Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
15,162,786
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250

Niệm Phật Tâm Muội và Tọa Thiền Dụng Tâm

12 Tháng Mười 201621:11(Xem: 6778)
Niệm Phật Tâm Muội và Tọa Thiền Dụng Tâm Ký

PHẬT GIÁOTHIỀN TÔNG

TU TẬP

 

 NIỆM PHẬT TAM MUỘI

 Hòa Thượng: Hư Vân

Sa môn: Hiển Chơn dịch

 

TỌA THIỀN DỤNG TÂM

Viên Minh Quốc Sư

Hòa Thượng: Thích Thanh Từ dịch


Kính Dâng

 

Bổn – Sư, Pháp Hiệu Lê Khánh Hòa

Là người đề xướng chấn hưng Phật giáo trước tiênViệt Nam vào năm 1924- đến năm 1929 ra tờ tạp chí  Pháp – Âm, và thỉnh 3 tạng kinh lập trường Phật – học.

Năm 1930 Thành lập nam kỳ nghiên cứu Phật- học. Hội ra tờ Từ Bi Âm. (Cơ sở này, nay còn tại số 149 đường Cô Giang Sài gòn, hội ấy cải tên là: Linh- Sơn nghiên cứu Hội, chổ tàng trữ 3 tạng Kinh tên: Pháp Bảo Phương, Trường Phật học nay là nhà in Việt Nam một sở với chùa Linh- Sơn)

Ban trị Sự và Bộ Biên Tập (Lâm thời năm 1929)

1.) Cụ Lê Khánh Hòa, chủ nhiệm kiêm quản lý.

2.)  Cụ Huệ- Quang

3.)  Sư Thiện- Chiến

4.) Sư Chơn- Huệ

5.) Hòa Thượng Từ Nhẫn

6.) Hòa Thượng Bích- Liên

7.) Cư Sĩ Ngô- Văn- Chương.

Ghi ơn những vị hảo tâm giúp tiền lập hội, Phật học, và Phật học Trường đầu tiên:

(Nam kỳ nghiên cứu Phật học Hội)

1.) Cụ Khánh- Hòa (Như- Trí) bán chùa Chánh Điện Tuyên Linh lấy tiền lập Hội và Trường học.

2.)  Sư Cụ Huệ- Quang

3.)  Sư Cụ Từ Phong chùa Liên Trì (Bến Tre).

4.)  Sư Cụ Lê- Tâm- Quang chùa Viên- Giác (Bến Tre).

    (Ba Cụ này quyên trợ tài chánh)

5.)  Sư Cụ Chánh Thiền : Chùa Phi Lai cúng 300đ. (Châu Đốc)

6.) Sư Cụ Kim Huê cúng 60đ.

7.) Bà Ba:  Lê- Thị- Nghĩa cúng tiền vô trường học.

(Ba Tạng Kinh Tại Hội này do tiền của nhóm Cư Sĩ Trà Vinh cúng nay còn tại Pháp Bảo- Phương.)

ĐỆ-TỬ

HIỂN – CHƠN

 

LỜI NÓI ĐẦU

 

Niệm Phật Tam Muội Phương–Tiện và phương pháp tu Quán tưởng Niệm Phật. Quán tưởng niệm Phật từ nội Tâm cho đến ngoại cảnh, chẳng còn thấy có Chơn Vọng, khi ấy được thuần thục chứng nhập Chánh Định (Tam Muội) Cảnh Tịch tịnh hiện tiền. Như thế mới thực hiện được lý “Duy Tâm Tịnh-Độ, Tự Tánh Di Đà”.

Nên biết phương pháp niệm Phật Tam Muội nầy, thuộc về Thiền Quán, Đại thừa diệu lý. Khi tu phải thể hiện ngay đời sống hiện tại, để chứng thiền định giải thoát. (Chẳng giống như pháp xưng danh niệm Phật, để khi chết cầu vãng sanh về cõi Tịnh-Độ). Không phải như người ta tưởng ngoài tâm ra, mà cần có Phật và các Pháp v.v…

Bổn niệm Phật Tam Muội nầy, chia ra 14 tiết có ba điều:

(bổn tức là gốc, nguyên sơ vốn có)

Tóm tắt:

1.) Quán tưởngTam Muội bổn

2.) Niệm PhậtTam Muội Duyên

3.) Đoạn tuyệt vọng tưởng điên đảo là dứt chướng của Tam Muội.

Trước khi chúng ta muốn gia công tu tập, cần phải xem rõ các tiết mạch. Như thế trên đường tu-tập khỏi sợ sai lạc.

Tóm lại Pháp môn tu dù khó dễ thế nào đi nữa, ta cũng cần phải gia công bền chí, thời sự tu tập mới mong có kết quả được.

Trang sau, phụ thêm phương pháp niệm Phật Lục Diệu Môn (niệm Phật theo hơi thở ra vào mà đếm). Đây cũng là phương pháp buộc tâm trừ vọng tưởng. Nó cũng thuộc về phương pháp Thiền Quán. Chúng ta y theo đây mà tu hành, đến khi được tịnh định, minh tâm kiến tánh, giải thoát sanh tử luân hồi.

Hư Vân

THIỀN ĐƯỜNG KHAI THỊ

 

Chư vị thường-thời đến thỉnh chỉ dạy, khiến tôi cảm giác tự thẹn. Chư vị mỗi ngày bị tần khổ về các việc đời, mà cũng không làm mất, niệm đầu hành-đạo, ấy là tâm ân-cần vì đạo hiện tại khiến tôi cảm định!

Hư-Vân nầy hổ-thẹn vì không-đạo không-đức, nói không trên chỗ khai-thị, chỉ lượm lại mấy câu đàm dãi của các cổ-nhơn để đáp lại lời hỏi của quý vị vậy thôi.

Dụng công tu-tập là phương-pháp nhập môn (vào đạo). Phương pháp dụng công hành đạo có rất nhiều, nhưng nay chỉ ước lược như dưới đây.

Điều Kiện Tiên Quyết:

Chẳng luận là hạng người nào, nếu có tư-tưởng dụng công hành-đạo, thì trước hết phải luôn nhớ nghĩ những điều dưới đây:

1.) Thâm tín Nhân-Quả.

2.) Nghiêm Trì Giới Luật.

3.) Lòng Tin Kiên-Cố.

4.) Quyết Định Pháp Môn Tu Hành.

1) Thâm tín nhân-quả:

Nếu chẳng tin Nhân-Quả, mà làm càn v.v…chẳng cần nói: Hành-đạo thành công, hay chẳng thành.

Cổ-đức có nói: “Muốn biết nhân đời trước, ta hãy nhìn đời hiện tại của ta như thế nào? Muốn rõ đời sau thế nào: ta hãy nhìn lại cái nhân trong đời hiện tại, coi ta làm những gì ?”

Cổ-đức còn nói: “Giả sử, trăm ngàn kiếp ta đã tạo rồi, thì nghiệp-quả ấy chẳng mất: khi nào nhơn-duyên đủ thì quả báo phải tự thọ lấy chẳng sai.”

Kinh Lăng-Nghiêm nói: “Nhơn địa bất chơn quả chiêu du khúc” nghĩa là: chỗ tạo nghiệp-nhân không ngay thẳng, thì chịu cảm quả báo cong quẹo. cho nên trồng nhân lành, thì kết quả tốt; tạo nhơn dữ thì kết quả dữ; trồng dưa thì được dưa; trồng đậu thì ra đậu, đạo-lý nhân-quả rõ ràng như vậy.

2)         Nghiêm-Trì Giới-Luật:

Giới là nguồn gốc của đạo vô-thượng Bồ-đề (Phật-quả) Nhân Giới sanh Định; Nhân Định sanh Trí-Huệ. Nếu không trì giới mà tu-hành thì không có lý. Kinh Lăng-Nghiêm Lăng-Nghiêm nói: -“Bốn món thanh-tịnh dạy ta rõ ràng. Nếu không trì giới mà tu thiền-định (Tam-muội) thì trần lao không ra khỏi; dù có nhiều trí-huệ thiền-định hiền tiền cũng sa-lạc về tà ma ngoại đạo” Nên biết trì giớitrọng yếu của người tu-hành. Người tu-hành mà trì giới thì được Long-Thiên ủng hộtà ma ngoại đạo kính-sợ.

Người phá giới bị quỷ-thần khinh khi, kêu là giặc lớn trong nhà Phật, (phá nhà chánh pháp của Như-Lai).

Giới là căn bản để dứt trừ tội lỗingăn ngừa tam-nghiệp cho thanh-tịnh. Nếu thiếu giới luật thì đã đành bị luân hồi sanh-tử (vì tạo nhân phải trả quả mà còn làm cho thâm-tâm bị tán-loạn, làm sao tu thiền-định) ?...

