Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,695,774
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Phẩm 4: La Hầu La

03 Tháng Chín 201607:57(Xem: 1750)
Phẩm 4: La Hầu La

KINH ĐẠI BI

Tam tạng pháp sư Na Liên Đề Da Xá, người nước Thiên-trúc, 
dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, 
vào thời Cao-Tề (Bắc-Tề, 550-577).
Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn,
tại Canada, năm 2016.

 kinh-dai-bi


 Phẩm 4

LA HẦU LA

 

Lúc bấy giờ, tôn giả La Hầu La suy nghĩ rằng: Ta nay đâu có gì để vui mừng, mà cũng đâu có cam lòng nhìn thấy đức Thế Tôn nhập niết-bàn! Suy nghĩ như vậy rồi, tôn giả liền đi về hướng Đông-Bắc, trải qua mười Phật độ, đến một thế giới tên là Ma-li-chi, có đức Phật hiệu là Nan Thắng đang tại thế giáo hóa. Tôn giả đến nơi, cúi đầu đảnh lễ đức Phật, rồi đứng sang một bên, nỗi đau buồn hiện trên nét mặt. Bấy giờ đức Phật Nan Thắng bảo tôn giả La Hầu La:

“Này La Hầu La! Ông chớ nên đau buồn. Mọi sự việc, dù thích ý đến đâu, nhưng đã có hội họp thì chắc chắn phải có lìa tan; tất cả các pháp đều như vậy. Này La Hầu La! Chư Phật khi làm xong Phật sự, đều nhập niết-bàn. Hiện giờ đức Phật Thích Ca Mâu Ni, bậc Ứng Cúng Chánh Biến Tri, đang nằm nghiêng về phía hông bên phải, tại rừng Ta-la-song-thọ, thuộc lãnh thổ của tộc Lực-sĩ, sau nửa đêm hôm nay sẽ nhập vô dư niết-bàn. Ông hãy mau trở về, nếu trễ tất sẽ hối hận.”

Nghe đức Phật Nan Thắng dạy như thế, tôn giả La Hầu La thưa rằng:

“Bạch đức Thế Tôn! Con không cam lòng nghe nói đến đức Như Lai Thích Ca Mâu Ni nhập niết-bàn, huống hồ là nhìn thấy đức Như Lai nhập niết-bàn; cho nên con không thể nào trở về được!”

Tôn giả La Hầu La vừa bạch xong lời ấy lên đức Phật Nan Thắng, thì không ai nhìn thấy tôn giả ở đó nữa. Bấy giờ tôn giả đi lên phương trên, trải qua chín mươi chín thế giới, đến thế giới thứ một trăm, nơi đó có đức Phật hiệu là Thương Chủ, hiện đang tại thế giáo hóa. Tôn giả đến nơi, đảnh lễ đức Phật, rồi đứng sang một bên, đau buồn khóc lóc, nước mắt ràn rụa. Đức Phật Thương Chủ bảo tôn giả La Hầu La rằng:

