Logo Hanh Huong
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
13,757,662
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Phần Hai: Cuộc Đời và Nhân Cách Vai Trò Trợ Giáo Cho Đức Dalai Lama

14 Tháng Mười Hai 201612:29(Xem: 843)
Phần Hai: Cuộc Đời và Nhân Cách Vai Trò Trợ Giáo Cho Đức Dalai Lama

Chân Dung Của Tsenzhab Serkong Rinpoche

Alexander Berzin, 1998
   Lozang Ngodrub chuyển Việt ngữ;
Võ Thư Ngân hiệu đính

Phần Hai: Cuộc Đời và Nhân Cách
Vai Trò Trợ Giáo Cho Đức Dalai Lama

 

    Tsenzhab Serkong Rinpoche là một người đàn ông vạm vỡ, một nhà sư cạo đầu, đắp y đỏ, khuôn mặt hằn nếp nhăn, khiến cho ngài trông già cỗi hơn tuổi tác. Tính cách khiêm cung, thông tuệ và khôi hài hiền hòa khiến cho ngài xuất hiện như mẫu người hiền triết trong chuyện ngụ ngôn. Cá tính này không tránh được sự chú ý của người Tây phương khi gặp gỡ ngài. Ví dụ như khi gặp ngài ở Dharamsala, nhà sản xuất của bộ phim Star Wars (Chiến Tranh Giữa Các Vì Sao) đã quyết định dùng ngài làm mô hình cho Yoda, nhà hướng dẫn tâm linh của thiên sử thi. Rinpoche chưa bao giờ xem phim này, nhưng chắc chắn sẽ thích thú với hý họa về ngài. Tuy nhiên, điểm nổi bật nhất của Rinpoche là mối quan hệ với Đức Dalai Lama.

Đức Dalai Lama là lãnh tụ tâm linhthế tục của Tây Tạng. Giòng kế nhiệm của Ngài nối tiếp bằng sự tái sinh. Khi một Đức Dalai Lama thị tịch, người cộng sự thân cận nhất của Ngài sẽ dựa vào một quá trình phức tạp để xác định tái sinh kế tiếp của Ngài như một đứa bé và tìm ra địa điểm của vị tái sinh. Sau đó, mỗi một vị Dalai Lama mới sẽ được giáo dục bằng cách tốt nhất, từ các vị thầy hội đủ mọi phẩm hạnh cao quý nhất. Các vị thầy cố vấn bao gồm một vị giáo thọ chính và một giáo thọ phụ, bảy vị tsenzhab, thường được dịch là “các vị trợ giáo”.

Phật giáo Tây Tạng có bốn truyền thống lớn, được truyền từ Ấn Độ qua các dòng truyền thừa khác nhau, nhưng không hề có mâu thuẫn lớn trong các giáo huấn căn bản. Chín vị thầy chính của Đức Dalai Lama xuất thân từ truyền thống Gelug (Cách-lỗ), là truyền thống lớn nhất trong bốn truyền thống. Ngài tu học với các đạo sư của ba dòng truyền thừa khác, Nyingma (Ninh-mã), Kagyu (Ca-nhĩ-cư) và Sakya (Tát-ca), một khi Ngài đã hoàn tất chương trình tu học căn bản. Mỗi một vị trong bảy vị tsenzhab xuất thân từ bảy tu viện lớn của Gelug gần Lhasa, thủ đô của Tây Tạng. Các vị này được tuyển chọn dựa vào trình độ tu học, thành tựu thiền định và trên hết là nhân cách. Serkong Rinpoche là vị tsenzhab được bổ nhiệm từ Ganden Jangtsey, một tu viện do chính ngài Tông Khách Ba (Tsongkhapa) thành lập, người đã sáng lập truyền thống Gelug. Khi đảm nhận chức vụ này vào năm 1948, Serkong Rinpoche đã 34 tuổi và Đức Dalai Lama 13 tuổi. Rinpoche là người duy nhất trong bảy vị tsenzhab có thể lưu vong sang Ấn Độ với Đức Dalai Lama vào năm 1959.

Các Lãnh Vực Chuyên Môn

Cho đến ngày viên tịch vào tháng 8, năm 1983, Rinpoche đã hết lòng phụng sự Đức Dalai Lama. Nhiệm vụ chính của người là tham dự tất cả các lớp học của Đức Dalai Lama, rồi tranh biện với Ngài để bảo đảm là Ngài thấu hiểu các giáo huấn một cách đúng đắn. Thật ra, Đức Dalai Lama đã nài nỉ Rinpoche có mặt trong mọi lớp học của Ngài, để ít nhất là có một vị lama chia sẻ toàn bộ chương trình tu học với Ngài. Vì vậy, Rinpoche là bậc thầy của cả bốn truyền thống Tây Tạng, giống như Đức Dalai Lama. Lãnh vực chuyên môn của người bao gồm toàn bộ hai phần chính của chương trình tu học Phật pháp, Kinh điềnMật điển. Kinh điển truyền đạt các giáo pháp căn bản, trong khi Mật điển chứa đựng những phương pháp sâu rộng, nhằm chuyển hóa bản thân.

Rinpoche còn có thành tựu xuất sắc trong truyền thống nghệ thuật và khoa học Phật giáo. Ví dụ, ngài là chuyên gia về việc đo đạc và tạo dựng các mạn đà la (mandala) hai chiều và ba chiều được sử dụng trong nghi lễ Mật tông, và các loại bảo tháp (stupa) được sử dụng để an vị xá lợi. Hơn nữa, ngài là bậc thầy về thi phú, sáng tác và ngữ pháp Tây Tạng. Phong cách giảng dạy của ngài mang tính cách tao nhã và nhạy bén, quân bình với sự quan tâm về chi tiết kỹ thuật.

Serkong Rinpoche còn là một chuyên gia về môn bói toán Tây Tạng (mo). Trong hệ thống này, người ta nhập định rồi thảy ba hột xí ngầu vài lần, rồi phân tích kết quả để giúp người khác quyết định những vấn đề khó khăn. Hơn nữa, ngài còn biết môn chiêm tinh Tây Tạng, bao gồm việc tinh thông môn toán học phức tạp để định vị các hành tinh. Tuy nhiên, cách ngài tiếp cận các lãnh vực bí truyền luôn luôn thực dụngthực tế. Việc sử dụng các phương pháp này là cách bổ sung cho óc phán đoán thông thường, không phải để thay thế nó.

