Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
15,020,095
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Điều Gì Xảy Ra Khi Chúng Ta Chết? Đây Là Những Gì Đạo Phật Nói!

27 Tháng Mười Một 201607:57(Xem: 4119)
Điều Gì Xảy Ra Khi Chúng Ta Chết? Đây Là Những Gì Đạo Phật Nói!

ĐIỀU GÌ XẢY RA KHI CHÚNG TA CHẾT?
ĐÂY LÀ NHỮNG GÌ ĐẠO PHẬT NÓI!

Tuệ Uyển
chuyển ngữ, 22/11/2016

 
Điều Gì Xảy Ra Khi Chúng Ta Chết

Giáo lý Đạo Phật đưa ra một sự giải thích hài lòng nhất về vấn đề con người đến từ chốn nào sẽ đi về chốn nào. Khi chúng ta chết, tâm thức với tất cả những thiên hướng, sở thích, năng lựcđặc tính đã từng được phát triển và quy định trong kiếp sống này, sẽ tự tái xây dựng trong một chúng sanh mới. Vì vậy một cá thể mới sinh trưởng và phát triển cá tính được quy định cả bằng những đặc tính tinh thần đã mang theo từ kiếp sống trước và cả bằng môi trường mới. Cá tính sẽ thay đổi và được điều chỉnh bằng những nổ lực ý chíyếu tố nhân duyên như giáo dục, sự ảnh hưởng của cha mẹxã hội nhưng một lần nữa vào lúc chết, nó sẽ tự thiết lập như một đời sống mới trong một chúng sanh mới. Tiến trình của chết và tái sinh này sẽ tiếp tục cho đến khi những điều kiện tạo ra nó như những nhân tố tinh thần về tham dụcsi mê chấm dứt. Khi những nhân tố tinh thần ấy hoạt động như vậy, thay vì tái sanh thì tâm thức sẽ thể nhập vào một thể trạng gọi là niết bàn.

Tâm thức di chuyển từ thân thể này đến thân thể khác như thế nào?

Khi một người sắp chết, người ấy bắt đầu đánh mất sự kiểm soát ý thức của tiến trình tinh thần. Rồi đến lúc hành động và thói quen của người ấy bị ngăn trở với ký ức xảy ra. Trong nhiều trường hợp, trong tâm thức người ấy phát sinh một hình ảnh tinh thần. Hình ảnh ấy là hoàn toàn tự động và được sản sinh bởi nghiệp nhân hay hay hành động quá khứ của người ấy. Vì vậy lệ thuộc vào bản chất của nghiệp nhân đặc thù mà sản sinh ra hình ảnh này, người ấy có thể thấy những hình thể trong bóng tối đen, những hình ảnh đáng sợ, hay người ấy có thể thấy những thân quyến của người ấy hay có thể là những cảnh tượng tươi đẹp. Rất thường, người ấy sẽ la khóc vào những cảnh tượng ấy hay chú ý đến những kẻ viếng thăm người ấy. Mặc dù thân thể vật chất có thể yếu đuối, nhưng những tư tưởng này thì rất mạnh mẽ khi tiếp cận cái chết. Khi thân thể cuối cùng rả rời hoàn toàn lúc chết thì những năng lượng này phát sinh như những năng lượng tinh thần. Như năng lượng không thể bị hủy hoại, chúng phải tự xây dựng trong một thân thể mới vì thể tạo ra hiện tượng tái sanh.

 Hãy nghĩ về nó giống như những làn sóng truyền thanh radio vốn không được tạo ra bằng những từ ngữâm nhạc nhưng tầng số năng lượng khác nhau, được truyền đi, lan tỏa lập tức khắp không gian, được tiếp thu bằng những khí cụ mà từ đó máy truyền thanh phát ra chúng như từ ngữ hay âm nhạc. Cũng giống như vậy với tâm thức. Vào lúc chết, năng lượng tinh thần lan tỏa qua không gian, được đón nhận từ những trứng thụ tinh của bà mẹ tương lai, được tái sanh như một con người mới và biểu hiện như một cá thể mới.

Vì thế, thật quan trọng là người sắp chết được làm cho an tịnh và được nhắc nhở về những việc làm tốt lành của người ấy. Người ấy không nên bị làm cho bối rối và những người viếng thăm không nên quá đau buồn trong sự hiện diện của người ấy. Cũng không có những ý kiến không quen thuộc như một tôn giáo mới được giới thiệu cho người ấy. Đức Phật nhắc nhở rằng khi một người sợ hãi, thì người ấy nên được nhắc nhở để nhớ đến Phật, Pháp, và Tăng.

