Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
14,849,474
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Phía Sau Văn Bản Đời Người

27 Tháng Sáu 201709:57(Xem: 1377)
Phía Sau Văn Bản Đời Người

PHÍA SAU VĂN BẢN ĐỜI NGƯỜI


- Nhụy Nguyên -

 

MỤC LỤC

 

Phần I: CÁI ĐUÔI VÔ MINH

- Ai đi trong cõi ta bà

- Hạt của Chúa và chủng tử Phật

- Học Phật từ trong thai tạng

 

Phần II: TÂM THỨC MÙ LÒA

- Đốm lửa soi tâm

- Thi nhân và thiền nhân

- Kinh điển và căn mạng đời người

- Phía sau văn bản đời người

- Con người giấu cái đuôi ở đâu?

 

Phần III: THƯ GỬI BẠN

- Nơi hoang vu phận người

- Thuyền trôi trên sa mạc

 

* Cuộc đời trôi như chiếc bóng, cái được mất tưởng của ta song xét cho cùng đều nằm giữa mênh mông biển người. Vẫn biết cuộc đời luôn biến hoại theo quy luật tạo hóa nào đâu dễ cưỡng. Vẫn biết con người mỗi bước đi là gần hơn với hố thẳm. Vẫn biết cuộc đời vô thường như chiếc lá, từ lúc nhú mầm là như chích vết đau vào hư không. Nhưng mấy ai chẳng nuối tiếc cuộc vuibình an buông xuống những lụy phiền nhân thế.

 

* Nếu chúng ta gạn khỏi “bể khổ” lớp váng vô minh và không nhìn Phật pháp qua lăng kính màu của mê tín, của chính trị và quyền lực thì miền huyền nhiệm trong mỗi người sẽ tự thắp sáng sau những bể dâu.

 

Phần I

CÁI ĐUÔI VÔ MINH


 

Ai đi trong cõi ta bà

Không nhiều người tin trước nền văn minh chưa đạt tới viên mãn của trái đất, có những nền văn minh khác đạt đến “cực thịnh” và đã tàn lụy. Ngành khảo cổ học tìm thấy nhiều hiện vật minh chứng cho một trình độ siêu việt, có niên đại trước lúc trái đất hình thành. Theo chu trình phát triển (hay thụt lùi theo quy luật thành - trụ - hoại - không), điều đó thường hằng diễn ra trong tam giới.

Nhiều nữa nền văn minh đã là sự nuối tiếc khôn nguôi của nhân loại. Văn minh do con người trong tiến trình can dự vào thiên nhiên mà tạo nên. Một thế giới muốn yên bình và trường tồn chỉ có thể nương dựa vào thiên nhiên. Thiên nhiên luôn cần được tôn trọnggìn giữ như chính những loài cây cỏ trang trí trong ngôi nhà của mỗi chúng ta. Nhưng sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đang hành xử ngược lại, thực sự đã rút ngắn tuổi thọ của hành tinh này.

Đa phần những người tu họ biết dựa vào tất cả những gì tạo hóa ban, biết tập đi trên con đường hàng ngàn năm trước Phật đã vạch (mà nay ít nhiều bị xâm hại bởi sản phẩm công nghiệp kể cả rác do người máy thải ra). Họ xem như ngược chiều với dòng đời cuồn cuộn như một cơn lốc mang bộ mặt giận dữ của nước. Họ không nuối tiếc những thành phố cực thịnh bão cát vùi lấp, không tiếc nuối những con thuyền đầy lụa là châu báu chìm dưới đại dương nay vẫn chưa dấu vết. Người tu không muốn gặp tứ đại mỹ nhân đã hóa thành cát bụi, thành một dạng vật chất vi quan vô xứ. Người tu cảm phục những ai từng vạch đường cho nhân loại trở về với bản chất thật của mình, không còn bám vào vòng quay luân hồi trước lúc bị hất xuống tầng sâu tăm tối.

Địa ngục trên mặt đất, là lúc người nô lệ bị ruồng rẩy hơn loài súc vật bệnh hoạn; địa ngục tồn tại trong xã hội thời Trung cổ; địa ngục vẫn còn tồi tại đâu đó lúc chúng ta đang ca hát nhảy múa, đang sung sướng đến điên rồ mà cạnh bên vẫn có người tột cùng đau đớn! Niềm hạnh phúc và nỗi thống khổhai mặt khác biệt đối với người thường. Với những ai ngộ đạo, nó là một. Một đại đức, sự cho là niềm ân phước dành cho bản thân, gã keo kiệt phải chia phần của cải thì dằn vặt khổ sở. Đau khổ là tấm gương phản chiếu sự sung sướng. Chúng ta đào xới niềm vui sâu bao nhiêu, hố đau khổ phản chiếu sâu hơn thế ấy. Đau khổ dẫu chưa xuất hiện đồng thời với cái gọi hạnh phúc song lúc hội đủ duyên sẽ trỗi lên dìm con người từng khoét sâu sự hưởng thụ dục lạc xuống như là cú đảo ngược cái phản chiếu trong gương tâm vọng động. Bởi chúng ta trong cõi mê, bị vọng tâm điều khiển. Một bộ óc uyên bác cũng có thể sinh ra hành động thấp hèn, nhưng tuyệt không niệm độc nào sai khiến được Tâm đã triệt ngộ. Thay vì sử dụng tánh giác bổn nhiên sẵn trí tuệ và đức năng, càng sử dụng bộ não ta càng lệch tần số thế giới tâm linh mầu diệu.

Sự vô minh là lớp màng che mờ tầm mắt nhận diện chân tướng sự thật. Khoa học thời nay thừa nhận trái đất chỉ là một hạt cát trong vũ trụ, nhiều bộ óc vĩ đại vẫn lấy con người làm trung tâm. Sự ngạo mạn khiến họ dùng kính thiên văn khuếch đại nhìn bốn phương rồi kết luận: Không hề thấy thần thánh! Ở Tây Tạng, nhà tu hành chân chính không hề dám vung tay quá trán theo nghĩa đen, vì họ biết trên đầu mình là ai. Đoàn các nhà khoa học hàng đầu của Hoàng gia Anh từng thị sát miền đất thánh trong chuyến Hành trình về phương Đông. Những gì họ tai nghe mắt thấy làm chấn động châu Âu một thời. Nhưng dường như ai từng thấm nhuần pháp nhũ vẫn thật mau quên những gì khoa học chưa và không thực nghiệm được. Một số cao tăng đại đức giảng giải tận cùng lý lẽ: chúng ta bật kênh Hà Nội thì kênh Huế “biến mất”, và còn hàng trăm kênh khác nữa, vậy không có nghĩa kênh Huế không tồn lại. Cũng vậy, chúng ta hiện chỉ bật “kênh cõi dương”; những kênh khác thì chập chờn nhiễu sóng, có chăng chúng ta sẽ tiếp nhập những cảnh giới ấy ở kiếp sau!

Một ngày nào đó, có thể, khoa học sẽ chế tạo ra loại kính đeo vào liền nhìn thấy linh hồn, thấy được thế giới bên kia đang tồn tại trong không gian này cùng chúng ta; dĩ nhiên những cảnh giới thâm sâu vi diệu khác luôn nằm ngoài khả năng của loài người. Nhiều vị đắc đạothần thông song họ chẳng sử dụng, bởi ma cũng có chút xíu thần thông, sẽ khiến con người lẫn lộn ma và thánh. Mục Kiền Liên - đệ tử thần thông số một của Phật Thích Ca chịu bị đánh đến chết; Đạt Ma sơ tổ mấy lần bị đầu độc; Chúa Giêsu dang tay nhận đóng đinh trên cây Thập tự; Đức Phật thì “hòa mình” vào quy luật sinh tử dạy bài học cuối cùng: ngay cả xác thân cũng chẳng nghĩa lý để mang theo.

Người trần hết thảy đều là những con nợ. Ai sống dài lắm chỉ hơn trăm năm, bằng cái nháy mắt nơi thượng giới. Ngắn vậy mà nhiều người khất món nợ mình chưa trả, trong lúc lại muốn chắp cánh bay vào cõi thuần tịnh. Những lỗi lầm từ quá khứ riêng kiếp này đã chất chồng, nói gì đến kiếp trước, hàng ức kiếp người trần mắt thịt không thể minh giải. Tôi từng tâm niệm kiếp này đội lốt người đã quá may mắn. “Thượng đế” và nghiệp dĩ cấp cho thân người để tịnh hóa, trở về với uyên nguyên tánh giác. Trần ai cõi tạm. Ngộ ra điều này chắc đã muốn tu?; Tu, hỏi mấy ai… xuống núi.

Sống là nháp, tu là viết lại đời mình. Tu là chỗ dựa duy nhất của đời người. Ngôi nhà có cao sang đến mấy cũng chỉ che mưa nắng; quan trọng ở chỗ có nơi thanh tịnh để học Phật và đọc sách thánh hiền giá rẻ nằm lăn lóc ở những quầy sách cũ. Tu là một quá trình rũ bỏ. Loài người chỉ cao phước hơn loài vật thôi. Tổ chức Peta có lần bày 4 chiếc khay lớn đựng 4 người trần truồng nằm gọn, bọc ni lông như món ăn trong tủ lạnh siêu thị, đề “human meat”. Đấy là hình ảnh gây sốc bởi dám nhắc nhở: con người cũng là động vật! Giết chóc sẽ chiêu cảm nghiệp lực, chiêu mộ thêm oan gia trái chủ theo mình. Giữ mạng cho loài vật là góp phần giữ trọn bổn phận người, giữ phước để có một cái kết an lành cuối đời, để có được chút tư lương bước qua thế giới khác với sự chào đón của trăm vạn khó khăn không nơi nương tựa. Lời Đức Phật lúc được chép lại có 500 vị A la hán làm chứng. Lời trong Kinh Không gì chuyển hướng, Kinh Trung Bộ số 60: “Vì rằng có đời sau, nếu có quan điểm nào nói không có đời sau, thời đó là một cái thấy sai lầm. Vì rằng có đời sau, nếu ai có suy tư rằng không có đời sau, thời đó là suy nghĩ sai lầm. Vì rằng có đời sau, nếu có ai nói không có đời sau thì tự mâu thuẫn đối nghịch với các vị Alahán đã biết được có đời sau”.

