Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
15,033,925
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Sám Hối - Ăn Năn - Phát Lồ - Xưng Tội

02 Tháng Mười Một 201606:49(Xem: 2519)
Sám Hối - Ăn Năn - Phát Lồ - Xưng Tội

SÁM HỐI - ĂN NĂNPHÁT LỒ - XƯNG TỘI

Minh Mẫn

Sám Hối - Ăn Năn - Phát Lồ - Xưng Tội

 

Trên con đường tu tập, kể cả pháp hành Tôn giáo cũng như pháp hành tâm linh, "sám hối" là cách cơ bản giải quyết những sai phạm đã qua và ngăn ngừa sai quấy phạm phải sắp tới.Đôi khi, có người chọn cách "sám hối" làm pháp hành trì thường nhật để phát khởi lòng từ và thúc liễm thân tâm thường nhật.

Trong đời sống, không ai mà không từng phạm phải sai lầm, có những sai lầm nhẹ có thể khắc phục, sửa sai, có những sai lầm thuộc lãnh vực tư tưởng, quan điểm, đức tin, do đứng một góc độ riêng cộng thêm biên kiến, thiên kiến dẫn đến bảo thủ, sai lầm mà không biết. Trường hợp nầy thường xẩy đến trong một số người có óc suy luận vững nhưng chỉ ở một góc độ biên kiến, nhiệt tâm trong một phạm vi chuyên môn, thỏa mãn trong một chủ thuyết, học thuyết, giáo thuyết. Nơi đây chỉ xét trong lĩnh vực tư tưởng, ngoài ra, những sai lầm  mang tính xã hội nó có tính nhất thời, không đáng ngại.

Làm sao để thức tỉnh biết là mình đang sai lầm theo một quan điểm, một giáo thuyết, một chủ nghĩa...?

Khó mà xác quyết khi chính nhân thân phải thâm nhập một cách khách quan vào những lĩnh vực khác với lĩnh vực của mình đang say mê.Dùng trí tuệ phán đoán, vì vậy, nhà Phật đề cao trí tuệ mà không nhắc đến cảm tính.Thường, chúng ta sống, làm việc, nhận thức theo cảm tính  nhiều hơn lý trí.

Sự sai làm về chính trị, đưa  xã hội vào con đường khủng hoảng, bế tắt. Sự sai lầm về quan điểm giáo dục, nhiều thế hệ phải chịu hậu quả khó khăn, nhưng một giáo thuyết sai lầm thì chính nhân thân người chọn lựa cũng đã có sẵn một hậu quả khó tránh, huống nữa đem quan điểm sai lầm, biên kiến để dẫn dắt đồ chúng, miệng hố tội trọng đang kề bên sinh thân, liền sau đó, thân xác còn mang căn bệnh tương ứng với những lời dạy dỗ thiếu chính đáng. Bệnh tật là quả của nhân quá khứ, không thể nhìn bệnh lý mà xác quyết là hậu quả của việc sai lầm trong việc truyền bá giáo lý hay pháp hành; nhưng đôi khi, thay vì quả báo quá khứ chưa trổ, duyên hiện hành hỗ trợ thì quả sớm phát sanh. Nhân quả trùng trùng duyên khởi khó mà phân minh. Có những bệnh nan ý có thể khỏi hẳn mà không ngờ, do bệnh nhân đã thay đổi cách sống, hành xử thiện duyên quá nhiều và tư tưởng trong sáng, hướng thiện, lòng từ  thông qua hành động trợ giúp chúng sanh. Cũng không thiếu bệnh nhân, thay vì một thời gian lâu mới chết,lại đột tử không ngờ.Những bệnh như thế, có thể nhân quá khứ thuộc loại vô ký hoặc tác ý vô tâm.

