Logo Hanh Huong
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
13,760,754
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Mười Hai Khoen Nhân Duyên

10 Tháng Mười Một 201507:58(Xem: 3935)
Mười Hai Khoen Nhân Duyên

Mười Hai Khoen Nhân Duyên
(The Twelve Links Of Dependent Origination)
 
Chuyển Ngữ: Nguyễn Văn Tiến


Mười Hai Khoen Nhân Duyên

Mười Hai Khoen Nhân Duyên


Không có hiện tượng nào đang tồn tại mà không phải là kết quả của nhân duyên (nhân: nguyên nhân, và duyên: điều kiện). Tất cả mọi hiện tượng phát sinh phụ thuộc vào một số lý do, mà chúng ta gọi là điều kiện. Nguyên tắc căn bản của nhân duyên đơn giản là chính nó. Đức Phật mô tả nguyên tắc nầy, bằng câu nói như sau:

Vì cái nầy có, nên cái kia có.

Vì cái nầy sinh, nên cái kia sinh.

Vì cái nầy không, nên cái kia không.

Vì cái nầy diệt, nên cái kia diệt.

Nhân duyên căn bản, và chủ yếu là sự giảng dạy để hiểu biết sự đau khổ, và sự diệt khổ. Mười hai khoen nhân duyên cung cấp một sự diễn tả chi tiết về những nguyên nhân của sự khổ đau, và sự tái sinh. Mười hai khoen nhân duyên gồm có:

1) SỰ THIẾU HIỂU BIẾT (VÔ MINH) là điều kiện cho những hành động của tâm thức.

2) NHỮNG HÀNH ĐỘNG CỦA TÂM THỨC (HÀNH) là những điều kiện cho cái-biết.

3) CÁI-BIẾT (THỨC) là điều kiện cho tâm và thân.

4) TÂM VÀ THÂN (DANH SẮC) là điều kiện cho sáu giác quan.

5) SÁU GIÁC QUAN (SÁU CĂN) là điều kiện cho sự xúc chạm.

6) SỰ XÚC CHẠM (XÚC) là điều kiện cho cảm giác.

7) CẢM GIÁC (THỌ) là điều kiện cho sự ham muốn.

8) SỰ HAM MUỐN (ÁI) là điều kiện cho sự dính mắc.

9) SỰ DÍNH MẮC (THỦ) là điều kiện cho sự trở thành

10) SỰ TRỞ THÀNH (HỮU) là điều kiện cho sự sinh ra.

11) SỰ SINH RA (SINH) là điều kiện cho sự già và sự chết.

12) SỰ GIÀ VÀ SỰ CHẾT (LÃO-TỬ) là điều kiện cho sự thiếu hiểu biết.

Tất cả mười hai khoen nhân duyên liên kếtphụ thuộc lẫn nhau; do đó, không có điểm bắt đầu, hoặc không có điểm kết thúc. Mười hai khoen nầy là những hiện tượng luân hồi. Mỗi khoen là nguyên nhân của khoen bên nầy, và cũng là kết quả của khoen bên kia.

1) SỰ THIẾU HIỂU BIẾT (VÔ MINH): có nghĩa là thiếu sự hiểu biết đúng đắn. Chúng ta là người thiếu hiểu biết, nếu chúng ta tự xem mình là thật, là độc lập, và là một thực thể vĩnh viễn, hoặc là "Cái Tôi". Chúng ta đã không hiểu chúng ta là ai, chúng ta là những cái gì, hoặc vũ trụ là gì. Sự hiểu biết đúng đắn cho phép chúng ta sống theo cách mà mọi vật chính-là-như-thế. Sau đó, chúng ta có thể sống hài hòa với mọi loài. Sự thiếu hiểu biếtđiều kiện cho những hành động của tâm thức.

2) NHỮNG HÀNH ĐỘNG CỦA TÂM THỨC (HÀNH): những hành động của tâm thức phát sinh từ sự thiếu hiểu biết. Những dơ bẩn trong tâm (là kết quả của các hành động trong quá khứ, gây ra bởi thân thể, lời nói, và ý nghĩ) làm phát sinh các thói quen trong kiếp hiện tại, mà phù hợp với các mô hình thành lập trong kiếp quá khứ (nghiệp). Đây là lý do tại sao có một số người được sinh ra trong các điều kiện may mắn hơn những người khác. Những hành động của tâm thứcđiều kiện cho cái-biết.

