Logo Hanh Huong
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
13,757,269
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Cái Biết Thường Hằng Nơi Mỗi Con người

11 Tháng Mười Một 201506:51(Xem: 3224)
Cái Biết Thường Hằng Nơi Mỗi Con người
Cái Biết Thường Hằng Nơi Mỗi Con người

Thích Đạt Ma Phổ Giác

Cái Biết Thường Hằng Nơi Mỗi Con người

Mọi người đều có tánh biết sáng suốt của mình, nương nơi mắt thì thấy biết rõ ràng không lầm lẫn, thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe, không thêm một niệm nào để phân tích sự vật tốt hay xấu, đúng hay sai; mũi-lưỡi-thân-ý cũng lại như thế. Cái thấy biết này nói theo tổ Huệ Khả ở Trung Hoa là “thường biết rõ ràng”, nói không thể đến. Chỗ đó thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe. Như cái thấy nương nơi mắt thấy rõ ràng không lầm lẫn, cảnh vật có thể đổi thay trăm ngàn thứ nhưng cái thấy không bao giờ thay đổi. Cái thấy lúc nào cũng hiện tiền, mở mắt thấy sáng, nhắm mắt thấy tối. Thấy tối, thấy sáng là do sự nhắm mở của con mắt chớ không liên can gì đến cái thấy. Như người có mắt sáng đi vào phòng tối vẫn thấy tối đen. Như bóng đèn điện gắn bóng vào thì điện cháy, mở bóng ra thì điện tắt. Có cháy, có tắt là do bóng đèn chớ điện đâu bao giờ bị mất. Như vậy cái thấy thì thường hằng, cảnh vật thì khi có khi không. Thấy tức là tâm thấy, vì có thấy tức là có biết, biết tức là tâm thấy. Như vậy rõ ràng các em ai cũng đều biết, thấy tức biết mìnhPhật tánh, chỉ tại các em không chịu thừa nhận đó thôi! Các em hãy cùng tôi nghe lại câu chuyện sau đây để khẳng định trong mỗi con người chúng ta ai cũng có tánh biết sáng suốt của mình.

Có chú Sa di đến tham vấn Thiền sư để tìm ra chân lý sống của chính mình. Một hôm Thiền sư gọi chú lại bảo, “ta nghe Thăng Long rất náo loạn, ngươi có biết chăng?” “Kính bạch thầy, nước con an ổn.” “Vậy ngươi do xem Kinh được, hay do thưa hỏi được?” “Con chẳng do xem Kinh được, cũng chẳng do thưa hỏi được.” Thiền sư nói, “tại sao nhiều người chẳng xem Kinh, chẳng thưa hỏi mà họ chẳng được?” “Tại vì họ chẳng chịu thừa nhận đó thôi!” Thiền sư nói, “ông biết, ta cũng biết, hãy khéo gìn giữ và bảo trì!” Bây giờ các em đã thấy chưa? Nếu thấy thì hãy ráng gìn giữbảo trì, còn nếu chưa thấy thì phải cố gắng nghiên tầm học hỏi, tu tập cho giỏi để nhận lại cái biết sáng suốt của chính mình. Nếu nhận được thì các em sẽ đi thẳng đến một bầu trời trong sáng mà các thứ tối tăm khác không thể nào che lấp được. Tôi lúc nào cũng thầm cầu nguyện cho tất cả các em đi trọn con đường sáng để chúng ta được sống yêu thươnghiểu biết, dấn thân và phục vụ, bao dungtha thứ, độ lượngcảm thông, lấy niềm vui của tất cả chúng sinh làm niềm vui cho chính mình.

