Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,701,597
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Chương 1: Thân Phận Con Người

10 Tháng Chín 201619:24(Xem: 1785)
Chương 1: Thân Phận Con Người

Hợp Tuyển Lời Phật Dạy
Từ Kinh Tạng Pali
(In The Buddha's Words
An Anthology of Discourses from the Pali Canon)

Nguyên tác: Bhikkhu Bodhi
Việt dịch: Nguyên Nhật Trần Như Mai

Nhà Xuất Bản Hồng Đức 2016

hop-tuyen-loi-phat-day-1 

I

THÂN  PHẬN  CON  NGƯỜI

 

GIỚI  THIỆU TỔNG QUÁT

 

          Như giáo lý của các tôn giáo khác, giáo lý của Đức Phật khởi đầu là một đáp ứng trước những mối lo âu căng thẳng ngay trong cốt lõi của thân phận con người. Những gì giúp chúng ta phân biệt giáo lý của Đức Phật với các tôn giáo khác trong cách tiếp cận đối với thân phận con người chính là cái nhìn  trực tiếp, thấu suốt, và thực tiển không khoan nhượng  của Ngài trước các mối lo âu căng thẳng đó. Đức Phật không trao truyền chúng ta những biện pháp làm giảm nhẹ cơn đau tạm thời bên ngoài và để yên những căn bệnh vẫn tiềm ẩn bên dưới, mà Ngài đã truy đến tận những nguyên nhân sâu xa nhất của những căn bệnh liên hệ đến sự  hiện hữu của chúng ta, rất dai dẳngtai hại, và chỉ dẫn cho chúng ta làm thế nào để hoàn toàn nhổ bật chúng tận gốc rễ. Tuy nhiên, trong lúc chánh pháp cuối cùng sẽ đưa đến trí tuệ để xóa bỏ mọi nguyên nhân khổ đau, chánh pháp không bắt đầu từ đó, mà  bắt đầu bằng những quan sát về thực tại hiển nhiên của kinh nghiệm sống hằng ngày. Ở đây cũng vậy, tính cách trực tiếp, thấu suốt, và thực tiển là rất rõ ràng. Lời giảng dạy bắt đầu bằng cách kêu gọi chúng ta phát triển một khả năng gọi là như lý tác ý (sự chú tâm cẩn  thận )( yoniso manasikāra). Đức Phật yêu cầu chúng ta chấm dứt thái độ tiếp tục thờ ơ vô tâm trong cuộc sống, thay vào đó cần phải chú tâm cẩn thận đến những sự thật đơn giản đang có mặt khắp nơi, và đang đòi hỏi sự quan tâm bền vững mà chúng xứng đáng được hưởng.

          Một trong những sự thật rõ ràng không thể trốn tránh được, và cũng là một trong số những sự thật khó nhất để chúng ta công nhận một cách trọn vẹn, đó là, chúng ta bị trói  buộc bởi tuổi già, bệnh, rồi chết. Người ta thường cho rằng Đức Phật kêu gọi chúng ta công nhận  thực tại của tuổi già và cái chết là để động viên chúng ta đi vào con đường  xuất gia đưa  đến Niết Bàn, giải thoát hoàn toàn khỏi vòng luân hồi sinh tử. Tuy nhiên, trong lúc đây có thể là ý định tối hậu của Ngài, nó không phải là đáp ứng đầu tiên Ngài dùng để gợi ý cho chúng ta khi chúng ta tìm đến Ngài để xin hướng dẫn. Đáp ứng ban đầu Đức Phật dự định gợi ý cho chúng ta là một đáp ứng đạo đức. Bằng cách kêu gọi sự chú ý của chúng ta về hệ lụy của tuổi già và cái chết, Ngài muốn khơi nguồn cảm hứng để chúng taquyết tâm vững chắc là tránh xa những lối sống bất thiện và thay vào đó là mở lòng đón nhận một lối sống thiện lành.

          Một lần nữa, lời kêu gọi đạo đức ban đầu của Đức Phật không những chỉ đặt nền tảng trên một tình cảm từ bi đối với người khác, mà còn là mối quan tâm sâu xa đối với  an vui hạnh phúc của chính chúng ta. Ngài cố gắng làm cho chúng ta thấy rằng hành động theo đường lối đạo đức sẽ giúp chúng ta bảo đảm được sự an vui của chính chúng ta ngay trong hiện tại và cả trong tương lai dài hạn nữa. Lập luận của Ngài dựa vào nhận định quan trọng là hành động mang lại hậu quả. Nếu chúng ta cần phải thay đổi những cách hành xử quen thuộc của mình, giá trị của nguyên lý này phải thuyết phục được chúng ta. Nói rõ hơn, để thay đổi một lối sống trống rỗng buồn chán do mình tạo ra thành một lối sống thật sự hửu ích và mãn nguyện trong tâm, chúng ta phải ý thức được rằng hành động của chúng ta đem lại hậu quả cho chính chúng ta, những hậu quả có thể tác động lại chúng ta trong đời này và những đời sau.

          Ba bài kinh tạo nên phần đầu của chương này xác nhận điểm này một cách hùng hồn, mỗi bài theo cách riêng của nó. Kinh Văn  I,1,(1) đã diễn đạt thật rõ ràng qui luật không thể tránh được là tất cả mọi chúng sanh đã sinh ra thì phải trải qua giai đoạn già và chết. Mặc dù thoạt nhìn bài kinh có vẻ như chỉ nói lên một sự kiện của thiên nhiên, bằng cách đưa ví dụ về những thành phần thuộc giai cấp thượng lưu của xã hội ( như những lãnh chúa giàu có, những người thuộc giai cấp Bà-la-môn và các gia chủ) và những vị A-la-hán đã đắc quả giải thoát, bài kinh  ám chỉ  một thông điệp đạo đức tế nhị trong lời kinh. Kinh Văn I,1,(2) đưa ra thông điệp này rõ ràng hơn với ví dụ ngọn núi rất ấn tượng, để đưa đến điểm chính là  khi ‘’tuổi già và cái chết đang đến với chúng ta”, nhiệm vụ của chúng ta trong đời  là sống chơn chánh và làm những hành động thiện lành và phước đức. Bài kinh về ‘’ những thiên sứ ” – Kinh Văn  I,1,(3) – xác nhận hậu quả của việc này: khi chúng ta không nhận ra ‘ những thiên sứ ” này trong chúng ta, khi chúng ta bỏ qua những dấu hiệu cảnh báo về tuổi già, bệnh tật và cái chết, chúng ta trở nên xao lãng và hành động vô ý thức, tạo nên những ác nghiệp với tiềm năng đem lại những hậu quả đáng sợ.

          Việc nhận thức được rằng chúng ta bị trói buộc bởi tuổi già và cái chết sẽ phá vỡ niềm đam mê say đắm dục lạc, tài sản, quyền lực vẫn ám ảnh chúng ta. Điều này đánh tan lớp sương mù của nỗi hoang mang và là động lực thúc đẩy chúng ta đặt lại những mục đích của mình trong cuộc sống. Chúng ta có thể sẽ không sẵn sàng từ bỏ gia đìnhtài sản để sống cuộc đời lang thang không gia đìnhđộc cư thiền định, đây không phải là một sự lựa chọnĐức Phật thường mong đợi ở các đệ tử tại gia. Như đã nói ở trên, bài học đầu tiên Ngài rút ra từ  thực tếcuộc đời chúng ta sẽ chấm dứt bằng tuổi già và cái chết, là một bài học về đạo đức xen lẫn với hai nguyên lý đi đôi với nhau là Nghiệp và Tái sinh. Luật nghiệp quả xác định rằng những hành động thiện và bất thiện của chúng ta mang lại những hậu quả trải dài đến tận kiếp sau: những hành động bất thiện đưa đến việc tái sinh vào các cõi đọa đày và đem đến khổ đau bất hạnh trong tương lai; và những hành động thiện đưa đến tái sinh vào cõi an lành và đưa đến  tương lai hạnh phúc an vui. Vì chúng ta rồi sẽ phải già và chết, chúng ta phải luôn luôn ý thức rằng bất cứ sự hưng thịnh nào chúng ta hưởng trong hiện tại cũng chỉ tạm thời. Chúng ta chỉ có thể vui hưởng chúng khi chúng ta còn trẻ và khỏe mạnh; và khi chúng ta chết, những nghiệp chúng ta mới tạo sẽ có cơ hội chin muồi và cho ra những hậu quả của chúng. Lúc đó chúng ta phải gặt hái những quả do hành động chúng ta đã tạo ra.  Với tầm mắt hướng về nguồn an vui lâu dài trong tương lai, chúng ta phải hết sức thận trọng tránh những hành động bất thiện đưa đến kết quả khổ đau và tinh tấn dấn thân vào các hành động thiện đem lại hạnh phúc cho đời sống hiện tại và tương lai.

          Trong phần hai, chúng ta sẽ khám phá ba phương diện của kiếp người mà tôi đã tập hợp lại dưới chủ đề “Những Khổ Đau của Lối Sống Phóng Dật”. Những kiểu khổ đau này khác với những khổ đau liên hệ đến tuổi già và cái chết trên một phương diện quan trọng. Tuổi già và cái chết  ràng buộc với sự hiện hữu của thân và như vậy là không thể tránh được,  là đặc điểm chung cho cả người thường và các bậc A-la-hán đã được giải thoát – một điểm được chỉ rõ trong bài kinh đầu tiên của chương này. Trái lại, ba bài được đưa vào chương này đã phân biệt giữa người thường, gọi là “ kẻ vô văn phàm phu”( assutavā  puthujjana), đệ tửtrí tuệ của Đức Phật gọi là “bậc thánh đệ tử”( sutavā ariyasāvaka).