Theo  nhà Phật, "Nhất thiết duy tâm tạo". tướng học cũng từng nói: - tướng tự tâm sinh, tướng tùng tâm diệt. Một tâm hồn đẹp, trong sáng, hiền lành đều có một gương mặt dễ nhìn, người độc ác nham hiểm, hiện tướng đáng sợ. Chính những nguyên nhân từ tâm niệm mà  có câu: "tội từ tâm khởi do tâm sám". Nhưng mấy ai ý thức bệnh mình đang thọ lãnh do hậu quả của tư tưởng nào đó có sức mạnh tác động để hạt giống phát triển nhanh.Cuộc sống luôn gặp trắc trở, hoạn nạn cũng là hiện báo của nhân quá khứ, có người bảo do thiếu phước, điều nầy khó xác định, vì có phước mới được thân người, đã có phước mới được thân gười, tại sao gặp tai họa bảo do thiếu phước? Phước có nhiều loại, thì nghiệp cũng có nhiều dạng; trong phước có họa, trong họa có phước, trùng trùng duyên khởi, khó mà có một thống kê tổng quát để kết luận một hiện tượng Trong cộng nghiệp vẫn có biệt nghiệp. Xã hội ngày nay lan nhanh mầm mống bệnh ung thư, nhưng không phải tất cả đều chịu chung số phận như nhau. có người đau đớn quằn quại trước khi chết, cũng có người ra đi êm nhẹ, và một số ít người được khỏi hẳn hoặc virus không phát tác.Cũng có một tín đồ Phật giáo, khi phát hiện ung thư, không thiết đến thuốc men, tình nguyện ăn chay, sống đời lương thiện, bố thí phóng sanh, tâm hồn an lạc thanh thản, gốc ung thư tự nhiên tiêu hủy.

Cũng có người theo sự hướng dẫn của tôn giáo phải ăn năn, sám hối, thành khẩn ngăn chừa thói hư tật xấu, giúp đỡ tha nhân. Mỗi tôn giáo có một phương cách sám hối khác nhau, nhưng mục đích giúp người có tội cảm thấy nhẹ nhàn, trút gánh nặng khỏi nội tâm, hướng đến việc thánh thiện để không còn tái phạm. Đây không chỉ là thủ tục thuộc lĩnh vực tôn giáo mà là điều căn bản cho những tín giả có một căn cơ cần đến tha lực. Ta tạm duyệt qua một số nghi thức của vài tôn giáo về cách sám hối, ăn năn như:

Mỗi tôn giáo đều có một phương pháp sám hối tội chướng quá khứngăn ngừa tội lỗi trong hiện tại và tương lai, ví dụ Kito giáo quan niệm về việc xưng tội, mặc dù tội Tổ tông đã được xóa trong lúc rửa tội, còn lại,vì trong cuộc sống không ai không phạm tội, vì thế, việc xưng tội không chỉ đơn giản trình bày tội lỗi của mình mong cha cố lắng nghe và tha thứ; thật ra Linh mục giải tội không có quyền xóa tội mà chỉ là người lắng nghe và hướng dẫn hối nhân sống đúng luật giáo hội các điều răn của Chúa. Vì vậy, khi xưng tội, muốn được tha thứ, hối nhân phải:

1. Xưng tội - Xét mình: Phải xét các tội trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót, căn cứ vào 10 điều răn của Thiên Chúa:

thứ nhât:  thờ phượng một Đưc Chúa Trời và kính mến Người trên hêt mọi sự.
thứ hai :    chớ kêu tên Đưc Chúa Trời vô cớ.
thứ ba :     giữ ngày Chúa Nhật.
thứ bốn :   thảo kính cha mẹ.
thứ năm :  chớ giêt người.
thứ sáu :    chớ làm sự dâm dục.
thứ bảy :   chớ lấy của người.
thứ tám :   chớ làm chứng dối.
thứ chín :  chớ muốn vợ chồng người.
thứ mười:  chớ tham của người.

