hành xử cũng muôn màu muôn vẻ. Lĩnh vực xã hội càng đa dạng đa sắc và phức tạp bội phần. Tư duy là vũ khí đặc hữu của con người( con người là cây sậy biết tư tưởng_Pascal). Sản phẩm của tư duy là kết quả của các bộ óc trải qua hàng chục thế kỷ để chúng ta có một nền tảng đồ sộ của nhân loại với văn hóa, triết học, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật,…Riêng về các bình diện mang tính xã hội học có tác dụng định hướng lối sống nhiều người. Chuỗi phát triển từ ý niệm sau đó là ý tưởng rồi nâng lên một cách hệ thống nhờ sự tự khẳng định thành tư tưởng. Nếu tư tưởng đi đến sự chỉnh chu nhất định và có ảnh hưởng một bộ phận hay một thành phần trong xã hội thì xuất hiện hệ tư tưởng. Hệ tư tưởng sẽ là tiền đề hình thành chủ thuyết và cao hơn là chủ nghĩa. Suy cho cùng chúng cũng chỉ là sự hợp lưu của những dòng tư tưởng cùng tần số tương thích, bổ khuyết và bổ sung cho nhau mà tự định hình lấy.

   Sáng suốt trong phán đoán đánh giá hiện thực, con người chỉ biết nương vào thức mà thức bản chất là vọng( thiếu xác đáng, mơ hồ), tuy vậy vẫn có những phán đoán mang tính sáng suốt nhất định( tợ hiện lượng) đây là dấu hiệu tích cực mà người đời hay dùng cụm từ đã nhận ra vấn đề!. Nghĩa là đã thấy đâu là phải, đâu là chưa hay để tự điều chỉnh lối sống, điều chỉnh lý tưởng sống ngay từ trong hành vi, ngôn ngữý tưởng.

Để bước qua được những giới hạn trầm kha của nhận thức, thâm nhập vào cảnh giới của trực cảm thể nhập duy thức tánh trực nhận các pháp đúng bản chất( như thị_ tathata ) buộc chủ thể phải có những bước cải biến mang tính cách mạng. Trước hết phải dần loại bỏ những thói quen cố hữu, những tính cách tiêu cực( tập khí ). Giới Luật được coi là sự điều chỉnh cần thiết khi đóng vai trò huân tu như một pháp đối trị những pháp gọi là huân tập. Sự miên mật trong hành trì Gíao Pháp là tác năng tích cực đánh động các chủng tử thiện tính tiềm tàng trong tàng thức( Giáo dục không phải là chất cho đầy mà là đốt lên ngọn lửa_John Keats, thi hào Anh) đồng thời cô lập và kiềm thúc các chủng tử bất thiện tính, qua đó hình thành những chủng tử mới tích cực.

Lộ trình tu tập của Duy Thức chung quy cũng là phản vọng quy chơn, lối về cũng đồng với tất cả các pháp môn tu trong đạo Phật. Có khác chăng là Duy Thức học khai triển nhận dạng quy trình diễn biến phức tạp của thức( duy thức tướng ), từ đó chỉ ra các xu hướng nhận diện và hành xử tích cực để đạt được trí của sự nhận chân toàn triệt( Đại viên cảnh ), trí của sự không ngăn ngại trong các khái niệm toàn cục hay bộ phận, không gian thời gian( Diệu quan sát ), trí của sự vô chấp ngã pháp năng sở bỉ thử( Bình đẳng tánh ) và trí không lấy tiền đề chủ quan vọng động làm cơ sở( Thành sở tác ).

Lấy thực trạng làm bối cảnh và thực tiễn là mối dung hợp chủ khách thể, chúng ta mới thấy được giá trị của Duy thức học giữa thực tế cuộc sống. Con người đặc biệt là giới trẻ đang quay cuồng trong vô số dòng hấp lực, sự định dạng các diễn trình phức hợp đan xen của trùng trùng các khía cạnh đời sống sinh hoạt, giải trí khuynh loát tâm thức con người. Thức vọng động, dao động, nhiễu động kéo tâm ý con người xa dần các chuẩn mực tương đối đời thường. Nhân cách nhân phẩm bị thử thách nghiệt ngã nói chi đến những lý tưởng cao cả xuất thế. Đó là chưa đề cập đến hội chứng tâm lý mất thăng bằng đang có xu thế tăng dần trong xã hội hiện đại( bệnh hoang tưởng, thần kinh phân liệt, căng thẳng tâm lý_stress,..)

