Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
15,178,498
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250

Cái Thấy

11 Tháng Mười 201607:43(Xem: 2673)
Cái Thấy

CÁI THẤY

Nguyễn Thế Đăng 

Cái Thấy

 

“Nói kinh Đại thừa vô lượng nghĩa xong, Đức Phật ngồi kiết già nhập trong định ‘Vô lượng nghĩa xứ’, thân tâm chẳng động.

Bấy giờ, Đức Phật nơi tướng lông trắng giữa hai lông mày, phóng ánh sáng chiếu khắp cả một vạn tám ngàn thế giới phương Đông, dưới đến địa ngục A-tỳ, trên đến trời Sắc Cứu Cánh. Chúng ở thế giới này đều thấy sáu loài chúng sanh ở các cõi kia”.  (Phẩm Tựa, kinh Pháp Hoa).

Ánh sáng chiếu khắp này là ánh sáng của Phật tánh. Ánh sáng ấy khiến tất cả “thông làm một cõi nước Phật” (Phẩm Hiện Bửu tháp, kinh Pháp Hoa). “Chúng ở thế giới này đều thấy sáu loài chúng sanh ở các cõi kia”, đều thấy tức là ai cũng thấy, ai cũng có và cũng ở trong ánh sáng của Phật tánh này. Chúng sanh đều có ánh sáng của Phật tánh này nhưng chưa biểu hiện ra được. Đức Phật đã chứng đắc hoàn toàn ánh sáng Phật tánh , nên biểu lộ ra để khai thị cho chúng sanh ngộ nhập cái vốn có sẵn nơi mỗi người.

“Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”, nên tất cả chúng sanh đều có ánh sáng Phật tánh, đều ở trong ánh sáng ấy, nên chúng sanhthế giới này đều thấy sáu loài chúng sanh ở các cõi kia. Trong ánh sáng Phật tánh này, tất cả các cõi và chúng sanh thông làm một.

Đức Phật phóng ánh sáng chiếu khắp cả để hiển bày Trí như tấm gương sáng tròn lớn (Đại viên cảnh trí), tức là Phật tánh sáng khắp. mà chúng sanh chúng ta ai cũng có và sống ở trong đó. Trong tấm gương sáng ấy, các cái được thấy, các bóng trong gương và các người thấy đều thông nhau “làm một cõi nước Phật”, làm một với tấm gương. Cho nên thấy không chỉ là các bóng trong gương , mà phải thấy chính tấm gương, nói theo kinh Pháp Hoa, là thấy “thật tướng của tất cả các pháp”.

Trong Phật tánh tròn sáng hay Trí như tấm gương sáng tròn lớn này, tất cả thông làm một, tất cả đều bình đẳng vì đồng một tánh, đây là Bình đẳng tánh trí. Các hình bóng khác nhau hiện ra, nhưng cùng nằm trong một nền tảng, một bản tánh là tấm gương, trí nhìn thấy sự khác biệt nhưng không khác biệt là Diệu quan sát trí. Cuối cùng là sự hoạt động, sự thành tựu công việc trong thế giới khác biệt mà không khác biệt là Thành sở tác trí.

Phóng ánh sáng lớn thông làm một cõi nước Phật, tấm gương sáng tròn lớn này là Nền tảng chung, Bản tánh chung của chư Phật, chư Bồ-tát và của tất cả chúng sanh. Nền tảng ấy là Pháp thân, là Phật tánh, là Như Lai tạng… Thực hành là thấy trực tiếp nền tảng ấy, và nhập sâu vào cho đến khi tấm gương sáng ấy mở khắp đến vô biên, ánh sáng tròn đầy viên mãn và gồm chứa cả ba trí kia.

Kinh nói trong đoạn kế tiếp:

“Lại thấy chư Phật ở các cõi kia và nghe chư Phật ấy thuyết kinh pháp. Cũng thấy các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Cư sĩ nam, Cư sĩ nữ, những người tu hành đắc đạo ở các cõi kia.

Lại thấy các Đại Bồ-tát, dùng thảy thảy nhân duyên, thảy thảy tín giải, thảy thảy tướng mạo, hành bồ-tát đạo. Lại thấy các Đức Phật nhập Niết-bàn, các đệ tử lấy xá-lợi Phật dựng tháp bảy báu”.