Lục-Tổ nói: - “Tâm bình nào nhọc phải trì giới, hạnh trực đâu phải dụng tham thiền.”

Tôi xin được hỏi quý-vị: - Tâm đã bình, hạnh đã trực chưa ? Có hôm người đẹp lõa-thể đứng gần quý-vị, quý-vị có động tâm hay không ?...Và nếu vô cớ có ai đến nhục-mạ quý-vị, có thể không giận hờn hay không ?... Quý-vị có thể, không phân biệt kẻ thân người sơ và kẻ thương, người ghét, ngã nhân (người), thị phi chăng ?...

Tóm lại, nếu ai làm được hết những việc như đã kể trên mới nên cả tiếng nói: Chẳng cần trì-giới, như câu: “ Tâm bình nào nhọc trì-giới.v.v…” Nếu chưa được như vậy, xin phải trì-giới; chớ nên nói suông. Giới là làm nền tảng tu thiền-định. Nếu không giữ giới, thì tu thiền định chẳng thành công.

Giới có tại-gia, xuất-gia, đại-thừa, tiểu-thừa. Tại-gia có Ngũ-giới, và Bồ-tát tại gia. Xuất-gia giới có; Sa-Di, Tỳ-Kheo, Bồ-tát.

Đại-thừa giới như: Bồ-tát xuất-gia, tại gia đều có.

 Tiểu-thừa giới: từ ngũ-giới cho đến Tỳ-Kheo giới.

Tùy hoàn cảnh phát-tâm thọ-giới gì do ở chính mình phải học hiểu và thọ-trì.

3)Lòng Tin Kiên Cố

Dụng công hành đạo ta cần có một lòng tin kiên cố, Tin là mẹ đẻ các công-đức, chẳng luận là việc gì, nếu ta không tin, có làm đi nữa, việc ấy chẳng có kết quả mỹ-mãn. Chúng ta muốn thoát sanh-tử, cần yếu nhất là lòng tin phải kiên-cố.

Phật nói: “Tất cả chúng-sanh đều có trí-huệ đức-tướng Như-Lai, chỉ vì vọng-tưởng chấp trước, nên không chứng được.” Phật nói ra rất nhiều pháp-môn để tùy cơ đối trị tâm-bệnh của chúng-sanh. Chúng ta phải tin lời Phật chẳng luống dối, và tin chúng-sanh như ta có thể tu thành Phật; nhưng sở-dĩ chúng ta chưa thành Phật đều bởi thực-hành chưa đúng.

Thí dụ như: Có người chỉ cho ta biết, chính nhà ta có mỏ vàng, mà ta chưa có dụng-cụ và phương pháp đào và nấu lộc vàng, hơn nữa nếu có người chỉ dạy mà ta không thực hành đúng theo lời chỉ dẩn ấy; thử hỏi, ta có thể đem vàng ra khỏi mỏ được không ?...

Chúng ta tu-hành (tham-thiền hay niệm Phật) cũng thế. Nếu ta tin mà chẳng thực-hành cho trúng, và có thực-hành mà đức-tin chẳng kiên-cố bao giờ kết-quả tốt đẹp được ư ?...

Nếu ta tu-hành có lòng tin vững chắc, và thực-hành đúng phương-pháp, luôn luôn không thối lui, quyết định sẽ có ngày thành công.

Ông Vĩnh-Gia Thiền-sư nói: “Chứng thật-tướng không còn Nhơn, Pháp, trong giây lát diệt nghiệp A-tỳ, nếu đem lời dối gạt chúng-sanh, thì tự chịu lấy quả-báo, bị cắt lưỡi hằng sa kiếp.”

Ngài Vĩnh-Gia Thiền-Sư vì lòng từ-bi, nên thương chúng-sanh, phát lời thệ nguyện chứng minh lời chư Phật và Bồ-tát, lúc nào cũng chân thật, để tế độ chúng-sanh. Vì thế ta phải đặt đức tin vững-bền, luôn luôn; tin ta sẽ thực hành được, và lời Phật chân-thật.

4)Quyết Định Pháp Môn Tu Hành:

Lòng tin đầy đủ, ta cần chọn một pháp-môn nhất định để tu-trì, không nên sớm Tần, chiều Sở (ý nói đừng thay đổi) chẳng hạn pháp niệm Phật cũng tốt, trì-chú cũng tốt, tham-thiền cũng tốt, đều phải nhận định một pháp môn nào cho rõ ràng để ta tu trì; thực-hành đến đích không thối chuyển. Ngày nay chưa thành công, thì ngày mai, năm nay không thành còn năm tới.

Tổ Qui-Sơn nói:  “Mổi đời nếu ta tu hành không thối lui, bực Phật quyết định khả kỳ” Có lắm hạng người thực-hành pháp môn không nhất định: vì thiếu chủ-ý. Thí dụ như: Hôm nay nghe vị thiện tri-thức nào đó, nói: Pháp niệm Phật là hay, liền theo pháp niệm Phật; niệm Phật được vài ngày lại nghe vị nào đó, nói tu thiền hay lại theo tham-thiền; vài ngày lại chạy đông chạy tây v.v…

Một đời tu như thế, đến chết chưa có kết quả gì đáng kể. Bởi thế người tu-hành cần phải quyết định một pháp-môn nào duy nhất để tu-trì. Như thế mới mong có kết quả, chẳng uổng một đời tu-hành của chúng ta.

Hôm nay đã quyết định tu theo pháp niệm Phật Tam-muội, thệ-nguyện đến chết không lui, nếu ta chưa thành đạo quả.

 
NIỆM – PHẬT TAM – MUỘI

PHƯƠNG – TIỆN

 

                      

I. NHẬP THẤT

Kinh Pháp-Hoa nói;

“ Nhập Như-Lai thất- phục Như-Lai y, tọa Như-Lai tòa”.

  • Như-Lai thất, tức “ Đại Từ-Bi”
  • Như-Lai y, tức “Nhu-Hòa Nhẫn-Nhục”
  • Như-Lai tòa, tức “Nhất-thiết Pháp-Không”.

Nhập chúng sanh thất, là còn có ý tranh-danh trục-lợi, dầu tìm nơi thanh vắng, cũng không thể hàng phục vọng Tâm.

Lấy thân làm thất, thì phiền não càng ngày càng sanh. Lấy Tâm làm thất, mới thật là Vô tướng thất.

Niệm Phật, trước phải phát Tâm đại-từ-bi, xem chúng-sanh như một thể bình-đẳng cứu-độ, không để một chúng-sanh nào chẳng thành Phật, phương chi sát hại cho đành.

Nhập đại từ-bi thất, với Như-Lai đồng trụ nên đặng gần Phật.

Theo Tam học (1) gọi là Định. Đã Nhập thất phải dùng y-phục che thân. Bởi ta dùng mỹ phục, tâm mới loạn động. Nên lấy Tâm niệm làm y-phục, mới phá hết tất cả chướng ngại.

Gặp kẻ cường bạo ngăn, lấy nhu hòa điều phục;

Gặp kẻ khinh mạng ngăn, lấy nhẫn nhục đối đãi.

Nếu mặc được áo Như-Lai, nhu hòa nhẫn-nhục, thì tất cả ma-chướng trở thành món trợ-đạo. Tuy bao phen thiên ma bách chiếc (2) cũng không nao-núng.

Theo Tam-học gọi là giới. Đã nhập thất, phục y, phải có tọa.

Trong bốn oai-nghi, tọa với hành, trụ ngọa, nó cũng in nhau. Tuy tọa thiền kiết già mà không gián-đoạn, chỗ dụng công như thế là cùng, nên nói hành, trụ, tọa, ngọa, in nhau.

Phải quán tất cả các Pháp không, ngoài lục-trần không, tức trong lục-căn không. Lục căn chẳng trước nhiểm lục trần, tức sự , tranh-danh trục-lợi và tất cả trong thế gian, mổi việc thảy đều không.

Quán được nhứt-thiết pháp không, tức là tọa. Tuy có chỗ tọa, thật ra chẳng ly tọa, nên gọi là “vô-thượng thâm-diệu thiền”.

Theo Tam học gọi là Huệ.

Nhập thất Như-Lai, nguyện từ đây chẳng bỏ đại từ-bi.

Mặc áo Như-Lai, nguyện từ đây chẳng lìa nhu-hòa nhẫn-nhục .

Tọa cái tòa Như-Lai, nguyện từ đây niệm, niệm hằng quán nhứt-thiết pháp không.

