Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,832,476
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Mưa Nắng Vô ThườngNăng Lực Của Sự Thể Nhập Chân Thường

10 Tháng Bảy 201608:03(Xem: 2539)
Mưa Nắng Vô Thường Và Năng Lực Của Sự Thể Nhập Chân Thường

MƯA NẮNG VÔ THƯỜNG
NĂNG LỰC CỦA SỰ THỂ NHẬP CHÂN THƯỜNG

Thích Nữ Giác Anh

Mưa Nắng Vô Thường Và Năng Lực Của Sự Thể Nhập Chân Thường

 

Trời mưa, trời nắng là chuyện bình thường. Thời tiết phải có lúc nắng, lúc mưa, không thể nào bầu trời không mưa hay không nắng lâu được. Nhưng con người thì tùy hoàn cảnh mà lúc thì trông cho trời nắng, lúc thì muốn trời mưa. Khổ nổi, trời đôi khi cũng khó chìu lòng người. Vì chìu lòng người quả thật khó quá…

Nhưng rất may, cho dù thời tiết thế nào, dù hoàn cảnh thế nào, thì những con ngườinăng lực dũng mãnh cũng không lấy đó làm chướng ngại. Mùa Kiết Đông lần thứ 17 của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi – Tân Tây Lan năm nay được quay trở về ngôi già lam Quảng Đức, thời tiết mùa đông Melbourne giá buốt, suốt mấy ngày bầu trời như không thấy bóng mây, có hôm còn mưa tầm tã. Thời tiết hoàn cảnh như thế, nhưng hơn 70 chư tôn Thiền Đức và gần 120 vị Phật tử tùng hạ an cư đều thấy ấm lòng, như cùng hòa vào niềm vui thắp sáng ngọn đèn giải thoát.

Trời đất phải luân chuyển, cuộc đời chắc chắn vô thường, cảnh vật chắc chắn phải biến đổi, nhưng lý tưởng của người tu Phật luôn hướng đến một ngày vượt thoát cảnh vô thường, sớm thể nhập Chân Thường, đó mới là đích đến. Cảnh Chân Thườngcảnh giới không còn sinh diệt biến đổi. Cảnh giới đó không do Khát Ái làm Nhân, cảnh giới đó là kết quả của Thanh Tịnh, không phân biệt nhị nguyên đối đãi. Giữ tâm Chân Thường giữa cuộc thế vô thường chính là hữu dư y Niết Bàn của những bậc đã thoát khỏi ràng buộc của Khát ÁiSanh Tử.

Đôi khi căn bệnh tự ngã của con người khiến con người trở nên kiêu ngạo, tự phụ. Nhưng cũng có khi cái ngã đáng ghét đó khiến con người tự ti mặc cảm, không dám tự tin mình có thể vượt qua cái phàm phu của chính mình. Chính vì không tin nên chưa hành, vì chưa hành nên kết quả chưa đến.

Sở dĩ những bậc Thánh đã chứng đạothâm tâm có một niềm tin mãnh liệt vào đích đến giải thoát, tin vào con đường tu chứng và tự tin mạnh mẽ nơi chính mình. Vì Tin nên các Ngài đã biến Niềm Tin thành Hành Động, biến Tâm thành Tướng. Ngạn ngữ Anh có câu “your reality is your mentality” (thực tế của bạn biểu hiện nội tâm của bạn) là thế.  Nhờ Hành nên việc Tu Chứng chỉ còn là vấn đề thời gian sớm hay muộn mà thôi. Tin mạnh, sẽ Hành mạnh và kết quả Tu chứng sẽ sớm. Tin ít, sẽ hành chần chừ, kết quả sẽ lâu lắm.