Có phải người ta luôn luôn tái sanh như những con người?

Không, có vài cảnh giới mà một cá thể có thể được tái sanh. Một số người được tái sanh ở những cõi trời, một số tái sanh trong những địa ngục, một số có thể được tái sanh như những quỷ đói, hay các thú vật, hay sanh vào cõi a tu la. Cõi trời không phải là một nơi chốn nhưng là một thể trạng tồn tại, nơi mà chúng sanh có một thân thể vi tế và nơi mà tâm thức trải nghiệm chính yếusung sướng. Một số tôn giáo cố gắng rất nghiệt ngã để được tái sanh trong sự hiện hữucõi trời, tin tưởng một cách sai lầm rằng đó là một thể trạng vĩnh cửu. Nhưng không phải như thế. Giống như tất cả những thể trạng duyên sanh, thiên đàngvô thường và khi tuổi thọ đã mãn, chúng sanh ấy chắc chắn phải tái sanh trở lại như một con người, hay những cõi khác trong sáu cõi luân hồi như a tu la, súc sanh, quỷ đói hay địa ngục. Địa ngục cũng giống như thế, không phải là một nơi chốn nhưng là một thể trạng hiện hữu nơi chúng sanh có một thân thể vi tế và nơi tâm thức trải nghiệm chính yếulo lắngcăng thẳng. Hiện hữu là quỷ đói, xét cho cùng là một thể trạng tồn tại nơi thân thểvi tế và là nơi mà tâm thức liên tục bị phiền hà bởi sở hữubất mãn. Thế nên, chúng sanh cõi trời trải nghiệm chính yếusung sướng, chúng sanh địa ngục và quỷ đói trải nghiệm chính yếuđau khổchúng sanhcõi người trải nghiệm thông thường là lẫn lộn cả hai thứ khổ và vui. Vì vậy, sự khác biệt chính yếu giữa cõi người và những cõi khác là loại thân thể và phẩm chất trải nghiệm.

Không lỗi thấy sai quấy
Có lỗi thấy là không
Do chấp tà kiến như vậy
Chúng sanh sanh cảnh khổ 

Có lỗi biết là lỗi
Không lỗi biết là không lỗi
Do phải quấy thông suốt
Chúng sanh sanh cảnh vui
Pháp cú 318-319 (Thư viện hoa sen)

Điều gì quyết định nơi chúng ta sẽ tái sanh?

Nhân tố quan trọng nhất nhưng không phải là duy nhất, tác động đến nơi chúng ta sẽ tái sanh và sự sống nào chúng ta sẽ có, đó là nghiệp. Chữ nghiệp (karma) có nghĩa là 'hành động' và liên hệ đến những hành động tinh thần cố ý của chúng ta. Nói cách khác, chúng ta là gì được quyết định rất nhiều bởi vấn đề chúng ta đã suy nghĩ và hành động thế nào trong quá khứ. Giống như thế, vấn đề chúng ta suy nghĩ và hành động thế nào bây giờ sẽ tác động đến vấn đề chúng ta sẽ ra sao trong tương lai. Giống như những làn sóng truyền thanh sẽ được tiếp thu bởi một máy radio biến thành những năng lượng đặc thù của nó, những năng lượng tinh thần sản sinh vào lúc chết sẽ tái thiết lập một cách tự nhiên trong một thân thể vật chất mới phù hợp nhất với nó. Do vậy, loại người tế nhị, yêu thương sẽ được tái sanh trong cõi trời hay như một con người trong một môi trường thoải mái. Loại người băn khoăn, lo lắng, hay cực kỳ độc ác sẽ bị tái sanh trong cõi địa ngục, hay như một con thú hay một con  người được sanh ra trong một môi trường cực kỳ khó khăn.