Bây giờ tất cả các em hãy lắng lòng trong sạch để cùng tôi nhận lại hòn ngọc vô giá mà ta đã lãng quên từ lâu nay. Chân thành thay! Chân thành thay! Chú Sa di đến học đạo tìm cầu chân lý chưa kịp thưa hỏi đã bị ông thầy tung ra cái bẫy để thử nghiệm người đệ tử có bị miệng lưỡi của ngài lừa hay không. “Ta nghe Thăng Long rất náo loạn, ngươi có biết chăng?”, chú Sa di này quả đúng là người có tỉnh giác nên không bị Thiền sư lừa. “Dạ thưa thầy, nước con an ổn”. Chúng ta nghe chú Sa di trả lời như vậy có thấy lạ kỳ không? Ngày xưa kinh đô của nước Việt Nam là Thăng Long, mà đã là kinh đô thì cuộc sống nơi đây phải ồn ào, náo nhiệt, người đến người đi rất đông đúc, phồn vinh. Vậy mà chú vẫn sáng suốt trả lời, “nước con an ổn”. Các em nghe có điếc tai không? Ông thầy hỏi một đường, đệ tử trả lời một nẻo, sao kỳ lạ quá? Thiền sư mới thầm nghĩ thì ra chú đã vào đến cổng nhà Thiền, nhưng vào cổng chưa phải là xong. Thiền sư sợ đệ tử lọt vào chỗ hiểu biết rồi sinh kiến giải mà trong nhà Thiền thường gọi là Khẩu Đầu Thiền (Thiền trên miệng lưỡi), chỉ bắt chước nói lại lời của người xưa mà mình thực sự không phải chứng đạo hay tự thấy. Tới đây Thiền sư bồi thêm một câu, nếu chú Sa di ấy không phải là người chứng thiệt thì sẽ ôm câu này mà nghi vấn cả đời, “ngươi do xem Kinh được, hay do thưa hỏi được?” Chú đệ tử liền nói như đinh đóng cột, “con chẳng do xem Kinh được, cũng chẳng do thưa hỏi được”. Thiền sư lúc này mới thầm khen trong lòng chú đệ tử đã vào đến nhà Thiền. Không ngờ chú Sa di quá lợi hại, câu thứ nhất chú trả lời in tuồng như loài sư tử còn ở trong hang nhưng đã biết rống lên tiếng rống loài sư tử làm muôn loài thú khiếp sợ. Câu thứ hai chú trả lời để khẳng định mình đang sống với cái tính biết sáng suốt, thanh tịnh hằng tri, hằng giác. Nhưng để kiểm chứng đệ tử của mình đã thật sống với bản tâm chân thật hay chưa nên Thiền sư đã bồi thêm câu, “tại sao nhiều người chẳng do xem Kinh, cũng chẳng do thưa hỏi mà họ chẳng được?” Vì đã thật sống với bản tâm chân thật rồi nên chú Sa di đã xác định lại, “vì họ chẳng chịu thừa nhận đó thôi!” Tới đây Thiền sư mới xác nhận, “ông như thế, ta cũng như thế, hãy khéo gìn giữ và bảo trì!” Cho nên,

Cái biết ai cũng có

Ngay nơi thân mọi người

Chỉ vì ta không nhận

Nên đành chịu khổ đau.

Khi mê thì Phật độ

Khi biết thì tự độ

Đó là lý nhiệm mầu

Của tất cả chư Phật.

Tại vì các em không chịu thừa nhận nên suốt đời sống trong đau khổ, lầm mê. Thôi thì chỗ này tôi cũng không giúp gì được cho các em mà chính các em phải tự nhận lấy. Nhận được thì các em sẽ sống một đời sống thánh thiện, đạo đức, luôn vì lợi ích tha nhân, lấy niềm vui nhân loại làm niềm vui chính mình. Phật tánh mà tôi đang nói với các em là Phật tại tâm, Phật không có trong núi rừng, chẳng phải tìm cầu bên ngoài mà ngay nơi mình các em nhận ra. Bây giờ chúng ta hãy nghe chuyện vị vua Thiền sư Trần Thái Tông, ông Tổ của Phật hoàng Trần Nhân Tông đã lên núi xin Quốc sư Trúc Lâm làm Phật. Quốc sư ân cần nắm tay vua bảo, “trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta, nếu tâm lắng lặng thường biết rõ ràng thì đó chính là tâm Phật. Bệ hạ giác ngộ được tâm ấy thì tức khắc thành Phật, không cần phải khổ nhọc tìm cầu bên ngoài”. Ngay nơi đây các em sẽ nhận lại cái sẵn có nơi mình, cái đó rỗng rang, sáng suốt, nhiệm mầu, nói không thể đến. Trong nhà Phật có nhiều danh từ để chỉ ra cái biết sáng suốt ấy.