Và 6 điều răn của Hội Thánh:

thứ nhât:   dự Lễ ngày Chúa nhật cùng các ngày lễ buộc.
thứ hai :    chớ làm việc xác ngày Chúa nhật cùng các ngày lễ buộc.
thứ ba :     xưng tội trong một năm it là một lần.
thứ bốn :   chịu Mình Thánh Đức Chúa Giêsu trong mùa Phục Sinh.
thứ năm :  giữ chay những ngày Hội thánh buộc.
thứ sáu :    kiêng thịt ngày Thứ sáu, cùng những ngày Hội Thánh dạy. 

2.  Ăn năn tội:  Sau khi xét các tội đã phạm, hối nhân phải có lòng ăn năn, chê ghét các tội, vì tội xúc phạm đến Thiên Chúa là Đấng vô cùng tốt lành.

3. Quyết chí chừa tội:  Đã ăn năn, hối nhân còn phải thật lòng xa lánh tội, không phạm các tội đã phạm và các tội hối nhân chưa phạm bao giờ, nghĩa là, không như cái hiều của một số người bảo là: - cứ làm tội rồi đến  xưng tội với cha là xong, tiếp tục phạm tội khác...

Phát lồ còn gọi là phát lộ, nghĩa là trình bày rõ tội lỗi mình đã phạm, không dám che giấu.Dứt tội cũ, không tạo tội mới.Trình bày với ai? đối thú trước chư Tăng hoặc với người mà mình tôn kính, lúc lâm chung, có thể phát lộ với người thân cận mình để tâm hồn nhẹ nhàng cho thần thức ra đi.

Sám hối - theo định nghĩa của tự điển Phật Quang là: "ăn năn tội lỗi, xin được tha thứ". "Sám" nói cho đủ là Sám ma, có nghĩa là "nhẫn", tức cầu xin người khác tha tội. "Hối" là ăn năn hối hận  tội lỗi mình đã gây ra trong hiện tại cũng như trong quá khứ, nay đối trước Phật, Bồ Tát, sư trưởng, đại chúng nói ra hết, không giấu diếm, cầu mong đạt mục đích diệt tội.

Về phương pháptính chất sám hối được chia nhiều loại:

1.hai loại sám hối: - chế giáo sám và hóa giáo sám.
2. ba loại sám là: -tác pháp sám hối - thủ tướng sám hối - vô sinh sám hối.
3.năm loại sám là: - không chê bai Tam bảo cho đến tu lục niệm - hiếu dưỡng cha mẹ, cung kính sư trưởng - dùng chính pháp trị nước , khiến cho lòng người chân thật  ngay thẳng - vào 6 ngày trai không được giết hại - tin nhân quả, tin đạo nhất thực, tin Phật bất diệt.
4. Lục căn sám hối: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.

Ngoài ra trong Vãng sanh lễ tán có nêu 3 pháp sám hối Quảng, yếu, lược: -yếu sám hối - quảng sám hối - lược sám hối.

Có người chưa hiểu tầm quan trọng việc tự sám, cho rằng, có tội khỏi cần  xưng tội với ai, không cần đối thú phát lồ, không ai có quyền tha tội  của mình, nhất là tội đó không phạm đối với người mình xưng. Nếu tự sám rồi ỷ lại tiếp tục sai phạm thì chả ai biết....

Ăn năn. theo tư diển tiếng Việt, ăn năncảm thấy đau xót, day dứt trong lòng về lỗi lầm của mình.

Tóm lại, rất nhiều cách tự hối lỗi, tự thống hối những sai phạm từ tâm niệm đến hành động, nhưng người thường không thấy mức độ trầm trọng của việc sai phạm nên tiếp tục hành xử theo bản năng. Là những Tôn giáo có khuynh hướng tâm linh, việc cải hoán tâm thứcchuyển hóa nghiệp thức là điều rất quan trọng.

