Logo Hanh Huong
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
13,770,843
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Phần Bốn: Cách Tiếp Cận Như Một Đạo Sư Vĩ Đại

14 Tháng Mười Hai 201612:29(Xem: 547)
Phần Bốn: Cách Tiếp Cận Như Một Đạo Sư Vĩ Đại

Chân Dung Của Tsenzhab Serkong Rinpoche


Alexander Berzin, 1998

   Lozang Ngodrub chuyển Việt ngữ;
Võ Thư Ngân hiệu đính

  Phần Bốn: Cách Tiếp Cận Như Một Đạo Sư Vĩ Đại

Trưởng Dưỡng Tín TâmHết Lòng Sùng Mộ Đạo

Hết lòng sùng mộ đạo sư là một trong những hành trì Phật pháp khó khăn và tinh tế nhất. Chúng ta cần phải thận trọng để yếu tố này được thiết lậpduy trì một cách đúng đắn. Một khi đã được đặt trên nền tảng vững chắc, không một điều gì có thể làm nó tan vỡ. Serkong Rinpoche đã bỏ nhiều công sức để bảo đảm mối quan hệ của chúng tôi luôn luôn vững bền. Một buổi chiều, vào cuối buổi Đại Lễ Cầu Nguyện (Monlam) ở Mungod, Rinpoche kể cho tôi nghe chuyện rắc rối vể mặt tài chánh liên quan đến bất động sản của ngài ở đó. Mặc dù vị thị giả kia của ngài cảm thấy việc này không cần thiết, nhưng Rinpoche nói rằng việc cho tôi biết là điều quan trọng. Dù sau này tôi có nghe tin đồn sai trái về việc này từ những người ganh tỵ thì ngài muốn bảo đảm là tôi sẽ không bao giờ có một chút nghi ngờ về sự thanh liêm của ngài, hay về lòng sùng mộ hết lòng của tôi đối với ngài.

Sự sùng mộ hết lòng với một đạo sư đòi hỏi sự tìm hiểu kỹ càng và lâu dài giữa những người có khả năng trở thành thầy trò trong tương lai. Mặc dù sau khi đã xem xét kỹ, người đệ tử cần phải xem vị lama như một vị Phật, điều này không có nghĩa là vị đạo sư không thể sai lầm. Đệ tử phải luôn luôn kiểm chứng những gì thầy nói. Nếu cần thì đưa thêm đề nghị một cách nhã nhặn. Nếu bị báo động, họ phải kính cẩn sửa sai bất cứ điều gì mà vị thầy nói hay hành động một cách khác thường.

Một lần nọ, Rinpoche đã tìm cách chứng minh điều này cho các nhà sư Tây phương tại Tu Viện Nalanda ở Pháp. Trong buổi thuyết pháp, ngài cố ý giải thích điều gì một cách hoàn toàn sai lầm. Mặc dù điều ngài nói kỳ quặc một cách phi lý, nhưng chư tăng đều kính cẩn ghi chép những lời của ngài trong tập vở. Vào buổi thuyếp pháp kế tiếp, Rinpoche đã mắng các nhà sư rằng trong một tiếng đồng hồ sau cùng đó, ngài đã giải thích điều gì hoàn toàn lố bịch, sai lầm, nhưng tại sao không có ai thắc mắc gì cả? Ngài nói rằng như Đức Phật đã khuyên, họ không bao giờ nên chấp nhận những gì vị thầy nói một cách mù quáng và thiếu sự phán đoán. Thậm chí các đạo sư vĩ đại thỉnh thoảng cũng nói lầm lẫn; thông dịch viên thường chuyển dịch sai và đệ tử thì luôn ghi chép bài giảng một cách lộn xộn và thiếu độ chính xác. Nếu bất cứ điều gì nghe có vẻ lạ lùng, họ phải luôn đặt câu hỏi và phối kiểm từng điểm một, dựa theo các bản văn cao quý.

 

Phân Tích Và Đặt Câu Hỏi Với Cả Những Bản Văn Do Các Đạo Sư Cao Quý Nhất Sáng Tác

Cá nhân Rinpoche còn đặt câu hỏi đối với các luận giải Phật pháp tiêu chuẩn. Khi làm như vậy, ngài đã theo tiền lệ của Tông Khách Ba. Nhà cải cách vào thế kỷ 14 này đã lưu ý nhiều bản văn đáng kính của các đạo sư Ấn và Tạng mâu thuẫn nhau, hay chứa đựng những điều khẳng định vô lý. Ngài Tông Khách Ba đã phát hiện và xem xét những điểm này kỹ lưỡng, rồi bác bỏ các vị trí không thể đứng vững bằng lý do, hay đưa ra những diễn dịch sâu sắc mới cho các đoạn văn đã bị hiểu lầm trước đây. Chỉ những hành giảkiến thức rộng về Kinh điểnkinh nghiệm hành thiền sâu sắc mới có đủ khả năng để khám phá những điều mới mẻ như vậy. Serkong Rinpoche là một trong những vị này.

