Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
15,342,720
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250

Tâm

30 Tháng Giêng 201711:15(Xem: 3515)
Tâm

TÂM

Thích Viên Thành

Tâm

 

Đức Phật dạy: “Tất cả đều do “tâm” tạo”, “Trong các pháp, “tâm” dẫn đầu, “tâm” làm chủ, “tâm” tạo tác tất cả,  Nếu nói năng hay hành động, với “tâm” niệm nhiễm ô, khổ não liền theo sau, như xe theo bò kéo vậy. “Tâm” dẫn đầu, “tâm” làm chủ, “tâm” tạo tác tất cả. Nếu nói năng hay hành động, với “tâm” niệm thanh tịnh, An lạc liền theo sau, như bóng chẳng rời hình” PC1&2.

Việt Nam ta, trong áng văn bất hủ Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng có thơ về “tâm” rằng: “ Thiện căn ở tại lòng ta, chữ “tâm” kia mới bằng ba chữ tài

Từ Phật, Thánh đến Hiền nhân và ngay cả người đời thường cũng đều biết rằng “Tâm” là quan trọng nhất, tất cả sang hèn, vui buồn, sướng khổ, lên thiên đường, xuống địa ngục…cũng đều do “tâm” nầy tạo ra chứ không ai “ban phước giáng họa” cho ai cả. Do vậy phải lo “Tu Tâm, dưỡng Tánh” là như vậy.

Nhưng “tâm” là ở trong lòng ta, chứ không ở ngoài hay ở đâu cả, muốn Tu là phài quay vào lại bên trong, chứ không tìm kiếm ở bên ngoài, nên Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ dạy cho Thái Tử Trần Khâm câu “phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc” có nghĩa: xem lại chính mình là phận sự chính, không từ nơi khác mà được, rất là chính xác, đúng đạo lý thiền gia. Tu “ngoài tâm” là tu theo ngoại đạo và chỉ là “gãi ngứa ngoài giày” mà thôi.

Người có “tâm” tức là người có “đức”, vì chỉ biết sống vị tha, luôn nghĩ, nói tốt và chuyên làm những việc chăm lo an vui hạnh phúc cho người, hơn là lo cho bản thân mình. Phật nhìn đâu cũng thấy Phật, người tốt nhìn cái gì cũng thấy tốt, (Thiền thoại Tô Đông Pha thấy Phật Ấn như đống phân bò) đã nói rõ lên điều ấy, do vậy khi ta thấy người có điều xấu nầy hay điều sai khác, rồi sanh phiền não, phê phán, trách móc, khen chê để rồi tạo nghiệp, bất kính, xem thường, mạ lị…Hiểu được điều nầy, khi ta thấy một ai có điều gì xấu, không như ý thì hãy quán chiếu lại “tâm” mình ngay, vì “ Người vui cảnh chẳng đeo sầu, người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, “tâm” ta đang có vấn đề, nên “nhìn gà hóa cuốc”, chứ “Tất cả chúng sanh là Phật sẽ thành” kia mà! Có quán chiếu được như vậy là ta đang tu, vừa hoàn thiện được bản thân, vừa không tạo thêm nghiệp chướng, để khỏi phải trả quả về sau, hiện tại an vui, tương lai được sanh về nơi lạc cảnh.

Phật dạy: “ Khi chưa chứng A La Hán, thì chưa thể tin “tâm” ta được”, “tâm” của chúng sanh là “tâm viên, ý mãvô thường, thay đỗi, chạy nhảy lung tung và cũng dễ bị nhiễm ô, như truyện “Cửa Tùng Đôi Cánh Gài” đã nói rõ lên điều ấy. Đừng ngạo mạn xem ta là “Thánh”, đang xuống trần hành hiệp giang hồ, diệt bạo, trừ gian, rồi gặp ai cũng tưởng “ma quỷ” sẵn sàng rút kiếm diệt trừ, để rồi cuối cùng quay về với “nguồn cội”, với“sư phụ” và nhìn lại “kiếng chiếu yêu” thì thấy mình đã “mọc nanh” ra, khi nào không biết. “Tâm” dẫn dắt ta đi khắp sáu nẻo luân hồi! “Tâm” cùa chúng ta là như vậy đấy, nên cần phải lo TU cái TÂM lăng xăng, lộn xộn nầy cho được yên tịnh, chứ không tu ở đâu xa “chế tâm nhứt xứ vô sự bất biện” giữ tâm một chỗ, việc gì cũng được hanh thông, là vậy!