Rinpoche Luôn Khiêm Cung, Dù Là Thầy Của Đức Dalai Lama 

Rinpoche luôn luôn khiêm tốn, dù ngài giữ một vị trí quan trọng và có sở học uyên bác. Dù là một trong những vị thầy chính của Đức Dalai Lama, đặc biệt là về Kalachakra (Thời Luân), hệ thống Mật điển phức tạp nhất, dù đã ban cho vị đệ tử đặc biệt nhiều lễ quán đảnh, ngài không bao giờ thích được gọi là “Vị Trợ Giáo” bằng tiếng Anh. Ngài chỉ muốn danh hiệu tsenzhab được chuyển dịch theo nghĩa đen là “Hầu Cận Tranh Biện”, nhưng cuối cùng đã đồng ý với danh từ “Đạo Sư Đối Tác Tranh Biện”.

Serkong Rinpoche phụng sự cho Đức Dalai Lama theo hai cách, chính thức và không chính thức. Ví dụ, Đức Đalai Lama thường thực hiện các pháp hành thiền đặc biệt và lễ cúng dường (puja) vì phúc lợi của thế giới nói chung và cho dân chúng của Ngài nói riêng. Ngài thực hiện một số nghi lễ này riêng tư, một số thì có sự tham gia của các nhà sư được tuyển chọn, và số khác thì trước đông đảo quần chúng. Theo lệ thường, Ngài sẽ yêu cầu Rinpoche tham dự các nghi lễ này, hoặc thực hiện hay chủ trì chúng thay cho Ngài, nếu Ngài quá bận rộn với những công việc khác. Hơn nữa, khi Đức Dalai Lama thuyết pháp, Rinpoche sẽ ngồi phía bên phải của Ngài, nêu ra bất kỳ từ ngữ nào khi Ngài cần, hoặc trả lời bất cứ câu hỏi hay nghi vấn nào mà Ngài thắc mắc. Khi các vị lama khác quá ngại ngùng trực tiếp trao truyền các giáo huấn hay dòng truyền thừa cho Đức Dalai Lama, các ngài sẽ trao truyền chúng cho Rinpoche, rồi Rinpoche trao truyền lại cho Đức Dalai Lama, như cái phễu tâm linh.

Khả Năng Ngoại Giao

Đức Dalai Lama thường gọi Serkong Rinpoche là nhà cố vấn và đại úy của mình, người đưa chính sách của Ngài đến các tu việncông chúng. Đó là vì Rinpoche là một nhà ngoại giao bậc thầy trong cả hai lãnh vực tôn giáothế tục. Ngài thường làm trung gian cho việc giàn xếp các vụ tranh chấp địa phương và cố vấn cho văn phòng của Đức Dalai Lama về nghi thức ngoại giao địa phương ở các vùng mà ngài biết rõ.

Tính khôi hài nồng nhiệt làm nổi bật tài ngoại giao của ngài. Người ta thường kể chuyện tếu cho ngài nghe, không chỉ vì ngài cười đùa và rất thích chuyện vui, mà ngài còn kể lại cho người khác một cách rất tài tình. Toàn thân ngài sẽ rung lên vì tiếng cười, và không khí vui vẻ lan rộng đến tất cả mọi người xung quanh. Sự kết hợp giữa trí tuệ thực tiễn và tính khôi hài nồng nhiệt khiến bất cứ ai gặp ngài đều yêu quý ngài.

Tái Thiết Tu ViệnĐào Tạo Người Vấn Linh Cho Hộ Pháp Quốc Gia

Ấn Độ, Rinpoche có công trong việc tái thiết nhiều tu việnni viện đã bị phá hủyTây Tạng, sau khi quê hương ngài bị Trung Quốc xâm chiếm. Ngài thực hiện điều này bằng cách ban các lễ quán đảnhthuyết pháp, để chư tăng ni có thể tiếp nối các nghi lễ truyền thống. Điều này đặc biệt đúng đối với tu viện của hai vị hộ pháp quốc gia, Nechung và Gadong, nơi mà ngài đã giữ mối quan hệ chặt chẽ suốt đời. Giống như Rinpoche đã phụng sự Đức Dalai Lama trong vai trò cố vấn chính về phía con người, các vị hộ pháp là các nhà tư vấn truyền thống về mặt siêu nhiên của Đức Dalai Lama. Họ nói chuyện với Ngài qua người vấn linh trung gian trong trạng thái hôn mê. Rinpoche giám sát việc đào tạo lãnh vực tâm linh cho các vị vấn linh, để họ trở thành nguồn truyền tin thanh tịnh cho trí tuệ cao cả hơn.

Rinpoche không bao giờ tránh né khó khăn vì lợi ích trao truyền hay tiếp nhận Phật pháp. Ví dụ trong một mùa hè, ngài đã chịu đựng cái nóng khắc nghiệt ở Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya) đề thọ nhận chỉ giáo Thời Luân từ Kunu Lama Rinpoche. Vị Thầy cao quý từ Kinnaur, một khu vực văn hóa Tây Tạng thuộc về phía Ấn Độ trên dãy Hy Mã Lạp Sơn (Himalayas), là bậc thầy tại thế duy nhất trong thời hiện đại mà tất cả người dân Tây Tạng đều công nhận là một vị Bồ tát. Bồ tát là người hoàn toàn quên mình, dấn thân đề đạt giác ngộlợi lạc của chúng sanh. Bồ Đề Đạo Tràng là vùng thánh địa, nơi Đức Phật đã đạt giác ngộ dưới cội bồ đề. Nơi này thuộc về khu vực nghèo nàn nhất và nóng bức nhất ở Ấn Độ. Vào mùa hè, nhiệt độ thường lên đến 120 độ F (Fahrenheit), là gần 50 độ C (Centigrade). Với tình trạng thường bị cúp điện, thiếu nước và không có máy lạnh, việc cư ngụ ở đó hoàn toàn là một sự thử thách. Kunu Lama thường sống ở đó, trong một gian phòng nhỏ không có cửa sổ, không có cả một máy quạt.