          Điểm đầu tiên trong những khác biệt đó, được rút ra từ Kinh Văn 1, 2 (1), xoay quanh việc phản ứng đối với những cảm thọ khổ đau. Kẻ vô văn phàm phu và bậc thánh đệ tử đều có những cảm thọ đau khổ về thân, nhưng họ có phản ứng khác nhau đối với các cảm thọ đó. Kẻ vô văn phàm phu phản ứng bằng sự chán ghét tức giận và như vậy, thêm vào sự đau đớn về thân, họ còn trải nghiệm cảm giác đau khổ trong tâm như : buồn rầu,  tức giận, hay tuyệt vọng. Đối với bậc thánh đệ tử, khi phải chịu những đau đớn về thân, các vị ấy kiên nhẫn chịu đựng, không buồn rầu, tức giận hay tuyệt vọng. Người ta thường cho rằng đau đớn về thân và tâm  liên hệ với nhau không thể tách rời được, nhưng Đức Phật đã phận biệt rõ ràng ranh giới của hai trạng thái này. Ngài khẳng định rằng trong lúc sự hiện hữu của thân bị ràng buộc với nỗi đau thể xác không thể tránh được, nỗi đau ấy không nhất thiết phải châm ngòi cho những phản ứng về mặt cảm xúc trong tâm như đau đớn, sợ hãi, tức giận hay tuyệt vọngchúng ta thường có thói quen phản ứng. Qua việc rèn luyện tâm thức chúng ta có thể phát triển chánh niệm và sự hiểu biết rõ ràng cần thiết để có thể chịu đựng được những đau đớn thể xác một cách can đảm, với lòng nhẫn nhục và tâm xả. Qua sự hiểu biết sâu sắc, chúng ta có thể phát triển tuệ giác đủ để vượt thắng được nỗi sợ hãi về những cảm thọ đau đớn và nhu cầu đi tìm giải khuây trong những trò phóng dật quá độ của dục lạc giác quan.

          Một phương diện khác của đời người làm cho sự khác biệt giữa kẻ vô văn phàm phu và bậc thánh đệ tử trở nên rõ ràng là sự thăng trầm luôn thay đổi của vận mệnh con người. Các bài kinh Phật đã rút gọn trong bốn cặp đối nghịch nhau, được biết như là ‘tám hoàn cảnh của cuộc đời ( attha lokadhamma ); đó là được- thua, danh thơm-tiếng xấu, khen-chê, sướng-khổ. Kinh Văn I, 2 (2) chứng tỏ cho ta thấy kẻ vô văn phàm phu và bậc thánh đệ tử khác nhau như thế nào trong phản ứng của họ trước những đổi thay ấy. Trong lúc kẻ vô văn phàm phu  vui sướng khi thành công trong việc đạt được thắng lợi, danh vọng, lời khen và khoái lạc, và khổ sở khi đối diện với những hoàn cảnh ngược lại, thì bậc thánh đệ tử vẫn không bị dao động. Bằng cách áp dụng hiểu biết về vô thường cho hoàn cảnh thuận lợi và không thuận lợi, bậc thánh đệ tử có thể an trú với tâm xả, không tham đắm trước hoàn cảnh thuận lợi, và không ghê sợ trước hoàn cảnh không thuận lợi. Các bậc thánh đệ tử ấy từ bỏ thích và không thích, buồn rầutuyệt vọng, và cuối cùng đạt được ân phước tối thượng: hoàn toàn giải thoát khỏi khổ đau.

          Kinh Văn I, 2 (3) quan sát số phận của kẻ vô văn phàm phu ở một tầm mức sâu xa hơn nữa. Bởi vì kẻ vô văn phàm phu có những tri giác sai lầm về sự vật, họ bị dao động trước những đổi thay, nhất là khi những đổi thay ấy có ảnh hưởng đến thân và tâm của họ. Đức Phật sắp xếp những thành phần của thân và tâm thành năm loại được biết như là ‘năm uẩn đối tượng của chấp thủ ’: sắc, thọ, tưởng, hành, thức . Năm uẩn này là những khối vật liệu điển hình mà chúng ta dùng để xây dựng cảm giác về bản sắc cá nhân của chúng ta, chúng là những cái mà chúng ta bám chặt vào và xem như là ‘của ta’, là ‘ta’, là ‘tự ngã của ta’. Bất cứ cái gì chúng ta nhận diện là mình, bất cứ cái gì chúng ta cho là cái ngã hay những sở hữu của cái ngã, tất cả đều có thể xếp vào năm uẩn đó. Như vậy năm uẩnnền móng tối hậu của “sự nhận diện’’ và ‘’sự sở hữu’’, hai hoạt động căn bản theo đó chúng ta thiết lập cảm giác về bản ngã. Vì chúng ta bỏ rất nhiều thời gian và công sức để xây dựng  khái niệm về bản ngã và bản sắc cá nhân với mối quan tâm cảm xúc rất lớn, nên khi những đối tượng mà chúng gắn bó - là năm uẩntrải qua những thay đổi, tự nhiên chúng ta cảm thấy lo âusầu khổ. Trong tri giác của chúng ta, đó không chỉ là những hiện tượng khách quan đang thay đổi, mà chính bản sắc của chúng ta, cái bản ngã yêu quý của chúng ta cũng thay đổi, và đó là điều chúng ta sợ hãi nhất. Tuy nhiên, như bài kinh này đã chứng tỏ, bậc thánh đệ tử với trí tuệ đã thấy rõ bản chất hư vọng của tất cả khái niệm về một cái ngã thường hằng nên không còn nhận diện nó với năm uẩn. Vì thế, bậc thánh đệ tử có thể đối đầu với đổi thay mà không quan ngại lo âu, không bị dao động khi đối diện với đổi thay, suy tàn  và hoại diệt.

          Lo âu dao động và hoang mang sợ hãi làm con người đau khổ không những ở mức độ cá nhân riêng tư, mà còn ảnh hưởng đến những giao tiếp của chúng ta về mặt xã hội. Từ thời đại cổ sơ nhất, thế giới của chúng ta vẫn luôn luôn là một môi trường xung độtđối đầu dữ dội. Tên gọi, nơi chốn, và dụng cụ hủy diệt có thể thay đổi, nhưng những lực đẩy đằng sau, những động cơ, những biểu hiện của tham, sân, si vẫn hầu như bất biến. Các bộ kinh  Nikaya chứng thực rằng Đức Phật đã nhận thức rất rõ về chiều hướng này của thân phận con người. Mặc dù những lời dạy của Ngài, trước tiên nhằm mục đích đạt được giác ngộ giải thoát cá nhân, với sự nhấn mạnh đến kỷ luật tự giác về đạo đức và tự rèn luyện tâm thức, Đức Phật cũng tìm cách trao truyền cho mọi người một nơi trú ẩn để tránh khỏi bạo động và bất công, đã gây nên nhiều đau khổ cho đời sống con người bằng nhiều cách thức rất tàn bạo. Điều này rõ ràng trong sự nhấn mạnh của Ngài về lòng từ bi, thương xót chúng sanh và không gây tổn hại trong hành động, từ ái trong lời nóiôn hòa giải quyết mọi  tranh chấp .

          Phần ba của chương này gồm có bốn bài kinh nói về những cội rễ tiềm ẩn bên dưới xung đột bạo động và bất công. Chúng ta có thể thấy trong những bài kinh ấy Đức Phật không đòi hỏi thay đổi những cấu trúc xã hội bề ngoài. Ngài chứng minh rằng những hiện tượng đen tối đó chỉ là phóng ảnh bên ngoài của những khuynh hướng bất thiện trong tâm thức con ngườivì vậy Ngài chỉ rõ nhu cầu cần thay đổi nội tâm con người như là điều kiện song song để thiết lập hòa bình và công bằng xã hội. Mổi bài trong số bốn bài kinh được đưa vào trong phần này đã truy ra nguyên nhân của những xung đột, bạo động, áp bức chính trị, và bất công kinh tế, mỗi bài có cách thức riêng để xác định vị trí của những nguyên nhân đó trong tâm con người.

          Kinh Văn I, 3 (1) giải thích xung đột giữa những người tại gia xuất phát từ những bám víu vào dục lạc giác quan, xung đột giữa các vị khổ hạnh xuất phát từ dính mắc về kiến chấp. Kinh Văn I, 3 (2) là một cuộc đàm thoại giữa Đức Phật và Sakka, một vị trời cai trị chư thiên thời tiền Phật giáo Ấn độ, bài kinh vạch ra căn nguyên của sân si và thù hận là từ lòng đố kỵkeo kiệt ; rồi từ đó Đức Phật truy ra nguồn gốc của chúng từ những lệch lạc cơ bản đã ảnh hưởng đến cách thức tri giác và các họat động tinh thần tiếp nhận thông tin từ các giác quan. Kinh Văn I, 3 (3) cho chúng ta một phiên bản khác của chuổi nhân duyên nổi tiếng, bắt  đầu từ thọ, đến ái, và từ ái qua các nhân duyên khác để đi đến việc “  sử dụng gậy gộc và vũ khí ” và những kiểu hành xử bạo động khác. Kinh Văn I, 3 (4) mô tả bằng cách nào mà tam độc -  tham, sân, si – đem lại những hậu quả kinh khủng cho toàn xã hội, phát sinh thành bạo động, khao khát quyền lực và những tổn thương đau khổ do bất công gây ra. Tất cả bốn bài kinh đều ngụ ý rằng bất cứ sự chuyển hóa xã hội lâu dài và có ý nghĩa nào cũng đòi hỏi những thay đổi đáng kể về đạo đức nội tâm  của cá nhân con người; vì bao lâu mà tham sân si vẫn  lan tràn như những yếu tố quyết định cách hành xử, thì  hậu quả nhất định sẽ đưa đến tai hại triền miên .