Đừng tưởng rằng, đi chùa nhiều, tu lâu năm, tụng, học cho nhiều kinh điển, đóng góp xây dựng được nhiều “chùa to, Phật lớn”, nổi danh với âm thanh, sắc tướng… mà vẫn còn tham, sân, si, “tâm” thiếu từ bi hỷ xả, không bao dung, rộng lượng, chuyên nhìn ra ngoài để thấy lỗi người, rồi sanh phiền não, thì chỉ là “tu hình tướng, tu danh, tu lợi” mà thôi, không quán chiếu để chuyển hóa nội tâmnghiệp lực của mình, thì làm sao độ được ai? Như vậy càng đi chùa, công quả nhiều, càng tu lâu, để rồi lớn “bản ngã” xem ta là nhất, ai hơn cũng không muốn và tìm cách trù dập, hãm hại là đã tu sai rồi, thì càng thêm tội lỗiuổng công, phí sức, thật đáng thương hại thế nào!

Khi Đức Phật còn tại thế, hoàng hậu nước Kosala tên Mallika có hỏi Đức Phật về nguyên nhân nào khiến con người sinh ra đẹp xấu khác nhau. Đức Phật trả lời rằng: “Người có “tâm” nhu hòa, nhẫn nhục sẽ được đẹp đẽ và kẻ có “tâm” sân hận sẽ chịu xấu xí”. Ngài cũng đã có dạy: “Tội từ “tâm” khởi, đem “tâm” sám, “tâm” được tịnh rồi, tội liền tiêu, tội tiêu “tâm” tịnh, thảy đều không, thế mới thật là chơn sám hối” Người có ‘tâm thành’ hay mang hoa cúng Phật, ít chê bai, thường hay khen ngợi điều tốt của mọi người, cũng sẽ thành tựu được quả báo tốt, có nhan sắc đẹp đẽ sau nầy. Trong cuốn sách Nhân tướng học, tác giả Hy Trương đã kết luận: “Tướng tùy “tâm” sinh, tướng tùy “tâm” diệt”, cũng đã nói lên, tất cả mọi sự cũng từ nơi “tâm”. Nếu “tâm” chúng ta thường xuyên biết giúp đỡ mọi người, sống vị tha, bao dung, tùy hỷ, để có được tinh thần “vô ngã” siêng làm lợi ích cho người, ít phiền não, nóng giận, sân hận, thì tướng mạo và số phận của chúng ta sẽ thay đổi một cách tốt đẹp.

Do vậy, là người con Phật, phải khiêm cung, có “tâm tốt” để có suy nghĩ, cái thấy tốt, lời nói hay và hành động đẹp, từ đó hiểu, thương, tôn trọng và biết chia sẻ lẫn nhau! “Đời ngắn ngủi, thương nhau còn chưa đủ, bận lòng chi, những thù hận vu vơ, vết trầy nhẹ, đừng làm thân đau nhức,“tâm” yêu thương là biển rộng vô bờ !” Phật dạy: “Tâm bình thế giời bình, tâm tịnh quốc độ tịnh” thật quá siêu việt, tuyệt vời.