“Hãy nín khóc đi, La Hầu La, đừng đau buồn nữa! Tất cả các pháp, sinh mà nếu không sinh, già mà nếu không già, bệnh mà nếu không bệnh, chết mà nếu không chết, tận diệt mà nếu không tận diệt, thì không thể có lẽ đó. Này La Hầu La! Chư Phật và các bậc Thanh-văn, Duyên-giác trong đời quá khứ, đến lúc diệt độ, xa lìa tất cả mà nhập niết-bàn. Chư Phật và các bậc Thanh-văn, Duyên-giác trong đời vị lai, đến lúc diệt độ, xa lìa tất cả mà nhập niết-bàn. Chư Phật và các bậc Thanh-văn, Duyên-giác trong đời hiện tại, đến lúc diệt độ, xa lìa tất cả mà nhập niết-bàn. Giả sử chư Phật trụ thế đến một kiếp hay trăm kiếp, chắc chắn rồi cũng nhập niết-bàn. Này La Hầu La! Chư Phật không có pháp nào khác hơn là rốt ráo tịch diệt niết-bàn. Rốt ráo tịch diệt tức là định tĩnh rốt ráo, mát mẻ rốt ráo, phiền não tận diệt rốt ráo, an vui rốt ráo, yên ổn rốt ráo. Này La Hầu La! Sinh già bệnh chết, yêu thương mà phải xa lìa, oán cừu mà phải gặp nhau, mong cầu mà không toại nguyện, năm ấm hừng hực như lửa cháy, đó toàn là những nỗi khổ lớn; chỉ có niết-bàn là an vui. Này La Hầu La! Rồi đây, không bao lâu nữa, ông cũng sẽ nhập niết-bàn! Nơi cảnh giới niết-bàn không có những điều không vừa ý; không có các nỗi khổ sinh già bệnh chết, yêu thương mà phải xa lìa, oán cừu mà phải gặp nhau, mong cầu mà không toại nguyện, năm ấm hừng hực như lửa cháy. Này La Hầu La! Ông chớ nên đau buồn! Ông hãy suy nghĩ: Cái gì sinh? Cái gì già? Cái gì chết? Cái gì lưu chuyển? Cái gì tái sinh? Này La Hầu La! Tất cả đều là hư vọng, đều là chấp trước điên đảo. Kẻ phàm phu, vì chưa được thấy các bậc Thánh, chưa được nghe thánh pháp, chưa biết thánh pháp, chưa học thánh pháp, chưa hiểu thánh pháp, chưa tin thánh pháp, chưa an trú nơi thánh pháp, cho nên tâm điên đảo, tưởng điên đảo, thấy biết điên đảo; vì điên đảo cho nên có sinh, vì có sinh cho nên có già, vì có già cho nên có chết, vì có chết cho nên có tái sinh, cứ thế mà tới lui, lưu chuyển. Này La Hầu La! Tất cả các bậc Thánh đều do thánh pháp mà dứt tuyệt mọi hành nghiệp, chứ không làm gì khác. Bậc Đạo Sư như thế, những gì nên làm đã làm xong; những gì nên làm cho chúng đệ tử Thanh-văn cũng đã làm xong; không còn gì phải làm nữa. Này La Hầu La! Ông chớ nên đau buồn! Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, bậc Pháp Vương vô thượng, bậc tôn quí trong dòng họ Thích, ông hãy trở về để kịp đảnh lễ cúng dường Ngài lần chót; nếu chậm trễ, Ngài nhập niết-bàn rồi, tất ông sẽ hối hận! Này La Hầu La! Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, hiện giờ đang nằm nghiêng về phía hông bên phải theo thế nằm của sư tử chúa, tại rừng Ta-la-song-thọ, thuộc lãnh thổ của dòng tộc Lực-sĩ; Ngài đang muốn thấy ông. Vậy ông hãy gấp trở về!”

Tôn giả La Hầu La bạch lên đức Phật Thương Chủ:

“Bạch đức Thế Tôn! Con không cam lòng nghe nói đến đức Như Lai Thích Ca Mâu Ni nhập niết-bàn, huống hồ là nhìn thấy đức Như Lai nhập niết-bàn! Đức Như Lai Thích Ca Mâu Niđấng Pháp Vương vô thượng, là bậc tôn quí trong dòng họ Thích, là viên ngọc quí của chúng sinh, giờ đây con không cam lòng nhìn thấy Ngài nhập niết-bàn! Ngài thương xót tất cả thế gian; tất cả hình tướng trong thế gian đều không so sánh được với Ngài; Ngài làm ngọn đèn cho tất cả thế gian; Ngài làm con mắt cho tất cả thế gian; Ngài làm cây đuốc trí tuệ cho tất cả thế gian; Ngài chiếu ánh sáng rực rỡ cho tất cả thế gian; thế mà ngày mai con phải xa lìa Ngài rồi, không còn được trông thấy Ngài nữa!”

Đức Phật Thương Chủ bảo tôn giả La Hầu La:

“Thôi đi, La Hầu La, ông đừng đau buồn nữa! Lẽ nào ông chưa từng nghe đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni dạy rằng: [Các pháp là vô thường, là khổ, là vô ngã, chỉ có tịch diệt niết-bàn], hay sao? Ngài cũng đã từng nói bài kệ siêu tuyệt rằng: [Các hành là vô thường, đó là pháp sinh diệt, sinh và diệt đều diệt, tịch diệt là niềm vui.], chắc ông đã có nghe?”