Hy vọng Duy thức học, một môn tâm lý học Phật giáo( nói theo các học giả thế học) sẽ góp phần lý giải, điều hướng và là pháp môn trị liệu tích cực góp phần an lạc cho đời sống nhân sinh theo tinh thần Phật Pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác.

Sài Gòn, 25.9.2015

 (Thiên Hạnh)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 545)
Ông trị vì từ năm 269 TCN đến năm 232 TCN thuộc đời thứ 3 của triều đại Maurya. Đế chế của ông rộng lớn gần như tất cả tiểu lục địa Ấn Độ trãi dài từ Đông sang Tây.
(Xem: 240)
Trong Kinh Kim Cang, Phật dạy có 4 tướng: “Ngã – Nhân – Chúng Sanh – Thọ Giả”. Khi còn phàm phu, chấp thân này là thật là bền vững,
(Xem: 339)
Đạo Phật đang phát triển rộng rãi đến nhiều tầng lớp. Rất nhiều các bậc tri thức, các nhà khoa học chân chính, đến cả những người ...
(Xem: 634)
Kiếp sống của mỗi con người sinh ra ở thế giới Ta Bà này, dù thọ mạngdài hay ngắn, nhìn chung có thể phân chia làm nhiều giai đoạn.
(Xem: 304)
Kể từ thời điểm Phật giáo khai sinh và nở hoa khắp mọi miềnthế giới, hễ mỗi khi nói đến hình ảnh một vị Phật xuất hiện trong tương lai,
(Xem: 335)
Phép luyện tập thiền định được hỗ trợ bởi sự thực thi các hành động vị tha, các hành động đó đồng thời cũng được thúc đẩy bởi tình thương yêu và lòng từ bi.
(Xem: 308)
Nếu đủ sức duy trì một cách đúng đắn sự nhận biết tâm thức thần bí nhất thì kết quả mang lại từ phép luyện tập đó sẽ trợ lực các bạn rất nhiều
(Xem: 401)
Thời-không vũ trụ chứa hàng triệu, tỉ, hàng ức cho đến không máy móc nào đếm hằng hà sa số hành tinh như trái đất mới biết con ngườimột sinh thể gần như bằng không.
(Xem: 465)
Trong các bài kinh thuộc hệ A Hàm hay kinh Đại Bát Niết Bàn v.v… Phật có nói đến địa ngục. Đề Bà Đạt Đa, Tì kheo Thiện Tinh, vua Lưu Ly v.v… đều đọa vào địa ngục ngay khi chết.
(Xem: 308)
Xét về niên đại, bản kinh có mặt ở thời Hậu Hán (23-220), xuất hiện trong Cao Tăng Truyện quahành trạng của ngài Nhiếp-ma-đằng (攝摩騰)[2].
(Xem: 350)
Thể dạng lắng sâu thường xuyên bên trong tâm thức thần bí nhất chỉ có thể thực hiện được với những người có một khả năng thật bén nhạy.
(Xem: 1098)
Bài viết này sẽ khảo sát một số thắc mắc thường gặp về Thiền Tông, hy vọng sẽ tiện dụng cho một số độc giả còn nhiều nghi vấn.
(Xem: 732)
Thức Thứ Tám hay A Lại Ya là thức chủ trong 8 thức. Thức nầy có nhiều cách gọi khác nhau để chỉ về nhiệm vụ của mình. Tựu chung thức nầy có 3 việc chính là: Năng tàng, Sở tàng và Ngã ái chấp tàng.
(Xem: 731)
Khi còn vướng mắc trong sự tạo tác triền miên của khái niệm, chẳng hạn như suy nghĩ về cái đúng, cái sai, v.v. , thì các bạn sẽ không thể nào bước vào con đường tu tập về
(Xem: 639)
Học phái dịch thuật xưa của Phật giáo Tây Tạng đưa ra nhiều cách luyện tập dựa vào các phương pháp khác biệt nhau, gọi là các "cỗ xe"/thừa.
(Xem: 1001)
Thần tài trong Phật giáo, cụ thểPhật giáo Bắc truyền đã vay mượn giữa hình ảnh Bố Đại hòa thượng và các truyền thuyết về thần tài Trung Hoa, để tổng hòa nên một vị thần tài có nguồn gốc ngoài Phật giáo.
(Xem: 1104)
Thời Đức Phật tại thế, Ấn Độít nhất mười sáu tiểu vương quốc, mỗi vương quốc đều có ngôn ngữ hay phương ngữ riêng, nhưng có lẽ người dân của mỗi nước đều có thể giao tiếp và hiểu nhau được.