Để nói lên sự bình đẳng của một chúng sinh Phật đã từng xác quyết, “ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”. Phật là danh từ chung, ai cũng có quyền sống với cái biết sáng suốt của mình nương nơi mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý, hay còn gọi là “Phật tánh”.  Này các em, các người trẻ, các em hãy tự hào và hãnh diện vì các em là Phật tử chân chánh. Các em cảm thấy an vui, hạnh phúcbiết mìnhPhật tánh sáng suốt, vậy các em hãy vững niềm tin trên con đường sáng mà mình đã lựa chọn. Ngoài việc phát nguyện giữ gìn năm giới như đôi cánh chim tung bay trên bầu trời trí tuệtừ bi để niềm tinlập trường thêm sáng tỏ, các em nên thường xuyên chiêm nghiệm, quán chiếuxem xét về Phật như sau.

Phật là một con người giống như tất cả mọi người, Ngài là một hoàng thái tử dám từ bỏ quyền uy thế lực, cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, từ bỏ tất cả những gì chúng ta hằng mong muốn để đi tìm chân lý sống cho con người. Như Lai là người giác ngộ hoàn toàn, không còn bị ràng buộc và dính mắc các pháp thế gian như tham lam, sân giận, si mê, mạn nghi và ác kiến. Như Lai là một trong mười danh hiệu của Phật mà Ngài thường dùng trong các bản Kinh, chúng tôi tạm gọi là “không từ đâu đến và cũng không đi về đâu”. Nó là một thực tại nhiệm mầu không thể diễn tả bằng ngôn ngữ, Như Lai là Bậc giác ngộ, Bậc tỉnh thức và thấy biết đúng như thật. Như Lai là Bậc Ứng Cúng xứng đáng được trời người tôn trọngcung kính cúng dường, là Bậc đã phá trừ các phiền não khổ đau. Như Lai là Bậc Chánh Biến Tri, là người đã giác ngộ rộng lớn, thấy biết chân chính và không còn dính mắc các Pháp trần tục ở đời như si mê, tham ái, giận dữ, ghen ghét, hận thù, cống cao ngã mạn và các sự trói buộc khác. Ngài tự do an lạc, thảnh thơi và sống có hiểu biết, thương yêu chân thành mà không phân biệt người thân hay thù. Như Lai là bậc Minh Hạnh Túc, có nghĩa là cái thấy đầy đủ về nhận thức, hành động đạt đến mức sáng suốt tột cùng. Cái thấy về vô số kiếp về trước làm gì, ở đâu, cái thấy tất cả chúng sinh luân hồi sinh tử, tái sinh trong ba cõi sáu đường đều do mình tạo ra và cái thấy biết cách làm cho con người không còn bị sinh-già-bệnh-chết chi phối. Như Lai là Bậc Thiện Thệ, là người đã khéo vượt qua sống chết, đã hoàn toàn được giải thoát một cách viên mãn. Như Lai là Bậc Thế Gian Giải, là người đã thấu hiểu được tâm tư, tình cảm, bản chất của mọi chúng sinh, cũng như tất cả mọi hiện tượng, sự vật trên thế gian này. Như Lai là Bậc Vô Thượng Sĩ, là người đạt tới nhân cách, phẩm chất cao thượng nhất. Như Lai là Bậc Điều Ngự Trượng Phu, là người có khả năng chinh phục, chế ngự, điều động, rèn luyện, giúp cho con người vượt qua cạm bẫy cuộc đời, kể cả những người khó điều phục. Như Lai là Bậc Thiên Nhân Sư, là thầy của trời người. Loài trời ở đây chúng ta thường gọi là chư thiên, là loài có phước báu hơn con người. Như Lai là Phật, nói cho đủ là Phật Đà, là người giác ngộ, là người tỉnh thức, là người thấy biết đúng như thật. Như Lai là Bậc Thế Tôn, là người tôn quý trong thế gian. Sở dĩ được tôn quý vì nhân cách, phẩm chất sống của Người luôn từ bitrí tuệ, hiểu biếtyêu thương, dấn thân và phục vụ, bao dungtha thứ, sẻ chia và thông cảm vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Các em thường xuyên quán niệm như thế về Phật thì tâm tư càng ngày càng có sức định tĩnh, lắng trong, nhờ vậy các em luôn sáng suốt khi học và làm việc, có được niềm vui sống trong tỉnh giác.