Cải Cách Phật Giáo Tại Thung Lũng Hy Mã Lạp Sơn, Vùng Spiti

Rinpoche đã vân du khắp nơi để thuyết phápẤn Độ, hai lần ở miền Đông Âu châu và Bắc Mỹ. Dù có viếng thăm các trung tâm lớn, ngài luôn luôn thích những trung tâm nhỏ, ở vùng hẻo lánh, nơi hiếm có thầy và các vị thầy khác không thích đến. Ví dụ, đôi khi ngài du hành bằng trâu yak để thuyết pháp cho những người lính thuộc đơn vị Tây Tạng trong quân đội Ấn Độ, ở biên giới Ấn-Tạng. Ngài sẽ cắm trại ở độ cao và không bao giờ quan tâm đến sự khó khăn.

Trong các vùng cận biên giới hẻo lánh này, Rinpoche đặc biệt có mối liên hệ gần gũi với Spiti, vùng thung lũng cao Hy Mã Lạp Sơn của Ấn Độ, kế bên Kinnaur, nơi ngài đã viên tịchtái sanh. Một ngàn năm trước, vùng đất khô cằn, đầy bụi bặm của quận này đã thuộc vào Tây Tạng, và là trung tâm phục hưng của Phật giáo. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, tiêu chuẩn tu tập đã suy giảm, như đã từng xảy ra trong một thiên niên kỷ trước. Các nhà sư bỏ bê giới nguyện về đời sống độc thânkiêng cữ rượu. Họ rất ít tu họchành trì giáo pháp của Đức Phật.

Sau năm lần viếng thăm thung lũng này, Rinpoche cố tìm cách tạo ra thời kỳ phục hưng thứ hai. Ngài đã thực hiện điều này bằng cách dồn năng lực vào tu viện cổ kính nhất, Tabo Gonpa, ở Spiti một lần nữa. Ngài đã ban lễ quán đảnhtruyền khẩu về các nghi lễ truyền thống của tu viện này cho các nhà sư. Ngài du nhập các vị thầy uyên bácsáng lập một trường học cho trẻ em địa phương. Cuối cùng, vào tháng 7 năm 1983, Rinpoche tổ chức việc thỉnh mời Đức Dalai Lama ban lễ quán đảnh Thời Luân tại Tabo. Việc giáo huấn Thời Luân được đưa từ Ấn Độ sang Tây Tạng năm 1027 đã trở thành sự kiện đánh dấu sự tái thiết của Phật giáo sau một thời kỳ rối loạn lâu dài. Ngài hy vọng rằng lễ quán đảnh hiện tại cũng sẽ giúp ích cho cùng một mục đích.

Cúng Dường Rộng Rãi Cho Các Tu Viện

Serkong Rinpoche cũng là một nhà bảo trợ lớn cho các buổi thuyết pháp. Ví dụ như khi nhận được bất kỳ sự cúng dường nào ở Spiti, ngài đều cúng dường lại cho tu viện. Với sự hiến tặng rộng rãi này, Tabo Gonpa đã có thể bắt đầu một lễ cầu nguyện thường niên để người dân địa phương tụ họp và trì tụng om mani padme hum trong ba ngày. Những âm tiết thiêng liêng này (mantra, chú) liên hệ đến Đức Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokiteshvara), vị bổn tôn (yidam) hiện thân của lòng bi mẫnđặc biệt gần gũi với tất cả tín đồ Phật giáo Tây Tạng. Việc trì tụng minh chú này giúp ta quán tâm từ với tất cả chúng sanh.

Rinpoche đã dùng số tịnh tài cúng dường cho Ngài trong chuyến hoằng pháp đầu tiên ở Tây phương để đặt làm một bức tranh bổn tôn Thời Luân thật lớn. Ngài dâng tặng bức tranh cho Đức Dalai Lama để tiện việc sử dụng khi Đức Dalai Lama ban lễ quán đảnh Thời Luân ở khắp nơi. Với số tịnh tài này, Ngài còn đặt làm một bộ tranh minh họa cuộc đời của Tông Khách Ba (Tsongkhapa), và dâng tặng cho tu viện của ngài, Ganden Jangtsey. Nhiều năm về trước, ngài đã giúp tái thiết tu viện này tại Mundgod, Nam Ấn. Với số tịnh tài nhận được trong chuyến hoằng phápTây phương lần thứ hai, ngài đã cúng dường rộng rãi cho hơn 4000 tăng ni tụ họp tại Tu Viện Drepung, Mundgod, vào tháng 3 nắm 1983, cho đại lễ cầu nguyện (Monlam) đầu tiên tại Ấn Độ. Monlam là đại lễ cầu nguyện truyền thống được tổ chức tại Lhasa, là thời giantoàn thể chư tăng ni tề tựu suốt một tháng để thực hiện đại lễ.

Không Ưa Hình ThứcThực Hành Giản Dị

Dù là một bậc thầy chuyên về nghi lễnghi thức, Rinpoche vẫn khiêm tốn và không thích hình thức bề ngoài. Ví dụ như khi du hành sang phương Tây, ngài không bao giờ mang theo các pháp khí hành lễ trang trí công phu hay tranh vẽ. Khi nào cần ban lễ quán đảnh thì ngài tự tay vẽ bất cứ hình ảnhcần thiết, dùng bánh ngọt hay bánh quy thay cho bột nhào được điêu khắc để cúng dường (torma), và dùng bình hoa hay cả bình sữa để thay thế cho tịnh bình trong nghi lễ. Khi không có sự chuẩn bị đặc biệt nào cho tsog, một buổi lễ cúng dường rượu, thịt, torma, trái cây và kẹo đã được tịnh hóa mỗi tháng hai lần, trong lúc đang du hành, ngài sẽ lẳng lặng cúng dường bất kỳ món thịt nào trong bữa ăn.