Không chỉ có chứng cứ khoa học hổ trợ cho hiện tượng tái sanh, mà nó là một giáo thuyết sự sống nối tiếp sự sốn có mọi chứng cứ hổ trợ cho nó. Trong ba mươi năm trở lại đây các nhà cận tâm lý (parapsychologists) đã và đang nghiên cứu cho biết rằng một số người nào đó có những ký ức sinh động về những kiếp sống quá khứ của họ. Giáo sư  Ian Stevenson (31/10/1918 – 8/2/2007) của trường đại học Virginia Khoa tâm lý đã diễn tả hàng chục trường hợp về loại này trong những quyển sách của ông. Ông là một nhà khoa học được công nhận trong quá trình nghiên cứu 25 năm về những người nhớ về những kiếp sống quá khứ của họ là chứng cứ rất mạnh mẽ về sự tái sanh.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 40)
Trung luận, còn gọi là Trung quán luận, bốn quyển, Bồ-tát Long Thọ trước tác kệ tụng, ngài Thanh Mục làm Thích luận, được dịch ra chữ Hán ...
(Xem: 81)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào?
(Xem: 332)
Trước tiên là về duyên khởi của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Theo truyền thuyết, Kinh này được Phật giảng vào lúc cuối đời, được kết tập trong khoảng năm 200.
(Xem: 127)
Phật và chúng sinh thật ra vẫn đồng một thể tánh chơn tâm, nhưng chư Phật đã hoàn toàn giác ngộ được thể tánh ấy.
(Xem: 455)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào? Phát Bồ-Đề Tâm phải học theo những Kinh, Luận nào?
(Xem: 179)
Cúng dường là nuôi dưỡng khiến Tam Bảo hằng còn ở đời. Tất cả những sự bảo bọc giúp đỡ gìn giữ để Tam Bảo thường còn đều gọi là cúng dường.
(Xem: 210)
Bốn cấp độ thiền định hay tứ thiền là bốn mức thiền khi hành giả thực hành thiền có thể đạt được.
(Xem: 178)
Một bào thai sở dĩ có mặt trên cuộc đời này ngoài yếu tố chính là do cha mẹ sinh ra, còn là kết quả của một tiến trình không đơn giản.
(Xem: 155)
Đạo Phật là nguồn sống và lẽ sống của con người, là cương lĩnh cho nhân thế. Với sứ mạng thiêng liêng cao đẹp ấy, đạo Phật không xa lìa thực thể khổ đau của con người.
(Xem: 294)
Mục đích của Đạo Phậtdiệt khổ và đem vui cho mọi loài, nhưng phải là người có trí mới biết được con đường đưa đến an lạchạnh phúc
(Xem: 185)
Người ta thường nói đạo Phật là đạo của từ bitrí tuệ. Đối với nhiều người Phật tử, từ bi là quan trọng hơn cả, và nếu khôngtừ bi thì không có đạo Phật.
(Xem: 361)
Các nhà khảo cổ đang nghiên cứu tại Nepal đã phát hiện bằng chứng về một kiến trúc tại nơi sinh ra Đức Phật có niên đại thế kỷ thứ 6 trước công nguyên.
(Xem: 377)
Theo Đức Phật, tất cả những vật hiện hữu đều biến chuyển không ngừng. Sự biến chuyển này thì vô thuỷ vô chung. Nguồn gốc của vũ trụ không do một Đấng Sáng tạo (Creator God) tạo ra.
(Xem: 357)
Đức Phật đản sanh vào năm 624 trước Công nguyên. Theo lý giải của Phật Giáo Nam Tông thì Đức Phật sanh ngày Rằm tháng Tư Âm lịch.
(Xem: 392)
Nếu bạn say mê đọc kinh Phật, ưa thích những phân tích kỹ càng về giáo điển, muốn tìm hiểu các chuyện xảy ra thời Đức Phật đi giảng dạy nơi này và nơi kia, hiển nhiên đây là một tác giả bạn không thể bỏ qua
(Xem: 250)
Tánh Không là một trong những khái niệm quan trọng và khó thấu triệt nhất trong giáo lý Phật giáo Đại thừa.
(Xem: 450)
Nguyên bản: Meditating while dying; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 519)