Thí dụ, không lâu trước khi viên tịch, Rinpoche gọi tôi và nêu ra một đoạn trong một trong những sáng tác triết học khó khăn nhất của Tông Khách Ba, Cốt Tủy của Giảng Giải Xuất Sắc về Ý Nghĩa Diễn Dịch Ý Nghĩa Tối Hậu (The Essence of Excellent Explanation of Interpretable and Definitive Meanings, Drang-nges legs-bshad snying-po). Rinpoche tụng thuộc lòng bài luận vài trăm trang này mỗi ngày trong thời công phu hàng ngày. Đoạn văn nói về các giai đoạn diệt trừ vô minh trong tâm thức, đặc biệtvấn đề “chủng tử” của vô minh. Nhằm truyền đạt điểm này, tôi đã dịch danh từ này là “khuynh hướng”, thay vì là “chủng tử”. Sau khi trích dẫn lý lẽ, kinh nghiệm và các đoạn văn khác trong bản văn, Rinpoche giải thích rằng một hạt giống của lúa vẫn là lúa. Vì vậy, một chủng tử vô minh là một “dấu vết” của vô minh. Sự diễn dịch mang tính cách mạng này có sự phân nhánh sâu sắc về cách hiểu biết và làm việc với vô thức.

Lối Sống Giản Dị Của Rinpoche

Bất kể tài ba lỗi lạc đầy tính sáng tạo của mình, lúc nào Rinpoche cũng nhấn mạnh tính khiêm cung và không khoe khoang bằng mọi cách. Vì vậy, dù là vị lama cao cấp nhất trong tu viện nhà ở Mundgod, Rinpoche không xây một ngôi nhà phô trương đồ sộ mà chỉ có một căn chòi giản dị. Căn nhà của ngài ở Dharamsala cũng vô cùng khiêm tốn, chỉ có ba phòng cho bốn người, các khách khứa thường xuyên, hai con chó và một con mèo.

Không những Rinpoche tránh biểu lộ bất cứ đức tính cao cả nào mà ngài còn tìm cách ngăn chận các đệ tử tâng bốc về thầy của mình. Ví dụ như một vài pháp thiền chú trọng đến mối quan hệ với vị thầy của mình, chẳng hạn như pháp quán tưởng  công phu Guru-yoga (Bổn sư du già) và trì tụng minh chú có tên tiếng Phạn của vị lama trong đó. Trong pháp tu Guru-yoga, Rinpoche luôn luôn dạy các đệ tử quán tưởng Đức Dalai Lama. Khi có ai xin minh chú tên (name mantra) của ngài, Rinpoche luôn luôn cho tên cha của ngài để họ trì tụng. Cha của ngài, Serkong Dorjey-chang, là một trong những đại hành giả và bậc thầy vĩ đại nhất trong đầu thế kỷ 20. Ông là người nắm giữ giòng truyền thừa Kalchakra trong thời của mình, điều này có nghĩa là ông là vị thầy được thừa nhận mang trọng trách trao truyền toàn bộ kiến thứckinh nghiệm hành thiền của pháp Thời Luân (Kalachakra) cho thế hệ sau.

Noi Gương Mahatma Gandhi Bằng Cách Tránh Mọi Sự Lãng Phí

Lối sống khiêm nhường của Rinpoche được biểu lộ qua nhiều cách. Chẳng hạn như khi đi xa, ngài noi gương của Mahatma Gandhi. Ngài khăng khăng chọn toa hạng ba trên xe lửa Ấn Độ, trừ khi có nhu cầu đặc biệt. Đó là sự thật, thậm chí khi ngài phải ngủ gần phòng vệ sinh hôi thối, và việc này đã xảy ra khi chúng tôi rời Dharamsala để đến Delhi trong chuyến du hành phương Tây đầu tiên. Rinpoche bảo đi du lịch theo cách bình dân như vậy là tuyệt hảo, vì nó giúp cho ta phát triển lòng bi. Cả ba hạng ghế đều đến đích cùng một lúc, thế thì tại sao lại lãng phí tiền? Rinpoche thật sự không thích ai tốn tiền để mua vé xe lửa toa hạng nhất cho ngài, hay mời ngài đến các nhà hàng mắc tiền.

Một lần nọ, khi Rinpoche trở về Dharamsala từ Spiti, một số đệ tử và tôi đi đón ngài ở khu chợ Ấn Độ. Sau khi thấy nhiều xe cộ và xe buýt chạy ngang mà không có Rinpoche, một chiếc xe tải dơ bẩncũ kỹ ngừng lại ở chợ và Serkong Rinpoche ngồi trong buồng lái, với xâu chuỗi hạt trong tay. Ngài và các thị giả đã du hành ba ngày từ Spiti đến đây bằng phương tiện vận chuyển này, hoàn toàn không lo lắng gỉ về tiện nghi hay bề ngoài.

Khi Rinpoche trở về Dharamsala từ Đại Lễ Cầu Nguyện (Monlam) ở Mundgod với các thị giả và tôi, chúng tôi phải chờ xe lửa cả ngày ở Poona. Ngài vui vẻ ở trong phòng khách sạn hạng ba cực kỳ ồn ào và nóng nực mà một người Tây Tạng địa phương buôn bán áo len đã mời chúng tôi đến trú ngụ. Trên thực tế, Rinpoche thường đề nghị chúng tôi đi xe buýt qua đêm khi du lịch trong nước Ấn, vì nó rẻ tiền và dễ dàng hơn. Ngài không bao giờ ngại chờ đợi ở các trạm xe buýt đông người. Ngài nói với chúng tôi là ngài có nhiều pháp thiền để công phu. Tiếng ồn, sự hỗn loạn và rác rưới xung quanh chẳng bao giờ quấy nhiễu định tâm của ngài.