Này các em, các người trẻ, tôi ngày xưa không được như các em bây giờ, thấy ai tu theo Phật là tôi phát ghét nên nói chi đến chuyện tìm hiểu. Sau này khi đã gây nhiều tội lỗi tôi mới có nhân duyên gặp được Phật pháp nhờ được mẹ khuyên đi tu. Tôi hơn 30 năm ngu simê muộichất chứa quá nhiều nhận thức sai lầm “chết là hết”, nên vì vậy hơn nửa đời người đã làm việc xấu ác. Giờ đây có chút hiểu biết tôi không thể làm ngơ để một số người bị dòng đời cuốn trôi, do đó tôi muốn trao đổi, tâm tình cùng các em, các người trẻ là như thế. Tôi chỉ chân thành khuyên nhủ mọi người bằng tất cả tấm lòng quý kính. Các em bây giờ có nhiều cơ hội trong cuộc sống, nếu các em muốn đi vào đời mà vẫn sống an vui, hạnh phúc ngay trong hiện tại thì chỉ cần các em cố gắng thực tậpgiữ gìn năm giới pháp nhiệm mầu, và thường xuyên quán niệm về Phật. Tôi dám cam đoan các em sẽ an lạc, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ mà chẳng phải khổ nhọc tìm cầu đâu xa. Giữ được năm giới là người có trí tuệtừ bi, lại thêm quán tưởng về 10 đức tính cao quý của Phật thì các em sẽ an vui, hạnh phúc ngay trong hiện tại mà chẳng phải hao công, tốn sức nhiều. Ngày xưa Bồ tát Sĩ Đạt Ta phải bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, thần dân thiên hạquyền uy thế lực, phải mất 11 năm lao công nhọc sức mới tìm ra chân lý sống cho kiếp người. Các em bây giờ đâu cần khổ nhọc tìm cầu vì Phật đã chỉ dạy tường tận, rõ ràng, các em cứ y như thế mà gìn giữhành trì. Giữ tròn năm giớiquán niệm về Phật thì các em sẽ là Bậc hiền Thánh trong hiện tạimai sau, luôn sống làm lợi ích cho bản thân, gia đìnhxã hội.

Con xin nương tựa Phật

Bậc phước trí vẹn toàn

Người đưa đường chỉ lối

Cho tất cả chúng sinh

Giác ngộ phát tâm lành.