Trong tấm gương tròn sáng ấy có đủ chúng sanh sáu cõi, bốn chúng, cho đến các Đại Bồ-tát, chư Phật. Thấy các Đại Bồ-tát đang hành Bồ-tát đạo, nghe chư Phật đang thuyết pháp, đây là cái thấy hiện tại. Thấy các Đức Phật đã nhập Niết-bàn, các đệ tử xây tháp bảy báu để cất giữ xá-lợi, đây là cái thấy về quá khứ. Trong tấm gương ấy chỉ có một vị hiện tại trùm khắp, tất cả quá khứ hiện tại tương lai đều ở trong đó.

Thấy sáu loài chúng sanh ở các cõi kia, chư Phật thuyết pháp, các Đại Bồ-tát hành Bồ-tát hạnh…, cái thấy như tấm gương tròn sáng này bao gồm trong nó tất cả không gian. Thấy các Đức Phật đã nhập diệt, cái thấy ấy bao gồm trong nó tất cả thời gian. Tóm lại tất cả không gian thời gian, tất cả vũ trụ đều in hình trong tấm gương tròn sáng  cũng là “thật tướng của tất cả các pháp”. Cái thấy như tấm gương tròn sáng ấy là của chung, từ chúng sanh cho đến chư Phật, có điều chúng sanh thì vì phiền não chướngsở tri chướng do mình tự tạo nên bị che lấp hoặc chỉ thấy được ít phần.

Cái thấy ấy, mà Duy thức tông gọi là Đại viên cảnh trí, kinh Lăng-già gọi là Viên thành thật tánh, Kinh Lăng Nghiêm gọi là tánh thấy, thông tất cả không gianthời gian làm một. Đây là cái thấy vẫn tiềm ẩn nơi mỗi chúng sanh, cho nên kinh Pháp Hoa khai thị cho chúng ta ngộ nhập cái thấy “thật tướng của tất cả các pháp” này.

Cái thấy ấy là vô ngại: “…ở thế giới này đều thấy sáu loài chúng sanh ở các cõi kia”; không có trung tâm vì “…tất cả đều thấy…”; không phân biệt các tướng khác nhau vì “ánh sáng lớn” thì chiếu sáng đồng đều khắp cả, “…từ địa ngục A-tỳ đến trời Sắc Cứu Cánh”; không có điểm quy chiếu, nên đó là cái thấy khách quan, không trụ chấp, thiên lệch. Tóm lại, đó là cái thấy thật tướng của tất cả các pháp. Các pháp xuất hiện từ thật tướng đó và tiêu tan trong thật tướng đó.

Sự tin hiểu Pháp Hoa là tin và hiểu rằng chúng sanh chúng ta luôn luôn ở trong cái thấy thấu suốt trùm khắp vô ngại ấy, luôn luôn ở trong ánh sáng của “thật tướng của tất cả các pháp”, tức là tấm gương tròn sáng này. Trong tấm gương tròn sáng này, chúng ta học tập thấy theo Bồ-tát Di-lặc, thấy tất cả các bóng đều là tấm gương, nói cách khác, thấy tất cả tướng là tánh,

Thấy sáu nẻo sanh tử luân hồi đồng một màu sắc vàng, đồng một vị Phật tánh:

Ánh sáng chặng mày

Soi suốt phương Đông

Vạn tám ngàn cõi

Đều như sắc vàng.

Từ ngục A-tỳ

Đến trời Hữu đảnh

Trong thế giới ấy

Sáu loài chúng sanh

Các nẻo sanh tử

Nghiệp duyên thiện ác

Thọ báo tốt xấu

Ở đây đều thấy...

Thấy chư Phật và hoạt động độ sanh của các Ngài:

Lại thấy chư Phật

Thánh chúa Sư tử

Diễn nói kinh điển

Vi diệu đệ nhất…

Thấy các Bồ-tát đang hành Bồ-tát hạnh:

Thưa ngài Văn-thù

Tôi ở tại đây

Thấy nghe như vậy

Ngàn ức sự việc

Như thế rất nhiều

Nay lược nói ra:

Tôi thấy cõi kia

Hằng sa Bồ-tát

Thảy thảy nhân duyên

Mà cầu Phật đạo.

Hoặc hành bố thí

Vàng bạc san hô

Vui vẻ bố thí

Hồi hướng Phật đạo…

Tôi thấy các vua

Qua đến chỗ Phật

Hỏi đạo vô thượng

Bèn bỏ nước vui

Cung điện thần thiếp

Cạo sạch râu tóc

Mả mặc y pháp.

Hoặc thấy Bồ-tát

Hiện làm Tỳ-kheo

Một mình yên tịnh

Vui tụng kinh điển

Lại thấy Bồ-tát

Dũng mãnh tinh tấn

Vào nơi núi sâu

Tư duy Phật đạo…

Lại thấy Bồ-tát

Ở rừng phóng quang

Cứu khổ địa ngục

Khiến vào Phật đạo.