(Xem: 670)
Trong các kinh sách thừa hưởng từ [Phật giáo] Ấn Độ thì nguyên tắc căn bản đó lúc thì được gọi là "tâm thức tự tại
(Xem: 1211)
Kinh Hoa Nghiêm tiếng Sanskrit là Avatamsaka, tiếng Nhật là Kégon Kyo. Kinh nầy bằng tiếng Sanskrit do Bồ Tát Long Tho (Nagarjuna) soạn vào khoảng thế kỷ thứ 2 Tây Lịch.
(Xem: 672)
Con người muốn có cuộc sống an lạchạnh phúc, cần phải tu nhơn tạo phước, chứ không phải chỉ cầu nguyện...
(Xem: 675)
Phát huy sự chú tâm đúng đắn hướng vào một điểm nhằm mục đích gì? Việc luyện tập đó không nhất thiết là chỉ để giúp tâm thức đạt được một mức độ tập trung thật cao...
(Xem: 1020)
Đức Đạt Lai Lạt Ma Nói Về Phật Giáo Ứng Dụng - Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 1045)
A Dục, Asoka (Sanskrit). Khi đức Phật Thích ra đời, Vua A Dục là một đứa trẻ, trong lúc đang chơi đức Phật đi ngang qua, đứa trẻ đem cát mà coi như cơm cúng dường đức Phật...
(Xem: 1149)
Hàng ngày các Phật tử có thể “Xưng danh hiệu” hay “Niệm danh hiệu” của chư Phật, tức là đọc tên của chư Phật và tưởng nhớ đến các ngài.
(Xem: 816)
Trong Phật giáo, giải thoát hay thoát khỏi luân hồi là một đề tài vô cùng lớn lao. Ngay cả những người Phật tử đã học qua giáo lý, cũng mường tượng sự giải thoát như ...
(Xem: 689)
Như Lai có thể diễn tả những gì Ngài muốn bằng bất kỳ ngôn ngữ nào
(Xem: 1021)
Thuật Ngữ nầy có liên hệ đến rất nhiều Thuật Ngữ khác trong Kinh Điển Phật Giáo như: Thủy Giác, Chân Như, Như Lai Tạng, Pháp Tánh, Pháp Giới, Niết Bàn, Pháp Thân, Phật Tánh, Giải Thoát Thực Chất, Toàn Giác v.v…
(Xem: 612)
Chánh pháp của Đức Phật hay Đạo Phật được tồn tại lâu dài, đem lại hạnh phúc an lạc cho chúng sanh, chư thiênloài người.
(Xem: 609)
“Đạo Phật nhấn mạnhtu tập giúp chúng ta loại bỏ những tà kiến, chứ không phải là nơi tập hợp các hí luận”.
(Xem: 630)
Kinh Niệm Xứ (satipaṭṭhānasutta) là kinh thu gọn của Kinh Đại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhānasutta). Kinh này là một kinh rất quan trọng trong việc giải thích cách thực hành bốn phép quán
(Xem: 1296)
Bài viết này sẽ phân tích Bát Nhã Tâm Kinh dưới cái nhìn bất nhị, hy vọng sẽ làm sáng tỏ bài kinh cốt tủy này như một lối đi của Thiền Tông
(Xem: 948)
Đọc “Chú Lăng Nghiêm-Kệ và giảng giải“ Của Hòa Thượng Tuyên Hóa, do TT Thích Minh Định dịch từ Hoa ngữ sang Việt ngữ
(Xem: 998)
Đa số Phật Tử cầu được cứu độ, giải thoát khỏi khổ đau, và giác ngộ nhưng vẫn mâu thuẫn, chấp luân hồi, luyến tiếc cõi trần nên nghiệp thức luôn luôn muốn trở lại cái cõi đời, chấp khổ đau rồi tính sau.
(Xem: 746)
Đạo Phật khai sinh ở Ấn Độ mà cũng hoàn toàn biến mất ở Ấn Độ; nhưng nhiệt tâm hoằng pháptruyền bá của thế hệ các tăng sĩ tiền bối...
(Xem: 1022)
Bài viết này để nói thêm một số ý trong Bát Nhã Tâm Kinh, cũng có thể xem như nối tiếp bài “Suy Nghĩ Từ Bát Nhã Tâm Kinh”
(Xem: 910)
Nhân duyên là thực lý chi phối thế gian này. Không có một pháp nào hiện khởi hay mất đi mà không theo qui luật “Có nhân đủ duyên mới có quả”.
(Xem: 1051)
Việc dịch lại Tâm Kinh của Thiền sư Nhất Hạnh tuy theo ý thầy là dành riêng cho các đệ tử của thầy trong Làng Mai khi thầy nói với “các con” của thầy...
