Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
15,012,972
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Đạo Giải Thoát

28 Tháng Hai 201707:39(Xem: 2016)
Đạo Giải Thoát
ĐẠO GIẢI THOÁT

Lê Khắc Thanh Hoài

Đạo giải thoát


Đạo Phật thường được xem là Đạo Giải Thoát. Chính đức Phật Thích Ca đã từng tuyên bố :
« Ví như này các tỳ kheo, biển lớn chỉ có một vị là vị mặn. Cũng vậy, này các tỳ kheo, Pháp này cũng chỉ có một vị là vị Giải Thoát » (1)

Hãy tìm hiểu vị Giải Thoát này mang ý nghĩa như thế nào ? Giải Thoát cái gì, điều gì ? Như thế nào, làm thế nào thì được gọi là Giải Thoát ? Có Giải Thoát tất nhiên là có cái gì ràng buộc ? Có cái gì ràng buộc tức là không có tự do ?

Câu trả lời thật khôngrõ ràng hơn qua bốn câu thi kệ sau đây :

Đến đích không ưu phiền
Giải thoát ngoài tất cả
Trừ diệt mọi buộc ràng
Không còn lửa tham ái.
 (2)

Vậy chúng ta sẽ dựa trên bốn câu thi kệ trên để cùng hiểu rõ nghĩa Giải Thoát và đồng thời, hiểu được những gì là ràng buộc.

Trên bước đường tu, theo kinh điển Nguyên Thủy, mà bốn câu thi kệ trên được trích dẫn, đến đích là đã đạt được Thánh quả A La Hán. Không còn chút phiền não. Thoát luân hồi sanh tử. Đoạn tận gốc của Tham ái, chặt đứt mọi sợi dây ràng buộc với thế gian đầy khổ đau. Nhập vào cõi Niết Bàn tịch tịnh.

Theo tư tưởng Đại Thừa hay Phật Giáo Phát Triển thì đến đích là thành Phật, đạt quả vị Phật, cũng có thể là dừng lại nơi quả vị Bồ Tát, không thành Phật vì phát Đại Nguyện trở lại thế gian để cứu độ chúng sinh. Cho dù là quả vị nào thì Phật, Bồ Tát hay A La Hán các Ngài đều thực sự đã dứt trừ mọi phiền não, đoạn tận gốc của Tham Ái, không còn bị ràng buộc bởi bất cứ điều gì, hoàn toàn tự tại, hoàn toàn vô ngại. Các Ngài đã đạt được cái gọi là Tự Do Tuyệt Đối. Muốn đạt được cái Tự Do Tuyệt Đối này, các Ngài đã phải dày công khổ luyện, tu tập để giải thoát khỏi những sợi dây trói buộc mình phải trôi lăn trong luân hồi sinh tử, những sợi dây siết vào cổ của một tên nô lệ phải phục tùng chủ nhân mà không ai khác hơn là chính cái thân xác của mình, cùng với cái tâm thức của mình, với những khát khao thụ hưởng hầu như chẳng bao giờ thoả mãn, hầu như bất tận. 
Do có những ràng buộc thì mới có chuyện giải thoát tức là vượt ra ngoài những ràng buộc đó. Những sợi dây chỉ là biểu tượng của sự bị trói, buộc, cột, thắt, kết, xiềng, xích. Những sợi dây ở đây hoàn toàn vô hình thì sự trói buộc cũng thế, không hề thấy ai trói ai, ai buộc ai nhưng lại là những thứ trói buộc vô cùng chặt chẽ !
Trước khi bàn đến sự giải thoát, hãy nói đến các mối dây ràng buộc vô hình này.
Sắt, cây, gai trói buộc
Người trí xem chưa chắc
Tham châu báu vợ con
Trói buộc mới thật bền.
 (3)
Cái sợi dây trói buộc chân tay hay thân thể con người có thể làm từ vật liệu là sắt, là cây, là dây gai, dây leo hay bất cứ loại gì cũng có thể bị hủy hoại, hư hao, bào mòn, tan rã với thời gian, do thiên nhiên hay vì một lý do nào khác, được chặt, được cắt, được ném đi, vứt bỏ và như thế là con người hết bị gò bó, hết bị trói buộc, được tự do, thong dong, giải thoát.

Sự trói buộc này do vậy mà không thể xem là chắc chắn.

Ngược lại, sự trói buộc mà chẳng từ một sợi dây nào, sự trói buộc vô hình, tay chân, thân xác chẳng bị cột, bị trói vậy mà con người không thể thong dong, không thể tự do, không thể thoải mái, dường như lúc nào cũng cảm thấy lòng mình vướng víu, bận bịu, lo nghĩ, lo âu, băn khoăn, trăn trở, mất ăn, mất ngủ ! Đó là do cái tâm thức đã bị trói buộc bởi cái lòng tham thụ hưởng vật chất, của cải, tài sản, cũng như cái khát khao được thành công, được mãn nguyện, được như ý, có sự nghiệp, có danh vọng, có tiếng tăm, có uy quyền, có chức vị, cũng như cái khát khao được thương, được yêu nên luôn hi vọng, ngong ngóng, đợi chờ, ra công, ra sức, phải mưu cầu, mưu đồ, tìm tòi, tích lũy, gom góp, gìn giữ, tính toán, sắp đặt, lo toan, lên kế hoạch, dự định, dự án… như thế là buộc cái thân phải chạy đông chạy tây, đôn đáo ngược xuôi, tất ba tất bật, bôn ba xứ người, chịu cực chịu khổ, chịu tai chịu nạn, thậm chí tổn cả mạng sống.