Người hành-đạo tu theo giới-định-huệ, một lòng tinh-tấn chẳng thối, thì lúc bấy giờ thân ta cùng mười phương ba đời các Phật không hai, không khác.  Được vậy nhiên hậu dụng Tâm ấy niệm-Phật, mới nói Tâm ấy là Phật.Dùng Tâm ấy làm Phật Quán, mới gọi tâm ấy làm nên Phật. Đó là cơ sở của Pháp tu “niệm Phật Tam-Muội”. Thế là rốt ráo.

 

Thích nghĩa:

(1)- Tam học,- tức Giới, Định, Huệ.

(2)- Thiên ma bách chiếc,- Ngàn lần mài, trăm lần dũa không sờn lòng.

 

II.- QUÁN NIỆM

Đoạn trên đã thành lập cơ-sở, song ta phải xem xét một niệm, do Tâm niệm hay miệng niệm. Nếu do miệng niệm, mà Tâm không khởi lấy gì có niệm?

Nếu nói do Tâm niệm, mà miệng không động, lấy gì có tiếng ? (1) Nên biết ban đầu do Tâm niệm rồi truyền ra miệng lưỡi, diêu- động thành tiếng, mới nên một niệm, lại quán niệm ấy, như nước với sóng, dầu muôn ngàn lượng sóng, mà tánh nước vẫn một. Thế thì Tâm niệm ấy tuy một niệm, mà đến muôn ngàn vạn niệm cũng là một .

Phương-chi, trong lúc niệm đó, là cái giả tướng của sắc Tâm liên tiếp vin theo thứ lớp.

Trong khi dùng một niệm so với một niệm ngàn muôn năm sau, hai lúc đó chẳng khác. Cái niệm trong ngàn muôn năm, tuy nhiều đến bất khả tư-nghì (2)song chẳng qua như sóng sanh ra vô số vô-lượng, dầu bao nhiêu tánh nước vẫn không thay đổi. Niệm số tuy nhiều, mà niệm sau không khác niệm trước, nên gọi muôn năm một niệm. Nếu tỏ  được muôn năm một niệm, mới rõ trong khi một tiếng niệm Phật dứt đặng tám mươi ưc kiếp sanh tử tội trọng, và mới biết từ bao nhiêu đời trước khởi sanh vọng-niệm đọa-lạc tam-đồ, cho đến ngày nay bao nhiêu số niệm Phật đến thành Phật đạo, đều chẳng lìa một niệm ban đầu.

Người tu đã tỏ thấu một niệm, phải trân trọng một niệm ấy, không phút nào gián đoạn thì công phu niệm Phật từ đây cho đến tận vị lai tế cũng chẳng dứt được, bởi niệm niệm nối luôn không còn gián-đoạn.

 

Thích nghĩa:

(1).- không phải bảo niệm ra tiếng, dầu ra tiếng cùng không ra tiếng, câu niệm Phật phải vận-thông cả toàn thân chỗ niệm cả. Nếu không vọng động, chỗ nào không phải câu niệm Phật.

(2).- một con số rất lớn không thể kể xiết.

 

III.- THIỆT TƯỚNG

Kinh Hoa-Nghiêm nói:

“ Nếu ai muốn rõ biết

Cả thảy Phật ba đời

Lại quán Pháp giới-tánh.

Gây việc bởi lòng người”.

Đã biết tam thế chư Phật do Tâm tạo, thì ngày nay đối với tất cả cảnh chẳng phải Phật, đều có thể làm quán Phật.

Chẳng hạn cảnh nào, bởi nó là giả hiện, vốn chẳng lìa tánh pháp-giới. Nếu nương theo tánh pháp-giới làm các phép quán, thì cảnh theo tâm mà biến đổi, không chổ nào chẳng đặng. Do phương-tiện ấy phàm như chổ thấy cũng không thấy của nhãn căn, đều có thể mượn làm tiếng niệm Phật, mà nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, và ý căn, đối với ngũ trần cũng đều có thể mượn làm tiếng niệm Phật.

Cho đến mượn cõi ta bà làm cực lạc. Lục đạo chúng-sanh làm chư thượng thiện-nhơn (1)

Các thứ liên trì, lầu các, thất bảo, thất trùng… Cũng tùy quán, tùy hiện. Tập lâu thuần thục, ta bà lần xa, Tịnh Độ càng gần. chỗ tiếp xúc lục căn xa lần lục trần, thế mới đúng với chổ nơi của Kinh Lăng-Nghiêm:

Nhiếp hết lục căn, tịnh niệm liền nối. Quán như thế trước đem (2) tịnh tướng thay, gọi là hữu tướng, sau uế tướng (3) đã dứt, thì tịnh tướng cũng không còn, tánh thể làu làu nên gọi là Vô-tướng.

Hơn nữa, vô-tướng cũng không, tịch quang (4) ứng-hiện nên kêu là thật-tướng.

Niệm Phật như thế ấy, mới gọi là tương-ưng (5) cùng Phật.

 

Thích nghĩa:

(1).- Chư Thượng Thiện Nhơn, như các Bồ-tát ,La-Hán.

(2).- Tướng sạch.

(3).- Uế-tướng: là tướng dơ.

(4).- Cái nhơn Tâm rất quang minh tịch-mịch.

(5).- tương ứng: là hiệp.

 

IV.- TÙY- HỶ

Phổ hiền bồ tát phát mười đại nguyện công-đức tùy hỷ đứng vào thứ năm. Phàm thấy người làm các công đức mà phát-tâm hoan-hỷ thì công-đức ấy ta cũng có phần trong đó, nên gọi là công đức tùy hỷ.

Ta niệm Phật hoặc khuyên người niệm Phật, hoặc nghe thấy người niệm Phậtphát tâm vui mừng khen ngợi đều có phần công đức-cả.

Nếu như có tiếng người niệm, mà chưa tất là tiếng niệm Phật (1) hoặc khởi sanh tiếng mắng nhiết ta, hoặc chẳng phải tiếng người, như điểu, thú, thủy, phong…làm cho ta vui hay buồn.

Đối với người chưa niệm Phật,ắt sanh các thứ chướng ngại. Ta nay niệm Phật nên xem tất cả tiếng của người và chẳng phải người ấy đều là tiếng niệm Phật, chẳng khởi sanh hào ly phân biệt, đây là lành, dữ, đó là người cùng chẳng phải người. Các tiếng ấy đều dùng làm tiếng giúp ta niệm Phật, thay ta niệm Phật, ta nên vui mừng tùy-hỷ.

Quán như thế ấy, mới lần lần vào chỗ đại-nguyện của Ngài Phổ-Hiền.

 

Thích nghĩa:

(1).- Tập niệm, hơn nữa, tiếng niệm Phật: kiêu ngạo, tiếng niệm dèm pha người tu.

 

V.-NIỆM - PHÁP

Niệm Pháp có nhiều phương pháp, tùy người thích hợp chọn lấy một pháp trong Kinh, chẳng nhứt định chừng lập ban châu tam-muội (1) hay tọa nhứt hạnh tam muội (2).

Làm như thế cho được đại-tấn rất khó, chi bằng hành tọa kim dụng tiện hơn gồm cả:

Kinh Di-Đà dạy trì danh-hiệu. Quán Kinh dạy các phép quán, vẫn có chỗ hay đều nên làm cả, hoặc trì danh-hiệu lại phổ-thông hơn.

Pháp trì danh hiệu, phải truy đỉnh (3) câu niệm Phật, phải lóng nghe câu niệm Phật. Hoặc là chỗ Tâm-ấn (4) của Bổn-Sư và chỗ Pháp-Sư nói thập niệm (5) thảy đều dể làm mà rất thiết yếu.

Kẻ sơ học vào trường kỳ nhập hạ dể sanh tánh cẩu thả, chẳng bằng trước hết hết một thất (7 ngày) sau hai ba thất rồi đến tháng đến năm tánh cẩu thả bớt lần. Song không luận kiết thất, trường kỳ, đều cốt yếu là phải làm thinh chớ có nói năng mà niệm khó thuần nhứt.

Giác-Minh Diệu-Hạnh Bồ-Tát nói:

“Nói ít một thoại đầu (6)

Niệm nhiều Phật một câu.

Nếu muốn Pháp- thân sống

Phải giết quách niệm đầu (7) Nếu chẳng khởi thoại thì chẳng niệm nhiều câu Phật, chẳng giết đặng niệm đầu, pháp thân há đặng sống sao?”

 

Thích nghĩa:

(1).- Ban châu tam muội. Tàu dịch là Phật lập. Trường hành đạo có ba nghĩa;

          1.- Phật oai lực.

          2.- Tam muội lực.

          3.- Bổn công đức lực.

Làm theo pháp này: 1.- khi khởi niệm.

                                 2.- Niệm gián đoạn mới có đầu câu niệm, nếu không thì bao nhiêu niệm cũng là một niệm, cho đều không còn cái một là gì. Chư Phật thường đều hiện tiền, như ban đêm trời thanh, thấy bao nhiêu ngôi sao sáng ánh.