Rinpoche không bao giờ ở một nơi quá lâu mà thường xuyên đi đây đi đó. Ngài nói điều này tốt cho việc xả bỏ tâm tham luyến. Vì vậy, trong các chuyến đi xa, chúng tôi không bao giờ ở nhà ai nhiều hơn vài ngày, vì e rằng mình sẽ ở lâu hơn thời hạn chủ nhà muốn đón tiếp và trở thành gánh nặng cho họ. Bất cứ lúc nào chúng tôi trú ngụ ở một trung tâm Phật giáo mà vị thầy ở đó là một nhà sư Tây Tạng cao tuổi hơn Rinpoche, ngài sẽ đối xử với vị sư ấy như một người bạn thân. Ngài không bao giờ hạn chế mối quan hệ chân thành với chỉ một người đặc biệt.

Tu Tập Liên Tục Và Khiêm Tốn, Uyển Chuyển Theo Hoàn Cảnh

Dù đi đâu, Rinpoche vẫn duy trì công phu miên mật suốt ngày và ít khi ngủ vào ban đêm. Ngài sẽ trì tụng chú và các nghi quỹ (sadhana), không chỉ trong thời gian rảnh rỗi sau các buổi hẹn, thậm chí ngay cả lúc chờ tôi thông dịch xong lời ngài nói, khi có khách ngoại quốc viếng thăm. Ngài thực hiện các nghi quỹ hành thiền trong xe, trên xe lửa và máy bay, vì ngoại cảnh không quan trọng. Ngài nhấn mạnh rằng việc công phu miên mật hàng ngày mang lại tính tương tục cho đời sống, dù ta đi đâu hay làm bất cứ điều gì. Chúng ta sẽ đạt được tính uyển chuyển cao độ, lòng tự tin và vững chãi.

Rinpoche không bao giờ khoe khoang công phu của mình. Ngài bảo nên làm mọi việc một cách âm thầm và riêng tư, chẳng hạn như gia trì thức ăn trước khi ăn hay cầu nguyện trước buổi thuyết pháp. Tụng những câu kệ long trọng dài dòng trước mặt người khác chỉ khiến họ khó chịu hoặc làm cho họ cảm thấy mình đang cố gắng gây ấn tượng, hay làm cho họ xấu hổ. Hơn nữa, ngài không bao giờ đặt để bất cứ hành trì hay tục lệ nào với ai mà chỉ tụng những lời cầu nguyện hay thực hiện các nghi lễ trước và sau buổi thuyết pháp do trung tâm đó thỉnh cầu ngài thực hiện.

Dù Rinpoche cúng dường rộng rãi cho Đức Dalai Lama và các tu viện Tây Tạng cũng như Tây phương, ngài không bao giờ khoe khoang hay nói về điều này. Ngài dạy không bao giờ nên làm như vậy. Một lần nọ, một người đàn ông trung niên khiêm tốn ở Villorba, nước Ý, đến gặp Rinpoche. Khi rời phòng của ngài, ông lặng lẽ để một  một bao thơ cúng dường hậu hỷ trên một cái bàn nhỏ chứ không phải ở nơi dễ thấy. Sau đó, Rinpoche nói rằng đó mới là cách cúng dường một vị lama.

Tuy nhiên, Rinpoche nhấn mạnh là mình phải khiêm tốn một cách chân thật, không giả dối. Ngài không thích những người giả vờ khiêm tốn, nhưng thật ra thì tự phụ và kiêu căng, hay những người nghĩ rằng mình là hành giả du già (yogi) vĩ đại. Ngài đã kể chuyện một hành giả tự đắc, xuất thân là dân du mục và vị này đã đến gặp một lama vĩ đại. Ông này hỏi vị lama các pháp khí trên bàn là cái gì, ra vẻ như chưa hề thấy bất cứ thứ gì thuộc về xã hội văn minh. Khi ông chỉ con mèo của vị lama và hỏi đó là mãnh thú kỳ lạ nào thì vị lama đã đuổi ông đi.

Giữ Công Phu Tu Tập Riêng Tư

Rinpoche đặc biệt không thích khi người ta kiêu căng khoác lác về công phu tu tập của mình. Ngài nói nếu chúng taý định nhập thất hay thậm chí đã hoàn tất một kỳ nhập thất rồi thì không nên công bố cho người khác biết. Tốt hơn hết là giữ riêng những việc này và không để ai biết mình đang làm gì. Nếu không, việc người ta bàn tán về mình sẽ tạo ra nhiều chướng ngại, chẳng hạn như lòng kiêu hãnh, hay người khác ganh tỵcạnh tranh với mình. Không ai biết hành trì Mật điển chánh của Tông Khách Ba là vị bổn tôn nào, cho đến khi Kaydrubjey, đệ tử của ngài, quan sát trước khi ngài viên tịchcúng dường 62 lần bằng chén cúng dường nội tại (inner-offering cup) thì ông mới suy ra đó là Chakrasamvara, bổn tôn hiện thân cho tâm cực lạc. Tương tự như vậy, không ai biết hành trì chánh của Serkong Rinpoche là gì, dù ngài được ca ngợi là một chuyên gia về Thời Luân.