Hơn nữa, Rinpoche luôn luôn thuyết pháp phù hợp với căn cơ của người nghe. Một lần nọ, ngài được mời đến Thiền Viện Mount Tremper gần Woodstock, New York. Các thành viên của Thiền Viện khẩn cầu ngài ban lễ cho phép hành trì (jenang) pháp tu Đức Văn Thù Sư Lợi (Manjushri), bổn tôn hiện thân cho trí tuệ. Để phù hợp với tính giản dị trong truyền thống Zen, Rinpoche đã ngồi trên sàn nhà, thay vì trên ngai, và ban lễ jenang mà không có một pháp khí hay nghi lễ chuẩn bị công phu nào.

Không Tự Phụ Và Khiêm Tốn Thật Lòng

Đức Dalai Lama mô tả Tsenzhab Serkong Rinpoche như một Kadampa Geshe thực thụ. Kadampa Geshe là các vị đạo sư của Phật giáo Tây Tạng từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 13, được biết đến qua cung cách chân thành, khiêm cung và hành trì trực tiếp. Ví dụ như trong một buổi nói chuyện, khi đề cập đến Rinpoche, Đức Dalai Lama nói rằng người duy nhất ngồi tại đây một cách khiêm nhường là người không cần phải khiêm cung, trong khi những người còn lại thì lại kiêu hãnh. Một lần nọ, khi được thỉnh cầu ban cho một lời khuyên chính, Rinpoche nói rằng hãy luôn luôn khiêm cung, không tự phụ, có nhiệt tâm và nghiêm túc với tất cả mọi người.

Rinpoche đã sống một cuộc đời hoàn toàn phù hợp với lời khuyên này. Một lần nọ, Rinpoche ở trong một căn hộ lớn của một gia đình tốt bụng tại Milan, nước Ý. Phần đông các vị lama cao quý đều ở tại căn hộ này khi đến thành phố Milan. Bà ngoại trong gia đình này nói rằng trong tất cả các vị lama, bà thích Serkong Rinpoche nhất. Các vị lama khác sẽ ngồi trong phòng riêng rất trịnh trọng và thọ trai một mình, trong khi Serkong Rinpoche thì mặc y và váy lót vô nhà bếp vào sáng sớm. Ngài sẽ ngồi uống trà một cách khiêm tốn ở bàn ăn trong bếp, tụng chú với chuỗi tràng hạt, hoàn toàn thoải mái và tươi cười, trong khi bà chuẩn bị đồ ăn sáng.

Khả Năng Dạy Dỗ Tính Khiêm Cung Và Nghiêm Túc Với Mọi Người

Rinpoche còn dạy người khác xả bỏ tính tự phụ. Một lần nọ, các vị sư Tây phươngTu Viện Nalanda tại Lavaur, nước Pháp, thỉnh mời Rinpoche thuyết pháp ở đó ba ngày. Các sư khẩn cầu ngài giảng giải chương sách vô cùng khó khăn với đề tài trí tuệ trong tác phẩm Bồ Tát Hạnh (Engaging in Bodhisattva Behavior, Bodhicharyavatara) của đại sư Tịch Thiên (Shantideva) người Ấn, ở thế kỷ 18. Rinpoche bắt đầu buổi thuyết pháp bằng cách giảng giải về tánh Không ở mức độ vô cùng tinh viphức tạp, đến nỗi không ai có thể hiểu nổi, rồi ngài ngừng lại và mắng các nhà sư đã quá tự phụ. Ngài nói rằng nếu như Tông Khách Ba đã mất bao nhiêu công sức cho hành trì sơ khởi (preliminary practice) thì làm sao họ có thể nghĩ rằng đề tài này dễ hiểu và họ sẽ hoàn toàn thấu hiểu nó trong ba ngày. Sau đó, ngài tiếp tục dạy bản văn ở một trình độ đơn giản hơn. Bấy giờ thì các nhà sư mới có thể theo dõi kịp.

Một  lần nọ, Rinpoche nói rằng phương Tây không có điều gì gây ấn tượng đối với ngài, ngoại trừ việc có nhiều người chân thành quan tâm đến Phật pháp. Vì vậy, không cần biết ai thỉnh cầu giáo pháp, ngài sẽ tôn trọng nhu cầu của họ. Dù thuyết pháp ở mức độ họ có thể hiểu được, ngài luôn luôn dẫn dắt họ xa hơn khả năng của họ chút ít. Là người yêu thích xiếc, Rinpoche nói rằng nếu một con gấu có thể được huấn luyện để lái xe đạp thì với phương tiện thiện xảo và lòng kiên nhẫn, con người có thể được dạy bất cứ điều gì.

Một lần nọ, một anh chàng hippy người Tây phương mới biết đạo Phật và ghiền thuốc phiện đã xin Rinpoche dạy Sáu Pháp Naropa. Bình thường, người ta chỉ tu học đề tài vô cùng cao cấp này sau nhiều năm thiền định thâm sâu. Thay vì gạt bỏ yêu cầu của thanh niên này vì nó quá phi lý và ngạo mạn, Rinpoche đã đồng ý và nói với anh rằng yêu cầu của anh rất hay. Tuy nhiên, trước hết, anh cần phải tự chuẩn bị, nên Rinpoche sẽ dạy anh hành trì sơ khởi. Bằng cách đáp ứng nhu cầu phát triển của người Tây phương một cách nghiêm túc, Rinpoche đã tạo nguồn cảm hứng cho nhiều người học cách nghiêm túc với bản thân. Điều này đã giúp họ tiến triển trên con đường tâm linh.

 

Tôn Trọng Mọi Người Một Cách Bình Đẳng

Khi gặp bất cứ người nào, dù là Đức Giáo Hoàng, một người say rượu trên đường hay một nhóm trẻ em, Rinpoche sẽ đối xử với họ bằng tâm bình đẳng và tôn trọng họ như nhau. Ngài không bao giờ xem thường ai, mong cầu đặc ân hay cố tạo ấn tượng mạnh đối với bất cứ người nào. Một lần nọ, các thành viên của Trung Tâm Wisdom's Golden Rod ở Ithaca, New York, thỉnh cầu Rinpoche nói chuyện với các con của họ. Ngài nói với những đứa trẻ rằng ngài rất tôn trọng chúng, vì chúng còn trẻ và cởi mở. Chúng có tiềm năng vượt trội hơn cha mẹ. Ngài đã tạo nguồn cảm hứng cho trẻ con tự tôn trọng bản thân bằng cách nói như vậy.