Cho dù không nói đến lòng tham chất ngất, vọng ngưỡng đến những gì to tát, cao siêu, vĩ đại mà chỉ là những nhu cầu bình thường mà ai cũng cần, ai cũng đòi hỏi, vậy mà cũng chẳng dễ dầu thoải mái, tâm thức lúc nào cũng như bận rộn ngày đêm đôi khi dẫn đến cả sự quẫn trí !

Làm người thì ai cũng cần sự ăn, sự mặc, sự ở và thuốc men để trị bệnh, săn sóc cái thân nhưng con người không dừng lại ở mức độ biết đủ, tri túc, mà để cho những sợi dây vô hình của cái lòng muốn vừa đủ này trở thành túi Tham không đáy chi phối và làm chủ, kéo mình đi khắp nơi, khắp chốn và từ đó, có thể tạo vô số tội nghiệp

Từ Tham mà có thể không từ chối những phương tiện bất chính, thủ đoạn, vô đạo đức, vô luân lý, vô liêm sỉ, vô lương tâm. Cũng có thể đưa đến những hành động ác như giết người, hại người đủ cách, đủ kiểu, để đoạt của, đoạt chức vị hay cũng có thể là đoạt…người tình, người yêu. Lòng Tham và Ái dục đẩy con người vào tù tội, địa ngục, chịu quả báo nặng nề.

Xin nhắc lại, gọi là Tham khi lòng muốn vượt lên nhu cầu cần thiết. Các giác quan đem lại khoái lạc nhưng không đuổi theo, nuôi dưỡng, làm tăng trưởng nỗi khát khao thụ hưởng khoái lạc đó thì không có Tham. Khi khởi lên sự đeo đuổi lúc đó mới có Tham. Thí dụ, ăn uống thì cần hợp vệ sinh và bổ dưỡng để nuôi thân, không cần phải cầu kỳ nem công chả phượng, khi bắt đầu thích ăn thật ngon, từ chối những gì không hợp khẩu vị, tìm kiếm món lạ, món hiếm, thượng hạng, hảo hạng mới chịu thì lúc đó có Tham và bị khoái lạc của lưỡi, của vị, của cái ăn ràng buộc. Cũng từ nơi miệng, cửa Khẩu, mà có được lời nói, và khi lời nói không còn là phương tiện để diễn đạt ý tưởng, để hỗ trợ cho cái thấy, cái nghe, cái biết mà thích thú trong lời nói chỉ trích, phê bình, soi mói, đâm thọc, nói để lừa dối, chia rẽ, gây oán thù, không còn là lời hòa ái, Ái ngữ, thì lúc đó đã có sự ràng buộc nơi cửa miệng, nơi lời nói. Khi không còn xem áo quần chỉ để che thân, mà chỉ muốn mặc thật đẹp, hàng thật tốt, hàng thượng hạng, hàng hiệu đắt tiền, là lúc đó có Tham và có sự ràng buộc đến từ nơi thân, liên quan đến sự mặc, cũng thế, khi không còn thấy nhà cửa, chỗ ở chỉ là một phương tiện để che nắng trú mưa, mà chỉ mơ tưởng nhà lầu sang trọng, tiện nghi phức tạp, tối tân thì lúc đó đã có Tham và có sự ràng buộc đến từ nơi thân, liên quan đến sự ở. Khi tai không còn là một phương tiện để nghe, để hiểu, hỗ trợ cho cái thấy, cái biết mà chỉ muốn nghe những âm thanh thật hay, êm ái diệu vợi như ca, nhạc, lãng phí thời giờ quí báu để tìm tòi, chế tạo các nhạc cụ, khí cụ hay máy móc phát những âm thanh kích thích và đem khoái lạc cho nhĩ căn thì lúc đó có Tham và có sự ràng buộc đến từ âm thanh. Khi mắt không chỉ là một giác quan giúp cho nhận ra mọi sự, mọi việc, thấy được không gianvị trí của mình, của chung quanh mà chạy theo những hình ảnh tuyệt đẹp, tướng mạo xinh xắn, oai nghi hay tư thái lịch lãm, cho dù là giai nhân, mỹ nữ, mỹ nam hay chỉ là đồ vật, động vật, thiên nhiên, hoa đồng cỏ nội, núi rừng hùng vĩ, con mắt luôn thích thú được ngắm, được nhìn, được thấy chỉ vì có khoái lạc trong cái nhìn, cái thấy thì lúc đó có Tham và có sự ràng buộc đến từ sắc tướng, hình tướng. Lúc mũi không chỉ cần thiết để thở và duy trì sự sống mà đắm vào khoái lạc từ các mùi hương, tìm cách chế biến, sáng tạo đủ loại hương thơm để che dấu cái mùi hôi thối, sinh « ghiền » và mê mẫn với hương thơm, có thể nhịn ăn, tiết kiệm để mua sắm nước hoa, dầu thơm đắt tiền, phải có nó để xức lên mình mẩy mới bằng lòng thì lúc đó đã có Tham và có sự ràng buộc đến từ mùi hương. Khi khoái lạc của dục tình làm đắm đuối, phải thỏa mãn cho được bằng mọi cách, mọi phương tiện, có thể là bất chính, tà dâm, cưỡng bách, hãm hiếp hoặc thèm muốn chồng, vợ của người thì lúc đó có Tham và có ràng buộc đến từ nơi da thịt, thân xác và sự xúc chạm. 