Cách tu 90 năm làm một kỳ, thân thường hành, miệng thường tụng, tâm thường niệm lục tự Di Đà không phút nào dứt.

(2).- Nhứt hạnh Tam muội, Tâm cứ duy nhứt, chuyên tu một pháp chánh định, và một nghĩa nữa gồm đủ các công hạnh, từ khi phát Tâm đến thành Chánh Giác.

(3).- Truy đỉnh, hết sức tinh-tấn dõng mảnh, niệm một tiếng truy một tiếng, niệm một câu truy một câu, một mặt bước tới như gió cuốn mây tuôn, không cho gián đoạn, niệm cho phân minh, lóng nghe cho rành rẽ. Bao nhiêu tinh thần đều chú hết vô câu niệm Phật.

(4).- Tâm ấn: Khẫu truyền Tâm thọ, không chỉ nghe ở câu vâng, phải lấy tinh thần lãnh hội, rồi ghi gắn vào lòng.

(5).- Thập niệm là mười câu niệm Phật. Quán vô lượng thọ Kinh nói: Đủ 10 câu niệm 10 niệm lục tự Di Đà (khênh những 10 câu niệm, 10 vạn câu mà tập niệm cũng chẳng được ích gì).

(6).- Khi khởi niệm.

(7).- Niệm gián đoạn mới có đầu câu niệm, nếu không thì bao nhiêu niệm cũng là một niệm, cho đều không còn cái một là gì.

Chư Phật thảy đều hiện tiền, như ban đêm trời thanh, thấy bao nhiêu ngôi sao sáng ánh.

Cách tu 90 năm làm một kỳ, thân thường hành, miệng thường tụng, tâm thường niệm lục tự Di Đà không phút nào dứt.

 

VI.- SÁCH – TẤN

Biển khổ mênh-mông, đường đời mù mịt, thân giả hiệp nghĩ càng thêm chán, kiếp phù sinh trông thấy mà đau ! Thảm thay cho con người, sớm còn tối mất nay thạnh mai suy, rồi đây nấm đất vùi xương, sự nghiệp như mây tan bèo rã.

Thế mà người đời vẫn không nhàm chán còn một hơi thở cũng đeo đuổi đến cùng. Phương-chi ta đảm đương đại đạo xuất thế-gian, được thoát khỏi khổ căn, lẽ nào không gắn sức! Hoặc tu lâu sanh chán rồi ngã lòng, cho thế là nhọc nhằn phiền phức!

Ta nên nhớ đến sự thống khổ của chúng sanh, trong ba ngã, sáu đường, rất thê- thảm, vì đâu nông-nổi ấy? Ta nếu chẳng tinh tấn niệm Phật, quyết không thoát khỏi khổ đó, nếu mình chưa thoát khổ, khó mong cứu người.

Hãy phấn phát, hãy dõng mảnh. Đừng quản gì thân mạng, quyết cầu cho thấy Phật nghe Pháp, để tự-lợi lợi-tha.

 

VII.- BẤT- XẢ

Pháp tinh-tấn hữu-vi của thế-gian, đều có sanh có diệt, thì không thể nối nhau lâu dài, vì chẳng nối nên ngày nay niệm: hoặc khi khởi niệm từ tháng này năm nọ, song thế nào cũng có gián đoạn. Dụng công sơ-lược như thế thì Tâm cẩu thả dễ sanh.

Đức Khổng-Tử đứng đầu sông xem nước than rằng: “Trôi luôn như thế không trở lại, ngày đêm chẳng ngừng ư!”  Nay ta mượn cái dòng nước ngày đêm chẳng ngừng ấy mà quán. Hoặc mượn tiếng nước tuôn chẳng ngừng ấy dùng nối niệm của ta mà quán.

Nước tuôn chẳng ngừng là tại bản tánh của nó, hoặc có ngừng bởi đất đá ngăn. Thế thì cái niệm ấy chẳng dứt hoặc có dứt bởi vọng tưởng xen vào, song đất đá chỉ ngăn được tướng nước, mà tánh nước vẫn không ngăn.

Vọng tưởng chỉ dứt được tướng niệm Phật, mà tánh niệm Phật vẫn không dứt, cho nên niệm ấy hằng còn, Phật cũng chẳng dứt. Có niệm không niệm, Phật tự như như, vào ải, ra ải nào có nghĩ ngừng.

 

VIII.- HÀNG - MA

Trong thời kỳ tu niệm do chỗ  dụng công rất tốt, nên lần lần chóng phát Huệ-Tánh, một vẩy là nên thi kệ, lẹ như nước tuôn.

Sơn Đại-Sư nói: “ Cái bịnh thiền không nên phóng lúng nó, phải tưởng như hột châu đã chìm mất lâu đời, nay tuy tầm được nên thận trọng, chớ nên mừng.”

Dầu có làm thi kệ tuyệt diệu cũng nên im ẩn. hoặc khi thấy Phật tướng hảo quang- minh, không nên vui mừng, nên tưởng đó là chơn Tâm ứng hiện. Xem như bóng ở trong gương, gương lờ bóng ẩn, gương sáng bóng bày.

Không đủ cho là một sự hy-kỳ (1). Phàm thấy bao nhiêu cảnh giới cũng đều niệm tưởng: Pháp vốn bình đẳng, không có cao thấp.

Dùng Tâm bình thường mà xem, nên gọi Tâm bình thường là Đạo. Thế mới đủ sức hàng phục tất cả ma chướng. Vậy thì kệ kia chưa lấy gì làm đủ mà sanh ma ngã mạng cống-cao! Thấy tướng hảo quang-minh kia đem lòng hoan-hỷ, thì cuồng loạn mất chánh định, bởi ma hoan-hỷ xen vào, người tu niệm nên biết chổ ấy.

 

Thích nhĩa:

(1).- hy kỳ: là chuyện lạ, ít có. 

IX.- TRỊ - VỌNG

Niệm Phật không được nhất Tâm, là bởi vọng tưởng xen vào. Vọng-tưởng sanh bởi ngũ-căn đối ngũ-trần  làm nhiểu động ý-căn. Hoặc ý căn vọng động buột kéo ngũ-căn tuy không đối trần cũng do tưởng nghĩ.

Dứt vọng-tưởng phải đoạn ý-căn, đoạn ý-căn, trước phải dứt cái dụng của ngũ- căn. Như khi tưởng nghĩ, hoặc thấy sắc, liền tưởng nhãn-căn đã dứt, không nên xem sắc mà sa đắm, thì ý-căn cũng dứt liền theo đó, cho đến nhĩ-căn, tỉ-căn, thiệt-căn, thân-căn, cũng đều dứt cái dụng như thế, thì ý-căn chẳng sanh được.  Lại một phương tiện: Khi vọng tưởng sanh, liền tưởng thân này đã đến nơi Thất-Bảo Liên trì, niệm Phật. Niệm như thế đối với chơn lý tuy không ích gì, nhưng cũng có thể trị được ma vọng-tưởng.

 

X.- CHÁNH – NIỆM

Vọng- tưởng do chánh-niệm lưu chuyển mà ra, cho nên lìa chánh niệm thì không vọng-tưởng (1) bởi vọng tưởngchánh niệm.

Thế thì khi vọng tưởng sanh, chẳng cần trừ nó, chỉ biết nó là vọng tưởng, liền đề khởi chánh niệm, chánh niệm khởi, vọng tưởng tiêu không trừ nó cũng tự dứt.

Người tu nên quán vọng-tưởng  tự tánh vốn không, đặng không quán ấy, thì chẳng thấy Phật mà sanh ma phiền-não.

Chỉ bình thường niệm niệm nối nhau đừng sanh cái tướng thấy Phật, cũng đừng sanh cái tướng chẳng thấy Phật. Đó mới thật là chánh niệm.

 

XI.- THÍCH – NGHI

Nếu có khi cầu thấy Phật mà chẳng đặng thấy, thì chẳng nên sanh ưu-phiền vì chẳng thấy Phật. Bởi sao?

Tâm kinh nói:

“Sắc tức là không, không tức là sắc. Chỉ đặng cái tâm không, thấy cùng chẳng thấy nào có khác nhau”.

        Hoặc còn có nghi theo Kinh Kim-Cang

 nói:

“ Nếu dùng sắc thấy ta

Dùng âm điệu cầu ta

Người ấy cầu tà đạo”.

Hẳn không thấy đặng ta.

Như sợ cái niệm Phật, thấy Phật ấy là tà đạo, bởi sắc kiến, thanh cầu, thì nên tưởng sắc thanh đều không. Không ấy tức là Như-Lai.