Khả Năng Nhận Ra Các Mối Quan Hệ Tiền Kiếp Đặc Biệt

Dù Serkong Rinpoche có thể thường xuyên thấy được mối quan hệ tiền kiếp giữa ngài và những người mà ngài gặp gỡ, ngài không bao giờ giả vờ có khả năng giúp đỡ họ quá sức của mình. Một lần nọ, một người đàn ông Thụy Sĩ (Swiss) đến gặp ngài ở Dharamsala và giải thích rằng ông gặp rắc rối với các vong linh. Rinpoche nói rằng ngài không có duyên để giúp ông trong vấn đề này, rồi hướng dẫn ông gặp một vị lama khác có đủ nhân duyên để giúp ông. Tuy nhiên, với những người khác, Rinpoche có vẻ nhận ra họ ngay lập tức từ buổi gặp gỡ đầu tiên, và bảo thị giả của ngài ghi lại địa chỉ của họ. Y như thế, những mối quan hệ sâu đậm đã phát triển giữa ngài và những người này. Tôi là một trong những người may mắn đó, mặc dù Rinpoche thấy không cần thiết phải lấy địa chỉ của tôi, nhưng tôi vẫn quay trở lại với ngài.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 1011)
Thay mặt chư tôn đức Tăng, Ni và quý Cư Sĩ Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTNHK nhất tâm nguyện cầu Giác Linh Sư Bà Tân Viên Tịch Cao Đăng Phật Quốc.
(Xem: 3067)
Lễ Nhập Quan: Vào lúc 10 giờ sáng Thứ Sáu, ngày 12 tháng 1 năm 2018 tại Peek Funeral Home, 7801 Bolsa Ave., Westminster, CA 92683
(Xem: 6559)
Đức Trưởng lão Hòa Thượng thượng ĐỨC hạ CHƠN Viện chủ Tu Viện Quảng hương Già Lam, Sài Gòn vừa viên tịch lúc 03g40′ ngày 27/11/2017
(Xem: 1302)
Khó hình dung rằng một phụ nữ Anh đang phụ trách về kế toán trong một công ty quản trị quỹ đầu tư đa quốc bỗng nhiên trở thành một vị ni sư theo truyền thống Tây Tạng
(Xem: 38168)
HT Thích Đức Niệm - Trụ trì Chùa Ưu Đàm, Tp. Marina, California viên tịch lúc 11:30AM ngày 20/10/2017...
(Xem: 1185)
Hòa Thượng Phương trượng Chùa Thiền Tôn, húy Tắc An hiệu Lãng Thiện đời thứ 23 dòng thiền - Thiên Thai Giáo Quán Tông
(Xem: 8843)
Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Minh Tuyền (1938-2017) Khai Sơn Chùa Phật Giáo Việt Nam tại Nhật Bản
(Xem: 1150)
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu được tồn vinh đó là nhờ công đức sáng lập của Thầy.
(Xem: 1247)
Chỉ cần, đối cảnh vô tâm, hay cứ để mặc cho các pháp được thấy như là được thấy, được nghe như là được nghe… Và đó là Thiền Tông: không một pháp nào để làm.
(Xem: 3948)
Kỷ Yếu Tri ÂnTán Dương Công Đức của Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Như Huệ... TT Thích Nguyên Tạng
(Xem: 1387)
Ngay từ hồi còn trẻ cụ Chu Văn An (1292-1370) đã nổi tiếng là một người cương trực, giữ tiết tháo, không cầu danh lợi, chỉ ở nhà đọc sách.
(Xem: 7396)
Sư Bà đã viên tịch ngày 15/1/2017. Lễ Nhập Kim Quan vào lúc 9am, Chủ Nhật, 22/01/2017; Lễ Trà Tỳ vào lúc 3pm, Thứ Hai, 23/01/2017
(Xem: 4981)
Tuệ Sĩ – Người ẩn mình dưới lòng hố thẳm hun hút, Tuệ Sĩ – Trên đỉnh Trường Sơn chót vót sương mù, mây trắng.
(Xem: 9643)
Chúng con/tôi vừa nhận được tin: Thượng Tọa THÍCH ĐỨC TRÍ Trụ trì Chùa Tam Bảo Tulsa, Oklahoma vừa viên tịch...
(Xem: 2471)
Vào tháng 4 năm 1998, tôi trở về nhà ở Dharamsala, Ấn Độ, sau hành trình giảng dạy dài và khoản thời gian miệt mài viết lách tại Mông Cổ và phương Tây.
(Xem: 2445)
Đại lão HT Thích Thiện Bình đã thu thần viên tịch 17-11-2016 (18-10-Bính Thân), tại chùa Long Sơn TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa), thọ 84 tuổi.
(Xem: 2683)
Xuất gia năm 1960, thọ Sadi giới ngày 17-11 năm Quý Mão (1963) tại Tổ đình Tường Vân, thọ cụ túc giới năm 1964 tại giới đàn Quảng Đức
(Xem: 3084)
Đức Vua Bhumibol Adulyadej, vị hoàng đế ở trên ngai vàng lâu nhất thế giới, vừa băng hà tại bệnh viện ở thủ đô Bangkok ngày 13-10-2016.
(Xem: 1629)
Tiểu sử của một lama vĩ đại được gọi là “namtar” (rnam-thar), một tiểu sử mang tính cách giải thoát, vì nó tạo nguồn cảm hứng cho người nghe...
(Xem: 2375)
Hòa Thượng Thích Thiện Hoa con nhà gia giáo thuộc hạng trung lưu, trong gia quyến ai nấy đều theo đạo Phật.
(Xem: 2098)
Trong cuộc phỏng vấn năm 1999, Richard Gere nói về những năm tháng tu tập của mình, sự cống hiến của anh cho Lão sư của mình là Ngài Đạt La Lạt Ma.