Ba Mươi Hai Cách ứng hiện của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Bởi vì Quan Thế Âm Bồ Tát đồng một Sức Từ với đức Phật Như Lai cho nên ngài ứng hiện ra 32 thân, vào các quốc độđộ thoát chúng sanh
(Xem: 394)
Thể tánh của tâm là pháp giới thể tánh, bởi vì nếu không như vậy thì tâm không bao giờ có thể hiểu biết, chứng ngộ pháp giới thể tánh.
(Xem: 308)
Trong kinh tạng Nikāya, khái niệm con đường độc nhất (ekāyana magga) là một khái niệm thu hút nhiều sự quan tâm của học giới từ phương Tây cho đến phương Đông
(Xem: 283)
Thuật ngữ pháp (dharma, có căn động tự là dhṛ có nghĩa là “duy trì, nắm giữ”; Pāli: dhamma; Tây Tạng: chos) mang nhiều ý nghĩa và ...
(Xem: 325)
Trì danh là pháp tu Tịnh Độ phổ thông nhứt hiện nay. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm, có Mười cách trì danh khác nhau
(Xem: 349)
Phật dạy tất cả pháp hữu vi đều là vô thường sanh diệt không bền vững, như vậy thìthế gian cái gì có tạo tác có biến đổi đều là vô bền chắc.
(Xem: 436)
Nguyên bản: Removing obstacles to a favorable death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 369)
Mối liên hệ giữa hình thức sớm nhất của Phật giáo và những truyền thống khác mà chúng đã phát triển về sau là một vấn đề luôn tái diễn trong lịch sử tư tưởngPhật giáo.
(Xem: 516)
Nghiệp và Luân hồi là hai ý niệm đã có trong Ấn độ giáo, được giảng giải trong các Kinh Veda và Upanishad vào khoảng 1500 năm trước CN.
(Xem: 8925)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 914)
Mục tiêu cao cả của đạo Phật là dạy con người tu tập để thoát khổ, giác ngộgiải thoát.
(Xem: 369)
Phật giáo du nhập Nhật Bản vào thế kỷ thứ VI, sau đó trải qua thời kì Nara (710~785), thời kì Heian (794~1192) cho đến thời kì Kamakura (1192~1380), trước sau khoảng 700 năm, rồi phát sinh rất nhiều tông phái.
(Xem: 418)
Tổ Quy Sơn dặn: “Nói ra lời nào phải liên hệ với kinh điển. Đàm luận gì, phải xét lại lời người xưa”.
(Xem: 350)
Nhiều học giả phân vân là làm thế nào và tại sao những nhà Đại chúng bộ (Mahāsāṅghika) đã hình thành nên khái niệm về một Đức Phật siêu việt...
(Xem: 533)
Hoa Sen Diệu Phápgiáo pháp được thuyết giảng trong Kinh Pháp Hoa. Quang Trạch giải thích Diệu Pháp là nhân của đạo Nhất Thừa, là quả của đạo Nhất Thừa.
(Xem: 310)
Con người sống qui tụ lại thành một xã hội, và phát triển tập thể này rộng lớn dần dần thành một quốc gia.
(Xem: 1483)
Trước khi xác định Phật Giáo như là một hệ thống tư tưởng triết học (Buddhism as a philosophy) hay như là một tôn giáo (Buddhism as a religion), chúng ta sẽ tìm hiểu triết học là gì ? và Phật giáo là gì ?
(Xem: 445)
Lục độ Ba-la-mật-đa/ Sáu phương pháp tu Ba-la-mật-đa (Six Paramitas) là 6 pháp tu để giải trừ các khổ ách của Đại thừa Phật giáo.
(Xem: 450)
Theo quan điểm của Đại hoàn thiện thì ánh sáng trong suốt hiển hiện một cách tự nhiên và được gọi là "hoàn-toàn-tốt"
(Xem: 626)
Đức Phật ra đời vào năm 624 trước tây lịch tại nước Ấn Độ. Ngài thuyết pháp 49 năm. Phật giáo đã trở thành quốc giáo, vì các vua, các quan và dân chúng đa phần đều theo đạo Phật.
(Xem: 648)
Y Kinh Kinh Cang Bát Nhã Ba La Mật: Đức Thế Tôn Như Lai hỏi ngài Tu Bồ Đề: Như Lainhục nhãn không? Ngài Tu Bồ Đề thưa:
(Xem: 1495)