Tôi bỗng nhớ văn hào F. Kafka với tác phẩm Hóa thân, tư tưởng trong đấy còn tươi nguyên, và có thể xem là lõi thép tâm linh trong tâm thức thời đại. Sự phi lý ngày xưa nghiễm nhiên chính lý trong xã hội ngày nay. Đấy là nền tảng, là cái móng quá vững khiến lâu đài văn chương của Kafka không bão tố nào quật ngã. Hóa thân cho thấy một nhà văn có tầm vóc “quá khổ”. Kafka đã khai thác quặng kim cương ở kênh thiên tài, tức ông đã mở được cảm quan nghệ thuật bằng trực giác tâm linh.

Có thể tóm tắt Hóa thân bằng câu mở đầu: “Một sáng tỉnh giấc băn khoăn, Gregor Samsa nằm trên giường thấy mình biến thành một côn trùng khổng lồ”. Độc giả đủ tưởng tượng ra được “con người” này sẽ gặp muôn vàn khó khăn và phiền phức gì. Song chung quy, thân phận của Gregor phải đối mặt với 3 điểm mà hầu như con vật nào cũng gặp: (1) - Bị xem thường: Bà giúp việc “thậm chí còn gọi anh đến gần với những lời lẽ mà hẳn nhiên bà cho là thân thiện, chẳng hạn như: “Nào, lại đây nào, con bọ hung kia!” hay “Nhìn cái con bọ hung này mà xem!”; (2) - Phải nhận đồ ăn dơ: Em gái thân yêu của Gregor sau một thời gian ngắn đã “không còn nghĩ đến việc mang vào cho anh những gì có thể làm anh hài lòng nhất, mà thay vào đó, mỗi sáng mỗi trưa, hai lần trước giờ đi làm, cô hấp tập dùng chân đẩy vào phòng anh bất cứ thức ăn nào vớ được”; (3) - Có nguy cơ bị giết:Gregor sững sờ khi nhìn thấy kích thước vĩ đại của hai đế giày ông bố”; nếu không có sự can thiệp kịp thời của mẹ, anh đã bẹp dí.

Gregor nghiễm nhiên bị xem là loài vật gớm guốc, bẩn thỉu. Nhưng con vật đó vẫn nhìn thấy người thân ruột rà của mình, vẫn nghe và hiểu sâu sắc lời nói của người. Loài vật nằm ở tầng mà con người nếu không sống thật tốt sẽ phải trôi lăn vào đó. (Thuyết đầu thai đã được khoa học hiện đại chứng minh toàn triệt; có luận án tiến sĩ gom thâu lên tới 3 ngàn chứng cớ xác thực thuộc nhiều nước trên thế giới). Sau một đêm Gregor bị hóa thân thành con bọ hung; cũng khác gì một người tạo nghiệp ác, (sau đêm ngủ ngon) chết thì lập tức (tỉnh dậy) thấy mình đã là con vật mới mở mắt trong chính gia đình mình. Con vật thấy, nghe, hiểu mọi sự; hiểu con người đối xử thậm tệ với “đồng loại của nó” như thế nào. Thử đặt vấn đề có thể rất chủ quan: Kafka không hề nghĩ tới, nếu viết theo kiểu người chết - bị đầu thai làm vật nuôi - bị ngược đãi, bị chính con cháu làm thịt, hẳn nhiên người đọc sẽ không phục, sẽ cho nhà văn sùng tín, mượn văn chương truyền đạo gượng ép. Nhưng khi Kafka sử dụng thủ pháp phi lý, thì ông đã dựng nên một tháp ngà văn chương. Nhờ lõi thép tâm linh này, Hóa thân sẽ sống mãi trong tâm thức thời đại, nếu như những tác phẩm khác của Kaffka có nguy cơ tụt lại. Chẳng hạnVụ án dự đoán về sự phi lý, cũng là suy đồi của xã hội; nhưng khi sự suy đồi đó trở nên hiển nhiên, trở lên chai sần, thì những quan tòa sẽ nghĩ ra một “vụ án” khác để tiêu khiển. Rất nhiều nhà văn nhận sự ảnh hưởng từ Kafka. Vùng vẫy để thoát khỏi cái bóng dềnh dàng này luôn là hành động cần thiết, bức thiết và dũng cảm trước những phi lý đang ngày một phình to của xã hội loài người.

Không ai muốn kéo dài đời mình trong sự khổ não, cũng chẳng ai rút ngắn cuộc đời trong giàu sang. Nhưng, ví như tôi muốn tiêu hủy sự sống thông qua chu trình tận hưởng và gọi đó là Thiên Đường, thì tạm hiểu mình đã chết lâu lắm rồi. Tôi cũng từng sống trong cảnh địa ngục do chính mình dựng lên không hay biết. Địa ngục hiển nhiên tồn tại trên trái đất này, thiên đường cũng vậy. Thiên đường của người trần tục là một cuộc sống tràn đầy hoa thơm cỏ lạ, mỗi bước chân đều có bàn tay nâng đỡ, là cuộc phiêu du trên cánh đồng dục vọng vô biên, là niềm khát khao những nấc thang danh vọng tưởng sẽ thấu trời nếu tuổi thọ nối thêm vài kiếp. Đó là một thiên đường ảo tích trữ nghiệp khổng lồ vô hình tướng song đau khổsự thật. Với người tu thiên đường vụt hiện khi đài nước tự tâm phun trào trong thời nhập định. Thiên đường bung nở trong mỗi hình hài bất động với khuôn mặt thuần khiết. Thiên đường theo bước chân hành thiền và lúc người tu cúi xuống hòa vào bể khổ.

Xưa kia xứ Ấn có một hoàng tử đã che mắt không nhìn ngai vàng chói lóa, lần theo đường đạo rồi chứng Vô thượng Bồ đề. Ở Việt Nam hơn ngàn năm sau cũng có vị vua nhường lại cuộc sống không thiếu thứ gì, lên núi nương mình dưới ánh hào quang Đức Phật. Hiếm ai từng bước qua hai thiên đường như vậy và nhận ra thiên đường nào thật thiên đường nào là ảo.

Mỗi thời mỗi khác, xã hội nhân loại đang biến chuyển càng ngày li viễn với chân lý của vũ trụ. Cục vàng nằm ở đâu cũng bị moi móc, đôi khi người ta còn xới tung mồ mả tìm cho ra; Phật pháptrước mắtchâu ngọc lại không nhiều người để mắt. Người thấy pháp là người có duyên, tại những kiếp trước từng huân tu. Tu là một khái niệm chung cho tất cả người muốn trở lại nơi tự mình lưu đày rồi lạc lối. Ngay những người tu, ai bảo không lẫn lộn lối về? Nếu năm mươi người cùng hướng về Tây Trúc thì con đường đó vẫn là sự độc hành của một trăm dấu chân không trùng khớp. Và nếu ai đó vén được bức màn vô minh, cũng xem như đã nhìn thấy Miền Cực Lạc dẫu còn xa vời giữa mây khói mong manh.

 

Hạt của Chúa & chủng tử Phật

 

Những nhà thờ đạo Thiên Chúa thường được xây cao lộng, để mỗi lần bước vào ta cảm giác mình nhỏ bé. Đây là triết lý chứ không đơn thuần sự phô diễn quyền năng siêu nhiên. Nếu ta ngước mắt nhìn trời, nhất là nhìn ra vũ trụ, thì tòa kiến trúc nhắn nhủ con người vốn nhỏ bé kia thực còn khiêm tốn.