(Xem: 1753)
Chu Văn An (1292-1370) hiệu là Tiều Ẩn, tên chữ là Linh Triệt, tên thụy là Văn Trinh. Tên thật của Chu Văn An vốn là...
(Xem: 2428)
Theo các nhà nghiên cứu về lịch sử Phật giáo, người Nga đã biết đến đạo Phật nhờ tiếp xúc với các lân quốc vùng châu Á như Mông Cổ, Tây Tạng...
(Xem: 2316)
Thupten Jinpa là một cựu tăng sĩ, hoàn tục để lập gia đình, trở thành một tác giả, và trong 30 năm qua, là người thông dịch chính về tiếng Anh cho Đức Đạt Lai Lạt Ma.
(Xem: 8009)
Lễ nhập Kim Quan lúc: 04 giờ chiều ngày Thứ Bảy: 25/6/2016; Lễ cung tống Kim Quan trà tỳ lúc: 08 giờ sáng ngày Thứ Năm: 30/06/2016
(Xem: 2550)
Bồ Tát Thích Quảng Đức tự thiêu tại ngã tư Phan Đình Phùng Lê Văn Duyệt, toàn thân Ngài bất động điềm nhiên trong tư thế thiền định...
(Xem: 2819)
Bài thuyết trình cho Khóa An Cư Kiết Hạ tại Niệm Phật Đường Fremont, SanJose, từ ngày 13-23 tháng 6 năm 2016
(Xem: 3758)
Kỷ Yếu Tri ÂnTán Dương Công Đức của Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Huyền Tôn
(Xem: 4392)
Đức Trưởng Lão HT Thích Như Huệ Chứng minh Đạo sư GHPGVNTN Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan
(Xem: 2947)
Trong số mấy chục vị Thánh Tử Đạo ấy có Sư Cô Thích Nữ Diệu Định ở Quảng Nam-Đà Nẵng...
(Xem: 25533)
Lễ nhập kim quan lúc: 09:00am, ngày 12/3/2016. Lễ di quan lúc 10:00am ngày 15/3/2016
(Xem: 3067)
Đại Lễ Tri Ân nhị vị Hòa Thượng Trưởng Lão của Giáo HộiTrưởng Lão Tăng Giáo Trưởng HT Thích Huyền Tôn và Trưởng Lão Chứng Minh Đạo Sư HT Thích Như Huệ.
(Xem: 4545)
Kỷ Yếu Tưởng Niệm HT Thích Hạnh Tuấn (1956-2015) Chùa Trúc Lâm Chicago, USA ấn hành 2015
(Xem: 3656)
Kể từ khi tổ Minh Hải–Pháp Bảo khai tông lập giáo, tính đến nay dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh đã trải qua 300 năm lịch sử với 12 đời truyền thừa...
(Xem: 3648)
Dẫu là một ông vua, cai trị một đế chế rộng lớn, quyền uy sinh sát trong tay, nhưng kỳ thực A Dục Vương vẫn là một đệ tử Phật, một tín đồ thuần thành của Phật Giáo.
(Xem: 9985)
HT Thích Tâm Thọ, Thành viên Giáo hội Phật giáo Việt Nam trên thế giới, Viện Chủ Chùa Giác Hoàng, Thủ đô Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ
(Xem: 3050)
Thiền sư BẠCH ẨN HUỆ HẠC (Hakuin Ekaku), thế danh Iwajiro (Nham Thứ Lang, nghĩa là cậu bé đá), quê tại Hara, tỉnh Suruga, thị trấn Numazu, hạt Shizuoka, Nhật Bản.
(Xem: 13638)
HT Thích Hạnh Tuấn, Trú Trì Chùa Trúc Lâm, Chicago, đã viên tịch; Lễ Nhập Liệm vào ngày thứ 4, 4/11/2015; Lễ Trà Tỳ vào ngày Chủ Nhật, 8/11/2015
(Xem: 5918)
Cả Đức Thích Ca Mâu Ni Phật và Guru Rinpoche đều tiên tri sự ra đời và thành tựu tâm linh của Tông Khách Ba.
(Xem: 6957)
Long Thọ (Nagarjuna, Klu-grub), cùng với Vô Trước (Asanga, Thogs-med), là hai đại hành giả tiên phong của truyền thống Đại thừa.
(Xem: 14975)
Lễ nhập quan sẽ được cử hành vào lúc 14 giờ ngày 25 tháng 08 năm 2015 (nhằm ngày 12/07/Ất mùi)
(Xem: 15064)
Trưởng lão Hòa Thượng vừa thâu thần viên tịch tại Tổ đình Từ Quang, thành phố Montreal, Canada, lúc 10g15 thứ Năm, ngày 20-8-2015, trụ thế 95 tuổi đời, 74 Hạ Lạp
(Xem: 4798)
Kỷ Yếu Tưởng Niệm Hòa Thượng Thích Minh Tâm (1940-2013)
(Xem: 3754)
Pháp danh của ông là Buddhadasa có nghĩa là người tỳ kheo hầu hạ Đức Phật, thế nhưng người dân Thái thì lại gọi ông là Ajhan Buddhadasa.
(Xem: 3527)
Ngài Tịch Thiên (Shantideva) là một trong những vị luận sư lỗi lạc nhất của thời kỳ sau trong quá trình phát triển tông phái Đại thừa
(Xem: 5287)
Ngài Huyền Trang theo truyện Tây Du không gọi là Huyền Trang mà kêu là Tam tạng thỉnh kinh hay Đường Tăng. Trong sách nói đủ là Tam tạng Pháp sư Huyền Trang.
(Xem: 5450)
Tranh vẽ Chân Dung HT Tuệ Sỹ của nhiều tác giả
(Xem: 4486)
Có một người đã cắt bỏ được sợi dây ràng buộc của gia đình để sống theo tăng đoàn của đức Phậtcống hiến trọn cuộc sống của mình cho công cuộc hoằng dương Phật pháp, đó là Tôn Giả Phú Lâu Na.
(Xem: 3324)
Huệ Viễn đại sư họ Cổ, nguyên quán xứ Lâu Phiền ở Nhạn Môn thuộc tỉnh Sơn Tây. Ngài sanh tại Thạch Triệu, năm Giáp Ngọ, vào niên hiệu Diên Hy đời vua Thành Đế nhà Tấn.
(Xem: 3381)