Ví dụ, ai đó làm mình bực tức, hoặc nhục mạ, hoặc  vô tình xúc phạm, ta không dám bộc lộ sự bất mãn, trong tâm muốn cho kẻ đó gặp tai nạn, gặp rắc rối...vô tình tự ta gieo hạt giống ác trong tâm thức. Hạt giống bất thiệnhạt giống có sẵn trong tâm nhiều người, chưa có dịp bộc lộ, lâu ngày chày tháng cứ tiếp tục gieo thêm ác ý, có ngày sẽ phát ra hành động, lời nói, mà mình không kiểm soát được, sẽ biến mình thành kẻ ác.Tội không chỉ do hành động mà còn do ý tưởng và từ lời nói.Cũng thế, mình đứng góc độ bảo thủ, chỉ thấy pháp hành của mình là đúng, vội phê phán pháp khác là sai, chắc gì nghĩ như thế đã không phạm phải lỗi lầm sai lạc?

Chư Tổ  của Bắc truyền, rất giữ kẽ trong tứ oai nghi, luôn thúc liễm thân tâm từng giờ khắc. Cố Hòa Thượng T. Trí Thủ, mỗi khuya đều lạy sám hối. Một số đạo trang được hướng dẫn lạy Hồng danh; nhưng không khai trí cho đạo chúng ý nghĩa lạy Hồng danh, đôi khi biến thành hành động trả bài vô nghĩa.

Ngày xưa, Tổ Sư Thế Thân  sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn, Sư học giáo lí Tiểu thừa  và soạn bộ A-tì-đạt-ma-câu-xá luận. Sau đó, Sư đi du phươngdanh tiếng của Sư là một nhà biện luận xuất chúng vang dội. Khi gặp Vô Trước được người anh giảng giải giáo lí Đại thừa, Sư bỗng nhiên tỉnh ngộ, bắt đầu say mê nghiên cứu Đại thừa và viết luận về kinh điển hệ Đại. Sau khi nghe hết các bộ kinh và luận Đại Thừa đó, Thế Thân nhận ra Phật Giáo Đại Thừa thật ra rất thâm sâu cả về lý thuyết lẫn thực hành, chứ không phải chỉ lý thuyết suông như ngài hằng nghĩ trước kia. Hối hậnxưa kia đã phỉ báng Đại Thừa, ngài muốn cắt lưỡi tự tử. Các đệ tử của Vô Trước vội khuyên can và khẩn thiết yêu cầu ngài tới thăm Vô Trước Thế Thân trở về Bá Lộ Sa gặp Vô Trước và trong cuộc đàm luận với người anh về Phật Giáo Đại Thừa, ngài đã nắm được các yếu chỉ của giáo lý Đại Thừa. Vô Trước khuyên Thế Thân không nên tự tử mà nên dùng tài uyên bác của mình để quảng bá giáo lý Đại Thừa hầu chuộc lại lỗi lầm phỉ báng Đại Thừa khi xưa. Từ đó về sau, Thế Thân chỉ chuyên tu trì, nghiên cứu, hoằng dương và trước tác các luận giải thuộc Đại Thừa mà thôi. Ngài trước tác trên 500 luận giải Đại Thừa, trong đó có các luận giải sau:

1. Chú giải về Trung Biên Phân Biệt Luận 
2. Duy Thức Nhị Thập Tụngchú giải 
3. Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận 
4. Duy Thức Tam Thập Tụng 
5. Tam Tự Tánh 
6. Phật Tánh Luận.

Như vậy, hoán cải, sám hốii, ăn năn có nhiều cách, hoặc tự thân làm điều tốt, hoặc tự tâm thống hối ăn năn, hoặc giúp mọi người hướng về nẽo thiện.,Hoặc thiền định chuyển hóa nghiệp thức...

Tôn giáo là  nền giáo dục chuyển hóa cái ác của con người thành hạt giống thánh thiện, Mỗi tôn giáo có một phương cách hướng dẫn hóa giải khác nhau, ngoại trừ Tôn giáo không hướng đến tâm linh, đó là những đức tin mang tính xã hội, mang tính chính trị thì tập nhiễm nhiều tính ác mang tính cạnh tranh, oán thù chất chồng mà họ cho đó là thành quả, biến tín đồ thành những chiến binh thành đạt cho mục đích.