Nguyên văn câu trong kinh Hoa Nghiêm (Phật thuyết vào thời điểm mới chứng ngộ): "Ưng quán Pháp-giới tánh, Nhất thiết duy tâm tạo". (Nên quán tánh của pháp giới, tất cả do tâm tạo). Diễn rộng (để khỏi hiểu nhầm): TÂM này không phải theo nghĩa giản đơn như tâm tình, tâm tưởng... mà là bản thể của vũ trụ, như ngôn ngữ của các nhà vật lý lượng tử gọi: Trường Thống nhất, Trường Siêu dây, Trường Hợp nhất. Đã gần 1 thế kỷ, Max Plank (Nobel vật lý 1918 - thầy của A. Einstein) từng phát hiện: "Vũ trụ này vốn không có cái gọi là vật chất, vật chất thật ra là hiện tượng do ý niệm tích lũy tạo thành". Ngày nay đồng nghiệp của ông đã chứng minh một cách thuyết phục, nó trái ngược với lối suy nghĩ nhìn nhận thông thường:“Trong phần lớn vũ trụ, kể cả vật chất, là rỗng không” (Stuart Hameroff). Tuy nhiên lượng tử học mới phát hiện vũ trụ ảo do VỌNG TÂM (alaya biến hiện), còn cách khoảng rất xa với CHÂN TÂM của Phật giáo. Một cục sắt đặc, trên sự chứng nghiệm khoa học, trong nó vẫn có khoảng trống để các hạt dao động không ngừng. Nếu ta chẻ cục sắt đó ra, ra mãi, sẽ tạo nên các loại hạt như proton, neutron, electron, hạt quark, “hạt của Chúa” (Hạt Higgs, được tìm thấy vào tháng 3 năm 2013). Gần ba ngàn năm trước, Thích Ca Mâu Ni Phật đã thấu suốt những “tiểu quang tử” với cách gọi và hình ảnh biểu hiện khác nhau. Bắt đầu là Ngưu mao trần (hạt bụi ở trên đầu lông trâu); Ngưu mao trầnchia làm bảy phần sẽ được Dương mao trần (hạt bụi trên lông dê); chia làm bảy thì sẽ được Thố mao trần (hạt bụi trên lông thỏ); chia tiếp làm bảy thì thành Thủy trần (bụi trong nước), nhục nhãn không thể thấy, tức trong nước cũng có khoảng không của các hạt; Thủy trần tiếp tục chia làm bảy sẽ thành hạt Kim trần - loại hạt dao động trong cục sắt đặc ta lấy thí dụ ở trên. Kim trần phân làm bảy sẽ là Vi trần; phân tiếp làm bảy là Sắc tụ cực vi; phân tiếp làm bảy thì gọi là Cực vi chi vi/ Lân hư trần. Đây là áo mật trong kinh Hoa Nghiêm được Master ChinKung - tiến sĩ, giáo sư danh dự ở hai trường đại học danh tiếng Queensland và Griffith đưa ra giảng giải, khuyên người tin nhận giáo lý Phật pháp.

Nhỏ đến hạt Sắc tụ cực vi, chỉ bậc A la hán mới thấy được. Xét ở hạt Kim trần, Sắc tụ cực vi đã cho thấy vật chất vốn là sự giả hợp từ không. Điều này khế hợp với Bát Nhã TâmKinh: “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Không - không có nghĩa là không có. Sắc - không có nghĩa là có. Cũng như lúc ta nhìn mây thấy hình người và muôn vật rõ ràng, nhưng lên tới gần sẽ thấy là sự hội tụ lượng tử. FredAlan Wolf: “Không phải vật chất sản sinh vật chất khác, nhưng chính ý tưởng, quan niệm, thông tin tạo ra vật chất. Từ góc độ Phật pháp, hết duyên, thân tứ đại (đất, nước, gió, lửa), đất trở về với đất, nước lại về với nước; nhưng “thẻ nhớ” là alaya và Phật tánh (chưa hiển lộ) thì vẫn nguyên vẹn, rồi tùy vào duyên sẽ khoác lên mình một thân/kiếp mới... Duyên cũng có vô vàn. Quy luật nhân quả vận hành trong vũ trụĐức Phật phát hiện, nhân xấu tạo ra quả xấu và ngược lại. Điều này còn phụ thuộc vào duyên, giáo lý gọi “trùng trùng duyên khởi”. Nhân ác nếu chưa hội đủ duyên sẽ chưa trổ quả; có loại nhân tốt song kẻ thừa tự vẫn gặt quả xấu mọc từ nhân quá khứ. Hiểu điều này sẽ không còn thấy rằng, con người ngay lúc sinh ra (lành lặn, đui què mẻ sứt, trong gia đình giàu sang hay bần cố) là bất công. Nhiều người do cái nhìn “1 đời” sẽ không thể tin nhân quả. Nhưng, tin hay không thì quy luật đó vẫn vận hành. Giả như ai muốn bóp méo chân lý này, đúng ra họ đang tự bóp méo vận mạng, còn cái bị “bóp méo” dĩ nhiên vẫn thường hằng bất biến. John Hagelin: “Cơ học lượng tử thực sự là cuộc chơi và trình diễn thông tin, cuộc chơi và trình diễn tiềm năng, sóng thông tin, sóng tiềm năng electron. Và thật là quan trọng, thế giới tiềm năng, đó không phải là thế giới electron mà là thế giới tiềm năng electron. Nhưng bạn phải hỏi câu này: Sóng thực sự là của cái gì? Trường là gì mà có dạng như sóng? Nó có phải là đại dương không? Không, nó là đại dương vũ trụ, một đại dương thuần túy tiềm năng, một đại dương trừu tượng có tiềm năng hiện hữu, chúng tôi gọi nó là Trường Thống nhất hay Trường Siêu dây. Và đó là cái đã làm ra chúng ta”.

Con người là một dạng vật chất giả hợp (huyễn tướng). Cái tạo nên vật chất chính là ý niệm được huân tập, tích tụ trong tàng thức (alaya); lúc lìa xác theo cách gọi của đạo Nhodu hồn bồng bềnh trôi dạt. Trừ những (thần thức) người có lực tu, còn lại gọi đúng là mê hồn, mê nên không có quyền tự quyết tương lai cho kiếp kế tiếp mà tùy vào nghiệp dẫn. Dạng “vật chất” mắt trần không nhìn thấy này nhà Phật gọi chung là thầnthức (“thần thức đi đầu thai”). Còn thức mà khoa học đang bàn, họ gọi là “sóng lượng tử chức năng”, “sóng tư tưởng”, vô hình. Giáo sư Amit Goswami: "Chúng ta có thể ý thức về thế giới chỉ khi chúng ta xây dựng nền tảng của thế giới trên Thức"; "Thức là cái nó chọn lựa một vài tần số sóng cụ thể từ sóng khả năng vô hạn của Trường và tải chúng xuống não người để tạo ra kinh nghiệm toàn ảnh của nó". Theo Kinh điển, con người khi lục căn (nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý) tiếp xúc với lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), sẽ tạo nên trường ý niệm đem vào “so sánh” với những gì có trong tàng thức (gom thâu từ nhiều đời), nếu tương hợp với cái có trong alaya sẽ tạo nên cảm giác thích thú, bám víu; và ngược lại... Ý niệm tạo cảnh giới - là chân lý trong giáo lý nhà Phật. Vũ trụ nhận sự ảnh hưởng từ ý niệm của vô số loài trong trời đất có mối liên hệ mật thiết với nhau. Mối liên hệ vô hình này được các nhà vật lý học gọi là "tính đồng biến". Xin trích lời dẫn từ phim khoa học What the bleep do we know?: “Trong những góc nhỏ của không gianthời gian các nhà khoa học đã khám phá một nguồn năng lượng vô tận và những bí ẩn gây chấn động. Nó cho thấy rằng tất cả chúng ta đều có mối liên hệ với nhau và cái vũ trụ vật chất bản chất lại là phi vật chất. Thời giankhông gian chỉ là những khía cạnh tạo nên tính phi vật chất”. Thượng sư Kim cang Hoàng Niệm Tổ (từng là Giáo sư vật lý đại học) trong tuyệt tác chú giải kinh Phật thuyết Đại thừaVô Lượng Thọ Trang nghiêm Thanh tịnh Bình đẳng Giác đã viết: “Ta nên biết: thời gian sanh từ chuyển động. Xét về cội gốc, chuyển động phát sanh từ ý niệm. Do vọng niệm tiếp nối nên có thời gian”. Giáo sư ChinKunglúc giảng cuốn chú giải này lại dùng hình ảnh một tấm lưới vĩ đại trong vũ trụ mà mỗi mắt lưới là một sinh mệnh. Theo đó khi cá thể đọa lạc, nó sẽ kéo mắt lưới ấy xuống, làm ảnh hưởng đến cả tấm lưới. Mới hay không cứ tại gia hay xuất gia, ai giữ tâm trong lặng chính là giữ cho “tấm lưới nhân sinh” trụ ở cõi thanh tịnh, là ân nhân của muôn loài. Hàng ngày con người thoải mái phát xuất ý niệm, không hề có một sự kiểm soát nào trừ phi họ muốn xoay chuyển đề tài hoặc không gian đột ngột thay đổi. Ngay cả khi nghỉ ngơi, vô số ý niệm tiếp tục được phóng ra. Theo khoa học ý niệm là “hạt siêu vị trí” - cùng một thời điểm có mặt ở vô vàn vị trí khác nhau. Bạn gọi điện cho tôi, nhưng thông tin ấy sẽ có khắp địa cầu, bất cứ ai có vệ tinh tần số cao đều bắt được. Hoặc nếu bạn tha thiết một lòng phát ý niệm liên tục đến tôi, tần số dao động bao trùm tận hư không chỉ trong sát na. Trường thông tin này có tên gọi khoa học là tín tức, còn danh từ Phật họcchuyển tướng của alaya. Nếu là ý niệm tiêu cực, nó ảnh hưởng nghiêm trọng đến không những không gian quả địa cầu mà phủ trùm Tam giới. Nhà khí tượng học Edward Norton Lorenz nêu lên “Hiệu ứng cánh bướm” khiến giới khoa học ngạc nhiên tột độ, tuy nhiên cái nhìn này còn cạn. Cội gốc của bão tố chủ yếu phát xuất từ ý niệm xấu ác trong tâm chúng sanh. Xã hội càng phát triển, những cơn bão lại đột ngột tăng cường độ gió? Phật giáo lý giải ấy là do niệm lực xấu ác hận thù của các loài bị oan khuất đọa đày tăng lên. Dạng ý niệm ấy phát xuất từ những cái đầu lạnh, máu lạnh và trái tim băng giá cùng chuỗi hành động sau đó như khí thải độc hại, tàn hoại môi trường rừng biển sẽ là nhiên liệu chiêu cảm bão tố, sóng thần, động đất. Thế nên thiên tai, cũng chính là nhân tai