3) CÁI-BIẾT (THỨC): cái-biết phát sinh từ những hành động của tâm thức. Theo nghĩa đen, cái-biết có nghĩa là sự nhận thức, sự thấu hiểu, sự nhìn nhận, sự phân biệt, vân vân .... Thông thường, cái-biết được giải thích là tâm của chúng ta. Cái-biết là điều kiện cho tâm và thân.

4) TÂM VÀ THÂN (DANH SẮC): tâm và thân phát sinh từ cái-biết. Tâm và thân là sự kết hợp của tinh thần và cơ thể (ý nghĩthân thể). Tâm và thân ám chỉ Năm Uẩn (nghĩa là hình tướng, cảm giác, sự nhận biết, những hành động của tâm thức, và cái-biết hoặc là 'sắc thọ tưởng hành thức'). Tâm và thân là những điều kiện cho sáu giác quan.

5) SÁU GIÁC QUAN (SÁU CĂN): sáu giác quan phát sinh từ tâm và thân. Sáu giác quan là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Qua sáu giác quan nầy, chúng ta có thể tiếp xúc với các đối tượng của thế giới bên ngoài. Sáu giác quan là những điều kiện cho sự xúc chạm.

6) SỰ XÚC CHẠM (XÚC): sự xúc chạm phát sinh từ sáu giác quan. Đây là sự hiểu biết tạo ra bởi sáu giác quan, bởi các đối tượng về cảm giác, và bởi cái-biết. Do đó, sự xúc chạm là điều kiện cho cảm giác. Nếu không có sự xúc chạm, chúng ta không có cảm giác. Sự đau khổ tùy thuộc vào sự xúc chạm, bởi vì sự xúc chạm đưa đến cảm giác.

7) CẢM GIÁC (THỌ): cảm giác phát sinh từ sự xúc chạm. Đây là những giai điệu về tình cảm. Chúng ta có ba loại cảm giác, đó là: cảm giác dễ chịu, cảm giác không dễ chịu, và cảm giác trung tính. Cảm giácđiều kiện cho sự ham muốn.

8) SỰ HAM MUỐN (ÁI): sự ham muốn phát sinh từ cảm giác. Sự ham muốn là sự khao khát nhục dục, sự theo đuổi niềm vui thú, và được nhận ra bằng sự dính mắc, bởi vì chúng ta chỉ muốn-được, mà chúng ta không-muốn-mất. Sự ham muốnđiều kiện cho sự dính mắc.

9) SỰ DÍNH MẮC (THỦ): sự dính mắc phát sinh từ sự ham muốn. Sự dính mắc là sự bám vào các đối tượng. Chúng ta có mong muốn giữ một cái gì đó, để sở-hữu cái-đó vĩnh viễn. Tuy nhiên, tất cả các hiện tượng đều vô thường. Vì vậy, chúng ta bị trói buộc vào sự đau khổ, vì sự thiếu hiểu biết của chúng ta. Sự dính mắc là điều kiện của sự trở thành.

10) SỰ TRỞ THÀNH (HỮU): sự trở thành phát sinh từ sự dính mắc, sự nắm giữ. Sự trở thành có nghĩa là chuẩn bị cho sự sinh đẻ, là chuẩn bị cho sự tạo ra, và là chuẩn bị cho sự tồn tại. Bởi vì sự dính mắc với các hiện tượng, chúng ta giả sử rằng có một cái-tôi. Tuy nhiên, cái-tôi nầy có điều kiện, nên là vô thường. Sự trở thànhđiều kiện cho sự sinh ra.

11) SỰ SINH RA (SINH): sự sinh ra phát sinh từ sự trở thành. Sự sinh ra ám chỉ hoặc là sự sinh ra về vật lý, hoặc là sự phát sinh của cái-biết luôn thay-đổi-mới từ giây phút nầy sang giây phút kế tiếp. Sự sinh ra là điều kiện cho sự già và sự chết. 

12) SỰ GIÀ VÀ SỰ CHẾT (LÃO-TỬ): sự già và sự chết phát sinh từ sự sinh ra. Cái chết là một trong những đau khổ lớn nhất, và cũng là nỗi sợ hãi của những người mà không được huấn luyện, mà không biết tuân theo luật-tự-nhiên của cuộc đời. Sự già và sự chết là điều kiện cho sự thiếu hiểu biết.