Đó là nói sự ràng buộc đến từ năm giác quan, sắc, thanh, hương, vị xúc. Nếu chịu khó quan sát thật kỹ, chúng ta sẽ thấy năm giác quan này liên hệ thật chặt chẽ với nhau. Chỉ cần một giác quan được khoái lạc thì tất cả các giác quan khác cũng khoái lạc theo. Khá vi tế, khó nhận ra nhưng cũng có thể nhận ra được. Khi tai quá say mê thưởng thức một bản nhạc hay, tình tứ, diệu vợi hoặc mắt chiêm ngưỡng một bức tranh đẹp, có hình ảnh quyến rũ hay đọc một đoạn văn tả cảnh hấp dẫn cũng khơi dậy lòng khát khao tình dục nơi thân. Khi ăn một món ngon, chúng ta muốn món ăn đó phải được trình bày đẹp mắt, hấp dẫn và tỏa mùi hương nồng nàn, thơm tho nếu không thì món ăn đó không thể hoàn toàn ngon được.

Con người còn ham hưởng thụ khoái lạc nơi tinh thần, nơi trí óc, sự suy nghĩ, tư duy, sự học hỏi, trau dồi kiến thức, sự hiểu biết, kéo theo sự thích thú được ca tụng, khen ngợi, tâng bốc, chạm đến danh dự, danh tiếng, sự nhận ra giá trị của mình và sự chấp nhận của người khác. Đây cũng là những sợi dây vô hình trói buộc con người vào những gì được gọi là Pháp, đối tượng của giác quan thứ sáu là Thức.

Khoái lạc nơi tinh thần còn là niềm vui sướng, hạnh phúc vì được yêu, được thương, được kính, được nể, được che chở, được bảo vệ, được chăm sóc, được lo lắng, được quan tâm, được phục vụ, được thăm hỏi, được nhắc nhở, không bị bỏ quên, không bị lờ đi, không bị dìm đi…

Lại cũng là những sợi dây vô hình ràng buộc con người vì khi thiếu những điều đó, được thương, đưọc kính, được nể…thì con người rất đau khổbi quan, chán đời. Sự ràng buộc này được xem là thuộc loại tình cảm, thuộc về Ái. ( Mời đọc Ái  LKTH )

Tất cả những mối dây ràng buộc nơi thân hay nơi tâm đều có thể gây sân hận, phẫn nộ, oán thù, trách móc một khi không thỏa mãn được lòng khát khao, như mong muốn, như kỳ vọng, như đợi chờ. Đó chính là Tham đã kéo theo Sân và Si.
Khoái lạc nơi tinh thần không phải là sự giải trí làm cho đầu óc thoải mái, thư giản, hết căng thẳng mà là sự tự mãn, hài lòng với chính mình do đã nổ lực, đã cố gắng, đã ra sức, đã thành công, đã hoàn tất nhiệm vụ, phận sự hay trách nhiệm. Sự tự mãn này, kẻ làm ác, hay người hướng thượng, hướng thiện, cả hai đều có thể đạt được như nhau. Nếu không có sự hài lòng, tự mãn đó thì kẻ làm ác chẳng bao giờ làm ác. Phải có cái gì thú vị nơi việc làm ác mới thúc đẩy làm ác, cho dù là sai trái. Hành hạ kẻ khác, tra tấn, làm cho kẻ khác đau đớn thân xác hay tinh thần, cũng đem lại « khoái lạc » cho kẻ ra tay. Cũng vậy, có kẻ tự hành hạ thân xác mình hay trầm mình trong khổ đau.

Để chăn gối nằm im chỗ cũ
Hãy lịm người trong thú đau thương
(4)

Cảm giác, cảm xúc hay cảm thọ chính là là những sợi dây vô hình trói buộc con người vậy.