Siêu sóng từ tâm ý con người nếu ai nhận diện được cũng ở dạng thô phù. “Đã có rất nhiều nghiên cứu chứng tỏ rằng khi chúng ta bắt đầu di chuyển hay chuẩn bị nói điều gì đó, các tế bào thần kinh ở não đã thật sự hoạt động ngay cả trước khi chúng ta thật sự ý thức mình sắp làm gì” (Andrew Newberg). Khoảnh khắc trong đầu ta vụt hiện một ý tưởng, thực tế nó đã biến dạng, chuyển đoạn thành hiện thực. Như ta đang xây nhà, từ điểm phát xuất cho đến hình thành dự án thiết kế, chỉnh sửa v.v, nó trải qua vô số ý niệm vi tế; cũng như thời gian từ đơn vị giây được chia thành một phần trăm, một phần nghìn giây. Khoa học gia Joseph Dispenzaphát hiện:“Lượng thông tin vô tận não bộ xử lý trong mỗi giây cho chúng ta biết về thế giới nhiều hơn gấp bội những gì chúng ta nhận thức được. Tuy vậy mỗi phút giây chúng ta lại chìm đắm trong những trải nghiệm từ các giác quan đem lại: nhìn, ngửi, nghe, cảm giác… và thế là chúng ta chìm đắm trong thực tại của mình, chúng ta chẳng biết gì về thực tại cả và tất cả cảm nhận về cái gọi là thực tại ngoài kia đều đã được sàng lọc qua các giác quan của con người. Não bộ xử lý 400 tỷ bit thông tin trong 1 giây nhưng chúng ta chỉ nhận biết được 2000 bit”. Trong kinh Bồ Tát Xử Thai có chép cuộc đối thoại: Thế Tôn hỏi trong một niệm có mấy niệm vi tế, Bồ tát Di Lặc trả lời trong một khảy móng tay có "ba mươi hai ức trăm ngàn niệm". Dựa vào đơn vị đo lường ở mức thấp nhất thời đó, tính ra trong một giây có hàng ngàn tỉ ý niệm. Cảnh giới này chỉ bậc A la hán, Bồ tát trở lên mới bắt được. Câu “Bồ tát sợ nhân” chính là cái nhân ý niệm này. Chúng sanh không bắt được ý niệm, để ý niệm kết thành cảnh giới, tức ý niệm sai khiến thân tạo nghiệp. Bồ tát biết xóa ngay ở ý niệm vi tế, không để ý niệm đề khởi, do đó chân tay miệng sẽ không trở thành nô lệ. Dễ hình dung hơn, ta lấy máy ảnh làm thí dụ. Lúc chụp ở tốc độ chậm, nếu vật di chuyển, bức ảnh sẽ bị nhòe; còn chụp ở tốc độ nhanh, dẫu vật di chuyển ống kính vẫn bắt được rõ ràng. Viên đạn với tốc độ lên tới hàng nghìn mét trên giây mà ống kính với công nghệ nanô vẫn chụp được viên đạn (bay ra từ nòng sung) không bị nhòa; đó tạm hiểu là tâm bắt được ý niệm vi tế. Thiền chỉ chính là kiểm soát tất cả mọi ý niệm móng khởi. Quán chiếu mà không bám víu, tạm hiểu là Thiền Minh Sát. Có một dạng thiền vi diệu khác, bên Mật tông hành giả trì niệm lục tự đại minh chân ngôn Án ma ni bát di hồng(Aum mani padme hum); bên Tịnh tông trì niệm lục tự hồng danh Nam mô A Di Đà Phật. Tỉnh thức trong từng giây phút. Một khi tâm khởi ý niệm, hành giả lập tức niệm niệm nối tiếp ba câu, năm câu, mười câu kết lại thành khối khiến loạn niệm bị phân ra không có cơ hội kết tinh. Tỉ như ai đó vừa muốn chửi mắng đánh đập kẻ khác, họ lập tức trì niệm hồng danh Đức Phật, niệm câu nào tai nghe rõ câu đó (dẫu là niệm thầm), tâm và khẩu hợp nhất, ai từng thực hành thuần thục, cơn bực sẽ lắng dịu, cảnh giới xấu biến mất. Miệng niệm Phật, trì chú, tai nghe rõ từng âm tiết tức tâm tạo sóng siêu thiện lan truyền, làm lợi lạc quần sanh. Ngược lại miệng niệm tai không nghe tâm sẽ loạn. Chẳng hạn lúc ta chăm chú xem thời tiết hòng sắp xếp việc đại sự ngày mai, nhưng thời tiết qua rồi lại không có một mẩu thông tin. Chăn trâu để trâu lạc mất. Như vậy điều tối yếu của con người nằm ở Tâm, chứ không phải Thân. Niệm Phật mà tâm nghĩ tham sân si mạn, dĩ nhiên đang tạo nghiệp, chiêu dụ ma chướng. Niệm Phật tâm khẩu hợp nhất tức hành giả thời khắc đang tạo nên cảnh giới Phật an lành, công phu cao như niệm thành khối thành phiến, niệm nhất tâm, tam muội, là họ an trú trong sự tuyệt tĩnh. Ở đời, cũng như lúc ta nghe một bài hát qua loa không ấn tượng, nó là một dạng “trung tính”, còn nếu tâm ta dội lên niềm thương cảm qua âm thanh và lời ca thì lập tức tần sóng thiện ấy được cộng hưởng dao động. Xem phim đồi trụy, bạo lực, tâm “lên máu” với cảnh tượng trong phim, loại từ trường xấu này nhân lên, góp phần khiến thiên tai thêm khủng khiếp. Xem cảnh giả nhưng lại tạo nghiệp thật. Rất nhiều diễn viên nổi tiếng thế giới lãnh tội giết người, đâm xe cùng nhiều cảnh tượng ghê rợn khác; giống như họ đang “kết tinh” các trường đoạn mà họ từng đóng trong phim. Điều này theo cách gọi khoa học là tín tức (ý niệm) chuyển thành cảnh giới tướng (vật chất). Nhiều thiên tàitriết gia trở nên điên loạn hoặc tìm đến cái chết cũng vì quá tự tin sự hiểu biết hữu hạn của mình so với vô tận thế giới. Xin dẫn lời Dean Radin: “Trong môi trường này, những gì tôi nghĩ và cách tôi hành xử sẽ gây ra những tác động lớn hơn, không chỉ cho chính bản thânảnh hưởng phần còn lại của cả thế giới hơn hẳn so với quan điểm trong thế giới truyền thống. Vì thế, theo cách nhìn cơ bản nhất về đạo đứcluân lý, những suy nghĩ của tôi sẽ tác động đến thế giới, vì vậy thay đổi thế giới quan là rất quan trọng”. Câu “A Di Đà Phật” như than hoạt tính (lọc nước đục thành trong), nếu được đưa vào tâm “cài đặt” thành công rồi tịnh niệm tiếp nối, sẽ có năng lực hút tất thảy bụi bặm trần ai, trả lại tánh giác vốn dĩ. Tịnh độ tông vốn rất thù thắng, thậm thâm. Cái gì vi diệu thường đơn giản, dễ hành, song chính vậy nó không dễ tin. 