Tôn giả La Hầu La thưa:

“Thưa vâng, bạch đức Thế Tôn! Con đã từng nghe.”

Đức Phật lại bảo:

“Này La Hầu La! Lẽ nào đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni lại chưa từng dạy rằng: [Tất cả những gì mình ưng ý, ưa thích, không bao lâu tất sẽ bị li tán, rốt cuộc sẽ đi đến tiêu diệt; dù cho tồn tại lâu dài đến đâu, rồi cũng phải chia lìa?]”

Tôn giả La Hầu La thưa:

“Thưa vâng, bạch đức Thế Tôn! Đức Như Lai Thích Ca Mâu Ni đã từng dạy như thế.”

Đức Phật lại bảo:

“Các pháp hữu vi, các pháp sinh, các pháp có, các pháp hiểu biết, các pháp phân biệt, đều do nhân duyên mà khởi sinh, nếu không hoại diệt thì không có lẽ đó.”

Lúc bấy giờ, tôn giả La Hầu La nghĩ nhớ tới đức Phật Thích Ca Mâu Ni, chảy nước mắt mà bạch lên đức Phật Thương Chủ rằng:

“Từ ngày mai con không còn được trông thấy đức Như Lai Thích Ca Mâu Ni ngồi nói pháp với chúng tì-kheo ngồi chung quanh, như núi Tu-di ở giữa biển lớn, như mặt trăng tròn đầy ở giữa các vì sao, như vua chuyển luân với vô lượng quyến thuộc vây quanh; các tướng trang nghiêm phát ra ánh sáng, như ánh sáng của ngàn mặt trời chiếu rực rỡ trên không trung, như biển sâu chứa vô lượng châu báu. Đức Như Lai Thích Ca Mâu Ni như thế đó, tất cả những lời nghị luận của các vị luận sư ngoại đạo đều không lung lay được, như những cơn gió dữ đều không thể lay động được núi Thiết-vi. Ngài không bị các pháp thế gian làm cho ô nhiễm, như hoa sen ở trong ao. Ngài như vị Đại Phạm Thiên Vương có đầy đủ chúng Phạm Thiên làm quyến thuộc; như trời Đế Thích có ngàn con mắt; như sư tử chúa ngồi trên tòa sư tử không chút gì kinh sợ; Ngài xa lìa hết mọi sợ sệt mà gầm tiếng gầm sư tử. Đức Như Lai như thế đó, mà ngày mai đây con không còn trông thấy nữa rồi!”

Tôn giả La Hầu La bạch Phật xong thì đứng yên lặng, mặt đầm đìa nước mắt. Đức Phật Thương Chủ lại bảo:

“Này La Hầu La! Ông nên gấp trở về với đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni. Ngài đang muốn nhìn thấy ông. Ông đừng kéo dài thêm thì giờ, đức Thế Tôn đang dùng tâm từ bi, muốn nhìn thấy ông trước khi Ngài nhập niết-bàn!”

Tôn giả La Hầu La liền cúi đầu đảnh lễ đức Phật Thương Chủ, rồi chỉ trong khoảnh khắc bằng thời gian người tráng sĩ duỗi cánh tay, tôn giả đã rời khỏi thế giới của đức Phật Thương Chủ mà về đến rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ. Tôn giả đảnh lễ sát chân đức Phật, đi nhiễu ba vòng, rồi chắp tay đứng một bên, ưu sầu áo não, nước mắt đầm đìa. Đức Phật bảo:

“Này La Hầu La! Thầy chớ nên buồn rầu khóc lóc! Những gì cần làm cho một người cha, thầy đã làm xong rồi; những gì cần làm cho một người con, Như Lai cũng đã làm xong rồi. Thầy đừng để tâm lưu luyến rồi sinh ra ưu sầu. La Hầu La! Như Lai và thầy đều vì muốn cho tất cả chúng sinh có được tâm vô úy, cho nên đã phát tâm chuyên cần tinh tấn; vì không gây oán cừu, không làm não hại, cho nên phát tâm chuyên cần tinh tấn. La Hầu La! Hôm nay Như Lai nhập niết-bàn rồi thì không còn làm cha của ai nữa; thầy rồi cũng sẽ nhập niết-bàn, và không còn làm con của ai nữa. Như Lai và thầy cùng có đủ hai đặc điểm này: không gây não loạn và không gây oán cừu.”