Chúng ta đã nhận ra sợi dây ràng buộc do mang cái thân hữu sanh hữu tử này. Cái tấm thân cấu tạo từ Ngũ Uẩn hay Ngũ Ấm, năm thứ ngăn che, làm chướng ngạicon người lại không nhận thấy, chỉ thấy phần khoái lạc do nó đem lại. Năm thứ cấu tạo thành con người (Sắc, thọ, tưởng, hành, thức) cũng như sáu Trần, đối tượng của các giác quan (Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) đức Phật thấy nó là Khổ, là Ách, là Nạn nhưng phàm phu chúng ta thì thấy ngược lại, cho là sướng, là vui, là đẹp, là hay, là thú vị, thích thú nuôi dưỡng, nuông chiều nó. Con người như một con thú bị mắc bẫy đó thôi !

Cái thân Ngũ uẩn này bị ràng buộc bởi những nhu cầu vật chất cần được thỏa mãn. Chắc chắn là có những nhu cầu thiết yếu để duy trì mạng sống nhưng vì con người đã vượt giới hạn của sự cần và đủ, từ đó nảy sinh vô lượng phiền toái, phiền nãotội nghiệp.

Nhưng nếu chúng ta « ngược đãi » cái thân xác, không chăm sóc nó đúng mức, hoặc ép mình, khổ hạnh thì cũng không đúng. Đức Phật dạy đó là con đường cực đoan, nên tránh. Chính đức Phật, sau sáu năm khổ hạnh, đã thọ nhận bát sữa của nàng Sujata để thân thể khoẻ mạnh trở lại, nhờ đó tiếp tục tu tập mới có kết quả, đưa đến Giác Ngộ.
Vì cái thân có hai phần, vừa vật chất vừa tâm lý nên sự ràng buộc đều có từ hai phía. 

Những ràng buộc vừa vật chất vừa tinh thần thì quả là khó gỡ. Vì căn bản đã có sự ngộ nhận nơi việc mưu cầu hạnh phúc, con người nghĩ rằng tiền của, tài sản, tiện nghi vật chất hay danh vọng, thành công ở đời đem lại hạnh phúc nên dốc hết tâm tư vào chuyện mưu sinh, tìm kiếm, đeo đuổi theo để cung phụng tối đa cho đời sống của chính mình, của vợ con, chồng con, hay quyến thuộc, gần, xa…nhưng rốt cuộc không thể có hạnh phúc trọn vẹn, chỉ là một thứ hạnh phúc nhất thời, tạm bợ, mong manh, dễ mất, dễ vỡ, dễ vuột ra khỏi tầm tay. Vì sao ? Vì hạnh phúc thực sự phải đến từ bên trong, nơi Tâm, nơi phần tinh thần mới thật là bền lâuchân thật. (Mời đọc: Hạnh Phúc và Đau Khổ LKTH) 
Con người tự ràng buộc mình với những gì đến từ bên ngoài, bên ngoài bao gồm của cải vật chất, và tinh thần như sự nghiệp, tiếng tăm, kể cả những người chung quanh, quyến thuộc xa gần, kể cả bạn bè, thân, không thân, kể cả người mình ghét, mình thù ! Không có sợi dây nào trói mình, chính mình tự trói mình vào những liên hệ phức tạp, luôn nảy sinh vấn đề, từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn, gia đình có thể trở thành một nhà tù giam hãm mình trong đó với trách nhiệm, với bổn phận, với muôn vàn lý do, có thể do mình tự tạo cũng như do hoàn cảnh, tình thế đẩy đưa, để mình chìm lỉm trong đó với lo âu, phiền toái mà đôi khi chỉ chấm dứt khi cái thân xác rã rời bịnh hoạn và nằm xuống cùng tro bụi. 

Tâm còn bị đắm say
Con cái và súc vật
Bị tử thần bắt đi
Như nước trôi làng ngủ
. (5)
Câu thi kệ trên đây cho thấy không những con người ràng buộc mình nơi gia đình, con cái mà nơi cả súc vật ! Điều này không hề sai cho đến cả thời hiện đại của chúng ta, con người càng ngày càng khắng khít, gần gũi, thương yêu súc vật, đó là nói đến những con vật có thể chung sống, làm bạn với người, không nói đến các súc vậtcon người đã « lợi dụng, lạm dụng », ỷ vào sức mạnh, giết sinh mạng chúng, lấy thịt cung cấp, làm thức ăn nuôi dưỡng sinh mạng mình.

Cho dù quyến luyến người hay súc vật, chung qui rồi cũng phải đi đến sự chia lìa.

thực tế lắm khi phũ phàng :

Một khi tử thần đến
Không có con che chở
Không cha, không bà con
Không thân thích che chở.
 (6)

Đạo Phật thường bị phê bìnhbi quan, yếm thế. Song đúng hơn, nên nghĩ rằng đạo Phật vô cùng thực tế ! Phàm phu chúng ta phải đủ can đảm để nhìn nhận sự thật của thân phận con người, của trần gian này là Khổ nhưng không quên bên cạnh đó có con đường Diệt Khổđức Phật đã chỉ ra, đó là niềm lạc quan vô cùng lớn lao, không thể xem thường hay quên lãng và không nhắc tới.