Pháp thân Như-Lai ta chẳng nên nói dùng sắc thanh mà cầu thấy, cũng chẳng nên nói dùng sắc thanh cầu mà chẳng thấy.

Người tu Phật chẳng cầu thấy Phật, thì niệm niệm chẳng biết, mà  cầu thấy Phật là vọng tưởng (1), chỉ nên niệm cầu thấy, mà thật như chưa cầu, niệm niệm chẳng thấy, cũng không cái chẳng thấy.

 

Thích nghĩa

(1).- Phật tức chúng sanh, chúng sanh tức Phật. Chánh định với vọng tưởng cũng thế. Không chánh là vọng, không vọng là chánh. Đã chánh định, mà còn chấp trước cái chánh định tức là vọng tưởng.

 

XII.- GIẢI – HÀNH

Tu pháp niệm Phật Tam-muội  chẳng ngoài cái hiểu, và làm như trước đã nói, muốn làm phải rõ lý cho thông đạt, khi làm mới khỏi sai lầm. Nếu chỉ có Tâm nghe rõ nghĩa cho là triệt ngộ, cũng như cơn đói mà nhìn cái bánh vẽ, thật chẳng ích gì.

Tuy thông đạt nghĩa-lý, khi đem thực hành, cái tri giải ấy, phải tảo trừ cho sạch, không còn dính một hào ly (1), chỉ để Tâm không mà niệm.

Nên nói khi làm tri-giải phải đoạn tuyệt, thì niệm Phật mới tương ưng. Nếu tri giải ấy còn một hào-ly chẳng quên, thì chẳng đặng thật chứng Tam-muội. Hai chữ Hành Giải nếu tâm sơ-xuất lần lần ắt phải ngộ nhận. Nếu sai một hào-ly, cách xa trời biển.

 

Thích nghĩa

(1).- Hào- ly : Mảy may nhỏ nhất.

 

XIII.- BỊ - CƠ

Pháp tịnh-độ đối với cõi trược, thật là phương pháp rất hợp bịnh. Thế giới ngày nay đủ cả ngủ-trược (1), nghiệp chướng nhẩy đầy, như tham, sân, si, sát, đạo, dâm, vọng… trược như thế mà không nói Pháp tịnh-độ thì làm sao mà cứu nổi.

Danh nghĩa chữ Tịnh:

Tịnh là không tạp, nếu tạp thì tuy kim thiện pháp cũng không thể nào làm hết trược đặng. Ví như nước tuy trong, dầu lấy cây thủy tinh mà quậy, đã quậy tất phải hổn trượt, thì vầng trăng kia tuy quang-minh cũng không thể thấy được cái phản-ảnh (2) của nó.

Bởi thế Đường-Thiện-Đạo Hòa Thượng nói “Tu tịnh nghiệp có chuyên, tạp hai thứ, chuyên tu mười phần đặng trọn cả mười, còn tạp tu trăm phần khó đặng một, hai.”

Giác-Minh Diệu-Hạnh Bồ-Tát chỉ quyết về Tây Phương mà nói: “ Chuyên tu là một pháp môn tối yếu”.Người tu Tam-muội, nên xem đó là kim chỉ nam.

Thích nghĩa

(1).- Ngủ-trược: là Kiếp trược, Kiến trược, Phiền nảo trược, chúng sanh trược và mạn-trược.

(2).- Phản- ảnh: Bóng chiếu.

 

XIV.- NGHIÊM – THÀNH

Hoặc hỏi: Nếu chẳng cầu thấy Phật, thì thành Tam-muội là gì? Trọn không sở đắc, làm sao biết là Tam-muội?

-       Đáp: Niệm Phật là cái nhân của Tam-muội, Tam-muội là cái quả của niệm Phật.

-       Nhân ngay thẳng thì quả không vạy vò. Nếu y theo pháp niệm Phật, công thuần rồi thấy Phật cũng được, không thấy Phật cũng được.

Như niệm Phật chẳng y theo Pháp, hoặc công chẳng đến tột, thì có sở đắc là ma, không sở đắc là si ám.

Bản thể chúng ta là Phật, chưa thành Phật là bởi nhiều kiếp đến nay khởi hoặc tạo-nghiệp, phát-sanh món-món tập khí, như tham sân, sát, đạo, dâm, vọng.

Người tu nếu niệm Phật, công đã tột rồi, thì khi đối với cảnh duyên, không có một mảy phát sanh các món ấy. Cũng như tứ chi đã chặt đứt, không bao giờ liền lại được.

Theo trong tông môn nói:

Đại tử đại hoạt (1).

Giác-Minh Diệu-Hạnh Bồ-Tát nói: “ Nếu muốn pháp thân sống, phải giết quách niệm đầu”.

Cho đến các món thần thông diệu dụng đặng, chẳng nên mừng, cũng chẳng nên lộ. Mừng thì sa vào ma vọng-tưởng, còn lộ thì cái đặng ấy ắt phải mất. Nên thận trọng

 

Thích nghĩa

(1).- Đại tử đại hoạt: Đoạn tuyệt trần tâm, liễu ngộ Phật Tánh.

 CHUNG

 

PHÁP NIỆM PHẬT

LỤC DIỆU MÔN

 

SỔ TỨC MÔN  I

Trong khi tu pháp niệm Phật nầy, dầu tại gia cũng chọn một chỗ thanh tịnh. Vì tâm ta còn đang vọng động những sự đụng chạm có tai phải nghe, tuy cố đừng nghe nó cũng vẫn trước ý.

Lúc vào niệm, thân tâm cho an tịnh, khi khởi niệm

(tâm niệm) Nam mô A-Di-Đà-Phật…câu niệm Phật điều hòa theo hơi thở, tùy hơi dài ngắn nương theo. Tâm phải nghe cho rành-rẽ, chừng nào thuần thục hơi thở là câu niệm, câu niệm là hơi thở, được vậy rồi hãy niệm qua pháp tùy môn.

 

TÙY MÔN  II

Tu-tập sổ tức được rồi, nếu câu niệm theo hơi thở, tức là tâm có chỗ khởi niệm. Bây giờ phải dứt câu niệm, chỉ điều hòa hết sức chăm chú lóng nghe trong đó hoặc dài ngắn nặng nhẹ, tâm phải nhận biết phân minh. Nếu ta lững lơ một mảy, ắt là hư việc, một phút ngồi thiền bằng tu mấy năm, phương chi đã được như vậy, thật chẳng dễ gì. Các cơ thiền đều do đó khai phát.

 

CHỈ MÔN  III

Tu tập tùy môn được rồi, nếu còn giữ theo hơi thở, thì tâm cũng còn có chỗ khởi tưởng.

Bây giờ không trước tưởng hơi thở nữa, khi ấy tâm ngưng tịnh các tia sóng vọng hết xao xuyến. cơ thiền sắp khai phát (định).

 

QUÁN MÔN  IV

Tu tập chỉ môn tâm đã vào định. Song huệ chưa tỏ sáng là bởi tâm vô-minh nó còn, nếu dính cái định ấy.

Bây giờ phải dùng pháp quán xét phá vô-minh. Khi ấy ta phải nhận biết năm ấmgiả dối. Quán phá bốn món điên đảo và 16 món tri-kiến đoạn trừ sạch hết. Trí vô lậu do đó khai phát.

DANH – TỪ

16 MÓN TRI KIẾN. (THẦN NGÃ)

 

Người chưa hiểu đạo, vọng chấpnăm ấm, cưỡng lập chủ thể, tâm duyên theo cảnh, mới có 16 món ấy:

1). NGà                     Vọng chấp     có ta và phải có cái chỗ có ta                                                                             

2). CHÚNG SANH     Vọng chấp -    có chúng- sanh.

3). THỌ GIẢ              Vọng chấp -    có báo- thân

4). MẠNG                  Vọng chấp-     có mạng căn.

5). SANH                   Vọng chấp-  ta sanh con người và làm nên các việc

6). DƯỠNG- DỤC   Vọng chấp-  ta dưỡng- dục con cháu và châu cấp mọi người

7). CHỦNG SỐ       Vọng chấp-  ta có đủ năm ấm, 6 căn đối 6 trần và 6 thức.

8). NHƠN               Vọng chấp-   ta và người.

9). TÁC                   Vọng chấp-   ta làm.

10).SỬ TÁC            Vọng chấp-   ta bảo người làm

11). KHỞI              Vọng chấp-   ta gây tội phước.

12). SỬ KHỞI        Vọng chấp-   ta bảo người gây tội phước

13). THỌ                Vọng chấp-   ta thọ quả báo.

14).  SỬ THỌ         Vọng chấp-   ta bảo người làm, nên thọ quả báo

15). TRI                  Vọng chấp-   ta biết các việc.

16). KIẾN               Vọng chấp-  ta thấy các món.