Có “tâm tốt” thấy mọi điều đều tốt
Chuyện của người đừng để ý làm chi  
Việc ở ngoài toàn những chuyện thị phi    
“Quán chiếu tâm” chính là bổn phận sự

Chùa Pháp Hoa – Nam Úc, những ngày mừng Xuân Đinh Dậu – 2017  
Thích Viên Thành

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 405)
Ấn-độ là một bán đảo lớn ở phía Nam Châu Á. Phía Đông-Nam giáp với Ấn-độ dương (Indian Ocean), phía Tây-Nam giáp với biển Á-rập ( Arabian Sea).
(Xem: 315)
Nguyên bản: The Inner Structure, Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D., Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 597)
Thái tử Siddharta Gautama là người đầu tiên đã nghĩ rằng Ngài đã đạt được Giác ngộ. Ngài đã trở thành vị Phật lịch sử. Rồi Ngài đã đem những điều mình giác ngộgiáo hoá cho chúng sanh.
(Xem: 409)
Căn Bản Hành Thiền - Bình Anson biên dịch 2018
(Xem: 303)
Luận Duy thức tam thập tụng này được viết với mục đích khiến cho những ai có sự mê lầm ở trong nhân vô ngãpháp vô ngã mà phát sinh ...
(Xem: 193)
Ba địa mỗi địa mười, Năm phiền não, năm kiến, Năm xúc, năm căn, pháp, Sáu: sáu thân tương ưng.
(Xem: 197)
Bất cứ sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại;thuộc nội phần hay ngoại phần, thô hay tế, hạ liệt hay thắng diệu, xa hay gần, mà dồn chung lại, tổng hợp thành một khối. Gọi chung là sắc uẩn.
(Xem: 178)
Kính lễ Nhất thiết trí, Vầng Phật nhật vô cấu, Lời sáng phá tâm ám Nơi nhân thiên, ác thú.
(Xem: 266)
Trong cách nghĩ truyền thống, Tứ Thánh đế (Cattāri Ariyasaccāni) được xem là bài pháp đầu tiên khi Đức Phật chuyển pháp luân độ năm anh em Kiều-trần-như.
(Xem: 310)
Suốt kinh Pháp hội Pháp giới Thể tánh Vô phân biệt, Bồ tát Văn-thù-sư-lợi là người thuyết pháp chính, Đức Phật chỉ ấn khả và thọ ký...
(Xem: 213)
An cư” là từ không còn xa lạ đối với tín đồ Phật giáo; tuy nó không có nghĩa “an cư lạc nghiệp” của đạo Nho, nhưng khía cạnh nào đó, “lạc nghiệp” mang nghĩa...
(Xem: 322)
Trung luận, còn gọi là Trung quán luận, bốn quyển, Bồ-tát Long Thọ trước tác kệ tụng, ngài Thanh Mục làm Thích luận, được dịch ra chữ Hán ...
(Xem: 400)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào?
(Xem: 602)
Trước tiên là về duyên khởi của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Theo truyền thuyết, Kinh này được Phật giảng vào lúc cuối đời, được kết tập trong khoảng năm 200.
(Xem: 332)
Phật và chúng sinh thật ra vẫn đồng một thể tánh chơn tâm, nhưng chư Phật đã hoàn toàn giác ngộ được thể tánh ấy.
(Xem: 835)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào? Phát Bồ-Đề Tâm phải học theo những Kinh, Luận nào?
(Xem: 386)
Cúng dườngnuôi dưỡng khiến Tam Bảo hằng còn ở đời. Tất cả những sự bảo bọc giúp đỡ gìn giữ để Tam Bảo thường còn đều gọi là cúng dường.
(Xem: 454)
Bốn cấp độ thiền định hay tứ thiền là bốn mức thiền khi hành giả thực hành thiền có thể đạt được.
(Xem: 476)
Một bào thai sở dĩ có mặt trên cuộc đời này ngoài yếu tố chính là do cha mẹ sinh ra, còn là kết quả của một tiến trình không đơn giản.
(Xem: 376)