          Lời dạy của Đức Phật nói đến một phương diện thứ tư của thân phận con người, không giống ba phương diệnchúng ta vừa khảo sát, không được chúng ta trực tiếp nhận biết ngay. Đây là sự ràng buộc của chúng ta với vòng sinh tử luân hồi. Từ những bài kinh được chọn lọc để đưa vào trong phần cuối của chương này, chúng ta thấy Đức Phật dạy rằng quảng đời của mỗi cá nhân chúng ta chỉ là một giai đoạn trong chuổi tái sinh đã tiếp diễn từ vô thủy. Chuổi tái sinh này gọi là vòng luân hồi (samsara), một từ Pali gợi ý về một sự lang thang vô định. Dù chúng tatìm kiếm một điểm bắt đầu của vũ trụ xa tận đâu đi nữa, chúng ta vẫn không bao giờ tìm ra thời điểm đầu tiên vũ trụ hình thành. Dù chúng ta có truy tìm chuổi đời sống liên tục của một cá nhân xa tận đâu đi nữa, chúng ta cũng không bao giờ tìm thấy điểm đầu tiên. Theo Kinh Văn I, 4 (1) và I, 4 (2), thậm chí nếu chúng ta truy tìm chuổi đời sống liên tục của cha mẹ chúng ta xuyên qua các hệ thống thế giới, chúng ta chỉ có thể bắt gặp thêm nhiều cha mẹ nữa trải dài đến tận những chân trời xa xăm.

          Hơn nữa, tiến trình này không những không có điểm bắt đầu, mà cũng có tiềm năng không có điểm kết thúc. Bao lâu vô minhái dục vẫn còn nguyên vẹn, thì tiến trình này vẫn tiếp tụcthời hạn trong tương lai mà không thấy có điểm kết thúc. Đối với Đức PhậtPhật giáo Nguyên Thủy, trên tất cả mọi thứ, đây là điểm xác định sự khủng hoảng trong cốt lõi của thân phận con người: chúng ta bị trói buộc vào một chuổi tái sinh, và sự trói buộc này không gì khác hơn là do vô minh và lòng ái dục của chính chúng ta. Sự lang thang vô định trong cõi luân hồi xảy ra trong một bối cảnh thuộc những chiều hướng mênh mông không thể nghĩ bàn của vũ trụ. Thời gian để một hệ thống thế giới hình thành, đạt đến mức phát triển tối đa, rồi đi đến suy tànhoại diệt được gọi là một kiếp (kappa). Kinh Văn I, 4 (3) cho chúng ta một ví dụ sống động về chiều dài của một kiếp; Kinh Văn I, 4 (4) là một ví dụ sống động khác để minh họa số kiếp không thể nào đếm được mà chúng ta đã lang thang trong đó.

          Vì con người lang thang phiêu bạt từ đời này sang đời khác, bị bao phủ trong sự tối tăm, nên họ mãi quanh đi quẩn lại trong vòng vô tận của sinh, già, bệnh chết. Nhưng vì  dục vọng cứ thúc đẩy họ đi tới trong cuộc săn đuổi không ngừng để được thỏa mãn, họ hiếm khi dừng lại đủ lâu và bước lui để quan tâm một cách thận trọng đến số phận hiện hữu của họ. Như trong Kinh Văn I, 4 (5) nói rõ, thay vào đó, họ cứ mãi xoay quanh “ ngũ uẩn” theo kiểu con chó với cái vòng dây buộc cổ cứ chạy loanh quanh cái trục hay cây cột. Vì vô minh đã ngăn cản không cho họ nhận ra được bản chất quái ác của thân phận họ, nên họ không thể thấy được những dấu chỉ của con đường giải thoát. Phần lớn con người sống đắm chìm trong việc hưởng thụ dục lạc giác quan. Một số khác bị thúc đẩy bởi nhu cầu có được quyền lực, địa vị, và danh vọng, nên cuộc đời cứ mãi chạy theo những nỗ lực vô vọng nhằm lấp đầy nỗi khát khao không bao giờ được thỏa mãn. Nhiều người khác, sợ hãi trở về với hư vô vào lúc chết, đã xây dựng những hệ thống tín điều chủ yếu giữ cho cá nhân họ, linh hồn họ một triển vọng về một đời sống vĩnh cữu. Một vài người mong muốn một con đường giải thoát nhưng không biết tìm ở đâu. Đức Phật đã xuất hiện giữa đời này chính xác là để trao truyền cho chúng ta con đường giải thoát đó.

 

 Dhammakaya 1

 

  

I.   THÂN  PHẬN  CON  NGƯỜI


 

1. GIÀ  , BỆNH ,  và  CHẾT 

          1)  Già và Chết

          Tại thành Xá Vệ ( Sāvatthi ), vua Ba-tư-nặc (Pasenadi) của nước Kosala bạch Thế Tôn : “ - Bạch Thế Tôn, có người nào sinh ra mà tránh khỏi  già và chết không ?”(1)

          “- Thưa đại vương, không có ai sinh ra mà tránh khỏi già và chết . Ngay cả những người thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ đại phúgiàu có, nhiều tài sảncủa cải, nhiều vàng bạc, nhiều kho tàng và hàng hóa, nhiều ngũ cốc – vì họ đã sinh ra, họ không tránh khỏi già và chết. Ngay cả những Bà-la-môn đại phú…, những gia chủ đại phúgiàu có với nhiều của cảingũ cốc – vì họ đã sinh ra, họ không thể trành khỏi già và chết. Ngay cả những vị tỳ kheo đã đắc quả A-la-hán, những vị đã đoạn trừ các lậu hoặc, phạm hạnh đã thành, đã làm những việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã hoàn toàn đoạn trừ các kiết sử, đã hoàn toàn đạt được giải thoát nhờ chánh trí, ngay cả thân của quí vị ấy cũng phải chịu sự tan rã, cũng phải bị  vất bỏ .”.(2).

          “ Cổ xe xinh đẹp của vua cũng sẽ hư mòn

          Tấm thân này cũng trải qua biến hoại như vậy

Nhưng Pháp của bậc chân nhân sẽ không bị hủy hoại;

Bậc chân nhân tuyên thuyết như vậy.

                                                            (Tương Ưng BK I, tr 165-166 : Vua)

          2) Ví dụ ngọn núi

          Tại thành Xá vệ, vào giữa trưa, vua Pasenadi của nước Kosala đi đến gần Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, và ngồi xuống một bên . Thế Tôn hỏi :“- Đại vương từ đâu đến giữa ban trưa như thế này ?’’.

          “- Bạch Thế Tôn, ngay lúc này, con đang bận rộn với những công việc tiêu biểu của các  vua chúa, những người ngây ngất say sưa trong vương quyền , những người đang tham đắm các dục lạc giác quan, những người đã bình định được đất nước họ, và những người trong lúc cai trị đã chinh phục được nhiều lãnh thổ rộng lớn trên quả đất này ” .

          “ - Thưa đại vương, ngài nghĩ thế nào ? Giả sử có một người đến từ phương Đông, một người thân tín, đáng tin cậy, nói với ngài rằng: ‘ Tâu đại vương, chắc chắn ngài nên biết điều này: con đến từ phương Đông, và ở đó con thấy một ngọn núi cao tận mây đang di chuyển theo hướng này, nghiền nát mọi lọai hữu tình trên đường đi. Đại vương, hãy làm bất cứ việc gì ngài thấy cần phải làm’’. Rồi một người thứ hai đến với ngài từ phươngTây…, một người thứ ba đến từ phương Bắc…và một người thứ tư đến từ phương Nam, một người thân tín, đáng tin cậy, nói với ngài rằng: Tâu đại vương, chắc chắn ngài nên biết việc này: con đang đi đến từ phương Nam, và con thấy ở đó có một ngọn núi cao đến tận mây, đang di chuyển về hướng này, nghiền nát mọi loại hữu tình trên đường đi. Đại vương hãy làm những gì mà ngài thấy cần phải làm”. Thưa đại vương, nếu một tai họa lớn như vậy xảy ra, gây nên sự hủy diệt kinh hoàng cho sinh mạng con người, được làm người thật khó, như vậy ngài cần phải làm gì ?”

          “ - Bạch Thế Tôn, nếu có một tai họa lớn như vậy xảy ra, gây nên sự hủy diệt kinh hoàng cho mạng sống con người, được làm  người thật khó, con có thể làm gì khác hơn  ngoài việc phải sống theo đúng Chánh Pháp, sống chân chính, và làm những việc công đức thiện lành ?”.

          “ - Thưa đại vương, ta báo cho ngài biết, ta tuyên bố cho ngài rõ, tuồi già và cái chết đang tiến  đến gần ngài. Đại vương, khi tuổi già và cái chết đang tiến gần, ngài cần phải làm gì ?’’

          “ - Bạch Thế Tôn, khi tuổi già và cái chết đang tiến đến gần con, con chẳng làm gì khác hơn  ngoài việc phải sống đúng Chánh Pháp, sống chân chính, làm những việc thiện lành công đức ?

          “  Bạch Thế Tôn, những vị vua đang ngây ngất say sưa trong vương quyền , tham đắm các dục lạc giác quan, những người đã bình định được đất nước họ và cai trị những phạm vi lãnh thổ rộng lớn, chinh phục được  nhờ các trận chiến bằng binh voi, các trận chiến bằng binh ngựa, các trận đánh bằng chiến xa, các trận đánh bằng bộ binh; nhưng khi tuổi già và cái chết đến gần, họ không có hy vọng chiến thắng được những cuộc chiến này, không có cơ may thành công nào cả. Bạch Thế Tôn, trong triều đình này, có những vị đại thần, khi quân địch tiến đến, có khả năng làm chúng tan rã bằng những chú thuật, nhưng khi tuổi già và cái chết đến gần, họ không có hy vọng chiến thắng bằng chú thuật, không có cơ may thành công nào cả. Bạch Thế Tôn, trong triều đình này, có vô số vàng bạc được cất giữ trong những tầng thượng và nhà kho, và với số tài sản đó, họ có khả năng mua chuộc kẻ thù khi chúng đến; nhưng khi tuổi già và cái chết đến gần, họ không có hy vọng chiến thắng nhờ tài sản, không có cơ may nào để thành công cả. Bạch Thế Tôn, khi tuổi già và cái chết tiến gần đến bên con, con chẳng làm gì khác hơn ngoài việc phải sống đúng Chánh Pháp, sống chân chính, và làm những việc thiện lành công đức .”