Tâm lắng đọng mới tạo nên điều vi diệu cho toàn pháp giới, mà trước hết tạo nên không gian thuần thiện. Cảnh giới Niết Bàn trước hết là trạng thái tâm an lạc; tâm ấy trụ trong cõi uế trược cũng là Niết Bàn. Khoa học đã minh định lý thuyết trong kinh Phật, rằng con người tiêu hao năng lượng chủ yếu do tâm quá nhiều vọng tưởng. Do vậy nếu một vị sư ngưng bặt vọng tưởng, năng lượng trong cơ thể ít bị tiêu hao, họ sẽ chẳng cần ăn vẫn minh mẫn khỏe mạnh hàng tháng, hàng năm trời. Lạm xét về mặt y học: Bắt đầu là ý niệm về bệnh, sau đó đi khám biết mình có khối u, ý niệm về nỗi lo dồn dập, được phát liên tục khiến khối u thêm lớn và nguy hại. Người tu có định lực sẽ xé toang ý niệm về khối u bằng công khóa miên mật; rất nhiều hành giả lành bệnh nan y chỉ với việc hành trì “đơn giản” là niệm Phật. Loại âm thanh/từ trường siêu thiện này là một dạng sóng hóa giải nghiệp lực và bệnh, điều này khoa học lượng tử rất dễ chứng minh. Tác động của tập thể luôn ảnh hưởng nghiêm trọng đến cá nhân, nhất là với con bệnh. Càng nhiều người phát ý niệm vô phương cứu chữa, con bệnh càng ít cơ hội lành. Dẫu rành rành máy móc chẩn đoán về căn bệnh giai đoạn cuối, bác sĩ cũng không nên với ý niệm bệnh này hết chữa, vì như vậy nó sẽ dội ngược lại mình. Nghĩa là, khi ta phán điều xấu tệ đến với ai, thì ý niệm đó đã lưu giữ trong alaya, tương đương với việc mình tự gieo một nhân xấu cho bản thân. Mở ra niềm hy vọng trước cửa tử của bất cứ ai không bao giờ là thừa. Lý thuyết này không được thực hành sẽ thật dễ hiểu khi sác xuất bác sĩ chuyên về bệnh (nan y) nào sẽ có nguy cơ mắc bệnh đó khá cao! Từ đây có thể nhìn nhận ra mọi phương diện đời sống. Khoa học đã “giải ngộ” bí mật: “Quan sát của chúng ta tác động trực tiếp tới thế giới của ta”. Nhưng họ không tìm ra cách khiến tư tưởng tập trung, tụ lại, hay cao hơn là vắng bặt vọng tưởng, gọi theo nhà Thiền là định tâm. Điều này ngoài Phật pháp ra, không gì thay thế! Lời khai thị của một vị Hòa thượng đương thời: “Thân thể này giống như một đài phát xạ vậy, đem ý niệm chúng ta phát ra bên ngoài, đồng thời cũng là đài tiếp thu. Tin tức của toàn bộ vũ trụ, chúng ta đều nhận được, nhận được tại sao chúng ta không biết? Phiền não làm chướng ngại. Nếu phiền não nhẹ, tâm địa thanh tịnh, họ có thể tiếp thu được, càng thanh tịnh nhận được càng nhiều”. Phiền não chính là do con người tư lợi, kể cả làm thiện thì đa phần ý nghĩ phát xuất đầu tiên (và mục tiêu cuối cùng) vẫn là có lợi cho mình. Theo Duy thức (được xem là môn Tâm lý học Phật giáo): trong 52 tâm sở thì tâm sở thiện chỉ 11, tâm sở bất thiện chiếm 26; cho thấy nếu không giữ chánh niệm (tiến tới quân bình hai dạng tâm sở, rồi tâm sở thiện vượt lên xóa sạch tâm sở bất thiện), nghiễm nhiên sẽ gây tội nghiệp dẫu người ấy chưa động chân tay. Ai cũng có chân tâm (chủng tử Phật hay còn gọi hạt giống Bồ đề) bị vùi sâu trong vọng tâm. Nếu nghĩ xấu thì ý nghĩ ấy lập tức làm nhiễu loạn thời không và đó chính là nghiệp lực mạnh mẽ nhất lại không dễ được thừa nhận. William Tillerlý giải,nếu tính giải phóng lượng năng lượng tiềm tàng ở trong một nguyên tử Hydro, việc nó tạo ra vụ nổ Big Bang chỉ là chuyện cỏn con.Có thể ví ý niệm xấu như ngọn lửa hàn xì, nhìn chỉ thấy chân không nhưng nó kết tinh múi hàn sẽ khó mà gỡ, khó lòng cứu vãn. Trong nhà Phật, hành giả chuyên tu xuất thế gian, họ chỉ ủng hộ cái thiện chứ không chống cái ác, hành động này mới được gọi là chánh kiến. Tham sẽ chiêu cảm cảnh giới ngạ quỷkiếp sau, sân hận chiêu cảm địa ngục, si (trước hết không tin nhân quả) sẽ chiêu cảm cảnh giới loài vật. Ai tìm cách thoát khỏi vòng cương tỏa của danh vọng tiền tài, chuyên niệm hồng danh A Di Đà Phật sẽ nắm cơ hội lên Tây phương thế giới muôn phần vượt trỗi Ta bà sau cõi uế trược này. (Các thế giớiĐức Phật từng nêu lên giới thiệu: Hoa tạng thế giới, Cực Lạc thế giới duy chân tâm tạo; Thập pháp giới, Lục đạo luân hồi duy vọng tâm tạo; Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh duy "sân tâm, tham tâm, si tâm" tạo). Chớ bao giờ nghĩ con người nhỏ bé. Đức Phật từng nói trong kinh Hoa Nghiêm: “Tất cả chúng sanh đều có trí huệ và đức tướng Như Lai”. Phật thấu triệt về vũ trụ. Chúng sanh nào cũng có năng lực này, chỉ do vọng tưởng quá nhiều như mặt nước gợn sóng không thể soi trăng viên mãn. Những gì phát xuất từ tâm một cá nhân thật không ngờ ảnh hưởng đến toàn vũ trụ, rồi nó trả về nghiệp hoặc phước tùy theo ý niệm thiện hay ác. Phật dạy “nhất tức nhất thiết” (một là tất cả), câu này được khoa học thực nghiệm bằng tấm ảnh cắt ra trăm mảnh, mỗi mảnh vẫn chứa nguyên hình ảnh gốc ban đầu. Hay có thể dẫn thêm lý thuyết của nhà vật lý David Bohm: Cục nam châm đập vỡ thành nhiều mảnh, mảnh nào cũng có hai cực âm và dương. Có người lại bảo, tin điều này làm gì, có ảnh hưởng gì đến cuộc sống của tôi! Đúng vậy, có thể do “biệt nghiệp” trong căn mạng nên nó chưa ảnh hưởng đến đời sống của họ lúc này và trong đời này, nhưng đã ảnh hưởng đến toàn vũ trụ. Rồi lúc phước tồn lưu trong mạng bị họ tiêu xài phung phí, dung nhan xuống cấp, thân thể suy kiệt, ấy là lúc nghiệp tìm đến.

Có lẽ đến một lúc khoa học sẽ sáng chế ra loại máy soi chiếu được mọi ý nghĩ khởi sinh trong đầu chúng ra rồi khuếch đại thành nội dung in ra giấy, và từ đó người ta sẽ đo được mức độ của ý niệm làm ô nhiễm thời không, làm biến hoại từ trường trái đất khiến chiêu cảm thiên tai như thế nào. Điều này không khó với khoa học hiện đại, và đây là một tất yếu, sự tất yếu của chu trình “đi xuống” của nền văn minh kỹ trị theo quy luật thành trụ hoại không. Chẳng hạn ý niệm trong một cuộc rượu, trong sòng bài, trong quán game, trong những nơi công cộng, ở những sô diễn hay đó là trong một gia đình, trong phòng riêng của hai người với hai sở thích khác nhau, giữa người tu và phàm nhân, không gian ở chùa chiền v.v, sẽ cho ra kết quả về sự ô nhiễm thời không như thế nào, có tác động như thế nào đến cuộc sống và thọ mạng… có vậy người ta mới thừa nhận sự đóng góp của Phật pháp và người hành Phật pháp để có được tâm thanh tịnh khiến cho không gian nơi họ cư trú được thanh tịnh.

Khi khoa học khám phá ý niệm tạo cảnh giới, chân lý tối thượng bao trùm bởi mê tínthần quyền lên Đức Phật được phần nào gỡ bỏ. Đạo Phật xét ở cội gốc, một tí cũng chẳng dính đến tôn giáo. Những ai ngày nay hiểu và hành đúng giáo lý của Ngài cũng thấy rõ điều này. Từ lâu ngay cả danh từ tôn giáo cũng bị người đời hiểu lệch. Một vị cao tăng giảng rõ nguyên ủy của từ này gồm những nghĩa: Giáo dục điều trọng yếu nhất; Giáo huấn điều tôn quý nhất; Giáo hóa điều chánh yếu nhất (chánh ở đây là không ). Tiếng Pháp chữ tôn giáo religion (tiếng Anh cũng từ này) hẳn có nguồn với động từ relier, nghĩa là nối liền, kết nối, hợp nhất v.v, chẳng hề liên quan đến thần thánh. Mở Kinh Phật ra toàn thầy giáo dạy học trò. Thích Ca Mâu Ni Phật đã gửi đến xã hội hiện đại thông điệp trọng yếu về giáo dục: “Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong Kinh điển hay sách vở; chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được các nhà truyền giáo hay đạo sư của mình tuyên thuyết”. Ngài muốn mọi người hãy áp dụng sự học vào thực tế rồi chứng nghiệm; như cách mà khoa học đang làm.

Khoa học lượng tử hé lộ chân tướng vũ trụ, cũng là điều Đức Phật nhìn thấy hàng ngàn năm trước. Đó là sự gặp gỡ giữa Phật và các nhà khoa học. Dẫu vậy, cái biết của Phật dựa trên sự chứng ngộ, còn cái biết của khoa học thông qua tri kiến. Một bên là chân lý hiện lên trong Tâm thanh khiết (thấy Tánh), một bên thông qua luận giải và máy móc. Sự biết của một số ít nhà khoa học và các bậc tri thức trên thế giới cũng là sự biết của rất nhiều những người tu hành theo Chánh pháp (dẫu chưa đắc Đạo). Còn sự biết của Phật chỉ có thể có ở những vị chứng quả thánh bên Tiểu thừa, tức từ quả Tu đà hoàn lên đến A la hán, và hàng Bồ tát bên Đại thừa. Kinh Kim Cang có câu: “Nhất thiết pháp hữu vi, như mộng huyễn bào ảnh”. Ngày nay giới khoa học có cụm từ tương ưng gần như trùng khít: “Vũ trụ toàn ảnh”, tức toàn thể vật chất đều là sự phóng chiếu cái thật từ một alaya tổng thể. "Thực tại hữu hình của cuộc sống đời thường của chúng ta, thực sự giống như một toàn ảnh. Phía dưới nó là một trật tự sâu hơn của hiện hữu, một mức độ rộng lớn và cơ bản hơn của thực tại, nó làm phát sinh tất cả sự vật và hiện tượng của thế giới vật chất trong cách thức rất giống một cuốn phim toàn ảnh sản sinh ra một hình toàn ảnh" (David Bohm). Như thật. Ai từng xem cổ vật qua công nghệ 3D sẽ biết: người ta chiếu vật thật ra hình ảnh, nếu không sờ tay vào không ai nghĩ đó là ảnh. Vũ trụ này cũng vậy, nó được chiếu ra từ vọng tâm. Cái biết của Phật đã hoàn toàn ra khỏi khổ não luân hồi; cái biết của khoa học vẫn nằm trong lục đạo; muốn được an lạc họ phải quay lại từ đầu trên đường Đạo, từ con số không tròn trĩnh! Hãy thử hỏi, nếu nhân loại thọ trì được 50% trong 5 giới Đức Phật chế ra (không: sát, trộm, dâm, dối, rượu), có phải đã là một xã hội văn minh lý tưởng? Một giới sát thôi, nếu trẻ em từ nhỏ đã được dạy không sát sanh và hãy yêu thương loài vật; đến loài vật nó không hại, lấy gì hại người và lấy cội gốc ở đâu để sanh tâm chiến tranh? Nhân quả là điều cần yếu giáo dục đối với con người, giáo dục ngay từ trong thai nhi. Bởi nhân quảchân lý tối thượng thường hằng bất biến. Dẫu trái đất có đi đến hủy diệt chăng nữa thì con người vẫn luôn bị chi phối bởi nhân quả. Những giới Đức Phật chế ra vốn nhằm giữ gìn thọ mạnghuệ mạng cho con người, nhưng chúng ta tưởng đó là rào cản của tự do nên tìm cách phá rào. Giới chính là trí tuệ. Đắc giới là đắc trí tuệ để ân hưởng được điều vi diệu nằm ngoài sự hiểu thế gian. Giữ giới chính là gìn giữ phước mạng cho chính mình. Nhìn lại ở Y học, thực ra bệnh nan y đã được tìm ra nguyên lý hoạt động của tế bào xấu ác và phương pháp trị hoàn hảo từ cả trăm năm trước theo phương pháp thực dưỡng rồi; nhưng thực tế mà nói chúng ta không làm được; vì đa phần chúng ta vướng bệnh thèm ăn thèm uống, mà những thứ thèm đó là thức ăn của tế bào ung thư! Để thấy khi chúng ta bước đi tìm chân lý, là đã gạt chân lý qua một bên. Con người có phần tâm linh/tinh thần, có khi chiếm 90%; và phần này bị chi phối bởi nghiệp; chúng ta không hiểu nghiệp và hiểu tâm linh, sao dễ dàng chữa lành bệnh được. Chúng ta chỉ chữa một phần con người mình sao có thể lành?