Lại thấy Phật tử

Chưa từng ngủ nghỉ

Kinh hành trong rừng

Siêng cầu Phật đạo…

Lại có Bồ-tát

Giảng pháp tịch diệt

Thảy thảy lời dạy

Vô số chúng sanh.

Hoặc thấy Bồ-tát

Quán tánh các pháp

Không có hai tướng

Giống như hư không…

Đây là cái thấy tất cả phàm thánh đang làm Phật sự , đang hành hạnh Bồ-tát để siêng cầu Phật đạo, và tất cả những hoạt động ấy đều nằm trong chính Phật đạo, trong chính Phật tánh. Cái thấy này thấy tất cả đều thanh tịnh vì tất cả đều đang hoạt động trong Phật pháp hay trong Pháp thân Phật.

Cái thấy này là sự hợp nhất của trí huệtừ bi, nghĩa là mở rộng khắp vũ trụ đồng thời thông tất cả làm một.

“Ở đây” và “tại đây”, cái thấy phổ quát ấy (Bồ-tát Phổ Nhãn, kinh Viên Giác) hiện có ở đây và lúc này. Tin Pháp Hoa là tin hiện giờ và tại đây chúng ta đang ở trong cái thấy ấy. Và học Pháp Hoa là học cái thấy này. 

 Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 251

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 16)
Ấn-độ là một bán đảo lớn ở phía Nam Châu Á. Phía Đông-Nam giáp với Ấn-độ dương (Indian Ocean), phía Tây-Nam giáp với biển Á-rập ( Arabian Sea).
(Xem: 88)
Nguyên bản: The Inner Structure, Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D., Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 240)
Thái tử Siddharta Gautama là người đầu tiên đã nghĩ rằng Ngài đã đạt được Giác ngộ. Ngài đã trở thành vị Phật lịch sử. Rồi Ngài đã đem những điều mình giác ngộ mà giáo hoá cho chúng sanh.
(Xem: 150)
Căn Bản Hành Thiền - Bình Anson biên dịch 2018
(Xem: 100)
Luận Duy thức tam thập tụng này được viết với mục đích khiến cho những ai có sự mê lầm ở trong nhân vô ngã và pháp vô ngã mà phát sinh ...
(Xem: 86)
Ba địa mỗi địa mười, Năm phiền não, năm kiến, Năm xúc, năm căn, pháp, Sáu: sáu thân tương ưng.
(Xem: 112)
Bất cứ sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại;thuộc nội phần hay ngoại phần, thô hay tế, hạ liệt hay thắng diệu, xa hay gần, mà dồn chung lại, tổng hợp thành một khối. Gọi chung là sắc uẩn.
(Xem: 92)
Kính lễ Nhất thiết trí, Vầng Phật nhật vô cấu, Lời sáng phá tâm ám Nơi nhân thiên, ác thú.
(Xem: 165)
Trong cách nghĩ truyền thống, Tứ Thánh đế (Cattāri Ariyasaccāni) được xem là bài pháp đầu tiên khi Đức Phật chuyển pháp luân độ năm anh em Kiều-trần-như.
(Xem: 185)
Suốt kinh Pháp hội Pháp giới Thể tánh Vô phân biệt, Bồ tát Văn-thù-sư-lợi là người thuyết pháp chính, Đức Phật chỉ ấn khả và thọ ký...
(Xem: 143)
An cư” là từ không còn xa lạ đối với tín đồ Phật giáo; tuy nó không có nghĩa “an cư lạc nghiệp” của đạo Nho, nhưng khía cạnh nào đó, “lạc nghiệp” mang nghĩa...
(Xem: 222)
Trung luận, còn gọi là Trung quán luận, bốn quyển, Bồ-tát Long Thọ trước tác kệ tụng, ngài Thanh Mục làm Thích luận, được dịch ra chữ Hán ...
(Xem: 291)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào?
(Xem: 514)
Trước tiên là về duyên khởi của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Theo truyền thuyết, Kinh này được Phật giảng vào lúc cuối đời, được kết tập trong khoảng năm 200.
(Xem: 243)
Phật và chúng sinh thật ra vẫn đồng một thể tánh chơn tâm, nhưng chư Phật đã hoàn toàn giác ngộ được thể tánh ấy.
(Xem: 653)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào? Phát Bồ-Đề Tâm phải học theo những Kinh, Luận nào?