Giữ tròn năm giới, tôn trọng, bảo vệ sự sống chung của muôn loài và thường xuyên tưởng nhớ Phật là một nhân cách cao đẹp, là mẫu người đạo đức xứng đáng làm bậc hiền thánh trong hiện tạimai sau. Không giết hại là đem lại bình an cho tất cả chúng sinh, không sợ oán ghét, thù hằn vay trả; lại hay phóng sinh, giúp người, cứu vật là tinh thần Bồ tát trong thời hiện đại. Sở dĩ thế giới loài người lúc nào cũng xảy ra chiến tranh, binh đao, con người sống tàn nhẫn và độc ác với nhau là do nhân giết hại mà ra. Thiên tai, lũ lụt, hỏa hoạn, sóng thần, động đất, làm tổn hại biết bao con ngườitài sản cũng từ sự phá hủy môi trường thiên nhiên. Chính vì thế để bảo vệ sự sống chung của cõi Ta Bà mọi người không nên giết hại, lại còn trải rộng lòng Từ đến tất cả chúng sinh. Không gian tham trộm cướp là đem lại sự an tâm cho con người, không sợ bị chiếm đoạt của cải; lại hay bố thí, cúng dường, giúp đỡ, chia sẻ khi thấy người bất hạnh. Gian tham trộm cướp là nhân dẫn đến nghèo cùng khốn khổ vô số kiếp, vì vậy Bồ tát cần nối vòng tay lớn để giúp đỡ chúng sinh trong cơn hoạn nạn. Không tà dâmbảo vệ hạnh phúc cho gia đình mình và người, đem lại sự yên tâm cho nhân loại, không sợ bị mất mát, thiệt thòi; lại hay khuyên người cùng chung thủy, cùng bảo vệ nên không có sự nghi ngờ, ghen tuông của vợ hoặc chồng. Không nói dối để hại người, hại vật; lại hay nói lời chân thật để giúp người vững niềm tin trong cuộc sống. Nhân nói dối làm người mất tin tưởng, nói người không nghe. Do vậy Bồ tát phải học hạnh lắng nghe và nói lời hòa nhã, êm dịu để đem niềm vui đến mọi người. Không uống rượu và dùng các chất độc hại như xì ke, ma túy vì nó là những thứ làm cho chính mình khổ đau, lại còn ảnh hưởng đến gia đìnhxã hội. Nó là nhân dẫn đến bệnh hoạn, si mê, trong hiện tạimai sau sẽ chịu quả nghèo cùng, dốt nát, tối tăm, bị bệnh tâm thần vô số kiếp. Các em nếu gìn giữ được như vậy và thường xuyên quán tưởng về Phật thì các em sẽ là viên ngọc quý cho đời và luôn sống an lạc, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 448)
Của Tăng Đoàn Âu Mỹ do Hòa Thượng Thích Như Điển, Phương Trượng Chùa Viên Giác, Đức Quốc, làm trưởng đoàn Tại chùa Hương Sen Perris, California
(Xem: 70)
Khi được khen ai cũng vui tươi, Khi bị chê ai cũng buồn chán, Người khôn vượt khỏi khen chê, Thân tâm an ổn, vui tươi làm lành.
(Xem: 75)
Lá và cành khô đã gẫy đổ, giạt theo mặt hồ từ những ngày tàn xuân. Một số cành khác đã mục rữa từ dưới nước, nhưng vẫn gắng bám rễ nơi sình lầy...
(Xem: 96)
Phần lớn quý vị của thế hệ trước thì muốn một cuộc sống điềm đạm, chậm rãi, thâm trầm. Đa số những người trẻ hiện nay thì muốn sống vội, sống nhanh.
(Xem: 84)
Lẽ thường, nếu biết rằng phút giây nữa mình sẽ chết thì chắc chắn chúng ta sẽ tận tâm tu tập, cầu nguyện,tuyệt không hề xao lãng.
(Xem: 85)
Tôi sinh ra trong một gia đình có ít nhiều gắn bó với Phật giáo. Bà nội tôi lúc cuối đời đã dồn hết những đồng tiền bà dành dụm cả đời để
(Xem: 96)
Tranh giành, tranh đấu, tranh cãi, tranh đua là nhữngtập khí cố hữu của chúng sinh. Cội nguồn của mọi sựtranh chấp ấy là tham dục và kiến dục.
(Xem: 137)
Câu nói cửa miệng của người đời là ‘sướng như tiên’. Kỳ thực thì chư Thiên, chư tiên là những vị có phước báo lớn nhưng vẫn còn khổ.
(Xem: 86)
Giới như ngọn đèn sáng hay phá tan tối tăm, mờ mịt. Giới như sức mạnh hay dựng đứng những gì đã ngã. Giới như ánh sáng trí tuệ hay chuyển hóa các phiền muộn, khổ đau.