Và đây chính là mục đích của đạo Phật :

Giác khổ, diệt trừ khổ
Bỏ gánh nặng, giải thoát
 (7)

Trên chúng ta đã nói đến sự ràng buộc, những sợi dây vô hình trói chặt con người trong đời sống, vật chất có, tinh thần có. Tất cả đều được tóm lại trong một chữ KHỔ. Là chân lý thứ nhất mà đức Phật Thích Ca đã truyền dạy sau khi giác ngộ.

Giác khổ, tức là đã thấy, đã nhận ra, đã biết thế nào là khổ. Chính cái thân ngũ uẩn với những ràng buộc chung quanh nó gây khổ. Và con đường diệt khổ đích thực là trút bỏ mọi gánh nặng của sự ràng buộc đó, không phải là tự tử, giết đi, vứt bỏ cái thân này mà cởi trói để được thong dong tự tại nơi Tâm, chính là giải thoát. Điểm này cần chú ý, giải thoát không chỉ là cắt đứt các mối duyên nợ, duyên tình gây khổ não mà chính cái Tâm phải đạt được sự tự tại, thanh thản, an lạc. Người xuất gia là người hướng đến con đường giải thoát đó, khởi đầu bằng sự thoát ly ra khỏi những ràng buộc của ái tình, của người thân. « Đoạn ái, từ thân » là cần thiết nhưng chính yếu là sự thoát ly nơi tâm, không còn tham đắm, nhiễm trước hay chấp trước mới thực sự đạt giải thoát.
Con người cứ ngỡ rằng mình có tự do, thật ra con người không hề có tự do nên phải luôn tranh đấu để đạt tự do. Tự do ngôn luận, tự do nhân quyền, tự do tín ngưỡng…Bất cứ ở đâu, con người đều bị ràng buộc bởi các luật lệ, thể chế của nơi mình ở, nơi mình đi, nơi mình đến. Không hề thực sự có tự do với môi trường chung quanh, ngay cả với môi trường thiên nhiên, con người lệ thuộc mặt trời mặt trăng, đêm và ngày, mưa và nắng, con người không thể làm gì trước mưa gió trái mùa, thiên tai bão lụt. Con người lại càng không có tự do nơi chính tự thân. Những đòi hỏi của thân và tâm luôn bức bách để buộc cái thân và tâm hành động để đạt đến sự thỏa mãn, hài lòng. Ràng buộc là đây. Không tự do là đây. 

Bị trói buộc nhân gian
Khỏi trói buộc thiên giới
Giải thoát mọi buộc ràng.
 (8)

Sự giải thoát không chỉ nơi cái thân người ở cõi trần gian này mà còn là sự giải thoát luôn cả thiên giới. Vì theo đức Phật dạy thì dù có được phước đức để sanh lên cõi Trời, vẫn còn nằm trong vòng luân hồi, chưa thực sự giải thoát. Phàm phu chúng ta không chứng được Lậu Tận Trí nên không biết gì ngoài đời sống trên quả đất này, nhưng đức Phật đã giác ngộđạt được cái thấy biết vượt ngoài thế gian, phàm trần, ngài chỉ dạy cho chúng ta biết có 3 cõi, Dục giới, Sắc giớiVô sắc giớicon người trôi lăn trong luân hồi, chịu sinh tử, tử sinh liên tục, liên miên từ đời này sang đời khác, loanh quanh trong ba cõi, sáu loài, không thể nào chấm dứt nếu không nhận ra thực chất của cuộc sống mình đang sống, tìm về nguyên nhân phát sinh cuộc sống đó để dứt khoát tìm đến con đường giải thoát thì con người sẽ mãi mãi trầm luân, không có chỗ dừng, chỗ tận.
Tu tập các thiện pháp để được sinh lên cõi trời, sung sướng hơn cõi người nơi trần thế hay tu tập các pháp thiền định thâm sâu để sinh vào cõi Sắc hay Vô sắc cũng chưa được gọi là giải thoát.

Giải thoát thực sự phải có trí tuệ, là sự nhận biết, thấy biết chân chính, tức là có Chánh Kiến về Khổ, về Vô Ngã, về Vô thường, về tánh Không của vạn vật, vạn pháp mà không còn khởi chấp trước nơi Danh và Sắc, không chấp trước vào các Pháp, không chấp trước vào Ngã, vào cái Tôi thường hằng, bất biến, độc lập mà chung qui cũng từ cái Tôi này, phát khởi Ái dục, tham dục và gây vô số tội nghiệp. Không vướng vào một chữ CHẤP nào cả thì mới thực sự giải thoát. Đó gọi là trí Bát Nhã.

Không bờ này bờ kia
Cả hai bờ không có
Lìa khổ, không trói buộc.
 (10)

Nói bờ này bờ kia là có sự phân biệt, đối đãi, là có chấp trước, còn bị trói buộc, chưa giải thoát.