 

CÓ 2 THỨ PHÀM PHU NHỊ THỪA

PHÀM PHU ĐIÊN ĐẢO

 

1.-  Thế gian vô thường nói là thường.

2.-  Thế gian thảy đều vô ngã, dấy sanh ngã kiến.

3.-  Các sự khổ cho là vui.

4.-  Các món trược nhận là tinh khiết.

 

NHỊ-THỪA ĐIÊN- ĐẢO

 

Tánh niết- bàn vẫn thường, lạc, ngã, tịnh. Bật nhị thừa chấp tướng đoạn diệt nên nói không, phàm phu chấp có nhị thừa chấp không đều là tướng sanh diệt.

Thường - Đoạn tướng vọng hoặc chẳng sanh.

Lạc -        Tánh thể tịch diệt an tịnh

Ngã  –     thân trí đều dứt, không còn tác dụng..

5 Ấm  –   sắc thọ tưởng hành thức.

6 Căn – Nhãn, nhỉ, tỷ, thiệt thân, ý.

6 TrầnSắc thanh, hương, vị, xúc, pháp.

5 Thức – chổ tiếp xúc nhận biết 6 căn và 6 trần.

 

BÁC CHÁNH

1.Chánh kiến

2. Chánh tư duy

3. Chánh ngữ

4. Chánh nghiệp

5. Chánh mạn

6. Chánh tinh tấn

7. Chánh niệm

8. Chánh định

HOÀN -  MÔN   V

Tu tập pháp quán tuy tỏ đặng cơ thiền, song còn cái quán ấy, tức còn vọng hoặc ngã chấp, thì đồng với ngoại đạo.

Bây giờ phải hồi quan phản chiếu, cái tâm quán ấy biết nó vốn không thật thể, thì tướng ngã chấp dứt liền. trí vô lậu lần lần tỏ sáng

 

TỊNH – MÔN  VI

Tu-tập pháp hoàn-môn, tuy dứt được tướng ngã chấp, song trí vô lậu chưa thật hoàn toàn tỏ sáng bởi còn chấp cái không chấp ấy, nên tâm còn cấu trược.

Ta phải triệt ngộ chỗ đó, huyền cơ mật lý chỉ còn chút đó là cùng.

Nếu ngộ được rồi,thì tâm vẫn như-như, không còn trụ trước gì cả. Bây giờ bản thể chơn tâm quang minh thanh tịnh xuất hiện.

Đến đó mới biết tâm là Phật. Phật là tâm! Tánh thể viên dung bao quát hư không vũ-trụ.

 

HẾT

                  

 

TỌA THIỀN DỤNG TÂM

 

Phàm tọa thiền thẳng khiến người mở sáng Tâm-địa, an trụ chỗ bổn-phận. Chỗ ấy gọi là “Bản Lai Diện Mục” (Mặt thật xưa nay), cũng gọi là “ Bản địa phong quang” (chỗ đất mát mẽ sáng suốt).

Thân tâm đều quên mất, ngồi nằm đều xa lìa. Cho nên không nghĩ Thiện, không nghĩ ác, siêu cả Phàm –Thánh, vượt khỏi xét bàn của Mê Ngộ, rời bỏ mé Phật và Chúng-Sanh. Thế nên, bỏ hết muôn việc, buông sạch các duyên, tất cả không làm, sáu căn không tạo tác. Cái ấy là cái gì?

- Chưa từng biết tên, không phải Thân, không phải Tâm, muốn suy nghĩ thì suy nghĩ bặt, muốn nói năng thì nói năng cùng, như ngu như ngây, núi cao không bày đãnh, biển sâu không thấy đáy. Mắt sáng ngó xuyên cả mây, không suy nghĩ mà thông, biết khắp mà không nói, ngồi trong trời đất riêng bày toàn thân, không phải chỗ suy tính của Đại-Nhơn, lặng lẽ tợ hồ người chết. Không có cái gì che lấp được mắt, không một mảy bụi dính được chân, thì chỗ nào có bụi bặm? Vật gì làm chướng ngại? Nước trong không có trên dưới, hư-không không có trong ngoài, trong trẻo sáng-suốt, tự chiếu Thần diệu, sắc không chưa phân, cảnh trí đâu lập, từ xưa đến nay chung ở đã nhiều kiếp mà không có tên. Đức tam tổ gọi là Tâm, Ngài Long Thọ gọi là Thân.

Nó biểu hiện Tánh, Tướng và thể của chư Phật. Cái tròn sáng như mặt trăng này không thiếu khuyết, không dư thừa. Tức cái Tâm này là Phật, tự tình chiếu thấu, xưa suốt nay, được cái biến-tướng của ngài Long-Thọ, thành Tam-muội của chư Phật.

Tâm vốn không hai tướng, thân lại có hình tướng khác. Duy Tâm hay duy thân, tuy nói khác mà đồng. Tâm biến thành Thân, thân hiện bày tướng phần của Tâm. Một lượng sóng vừa khởi muôn lượng sóng tiếp dậy, Tâm thức vừa khởi muôn pháp đua nhau sanh. Bởi thế, tứ đại ngũ-uẩn hòa-hợp, tứ chi ngũ căn hiện thành, cho đến 36 vật, 12 nhơn duyên tạo-tác đổi dời lần lượt tiếp nối, chỉ do các pháp hợp thành mà có. Sở dĩ Tâm như biển nước, thân như sóng mòi, ngoài biển nước không có một lượng sóng, ngoài sóng mòi không có một giọt nước. Nước và sóng không riêng, động và tịnh không khác. Cho nên nói “Chết sống xưa nay, người chơn thật thân tứ ngũ-uẩn không tan hoại”

Nay tọa-thiền vào biển Phật-tánh, tức là nêu bày cái thể của chư Phật, cái diệu-tịnh minh Tâm sẳn có được hiện tiền. Một phần sáng suốt xưa nay được hoàn toàn viên chiếu. Biển nước không thêm bớt, sóng mòi cũng không lui sụt. Chư Phật vì một đại sự nhơn-duyên xuất hiện ra đời là thẳng chỉ chúng-sanh mở bày ngộ nhập tri kiến của Phật.

Cái diệu-thuật để được tri kiến của Phật là tọa-thiền. Tọa-thiền tức là cái Tam-muội chư Phật tự thọ dụng, cũng gọi là Tam-muội vua Tam-muội. Nếu một khi an-trụ trong Tam-muội này liền mở sáng Tâm-địa, khéo biết cửa chánh vào Phật đạo.

Người muốn mở sáng Tâm-địa phải buông bỏ những cái hiểu biết tạp-nhạp, ném quăng cả thế-pháp và Phật-pháp, chặt đứt tất cả các vọng-tình, hiện thành một Tâm chơn thật, mây mê mờ quét sạch thì mặt trăng Tâm mới sáng soi.

Phật nói: Nghe (văn), suy nghĩ (tư duy) như ở ngoài cửa, tọa-thiền chính là trở về ngồi an-ổn trong nhà. Thật vậy, nếu nghe  suy nghĩ các kiến giải chưa dứt, tâm-địa còn ràng buột, cho nên như ở ngoài cửa; chỉ có tọa- thiền bỏ hết tất cả không còn chổ nào chẳng thông, nên người trở về ngồi an-ổn trong nhà.

Ngũ-cái phiền não là từ vô-minh khởi, vô-minh không rõ biết mình, mà tọa- thiền là rõ biết mình. Mặc dù đoạn ngũ-cái mà chưa đoạn, vô minh không phải là Phật Tổ; nếu đoạn vô minh, tu-tập tọa-thiền là bí quyết. Cổ Nhân nói: “ Vọng dứt thì Tịch sanh, tịch sanh thì Trí hiện, Trí hiện là thấy Chơn”. Nếu muốn diệt tận vọng-tâm, phải thôi nghĩ thiện-ác, lại các công việc đều buông bỏ hết, Tâm không nghĩ, Thân không việc, ấy là chỗ Dụng Tâm bậc nhất vậy.

Khi các vọng duyên hết thì vọng-tâm cũng theo đó mà diệt. Vọng tâm nếu diệt thì cái thể bất-biến hiện bày, rõ ràng thường biết, không phải pháp tịch-diệt, không phải pháp động tác. Song các thứ kỷ nghệ, pháp- thuật, thuốc-thang, bói-tướng đều phải xa lìa, huống là những việc ca múa, kỷ nhạc, tranh cải, cười giởn, danh tướng lợi dưỡng ắt không nên gần. Những thứ văn thơ thi phú, tuy nó là nhơn-duyên tịnh-tâm, nhưng chớ ham tạo tác. Văn-chương bút nghiêng đều ném đi không dùng. Ấy là cái oai lối bậc nhất của người hành đạo, là pháp thiết yếu của người điều Tâm.