(Xem: 109)
Thế gian lìa sanh diệt Giống như hoa trong không Trí chẳng đắc có không Mà hưng tâm đại bi.
(Xem: 153)
Trong cái thấy biết mọi hình ảnh sự vật, chúng ta chạy theophân biệt là gốc vô minh; trong cái thấy biết, thấy chỉ là thấy không phân biệt là Niết-bàn.
(Xem: 94)
Chúng ta là những sinh thể sống. Chúng ta phải tiếp nhận tình cảm liên tục, chỉ như thế thì đời sống mới trở thành đầy đủ ý nghĩa nhiều hơn, nhiều hạnh phúc sâu xa bên trong hơn.
(Xem: 98)
Ngày xưa khi Đức Phật ngồi Thiền dưới cội bồ-đề và chứng được Túc Mạng Minh, Ngài nhớ lại vô sốkiếp trước đã làm gì, ở đâu như nhớ chuyện ngày hôm qua.
(Xem: 485)
“Hạt nắng Bồ Đề” là ghi nhận từng bước hành hương và tấm lòng mong cầu tu học mà anh Văn Công Tuấn đã thực hiện.
(Xem: 92)
Nghiệp (karma) là một hành động. Hành động ấy phát xuất từ một chủ thể nhắm đến và tác động lên một đối tượng.
(Xem: 586)
Bodhisattva (Sanscrit), Bodhisat(Pali). Viết trọn chữ theo tiếng Phạn là: Bồ Đề Tát Đỏa. Bồ Đề, Bodhi là Chánh Giác. Tát Đỏa, Sattva là chúng sanh.
(Xem: 128)
Tôi rất vui mừng hiện diện ở đây với quý vị, để chia sẻ một vài quan điểm của tôi, và có thể cũng là một số kinh nghiệm nào đó. C
(Xem: 78)
Thực tế, tôi rất vui mừngcảm thấy vinh dự lớn để đón nhận giá trị này và cũng có cơ hội để nói với những thanh thiếu niên nam nữ.
(Xem: 777)
Khi dòng sông phút trước không còn là dòng sông phút sau, thì đời người phút trước cũng không giống đời người phút sau.
(Xem: 569)
Tuyển tập Những Bài Viết Ngắn Của HT Thích Như Điển Phương Trượng Chùa Viên Giác Hannover Đức Quốc
(Xem: 940)
Nguyên tác: The Power of Fogiveness, Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Limerick (Ireland) 2011, Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 411)
Bất luận là người tu tại gia hay xuất gia, cần phải trên kính dưới hòa, nhẫn nhục điều người khác khó nhẫn được, làm những việc mà người khác khó làm được...
(Xem: 1145)
Quên mìnhbước đầu để dẹp bỏ những hàng rào ngăn cách với người khác. Không vì mình là vì muốn làm lợi ích cho số đông.
(Xem: 642)
Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn hiện thân trong cuộc đời dưới mọi dạng mọi hình như là những quý nhân để cứu độ, hay hiện lên và hay giúp đỡ (शब्दकोश)
(Xem: 499)
Tâm ý cân bằng hay tâm ý bất bình thườngảnh hưởng rất quan trọng đến sức khỏe con người.
(Xem: 464)
Bây giờ, ở đây, khi tôi sử dụng chữ “hạnh phúc”, tôi đang nói về hạnh phúc trong một ý nghĩa chân thành, sự hài lòng sâu xa.
(Xem: 914)
Là người Phật tử, dù tu tập theo pháp môn nào chúng ta cũng thường được nghe chư tôn đức dặn dò: "Tu tập phải luôn quay vào bên trong, quay về chính mình, không nhìn ngó ra ngoài".
(Xem: 451)
Theo kinh điển Nam truyền cũng như Bắc truyền, Bồ tát Di Lặc hiện trú tại cõi trời Đâu suất (Tusita), tầng trời thứ tư trong sáu tầng trời cõi Dục, đợi đủ nhân duyên sẽ giáng sanh xuống cõi Ta bà hóa độ chúng sanh.
(Xem: 606)
Bạn thân đồng sự pháp lữ Thích Minh Đạt, khai sơn chùa Quang Nghiêm ở Styockton, Giám luật Tăng Ni miền bắc California.
(Xem: 397)
Diễn viên: Nữ ngọc hoàng, táo Gia Đình Phật Tử (GĐPT), táo nam sửa chùa, táo nữ trai soạn. Khung cảnh: Cung đình.
(Xem: 409)
Lời tuyên bố của đức Phật "Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành" đã được xiển dương trong các kinh Bắc Tạng thành một công thức vĩnh hằng: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.