The Twelve Links Of Dependent Origination

There is no existing phenomenon that is not the effect of dependent origination. All phenomena arise dependent upon a number of causal factors, called conditions. The basic principle of dependent origination is simplicity itself. The Buddha described it by saying:

When there is this, that is.

With the arising of this, that arises.

When this is not, neither is that.

With the cessation of this, that ceases.

Dependent origination is essentially and primarily a teaching to understand suffering and the cessation of suffering. The twelve links of dependent origination provide a detailed description of the causes of suffering and rebirth. They are:

1. IGNORANCE is the condition for mental formations.

2. MENTAL FORMATIONS are the conditions for consciousness.

3. CONSCIOUSNESS is the condition for name and form.

4. NAME AND FORM are the conditions for the six senses.

5. THE SIX SENSES are the conditions for contact.

6. CONTACT is the condition for feeling.

7. FEELING (SENSATION) is the condition for craving.

8. CRAVING is the condition for clinging.

9. CLINGING is the condition for becoming.

10. BECOMING is the condition for birth.

11. BIRTH is the condition for aging and death.

12. AGING AND DEATH are the conditions for ignorance.

All twelve links are interrelated and dependent on each other; thus, there is no beginning or ending point. They are cyclic phenomena. Each link is a cause on the one hand, and an effect on the other.

1. IGNORANCE: Ignorance means the lack of right understanding. One is ignorant and takes oneself as real, independent, and a permanent entity or “I.” We do not understand who and what we are or what the universe is. Right understanding allows us to live in accordance with the way things are. Then one can live harmoniously. Ignorance is the condition for mental formations.

2. MENTAL FORMATIONS: Mental formations arise from ignorance. Mental impurities (the result of past actions of body, speech, and mind) give rise to habitual actions in the present life, which conform to the patterns established in the past (karma). This is why some people are born into more fortunate conditions than others. Mental formations are the conditions for consciousness.

3. CONSCIOUSNESS: Consciousness arises from mental formations. Literally, it means perceiving, comprehending, recognizing, differentiating, etc. Usually it is interpreted to be our mind. Consciousness is the condition for name and form.

4. NAME AND FORM: Name and form arise from consciousness. They are the combination of mentality and corporeality (mind and body). Name and form refer to the Five Aggregates (i.e., form, feeling, perception, mental formations, and consciousness). Name and form are the conditions for the six senses.

5. THE SIX SENSES: The six senses arise from name and form. They are eye, ear, nose, tongue, body, and mind. Through these six organs contact with external objects is possible. The six senses are the conditions for contact.

6. CONTACT: Contact arises from the six senses. It is the experience created by the six senses, sense objects, and consciousness. Therefore contact is the condition for feeling. Without contact, there is no feeling. Suffering is dependent upon contact because it gives rise to feeling.

7. FEELING: Feeling arises from contact. It is the affective tone. There are three kinds of feelings, namely: pleasant, unpleasant, and neutral. Feeling is the condition for craving.

8. CRAVING: Craving arises from  feeling. Craving is sensuous desire, the pursuit of pleasure, and the identification with attachment to gain and the fear of loss. Craving is the condition for clinging.

9. CLINGING: Clinging arises from craving. Clinging is an attachment to objects. We have the desire to keep something, to possess it permanently. However, all phenomena are impermanent. Therefore we are bound to suffer because of our ignorance. Clinging is the condition for becoming.

10. BECOMING: Becoming arises from clinging/grasping. Becoming means to give birth, create, and exist. Because of attachment to phenomena we assume that there is a self. However, this ‘self’ is conditioned and impermanent. Becoming is the condition for birth.

11. BIRTH: Birth arises from becoming. Birth refers to either physical birth or the moment-to-moment arising of renewed consciousness. Birth is the condition for old age and death.