Trên thế giới có nhiều Tôn giáo, những Tôn giáo được biết nhiều là Phật giáo, Ki tô giáo, Tin Lành giáo, Hòa Hảo, Cao Đài,..là những Tôn giáo có khuynh hướng hướng thiện, mỗi Tôn giáo có mức độ thiên hướng tâm linh khác nhau. Tôn giáo Thần học thì hướng về đấng sáng tạo. Tôn giáo nhân bản thì hướng nội, hải đảo tự thân là đich để chuyển hóa nghiệp thức, thăng hoa tâm thức. Ngoài ra, một số trường phái không nhất thiếtTôn giáo, như Yoga, Lão giáo và các hệ phái tại Ấn độ dùng Thiền định để nâng tâm thức vào cỏi siêu thức.Trong quá trình chuyển hóa tâm thức, tất cả những chủng tử Thiện và bất Thiện đều loại khỏi tâm thức. Tập trung năng lượng  dưỡng trí khai huệ thoát khỏi càn khôn vũ trụ; có nghĩa dùng chấn động lực nội thể để hòa hợp với năng lượng dương của chấn động lực vũ trụ siêu thoát khỏi âm lực của bao phủ chung quanh cuộc sống.

Tóm lại, muốn thoát khỏi nghiệp lực quá khứhiện tại, cần chọn pháp hành để sám hối, ăn năn, phát lồ..như trút bỏ gánh nặng trên đạo lộ tâm linh giải thoát.Sau đó mới chọn một pháp môn thích hợp căn cơ để tu tập.

 