          “- Thưa đại vương, đúng thế! Thưa đại vương đúng thế ! Khi tuổi già và cái chết tiến đến gần ,  có gì khác hơn ngài cần phải làm ngoài việc sống đúng Chánh Pháp, sống chân chính, và làm nhiều việc thiện lành công đức ? “

          Đây là những gì Thế Tôn dạy. Sau khi đã dạy như vậy, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư nói thêm bài kệ như sau :

                    “ Như những ngọn núi đá vững chắc,

                    Khổng lồ, cao đến tận trời,

                    Có thể hợp lại từ mọi phương tràn tới,

                    Nghiền nát tất cả sinh linh trong bốn phía -

                    Tuổi già và cái chết cũng vậy

                     Đang tiến tới với tất cả sinh linh

 

                    “ Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà,

                      Chiên-đà-la, và những kẻ lượm rác;

                      Chúng không tha một ai trên đường chúng đi tới,

                     Nghiền nát tất cả mọi sinh linh.

 

                    “Không có hy vọng chiến thắng,

                    Bằng đoàn binh voi, xe ngựa, bộ binh.

Người ta không thể thắng chúng bằng chú thuật,

Hay mua chuộc chúng bằng tài sản.

 

“Vì vậy, người có trí ớ đây,

Quan tâm đến sự an vui của chính mình

Cần phải đặt đức tin vững chắc

Vào Phật, Pháp, và Tăng.

 

“Ai sống đúng theo Chánh Pháp

Với thân, khẩu, và ý,

Trong đời này được mọi người ca ngợi,

Và  sau khi chết được an vui ở thiên giới. ”

 

                    (Tương Ưng BK I , tr 223-22- V. Ví dụ Ngọn Núi )

                   

                   

          3) Những Thiên Sứ        

          “ - Này các Tỷ-kheo, có ba thiên sứ ! ”(3) Thế nào là ba ?

          “ Có hạng người thân khẩu ý bất thiện. Sau khi thân hoại mạng chung sẽ bị tái sinh vào cõi dữ, cảnh giới bất hạnh, đọa xứ, địa ngục. Ở đó, những tên canh gác địa ngục nắm hai tay bắt giữ người ấy đẫn đến vua Yama, tức Diêm vương, (4) và thưa rằng: “ Tâu Đại vương, người này không kính trọng mẹ cha, không kính trọng Sa môn, Bà-la-môn, không tôn kính các bậc trưởng thượng trong gia đình. Xin đại vương áp dụng những hình phạt thích hợp với nó !”.

          “ - Này các Tỷ- kheo, rồi vua Yama chất vấn người ấy, quan sát người ấy,và nói với người ấy về vị Thiên sứ thứ nhất :  “ Này người kia, ngươi có bao giờ thấy vị Thiên sứ thứ nhất xuất hiện giữa loài người không ? ”

          “ Và người ấy trả lời: “ - Thưa ngài, con  không thấy”.

          “ Rồi vua Yama nói với người ấy: “Này người kia, thế có bao giờ ngươi thấy một người đàn bà hay đàn ông, tám mươi, chin mươi hay một trăm tuổi, già yếu,  cong như mái nhà, lưng còm, chống gậy, vừa đi vừa run rẩy, bệnh hoạn, tuổi trẻsức lực đã kiệt, răng rụng, tóc bạc lưa thưa hay hói đầu, da nhăn nheo, tay chân khô đét ? ”.

          Và người ấy trả lời  “ -  Thưa ngài, con có thấy”.

           Rồi vua Yama nói với người ấy  “ - Này người kia, là một người thông minhtrưởng thành, ngươi có bao giờ nghĩ  rằng, ‘ Rồi ta cũng sẽ phải già, không thể nào tránh  khỏi . Vậy bây giờ ta hãy làm những việc lành về thân, khẩu, và ý ?’ ”.

           Và người ấy trả lời :’’ -Thưa ngài, con không thể làm . Con  sống buông lung”.

           Rồi vua Yama nói: “ - Này người kia, chính vì sống buông lung, ngươi đã không làm các việc lành về thân, khẩu và ý. Vậy thì, ngươi sẽ được đối xử phù hợp với tánh buông lung của ngươi. Các ác nghiệp của ngươi không phải do cha, mẹ, anh chị em, bạn bè, hay người đồng hành làm, không phải do bà con, chư Thiên, sa môn hay Bà-la-môn làm. Nhưng do chính  ngươi làm mà thôi, và ngươi phải nhận lãnh các quả báo”.

          “ - Này các Tỷ- kheo, rồi vua Yama chất vấn người ấy, quan sát người ấy, và nói với người ấy về vị Thiên sứ thứ nhất; ngài lại chất vấn, quan sát và nói với người ấy về vị thiên sứ thứ hai, ngài nói : “ -Này người kia, ngươi có bao giờ thấy vị Thiên sứ thứ hai xuất hiện giữa loài người không ? ”

           Và người ấy trả lời: “ - Thưa ngài, con  không thấy”.

          “ -  Này người kia, nhưng có bao giờ ngươi thấy một người đàn ông hay đàn bà bệnh hoạn và chịu đau đớn, bệnh rất nặng, nằm ngay trên chất thải dơ bẩn của mình, cần người khác nâng dậy và đặt vào giường ?”.

Và người ấy trả lời: “ - Thưa ngài, con có thấy””

“ - Này người kia, là một người thông minhtrưởng thành, ngươi có bao giờ nghĩ  rằng, ‘Rồi ta cũng sẽ phải bị bệnh hoạn, không thể nào tránh  khỏi . Vậy bây giờ ta hãy làm những việc lành về thân, khẩu, và ý ?’  ”.

 Và người ấy trả lời : “- Thưa ngài, con không thể làm . Con  sống buông lung”.

          “-  Này người kia, chính vì sống buông lung, ngươi đã không làm các việc lành về thân, khẩu và ý. Vậy thì, ngươi sẽ được đối xử phù hợp với tánh buông lung của ngươi. Các ác nghiệp của ngươi không phải do cha, mẹ, anh chị em, bạn bè, hay người đồng hành làm, không phải do bà con, chư Thiên, sa môn hay Bà-la-môn làm. Nhưng do chính  ngươi làm mà thôi, và ngươi phải nhận lãnh các quả báo”.

          “ - Này các Tỷ- kheo, khi vua Yama chất vấn người ấy, quan sát người ấy, và nói với người ấy về vị Thiên sứ thứ hai; ngài lại chất vấn, quan sát và nói với người ấy về vị thiên sứ thứ ba, ngài nói : “ - Này người kia, ngươi có bao giờ thấy vị Thiên sứ thứ ba xuất hiện giữa loài người không ?”.

          “ - Thưa ngài, con  không thấy”.

          “ - Này người kia, nhưng có bao giờ ngươi thấy một người đàn ông hay đàn bà đã chết một, hai hoặc ba ngày, thi thể sình lên, đổi màu và rữa nát ?”.

          ” -Thưa ngài, con có thấy”

          ” - Vậy thì, này người kia, là một người thông minhtrưởng thành, ngươi có bao giờ nghĩ  rằng, ‘Rồi ta cũng sẽ phải chết, không thể nào tránh  khỏi . Vậy bây giờ ta hãy làm những việc lành về thân, khẩu, và ý ? ”.

          “ -Thưa ngài, con không thể làm . Con  sống buông lung”.

          ” - Này người kia, chính vì sống buông lung, ngươi đã không làm các việc lành về thân, khẩu và ý. Vậy thì, ngươi sẽ được đối xử phù hợp với tánh buông lung của ngươi. Các ác nghiệp của ngươi không phải do cha, mẹ, anh chị em, bạn bè, hay người đồng hành làm, không phải do bà con, chư Thiên, sa môn hay Bà-la-môn làm. Nhưng do chính  ngươi làm mà thôi, và ngươi phải nhận lãnh các quả báo”.

                                                  ( Tăng Chi BK I, tr  247-252: Diêm Vương)

 

2 . NHỮNG  HỆ  LỤY  CỦA   LỐI   SỐNG  PHÀM  PHU

          (1) Mũi Tên  Cảm Thọ Đau Khổ

          “ - Này các Tỷ- kheo, khi kẻ vô văn phàm phu cảm nhận một cảm thọ đau khổ, người ấy  phiền muộn, ưu sầu, than vãn, khóc lóc, đấm ngực và đi đến bất tỉnh. Người ấy cảm nhận hai  cảm thọ – một cảm thọ về thân và một cảm thọ về tâm. Giả sử có một  người bị người khác bắn một mũi tên, rồi ngay sau đó người này bị bắn một mũi tên thứ hai, như thế người này cảm nhận một cảm thọ với cả hai mũi tên.  Cũng vậy, khi một kẻ vô văn phàm phu cảm nhận một cảm thọ đau khổ, người ấy cảm nhận hai cảm thọ - một cảm thọ về thân và một cảm thọ về tâm.

          “ Khi cảm nhận khổ thọ, người ấy mang lòng sân hận đối với cảm thọ này. Khi người ấy mang lòng sân hận đối với khổ thọ, khuynh hướng sân hận  tiềm ẩn bên dưới cảm thọ này.(5) Trong lúc cảm nhận khổ thọ, người ấy đi tìm thú vui trong những khoái lạc giác quan. Vì sao ? Bởi vì kẻ vô văn phàm phu không biết cách nào thoát khỏi cảm thọ đau khổ ngoài hưởng thụ những khoái lạc giác quan.(6). Khi người ấy đi tìm thú vui trong những khoái lạc giác quan, khuynh hướng thèm khát khoái cảm tiềm ẩn dưới cảm thọ này. Người ấy không như thật hiểu rõ sự sinh khởi, sự chấm dứt, sự thỏa mãn, mối nguy hiểm và sự thoát ly ra khỏi những cảm thọ ấy.(7) Khi người ấy không hiểu rõ những điều này, khuynh hướng vô minh đối với bất khổ bất lạc thọ tiềm ẩn dưới cảm thọ này.

          “ Nếu người ấy cảm nhận một lạc thọ, người ấy  cảm thấy bị dính mắc . Nếu người ấy cảm nhận một khổ thọ, người ấy cảm thấy bị dính mắc. Nếu người ấy cảm nhận một bất lạc bất khổ thọ, người ấy cảm thấy bị dính mắc. Này các Tỳ kheo, đây được gọi là kẻ vô văn phàm phu bị trói buộc với sinh, già và chết, bị dính mắc với ưu sầu, than vãn, đau đớn, buồn phiền, tuyệt vọng, Ta nói rằng người này bị trói buộc với khổ đau.