12. OLD AGE AND DEATH: Old age and death arise out of birth. Death is one of the greatest afflictions and fears of the untrained, undisciplined worldling. Aging and death are the conditions for i

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 50)
Phép luyện tập thiền định được hỗ trợ bởi sự thực thi các hành động vị tha, các hành động đó đồng thời cũng được thúc đẩy bởi tình thương yêu và lòng từ bi.
(Xem: 135)
Nếu đủ sức duy trì một cách đúng đắn sự nhận biết tâm thức thần bí nhất thì kết quả mang lại từ phép luyện tập đó sẽ trợ lực các bạn rất nhiều
(Xem: 199)
Thời-không vũ trụ chứa hàng triệu, tỉ, hàng ức cho đến không máy móc nào đếm hằng hà sa số hành tinh như trái đất mới biết con người là một sinh thể gần như bằng không.
(Xem: 274)
Trong các bài kinh thuộc hệ A Hàm hay kinh Đại Bát Niết Bàn v.v… Phật có nói đến địa ngục. Đề Bà Đạt Đa, Tì kheo Thiện Tinh, vua Lưu Ly v.v… đều đọa vào địa ngục ngay khi chết.
(Xem: 135)
Xét về niên đại, bản kinh có mặt ở thời Hậu Hán (23-220), xuất hiện trong Cao Tăng Truyện quahành trạng của ngài Nhiếp-ma-đằng (攝摩騰)[2].
(Xem: 167)
Thể dạng lắng sâu thường xuyên bên trong tâm thức thần bí nhất chỉ có thể thực hiện được với những người có một khả năng thật bén nhạy.
(Xem: 909)
Bài viết này sẽ khảo sát một số thắc mắc thường gặp về Thiền Tông, hy vọng sẽ tiện dụng cho một số độc giả còn nhiều nghi vấn.
(Xem: 613)
Thức Thứ Tám hay A Lại Ya là thức chủ trong 8 thức. Thức nầy có nhiều cách gọi khác nhau để chỉ về nhiệm vụ của mình. Tựu chung thức nầy có 3 việc chính là: Năng tàng, Sở tàng và Ngã ái chấp tàng.
(Xem: 623)
Khi còn vướng mắc trong sự tạo tác triền miên của khái niệm, chẳng hạn như suy nghĩ về cái đúng, cái sai, v.v. , thì các bạn sẽ không thể nào bước vào con đường tu tập về
(Xem: 543)
Học phái dịch thuật xưa của Phật giáo Tây Tạng đưa ra nhiều cách luyện tập dựa vào các phương pháp khác biệt nhau, gọi là các "cỗ xe"/thừa.
(Xem: 828)
Thần tài trong Phật giáo, cụ thểPhật giáo Bắc truyền đã vay mượn giữa hình ảnh Bố Đại hòa thượng và các truyền thuyết về thần tài Trung Hoa, để tổng hòa nên một vị thần tài có nguồn gốc ngoài Phật giáo.
(Xem: 1011)
Thời Đức Phật tại thế, Ấn Độít nhất mười sáu tiểu vương quốc, mỗi vương quốc đều có ngôn ngữ hay phương ngữ riêng, nhưng có lẽ người dân của mỗi nước đều có thể giao tiếp và hiểu nhau được.
(Xem: 545)
Trong các kinh sách thừa hưởng từ [Phật giáo] Ấn Độ thì nguyên tắc căn bản đó lúc thì được gọi là "tâm thức tự tại
(Xem: 921)
Kinh Hoa Nghiêm tiếng Sanskrit là Avatamsaka, tiếng Nhật là Kégon Kyo. Kinh nầy bằng tiếng Sanskrit do Bồ Tát Long Tho (Nagarjuna) soạn vào khoảng thế kỷ thứ 2 Tây Lịch.
(Xem: 581)
Con người muốn có cuộc sống an lạchạnh phúc, cần phải tu nhơn tạo phước, chứ không phải chỉ cầu nguyện...
(Xem: 554)
Phát huy sự chú tâm đúng đắn hướng vào một điểm nhằm mục đích gì? Việc luyện tập đó không nhất thiết là chỉ để giúp tâm thức đạt được một mức độ tập trung thật cao...
(Xem: 921)
Đức Đạt Lai Lạt Ma Nói Về Phật Giáo Ứng Dụng - Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 950)