Sự thành công của con người trên thế gian cũng bắt nguồn từ quy tắc Niềm Tin – Hành Động - Kết Quả này. 20 năm về trước, nói đến computer là cả một khối máy to đùng, đừng nói gì  đến cái điện thoại mà có computer như ngày nay. Steve Jobs là người khởi đầu ý tưởng đem kích thước cái computer kềnh càng đó xuống nhỏ nhất hết mức có thể, không cần Turn On hay Turn Off máy, không cần con mouse để điều khiển, không dây nhợ kết nối, tất cả chỉ gỏn gọn trong cái máy điện thoại nhỏ xíu smart phone bây giờ mà thôi. Ai cũng biết Steve Jobs là cựu giám đốc hãng điện tử Apple nổi tiếng của Mỹ và ai cũng biết ông là người phát minh ra chương trình Norton Commander của 2 thập kỷ trước, lúc đó ai làm quen computer, đều học qua hệ điều hành Norton… Bây giờ cũng chính ông là cha đẻ của Iphone, Ipad, Icloud nổi tiếng lừng lẫy… Thời gian 20 năm để làm ra một kết quả, mà kết quả đó chỉ khởi đầu bằng một ý tưởng đi chung với một niềm tin mãnh liệt là sẽ làm được và sẽ thành công của Steve. Cùng thời với Steve, cũng có biết bao nhiêu ý tưởng hay mới lạ, có ý tưởng là khó, nhưng chưa đủ, cần phảiniềm tin vào thành công. Niềm tin cho mình sức mạnhnăng lực. Niềm tin cho mình sự chịu đựng gian nan, cho hy vọng để vượt qua vấp ngã thất bại. Niềm tin giúp vượt qua con người nhỏ bé của chính mình.

Mỗi lần chúc nguyện cho một người sắp đi xa, hay sắp làm việc lớn, người ta đều chúc nguyện cho vị ấy “chân cứng đá mềm”. Mặc dù con đường của bạn phía trước còn xa, nhưng tôi thương chúc bạn chân cứng đá mềm! Câu nói ấy nghe thật quen và cũng thật gần gũi, chân tình làm sao. Mặc dù hình ảnh chân cứng đá mềm chỉ là tượng trưng thôi, làm sao bàn chân con người bằng xương bằng thịt mềm mại là thế mà có thể sánh với đất đá cứng rắn được. Đá vốn cứng, chân vốn mềm. Thế đó, nhưng con người vẫn chúc, vẫn mong chân cứng đá mềm và con người vẫn thắng, vẫn vượt qua cái gian nan, cái cứng rắn đau khổ của hoàn cảnh, để đi đến thành công.

Chư Tổ Tịnh Tông dạy tư lương của người tu Niệm Phật cầu vãng sanh là Tín - Hạnh - Nguyện. Tín - Hạnh - Nguyện là Tín, niềm tin vào cảnh giới Phật, Hạnh là hành trì pháp niệm Phật và Nguyện là phát nguyện vãng sanh cảnh giới Phật. Còn có chỗ dạy Tín - Nguyện - Hạnh là vì, sau niềm tin phải đến phát nguyện, có phát nguyện mới có hướng đi, sau đó mới hành, tức là công phu hành trì. Phải set-up cái destination chỗ đến trước, rồi mới start to go, rồi mới bắt đầu đi được. Nhưng dầu Tín Hạnh Nguyện hay Tín Nguyện Hạnh thì Tín cũng đi đầu. Niềm tin quan trọng như thế.

Niềm tin mãnh liệt vào con đường tu chứng khiến tâm tự động phát khởi tất cả những thiện tâm cần thiết để mở cánh cửa đến cảnh giới Tu Chứng. Niềm tin giải thoát như nam châm, hút tất cả những thiện pháp giải thoát đến với nó. Người ta hay nói Likes attract likes, cái gì giống nhau sẽ hút lại với nhau. Trong Kinh Hoa Nghiêm, Phật dạy: Tín vi công đức mẫu, niềm tin là mẹ các công đức. Vì Tin con đường giải thoát nên mới chân thành chấp nhận lời Phật dạy hướng đến giải thoát.