Rinpoche thường kể rằng các Kadampa Geshe giấu kín công phu Mật điển đến nỗi chỉ sau khi các vị này viên tịch và người ta tìm ra một chày kim cươngchuông nhỏ xíu được may trong chéo y áo của các ngài thì họ mới biết các ngài đã tu tập. Rinpoche sống một cuộc đời noi gương của các vị này. Ngài thường đi ngủ nửa tiếng trước khi tất cả mọi người trong nhà đi ngủ và thức dậy sau mọi người một chút vào buổi sáng. Tuy nhiên, các thị giả của ngài và tôi thường để ý là sau khi mọi người đi ngủ thì đèn trong phòng ngài lại bật lên và chỉ tắt một thời gian ngắn trước khi mọi người thức dậy.

Một lần nọ, ở Jägendorf, nước Đức, Chondzeyla, thị giả chánh của Rinpoche ở chung phòng với ngài. Trong khi giả vờ như đang ngủ, Chondzeyla thấy Rinpoche ngồi dậy giữa đêm khuya và luyện tập các tư thế công phu, liên quan đến sáu pháp tu của Naropa. Mặc dù ban ngày, Rinpoche cần người giúp đỡ để ngồi dậy và đi lại khắp nơi, nhưng trên thực tế, ngài có sức mạnh và sự dẻo dai để tập các bài thể dục du già này. 

Giữ Kín Phẩm Chất Cao Quý

Rinpoche luôn luôn cố gắng giữ kín các phẩm chất cao quý của mình. Thật ra, ngài còn không muốn tiết lộ danh tánh cho người lạ biết. Một lần nọ, một cặp vợ chồng già người Nam Dương (Indonesia) mời chúng tôi đi từ Paris đến Amsterdam bằng xe của họ. Sau khi đến Amsterdam, hai vợ chồng này mời Rinpoche đến nhà họ thọ trai. Chỉ về sau, khi những người ở trung tâm Phật giáo địa phương gọi điện thoại đến nhà hai người này để mời họ dự buổi thuyết pháp của Rinpoche thì họ mới biết vị khách của họ là ai. Họ nghĩ ngài chỉ là một nhà sư bình thườngthân thiện.

Cũng với tinh thần đó, đôi khi Rinpoche đánh cờ với trẻ con khi ngài đi ngoại quốc, hay ngài để Ngawang, vị thị giả trẻ hơn chơi cờ và ngài sẽ giúp cả hai bên. Trẻ em chỉ nghĩ ngài là một người ông lớn tuổi tốt bụng. Một lần nọ, vào mùa Giáng Sinh, khi Rinpoche đang đi trên đường ở Munich, nước Đức, trẻ em đã đi theo ngài, vì chúng nghĩ ngài là Ông Già Noel, trong chiếc y đỏ.