A Dục, Asoka (Sanskrit). Khi đức Phật Thích ra đời, Vua A Dục là một đứa trẻ, trong lúc đang chơi đức Phật đi ngang qua, đứa trẻ đem cát mà coi như cơm cúng dường đức Phật...
(Xem: 1031)
Hàng ngày các Phật tử có thể “Xưng danh hiệu” hay “Niệm danh hiệu” của chư Phật, tức là đọc tên của chư Phật và tưởng nhớ đến các ngài.
(Xem: 698)
Trong Phật giáo, giải thoát hay thoát khỏi luân hồi là một đề tài vô cùng lớn lao. Ngay cả những người Phật tử đã học qua giáo lý, cũng mường tượng sự giải thoát như ...
(Xem: 584)
Như Lai có thể diễn tả những gì Ngài muốn bằng bất kỳ ngôn ngữ nào
(Xem: 951)
Thuật Ngữ nầy có liên hệ đến rất nhiều Thuật Ngữ khác trong Kinh Điển Phật Giáo như: Thủy Giác, Chân Như, Như Lai Tạng, Pháp Tánh, Pháp Giới, Niết Bàn, Pháp Thân, Phật Tánh, Giải Thoát Thực Chất, Toàn Giác v.v…
(Xem: 526)
Chánh pháp của Đức Phật hay Đạo Phật được tồn tại lâu dài, đem lại hạnh phúc an lạc cho chúng sanh, chư thiênloài người.
(Xem: 540)
“Đạo Phật nhấn mạnhtu tập giúp chúng ta loại bỏ những tà kiến, chứ không phải là nơi tập hợp các hí luận”.
(Xem: 549)
Kinh Niệm Xứ (satipaṭṭhānasutta) là kinh thu gọn của Kinh Đại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhānasutta). Kinh này là một kinh rất quan trọng trong việc giải thích cách thực hành bốn phép quán
(Xem: 1205)
Bài viết này sẽ phân tích Bát Nhã Tâm Kinh dưới cái nhìn bất nhị, hy vọng sẽ làm sáng tỏ bài kinh cốt tủy này như một lối đi của Thiền Tông
(Xem: 817)
Đọc “Chú Lăng Nghiêm-Kệ và giảng giải“ Của Hòa Thượng Tuyên Hóa, do TT Thích Minh Định dịch từ Hoa ngữ sang Việt ngữ
(Xem: 894)
Đa số Phật Tử cầu được cứu độ, giải thoát khỏi khổ đau, và giác ngộ nhưng vẫn mâu thuẫn, chấp luân hồi, luyến tiếc cõi trần nên nghiệp thức luôn luôn muốn trở lại cái cõi đời, chấp khổ đau rồi tính sau.
(Xem: 608)
Đạo Phật khai sinh ở Ấn Độ mà cũng hoàn toàn biến mất ở Ấn Độ; nhưng nhiệt tâm hoằng pháptruyền bá của thế hệ các tăng sĩ tiền bối...
(Xem: 945)
Bài viết này để nói thêm một số ý trong Bát Nhã Tâm Kinh, cũng có thể xem như nối tiếp bài “Suy Nghĩ Từ Bát Nhã Tâm Kinh”
(Xem: 810)
Nhân duyên là thực lý chi phối thế gian này. Không có một pháp nào hiện khởi hay mất đi mà không theo qui luật “Có nhân đủ duyên mới có quả”.
(Xem: 977)
Việc dịch lại Tâm Kinh của Thiền sư Nhất Hạnh tuy theo ý thầy là dành riêng cho các đệ tử của thầy trong Làng Mai khi thầy nói với “các con” của thầy...
(Xem: 787)
Sau khi Đức Phật tịch diệt được khoảng 150 năm thì giáo pháp của Ngài tách ra hai đường hướng:
(Xem: 738)
Giúp đỡ người nghèo khó là một phẩm tính cố hữu của con ngườixã hội loài người. Phẩm tính này vốn tồn tại từ thời xa xưa và vẫn được duy trì trong xã hội hiện đại.
(Xem: 1299)
Làm Thế Nào Có Được Trí Tuệ Lớn Để Đạt Đến Bờ Giải Thoát - Đó phải là quán chiếu, thực hành, tu tập theo giáo lý bát nhã
(Xem: 620)
Nhiều người trong chúng ta đã theo dõi sự phát triển về di truyền học mới đã tỉnh thức về sự băn khoăn lo lắng sâu xa của công luận đang tập họp chung quanh đề tài này.
(Xem: 686)
Trong các nước thuộc truyền thống Phật giáo Bắc truyền, có một vị Bồ-tát thường được gọi là Quan Âm hay Quán Âm.
(Xem: 681)