Khi xưa, 5 vị đạoKiều Trần Như, lúc đầu không tin nên chưa nhận được Phật Pháp. Sau khi đức tướng Như Lai đã nhiếp thọ các Ngài rồi, các Ngài mới phát khởi niềm tin mãnh liệt vào đạo giải thoát. Đức Thế Tôn chỉ vừa giảng bài pháp đầu tiên là Kinh Chuyển Pháp Luân, thì tôn giả A Nhã Kiều Trần Như đã chứng quả vị A La Hán. Sau đó, trong vòng một tuần, đức Thế Tôn giảng tiếp Kinh Vô Ngã Tướng, 4 vị còn lại lần lượt đều chứng quả. Như thế chỉ trong vòng thời gian rất ngắn, 5 vị Sa Môn đầu tiên đều đã hoàn tất những việc cần làm. Phật dạy đó là cảnh giới của Chân Thường, cảnh giới của việc cần làm đã làm xong, không còn theo nghiệp tái sinh trở lại nữa.

Trong Kinh Chuyển Pháp Luân, Phật dạy rõ chân lý Diệt, đó là cảnh giới của không còn bóng dáng sinh tử luân hồi. Cảnh giới đó không còn mong muốn, không còn tham ái, không có Dục Lậu, Hữu LậuVô minh lậu. Phật dạy chân lý Diệt cần phải được liễu tri, được phát triển và được chứng ngộ. Mỗi thánh đế đều cần phải qua ba giai tầng Liễu Tri – Phát Triển và Chứng Ngộ. Sau khi Phật thuyết bản Kinh đầu tiên này xong, những bậc thánh đệ tử đầu tiên đã chứng quả, thế gian thực sự đã có 3 ngôi báu: Phật Bảo, Pháp BảoTăng Bảo. Ngay lúc ấy một hào quang sáng rỡ mạnh mẽ chiếu sáng thế gian, mười ngàn thế giới chấn động, lung lay mạnh mẽ.

Chỉ từ một niềm tin vào ngày mai không còn đau khổ, mà từ cõi địa ngục của vô lượng kiếp trước, tiền thân Đức Phật đã phát thiện tâmNam mô A Tỳ Địa Ngục, sơ phát thiện tâm, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” để nay Đức Phật đã thành Phật. Cũng chỉ vì một Niềm Tin vào con đường giải thoát, mà 5 vị sa môn, từ lúc đầu rời bỏ thối chí, mà sau này chứng quả cao nhất chỉ trong bài thuyết pháp đầu tiên. Năng lực niềm tin, đã mở ra năng lực chấp nhận, năng lực hiểu và biết, năng lực liễu tri, đưa đến năng lực phát triển sức liễu tri đó, để cuối cùng chứng quả Niết Bàn Vô sanh Tối Thượng.

Nhờ Tin thiết tha vào giá trị Giải Thoát, nên ai cũng thật tâm chấp nhận Thế giới này là kết nối của Khổ. Dù cuộc sống đang hài lòng hay bất như ý, dù tâm đang vui do ái lạc sinh ra hay đang kẹt trong hoàn cảnh của oán tắng hội, thì ngày nào con người chưa chứng đạo, thì cái vui, cái buồn đó đều sẽ dẫn đến Khổ. Phật dạy đó là cảnh giới của Tù sinh tử, như 4 câu thơ bất hủ của Hòa Thượng Tuệ Sĩ đang trong tù Cộng Sản năm nào:

Thử thực ngục tù phạn
Thượng cúng tối thắng tôn
Thế gian trường huyết hận

Bình bát lệ vô ngôn.