Y phục đẹp và dơ đều không nên mặc. Mặc y phục đẹp thì sanh tham, lại sợ trộm cướp, cho nên là chướng nạn của người hành đạo. Nếu đủ nhơn-duyên có, hoặc được người cúng-dường mà không thọ dụng, đó là cái nét đẹp của xưa nay. Giả sử đã sẳn có thì chớ quan-tâm, trộm cướp có lấy cũng không tìm kiếm hối tiếc. Y phục dơ và cũ phải giặt sạch và lành rồi sẽ mặc, không giặt sạch đất mồ hôi đồng mà mặc, thì thân phát bệnh lạnh, lại là nhơn-duyên chướng đạo. Tuy nhiên không cầu thân mạng, nhưng mặc không đủ, ăn không đủ, ngủ không đủ, ba việc ấy không đủ, đều là nhân duyên lui sụt.

Tất cả thức ăn vật sống, vật cứng, vật tổn hại, vật ô-uế đều không nên ăn; nếu ăn ruột kêu, thân tâm nóng nảy, ngồi thiền bứt rứt. Tất cả thức ăn ngon không nên ưa thích, không những thân tâm phiền loạn, mà lại niệm tham khó dứt. Ăn chỉ để sống không nên đắm mê mùi vị. Nếu ăn no ngồi thiền là nhơn-duyên phát bệnh. Sau bữa ăn không nên ngồi liền, đợi qua một lúc rồi sẽ ngồi. Phàm tỳ-kheo ắt phải ăn có chừng mực tiết độ. Ăn có chừng mực tiết-độ là ăn có phần hạn. Trong ba phần chỉ ăn hai phần còn dư một phần. Tất cả thuốc phong, bột mài v.v… nên thường uống. Đó là yếu thuật điều thân vậy.

Khi tọa-thiền không nên nương tựa tường, vách, ghế và đồ ngăn che, lại không nên ngồi chỗ gió mạnh, chỗ cao trống, các thứ đó đều là nhơn-duyên phát bệnh. Nếu khi ngồi, thân hoặc như nóng, lạnh, nhám, trơn, cứng, mềm, nặng, nhẹ hoặc biết kinh sợ đều là do hơi thở không điều hòa. Phương pháp điều-hòa hơi thở, tạm hả miệng ra tùy hơi thở dài cho ra dài, hơi thở ngắn cho ra ngắn, dần dần điều nó, hơi hơi theo nó, khi những cái xúc chạm đến tự nhiên điều-hòa, xong rồi lỗ mũi thong thả thở.

Nếu tâm hoặc như trầm, phù, mê, lạnh, hoặc trông thấy ngoài thất, hoặc thấy trong thân, hoặc thấy thân Phật, thân Bồ-tát, hoặc khởi hiểu biết, hoặc rành rõ kinh luận, những thứ kỳ-dị, những tướng lạ-lùng v.v…thảy đều là bệnh do niệm và hơi thở không điều hòa. Nếu khi bị bệnh, ngồi an tâm trên hai bàn chân. Nếu khi tâm hôn trầm, an tâm trên mé tóc, hoặc giữa chặn mày. Nếu khi tán-loạn, an tâm tại chót mũi, hoặc tại đan-điền. Lúc tọa-thiền bình thường thì an tâm trong lòng bàn tay trái. Nếu tọa-thiền đã thuần thục không cần an tâm mà tâm vẫn không tán-loạn.

Lại những loại sách gia-huấn của cổ-nhân tuy chiếu sáng lòng người, nhưng không nên xem nhiều, đọc sách và học nhiều đều là nhơn-duyên loạn tâm.

Phàm khi thân tâm nhọc-nhằn mệt mỏi đều là nhơn-duyên phát bệnh. Chỗ nạn lửa, nạn nước, nạn gió, nạn giặc và bên mé biển, quán rượi, bên lầu xanh, chỗ đàn bà góa, bên kỷ-nhạc đều chớ nên ngồi. Quốc-vương, đại-thần, nhà quyền- thế, người đa dục, người danh-vọng, người cải-giởn cũng không nên gần.

Phật sự lớn, kinh-doanh to tuy là rất thiện, người chuyên tọa-thiền cũng khôn nên làm. Không nên ưa thuyết pháp giáo-hóa, vì tán-tâm loạn-miệng từ đó mà sanh. Không nên ưa đông người, tham đệ-tử, không được làm việc nhiều, học nhiều. Chỗ rất sáng, rất tối, rất lạnh, rất nóng, cho đến chỗ người dạo chơi, giởn hớt đều không nên ngồi. Trong Tòng-lâm, chỗ thiện-tri-thức, núi sâu, hang thẳm nên dừng ở. Mé nước núi xanh là chỗ kinh-hành. Bên dòng suối, cội cây là chỗ lóng tâm.

       Hằng quán vô-thường là nhơn-duyên kích-phát đạo tâm. Nệm ngồi dày, trải ngồi mới yên-ổn. Đạo tràng phải thanh-khiết, thường thắp hương cúng hoa thì Hộ-pháp, Thiện-thần, Phật, Bồ-Tát ảnh-hưởng gia hộ. Nếu thờ tượng Phật, Bồ-tát, La-hán thì tất cả ma quỷ không dám phá hoại. Thường trụ Tâm nơi đại-từ, đại-bi, công đức tọa thiền vô-lượng hồi hướng cho tất cả chúng- sanh. Chớ sanh cao-mạn, ngã-mạn, pháp-mạn, đó là pháp của ngoại đạo phàm-phu.

Nghĩ thệ đoạn phiền não và thệ chứng Bồ- đề. Chỉ quan-hệ khi ngồi tất cả đều không nghĩ, ấy là yếu-thuật tham thiền.

       Thường nên rửa mắt,  và rửa chân, thân tâm an tịnh, oai nghi tề chỉnh. Nên bỏ thế tình, cũng đừng chấp đạo tình. Tuy không bỏn-xẻn giáo pháp, mà không thỉnh thì chớ nói. Giữ 3 lần thỉnh, bốn lần từ, mười lần muốn nói, chín lần thôi. Khóe miệng lên, meo như chiếc quạt mùa đông, như cái linh treo trên hư-không mặc tình gió bốn phương thổi. Đó là tác-phong của kẻ đạo-nhơn vậy. Chỉ lấy pháp mà không tham người, dụng đạo mà không cống-cao mình, ấy là chỗ dụng tâm bậc nhất.

     Tọa-thiền không can dự đến Giáo, Hành, Chứng, mà gồm cả ba đức này. Chứng là lấy Giác-ngộ làm qui-tắc, không phải tâm tọa-thiền. Giáo là đoạn ác tu thiện cũng không phải tâm tọa-thiền. Trong thiện tuy có lập giáo mà không phải giáo-lý thường. Nghĩa là chỉ thẳng, truyền đạo riêng, hết thảy toàn nói câu thoại-đầu, nói không có chương cú, chỗ ý tận lý cùng. Một lời nói trùm hết mười phương, không mảy may nào chưa bày hiện. Thế thì, không phải giáo-lý chơn chánh của Phật Tổ sao? Hoặc tuy nói Hành lại là cái hành vô-vi. Nghĩa là thân không làm, miệng không thầm tụng, tâm không suy-xét, sáu căn tự thanh-tịnh, tất cả không ô-nhiểm, không phải 16 hạnh của Thanh-văn, không phải 12 hạnh của Duyên-Giác, không phải lục-độ vạn-hạnh của Bồ-tát, tất cả không làm, cho nên gọi là Phật. Chỉ an trụ trong Tam-muội chư Phật tự thọ dụng, rong chơi bốn hạnh an-lạc của Bồ-tát, đâu không phải cái hành thâm diệu của Phật Tổ ư? Hoặc tuy nói chứng, không chứng mà chứng, là Tam-muội vua của Tam-muội, Tam muội nhất-thiết-trí, tự nhiên trí phát hiện, là cửa sáng mở trí-huệ của Như-lai, là pháp-môn phát xuất hạnh đại an-lạc, vượt khỏi cách thức Thánh và phàm, ra ngoài sự xét lường mê ngộ, đâu không phải chứng cái Bản-hữu Đại-giác sao?