Phật có 84 ngàn pháp môn nhằm hợp với căn cơ từng người nhưng cùng mục đích khôi phục, tìm lại bổn tánh; là trạng thái tâm vắng bặt vọng tưởng, đạt định, sinh trí huệ, giải thoát khỏi sanh tử. Pháp môn vốn hợp căn, song nếu chiếu theo “di chúc” của Phật, thì thời nay pháp dễ thành tựu nhất là Tịnh độ tông, còn gọi là pháp môn Niệm Phật (Thời mạt Pháp, Tịnh độ thành tựu). Chiếu theo khoa học, đây là con đường sáng nhất, ngắn nhất đưa mỗi vận mạng đến với Chân Lý Tối Thượng. Một vị cao tăng dùng hai ngọn đèn làm thí dụ, ngọn đèn của Đức Phật sáng chói và ngọn đèn phàm phu tắt lịm. Học Phật là làm sao dùng ánh sáng từ ngọn đèn Đức Phật thắp sáng ngọn đèn của mình, chứ không phải chúi đầu dùi mài kinh sử đến độ hỏi đâu biết đó nhưng tuyệt khôngcông phu hành Pháp, ấy là học Thiền mà không tọa thiền, học Tịnh lại không niệm Phật, học Mật cũng không trì chú; công phu ít cũng dăm năm trở lên và nhận thấylợi ích mới có thể bàn đến, còn không chỉ là lời nói suông sáo rỗng.

Con người hiểu ở nghĩa vật chất, đã là một bộ máy hoàn thiện. Dẫu vậy nếu một ngày dần tàn hoại, liệu có ai hy vọng về một tương lai khác thông qua “vật chất, năng lượng, tín tức” - là 3 hiện tượng duy nhất của vũ trụ được các nhà khoa học bước đầu phát hiện, tương đương với 3 tế tướng của alaya thức trong Phật pháp, gồm “cảnh giới tướng, nghiệp tướng, chuyển tướng”. Ngước đầu nhìn Phật là dõi theo “ngón tay chỉ trăng”, mới là Phật học; cúi đầu chiêm nghiệm và sống với tâm thuần thiện để chạm đến bổn tánh mới là học Phật. Hai sự này cách nhau cả đại dương.

 

----------------------

Những nhà khoa học đã trích dẫn trong bài viết:

 

­­- John Hagelin (Ph.D): Tiến sĩ, nhà Vật lý lượng tử; Giáo sư vật lý Đại học Maharishi; Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Quốc gia toàn cầu của hòa bình thế giới.

- Stuart Hameroff: Bác sĩ, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu ý thức tại Đại học Arizona.

- Andrew Newberg (Ph.D): Tiến sĩ, Giám đốc Trung tâm Thần học và Khoa học thần kinh, Đại học Pensylvania.

- Dean Radin (Ph.D): Tiến sĩ, Giám đốc của viện Khoa học thần trí (Noetic), California; Giáo sư Trường Tốt nghiệp Saybrook, San Francisco.

- William Tiller (Ph.D): Tiến sĩ, Giáo sư danh dự đại học Stanford.

- Fred Alan Wolf (Ph.D): Tiến sĩ Vật lý lý thuyết tại UCLA; tác giả "Ứng dụng Bước nhảy lượng tử và Vũ trụ song song".

- Amit Goswami: Giáo sư danh dự môn Vật lý lý thuyết tại đại học Oregon; học giả lão thành cơ hữu tại Viện Khoa học Tâm linh.

- Joseph Dispenza (D.C): Bác sĩ chỉnh hình học tại Đại học Life ở Atlanta, Georgia.

- David Bohm (Ph.D): Tiến sĩ, Giáo sư Đại học Princeton, phát triển lý thuyết lượng tử mang tên De Broglie-Bohm.


 

Học Phật từ trong thai tạng

 

 

Phật vốn xem thể tánh của mình đồng đẳng như bao chúng sinh. Phật không cho lời mình là khuôn vàng thước ngọc mà đòi hỏi người nghe phải tự chứng kinh điển.

Thiền sư Hắc Thủy Thừa Cảnh bên Trung Hoa có hai câu thơ tuyệt cú: “Rổng rinh vô hạn trùm trời đất/ Ẩn hiện sương mù nắng Phật lên” (Quách nhiên thản đấng châu sa giới/ Trước vụ tiềm dung Phật nhật huy). Thi nhãn nằm ở “nắng Phật”; ý của ngài: “Đất lớn che không hết, mặt trời ấy lồ lộ khắp mọi nơi”. Phật pháp vô biên trùm khắp cõi nhân gian, không gì không bao hàm song không phải khẳng định sự cao vời mà thấm nhuần ánh sáng đến mọi ngách tối thế gian. Đạo Phật chính là phụng sự. Thế nên bảo đạo Phật chối bỏ, xa lánh, phủ nhận nhân gianhết sức sai lạc! Lời đúc kết vàng ròng của giáo sư lỗi lạc Phương Đông Mỹ: “Học Phật là sự thọ hưởng tối cao của đời người”.

Đạo Phật, và cả khoa học ngày nay cũng thừa nhận: con người được cấu thành từ vật chất (thân xác, sự dung hợp của tứ đại) và phi vật chất (tâm, ý/thức...). Một hành động của thân bao giờ cũng xuất phát từ tâm (ý) rồi mới dẫn lên trí, trí sẽ phát lệnh chân tay miệng tạo tác. Một câu trong Đại học: “Bậc quân tử nhất định phải khiến cho ý niệm của bản thân mình được chân thành”. Con người, nhất là những người đắc quả bây giờ là chu trình tiếp nối các đời trước, mọi “dữ liệu” được tồn lưu ở thức thứ tám alaya. Và, chỉ tính trong hiền kiếp này, trước Phật đã có 3 vị Phật xuất thế… Sau Thích Ca Mâu Ni Phật, theo kinh Thủ Lăng Nghiêm: hiện nay tuổi thọ của loài người ở trong kiếp giảm, khi giảm xuống còn 10 năm rồi lên đến 84000 tuổi, thì Phật Di Lặc sẽ xuất hiện tiếp tục khẳng định và hoằng truyền Kinh điển.

Đạo Phật là nhằm tu Thân. Tu để sống tốt hơn trong kiếp này và cứu cánh hướng tới Niết bàn. Đạo Phậtcon đường giác ngộ đưa chúng sanh ra khỏi lục đạo, vĩnh viễn thoát khổ. Hễ chừng nào còn luân hồi, nguy cơ vào ba đường ác thường nhiều hơn ba nẻo thiện; phần Phật thuyết về đạo hạnh làm người có thể gọi là Triết lý Nhân sinh. Con người trang bị các triết lý khác rồi mới quay trở lại trang bị triết lý nhân sinh là vòng vèo, nhiều khi lạc mất đường về rồi biết đâu chẳng còn thời gian? Phật nói “Biển khổ mênh mông quay đầu là bến”; đời biến thành câu thông dụng "Quay đầu là bờ" để chỉ người sai lầm, sớm tỉnh ngộ viết lại cuộc đời.