Nơi bản Bát Nhã Tâm Kinh, chúng ta đọc được đoạn sau đây « Chư Phật ba đời nương trí tuệ Bát Nhã Ba La Mật Đa đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề » có nghĩa là các ngài nhờ nương vào cái trí không chấp trước, không dính mắc vào một phạm trù, khái niệm, lối suy tư nhị nguyên nào nữa cả mà đạt được Tánh Giác chân thật, thanh tịnh của Niết Bàn và của chư Phật. Đây mới chính là sự Giải thoát rốt ráo.

Và trong Kinh Kim Cang, chúng ta lại đọc thấy lời dạy :

Ưng vô sở trụ
Nhi sanh kỳ tâm. 

( Không khởi vọng tâm trụ chấp một nơi nào cả ).

Khi không còn dính mắc vào cái tâm chấp trước thì mọi ràng buộc cũng tự nó tháo gỡ.
Để kết luận cho bài viết về sự ràng buộc và giải thoát con người, xin cùng đọc bài kệ :

Các lậu hoặc dứt sạch (11)
Ăn uống không tham lam
Tự tại trong cảnh giới
Không, Vô tướng, Giải thoát
Như chim bay hư không
Dấu chân thật khó tìm. 
(12)

Có lẽ chuyện ăn uống được bàn ở đây là bốn thứ thức ăn nuôi dưỡng thân và tâm con ngườiđức Phật đã dạy nơi bài kinh “ Bốn loại thức ăn” chứ không hạn hẹp nơi sự ăn uống thô thiển của Đoàn thực. ( Mời đọc Ái. LKTH )

Giải thoát chính là đạt tự do tuyệt đối, sự tự do này đạt được nơi Tâm, từ Tâm, do Tâm. Cho dù Tâm vẫn còn nương nhờ cái thân xác vật chất làm phương tiện để từ đó tiến đến giải thoát nhưng Tâm khônggiới hạn, bao la như hư không và có khả năng tuyệt vời, không thể nào nghĩ bàn, không thể nào diễn đạt bằng lời lẽ, ngôn từ, cũng chẳng thể nào thấy bằng mắt hay nghe bằng tai. Cũng chẳng thể dùng tay mà chỉ, trỏ thẳng vào Tâm, vào Chân Tâm, không phải Vọng Tâm, cái tâm phân biệt, bỉ thử, gây phiền nãotham sân si, mà là “ Bản Lai Diện Mục”(13) như dấu chân chim bay trong hư không thật khó tìm, không thấy gì nhưng không phải là không có gì. Giải thoát là vỗ cánh bay như chim vào hư không. Không mà có. Có mà không. Sắc tức thị Không. Không tức thị sắc vậy. (14)

Nhận ra tánh Không của vạn pháp nhưng không chấp Đoạn diệt. Thấy các sắc tướng, hình tướng đều do duyên sinh, có đó diệt đó nên không vọng chấp, giữ được tâm ý thanh tịnh chính là giải thoát.

Con người muốn giải thoát thì phải mượn cái thân xác này nên phải trân quí nó nhưng cần phải tu luyện cả Thân cả Tâm để được nhẹ nhàng, cởi bỏ mọi buộc ràng mới có thể như chim tung cánh lên bầu trời bao la của Pháp Giới được. (15)
LêKhắc Thanh Hòa
Paris, Tháng7, 2015