          “-  Này các Tỷ- kheo, khi một bậc đa văn thánh đệ tử cảm nhận một khổ thọ, vị này không phiền muộn, ưu sầu, than vãn, khóc lóc, đấm ngực và đi đến bất tỉnh.(8) Vị này chỉ cảm nhận một cảm thọ - là cảm thọ về thân, không phải cảm thọ về tâm. Giả sử có một người bị người khác bắn một mũi tên, nhưng  ngay sau đó người này không bị bắn một mũi tên thứ hai, nên người  này chỉ cảm nhận một cảm thọ từ một mũi tên mà thôi. Cũng vậy, khi một vị đa văn thánh đệ tử cảm nhận một khổ thọ, vị này chỉ có một cảm thọ mà thôi – đó là một cảm thọ về thân, không phải một cảm thọ về tâm.

          “ Khi cảm nhận khổ thọ, người ấy không mang lòng sân hận đối với cảm thọ này.  Vì  người ấy không mang lòng sân hận đối với khổ thọ, khuynh hướng sân hận không tiềm ẩn bên dưới cảm thọ này. Trong lúc cảm nhận khổ thọ, người ấy không đi tìm thú vui trong những khoái lạc giác quan. Vì sao ? Bởi vì bậc đa văn thánh đệ tử biết cách thoát khỏi khổ thọ khác hơn là đi tìm những khoái lạc giác quan.. Vì vị ấy không đi tìm thú vui trong những khoái lạc giác quan, khuynh hướng thèm khát khoái cảm không tiềm ẩn dưới cảm thọ này. Vị ấy  như thật hiểu rõ sự sinh khởi, sự chấm dứt, sự thỏa mãn, mối nguy hiểm và sự thoát ly ra khỏi những cảm thọ ấy. Vì vị ấy hiểu rõ những điều này, khuynh hướng vô minh đối với bất khổ bất lạc thọ không tiềm ẩn dưới cảm thọ này.

          “ Nếu vị ấy cảm nhận một lạc thọ, vị ấy không bị dính mắc . Nếu vị ấy cảm nhận một khổ thọ, vi ấy không bị dính mắc. Nếu vị ấy cảm nhận một bất lạc bất khổ thọ, vị ấy không bị dính mắc. Này các Tỳ kheo, đây được gọi là bậc  thánh đệ tử không bị trói buộc với sinh, già và chết, không bị dính mắc với phiền muộn , than vãn, đau đớn, ưu sầu, tuyệt vọng, Ta nói vị này không bị trói buộc với khổ đau.

          “ - Này các Tỷ-kheo, đây là điểm đặc thù, sự sai biệt, sự khác nhau giữa bậc đa văn thánh đệ tử và kẻ vô văn phàm phu”.

                                        (Tương Ưng BK- IV, tr 336-340 : Với Mũi Tên )

 

(2) Những Đổi Thay của Cuộc  Sống

          “ - Này các Tỷ kheo, có tám pháp thế gian giữ cho thế giới này tiếp tục luân chuyểnthế giới  xoay quanh tám pháp này. Thế nào là tám ? Thắng lợi và thất bại, danh thơmtiếng xấu, khen ngợi  và chê bai, khoái lạc và đau khổ .

          “ Này các Tỷ kheo, kẻ vô văn phàm phu cũng như bậc đa văn thánh đệ tử đều có tiếp xúc với tám pháp hữu vi này. Thế nào là điểm đặc thù, sự sai biệt, sự khác nhau giữa bậc đa văn thánh đệ tử và kẻ vô văn phàm phu ? ”.

          “ - Bạch Thế Tôn, sự hiểu biết của chúng con về những pháp này bắt nguồn từ Thế Tôn, chúng con nương tựa vào Thế Tôn để được ngài hướng dẫn. Bạch Thế Tôn, lành thay nếu Thế Tôn có thể làm sáng tỏ ý nghĩa của lời nói ấy. Sau khi nghe Thế Tôn chỉ dạy, các Tỷ kheo  sẽ ghi nhớ trong tâm”.

          “ Này các Tỷ-kheo, vậy  hãy lắng nghe thật  kỹ, Ta sẽ nói .”

          Các Tỷ kheo trả lời, “ Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Rồi Thế Tôn nói như sau :

          “ -Này, các Tỷ kheo, khi kẻ vô văn phàm phu được thắng lợi, người ấy không suy nghĩ như sau: ‘ Sự thắng lợi đã đến với ta là vô thường, bị ràng buộc với khổ não, sẽ phải chịu thay đổi’’. Người ấy không như thật hiểu biết về pháp này. Và khi người ấy gặp phải thất bại, được danh thơm hay tiếng xấu, được khen ngợi hay bị chê bai, người ấy không suy nghĩ như thế này:” Tất cả các pháp này đều vô thường, bị ràng buộc với khổ não, và phải chịu thay đổi”.  Người ấy không như thật hiểu biết về các pháp này. Đối với hạng người như vậy,  thắng lợi hay thất bại, danh thơm hay tiếng xấu, khen ngợi hay chê bai, khoái lạc hay đau khổ xâm nhập tâm của người ấy. Khi được thắng lợi, người ấy vui mừng và khi gặp phải thất bại, người ấy buồn khổ. Khi được danh thơm, người ấy sung sướng, và khi bị tiếng xấu, người ấy khổ sở. Khi được khen ngợi, người ấy khoái trá và khi bị chê bai, người ấy phiền muộn. Khi được khoái lạc người ấy thích thú và khị bị khổ đau người ấy ưu sầu. Như vậy người ấy bị ràng buộc với yêu và ghét, người ấy sẽ  không  thoát khỏi sinh, già, bệnh, chết, không thoát khỏi ưu sầu, than vãn, đau đớn, buồn khổ và tuyệt vọng, Ta nói rằng người ấy sẽ không thoát khỏi khổ đau.

          “ - Này các Tỷ kheo, nhưng khi một bậc đa văn thánh đệ tử được thắng lợi, vị ấy suy nghĩ về việc này như sau;’’ Thắng lợi này đến với ta là vô thường, bị ràng buộc với khổ não, và phải chịu sự thay đổi”. Và vị ấy cũng suy nghĩ như vậy khi gặp phải thất bại …vv . Vị ấy hiểu đúng như thật các pháp ấy, và các pháp ấy không xâm nhập tâm của vị này. vì vậy, khi được thắng lợi, vị ấy không vui mừng và khi gặp phải thất bại, vị ấy không buồn khổ; không sung sướng khi được danh thơm, không khổ sở khi bị tiếng xấu; không khoái trá khi được khen ngợi, không phiền muộn khi bị chê bai; không thích thú khi được khoái lạc không ưu sầu  khi bị khổ đau. Như vậy vị ấy đã từ bỏ yêu và ghét, vị ấy sẽ  thoát khỏi sinh, già, bệnh, chết,  thoát khỏi ưu sầu, than vãn, đau đớn, buồn khổ va tuyệt vọng, Ta nói rằng người ấy sẽ  giải thoát khỏi khổ đau.

          “ - Này, các Tỷ kheo, đây là điểm đặc thù, sự sai biệt, sự khác nhau giữa bậc đa văn thánh đệ tử và kẻ vô văn phàm phu  ”.

                              (Tăng Chi BK  III, tr  498-501 :VI.6 Tùy Chuyển Thế Giới)

 

(3)  Phiền Não  Do Thay Đổi

           “ - Này các Tỷ kheo, Ta sẽ giảng cho các ngươi nghe về phiền não do chấp thủ và  không phiền não do không chấp thủ ”(9). “Các ngươi hãy lắng nghe thật kỹ, Ta sẽ giảng”.

          “Thưa vâng , bạch Thế Tôn”, các Tỷ kheo đáp. Và Thế Tôn nói như sau :

          “ - Này các Tỷ kheo, thế nào là tâm phiền não do chấp thủ ? Này, các Tỷ kheo, kẻ vô văn phàm phu là người không thấy rõ các bậc thánh, không thuần thục và không tu tập theo pháp của các bậc thánh, là kẻ không thấy rõ các bậc chân nhân và không thuần thục, không tu tập theo pháp của các bậc chân nhân, đã xem sắc như là tự ngã, hay là tự ngã có sắc, hay là sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc’’(10).  Rồi sắc của người ấy thay đổi và biến hoại. Với sự thay đổi và biến hoại của sắc, thức của người ấy bị xâm chiếm bởi sự thay đổi của sắc. Phiền não và một chuổi tâm hành tiêu cực phát sinh do sự thay đổi của sắc vẫn ám ảnh tâm người ấy. Bởi vì tâm bị ám ảnh, người ấy sợ hãi, đau khổưu sầu, và do bởi chấp thủ, người ấy bị  phiền não.

          “ Người ấy xem thọ như là tự ngã…tưởng như là tự ngã…hành như là tự ngã,…thức như là tự ngã, hay là tự ngã có thức, hay là thức trong tự ngã, hay tự ngã trong thức. Rồi thức của người ấy thay đổi và biến hoại. Với sự thay đổi và biến hoại của thức, thức của người ấy bị xâm chiếm bởi sự thay đổi của thức. Phiền não và một chuổi tâm hành tiêu cực phát sinh do sự thay đổi của thức vẫn ám ảnh tâm người ấy. Bởi vì tâm bị ám ảnh, người ấy sợ hãi, đau khổưu sầu, và do bởi chấp thủ, người ấy bị  phiền não.

          “ Này các Tỷ kheo, như vậy là tâm phiền não do chấp thủ.

          “ - Và này các Tỷ kheo, thế nào là tâm không phiền não do không chấp thủ ?