Đạo làm người ai không trọng chữ Hiếu. Nàng Kiều trọng hiếu mới bán mình vào lầu xanh chuộc cha. Cổ nhân dạy: “Vạn ác dâm làm đầu, trăm thiện hiếu trước tiên”. Từ Nho giáo đến đạo làm người ngày nay chữ Hiếu vẫn luôn được tính điểm cao nhất. Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Phật dạy Hoàng hậu Vi Đề Hy (mẹ vua A Xà Thế) chánh nhân vãn sanh là Tịnh nghiệp tam phước, còn là chánh nhân của mười phương ba đời tất cả chư Phật Như Lai. Câu đầu tiên trong Tịnh nghiệp tam phước: “Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng”; chữ hiếu vẫn làm đầu. Trong nhiều kinh Phật khác đều tôn hiếu đạo; Địa Tạng kinh còn gọi với một tên khác là Hiếu kinh. Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, một trong ba người được xếp hàng thánh nhân của thế kỷ thứ 20 (cùng với thi hào Tagore và Mahatma Gandhi) - "bậc thầy tâm linh vĩ đại của nhân loại" đã nói: "Chúng ta sanh ra và tái sanh trong vô số kiếp. Có thể mỗi chúng sanh đã từng là cha mẹ của chúng ta trong một đời này hay đời khác". KinhĐại báo phụ mẫu trọng ân: Một lần Đức Phật dừng lại bên đống xương khô và lạy, đệ tử hỏi nguyên do, Ngài nói đây là cha mẹ ta các đời trước; rồi giảng, xương to và trắng là của người cha, xương nhỏ và thâm là đàn bà bởi mẹ đã vắt kiệt sữa và máu cho con...

Đọc kinh này ai không nước mắt thấm vào trong!

Ở đời thấy người tu rời đại gia đình, rời cha mẹ lên chùa hay nương tịnh thất riêng cho là... bất hiếu. Người tu họ hiểu nếu không thành tựu nghiệp đạo, sẽ không thể giúp ai có thân người ở kiếp sau nói chi về nước Phật. Phần lớn cha mẹ đều để lại gia sản (khổng lồ), nhưng khi qua cõi Thân trung ấm (bardo) chịu nghiệp quả từ việc kiếm số tiền đó cho con, mong con trích ra một phần trăm làm thiện hồi hướng cho mình - là điều hoang tưởng. Bởi, con đâu có học Phật, đâu biết cha mẹ cần con tạo công đức chứ không phải là đồ hàng mã! Đạo Nho được đề cao xưa nay cũng nhờ một chữ Hiếu to đùng treo nơi trịnh trọng mỗi gia thất. Tinh thần hiếu đễ ấy nếu soi vào Đạo Phật khiêm tốn hơn nhiều. Ca dao từng đúc kết: “Thờ cha kính mẹ ấy là chân tu”. Chẳng những thờ, kính, đạo Phật còn có hẳn mùa Vu lan báo hiếu. Thờ, kính mới chỉ ở đời này, mà chưa chắc đã trọn. Đạo Phật còn thôi thúc mỗi người tu tinh tấn; nếu mình chưa có nổi tâm cầu giải thoát thì mong chi báo hiếu mẹ cha nơi cõi khác. Hiếu trần ai mới là hiếu ở cấp độ thấp. Hiếu trần ai với thứ vật chất thô lậu thảy gần như vô nghĩa ở bên kia núi. Nhiều người bây giờ lớn lên trôi tuột theo dòng đời kiếm tiền dung dưỡng xác thân; tưởng về xây cho cha mẹ ngôi nhà lớn, thuê người cung phụng hàng ngày của ngon vật lạ - là hiếu. Thử nhìn nhận, một người mang danh đạo đức song tới đâu cũng bị người ta chửi mắng (tất nhiên là chửi mắng có lý do), ấy chẳng phải Đại Bất Hiếu? Thậm chí còn bất nghĩa với tổ tông dòng tộc. Ngược lại, một người sống chân thành, luôn giúp đỡ động viên mọi người không phân biệt thân sơ..., chẳng phải cha mẹ nở mày nở mặt, chẳng phải là Đại Hiếu. Mục Kiền Liên - người đệ tử đắc quả, thần thông bậc nhất của Phật nhờ nương vào mười phương chư tăng nhất tâm chú nguyện mới cứu mẹ thoát cảnh bưng chậu máu đứng trên bàn chông dưới địa ngục. Nên mới có câu niệm: “Nam mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ tát ma ha tát”.

Để có Hiếu và Đạo, ngoài “nhân chi sơ tánh bổn thiện”, đòi hỏi mỗi người phải tu, tức thanh tẩy thân tâm. Trước hết lạm bàn đến câu nói của Mạnh Tửphương diện Đạo Phật. Tam tự kinh: “Nhân chi sơ tánh bổn thiện”. Pháp ngữ của Thiền sư Sùng Sơn đời thứ 78 từ Đức Phật Thích Ca (01.08.1927 - 30.11.2004): “Thân các bạn khác nhau, nhưng tâm các bạn giống nhau.” Kinh Phật thuyết: “Viên mãn bồ đề vi vô sở đắc”, nghĩa là tất cả có trong tự tánh; tu là khôi phục (nới rộng) lượng tâm. Hay: “Chúng sanh và Phật vốn không hai”; “Tất cả chúng sanh vốn là Phật” (Kinh Hoa Nghiêm). Bộ kinh quan trọn nhất trong vườn kinh điển Đại ThừaPháp Hoa cũng viết: “Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tánh, giai kham tác Phật” (Chúng sinh đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật). Một đứa trẻ sinh ra tâm như tờ giấy trắng. Lúc tích lũy nghiệp chưa thức giấc, nếu gặp môi trường tốt (lớn lên ở chùa từ nhỏ hoặc trong gia đình mộ đạo, Phật tính sẽ nẩy mầm. Còn gặp môi trường không tốt, các chủng tử sẽ bám rễ vào vỏ bọc vô minh. Trẻ em đương thời mấy tuổi đầu đã không thể rời máy tính và thích chơi di động, tâm vọng loạn với muôn trò gồm cả vũ khí hiện đại tối tân. Mười đứa trẻ đang ăn thứ gì, ta thử ngửa tay xin chúng miếng nhỏ, bao đứa sẽ cho, bao đứa khư khư giữ chặt và hét lên? Có thể những kiểu như vậy rất bình thường, nhưng nếu so với bàn cân của Đạo thì thật nghiêm trọng. Nếu cha mẹ từ nhỏ dạy trẻ cho thì lớn lên, trừ hao chí ít chúng cũng không lấy của ai. Khoa học ngày nay cùng lý với Phật pháp, rằng thông minh trí tuệ được sinh ra từ nền tảng Hiếu kính, Đạo đức, Từ bi. Ngày xưa cha mẹ thường thuần thục rồi làm mẫu mực cho con học theo Đệ Tử Quy, nên con cái lợi lạc cả 3 nền tảng ấy. Phương pháp giáo dục này cũng khá đơn giản, mà hiệu quả không ngờ! Cứ vài ngày cha mẹ lại cùng con học một điều, thuộc rồi hành, hành nhuyễn mới học tiếp câu khác. Lúc cha mẹ vừa thấy con đang không nghe lời chẳng hạn, liền nhẹ nhàng hỏi "cha mẹ gọi... thì sao con nhỉ?"; và nó sẽ đọc ra "Cha mẹ gọi, lập tức vâng/ Cha mẹ sai, phải làm ngay". Lúc đã thực hành nhuyễn, câu đầu tiên trong Đệ Tử Quy này trở thành đức tính, rất hiệu quảcha mẹ chẳng nhọc công gì với con cả; bởi chính lúc đứa trẻ đọc ra là tự câu đó đã giáo huấn nó, cộng với “niệm lực” thánh nhân này sẽ tự có sức nhiếp phục đứa trẻ. Hay những câu khác trong Đệ Tử Quy: Cha mẹ dạy, cung kính nghe/ Cha mẹ trách, phải thừa nhận; Thân bị thương, cha mẹ lo/ Đức hạnh kém, cha mẹ tủi; Cha mẹ bịnh, nếm thuốc trước/ Thường chăm sóc, không lìa khỏi; Khi nói năng, trước tín nhiệm/ Không lừa gạt, không nói dối; Phàm là người, đều phải thương/ Chung một cõi, một địa cầu”, v.v. Các bậc Thánh là những người thấy đến ý nghĩ của ta vừa khởi sinh trong tâm, các Ngài thông minh gấp triệu lần người phàm chúng ta nên tuân theo lời họ mà dạy con dĩ nhiên lợi lạc vô biên. Song cha mẹ nào kiên trì dạy con như vậy khi chính họ không làm được, thế nên sự dạy con cũng ngang bằng tội lừa dối, đứa trẻ sớm muộn cũng thấy nên sự tuân phục của nó chỉ bằng mặt mà không bằng lòng; những thói hư của cha mẹ lớn lên nó sẽ học theo cho đúng như vậy, thậm chí còn vượt xa. Thật ra “dạy con từ thuở lên ba” đã là muộn. Thánh nhân xưa khuyên dạy từ trong thai nhi, thai giáo. Điều này người đời nay khó tin, may có khoa học chứng minh mới vớt vát được phần nào. Dạy con từ trong thai là trọng yếu. Bởi thai nhi biết ghi nhận, sự ghi nhận sâu sắc nhất, ấn tượng nhất và gần như nó tạo nên lực làm nền, thôi thúctrọn đời. Thai nhi được nghe thiện, tánh thiện vốn sẵn trong nó sẽ được khai dẫn. Quý nhất là thường nghe nhạc đạo, nghe pháp, nghe niệm Phật, nghe giảng kinh; đây là chủng tử khai tuệ giáctừ bi, sẽ khiến đứa trẻ từ trong thai đã học được chân lý tối thượng, rất khó lầm lạckhổ não về sau. Do chậm lụt sở kiến mà đứa con khởi ý học Phật hay hơn thế là muốn lên chùa, cha mẹ nghĩ mất con bèn giằng lại bằng được. Thật muôn trùng lầm lẫn! Bởi họ không biết rằng Phật là thầy, thầy của ba cõi khắp trời người; là Đức bổn mà đến những nhà khoa học và triết gia vĩ đại nhất cũng bái Ngài làm thầy.