Đức Đại lão Hòa thượng Thích Trí Thủ (1909 - 1984), Đệ nhất Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN là bậc cao tăng có những cống hiến to lớn đối với Đạo pháp và Dân tộc
(Xem: 3874)
Đức Đệ Nhị Tăng Thống Giáo Hội Phật Việt Nam Thống Nhất, Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Giác Nhiên, viên tịch năm kỷ Mùi.
(Xem: 11259)
Hòa Thượng Thích Tuệ Chiếu, thế danh Lưu Đức Thụy, Pháp danh Thiện-Uẩn, Pháp hiệu Hồng Liên, pháp tự Tuệ Chiếu thuộc Thiền Phái Lâm Tế đời thứ 40.
(Xem: 12304)
Phật giáo Bắc tông nói chung, Thiền tông nói riêng đều lấy giác ngộ làm mục đích tiến tu. Dù là tu sĩ xuất gia hay cư sĩ tại gia trong khi tu hành được đôi phần giác ngộ đều được mọi người quí kính.
(Xem: 6903)
Quyển Ngữ Lục này là tập hợp từ những lời thị chúng của Thiền Sư Duy Lực trong những kỳ thiền thất tại Việt Nam kể từ năm 1983 cho đến những năm tháng cuối đời.
(Xem: 3602)
Từng nghe, lòng dạ kiên trinh, ý chí vững bền, khí tiết đặc biệt đâu phải hoàn toàn do bẩm tính tự nhiên mà phải dốc lòng kính ngưỡng, noi theo những bậc có đức hạnh cao vời.
(Xem: 10636)
Vào lúc 15 giờ ngày 14/12/2014, tại An Tường tự viện, Oakland, California, Hoa Kỳ, các tự viện đã phối hợp cùng Môn đồ pháp quyến tổ chức Lễ truy niệm và phát tang HT húy thượng Đồng hạ Đạt, tự Thông Đạt, hiệu Thanh An, Viện chủ An Tường tự viện
(Xem: 8176)
Những ngữ cú của Sư được chép rải rác trong trứ tác của các nhà, nhưng chưa được gom tập. Cho nên vào niên hiệu Nguyên Văn, thiền sư Huyền Khế biên tập và đặt tên là Động Sơn Lục, tàng bản tại Bạch Hoa Lâm.
(Xem: 3886)
Ngài Long Thọ (Nagarjuna) thường được tôn xưng là “đức Phật thứ hai” bởi các truyền thống Phật Giáo Đại Thừa tại Tây Tạng và Đông Á.
(Xem: 3929)
SB Diệu Không thế danh là Hồ Thị Hạnh, húy là thượng Trừng hạ Hảo, hiệu là Nhất Điểm Thanh. Sư Bà sinh năm 1905, con gái Út của Cụ Hồ Đắc Trung và Cụ Châu Thị Lương, làng an Truyền, huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên.
(Xem: 3353)
Hòa Thượng thế danh là Nguyễn Văn Kính, sanh ngày 17 tháng 11 năm Tân Mão, nhằm ngày 17 tháng 12 năm 1891, tại làng Dưỡng Mong Thượng, tổng Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên.
(Xem: 7024)
Trì Châu Nam Tuyền Phổ Nguyện Thiền Sư quê ở Tân Trịnh, Trịnh Châu, họ Vương, theo Đại Hoè Sơn, Đại Huệ thiền sư xuất gia, đến Tung Nhạc thọ giới cụ túc.
(Xem: 3895)
Mỗi khi tâm niệm đến hành trạng Thiền sư Vạn Hạnh, chúng ta không thể không đề cập đến con ngườisự nghiệp Lý Công Uẩn.
(Xem: 17221)
Tám vạn bốn ngàn pháp môn thảy đều do một tâm mà khởi. Nếu tâm tướng trong lặng như hư không, tức ra khỏi thân tâm.
(Xem: 9961)
Quyển Hai quãng đời của Sơ tổ Trúc Lâm do chúng tôi giảng giải, để nói lên một con người siêu việt của dân tộc Việt Nam.
(Xem: 5594)
Sư sống vào thời Hậu Lê, người ta quen gọi là Tổ Cầu. Tổ tiên quê ở làng Áng Độ, huyện Chân Phúc. Ông Tổ năm đời của Sư làm quan Quản chu tượng coi thợ đóng thuyền cho triều đình.
(Xem: 16366)
Hôm nọ, Phật ở trong hội Linh-sơn, tay cầm cành hoa sen đưa lên, cả hội chúng đều ngơ-ngác. Chỉ có ngài đắc ý chúm chím cười (niêm hoa vi tiếu)...
(Xem: 6893)
Thiền sư Khánh Hỷ (1067–1142) thuộc dòng thứ 14, thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Sư họ Nguyễn, quê ở Cổ Giao, huyện Long Biên, thuộc dòng tịnh hạnh, từng được vua Lý Thần Tông phong chức Tăng Thống.
(Xem: 3259)
Nhiều người tu tập Phật Giáo cảm thấy hoang mang khi nghe nói có các vị thầy Phật Giáo không tuân thủ một số giới luật, chẳng hạn như uống rượu, sống chung với các thành viên khác trong tập thể tu hành
(Xem: 11316)
Nam Mô Từ Lâm Tế Chánh Tôn, tứ thập tam thế, Húy Thượng Tâm Hạ Nhẫn, Tự Hành Từ, Hiệu Chí Tín Giác Linh Trưởng Lão Hòa Thượng Liên đài chứng giám
(Xem: 5417)
Miền Nam Ấn Độ trước đây, Có gia đình hào phú đầy uy danh, Hai con tư chất thông minh, Ca Chiên Diên với người anh của chàng...
(Xem: 5742)
Bảy vương tử dòng Thích Ca, Đợt đầu quyết chí xuất gia lần này, A Nan có mặt trong đây, Tuổi thời nhỏ nhất nhưng đầy tương lai...
(Xem: 5110)