Cuốn sách “Luân Hồi trong Lăng Kính Lăng Nghiêm” được ra mắt cách đây 9 năm (2008), in lần thứ hai, ba và tư vào năm 2012, 2014 & 2016 tại Nhà xuất bản Phương Đông, và năm nay (2018) cũng tại NXB Hồng Đức
(Xem: 921)
điều chắc chắn là làm người, ai cũng có ý thức về tội lỗi. Điều này là không đúng, điều này là không tốt, điều này là không đẹp.
(Xem: 582)
Tựa đề của khảo luận này phát xuất từ tồn nghi của một pháp hữu trong khi dịch lại bản kinh Tập (Sutta Nipāta) ở văn hệ Nikāya.
(Xem: 1021)
Khái niệm ‘nghiệp’, thật ra, đã có mặt trong văn học Bà-la-môn giáo từ rất lâu trước khi Đức Phật xuất hiện ở đời.
(Xem: 548)
Vũ trụ, con người hình thành như thế nào và tương lai sẽ ra sao? Câu hỏi chưa bao giờ được xếp lại. Khoa học lượng tử luôn tiên phong...
(Xem: 527)
rong lịch sử tư tưởng Ấn-độ, thuyết Trung đạo đã mang lại cho tư tưởng giới đương thời một không khí hoạt bát[1].
(Xem: 690)
Bản chất của ánh sáng trong suốt, mang tính cách nền tảng và rạng ngời, là cội nguồn tối hậu của tất cả mọi cấp bậc tri thức...
(Xem: 797)
Chánh Pháp là gì? Phật Pháp được chia thành ba thời kỳthời Chánh Pháp, thời Tượng Pháp, và thời Mạt Pháp.
(Xem: 1203)
Ông trị vì từ năm 269 TCN đến năm 232 TCN thuộc đời thứ 3 của triều đại Maurya. Đế chế của ông rộng lớn gần như tất cả tiểu lục địa Ấn Độ trãi dài từ Đông sang Tây.
(Xem: 882)
Trong Kinh Kim Cang, Phật dạy có 4 tướng: “Ngã – Nhân – Chúng Sanh – Thọ Giả”. Khi còn phàm phu, chấp thân này là thật là bền vững,
(Xem: 879)
Đạo Phật đang phát triển rộng rãi đến nhiều tầng lớp. Rất nhiều các bậc tri thức, các nhà khoa học chân chính, đến cả những người ...
(Xem: 1619)
Kiếp sống của mỗi con người sinh ra ở thế giới Ta Bà này, dù thọ mạngdài hay ngắn, nhìn chung có thể phân chia làm nhiều giai đoạn.
(Xem: 1043)
Kể từ thời điểm Phật giáo khai sinh và nở hoa khắp mọi miềnthế giới, hễ mỗi khi nói đến hình ảnh một vị Phật xuất hiện trong tương lai,
(Xem: 744)
Phép luyện tập thiền định được hỗ trợ bởi sự thực thi các hành động vị tha, các hành động đó đồng thời cũng được thúc đẩy bởi tình thương yêu và lòng từ bi.
(Xem: 635)
Nếu đủ sức duy trì một cách đúng đắn sự nhận biết tâm thức thần bí nhất thì kết quả mang lại từ phép luyện tập đó sẽ trợ lực các bạn rất nhiều
(Xem: 798)
Thời-không vũ trụ chứa hàng triệu, tỉ, hàng ức cho đến không máy móc nào đếm hằng hà sa số hành tinh như trái đất mới biết con ngườimột sinh thể gần như bằng không.
(Xem: 984)
Trong các bài kinh thuộc hệ A Hàm hay kinh Đại Bát Niết Bàn v.v… Phật có nói đến địa ngục. Đề Bà Đạt Đa, Tì kheo Thiện Tinh, vua Lưu Ly v.v… đều đọa vào địa ngục ngay khi chết.
(Xem: 748)
Xét về niên đại, bản kinh có mặt ở thời Hậu Hán (23-220), xuất hiện trong Cao Tăng Truyện quahành trạng của ngài Nhiếp-ma-đằng (攝摩騰)[2].
(Xem: 707)
Thể dạng lắng sâu thường xuyên bên trong tâm thức thần bí nhất chỉ có thể thực hiện được với những người có một khả năng thật bén nhạy.
(Xem: 1421)
Bài viết này sẽ khảo sát một số thắc mắc thường gặp về Thiền Tông, hy vọng sẽ tiện dụng cho một số độc giả còn nhiều nghi vấn.
(Xem: 1014)
Thức Thứ Tám hay A Lại Ya là thức chủ trong 8 thức. Thức nầy có nhiều cách gọi khác nhau để chỉ về nhiệm vụ của mình. Tựu chung thức nầy có 3 việc chính là: Năng tàng, Sở tàng và Ngã ái chấp tàng.
Quảng Cáo Bảo Trợ