Đạo Phật là nguồn sống và lẽ sống của con người, là cương lĩnh cho nhân thế. Với sứ mạng thiêng liêng cao đẹp ấy, đạo Phật không xa lìa thực thể khổ đau của con người.
(Xem: 507)
Mục đích của Đạo Phậtdiệt khổ và đem vui cho mọi loài, nhưng phải là người có trí mới biết được con đường đưa đến an lạchạnh phúc
(Xem: 419)
Người ta thường nói đạo Phật là đạo của từ bitrí tuệ. Đối với nhiều người Phật tử, từ bi là quan trọng hơn cả, và nếu khôngtừ bi thì không có đạo Phật.
(Xem: 525)
Các nhà khảo cổ đang nghiên cứu tại Nepal đã phát hiện bằng chứng về một kiến trúc tại nơi sinh ra Đức Phật có niên đại thế kỷ thứ 6 trước công nguyên.
(Xem: 543)
Theo Đức Phật, tất cả những vật hiện hữu đều biến chuyển không ngừng. Sự biến chuyển này thì vô thuỷ vô chung. Nguồn gốc của vũ trụ không do một Đấng Sáng tạo (Creator God) tạo ra.
(Xem: 581)
Đức Phật đản sanh vào năm 624 trước Công nguyên. Theo lý giải của Phật Giáo Nam Tông thì Đức Phật sanh ngày Rằm tháng Tư Âm lịch.
(Xem: 632)
Nếu bạn say mê đọc kinh Phật, ưa thích những phân tích kỹ càng về giáo điển, muốn tìm hiểu các chuyện xảy ra thời Đức Phật đi giảng dạy nơi này và nơi kia, hiển nhiên đây là một tác giả bạn không thể bỏ qua
(Xem: 454)
Tánh Không là một trong những khái niệm quan trọng và khó thấu triệt nhất trong giáo lý Phật giáo Đại thừa.
(Xem: 640)
Nguyên bản: Meditating while dying; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 666)
Ba Mươi Hai Cách ứng hiện của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Bởi vì Quan Thế Âm Bồ Tát đồng một Sức Từ với đức Phật Như Lai cho nên ngài ứng hiện ra 32 thân, vào các quốc độđộ thoát chúng sanh
(Xem: 510)
Thể tánh của tâm là pháp giới thể tánh, bởi vì nếu không như vậy thì tâm không bao giờ có thể hiểu biết, chứng ngộ pháp giới thể tánh.
(Xem: 433)
Trong kinh tạng Nikāya, khái niệm con đường độc nhất (ekāyana magga) là một khái niệm thu hút nhiều sự quan tâm của học giới từ phương Tây cho đến phương Đông
(Xem: 402)
Thuật ngữ pháp (dharma, có căn động tự là dhṛ có nghĩa là “duy trì, nắm giữ”; Pāli: dhamma; Tây Tạng: chos) mang nhiều ý nghĩa và ...
(Xem: 440)
Trì danh là pháp tu Tịnh Độ phổ thông nhứt hiện nay. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm, có Mười cách trì danh khác nhau
(Xem: 502)
Phật dạy tất cả pháp hữu vi đều là vô thường sanh diệt không bền vững, như vậy thìthế gian cái gì có tạo tác có biến đổi đều là vô bền chắc.
(Xem: 547)
Nguyên bản: Removing obstacles to a favorable death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 523)
Mối liên hệ giữa hình thức sớm nhất của Phật giáo và những truyền thống khác mà chúng đã phát triển về sau là một vấn đề luôn tái diễn trong lịch sử tư tưởngPhật giáo.
(Xem: 662)
Nghiệp và Luân hồi là hai ý niệm đã có trong Ấn độ giáo, được giảng giải trong các Kinh Veda và Upanishad vào khoảng 1500 năm trước CN.
(Xem: 9191)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 1055)
Mục tiêu cao cả của đạo Phật là dạy con người tu tập để thoát khổ, giác ngộgiải thoát.
(Xem: 490)