A Na Luật được sinh ra, Ở trong vương tộc rất là nổi danh, Thật thà, hoạt bát, thông minh, Múa ca, âm nhạc quả tình tinh thông...
(Xem: 10838)
Ngài có lời đại nguyện rằng: Nếu Ngài chưa độ hết chúng sanh, thì Ngài không chứng quả Bồ Đề, và nếu sự thọ khổ trong địa ngục hãy còn, thì Ngài thề không chịu thành Phật.
(Xem: 3166)
Đức Đại Lão Hòa Thượng Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN là thế hệ thứ 8 của phái Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán, Pháp danh Trừng Nguyên, Hiệu Đôn Hậu.
(Xem: 3598)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa.
(Xem: 4427)
Tưởng nhớ đến một bậc Thầy khả kính của nhiều thế hệ Tăng Ni Việt Nam; Môn đồ pháp quyến thực hiện tập kỷ yếu này
(Xem: 2992)
Nhà vua xây tháp để thờ tám sợi tóc. Tháp ấy bây giờ là ngôi chùa vàng danh tiếng Shwedagon ở cựu thủ đô Yangon.
(Xem: 11002)
Hòa Thượng THÍCH MINH TÂM (1940-2013) - Môn Đồ Pháp Quyến
(Xem: 3450)
Sau khi Ta diệt độ khoảng hơn một trăm năm sau, em bé vừa rồi cúng dàng nắm cát cho Ta, đời sau sẽ làm vua tại thành Ba-liên-Phất...
(Xem: 3433)
Một thời, đức Phật ngự tại vườn Lộc Uyển nước Ba La Nại, bấy giờ, đức Phật mới thành đạo chưa được bao lâu, khi đó Vua Ba Tư Nặc mới nối ngôi.
(Xem: 3322)
... Từ đó tôi hoài bảo một cái mộng: "làm sao, sau này mình sẽ đóng một cây thang giáo lý" (tức là bộ "Phật Học Phổ Thông", ngày hôm nay).
(Xem: 7284)
Chủ đề: 50 năm xuất giahành đạo của HT. Thích Như Điển
(Xem: 2954)
Trần Tung (còn gọi là Trần Quốc Tung) hiệu Tuệ Trung Thượng Sĩ, sinh năm Canh dần 1230, mất ngày 1 tháng 4 năm Tân Mão 1291, quê ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường
(Xem: 4438)
Ban Sưu tập tu viện Quảng Hương Già Lam đã dày công sưu tập các công trình về kinh, luật, luận, thi kệ và tản văn của Đại lão Hòa thượng tập thành bộ "Toàn tập Tâm Như - Trí Thủ"...
(Xem: 3644)
Cái gương quên mình cầu pháp của ngài Pháp Hiển đã làm mối khuyến khích cho các vị khác, trong đó có ngài Huyền Tráng... HT Thích Trí Quang
(Xem: 3813)
Pháp sư Ấn Thuận thế danh là Trương Lộc Cần, sinh năm 1906 thuộc tỉnh Triết Giang, huyện Hải Ninh... Như Nguyệt
(Xem: 4530)
Ngài sinh vào ngày 17 tháng 7, 1898 tại Kotahena, ngoại ô thành phố Colombo, thủ đô của nước Tích Lan (Sri Lanka)... Bình Anson
(Xem: 4794)
Đại hội Phật giáo Việt Nam 1964 suy tôn Ngài lên ngôi vị Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất... Môn Đồ Pháp Quyến
(Xem: 3251)
Thiền Sư Dogen (Đạo Nguyên Hy Huyền) Sơ Tổ Tông Tào Động Nhật Bản... Tâm Thái
(Xem: 17743)
Hòa Thượng vốn sinh trong một gia đình trung nông, phúc hậu nhơn từ, có nề nếp đạo đức vững chắc và kính tin Tam Bảo.
(Xem: 28239)
Cuộc đời của thiền sư Bạch Ẩn là bức tranh sống với câu chuyện ―Thế à! cho đến bây giờ vẫn được nghe kể. Biên dịch lại là góp thêm công hạnh của Ngài.
(Xem: 3191)
Gương Bát Nhã thấm nhuần vạn thể, Tâm Kim Cương triệt phá lầm mê, An nhiên, thật tướng Bồ Đề, Khứ lai tự tại, đi về Chơn Như...
(Xem: 6431)
Ông Bàng Uẩn (P'ang Yun) người huyện Hành Dương, Trung Hoa, tự là Ðạo Huyền (Tao-hsuan) sinh khoảng năm 740 và chết năm 808... Tâm Thái
(Xem: 4806)
Hòa thượng thế danh Lê Diêu, Pháp danh Như Lễ, Pháp hiệu Thích Huyền Dung... Nhiều Tác Giả
(Xem: 3017)
Hầm Lửa Hóa Thành Ao Sen là Chuyện Trưởng Giả Thất Lị Cấp Đa... Hạnh Cơ dịch
(Xem: 2960)
Tì kheo ni Pháp Dữ đã được đức Thế Tôn khen ngợi là vị thuyết pháp đệ nhất trong Ni chúng... Hạnh Cơ dịch
(Xem: 4881)
Đại Sư Pháp Tạng (643-712) là tổ thứ ba của tông Hoa Nghiêm, Pháp Tạng có nghĩa là kho tàng của chánh pháp.
(Xem: 3886)
Thành tâm nhớ tưởng bậc Tôn Sư, cố Đại Lão Hòa Thượng THÍCH HUYỀN QUANG, Đệ Tứ Tăng Thống GHPGVNTN... Hạnh Cơ
(Xem: 5105)
Tổ tiên của ngài vốn ở nước Khương-cư (Sogdiana), nhưng đã mấy đời sống ở Thiên-trúc. Thân phụ ngài, nhân làm nghề buôn bán mà theo thuyền buôn sang Giao-chỉ sinh sống... Hạnh Cơ
(Xem: 3680)
Đại sư Đạo An họ Vệ, sinh vào năm thứ 3 niên hiệu Kiến-hưng (314) đời vua Mẫn đế thời Tây-Tấn... Nguyên tác Hán văn của cư sĩ Hồng Tu Bình; cư sĩ Hạnh Cơ dịch
Quảng Cáo Bảo Trợ