Chú Thích :
1. Kinh Udana. Kinh Phật Tự Thuyết. HT Thích Minh Châu dịch
2. Kinh Pháp Cú. Phẩm A La Hán. HT Thích Minh Châu dịch
3. Kinh Pháp Cú. Phẩm Tham Ái. HT Thích Minh Châu dịch
4. Thú đau thương. Lưu Trọng Lư
5. Kinh Pháp Cú. Phẩm Đạo. HT Thích Minh Châu dịch
6. Kinh Pháp Cú. Phẩm Đạo. HT Thích Minh Châu dịch
7. Kinh Pháp Cú. Phẩm Bà La Môn. HT Thích Minh Châu dịch
8. Kinh Pháp Cú. Phẩm Bà La Môn. HT Thích Minh Châu dịch
9. Kinh Pháp Cú. Phẩm Tỷ kheo. HT Thích Minh Châu dịch
10. Kinh Pháp Cú. Phẩm Bà La Môn. HT Thích Minh Châu dịch
11. Lậu hoặc : phiền não
12. Kinh Pháp Cú. Phẩm A La Hán. HT Thích Minh Châu dịch
13. Bản Lai Diện Mục : Bộ mặt vốn có từ xưa nay. Đồng nghĩa với Phật Tánh, Chân Như, Tuệ Giác, Tự Tánh.
14. Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh
15. Pháp Giới : Pháp chínhPhật Tánh, Chân Như, Thể Tánh, Chân Tâm, Chân Không, là chân lý tuyệt đối. Giới là cảnh giới của sự vận hành của trí tuệ để ngộ nhập vào chân lý. (Đại cương Kinh Hoa Nghiêm. Tỳ Kheo Thích Hằng Trường. NXB Hoa Nghiêm)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 13)
Ngài Triệu Châu hỏi ngài Nam Tuyền: “Thế nào là đạo?” Ngài Nam Tuyền đáp “Tâm bình thường là đạo”, nói theo chữ Hán là “bình thường tâm thị đạo”.
(Xem: 44)
Tuệ quán vô thường sẽ giúp thấy rõ tính chất duyên sinh, vô ngã của vạn pháp. Không có bất cứ cái gì trường cửu, bất biến mà...
(Xem: 136)
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói: Này Thiên tử! Nếu có Bồ-tát biết tất cả các sanh mà cũng chẳng sanh, cũng biết tất cả sanh tử của chúng sanh.
(Xem: 146)
Bố thí, cúng dường là hành động làm phước thiện, theo luật nhân quả, nó là điều kiện thiết yếu để ta tiêu trừ đau khổ...
(Xem: 234)
Sau 25 năm, tôi đến lại nước Nga để thăm viếng lần nầy là lần thứ 6. Lần đầu vào năm 1994, nghĩa là mới chỉ sau 3 năm khi Liên bang các nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết bị sụp đổ...
(Xem: 117)
Theo kinh Pháp hoa, phẩm Phổ môn, Bồ-tát Quán Thế Âm có 33 ứng hóa thân, từ thân Phật, Độc giác, Bồ-tát…
(Xem: 146)
Đức Phật cũng đã dạy người Kalama qua Kinh Kalama Sutta (AN 3.65), bản dịch của HT Thích Minh Châu viết, trích...
(Xem: 209)
Từ sinh hoạt quốc gia, chính trị đảng phái, cho đến cả tôn giáo (với nhiều tai tiếng chấn động niềm tin của tín đồ), người ta càng nhìn rõ mặt trái của lòng tham, của bản ngã.
(Xem: 133)
Con đường hoằng pháp thành công của Đức Phật kéo dài bốn mươi lăm năm theo quan điểm Nam truyền.
(Xem: 111)
Súc vật, nhất là những vật nuôi để trợ giúp cho con người trong lao động sản xuất như trâu bò vốn được nông dân thương quý, xem như thành viên của gia đình.
(Xem: 122)
Từ thời Đức Phật, gọi là y ca sa, người sau gọi là “áo giải thoát, còn gọi là Phước điền y”.
(Xem: 230)
Những ai có lòng từ mẫn chân thành chia sẻ tịnh tài hay tịnh vật dù ít dù nhiều tùy khả năng, thì việc bố thí nầy được xem như là Quảng Đại Tài Thí...
(Xem: 143)
Hơi thở là sự tiếp nối chuỗi cuộc sống trong luân hồi sinh tử của nghiệp báo. Hơi thở tượng trưng cho sự sống. Hơi thở tạo nên...
(Xem: 124)
Trong khi thực hành thiền định, hành giả bắt đầu điều phục thân và điều phục tâm
(Xem: 166)
Trước thời Thế Tôn, nhân loại đã biết và nói đến vô thường của các sự vật hiện tượng. Tuy vậy, cái thấy biết về vô thường này chưa toàn triệt,
(Xem: 116)
Kinh MN 1 (Mulapariyaya Sutta) là Kinh khởi đầu Trung Bộ, được Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch là Kinh Pháp Môn Căn Bản.
(Xem: 206)
Bàn tay ta vun đắp, thành bại thuộc vào duyên, Vinh nhục ai không gặp, Có chi phải ưu phiền.
(Xem: 129)
Đạo Phật chủ trương hòa bình, lấy từ bi hóa giải hận thù, lấy sự xả buông để khắc chế tham ái. Chiến tranh, xung đột, bạo động là biểu hiện rõ ràng của tham lam, sân hậnsi mê.
(Xem: 126)
Đối với đạo Phật, ba ngôi Tam bảo rất quý báu, hiếm có khó gặp ở thế gian nên người con Phật (chư Tăng, Ni, Phật tử nói chung) phải kính lễ, tôn thờ.
(Xem: 186)
Chúng ta được dạy, nếu khéo lắng nghe, ta sẽ được trí tuệ. Nếu không biết lắng nghe, ta sẽ không được gì cả.
(Xem: 756)
Kính Mừng Thọ 70 tuổi HT Thích Như Điển tổng hợp những bài viết cho Hoà Thượng Phương Trượng