Tôn giả La Hầu La bạch Phật:

“Cúi xin đức Thế Tôn đừng nhập niết-bàn! Cúi xin đức Thế Tôn thương xót thế gian, trụ thế một kiếp, để cho hàng trời người được thêm lợi ích an lạc, thêm nhiều chúng sinh được an ổn.”

Đức Phật dạy:

“Này La Hầu La! Như LaiChánh Biến Tri, biết rõ tường tận tất cả các pháp, ở trong thế gian được gọi là Phật. Này La Hầu La! Phật pháp không sinh không diệt, không đến không đi, không thành không hoại, không ngồi không nằm, không hợp không tan, vì sao vậy? Này La Hầu La! Pháp an trụ như thế, rốt ráo không sinh, rốt ráo không diệt, rốt ráo không, rốt ráo không tự tánh, tịch diệt niết-bàn, không thể dùng ngôn ngữ để diễn bày; Như Lai nói pháp chỉtùy nghi mà thôi. Chư Phật dù ra đời hay không ra đời, các pháp vẫn an trụ như thế; các pháp là như pháp vậy. Vì thế, này La Hầu La! Như lai không mang theo Giới mà nhập niết-bàn, không mang theo Định, Tuệ, Giải thoátGiải thoát tri kiến mà nhập niết-bàn. Này La Hầu La! Thầy đừng đau buồn, đừng quyến luyến! Tất cả các hành đều vô thường, không nhất định, luôn luôn biến đổi, không có gì đáng mong cầu. Thầy hãy nhàm chán tất cả, buông bỏ tất cả; chỉ mong cầu quả Giải Thoát mà thôi! Này La Hầu La, đó là lời dạy của Như Lai!”

Những lời dạy như trên của đức Phật nhằm đưa tôn giả La Hầu La trở về với cái thấy chân thật; đồng thời cũng giúp cho sáu mươi vị tì-kheo và hai mươi lăm vị tì-kheo-ni trong hội chúng dứt hết các lậu hoặc, tâm được giải thoát; vô số trời người cũng nhờ đó mà xa lìa được trần cấu, đạt được pháp nhãn thanh tịnh; sáu vạn tám ngàn chư vị Bồ-tát chứng được vô sinh pháp nhẫn. Tất cả hội chúng đều hân hoan vui mừng, tán thán rằng: “Phật pháp không thể nghĩ bàn!” Các vị Bồ-tát dùng hoa sen đủ màu rải trên người đức Phật, và đều phát nguyện rằng: “Trong đời vị lai chúng con cũng sẽ ra đời làm bậc Thầy của trời người; cũng nói pháp niết-bàn vô tướng là pháp vô thượng của thế gian; cũng bằng tâm đại niết-bàn mà nhập niết-bàn.” Các vị Bồ-tát nói xong, đều đứng yên lặng.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 148)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(Xem: 8626)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 412)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(Xem: 370)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(Xem: 1687)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(Xem: 1765)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 1794)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 1782)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 2576)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 2073)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 2071)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 2367)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 2865)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 3429)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 2192)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 3080)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 3010)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 4899)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 3143)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 3450)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2568)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 3255)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 2812)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 3335)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2561)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 2925)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 3308)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 3331)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 4297)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 3812)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 3763)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 4241)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 3655)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 3246)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(Xem: 4122)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 5132)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 3768)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 6589)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 6290)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(Xem: 4254)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 20173)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3679)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 7134)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4607)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 4402)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 3935)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4274)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 5817)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4454)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 4144)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 4217)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 4429)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 5100)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 3859)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 5225)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 5101)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 6758)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 4954)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
(Xem: 5789)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4665)
Thưa Tôn giả Gotama, những ngày về trước, những ngày về trước nữa, rất nhiều Sa-môn, Bà-la-môn là du sĩ ngoại đạo ngồi...
Quảng Cáo Bảo Trợ