Thậm chí, Rinpoche còn giấu việc ngài biết khá nhiều tiếng Anh. Sau lễ quán đảnh Thời Luân ở Spiti, một tháng trước khi Rinpoche viên tịch, tôi tạm biệt ngài ở Tu Viện Tabo để trở về Dharamsala. Tôi đã thuê một chiếc xe buýt cho một nhóm người Tây phương và đến lúc phải đi. Tuy nhiên, vào phút cuối, một trong những người ngoại quốc đã viếng thăm Tu Viện Kyi, 20 dặm phía trên thung lũng, và không trở lại đúng giờ hẹn. Trong khi tôi đến Kyi để tìm bà thì một đệ tử người Ý đến gặp Rinpoche, nhưng không có thông dịch viên. Là người không bao giờ nói một chữ tiếng Anh với bất kỳ người ngoại quốc nào trước đó, Rinpoche đã quay qua nhìn người Ý này và hỏi bằng tiếng Anh hoàn hảo, “Alex đâu rồi?”. Khi người đàn ông kêu lên, “Nhưng ngài không biết nói tiếng Anh mà, Rinpoche.”, Rinpoche chỉ cười.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 1025)
Thay mặt chư tôn đức Tăng, Ni và quý Cư Sĩ Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTNHK nhất tâm nguyện cầu Giác Linh Sư Bà Tân Viên Tịch Cao Đăng Phật Quốc.
(Xem: 3081)
Lễ Nhập Quan: Vào lúc 10 giờ sáng Thứ Sáu, ngày 12 tháng 1 năm 2018 tại Peek Funeral Home, 7801 Bolsa Ave., Westminster, CA 92683
(Xem: 6578)
Đức Trưởng lão Hòa Thượng thượng ĐỨC hạ CHƠN Viện chủ Tu Viện Quảng hương Già Lam, Sài Gòn vừa viên tịch lúc 03g40′ ngày 27/11/2017
(Xem: 1312)
Khó hình dung rằng một phụ nữ Anh đang phụ trách về kế toán trong một công ty quản trị quỹ đầu tư đa quốc bỗng nhiên trở thành một vị ni sư theo truyền thống Tây Tạng
(Xem: 38198)
HT Thích Đức Niệm - Trụ trì Chùa Ưu Đàm, Tp. Marina, California viên tịch lúc 11:30AM ngày 20/10/2017...
(Xem: 1189)
Hòa Thượng Phương trượng Chùa Thiền Tôn, húy Tắc An hiệu Lãng Thiện đời thứ 23 dòng thiền - Thiên Thai Giáo Quán Tông
(Xem: 8848)
Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Minh Tuyền (1938-2017) Khai Sơn Chùa Phật Giáo Việt Nam tại Nhật Bản
(Xem: 1158)
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu được tồn vinh đó là nhờ công đức sáng lập của Thầy.
(Xem: 1250)
Chỉ cần, đối cảnh vô tâm, hay cứ để mặc cho các pháp được thấy như là được thấy, được nghe như là được nghe… Và đó là Thiền Tông: không một pháp nào để làm.
(Xem: 3954)
Kỷ Yếu Tri ÂnTán Dương Công Đức của Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Như Huệ... TT Thích Nguyên Tạng
(Xem: 1388)
Ngay từ hồi còn trẻ cụ Chu Văn An (1292-1370) đã nổi tiếng là một người cương trực, giữ tiết tháo, không cầu danh lợi, chỉ ở nhà đọc sách.
(Xem: 7400)
Sư Bà đã viên tịch ngày 15/1/2017. Lễ Nhập Kim Quan vào lúc 9am, Chủ Nhật, 22/01/2017; Lễ Trà Tỳ vào lúc 3pm, Thứ Hai, 23/01/2017
(Xem: 4985)
Tuệ Sĩ – Người ẩn mình dưới lòng hố thẳm hun hút, Tuệ Sĩ – Trên đỉnh Trường Sơn chót vót sương mù, mây trắng.
(Xem: 9647)
Chúng con/tôi vừa nhận được tin: Thượng Tọa THÍCH ĐỨC TRÍ Trụ trì Chùa Tam Bảo Tulsa, Oklahoma vừa viên tịch...
(Xem: 2473)
Vào tháng 4 năm 1998, tôi trở về nhà ở Dharamsala, Ấn Độ, sau hành trình giảng dạy dài và khoản thời gian miệt mài viết lách tại Mông Cổ và phương Tây.
(Xem: 2445)
Đại lão HT Thích Thiện Bình đã thu thần viên tịch 17-11-2016 (18-10-Bính Thân), tại chùa Long Sơn TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa), thọ 84 tuổi.
(Xem: 2686)
Xuất gia năm 1960, thọ Sadi giới ngày 17-11 năm Quý Mão (1963) tại Tổ đình Tường Vân, thọ cụ túc giới năm 1964 tại giới đàn Quảng Đức
(Xem: 3092)
Đức Vua Bhumibol Adulyadej, vị hoàng đế ở trên ngai vàng lâu nhất thế giới, vừa băng hà tại bệnh viện ở thủ đô Bangkok ngày 13-10-2016.
(Xem: 1634)
Tiểu sử của một lama vĩ đại được gọi là “namtar” (rnam-thar), một tiểu sử mang tính cách giải thoát, vì nó tạo nguồn cảm hứng cho người nghe...
(Xem: 2376)
Hòa Thượng Thích Thiện Hoa con nhà gia giáo thuộc hạng trung lưu, trong gia quyến ai nấy đều theo đạo Phật.
(Xem: 2101)
Trong cuộc phỏng vấn năm 1999, Richard Gere nói về những năm tháng tu tập của mình, sự cống hiến của anh cho Lão sư của mình là Ngài Đạt La Lạt Ma.
(Xem: 1757)