(Cơm này trong tù ngục
Con xin cúng Thế Tôn
Thế gian đầy huyết hận
Lệ rơi, không thành lời)

Quả thật, nếu niềm tin Phật không kiên cố, sẽ không dễ gì xem tài vật, sắc pháp thế gian như bữa cơm trong Tù. Sẽ không thiết tha đau đớn khi chưa chứng đạo. Sẽ không cách nào vượt qua nổi niềm vui của ái dục, sẽ không phát đại Tâm Bồ Đề cầu thành Phật phổ độ chúng sanh. Sẽ bị vô thường mưa nắng làm nhụt chí tiến đạo. Thất bại là chuyện bình thường, nhưng nếu không niềm Tin nữa, thì sau khi thất bại sẽ càng lún sâu hơn. Rất may đệ tử Phật đã hiểu rõ con đường, đã có niềm tin và kết quả Giác Ngộ sẽ không còn xa.

Thời tiết có mưa có nắng. Con người không thay đổi được mưa nắng, nhưng thay đổi được Tâm, thay đổi được cách nhìn, vượt qua được vô thường sinh tử để thể nhập chân thường giải thoát. Mùa Kiết Đông An Cư năm nay, dù mưa nắng thất thường, dù hoàn cảnh giới hạn dù ít hay nhiều của từng tự viện, dù lạnh buốt giữa đông, nhưng niềm Tin hoằng pháp lợi sanh, gìn giữ truyền thống giải thoát từ thời Đức Thế Tôn của chư Tôn Thiền Đức đã thắp sáng ngọn đèn Chánh pháp, lợi lạc rất nhiều hữu tình.

Chúng con xin chấp tay thành kính niệm ân công đức nhị vị Thượng Tọa Hóa Chủ Thích Tâm Phương và TT Thích Nguyên Tạng, đảnh lễ niệm ân chư Tôn Đại Đức Tăng, chư Tôn Đại Đức Ni và toàn thể quí vị đàn việt cư sĩ gần xa, để mùa Kiết Đông năm nay thập phần viên mãn.

Ngưỡng nguyện Tam Bảo thường gia trì đệ tử chúng con, luôn giữ được tâm Chân Thường giữa cái Vô Thường, sớm chứng đạo giải thoát để còn lợi ích chúng sanh, vốn nhiều đời nhiều kiếp làm cha mẹ của chúng con, hiện vẫn còn đau, niềm đau trong sanh tử.

Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam mô A Di Đà Phật.

Kỷ niệm ngày thứ ba, kỳ Kiết Đông An Cư - Quảng Đức Melbourne 2016.