(Xem: 294)
Cúng dườngnuôi dưỡng khiến Tam Bảo hằng còn ở đời. Tất cả những sự bảo bọc giúp đỡ gìn giữ để Tam Bảo thường còn đều gọi là cúng dường.
(Xem: 342)
Bốn cấp độ thiền định hay tứ thiền là bốn mức thiền khi hành giả thực hành thiền có thể đạt được.
(Xem: 327)
Một bào thai sở dĩ có mặt trên cuộc đời này ngoài yếu tố chính là do cha mẹ sinh ra, còn là kết quả của một tiến trình không đơn giản.
(Xem: 248)
Đạo Phật là nguồn sống và lẽ sống của con người, là cương lĩnh cho nhân thế. Với sứ mạng thiêng liêng cao đẹp ấy, đạo Phật không xa lìa thực thể khổ đau của con người.
(Xem: 396)
Mục đích của Đạo Phậtdiệt khổ và đem vui cho mọi loài, nhưng phải là người có trí mới biết được con đường đưa đến an lạchạnh phúc
(Xem: 303)
Người ta thường nói đạo Phật là đạo của từ bitrí tuệ. Đối với nhiều người Phật tử, từ bi là quan trọng hơn cả, và nếu khôngtừ bi thì không có đạo Phật.
(Xem: 455)
Các nhà khảo cổ đang nghiên cứu tại Nepal đã phát hiện bằng chứng về một kiến trúc tại nơi sinh ra Đức Phật có niên đại thế kỷ thứ 6 trước công nguyên.
(Xem: 461)
Theo Đức Phật, tất cả những vật hiện hữu đều biến chuyển không ngừng. Sự biến chuyển này thì vô thuỷ vô chung. Nguồn gốc của vũ trụ không do một Đấng Sáng tạo (Creator God) tạo ra.
(Xem: 467)
Đức Phật đản sanh vào năm 624 trước Công nguyên. Theo lý giải của Phật Giáo Nam Tông thì Đức Phật sanh ngày Rằm tháng Tư Âm lịch.
(Xem: 509)
Nếu bạn say mê đọc kinh Phật, ưa thích những phân tích kỹ càng về giáo điển, muốn tìm hiểu các chuyện xảy ra thời Đức Phật đi giảng dạy nơi này và nơi kia, hiển nhiên đây là một tác giả bạn không thể bỏ qua
(Xem: 353)
Tánh Không là một trong những khái niệm quan trọng và khó thấu triệt nhất trong giáo lý Phật giáo Đại thừa.
(Xem: 531)
Nguyên bản: Meditating while dying; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 581)
Ba Mươi Hai Cách ứng hiện của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Bởi vì Quan Thế Âm Bồ Tát đồng một Sức Từ với đức Phật Như Lai cho nên ngài ứng hiện ra 32 thân, vào các quốc độđộ thoát chúng sanh
(Xem: 468)
Thể tánh của tâm là pháp giới thể tánh, bởi vì nếu không như vậy thì tâm không bao giờ có thể hiểu biết, chứng ngộ pháp giới thể tánh.
(Xem: 378)
Trong kinh tạng Nikāya, khái niệm con đường độc nhất (ekāyana magga) là một khái niệm thu hút nhiều sự quan tâm của học giới từ phương Tây cho đến phương Đông
(Xem: 346)
Thuật ngữ pháp (dharma, có căn động tự là dhṛ có nghĩa là “duy trì, nắm giữ”; Pāli: dhamma; Tây Tạng: chos) mang nhiều ý nghĩa và ...
(Xem: 383)
Trì danh là pháp tu Tịnh Độ phổ thông nhứt hiện nay. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm, có Mười cách trì danh khác nhau
(Xem: 407)
Phật dạy tất cả pháp hữu vi đều là vô thường sanh diệt không bền vững, như vậy thìthế gian cái gì có tạo tác có biến đổi đều là vô bền chắc.
(Xem: 492)
Nguyên bản: Removing obstacles to a favorable death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 449)
Mối liên hệ giữa hình thức sớm nhất của Phật giáo và những truyền thống khác mà chúng đã phát triển về sau là một vấn đề luôn tái diễn trong lịch sử tư tưởngPhật giáo.
(Xem: 602)
Nghiệp và Luân hồi là hai ý niệm đã có trong Ấn độ giáo, được giảng giải trong các Kinh Veda và Upanishad vào khoảng 1500 năm trước CN.