Chu Văn An (1292-1370) hiệu là Tiều Ẩn, tên chữ là Linh Triệt, tên thụy là Văn Trinh. Tên thật của Chu Văn An vốn là...
(Xem: 2429)
Theo các nhà nghiên cứu về lịch sử Phật giáo, người Nga đã biết đến đạo Phật nhờ tiếp xúc với các lân quốc vùng châu Á như Mông Cổ, Tây Tạng...
(Xem: 2317)
Thupten Jinpa là một cựu tăng sĩ, hoàn tục để lập gia đình, trở thành một tác giả, và trong 30 năm qua, là người thông dịch chính về tiếng Anh cho Đức Đạt Lai Lạt Ma.
(Xem: 8014)
Lễ nhập Kim Quan lúc: 04 giờ chiều ngày Thứ Bảy: 25/6/2016; Lễ cung tống Kim Quan trà tỳ lúc: 08 giờ sáng ngày Thứ Năm: 30/06/2016
(Xem: 2556)
Bồ Tát Thích Quảng Đức tự thiêu tại ngã tư Phan Đình Phùng Lê Văn Duyệt, toàn thân Ngài bất động điềm nhiên trong tư thế thiền định...
(Xem: 2822)
Bài thuyết trình cho Khóa An Cư Kiết Hạ tại Niệm Phật Đường Fremont, SanJose, từ ngày 13-23 tháng 6 năm 2016
(Xem: 3763)
Kỷ Yếu Tri ÂnTán Dương Công Đức của Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Huyền Tôn
(Xem: 4394)
Đức Trưởng Lão HT Thích Như Huệ Chứng minh Đạo sư GHPGVNTN Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan
(Xem: 2950)
Trong số mấy chục vị Thánh Tử Đạo ấy có Sư Cô Thích Nữ Diệu Định ở Quảng Nam-Đà Nẵng...
(Xem: 25546)
Lễ nhập kim quan lúc: 09:00am, ngày 12/3/2016. Lễ di quan lúc 10:00am ngày 15/3/2016
(Xem: 3067)
Đại Lễ Tri Ân nhị vị Hòa Thượng Trưởng Lão của Giáo HộiTrưởng Lão Tăng Giáo Trưởng HT Thích Huyền Tôn và Trưởng Lão Chứng Minh Đạo Sư HT Thích Như Huệ.
(Xem: 4549)
Kỷ Yếu Tưởng Niệm HT Thích Hạnh Tuấn (1956-2015) Chùa Trúc Lâm Chicago, USA ấn hành 2015
(Xem: 3663)
Kể từ khi tổ Minh Hải–Pháp Bảo khai tông lập giáo, tính đến nay dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh đã trải qua 300 năm lịch sử với 12 đời truyền thừa...
(Xem: 3653)
Dẫu là một ông vua, cai trị một đế chế rộng lớn, quyền uy sinh sát trong tay, nhưng kỳ thực A Dục Vương vẫn là một đệ tử Phật, một tín đồ thuần thành của Phật Giáo.
(Xem: 9993)
HT Thích Tâm Thọ, Thành viên Giáo hội Phật giáo Việt Nam trên thế giới, Viện Chủ Chùa Giác Hoàng, Thủ đô Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ
(Xem: 3053)
Thiền sư BẠCH ẨN HUỆ HẠC (Hakuin Ekaku), thế danh Iwajiro (Nham Thứ Lang, nghĩa là cậu bé đá), quê tại Hara, tỉnh Suruga, thị trấn Numazu, hạt Shizuoka, Nhật Bản.
(Xem: 13644)
HT Thích Hạnh Tuấn, Trú Trì Chùa Trúc Lâm, Chicago, đã viên tịch; Lễ Nhập Liệm vào ngày thứ 4, 4/11/2015; Lễ Trà Tỳ vào ngày Chủ Nhật, 8/11/2015
(Xem: 5921)
Cả Đức Thích Ca Mâu Ni Phật và Guru Rinpoche đều tiên tri sự ra đời và thành tựu tâm linh của Tông Khách Ba.
(Xem: 6959)
Long Thọ (Nagarjuna, Klu-grub), cùng với Vô Trước (Asanga, Thogs-med), là hai đại hành giả tiên phong của truyền thống Đại thừa.
(Xem: 14982)
Lễ nhập quan sẽ được cử hành vào lúc 14 giờ ngày 25 tháng 08 năm 2015 (nhằm ngày 12/07/Ất mùi)
(Xem: 15067)
Trưởng lão Hòa Thượng vừa thâu thần viên tịch tại Tổ đình Từ Quang, thành phố Montreal, Canada, lúc 10g15 thứ Năm, ngày 20-8-2015, trụ thế 95 tuổi đời, 74 Hạ Lạp
(Xem: 4803)
Kỷ Yếu Tưởng Niệm Hòa Thượng Thích Minh Tâm (1940-2013)
(Xem: 3757)
Pháp danh của ông là Buddhadasa có nghĩa là người tỳ kheo hầu hạ Đức Phật, thế nhưng người dân Thái thì lại gọi ông là Ajhan Buddhadasa.
(Xem: 3527)
Ngài Tịch Thiên (Shantideva) là một trong những vị luận sư lỗi lạc nhất của thời kỳ sau trong quá trình phát triển tông phái Đại thừa
(Xem: 5288)
Ngài Huyền Trang theo truyện Tây Du không gọi là Huyền Trang mà kêu là Tam tạng thỉnh kinh hay Đường Tăng. Trong sách nói đủ là Tam tạng Pháp sư Huyền Trang.
(Xem: 5454)
Tranh vẽ Chân Dung HT Tuệ Sỹ của nhiều tác giả
(Xem: 4487)
Có một người đã cắt bỏ được sợi dây ràng buộc của gia đình để sống theo tăng đoàn của đức Phậtcống hiến trọn cuộc sống của mình cho công cuộc hoằng dương Phật pháp, đó là Tôn Giả Phú Lâu Na.
(Xem: 3324)
Huệ Viễn đại sư họ Cổ, nguyên quán xứ Lâu Phiền ở Nhạn Môn thuộc tỉnh Sơn Tây. Ngài sanh tại Thạch Triệu, năm Giáp Ngọ, vào niên hiệu Diên Hy đời vua Thành Đế nhà Tấn.
(Xem: 3385)