          “ Này các Tỷ kheo, ở đây, bậc đa văn thánh đệ tử là người thấy rõ các bậc thánh, thuần thụctu tập theo pháp của các bậc thánh, là người thấy rõ các bậc chân nhân,  và thuần thục, tu tập theo pháp của các bậc chân nhân, không xem sắc như là tự ngã, hay là tự ngã có sắc, hay là sắc ở trong tự ngã , hay tự ngã ở trong sắc’’(11).  Rồi sắc của vị ấy thay đổi và biến hoại. Mặc dù có sự thay đổi và biến hoại của sắc, thức của vị ấy không bị xâm chiếm bởi sự thay đổi của sắc. Phiền não và một chuổi tâm hành tiêu cực phát sinh do sự thay đổi của sắc không ám ảnh tâm vị ấy. Bởi vì tâm vị ấy không bị ám ảnh, vị ấy không sợ hãi, đau khổưu sầu, và do bởi không chấp thủ, vị ấy không bị phiền não.

          “ Vị ấy không xem thọ như là tự ngã…tưởng như là tự ngã…hành như là tự ngã,…thức như là tự ngã, hay là tự ngã có thức, hay là thức trong tự ngã, hay tự ngã trong thức. Rồi thức của vị ấy thay đổi và biến hoại. Mặc dù có sự thay đổi và biến hoại của thức, thức của vị ấy không bị xâm chiếm bởi sự thay đổi của thức. Phiền não và một chuổi tâm hành tiêu cực phát sinh do sự thay đổi của thức không ám ảnh tâm vị ấy. Bởi vì tâm không bị ám ảnh, vị ấy không sợ hãi, đau khổưu sầu, và do bởi không chấp thủ, vị ấy không bị phiền não.

          “ Này các Tỷ kheo, như vậy là tâm không phiền não do không chấp thủ.”

                                                  ( TƯBK III, tr 35-39 : Chấp Thủ và Ưu Não)

 

3. MỘT THẾ GIỚI BIẾN ĐỘNG

          ( 1) Nguồn Gốc Của Xung Đột

          Người Bà-la-môn Ārāmadaṇda đi đến Tôn giả Mahākacchāna (Đại Ca-Chiên-Diên)(12), chào hỏi thân thiện với tôn giả rồi hỏi rằng:” Thưa Tôn giả, tại sao các người Sát-đế lợi tranh chấp với  Sát-đế-lợi, Bà-la-môn tranh chấp với Bà-la-môn, gia chủ tranh chấp với gia chủ ?”

          “ - Thưa Bà-la-môn, chính vì chấp thủ dục lạc, dính mắc với dục lạc, trói buộc với dục lạc, tham đắm dục lạc, bị xâm chiếm bởi dục lạc, giữ chặc các dục lạc khiến cho Sát-đế-lợi tranh chấp với  Sát-đế-lợi, Bà-la-môn tranh chấp với Bà-la-môn, gia chủ tranh chấp với gia chủ ”.

          “ - Thưa Tôn giả, tại sao Sa môn tranh chấp với Sa môn ?”

          “ - Thưa Bà-la-môn, vì chấp thủ  kiến tham, bị dính mắc với kiến tham, bị trói buộc với kiến tham, mê đắm kiến tham, bị xâm chiếm bởi kiến tham, giữ chặc kiến tham khiến cho Sa môn tranh chấp với Sa môn”.

           (Tăng Chi BK I, tr 126- 127 : ( Giản lược ) 6. Như vầy tôi nghe … )

 

          (2) Vì Sao Con Người Sống Trong Thù Hận ?

          2.1 . Sakka (Trời Đế Thích), là vị Thiên chủ của chư thiên (13) hỏi Thế Tôn :“ - Chúng sinh mong ước sống không oán ghét, không làm hại , không chống đối nhau hay hận thù nhau, họ mong ước sống trong an bình. Tuy vậy, họ lại sống trong oán ghét, làm hại nhau, chống đối nhau, và coi nhau như kẻ thù . Bạch Thế Tôn, do  bị trói buộc bởi những kiết sử nào khiến họ sống như vậy ?”.

          Thế Tôn trả lời : “ - Này Sakka thiên chủ, chính là do đố kỵkeo kiệt đã trói buộc chúng sinh như vậy, mặc dù họ muốn sống không oán ghét, không chống đối  hay thù hận nhau, và muốn sống trong hòa bình; tuy nhiên họ lại sống trong oán ghét, làm hại nhau, chống đối nhau và coi nhau như kẻ thù,”

          Đây là câu trả lời của Thế Tôn, và Sakka Thiên chủ vui mừng thốt lên rằng: “ Đúng vậy, bạch Thế Tôn! Đúng vậy, bạch đấng Thiện Thệ !  Qua câu trả lời của Thế Tôn, con đã hết nghi ngờ và giải tỏa hết sự hoang mang .”

          2.2 . Sau khi bày tỏ lòng hoan hỷ Thiên chủ Sakka hỏi câu thứ hai : “ - Bạch Thế Tôn, do nhân duyên gì phát sinh đố kỵkeo kiệt, nguồn gốc chúng  từ đâu, chúng tập khởi như thế nào, làm thế nào chúng phát sinh ? Khi cái gì có mặt thì chúng sinh khởi, khi cái gì không có mặt thì chúng không sinh khởi ?”

          “ - Này Thiên chủ, đố kỵkeo kiệt phát sinh từ yêu ghét , đây là nguồn gốc, đây là cách chúng tập khởi, là cách chúng phát sinh. Khi yêu ghét có mặt thì chúng sinh khởi, khi yêu ghét không có mặt thì chúng không sinh khởi.”

          “ - Bạch Thế Tôn, nhưng yêu ghét do nhân duyên gì phát sinh…?”

          “ - Này Thiên chủ, chúng phát sinh từ tham dục”

          “ - Và nhân duyên gì phát sinh tham dục…? “

          “ - Này Thiên chủ, chúng phát sinh từ suy nghĩ . Khi tâm suy nghĩ về một đối tượng thì tham dục sinh  khởi , khi tâm không suy nghĩ gì thì tham dục không sinh khởi.”

           “ - Bạch Thế Tôn, nhưng do nhân duyênsuy nghĩ  sinh khởi ?’’.

          “ -Này Thiên chủ, suy nghĩ sinh khởi từ những vọng tưởnghý luận (14) . Khi những vọng tưởnghý luận có mặt thì suy nghĩ có mặt. Khi những vọng tưởnghý luận không có mặt thì suy nghĩ không có mặt.”

                              ( Trường BK II,  Kinh 21 : Đế Thích Sở Vấn, tr  276-77 )

 

          (3) Chuổi Nhân Duyên Đen Tối

          9. “ - Này Ānanda, do nhân duyên cảm thọ sinh ra khát ái, do nhân duyên khát ái sinh ra tìm cầu, do nhân duyên tìm cầu sinh ra thắng lợi, do nhân duyên thắng lợi sinh ra quyết định, do nhân duyên quyết định sinh ra tham dục, do nhân duyên tham dục sinh ra chấp thủ, do nhân duyên chấp thủ sinh ra chiếm hữu, do nhân duyên chiếm hữu sinh ra keo kiệt, do nhân duyên keo kiệt sinh ra phòng thủ, và do phòng thủ  phát sinh nhiều bất thiện pháp – như cầm lấy cây trượng và vũ khí, xung đột, gây gỗ, tranh chấp, lăng mạ, vu khống và vọng ngữ ”.(15)

                                        ( Trường BK II, tr 516 -517, 14- Kinh Đại Duyên : 9)

          (4) Gốc Rễ của Bạo Lực và Đàn Áp

          “ Tham, sân, si thuộc bất cứ loại nào đều là bất thiện.” (16). Bất cứ một hành động nào mà một người tham lam, sân hậnsi mê tạo nên – bằng thân, lời  hay  ý  – cũng là bất thiện., Bất cứ khổ đau nào mà người này gây ra cho người khác do tham, sân, si thúc đẩy, ý nghĩ bị tham sân si điều khiển, dù viện bất cứ lý do sai trái nào – bằng cách sát hại, bỏ tù, tịch thu tài sản, cáo buộc sai lầm, hay trục xuất – do được tư tưởng này gợi ý :’’ Ta có quyền lực  và ta muốn có quyền lực,” tất cả điều này cũng đều là bất thiện”.

                              (Tăng Chi BK I, tr 363- 69. Các Căn Bản Bất Thiện )

 

4.  VÔ  THỦY  (KHÔNG  CÓ  ĐIỂM  KHỞI   ĐẦU )

          (1) Cỏ và Cây

          Thế Tôn đã dạy như thế này: “ - Này các Tỷ kheo, cõi luân hồi này là vô thủy (17). Đối với  chúng sanh lang thang luân chuyển do bị vô minh cản trở và bị tham dục trói buộc thì  không thể  tìm thấy một  điểm khởi đầu. Này các Tỷ kheo, giả sử có người cắt hết bất cứ cỏ, khúc cây, cành cây, lá cây nào trong cõi Diêm phù đề này (Jambudīpa) (18) và chất lại thành một đống. Sau khi làm như vậy, người ấy đặt chúng xuống, nói với mỗi cành lá rằng:’’ Đây là mẹ tôi, đây là bà ngoại tôi.’’ Chuổi các bà mẹ và bà ngoại của người ấy sẽ tiếp nối không bao giờ chấm dứt, tuy rằng cỏ, khúc cây, cành cây và lá cây trong cõi Diêm phù đề này sẽ cạn kiệt. Vì sao ? Bởi vì, này các Tỷ kheo, cõi luân hồi này là vô thủy. Đối với các chúng sanh bị vô minh cản trở và bị tham dục trói buộc thì không thể tìm thấy một điểm khởi đầu. Này các Tỷ kheo, đã lâu lắm rồi, các ngươi đã chịu đau khổ, sầu não, tai họa, đã làm cho các mộ phần ngày càng chồng chất lớn thêm. Đã quá đủ để các ngươi nhàm chán với tất cả các hành, đủ để các ngươi từ bỏ chúng, đủ để các ngươi giải thoát khỏi chúng”.