     Tọa-thiền không can dự đến Giới, Định, Huệ, mà gồm cả ba môn học này. Giới là ngừa quấy ngăn ác. Tọa-thiền toàn thể không hai, buông hết muôn việc, thôi bỏ các duyên, không quan tâm đến Phật phápthế pháp, sự quyến luyến của đạo-tình và thế-tình đều quên sạch, không phải quấy, không thiện ác; đâu còn có cái gì nữa mà phải ngăn ngừa? đây là giới tâm-địa vô tướng vậy.        Định là do quán tưởng. Tọa-thiền thì quên cả thân tâm, xa lìa mê-ngộ, như ngu như ngây, như núi như biển, hai tướng động và tịnh hoàn-toàn không sanh, định mà không có tướng định, không có tướng định nên gọi là Đại-định. Huệ là giản-trạch hiểu biết. Tọa-thiền thì tự diệt cái hiểu biết, hằng quên tâm thức, không có sự giản-trạch của huệ nhãn và sự giác tri của thông-thân, thấy rõ Phật tánh không mê lầm, ngồi dứt ý-căn liền được rỗng rang thấu suốt, ấy là huệ mà không có tướng huệ, không có tướng huệ nên gọi là Đại-Huệ. Những giáo pháp một đời Đức Phật nói đều thu gom trong Giới Định Huệ; nay tọa-thiền không Giới nào mà không (chẳng) giữ, không Định nào mà chẳng tu, không Huệ nào mà chẳng thông. Hàng ma, thành đạo, chuyển pháp luân, nhập Niết-bàn đều nương thần-lực tọa-thiền. Thần-thông diệu dụng, phóng quang, thuyết pháp trọn do Tọa-thiền vậy.

      Muốn tọa-thiền trước nên chọn chỗ yên-tịnh, đệm hoặc nệm lót ngồi phải dày trải ở chỗ không có gió khói vào và mưa mù lọt vô, gìn giữ bao bọc hai đầu gối, chỗ ngồi phải thanh-khiết. Tuy xưa có vị ngồi tòa kim –cang hay trên bàn-thạch, nhưng đều có vật lót ngồi. Chỗ tọa-thiền nên ban ngày không sáng lắm , ban đêm không tối lắm, mùa đông thì ấm, mùa hạ thì mát, ấy là diệu thuật vậy. Buông bỏ tâm ý thức, dứt hết niệm tướng quán, chớ mong làm Phật, đừng nghĩ thị phi, khéo gìn giữ quý tiếc ngày giờ như cứu lửa cháy đầu. Đức Đạt-Ma ngồi xây mặt vào vách tại chùa Thiếu-lâm kết thành một khối không việc gì khác. Ngài Thạch-Sương toan làm cây khô bị Thái-Bạch trách là ngủ. Không dùng lễ bái, thắp hương, niệm Phật, tu sám, xem kinh trì tụng, chỉ chú trọng tọa-thiền là đủ.

      Đại để khi tọa-thiền nên mặc ca-sa, bồ đoàn không phải trùm hết bàn ngồi, mà chỉ phân nữa ở sau xương cùng và cái mông, đó là pháp Phật Tổ đã ngồi. Hoặc ngồi bán già hoặc ngồi toàn-già. Cách ngồi toàn-già, trước kéo chân mặt để lên đùi trái, kéo chân trái để lên đùi mặt, nới rộng dây lưng cổ áo, gìn giữ cho tề-chỉnh. Kế lấy tay mặt để lên bàn chân trái, tay trái để lên bàn chân mặt, hai đầu ngón tay cái ngay nhau và tay sát vào thân, chỗ đối đầu hai ngón tay cái ngay rún. Ngồi thân ngay thẳng không được nghiêng bên trái hay bên phải và cong tới trước hay ển lại sau. Lỗ tai và bả vai, chót mũi và rún nhất định ngay nhau. Lưỡi cuốn lên ổ gà, hơi thở thông hai lỗ mũi, môi và răng vừa khít, mắt nên mở rõ không to, không hiếp lại. Như thế điều thân rồi, kế đến điều hơi thở, phải hả miệng thở một vài lần. Kế ngồi yên, chuyển thân bảy tám lần, từ thô đến tế ngay thẳng mà ngồi.

     Bấy giờ suy-nghĩ cái tột cùng không suy-nghĩ. Suy-nghĩ thế nào? Nghĩa là không suy- nghĩ, đó là yếu pháp tọa-thiền. thẳng phá dẹp phiền-nảo thân chứng Bồ-đề.

       Nếu muốn xuất định, trước lấy hai bàn tay vẫn để ngửa để lên hai đầu gối, động thân bảy tám lần từ tế đến thô, hả miệng thở hơi, duỗi hai tay chống đất, nhẹ nhẹ đứng dậy, bước đi chậm chậm, nên chuyển phía thuận và đi theo phía thuận.

       Trong lúc ngồi, nếu có hôn-trầm đến, thường nên động thân, hoặc mở mắt to, hoặc an tâm trên đảnh, nơi mé tóc, giữa chặn mày. Nếu chưa tĩnh lấy tay xoa áp vào hai mắt, hoặc xoa khắp thân; vẫn chưa tĩnh, thì đứng dậy đi kinh-hành khoảng trăm bước hôn trầm ắt phải tĩnh. Phương pháp đi kinh-hành, một hơi hít vô thở ra bước một bước, đi như mà không đi, vắng lặng không động. Đi kinh-hành như thế, nếu chưa tĩnh, lấy nước rửa hai con mắt và vỗ trên đảnh, hoặc tụng Bồ-tát giới tự, hoặc dùng các phương-tiện cho hết buồn ngủ. Phải quán sự sanh tửtrọng đại, vô-thường mau gấp, đạo nhãn chưa sáng ngủ nghĩ làm gì? Hôn trầm vừa đến nên phát nguyện “ nghiệp tập đã dày nên nay bị hôn-trầm che đậy, mờ mịt này đến bao giờ tĩnh? Nguyện Phật Tổ duổi lòng Đại-bi nhổ cái khổ mê-muội nặng nề cho con”.

     Nếu khi tâm tán-loạn, an tâm nơi chót mũi và đan-điền, đếm hơi thở ra vào. Vẫn còn chưa hết, đề khởi chiếu cố công án. “ như ấy vật gì ở đâu đến”, “ con chó không có Phật tánh”, “hòn núi tu-di ở Vân-môn”, “cây Bá của Triệu Châu”v.v…không cần thấm nhuần hương vị của câu nói, thế là thích hợp. Vẫn còn tán-loạn, tưởng mình khi tắt thở, hai mắt nhắm nghiền, người cứng đờ, lấy đó làm công phu tọa thiền. Hoặc tưởng khi trong bào thai chưa sanh, trước khi chưa khởi một niệm, lấy đó làm công phu thực tập. Hai cái không này được sanh thì tán-loạn ắt dứt.

    Sau khi xuất định, không để ý mà vẫn hiện oai-nghi, thực vậy tức thành công-án; không cố tâm xoay lại mà thành tu chứng, công án được thành; đó là tin tức báo điềm trước, là nhơn duyên bờ mé kia của không- kiếp, cái then chốt thiết-yếu máy linh của Phật Tổ chỉ một việc này.

     Cần phải thôi đi, dứt đi, mát lạnh rười rượi đi, một niệm ngàn năm đi, tro lạnh cây khô đi, lò hương miếu cổ đi, một cành trăm uốn đi. Rất mong! Rất mong!

 

Viên Minh Quốc Sư

ở chùa Tổng trì núi Dinh-tuyền

 

Nhà xuất bản Thiền học PL 2506 - DL 1962

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 81)
Tôi nghe như vậy: Một thời, đức Thế Tôn trú tại thành phố Śrāvastī (Xá-vệ), nơi rừng cây Jeta (Kì-đà), vườn của Ông Anāthapiṇḍada (Cấp-cô-độc),
(Xem: 206)
Bài kinh này trong đoạn cuối (bài kệ 787), câu “không nắm giữ gì, cũng không bác bỏ gì” được Thanissaro Bhikkhu ghi chú rằng ...
(Xem: 322)
Lúc bấy giờ, Bồ tát Đại sĩ Akṣayamatir[1] từ chỗ ngồ đứng dậy, vắt thượng y[2] qua một bên vai, chắp hai tay[3] hướng về đức Thế Tôn và thưa rằng:
(Xem: 639)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào? Phát Bồ-Đề Tâm phải học theo những Kinh, Luận nào?
(Xem: 853)
Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận.
(Xem: 864)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(Xem: 9037)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 865)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(Xem: 644)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(Xem: 2072)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(Xem: 2087)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 2041)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 2180)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 2988)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 2374)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 2427)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 2668)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 3226)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 3759)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 2441)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 3368)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 3279)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 5267)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 3494)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 3785)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2863)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 3559)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 3086)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 3638)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2829)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 3216)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 3529)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 3566)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 4650)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 4156)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 4040)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 4509)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 3928)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 3519)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(Xem: 4378)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 5618)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 4051)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 7100)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 4481)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 20399)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3918)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 7388)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4882)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 4631)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 4164)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4561)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 6194)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4690)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 4423)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 4464)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 4702)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 5351)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 4103)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 5523)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 5316)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
Quảng Cáo Bảo Trợ