Đức Đại lão Hòa thượng Thích Trí Thủ (1909 - 1984), Đệ nhất Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN là bậc cao tăng có những cống hiến to lớn đối với Đạo pháp và Dân tộc
(Xem: 3879)
Đức Đệ Nhị Tăng Thống Giáo Hội Phật Việt Nam Thống Nhất, Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Giác Nhiên, viên tịch năm kỷ Mùi.
(Xem: 11266)
Hòa Thượng Thích Tuệ Chiếu, thế danh Lưu Đức Thụy, Pháp danh Thiện-Uẩn, Pháp hiệu Hồng Liên, pháp tự Tuệ Chiếu thuộc Thiền Phái Lâm Tế đời thứ 40.
(Xem: 12333)
Phật giáo Bắc tông nói chung, Thiền tông nói riêng đều lấy giác ngộ làm mục đích tiến tu. Dù là tu sĩ xuất gia hay cư sĩ tại gia trong khi tu hành được đôi phần giác ngộ đều được mọi người quí kính.
(Xem: 6906)
Quyển Ngữ Lục này là tập hợp từ những lời thị chúng của Thiền Sư Duy Lực trong những kỳ thiền thất tại Việt Nam kể từ năm 1983 cho đến những năm tháng cuối đời.
(Xem: 3605)
Từng nghe, lòng dạ kiên trinh, ý chí vững bền, khí tiết đặc biệt đâu phải hoàn toàn do bẩm tính tự nhiên mà phải dốc lòng kính ngưỡng, noi theo những bậc có đức hạnh cao vời.
(Xem: 10641)
Vào lúc 15 giờ ngày 14/12/2014, tại An Tường tự viện, Oakland, California, Hoa Kỳ, các tự viện đã phối hợp cùng Môn đồ pháp quyến tổ chức Lễ truy niệm và phát tang HT húy thượng Đồng hạ Đạt, tự Thông Đạt, hiệu Thanh An, Viện chủ An Tường tự viện
(Xem: 8186)
Những ngữ cú của Sư được chép rải rác trong trứ tác của các nhà, nhưng chưa được gom tập. Cho nên vào niên hiệu Nguyên Văn, thiền sư Huyền Khế biên tập và đặt tên là Động Sơn Lục, tàng bản tại Bạch Hoa Lâm.
(Xem: 3889)
Ngài Long Thọ (Nagarjuna) thường được tôn xưng là “đức Phật thứ hai” bởi các truyền thống Phật Giáo Đại Thừa tại Tây Tạng và Đông Á.
(Xem: 3939)
SB Diệu Không thế danh là Hồ Thị Hạnh, húy là thượng Trừng hạ Hảo, hiệu là Nhất Điểm Thanh. Sư Bà sinh năm 1905, con gái Út của Cụ Hồ Đắc Trung và Cụ Châu Thị Lương, làng an Truyền, huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên.
(Xem: 3354)
Hòa Thượng thế danh là Nguyễn Văn Kính, sanh ngày 17 tháng 11 năm Tân Mão, nhằm ngày 17 tháng 12 năm 1891, tại làng Dưỡng Mong Thượng, tổng Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên.
(Xem: 7025)
Trì Châu Nam Tuyền Phổ Nguyện Thiền Sư quê ở Tân Trịnh, Trịnh Châu, họ Vương, theo Đại Hoè Sơn, Đại Huệ thiền sư xuất gia, đến Tung Nhạc thọ giới cụ túc.
(Xem: 3898)
Mỗi khi tâm niệm đến hành trạng Thiền sư Vạn Hạnh, chúng ta không thể không đề cập đến con ngườisự nghiệp Lý Công Uẩn.
(Xem: 17242)
Tám vạn bốn ngàn pháp môn thảy đều do một tâm mà khởi. Nếu tâm tướng trong lặng như hư không, tức ra khỏi thân tâm.
(Xem: 9966)
Quyển Hai quãng đời của Sơ tổ Trúc Lâm do chúng tôi giảng giải, để nói lên một con người siêu việt của dân tộc Việt Nam.
(Xem: 5599)
Sư sống vào thời Hậu Lê, người ta quen gọi là Tổ Cầu. Tổ tiên quê ở làng Áng Độ, huyện Chân Phúc. Ông Tổ năm đời của Sư làm quan Quản chu tượng coi thợ đóng thuyền cho triều đình.
(Xem: 16370)
Hôm nọ, Phật ở trong hội Linh-sơn, tay cầm cành hoa sen đưa lên, cả hội chúng đều ngơ-ngác. Chỉ có ngài đắc ý chúm chím cười (niêm hoa vi tiếu)...
(Xem: 6899)
Thiền sư Khánh Hỷ (1067–1142) thuộc dòng thứ 14, thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Sư họ Nguyễn, quê ở Cổ Giao, huyện Long Biên, thuộc dòng tịnh hạnh, từng được vua Lý Thần Tông phong chức Tăng Thống.
(Xem: 3259)
Nhiều người tu tập Phật Giáo cảm thấy hoang mang khi nghe nói có các vị thầy Phật Giáo không tuân thủ một số giới luật, chẳng hạn như uống rượu, sống chung với các thành viên khác trong tập thể tu hành
(Xem: 11320)
Nam Mô Từ Lâm Tế Chánh Tôn, tứ thập tam thế, Húy Thượng Tâm Hạ Nhẫn, Tự Hành Từ, Hiệu Chí Tín Giác Linh Trưởng Lão Hòa Thượng Liên đài chứng giám
(Xem: 5422)
Miền Nam Ấn Độ trước đây, Có gia đình hào phú đầy uy danh, Hai con tư chất thông minh, Ca Chiên Diên với người anh của chàng...
(Xem: 5743)
Bảy vương tử dòng Thích Ca, Đợt đầu quyết chí xuất gia lần này, A Nan có mặt trong đây, Tuổi thời nhỏ nhất nhưng đầy tương lai...
(Xem: 5112)