(Xem: 849)
Sau khi Đức Phật tịch diệt được khoảng 150 năm thì giáo pháp của Ngài tách ra hai đường hướng:
(Xem: 872)
Giúp đỡ người nghèo khó là một phẩm tính cố hữu của con ngườixã hội loài người. Phẩm tính này vốn tồn tại từ thời xa xưa và vẫn được duy trì trong xã hội hiện đại.
(Xem: 1398)
Làm Thế Nào Có Được Trí Tuệ Lớn Để Đạt Đến Bờ Giải Thoát - Đó phải là quán chiếu, thực hành, tu tập theo giáo lý bát nhã
(Xem: 700)
Nhiều người trong chúng ta đã theo dõi sự phát triển về di truyền học mới đã tỉnh thức về sự băn khoăn lo lắng sâu xa của công luận đang tập họp chung quanh đề tài này.
(Xem: 759)
Trong các nước thuộc truyền thống Phật giáo Bắc truyền, có một vị Bồ-tát thường được gọi là Quan Âm hay Quán Âm.
(Xem: 780)
Theo kinh, luật quy định, chư Tăng thời Đức Phật không được nhận kim ngân bảo vật. Nói rõ hơn là không được nhận tiền bạc hoặc quý kim tương đương.
(Xem: 939)
Bấy giờ bỗng nhiên đức Thế Tôn yên lặng. Một lát sau, Ngài lại nói: “Thôi đủ rồi, Xá-lợi-phất, không cần nói nữa. Vì sao ?
(Xem: 730)
Trong Phật giáo cũng có giới luật do Đức Phật chế định. Nhưng những luật này không bắt buộc mọi người phải tuân theo mà nó ...
(Xem: 766)
Trong kinh Tăng nhất A-hàm Đức Phật nhận định: “Ta không thấy một pháp nào tối thắng, tối diệu, nó huyền hoặc người đời khiến không đi đến nơi vĩnh viễn tịch tĩnh
(Xem: 641)
Nguyên lý làm tư tưởng nền tảng cho lập trường Pháp hoa chính là cở sở lý tính duyên khởigiáo nghĩa Phật tính thường trú, được biểu hiện qua...
(Xem: 777)
Trong sự trổi dậy của khoa học về thức và sự khảo sát về tâm cùng những thể thức đa dạng của nó, Phật giáo và khoa học nhận thức có những sự tiếp cận khác nhau.
(Xem: 995)
Đối với mọi người nói chung thì lúc chết là khoảng thời gian quan trọng nhất.
(Xem: 681)
Nếu nói về việc học, việc tu của chư Tăng Ni Phật Giáo thì tự ngàn xưa Đức Phật đã là một bậc Thầy vĩ đại đảm trách làm một Hướng đạo sư cho mọi người quy về.
(Xem: 888)
Bài viết này ghi lại một số suy nghĩ về Bát Nhã Tâm Kinh, một bản kinh phổ biến trong Phật giáo nhiều nước Châu Á, trong đó có Việt Nam.
(Xem: 722)
Dharma tức Giáo Huấn của Đức Phật cho chúng ta biết rằng tất cả mọi thứ đều tương liên và tương tác với nhau
(Xem: 771)
Kinh Pháp Hoa nói: “Pháp hy hữu khó hiểu đệ nhất mà Phật thành tựu, chỉ Phật cùng Phật mới có thể thấu suốt thật tướng của các pháp.
(Xem: 950)
Tất cả những điều này rất kỳ diệu không những đối với người Phật Tử mà còn cho những người của các tôn giáo khác nữa.
(Xem: 1114)
Là người sống ở thế gian, có ai tránh khỏi một đôi lần gặp bất trắc, tai ương lớn hay nhỏ.
(Xem: 688)
Nguyên tác: Toward a Science of Consciousness, Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 943)
Con đường thực nghiệm tâm linh dẫn đến đời sống giải thoátgiác ngộ đã được đức Phật giảng dạy ở trong các kinh điển...
(Xem: 1041)
Vấn đề [tâm] thức đã hấp dẫn nhiều sự chú ý tuyệt mỹ trong lịch sử dài lâu của tư tưởng triết lý Phật giáo.
(Xem: 1166)
Đối nghịch với khoa học, trong Phật giáo không có sự thảo luận triết lý trọng yếu về vấn đề những sinh vật sống xuất hiện từ vật chất vô tri giác...
Quảng Cáo Bảo Trợ