                                        ( Tương Ưng BK II , Ch. 4, tr 309, 1: Cỏ và Củi)

 

          (2) Những Hòn Đất

          “ - Này các Tỷ kheo, cõi luân hồi này là vô thủy . Đối với  chúng sanh lang thang luân chuyển do bị vô minh cản trở và bị tham dục trói buộc thì  không thể  tìm thấy một  điểm khởi đầu. Này, các Tỷ kheo, giả sử có một người lấy tất cả đất của quả đất này để viên thành những hòn đất lớn cỡ bằng hạt táo, cầm từng hòn đất đặt xuống và nói với từng hòn đất: ‘đây là cha tôi, đây là ông nội tôi ’. Chuổi các người cha và ông nội của người ấy sẽ tiếp nối không bao giờ chấm dứt, tuy rằng quả đất lớn đã được sử dụng đến mức cạn kiệt. Vì sao ? Này các Tỷ kheo, bởi vì cõi luân hồi này là vô thủy. Đối với các chúng sanh bị vô minh cản trở và bị tham dục trói buộc thì không thể tìm thấy một điểm khởi đầu. Này các Tỷ kheo, đã lâu lắm rồi, các ngươi đã chịu đau khổ, sầu não, tai họa, đã làm cho các mộ phần ngày càng chồng chất lớn thêm. Đã quá đủ để các ngươi nhàm chán với tất cả các hành, đủ để các ngươi từ bỏ chúng, đủ để các ngươi giải thoát khỏi chúng”.

                                        (Tương Ưng BK II, Chương 4,  tr 310, 2: Quả Đất )

          (3) Núi

          Một Tỷ kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Thế Tôn liền ngồi xuống một bên, rồi bạch Thế Tôn : “Bạch Thế Tôn, một kiếp dài đến bao lâu ? ” (19)

          “ - Này Tỷ kheo, một kiếp thật dài. Không dễ gì có thể đếm được và nói một kiếp là rất nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm.”

          “-  Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho một ví dụ được không ?”

          “ - Này Tỷ kheo, được chứ ” . Thế Tôn trả lời. “ Này Tỷ kheo, giả sử có một ngọn núi đá lớn dài một do-tuần ( yojana ), rộng một do-tuần và cao một do-tuần, không có lỗ hổng hay khe hở, một khối đá đặc .(20) Cứ sau một trăm năm lại có một người đến đập vào núi này một lần với một tấm vải mịn. Bằng nỗ lực này, ngọn núi đá lớn có thể bị mòn dần và tan biến, nhưng một kiếp vẫn chưa chấm dứt. Này Tỷ kheo, một kiếp dài như vậy đó. Và với những kiếp dài như vậy, chúng ta đã lang thang qua rất nhiều kiếp, nhiều trăm kiếp, nhiều ngàn kiếp, nhiều trăm ngàn kiếp. Vì sao ? Này Tỷ kheo, bởi vì cõi luân hồi này là vô thủy…Cũng vừa đủ để giải thoát khỏi cõi này”.

                                                  (Tương Ưng BK II, Ch 4, tr 315, 5: Núi )

          (4) Sông Hằng

          Tại Vương Xá ( Rājagaha), trong rừng Trúc Lâm ( Veluvana), khu Vườn Sóc, một người Bà-la-môn đi đến Thế Tôntrao đổi lời hỏi thăm với Ngài. Sau khi chào hỏi và chuyện trò vui vẻ, người ấy ngồi xuống một bên và bạch Thế Tôn,” Thưa Tôn giả Gotama, có bao nhiêu kiếp đã qua và đã trôi qua ?”

          “ - Này Bà-la-môn, rất nhiều kiếp đã qua và đã trôi qua. Không dễ gì có thể đếm được và nói có rất nhiều kiếp, nhiều trăm kiếp, nhiều ngàn kiếp, nhiều trăm ngàn kiếp.”

          “-  Thưa Tôn giả Gotama, ngài có thể cho một ví dụ được không ?”

          “ - Này Bà-la-môn, được chứ”, Thế Tôn trả lời. “ - Này Bà-la-môn, Hãy tưởng tượng những hạt cát từ chỗ sông Hằng bắt nguồn đến chỗ nó chảy vào biển lớn; không dễ gì đếm được và nói rằng có rất nhiều hạt cát, nhiều trăm hạt, nhiều ngàn hạt, nhiều trăm ngàn hạt cát. Này Bà-la-môn, những kiếp đã qua và đã trôi qua là còn nhiều hơn thế nữa. Không dễ gì có thể đếm được và nói có rất nhiều kiếp, nhiều trăm kiếp, nhiều ngàn kiếp, nhiều trăm ngàn kiếp.” Vì sao ? Này Bà-la-môn, bởi vì cõi luân hồi này là vô thủy…Cũng vừa đủ để giải thoát khỏi cõi này”.

                                        (Tương Ưng BK II, Ch.4, tr 318-319, 8: Sông Hằng)

 

          (5) Chó Bị Dây Buộc Cổ

          “ - Này các Tỷ kheo, cõi luân hồi này là vô thủy. Đối với  chúng sanh lang thang luân chuyển do bị vô minh cản trở và bị tham dục trói buộc thì  không thể  tìm thấy một  điểm khởi đầu.

          “ -  Này các Tỷ kheo, sẽ có một thời khi biển lớn khô cạn, bốc hơi và không còn hiện hữu, nhưng Ta vẫn nói rằng sẽ không có sự chấm dứt khổ đau đối với những chúng sinh lang thang luân chuyển do bị vô minh cản trởtham dục trói buộc.

          “ -  Này các Tỷ kheo, sẽ có một thời khi Sineru (núi Tu-Di), vua các núi, bị đốt cháy và hủy diệt và không còn hiện hữu, nhưng Ta vẫn nói rằng sẽ không có sự chấm dứt khổ đau đối với những chúng sinh lang thang luân chuyển do bị vô minh cản trởtham dục trói buộc.

          “ - Này các Tỷ kheo, sẽ có một thời khi đại địa  bị đốt cháy và hủy diệt và không còn hiện hữu, nhưng Ta vẫn nói rằng sẽ không có sự chấm dứt khổ đau đối với những chúng sinh lang thang luân chuyển do bị vô minh cản trởtham dục trói buộc.

          “ -  Này các Tỷ kheo, giả sử có con chó bị buộc vào cổ một sợi dây trói chặt vào một cây cột hay cột trụ : con chó sẽ cứ tiếp tục chạy vòng quanh cây cột hay cột trụ đó. Cũng vậy, kẻ vô văn phàm phu xem sắc là tự ngã….thọ là tự ngã….tưởng là tự ngã…hành là tự ngã….thức là tự ngã….Người ấy cứ tiếp tục chạy vòng quanh sắc, vòng quanh thọ, vòng quanh tưởng, vòng quanh hành, vòng quanh thức. Vì người ấy cứ tiếp tục chạy vòng quanh chúng, người ấy không thể giải thoát khỏi sắc, không giải thoát khỏi thọ, không giải thoát khỏi tưởng, không giải thoát khỏi hành, không giải thóat khỏi thức. Người ấy sẽ không giải thoát khỏi sinh, già, bệnh, chết, không giải thoát khỏi khỏi ưu sầu, than vãn, đau đớn, buồn khổ và tuyệt vọng, Ta nói rằng người ấy không  giải thoát khỏi khổ đau.”