MINH MẪN

31/10/2016

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 13)
Trong đời sống thường nhật, những người cùng ý tưởng, chung sở thích thì hay kết duyên tụ lại với nhau.
(Xem: 59)
Thiền chỉ (samantha) và Thiền quán (vipassana) là hai nội dung lớn trong vấn đề “phát triển của tâm” được đề cập trong Kinh tạng Nikāya.
(Xem: 92)
Ngài Triệu Châu hỏi ngài Nam Tuyền: “Thế nào là đạo?” Ngài Nam Tuyền đáp “Tâm bình thường là đạo”, nói theo chữ Hán là “bình thường tâm thị đạo”.
(Xem: 159)
Tuệ quán vô thường sẽ giúp thấy rõ tính chất duyên sinh, vô ngã của vạn pháp. Không có bất cứ cái gì trường cửu, bất biến mà...
(Xem: 196)
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói: Này Thiên tử! Nếu có Bồ-tát biết tất cả các sanh mà cũng chẳng sanh, cũng biết tất cả sanh tử của chúng sanh.
(Xem: 164)
Bố thí, cúng dường là hành động làm phước thiện, theo luật nhân quả, nó là điều kiện thiết yếu để ta tiêu trừ đau khổ...
(Xem: 256)
Sau 25 năm, tôi đến lại nước Nga để thăm viếng lần nầy là lần thứ 6. Lần đầu vào năm 1994, nghĩa là mới chỉ sau 3 năm khi Liên bang các nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết bị sụp đổ...
(Xem: 151)
Theo kinh Pháp hoa, phẩm Phổ môn, Bồ-tát Quán Thế Âm có 33 ứng hóa thân, từ thân Phật, Độc giác, Bồ-tát…
(Xem: 157)
Đức Phật cũng đã dạy người Kalama qua Kinh Kalama Sutta (AN 3.65), bản dịch của HT Thích Minh Châu viết, trích...
(Xem: 231)
Từ sinh hoạt quốc gia, chính trị đảng phái, cho đến cả tôn giáo (với nhiều tai tiếng chấn động niềm tin của tín đồ), người ta càng nhìn rõ mặt trái của lòng tham, của bản ngã.
(Xem: 153)
Con đường hoằng pháp thành công của Đức Phật kéo dài bốn mươi lăm năm theo quan điểm Nam truyền.
(Xem: 125)
Súc vật, nhất là những vật nuôi để trợ giúp cho con người trong lao động sản xuất như trâu bò vốn được nông dân thương quý, xem như thành viên của gia đình.
(Xem: 143)
Từ thời Đức Phật, gọi là y ca sa, người sau gọi là “áo giải thoát, còn gọi là Phước điền y”.
(Xem: 239)
Những ai có lòng từ mẫn chân thành chia sẻ tịnh tài hay tịnh vật dù ít dù nhiều tùy khả năng, thì việc bố thí nầy được xem nhưQuảng Đại Tài Thí...
(Xem: 148)
Hơi thở là sự tiếp nối chuỗi cuộc sống trong luân hồi sinh tử của nghiệp báo. Hơi thở tượng trưng cho sự sống. Hơi thở tạo nên...
(Xem: 136)
Trong khi thực hành thiền định, hành giả bắt đầu điều phục thân và điều phục tâm
(Xem: 175)
Trước thời Thế Tôn, nhân loại đã biết và nói đến vô thường của các sự vật hiện tượng. Tuy vậy, cái thấy biết về vô thường này chưa toàn triệt,
(Xem: 133)
Kinh MN 1 (Mulapariyaya Sutta) là Kinh khởi đầu Trung Bộ, được Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch là Kinh Pháp Môn Căn Bản.
(Xem: 231)
Bàn tay ta vun đắp, thành bại thuộc vào duyên, Vinh nhục ai không gặp, Có chi phải ưu phiền.
(Xem: 142)
Đạo Phật chủ trương hòa bình, lấy từ bi hóa giải hận thù, lấy sự xả buông để khắc chế tham ái. Chiến tranh, xung đột, bạo động là biểu hiện rõ ràng của tham lam, sân hậnsi mê.
(Xem: 129)
Đối với đạo Phật, ba ngôi Tam bảo rất quý báu, hiếm có khó gặp ở thế gian nên người con Phật (chư Tăng, Ni, Phật tử nói chung) phải kính lễ, tôn thờ.
(Xem: 205)
Chúng ta được dạy, nếu khéo lắng nghe, ta sẽ được trí tuệ. Nếu không biết lắng nghe, ta sẽ không được gì cả.
(Xem: 797)
Kính Mừng Thọ 70 tuổi HT Thích Như Điển tổng hợp những bài viết cho Hoà Thượng Phương Trượng
(Xem: 230)
Mắt ở đây phải hiểu là cách nhìn, cái mà mình cảm thấy, cái mà mình cho rằng, cái mà mình biết do nhìn thấy
(Xem: 168)
Hai từ " buông bỏ " thời buổi bây giờ là một thành ngữ nghe vô cùng sáo rỗng, đã được xử dụng nhiều nhất trong kỷ nguyên thời đại mới (new age).