(Xem: 9054)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 977)
Mục tiêu cao cả của đạo Phật là dạy con người tu tập để thoát khổ, giác ngộgiải thoát.
(Xem: 415)
Phật giáo du nhập Nhật Bản vào thế kỷ thứ VI, sau đó trải qua thời kì Nara (710~785), thời kì Heian (794~1192) cho đến thời kì Kamakura (1192~1380), trước sau khoảng 700 năm, rồi phát sinh rất nhiều tông phái.
(Xem: 502)
Tổ Quy Sơn dặn: “Nói ra lời nào phải liên hệ với kinh điển. Đàm luận gì, phải xét lại lời người xưa”.
(Xem: 399)
Nhiều học giả phân vân là làm thế nào và tại sao những nhà Đại chúng bộ (Mahāsāṅghika) đã hình thành nên khái niệm về một Đức Phật siêu việt...
(Xem: 583)
Hoa Sen Diệu Phápgiáo pháp được thuyết giảng trong Kinh Pháp Hoa. Quang Trạch giải thích Diệu Pháp là nhân của đạo Nhất Thừa, là quả của đạo Nhất Thừa.
(Xem: 371)
Con người sống qui tụ lại thành một xã hội, và phát triển tập thể này rộng lớn dần dần thành một quốc gia.
(Xem: 1568)
Trước khi xác định Phật Giáo như là một hệ thống tư tưởng triết học (Buddhism as a philosophy) hay như là một tôn giáo (Buddhism as a religion), chúng ta sẽ tìm hiểu triết học là gì ? và Phật giáo là gì ?
(Xem: 512)
Lục độ Ba-la-mật-đa/ Sáu phương pháp tu Ba-la-mật-đa (Six Paramitas) là 6 pháp tu để giải trừ các khổ ách của Đại thừa Phật giáo.
(Xem: 514)
Theo quan điểm của Đại hoàn thiện thì ánh sáng trong suốt hiển hiện một cách tự nhiên và được gọi là "hoàn-toàn-tốt"
(Xem: 664)
Đức Phật ra đời vào năm 624 trước tây lịch tại nước Ấn Độ. Ngài thuyết pháp 49 năm. Phật giáo đã trở thành quốc giáo, vì các vua, các quan và dân chúng đa phần đều theo đạo Phật.
(Xem: 696)
Y Kinh Kinh Cang Bát Nhã Ba La Mật: Đức Thế Tôn Như Lai hỏi ngài Tu Bồ Đề: Như Lainhục nhãn không? Ngài Tu Bồ Đề thưa:
(Xem: 1563)
Cuốn sách “Luân Hồi trong Lăng Kính Lăng Nghiêm” được ra mắt cách đây 9 năm (2008), in lần thứ hai, ba và tư vào năm 2012, 2014 & 2016 tại Nhà xuất bản Phương Đông, và năm nay (2018) cũng tại NXB Hồng Đức
(Xem: 996)
điều chắc chắn là làm người, ai cũng có ý thức về tội lỗi. Điều này là không đúng, điều này là không tốt, điều này là không đẹp.
(Xem: 639)
Tựa đề của khảo luận này phát xuất từ tồn nghi của một pháp hữu trong khi dịch lại bản kinh Tập (Sutta Nipāta) ở văn hệ Nikāya.
(Xem: 1097)
Khái niệm ‘nghiệp’, thật ra, đã có mặt trong văn học Bà-la-môn giáo từ rất lâu trước khi Đức Phật xuất hiện ở đời.
(Xem: 607)
Vũ trụ, con người hình thành như thế nào và tương lai sẽ ra sao? Câu hỏi chưa bao giờ được xếp lại. Khoa học lượng tử luôn tiên phong...
(Xem: 597)
rong lịch sử tư tưởng Ấn-độ, thuyết Trung đạo đã mang lại cho tư tưởng giới đương thời một không khí hoạt bát[1].
(Xem: 740)
Bản chất của ánh sáng trong suốt, mang tính cách nền tảng và rạng ngời, là cội nguồn tối hậu của tất cả mọi cấp bậc tri thức...
(Xem: 884)
Chánh Pháp là gì? Phật Pháp được chia thành ba thời kỳthời Chánh Pháp, thời Tượng Pháp, và thời Mạt Pháp.
(Xem: 1242)
Ông trị vì từ năm 269 TCN đến năm 232 TCN thuộc đời thứ 3 của triều đại Maurya. Đế chế của ông rộng lớn gần như tất cả tiểu lục địa Ấn Độ trãi dài từ Đông sang Tây.
(Xem: 952)
Trong Kinh Kim Cang, Phật dạy có 4 tướng: “Ngã – Nhân – Chúng Sanh – Thọ Giả”. Khi còn phàm phu, chấp thân này là thật là bền vững,
Quảng Cáo Bảo Trợ