A Na Luật được sinh ra, Ở trong vương tộc rất là nổi danh, Thật thà, hoạt bát, thông minh, Múa ca, âm nhạc quả tình tinh thông...
(Xem: 10855)
Ngài có lời đại nguyện rằng: Nếu Ngài chưa độ hết chúng sanh, thì Ngài không chứng quả Bồ Đề, và nếu sự thọ khổ trong địa ngục hãy còn, thì Ngài thề không chịu thành Phật.
(Xem: 3169)
Đức Đại Lão Hòa Thượng Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN là thế hệ thứ 8 của phái Thiền Thiệt Diệu Liễu Quán, Pháp danh Trừng Nguyên, Hiệu Đôn Hậu.
(Xem: 3602)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa.
(Xem: 4432)
Tưởng nhớ đến một bậc Thầy khả kính của nhiều thế hệ Tăng Ni Việt Nam; Môn đồ pháp quyến thực hiện tập kỷ yếu này
(Xem: 2997)
Nhà vua xây tháp để thờ tám sợi tóc. Tháp ấy bây giờ là ngôi chùa vàng danh tiếng Shwedagon ở cựu thủ đô Yangon.
(Xem: 11005)
Hòa Thượng THÍCH MINH TÂM (1940-2013) - Môn Đồ Pháp Quyến
(Xem: 3452)
Sau khi Ta diệt độ khoảng hơn một trăm năm sau, em bé vừa rồi cúng dàng nắm cát cho Ta, đời sau sẽ làm vua tại thành Ba-liên-Phất...
(Xem: 3433)
Một thời, đức Phật ngự tại vườn Lộc Uyển nước Ba La Nại, bấy giờ, đức Phật mới thành đạo chưa được bao lâu, khi đó Vua Ba Tư Nặc mới nối ngôi.
(Xem: 3324)
... Từ đó tôi hoài bảo một cái mộng: "làm sao, sau này mình sẽ đóng một cây thang giáo lý" (tức là bộ "Phật Học Phổ Thông", ngày hôm nay).
(Xem: 7288)
Chủ đề: 50 năm xuất giahành đạo của HT. Thích Như Điển
(Xem: 2956)
Trần Tung (còn gọi là Trần Quốc Tung) hiệu Tuệ Trung Thượng Sĩ, sinh năm Canh dần 1230, mất ngày 1 tháng 4 năm Tân Mão 1291, quê ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường
(Xem: 4438)
Ban Sưu tập tu viện Quảng Hương Già Lam đã dày công sưu tập các công trình về kinh, luật, luận, thi kệ và tản văn của Đại lão Hòa thượng tập thành bộ "Toàn tập Tâm Như - Trí Thủ"...
(Xem: 3651)
Cái gương quên mình cầu pháp của ngài Pháp Hiển đã làm mối khuyến khích cho các vị khác, trong đó có ngài Huyền Tráng... HT Thích Trí Quang
(Xem: 3816)
Pháp sư Ấn Thuận thế danh là Trương Lộc Cần, sinh năm 1906 thuộc tỉnh Triết Giang, huyện Hải Ninh... Như Nguyệt
(Xem: 4535)
Ngài sinh vào ngày 17 tháng 7, 1898 tại Kotahena, ngoại ô thành phố Colombo, thủ đô của nước Tích Lan (Sri Lanka)... Bình Anson
(Xem: 4797)
Đại hội Phật giáo Việt Nam 1964 suy tôn Ngài lên ngôi vị Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất... Môn Đồ Pháp Quyến
(Xem: 3253)
Thiền Sư Dogen (Đạo Nguyên Hy Huyền) Sơ Tổ Tông Tào Động Nhật Bản... Tâm Thái
(Xem: 17752)
Hòa Thượng vốn sinh trong một gia đình trung nông, phúc hậu nhơn từ, có nề nếp đạo đức vững chắc và kính tin Tam Bảo.
(Xem: 28241)
Cuộc đời của thiền sư Bạch Ẩn là bức tranh sống với câu chuyện ―Thế à! cho đến bây giờ vẫn được nghe kể. Biên dịch lại là góp thêm công hạnh của Ngài.
(Xem: 3195)
Gương Bát Nhã thấm nhuần vạn thể, Tâm Kim Cương triệt phá lầm mê, An nhiên, thật tướng Bồ Đề, Khứ lai tự tại, đi về Chơn Như...
(Xem: 6437)
Ông Bàng Uẩn (P'ang Yun) người huyện Hành Dương, Trung Hoa, tự là Ðạo Huyền (Tao-hsuan) sinh khoảng năm 740 và chết năm 808... Tâm Thái
(Xem: 4811)
Hòa thượng thế danh Lê Diêu, Pháp danh Như Lễ, Pháp hiệu Thích Huyền Dung... Nhiều Tác Giả
(Xem: 3019)
Hầm Lửa Hóa Thành Ao Sen là Chuyện Trưởng Giả Thất Lị Cấp Đa... Hạnh Cơ dịch
(Xem: 2964)
Tì kheo ni Pháp Dữ đã được đức Thế Tôn khen ngợi là vị thuyết pháp đệ nhất trong Ni chúng... Hạnh Cơ dịch
(Xem: 4886)
Đại Sư Pháp Tạng (643-712) là tổ thứ ba của tông Hoa Nghiêm, Pháp Tạng có nghĩa là kho tàng của chánh pháp.
(Xem: 3886)
Thành tâm nhớ tưởng bậc Tôn Sư, cố Đại Lão Hòa Thượng THÍCH HUYỀN QUANG, Đệ Tứ Tăng Thống GHPGVNTN... Hạnh Cơ
(Xem: 5111)
Tổ tiên của ngài vốn ở nước Khương-cư (Sogdiana), nhưng đã mấy đời sống ở Thiên-trúc. Thân phụ ngài, nhân làm nghề buôn bán mà theo thuyền buôn sang Giao-chỉ sinh sống... Hạnh Cơ
(Xem: 3685)
Đại sư Đạo An họ Vệ, sinh vào năm thứ 3 niên hiệu Kiến-hưng (314) đời vua Mẫn đế thời Tây-Tấn... Nguyên tác Hán văn của cư sĩ Hồng Tu Bình; cư sĩ Hạnh Cơ dịch
Quảng Cáo Bảo Trợ