(Xem: 224)
Mắt ở đây phải hiểu là cách nhìn, cái mà mình cảm thấy, cái mà mình cho rằng, cái mà mình biết do nhìn thấy
(Xem: 163)
Hai từ " buông bỏ " thời buổi bây giờ là một thành ngữ nghe vô cùng sáo rỗng, đã được xử dụng nhiều nhất trong kỷ nguyên thời đại mới (new age).
(Xem: 388)
Nếu bạn say mê đọc kinh Phật, ưa thích những phân tích kỹ càng về giáo điển, muốn tìm hiểu các chuyện xảy ra thời Đức Phật đi giảng dạy nơi này và nơi kia, hiển nhiên đây là một tác giả bạn không thể bỏ qua
(Xem: 204)
Các nhà hiền triết Ấn Độ giáotu sĩ Phật giáo đã nhận diện tầm quan trọng và lợi ích sức khỏe khi một hành giả thực tập thiền đều đặn trong mỗi ngày.
(Xem: 241)
Theo tuệ giác của Thế Tôn, nếu các căn gặp cảnh trần vừa ý, thọ lạc rồi sinh tâm yêu thích, đắm nhiễm thì đó là cội nguồn của mọi khổ đau.
(Xem: 172)
Kiếp sống này biến mất rất nhanh chóng Giống như thứ gì đó được viết trên mặt nước với một que cây -ĐỨC PHẬT-
(Xem: 199)
Từ non cao, những đợt lá vàng cuốn theo gió, rơi theo dòng suối, trôi giạt xuống con sông nhỏ trong làng; rồi từng nhóm lá xuôi dòng, tấp vào bờ này hay bờ kia.
(Xem: 198)
Cuộc đời là một chuỗi những bài kiểm tra. Khó khăn chính là những bài kiểm tra. Chúng ta đang ở trong một trường đời.
(Xem: 225)
Trong công việc khó có thể tránh khỏi hoàn cảnh bất lợi, nhiều người sợ gặp phải hoàn cảnh khó khăn, cảm thấy nghịch cảnh là một cú sốc lớn.
(Xem: 186)
Đối với hàng Phật tử tại gia, năm giới là năm điều học căn bản để tạo dựng nên một nếp sống đạo đức, tốt đẹplành mạnh.
(Xem: 446)
Nguyên bản: Meditating while dying; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 253)
Từ non cao, những đợt lá vàng cuốn theo gió, rơi theo dòng suối, trôi giạt xuống con sông nhỏ trong làng; rồi từng nhóm lá xuôi dòng, tấp vào bờ này hay bờ kia.
(Xem: 232)
Duyên khởiđạo lý quan trọng trong toàn bộ giáo pháp của Thế Tôn.
(Xem: 260)
Trong khi thực hành thiền quán, hành giả thường hay vướng vào năm chướng ngại, mà thuật ngữ Phật học gọi là
(Xem: 172)
Nhóm Tỳ-kheo được vô lậu giải thoát sau khi nghe Tỳ-kheo do Bồ-tát Văn-thù-sư lợi biến hóa ra giảng giải cho về pháp giới thể tánh.
(Xem: 402)
Pháp Như Thật là pháp thực hành thuộc về Thiền Huệ, nhưng tại sao lại cần phải thực hành pháp Như Thật? Tại sao phải học Thiền Huệ?
(Xem: 214)
Mẹ Hiền, hai tiếng nầy nghe thân thương, êm ái, ngọt ngào biết bao. Nghe mãi không nhàm, nghe hoài không chán.
(Xem: 261)
Tôi hiểu ngay là cả nhà, mỗi người đều đang dán mắt và bấm bấm, quẹt quẹt vào mặt kính cái smartphone của mình.
(Xem: 271)
Trong quan hệ 12 nhân duyên, nhân vì xúc (căn tiếp xúc trần) nên sinh thọ (cảm giác vui, khổ và trung tính), nhân vì thọ nên sinh ái (yêu ghét)...
(Xem: 247)
Nguyên bản: Gaining favorable condition for the time of death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D.; Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 344)
Bùi Giáng là nhà thơ, là dịch giả, là nhà bình luận văn học. Ông sinh ngày 17 tháng 12/1926 tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; từ trần ngày 7 tháng 10/1998 (thọ 71 tuổi) tại Sài Gòn
(Xem: 274)
Để đạt đến pháp giới vốn là pháp giới thể tánh, vốn là pháp giới bạch tịnh này, kinh điển thường dạy VănTư-Tu.
(Xem: 350)
Sau khi kết thúc đời sống hiện tại, chúng ta sẽ theo nghiệp mà thọ sinh vào cảnh giới tương ứng.
(Xem: 277)
Muốn thấy Phật thì Tâm phải như gương sáng. Thấy hết, biết hết mà không bao giờ khởi niệm.
(Xem: 212)
Công việc được hoàn tất tốt đẹp qua sự hưởng ứng và trợ giúp của quý Phật tử tại địa phương và các anh chị em huynh trưởng và đoàn sinh Gia Đình Phật Tử tại Đức Quốc.
(Xem: 357)
Nhiều Kinh điển Đại thừa (Mahayana Sutras)/Kinh điển Phật giáo Phát triển đã giảng 3 phương pháp thiền quán để đạt đến giải thoát, đó là ba cánh cửa của giải thoát.
(Xem: 269)
Xuất gia là tu hạnh giải thoát. Tự mình tu để được giải thoát,đồng thời hướng dẫn chỉ dạy cho người khác tu cùng giải thoát nữa.
(Xem: 485)
Một trong những biệt tài thuyết pháp của Thế Tôn là dùng hình ảnh để ví dụ minh họa chothính chúng dễ hiểu, dễ cảm nhận vấn đề Ngài muốn nói.
Quảng Cáo Bảo Trợ