TKN Thích Nữ Giác Anh
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 25)
Mục đích của Đạo Phật là diệt khổ và đem vui cho mọi loài, nhưng phải là người có trí mới biết được con đường đưa đến an lạc và hạnh phúc
(Xem: 37)
Người ta thường nói đạo Phật là đạo của từ bi và trí tuệ. Đối với nhiều người Phật tử, từ bi là quan trọng hơn cả, và nếu không có từ bi thì không có đạo Phật.
(Xem: 180)
Các nhà khảo cổ đang nghiên cứu tại Nepal đã phát hiện bằng chứng về một kiến trúc tại nơi sinh ra Đức Phật có niên đại thế kỷ thứ 6 trước công nguyên.
(Xem: 225)
Theo Đức Phật, tất cả những vật hiện hữu đều biến chuyển không ngừng. Sự biến chuyển này thì vô thuỷ vô chung. Nguồn gốc của vũ trụ không do một Đấng Sáng tạo (Creator God) tạo ra.
(Xem: 233)
Đức Phật đản sanh vào năm 624 trước Công nguyên. Theo lý giải của Phật Giáo Nam Tông thì Đức Phật sanh ngày Rằm tháng Tư Âm lịch.
(Xem: 259)
Nếu bạn say mê đọc kinh Phật, ưa thích những phân tích kỹ càng về giáo điển, muốn tìm hiểu các chuyện xảy ra thời Đức Phật đi giảng dạy nơi này và nơi kia, hiển nhiên đây là một tác giả bạn không thể bỏ qua
(Xem: 162)
Tánh Không là một trong những khái niệm quan trọng và khó thấu triệt nhất trong giáo lý Phật giáo Đại thừa.
(Xem: 318)
Nguyên bản: Meditating while dying; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 410)
Ba Mươi Hai Cách ứng hiện của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Bởi vì Quan Thế Âm Bồ Tát đồng một Sức Từ với đức Phật Như Lai cho nên ngài ứng hiện ra 32 thân, vào các quốc độđộ thoát chúng sanh
(Xem: 314)
Thể tánh của tâm là pháp giới thể tánh, bởi vì nếu không như vậy thì tâm không bao giờ có thể hiểu biết, chứng ngộ pháp giới thể tánh.
(Xem: 246)
Trong kinh tạng Nikāya, khái niệm con đường độc nhất (ekāyana magga) là một khái niệm thu hút nhiều sự quan tâm của học giới từ phương Tây cho đến phương Đông
(Xem: 224)
Thuật ngữ pháp (dharma, có căn động tự là dhṛ có nghĩa là “duy trì, nắm giữ”; Pāli: dhamma; Tây Tạng: chos) mang nhiều ý nghĩa và ...
(Xem: 278)
Trì danh là pháp tu Tịnh Độ phổ thông nhứt hiện nay. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm, có Mười cách trì danh khác nhau
(Xem: 277)
Phật dạy tất cả pháp hữu vi đều là vô thường sanh diệt không bền vững, như vậy thìthế gian cái gì có tạo tác có biến đổi đều là vô bền chắc.
(Xem: 366)
Nguyên bản: Removing obstacles to a favorable death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 306)
Mối liên hệ giữa hình thức sớm nhất của Phật giáo và những truyền thống khác mà chúng đã phát triển về sau là một vấn đề luôn tái diễn trong lịch sử tư tưởngPhật giáo.
(Xem: 432)
Nghiệp và Luân hồi là hai ý niệm đã có trong Ấn độ giáo, được giảng giải trong các Kinh Veda và Upanishad vào khoảng 1500 năm trước CN.
(Xem: 8791)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 841)
Mục tiêu cao cả của đạo Phật là dạy con người tu tập để thoát khổ, giác ngộgiải thoát.
(Xem: 309)
Phật giáo du nhập Nhật Bản vào thế kỷ thứ VI, sau đó trải qua thời kì Nara (710~785), thời kì Heian (794~1192) cho đến thời kì Kamakura (1192~1380), trước sau khoảng 700 năm, rồi phát sinh rất nhiều tông phái.