(Xem: 413)
Nếu bạn say mê đọc kinh Phật, ưa thích những phân tích kỹ càng về giáo điển, muốn tìm hiểu các chuyện xảy ra thời Đức Phật đi giảng dạy nơi này và nơi kia, hiển nhiên đây là một tác giả bạn không thể bỏ qua
(Xem: 205)
Các nhà hiền triết Ấn Độ giáotu sĩ Phật giáo đã nhận diện tầm quan trọng và lợi ích sức khỏe khi một hành giả thực tập thiền đều đặn trong mỗi ngày.
(Xem: 244)
Theo tuệ giác của Thế Tôn, nếu các căn gặp cảnh trần vừa ý, thọ lạc rồi sinh tâm yêu thích, đắm nhiễm thì đó là cội nguồn của mọi khổ đau.
(Xem: 186)
Kiếp sống này biến mất rất nhanh chóng Giống như thứ gì đó được viết trên mặt nước với một que cây -ĐỨC PHẬT-
(Xem: 213)
Từ non cao, những đợt lá vàng cuốn theo gió, rơi theo dòng suối, trôi giạt xuống con sông nhỏ trong làng; rồi từng nhóm lá xuôi dòng, tấp vào bờ này hay bờ kia.
(Xem: 211)
Cuộc đời là một chuỗi những bài kiểm tra. Khó khăn chính là những bài kiểm tra. Chúng ta đang ở trong một trường đời.
(Xem: 248)
Trong công việc khó có thể tránh khỏi hoàn cảnh bất lợi, nhiều người sợ gặp phải hoàn cảnh khó khăn, cảm thấy nghịch cảnh là một cú sốc lớn.
(Xem: 193)
Đối với hàng Phật tử tại gia, năm giới là năm điều học căn bản để tạo dựng nên một nếp sống đạo đức, tốt đẹplành mạnh.
(Xem: 459)
Nguyên bản: Meditating while dying; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 257)
Từ non cao, những đợt lá vàng cuốn theo gió, rơi theo dòng suối, trôi giạt xuống con sông nhỏ trong làng; rồi từng nhóm lá xuôi dòng, tấp vào bờ này hay bờ kia.
(Xem: 239)
Duyên khởiđạo lý quan trọng trong toàn bộ giáo pháp của Thế Tôn.
(Xem: 265)
Trong khi thực hành thiền quán, hành giả thường hay vướng vào năm chướng ngại, mà thuật ngữ Phật học gọi là
(Xem: 177)
Nhóm Tỳ-kheo được vô lậu giải thoát sau khi nghe Tỳ-kheo do Bồ-tát Văn-thù-sư lợi biến hóa ra giảng giải cho về pháp giới thể tánh.
(Xem: 408)
Pháp Như Thật là pháp thực hành thuộc về Thiền Huệ, nhưng tại sao lại cần phải thực hành pháp Như Thật? Tại sao phải học Thiền Huệ?
(Xem: 222)
Mẹ Hiền, hai tiếng nầy nghe thân thương, êm ái, ngọt ngào biết bao. Nghe mãi không nhàm, nghe hoài không chán.
(Xem: 265)
Tôi hiểu ngay là cả nhà, mỗi người đều đang dán mắt và bấm bấm, quẹt quẹt vào mặt kính cái smartphone của mình.
(Xem: 277)
Trong quan hệ 12 nhân duyên, nhân vì xúc (căn tiếp xúc trần) nên sinh thọ (cảm giác vui, khổ và trung tính), nhân vì thọ nên sinh ái (yêu ghét)...
(Xem: 248)
Nguyên bản: Gaining favorable condition for the time of death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D.; Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 346)
Bùi Giáng là nhà thơ, là dịch giả, là nhà bình luận văn học. Ông sinh ngày 17 tháng 12/1926 tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; từ trần ngày 7 tháng 10/1998 (thọ 71 tuổi) tại Sài Gòn
(Xem: 280)
Để đạt đến pháp giới vốn là pháp giới thể tánh, vốn là pháp giới bạch tịnh này, kinh điển thường dạy VănTư-Tu.
(Xem: 380)
Sau khi kết thúc đời sống hiện tại, chúng ta sẽ theo nghiệp mà thọ sinh vào cảnh giới tương ứng.
(Xem: 287)
Muốn thấy Phật thì Tâm phải như gương sáng. Thấy hết, biết hết mà không bao giờ khởi niệm.
(Xem: 217)
Công việc được hoàn tất tốt đẹp qua sự hưởng ứng và trợ giúp của quý Phật tử tại địa phương và các anh chị em huynh trưởng và đoàn sinh Gia Đình Phật Tử tại Đức Quốc.
(Xem: 360)
Nhiều Kinh điển Đại thừa (Mahayana Sutras)/Kinh điển Phật giáo Phát triển đã giảng 3 phương pháp thiền quán để đạt đến giải thoát, đó là ba cánh cửa của giải thoát.
Quảng Cáo Bảo Trợ