Theo kinh, luật quy định, chư Tăng thời Đức Phật không được nhận kim ngân bảo vật. Nói rõ hơn là không được nhận tiền bạc hoặc quý kim tương đương.
(Xem: 827)
Bấy giờ bỗng nhiên đức Thế Tôn yên lặng. Một lát sau, Ngài lại nói: “Thôi đủ rồi, Xá-lợi-phất, không cần nói nữa. Vì sao ?
(Xem: 651)
Trong Phật giáo cũng có giới luật do Đức Phật chế định. Nhưng những luật này không bắt buộc mọi người phải tuân theo mà nó ...
(Xem: 682)
Trong kinh Tăng nhất A-hàm Đức Phật nhận định: “Ta không thấy một pháp nào tối thắng, tối diệu, nó huyền hoặc người đời khiến không đi đến nơi vĩnh viễn tịch tĩnh
(Xem: 562)
Nguyên lý làm tư tưởng nền tảng cho lập trường Pháp hoa chính là cở sở lý tính duyên khởigiáo nghĩa Phật tính thường trú, được biểu hiện qua...
(Xem: 678)
Trong sự trổi dậy của khoa học về thức và sự khảo sát về tâm cùng những thể thức đa dạng của nó, Phật giáo và khoa học nhận thức có những sự tiếp cận khác nhau.
(Xem: 899)
Đối với mọi người nói chung thì lúc chết là khoảng thời gian quan trọng nhất.
(Xem: 598)
Nếu nói về việc học, việc tu của chư Tăng Ni Phật Giáo thì tự ngàn xưa Đức Phật đã là một bậc Thầy vĩ đại đảm trách làm một Hướng đạo sư cho mọi người quy về.
(Xem: 795)
Bài viết này ghi lại một số suy nghĩ về Bát Nhã Tâm Kinh, một bản kinh phổ biến trong Phật giáo nhiều nước Châu Á, trong đó có Việt Nam.
(Xem: 646)
Dharma tức Giáo Huấn của Đức Phật cho chúng ta biết rằng tất cả mọi thứ đều tương liên và tương tác với nhau
(Xem: 689)
Kinh Pháp Hoa nói: “Pháp hy hữu khó hiểu đệ nhất mà Phật thành tựu, chỉ Phật cùng Phật mới có thể thấu suốt thật tướng của các pháp.
(Xem: 878)
Tất cả những điều này rất kỳ diệu không những đối với người Phật Tử mà còn cho những người của các tôn giáo khác nữa.
(Xem: 985)
Là người sống ở thế gian, có ai tránh khỏi một đôi lần gặp bất trắc, tai ương lớn hay nhỏ.
(Xem: 633)
Nguyên tác: Toward a Science of Consciousness, Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 849)
Con đường thực nghiệm tâm linh dẫn đến đời sống giải thoátgiác ngộ đã được đức Phật giảng dạy ở trong các kinh điển...
(Xem: 978)
Vấn đề [tâm] thức đã hấp dẫn nhiều sự chú ý tuyệt mỹ trong lịch sử dài lâu của tư tưởng triết lý Phật giáo.
(Xem: 1102)
Đối nghịch với khoa học, trong Phật giáo không có sự thảo luận triết lý trọng yếu về vấn đề những sinh vật sống xuất hiện từ vật chất vô tri giác...
(Xem: 1238)
Nguyên tác: The Big Bang and The Buddhist Beginningless Universe; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 1044)
Âm nhạc fanbei (việc tụng niệm các bài kinh dịch âm từ tiếng Phạn) đã ảnh hưởng và góp phần tạo ra gia tài văn hóa của Trung Quốc qua nhiều đế quốc và triều đại
(Xem: 763)
Trong vô lượng pháp môn tu theo đạo Phật, không pháp môn nào không nhằm “mục đích ban vui cứu khổ cho hết thảy chúng sanh”.
(Xem: 726)
Trong lịch sử nhân loại, tùy theo ảnh hưởng của tư tưởng, văn hóa… mà các thể thức tang nghi cũng như phương cách xứ lý xác thân sau khi chết, được thực hiện với nhiều phương cách đặc thù.
(Xem: 939)
Người xuất gia đích thực thì không khác gì người cày ruộng, gieo trồng, bón phân để thu hoạch thốc lúa.
(Xem: 907)
Quan Âm Truyền Thuyết (Tuyển Tập) Diệu Hạnh Giao Trinh Chuyển Ngữ
Quảng Cáo Bảo Trợ