(Xem: 349)
Tổ Quy Sơn dặn: “Nói ra lời nào phải liên hệ với kinh điển. Đàm luận gì, phải xét lại lời người xưa”.
(Xem: 315)
Nhiều học giả phân vân là làm thế nào và tại sao những nhà Đại chúng bộ (Mahāsāṅghika) đã hình thành nên khái niệm về một Đức Phật siêu việt...
(Xem: 488)
Hoa Sen Diệu Phápgiáo pháp được thuyết giảng trong Kinh Pháp Hoa. Quang Trạch giải thích Diệu Pháp là nhân của đạo Nhất Thừa, là quả của đạo Nhất Thừa.
(Xem: 281)
Con người sống qui tụ lại thành một xã hội, và phát triển tập thể này rộng lớn dần dần thành một quốc gia.
(Xem: 1419)
Trước khi xác định Phật Giáo như là một hệ thống tư tưởng triết học (Buddhism as a philosophy) hay như là một tôn giáo (Buddhism as a religion), chúng ta sẽ tìm hiểu triết học là gì ? và Phật giáo là gì ?
(Xem: 406)
Lục độ Ba-la-mật-đa/ Sáu phương pháp tu Ba-la-mật-đa (Six Paramitas) là 6 pháp tu để giải trừ các khổ ách của Đại thừa Phật giáo.
(Xem: 385)
Theo quan điểm của Đại hoàn thiện thì ánh sáng trong suốt hiển hiện một cách tự nhiên và được gọi là "hoàn-toàn-tốt"
(Xem: 552)
Đức Phật ra đời vào năm 624 trước tây lịch tại nước Ấn Độ. Ngài thuyết pháp 49 năm. Phật giáo đã trở thành quốc giáo, vì các vua, các quan và dân chúng đa phần đều theo đạo Phật.
(Xem: 556)
Y Kinh Kinh Cang Bát Nhã Ba La Mật: Đức Thế Tôn Như Lai hỏi ngài Tu Bồ Đề: Như Lainhục nhãn không? Ngài Tu Bồ Đề thưa:
(Xem: 1414)
Cuốn sách “Luân Hồi trong Lăng Kính Lăng Nghiêm” được ra mắt cách đây 9 năm (2008), in lần thứ hai, ba và tư vào năm 2012, 2014 & 2016 tại Nhà xuất bản Phương Đông, và năm nay (2018) cũng tại NXB Hồng Đức
(Xem: 817)
điều chắc chắn là làm người, ai cũng có ý thức về tội lỗi. Điều này là không đúng, điều này là không tốt, điều này là không đẹp.
(Xem: 525)
Tựa đề của khảo luận này phát xuất từ tồn nghi của một pháp hữu trong khi dịch lại bản kinh Tập (Sutta Nipāta) ở văn hệ Nikāya.
(Xem: 936)
Khái niệm ‘nghiệp’, thật ra, đã có mặt trong văn học Bà-la-môn giáo từ rất lâu trước khi Đức Phật xuất hiện ở đời.
(Xem: 488)
Vũ trụ, con người hình thành như thế nào và tương lai sẽ ra sao? Câu hỏi chưa bao giờ được xếp lại. Khoa học lượng tử luôn tiên phong...
(Xem: 464)
rong lịch sử tư tưởng Ấn-độ, thuyết Trung đạo đã mang lại cho tư tưởng giới đương thời một không khí hoạt bát[1].
(Xem: 634)
Bản chất của ánh sáng trong suốt, mang tính cách nền tảng và rạng ngời, là cội nguồn tối hậu của tất cả mọi cấp bậc tri thức...
(Xem: 722)
Chánh Pháp là gì? Phật Pháp được chia thành ba thời kỳthời Chánh Pháp, thời Tượng Pháp, và thời Mạt Pháp.
(Xem: 1139)
Ông trị vì từ năm 269 TCN đến năm 232 TCN thuộc đời thứ 3 của triều đại Maurya. Đế chế của ông rộng lớn gần như tất cả tiểu lục địa Ấn Độ trãi dài từ Đông sang Tây.
(Xem: 811)
Trong Kinh Kim Cang, Phật dạy có 4 tướng: “Ngã – Nhân – Chúng Sanh – Thọ Giả”. Khi còn phàm phu, chấp thân này là thật là bền vững,
(Xem: 820)
Đạo Phật đang phát triển rộng rãi đến nhiều tầng lớp. Rất nhiều các bậc tri thức, các nhà khoa học chân chính, đến cả những người ...
(Xem: 1527)