                                                  (Tương Ưng BK III, Ch.5, tr 267, 7: Dây thằng)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 198)
Ba Mươi Hai Cách ứng hiện của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Bởi vì Quan Thế Âm Bồ Tát đồng một Sức Từ với đức Phật Như Lai cho nên ngài ứng hiện ra 32 thân, vào các quốc độ mà độ thoát chúng sanh
(Xem: 175)
Thể tánh của tâm là pháp giới thể tánh, bởi vì nếu không như vậy thì tâm không bao giờ có thể hiểu biết, chứng ngộ pháp giới thể tánh.
(Xem: 183)
Trong kinh tạng Nikāya, khái niệm con đường độc nhất (ekāyana magga) là một khái niệm thu hút nhiều sự quan tâm của học giới từ phương Tây cho đến phương Đông
(Xem: 150)
Thuật ngữ pháp (dharma, có căn động tự là dhṛ có nghĩa là “duy trì, nắm giữ”; Pāli: dhamma; Tây Tạng: chos) mang nhiều ý nghĩa và ...
(Xem: 174)
Trì danh là pháp tu Tịnh Độ phổ thông nhứt hiện nay. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm, có Mười cách trì danh khác nhau
(Xem: 190)
Phật dạy tất cả pháp hữu vi đều là vô thường sanh diệt không bền vững, như vậy thì ở thế gian cái gì có tạo tác có biến đổi đều là vô bền chắc.
(Xem: 289)
Nguyên bản: Removing obstacles to a favorable death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 244)
Mối liên hệ giữa hình thức sớm nhất của Phật giáo và những truyền thống khác mà chúng đã phát triển về sau là một vấn đề luôn tái diễn trong lịch sử tư tưởngPhật giáo.
(Xem: 349)
Nghiệp và Luân hồi là hai ý niệm đã có trong Ấn độ giáo, được giảng giải trong các Kinh Veda và Upanishad vào khoảng 1500 năm trước CN.
(Xem: 8631)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 690)
Mục tiêu cao cả của đạo Phật là dạy con người tu tập để thoát khổ, giác ngộgiải thoát.
(Xem: 256)
Phật giáo du nhập Nhật Bản vào thế kỷ thứ VI, sau đó trải qua thời kì Nara (710~785), thời kì Heian (794~1192) cho đến thời kì Kamakura (1192~1380), trước sau khoảng 700 năm, rồi phát sinh rất nhiều tông phái.
(Xem: 253)
Tổ Quy Sơn dặn: “Nói ra lời nào phải liên hệ với kinh điển. Đàm luận gì, phải xét lại lời người xưa”.
(Xem: 259)
Nhiều học giả phân vân là làm thế nào và tại sao những nhà Đại chúng bộ (Mahāsāṅghika) đã hình thành nên khái niệm về một Đức Phật siêu việt...
(Xem: 405)
Hoa Sen Diệu Phápgiáo pháp được thuyết giảng trong Kinh Pháp Hoa. Quang Trạch giải thích Diệu Pháp là nhân của đạo Nhất Thừa, là quả của đạo Nhất Thừa.
(Xem: 223)
Con người sống qui tụ lại thành một xã hội, và phát triển tập thể này rộng lớn dần dần thành một quốc gia.
(Xem: 1344)
Trước khi xác định Phật Giáo như là một hệ thống tư tưởng triết học (Buddhism as a philosophy) hay như là một tôn giáo (Buddhism as a religion), chúng ta sẽ tìm hiểu triết học là gì ? và Phật giáo là gì ?
(Xem: 307)
Lục độ Ba-la-mật-đa/ Sáu phương pháp tu Ba-la-mật-đa (Six Paramitas) là 6 pháp tu để giải trừ các khổ ách của Đại thừa Phật giáo.
(Xem: 305)
Theo quan điểm của Đại hoàn thiện thì ánh sáng trong suốt hiển hiện một cách tự nhiên và được gọi là "hoàn-toàn-tốt"
(Xem: 482)
Đức Phật ra đời vào năm 624 trước tây lịch tại nước Ấn Độ. Ngài thuyết pháp 49 năm. Phật giáo đã trở thành quốc giáo, vì các vua, các quan và dân chúng đa phần đều theo đạo Phật.
(Xem: 472)
Y Kinh Kinh Cang Bát Nhã Ba La Mật: Đức Thế Tôn Như Lai hỏi ngài Tu Bồ Đề: Như Lainhục nhãn không? Ngài Tu Bồ Đề thưa:
(Xem: 1314)
Cuốn sách “Luân Hồi trong Lăng Kính Lăng Nghiêm” được ra mắt cách đây 9 năm (2008), in lần thứ hai, ba và tư vào năm 2012, 2014 & 2016 tại Nhà xuất bản Phương Đông, và năm nay (2018) cũng tại NXB Hồng Đức
(Xem: 753)
điều chắc chắn là làm người, ai cũng có ý thức về tội lỗi. Điều này là không đúng, điều này là không tốt, điều này là không đẹp.
(Xem: 468)
Tựa đề của khảo luận này phát xuất từ tồn nghi của một pháp hữu trong khi dịch lại bản kinh Tập (Sutta Nipāta) ở văn hệ Nikāya.
(Xem: 862)
Khái niệm ‘nghiệp’, thật ra, đã có mặt trong văn học Bà-la-môn giáo từ rất lâu trước khi Đức Phật xuất hiện ở đời.
(Xem: 447)
Vũ trụ, con người hình thành như thế nào và tương lai sẽ ra sao? Câu hỏi chưa bao giờ được xếp lại. Khoa học lượng tử luôn tiên phong...
(Xem: 407)
rong lịch sử tư tưởng Ấn-độ, thuyết Trung đạo đã mang lại cho tư tưởng giới đương thời một không khí hoạt bát[1].
(Xem: 576)
Bản chất của ánh sáng trong suốt, mang tính cách nền tảng và rạng ngời, là cội nguồn tối hậu của tất cả mọi cấp bậc tri thức...
(Xem: 632)
Chánh Pháp là gì? Phật Pháp được chia thành ba thời kỳthời Chánh Pháp, thời Tượng Pháp, và thời Mạt Pháp.
(Xem: 1090)
Ông trị vì từ năm 269 TCN đến năm 232 TCN thuộc đời thứ 3 của triều đại Maurya. Đế chế của ông rộng lớn gần như tất cả tiểu lục địa Ấn Độ trãi dài từ Đông sang Tây.
(Xem: 758)
Trong Kinh Kim Cang, Phật dạy có 4 tướng: “Ngã – Nhân – Chúng Sanh – Thọ Giả”. Khi còn phàm phu, chấp thân này là thật là bền vững,
(Xem: 747)
Đạo Phật đang phát triển rộng rãi đến nhiều tầng lớp. Rất nhiều các bậc tri thức, các nhà khoa học chân chính, đến cả những người ...
(Xem: 1388)
Kiếp sống của mỗi con người sinh ra ở thế giới Ta Bà này, dù thọ mạngdài hay ngắn, nhìn chung có thể phân chia làm nhiều giai đoạn.
(Xem: 894)
Kể từ thời điểm Phật giáo khai sinh và nở hoa khắp mọi miềnthế giới, hễ mỗi khi nói đến hình ảnh một vị Phật xuất hiện trong tương lai,
(Xem: 630)
Phép luyện tập thiền định được hỗ trợ bởi sự thực thi các hành động vị tha, các hành động đó đồng thời cũng được thúc đẩy bởi tình thương yêu và lòng từ bi.
(Xem: 525)
Nếu đủ sức duy trì một cách đúng đắn sự nhận biết tâm thức thần bí nhất thì kết quả mang lại từ phép luyện tập đó sẽ trợ lực các bạn rất nhiều
(Xem: 687)
Thời-không vũ trụ chứa hàng triệu, tỉ, hàng ức cho đến không máy móc nào đếm hằng hà sa số hành tinh như trái đất mới biết con ngườimột sinh thể gần như bằng không.
(Xem: 835)
Trong các bài kinh thuộc hệ A Hàm hay kinh Đại Bát Niết Bàn v.v… Phật có nói đến địa ngục. Đề Bà Đạt Đa, Tì kheo Thiện Tinh, vua Lưu Ly v.v… đều đọa vào địa ngục ngay khi chết.
(Xem: 622)
Xét về niên đại, bản kinh có mặt ở thời Hậu Hán (23-220), xuất hiện trong Cao Tăng Truyện quahành trạng của ngài Nhiếp-ma-đằng (攝摩騰)[2].
(Xem: 579)
Thể dạng lắng sâu thường xuyên bên trong tâm thức thần bí nhất chỉ có thể thực hiện được với những người có một khả năng thật bén nhạy.
(Xem: 1324)
Bài viết này sẽ khảo sát một số thắc mắc thường gặp về Thiền Tông, hy vọng sẽ tiện dụng cho một số độc giả còn nhiều nghi vấn.
(Xem: 910)
Thức Thứ Tám hay A Lại Ya là thức chủ trong 8 thức. Thức nầy có nhiều cách gọi khác nhau để chỉ về nhiệm vụ của mình. Tựu chung thức nầy có 3 việc chính là: Năng tàng, Sở tàng và Ngã ái chấp tàng.
(Xem: 969)
Khi còn vướng mắc trong sự tạo tác triền miên của khái niệm, chẳng hạn như suy nghĩ về cái đúng, cái sai, v.v. , thì các bạn sẽ không thể nào bước vào con đường tu tập về
(Xem: 885)
Học phái dịch thuật xưa của Phật giáo Tây Tạng đưa ra nhiều cách luyện tập dựa vào các phương pháp khác biệt nhau, gọi là các "cỗ xe"/thừa.
(Xem: 1781)
Thần tài trong Phật giáo, cụ thểPhật giáo Bắc truyền đã vay mượn giữa hình ảnh Bố Đại hòa thượng và các truyền thuyết về thần tài Trung Hoa, để tổng hòa nên một vị thần tài có nguồn gốc ngoài Phật giáo.
(Xem: 1366)
Thời Đức Phật tại thế, Ấn Độít nhất mười sáu tiểu vương quốc, mỗi vương quốc đều có ngôn ngữ hay phương ngữ riêng, nhưng có lẽ người dân của mỗi nước đều có thể giao tiếp và hiểu nhau được.
(Xem: 904)
Trong các kinh sách thừa hưởng từ [Phật giáo] Ấn Độ thì nguyên tắc căn bản đó lúc thì được gọi là "tâm thức tự tại
(Xem: 1498)
Kinh Hoa Nghiêm tiếng Sanskrit là Avatamsaka, tiếng Nhật là Kégon Kyo. Kinh nầy bằng tiếng Sanskrit do Bồ Tát Long Tho (Nagarjuna) soạn vào khoảng thế kỷ thứ 2 Tây Lịch.
(Xem: 938)
Con người muốn có cuộc sống an lạchạnh phúc, cần phải tu nhơn tạo phước, chứ không phải chỉ cầu nguyện...
(Xem: 916)
Phát huy sự chú tâm đúng đắn hướng vào một điểm nhằm mục đích gì? Việc luyện tập đó không nhất thiết là chỉ để giúp tâm thức đạt được một mức độ tập trung thật cao...
(Xem: 1321)
Đức Đạt Lai Lạt Ma Nói Về Phật Giáo Ứng Dụng - Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 1302)
A Dục, Asoka (Sanskrit). Khi đức Phật Thích ra đời, Vua A Dục là một đứa trẻ, trong lúc đang chơi đức Phật đi ngang qua, đứa trẻ đem cát mà coi như cơm cúng dường đức Phật...
(Xem: 1451)
Hàng ngày các Phật tử có thể “Xưng danh hiệu” hay “Niệm danh hiệu” của chư Phật, tức là đọc tên của chư Phật và tưởng nhớ đến các ngài.
(Xem: 1105)
Trong Phật giáo, giải thoát hay thoát khỏi luân hồi là một đề tài vô cùng lớn lao. Ngay cả những người Phật tử đã học qua giáo lý, cũng mường tượng sự giải thoát như ...
(Xem: 1194)
Như Lai có thể diễn tả những gì Ngài muốn bằng bất kỳ ngôn ngữ nào
(Xem: 1222)
Thuật Ngữ nầy có liên hệ đến rất nhiều Thuật Ngữ khác trong Kinh Điển Phật Giáo như: Thủy Giác, Chân Như, Như Lai Tạng, Pháp Tánh, Pháp Giới, Niết Bàn, Pháp Thân, Phật Tánh, Giải Thoát Thực Chất, Toàn Giác v.v…
(Xem: 866)
Chánh pháp của Đức Phật hay Đạo Phật được tồn tại lâu dài, đem lại hạnh phúc an lạc cho chúng sanh, chư thiênloài người.
(Xem: 838)
“Đạo Phật nhấn mạnhtu tập giúp chúng ta loại bỏ những tà kiến, chứ không phải là nơi tập hợp các hí luận”.
(Xem: 843)
Kinh Niệm Xứ (satipaṭṭhānasutta) là kinh thu gọn của Kinh Đại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhānasutta). Kinh này là một kinh rất quan trọng trong việc giải thích cách thực hành bốn phép quán
Quảng Cáo Bảo Trợ