(Xem: 350)
Tại sao lại “ở đời vui đạo”?. Đạo là thực tại tối hậu, là chân lý tuyệt đối (so với chân lý tương đối), là Pháp thân, là Chân như, là tánh Không, là Như Lai tạng…
(Xem: 638)
Trong những thời rất xa xưa, lặng lẽ tu hành trong am vắng góc rừng được khuyến khích. Đó là những thời rất xa xưa… khi Kinh Phật ghi rằng “…đi tới góc rừng, tới gốc cây, hay tới một lều trống, nhà sư ngồi quán chiếu…”
(Xem: 491)
Đầu năm, lộc non nhú trên những cành cây tưởng đã khô mục, như là biểu tượng cho sức nhẫn nhục tuyệt vời lấp lánh dưới bầu trời Phật pháp.
(Xem: 380)
Năm Đinh Dậu với tinh thần từ bi hỷ xả, chúc mọi người bình an hạnh phúc. Xuân Mậu Tuất cầu cho đất nước luôn vươn lên, sánh vai cùng cường quốc năm châu.
(Xem: 849)
Đức Phật là một chúng sanh Giác Ngộ, nhưng rồi, ngay cả chi tiết về Giác Ngộ, phẩm chất cao nhất của tinh thần là vượt ngoài tư tưởng của chúng ta.
(Xem: 427)
theo lời dạy của Thế Tôn, ai nói nhiều nên chuyển qua nghe nhiều. Đã biết lắng nghe rồi, nếu có mở lời thì nên học nói lời chánh ngữ.
(Xem: 438)
Phật giáo là một hệ thống khoa học năng động, thực tiễn và đầy minh chứng trên cả hai phương diện: lý thuyếtthực hành, để giúp cho cuộc sống của chúng ta được an lành...
(Xem: 520)
Giáo lý vô thường trong đạo Phật không phải là một lý thuyết, luận thuyết. Nó là một sự thật. Và sự thật này đòi hỏi chúng ta phải thực tập, quán chiếu để thể nhập, chứng ngộ.
(Xem: 420)
Huynh trưởng Tâm Nghĩa – Lê Hữu Đàng là một vị huynh trưởng cao niên và thâm niên của Tổ chức GĐPT; anh cũng là cháu ruột của Đức Đệ Nhất Tăng Thống – Thích Tịnh Khiết.
(Xem: 370)
Phật Giáo truyền vào Hoa Kỳ khoảng một thế kỷ rưỡi - tính từ lúc những di dân Trung Hoa sang Mỹ làm việc và mang theo Phật Giáo vào giữa thế kỷ thứ 19
(Xem: 1202)
Thời thanh xuân, tiếng nói trong trẻo, du dương; trung niên, tiếng trầm như sấm; lão niên, tiếng khàn đục như cối xay.
(Xem: 456)
Trong vô vàn hình ảnh thí dụThế Tôn thường hay vận dụng khi nói pháp thì nắm lá cây nơi rừng Thân-thứ thật nhiệm mầu.
(Xem: 480)
Ngày nay trái đất đã thu hẹp lại, đó là nhờ phương tiện di chuyểnphương tiện thông tin. Người ở bên này trái đất có thể rất gần gũi với người ở bên kia trái đất
(Xem: 990)
Chúng ta biết rằng nhà khoa học Albert Einstein có những quan điểm rất gần với nhà Phật. Nhưng rồi cũng sẽ bất ngờ, khi thấy có lúc Einstein nói y hệt, gần như 100% y hệt như giáo lý nhà Phật.
(Xem: 503)
Tôi tin là chúng ta đang sống trong một thời đạicần phải xét một cách nghiêm túc thái độ của ta đối với thực phẩm. Nói theo Thiền là chúng ta cần ‘tỏa sáng nơi chỗ đứng của mình’.
(Xem: 620)
Người tu học thường nghe Phật dạy câu ‘Nhân thân nan đắc’. Thân người khó được, khó hơn cả việc con rùa mù sống trong đại dương...
(Xem: 493)
Tứ Thánh quả là bốn cấp độ đạo quả được Phật chỉ ra giúp hành giả đánh giá được sự tu chứng của mình. Người chứng được một trong bốn Thánh quả này được xem là có tư cách của bậc Thánh,
(Xem: 441)
Bài viết để sẽ rút gọn khi nói chuyện trong Lễ Trao Giải Ananda Việt Awards 2017 Chủ Nhật 14/1/2018 tại Trung Tâm Sangha Center, California.
(Xem: 413)
Đó là lời chào mừng của Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng, Trưởng ban Tổ chức Khóa Tu Học Phật Pháp Úc Châu kỳ thứ 17 tại Portsea Camp, cách phi trường Melbourne độ 2 tiếng đồng hồ lái xe
Quảng Cáo Bảo Trợ