Phật giáo du nhập Nhật Bản vào thế kỷ thứ VI, sau đó trải qua thời kì Nara (710~785), thời kì Heian (794~1192) cho đến thời kì Kamakura (1192~1380), trước sau khoảng 700 năm, rồi phát sinh rất nhiều tông phái.
(Xem: 550)
Tổ Quy Sơn dặn: “Nói ra lời nào phải liên hệ với kinh điển. Đàm luận gì, phải xét lại lời người xưa”.
(Xem: 451)
Nhiều học giả phân vân là làm thế nào và tại sao những nhà Đại chúng bộ (Mahāsāṅghika) đã hình thành nên khái niệm về một Đức Phật siêu việt...
(Xem: 645)
Hoa Sen Diệu Phápgiáo pháp được thuyết giảng trong Kinh Pháp Hoa. Quang Trạch giải thích Diệu Pháp là nhân của đạo Nhất Thừa, là quả của đạo Nhất Thừa.
(Xem: 442)
Con người sống qui tụ lại thành một xã hội, và phát triển tập thể này rộng lớn dần dần thành một quốc gia.
(Xem: 1648)
Trước khi xác định Phật Giáo như là một hệ thống tư tưởng triết học (Buddhism as a philosophy) hay như là một tôn giáo (Buddhism as a religion), chúng ta sẽ tìm hiểu triết học là gì ? và Phật giáo là gì ?
(Xem: 594)
Lục độ Ba-la-mật-đa/ Sáu phương pháp tu Ba-la-mật-đa (Six Paramitas) là 6 pháp tu để giải trừ các khổ ách của Đại thừa Phật giáo.
(Xem: 569)
Theo quan điểm của Đại hoàn thiện thì ánh sáng trong suốt hiển hiện một cách tự nhiên và được gọi là "hoàn-toàn-tốt"
(Xem: 736)
Đức Phật ra đời vào năm 624 trước tây lịch tại nước Ấn Độ. Ngài thuyết pháp 49 năm. Phật giáo đã trở thành quốc giáo, vì các vua, các quan và dân chúng đa phần đều theo đạo Phật.
(Xem: 766)
Y Kinh Kinh Cang Bát Nhã Ba La Mật: Đức Thế Tôn Như Lai hỏi ngài Tu Bồ Đề: Như Lainhục nhãn không? Ngài Tu Bồ Đề thưa:
(Xem: 1668)
Cuốn sách “Luân Hồi trong Lăng Kính Lăng Nghiêm” được ra mắt cách đây 9 năm (2008), in lần thứ hai, ba và tư vào năm 2012, 2014 & 2016 tại Nhà xuất bản Phương Đông, và năm nay (2018) cũng tại NXB Hồng Đức
(Xem: 1084)
điều chắc chắn là làm người, ai cũng có ý thức về tội lỗi. Điều này là không đúng, điều này là không tốt, điều này là không đẹp.
(Xem: 697)
Tựa đề của khảo luận này phát xuất từ tồn nghi của một pháp hữu trong khi dịch lại bản kinh Tập (Sutta Nipāta) ở văn hệ Nikāya.
(Xem: 1180)
Khái niệm ‘nghiệp’, thật ra, đã có mặt trong văn học Bà-la-môn giáo từ rất lâu trước khi Đức Phật xuất hiện ở đời.
(Xem: 686)
Vũ trụ, con người hình thành như thế nào và tương lai sẽ ra sao? Câu hỏi chưa bao giờ được xếp lại. Khoa học lượng tử luôn tiên phong...
(Xem: 695)
rong lịch sử tư tưởng Ấn-độ, thuyết Trung đạo đã mang lại cho tư tưởng giới đương thời một không khí hoạt bát[1].
(Xem: 800)
Bản chất của ánh sáng trong suốt, mang tính cách nền tảng và rạng ngời, là cội nguồn tối hậu của tất cả mọi cấp bậc tri thức...
(Xem: 981)
Chánh Pháp là gì? Phật Pháp được chia thành ba thời kỳthời Chánh Pháp, thời Tượng Pháp, và thời Mạt Pháp.
(Xem: 1322)
Ông trị vì từ năm 269 TCN đến năm 232 TCN thuộc đời thứ 3 của triều đại Maurya. Đế chế của ông rộng lớn gần như tất cả tiểu lục địa Ấn Độ trãi dài từ Đông sang Tây.
(Xem: 1042)
Trong Kinh Kim Cang, Phật dạy có 4 tướng: “Ngã – Nhân – Chúng Sanh – Thọ Giả”. Khi còn phàm phu, chấp thân này là thật là bền vững,
Quảng Cáo Bảo Trợ