Kiếp sống của mỗi con người sinh ra ở thế giới Ta Bà này, dù thọ mạngdài hay ngắn, nhìn chung có thể phân chia làm nhiều giai đoạn.
(Xem: 968)
Kể từ thời điểm Phật giáo khai sinh và nở hoa khắp mọi miềnthế giới, hễ mỗi khi nói đến hình ảnh một vị Phật xuất hiện trong tương lai,
(Xem: 694)
Phép luyện tập thiền định được hỗ trợ bởi sự thực thi các hành động vị tha, các hành động đó đồng thời cũng được thúc đẩy bởi tình thương yêu và lòng từ bi.
(Xem: 591)
Nếu đủ sức duy trì một cách đúng đắn sự nhận biết tâm thức thần bí nhất thì kết quả mang lại từ phép luyện tập đó sẽ trợ lực các bạn rất nhiều
(Xem: 756)
Thời-không vũ trụ chứa hàng triệu, tỉ, hàng ức cho đến không máy móc nào đếm hằng hà sa số hành tinh như trái đất mới biết con ngườimột sinh thể gần như bằng không.
(Xem: 915)
Trong các bài kinh thuộc hệ A Hàm hay kinh Đại Bát Niết Bàn v.v… Phật có nói đến địa ngục. Đề Bà Đạt Đa, Tì kheo Thiện Tinh, vua Lưu Ly v.v… đều đọa vào địa ngục ngay khi chết.
(Xem: 689)
Xét về niên đại, bản kinh có mặt ở thời Hậu Hán (23-220), xuất hiện trong Cao Tăng Truyện quahành trạng của ngài Nhiếp-ma-đằng (攝摩騰)[2].
(Xem: 642)
Thể dạng lắng sâu thường xuyên bên trong tâm thức thần bí nhất chỉ có thể thực hiện được với những người có một khả năng thật bén nhạy.
(Xem: 1380)
Bài viết này sẽ khảo sát một số thắc mắc thường gặp về Thiền Tông, hy vọng sẽ tiện dụng cho một số độc giả còn nhiều nghi vấn.
(Xem: 955)
Thức Thứ Tám hay A Lại Ya là thức chủ trong 8 thức. Thức nầy có nhiều cách gọi khác nhau để chỉ về nhiệm vụ của mình. Tựu chung thức nầy có 3 việc chính là: Năng tàng, Sở tàng và Ngã ái chấp tàng.
(Xem: 1041)
Khi còn vướng mắc trong sự tạo tác triền miên của khái niệm, chẳng hạn như suy nghĩ về cái đúng, cái sai, v.v. , thì các bạn sẽ không thể nào bước vào con đường tu tập về
(Xem: 948)
Học phái dịch thuật xưa của Phật giáo Tây Tạng đưa ra nhiều cách luyện tập dựa vào các phương pháp khác biệt nhau, gọi là các "cỗ xe"/thừa.
(Xem: 1866)
Thần tài trong Phật giáo, cụ thểPhật giáo Bắc truyền đã vay mượn giữa hình ảnh Bố Đại hòa thượng và các truyền thuyết về thần tài Trung Hoa, để tổng hòa nên một vị thần tài có nguồn gốc ngoài Phật giáo.
(Xem: 1409)
Thời Đức Phật tại thế, Ấn Độít nhất mười sáu tiểu vương quốc, mỗi vương quốc đều có ngôn ngữ hay phương ngữ riêng, nhưng có lẽ người dân của mỗi nước đều có thể giao tiếp và hiểu nhau được.
(Xem: 965)
Trong các kinh sách thừa hưởng từ [Phật giáo] Ấn Độ thì nguyên tắc căn bản đó lúc thì được gọi là "tâm thức tự tại
(Xem: 1561)
Kinh Hoa Nghiêm tiếng Sanskrit là Avatamsaka, tiếng Nhật là Kégon Kyo. Kinh nầy bằng tiếng Sanskrit do Bồ Tát Long Tho (Nagarjuna) soạn vào khoảng thế kỷ thứ 2 Tây Lịch.
(Xem: 994)
Con người muốn có cuộc sống an lạchạnh phúc, cần phải tu nhơn tạo phước, chứ không phải chỉ cầu nguyện...
(Xem: 978)
Phát huy sự chú tâm đúng đắn hướng vào một điểm nhằm mục đích gì? Việc luyện tập đó không nhất thiết là chỉ để giúp tâm thức đạt được một mức độ tập trung thật cao...
(Xem: 1379)
Đức Đạt Lai Lạt Ma Nói Về Phật Giáo Ứng Dụng - Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
Quảng Cáo Bảo Trợ