Kinh Hoa Nghiêm: “Tất cả chúng sanh đều có trí huệ, đức tướng Như Lai”; “Như tâm, Phật cũng vậy - Như Phật, chúng sanh đồng - Tâm, Phật, và chúng sanh - Cả ba không sai khác”. Điều cốt yếu là mạch ngầm ấy có được khơi dòng. Một đứa trẻ lên ba đã thấy chúng bắt đầu nhiễm ô, huống hồ ba chục tuổi. Người tu tẩy vết nhơ ăn sâu cho đến khi tâm nguyêntrong trắng như… đứa trẻ mới hầu mong thấy tánh. Trong Đạo Đức kinh Lão Tử luận: “Trở về ngây thơ, đức vĩnh viễn không sai lạc”. Nước luôn được lấy để minh thị về Phật và chúng sanh không hai khác. Chân tâm tự tánh là Phật (nước trong), phàm là mê lầm chấp trước (nước đục). Nước nào cũng có thể lọc nên trong. Điều quan trọng là người ta có muốn/chịu lọc, bằng cách hành theo trước nhất là mười điều thiện.

Thời đại bây giờ để sống tốt phải vùng vẫy, phải thiệt thòi, khổ và khiêm ái. Ấy là tu thân. “Tự thiên tử dĩ chí ư thứ nhân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bổn”. (Từ vua đến dân đều phải lấy việc tu thân làm gốc). Phật giảng: “Thắng một vạn quân không bằng chiến thắng bản thân”. Ai ai đều tự tu để cứu mình. Em trai của Phật là A Nan cũng như bao đồ môn khác, việc tu tập phải tự nương ở chính mình. Trên dòng cuồng lưu của nghiệp thức, nếu con người không biết đời thọ khổ, không tin tâm vô thường, pháp vô ngã, sẽ bị cuốn trôi đến tận cuối nguồn dâu bể. Cuộc đời - dòng chảy không ngừng của nghiệp thức ấy hòa vào máu huyết căn mạng. Đức Phật nói: “Dòng nước sông Hằng phút trước và phút sau đã khác nhau. Ta của ngày hôm qua đã khác với ta của ngày hôm nay”; thật gần với một câu được xếp hàng biện chứng kinh điển của Héraclitos: "Không ai tắm hai lần trên một dòng sông". Tu thân là bơi ngược dòng nghiệp thức, chỉ cần lơ đãng buông lơi tỉnh thức, phước đức sẽ sụt giảm. Ngạn ngữ Pháp: “Đừng ngủ quên trên chiến thắng”. Trong giấc thiền có từ “hôn trầm”; cần phải “mở to mắt ra”. Đạt được chút Phật quả nhỏ xíu, đã tưởng mình bậc giác ngộ. Hư Vân thiền sư từng căn dặn lúc tham thiền: “Ngay cả thấy Phật Thích Ca đến dùng tay xoa đầu thọ ký, quý vị cũng chớ để ý đến, hay khởi tâm vui mừng”. “Không khởi tâm thánh, tức gọi là cảnh giới lành” (Kinh Lăng Nghiêm).

Nhân sinh triết học của Lão Tử khuyên người nên “đem thân vì thiên hạ”. Người tu chân chính trong cõi Phật không ai tu cho mình cả. Ước nguyện của họ chính là Đắc Đạo - Tái Sinh - Giảng Pháp; vòng tròn ấy liên tục từ kiếp này đến kiếp khác, như Đạt Lai Lạt Ma với 14 lần tái sinh và thật nhiều Bồ tát nữa. Phật Thích Ca thành Phật từ vô thỉ. Từ Bồ tát lên Phật không xa, song họ vẫn muốn là Bồ tát để trở lại cõi nhân hóa độ. Phật Địa Tạng giương cao tấm bảng: “Địa ngục vị không thệ bất thành Phật” (Địa ngục chưa trống, tôi thề không thành Phật). Hiểu thô nhất là chúng sanh chưa hết đau khổ, Bồ tát chưa hưởng niềm vui.

Để thấy người tu nếu chưa giúp được gì ít ra cũng không đụng chạm đến quyền lợi của ai, không phiền nhiễu. Phật dặn các Thiện nam tử trong lúc giảng Kinh Vô Tự Bảo Khiếp: “Điều gì mà Bồ tát không muốn đến với mình chớ nên bảo người khác làm”. Khổng Tử: “Việc gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác” (Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhơn). Những điều mình không muốn ở đây là sự chán ghét, khó chịu hiển nhiên và có tính phổ quát. Một bữa tiệc thịnh soạn thì khoai, sắn, cháo trắng là những món mình và người khác không ưa. Gần hơn, trong bữa cơm có vài món (dẫu ngon) song đã ngán, ta mới nảy ý bưng qua cho hàng xóm nghèo để lấy lòng. Thực tế hành động này tạo nghiệp. Miếng ăn ấy đến chiều sẽ phải đổ cho vật; còn không cho vật nhà giàu sẽ đổ vào hố rác - vô tình gây nghiệp… Lý ra nhà giàu phải cảm ơn người nghèo thay vì tự đắc mình người tốt. Bởi nhờ có nhà nghèo, nhà giàu mới khởi được lòng thương hại, mới phát tâm bố thí, nhờ đó nhà giàu được phước, góp phần tăng thọ mạng và tẩy trừ chướng nạn. Phật dặn: “Các vị nên biết điều không muốn đến với mình, chớ nên cho người khác”. Là con của Phật sao có thể đẩy khó khăn về người khác; ngược lại nhận về mình cái dở, cái khó, cái nặng nề ô uế. Phật Thích Ca Mâu Ni độ người đầu tiên là Kiều Trần Như vốn đời trước đã “lăng trì” mình, để… trả ơn.

Ra đường gặp người dưng giúp đỡ ta còn hơn cả anh em ruột rà, không hay ấy là ân nhân đời trước. Biết khiêm nhu, chớ khoe khoang việc thiện (ngoại trừ lấy để làm gương), phước của họ sẽ cấp số nhân. Quá coi trọng phần vật chất ắt bỏ quên phần tinh thần. Cõi trần được tạo dựng trên nền vật chất, con người bởi thế chỉ tin những gì hiện hữu. Gửi một trăm ngàn vào ngân hàng sẽ còn đó, cũng số tiền ấy “gửi” vào việc thiện chúng ta ngỡ mất. Việc khoa học sáng chế ra máy thu âm và hình ảnh quá khứ đã phần nào cho thấy không gì biến mất khỏi không gian này. Nghiệp thức là chiếc camera ghi lại tất cả ý nghĩ và hành động của mỗi người để từ đó tạo nên thân gì ở kiếp khác. Sự khoe khoang hãnh diện sẽ trừ phần trăm số đức ta làm được. Người đời thường sợ thiên hạ không biết đến thiện nghiệp của mình nên mới vậy, đó là lối suy nghĩ khủng hoảng thừa, thiểu trí. Kinh Hoa Nghiêm chép, đại ý, nếu các quốc độ đều nghiền ra bụi thì Bồ tát cũng đếm được. Chính vậy trong Kinh Dịch, quẻ Khiêm được xếp tốt nhất, và bao giờ cũng thuộc hàng đầu đối với người muốn nghiên cứu. Nhẫn được đề cao trong nghiệp tu. Người có sẵn Khiêm nhu từ nhỏ khá hiếm; người sơ cơ tu Khiêm, thì phải bước qua Nhẫn. Chữ Nhẫn ở trên có bộ Đao, dưới là Tâm; động niệm (ác) thì dao rơi xuống xuyên tim! Nhẫn trong Đạo Phật có thể ví như hạnh của Đất (hiền như đất), người dội nước sạch và cũng có kẻ hắt nước bẩn vào.

 

Học trò có lần hỏi chết là gì, Khổng Tử dạy: “Chưa hiểu cuộc sống làm sao hiểu được cái chết”. Câu này bàn sâu, là một hạn chế. Bàn nghĩa gần là ưu việt. Kinh Phật thường nói về luân hồi kiếp và các cõi thánh cao thanh, tuy điều trọng yếu tu tập phải luôn an trú trong hiện tại. Tu lại tưởng về quá khứ vọng về vị lai dễ lạc vào ma đạo. Người tu Thiền hay Tịnh độ, đích vẫn là giữ tâm tịch tịnh, không phóng tạp niệm. Tạp niệm quá dày quá đậm sẽ tạo nên cảnh giới để ta thọ nhận. Chỉ ý niệm thôi, chưa nói biến thành hành động, ý niệm thiện hay bất thiện sẽ hướng cuộc đời chúng ta về phía đó.

Tận kiếp này ai rồi cũng phải qua con sông rộng, ở đấy không một con đò nào, cũng không ai đủ sức bơi, vấn đề là phải chuẩn bị cái phao. Chọn trong những pháp môn được Phật truyền giảng, xem điều kiện và duyên mình hợp với Mật, Thiền hay Tịnh độ, hiển giáo hay mật giáo; từng ngày một bơm khí vào phao; phao căng thì cái chết trở nên nhẹ tựa lông hồng. Đức như “tiền”, nếu luôn sẵn tiền trong túi chẳng ai còn lo dạt về đâu; dĩ nhiên phải rời kiếp này, tiền là rác, Đức mới là giấy thông hành.

Tôi và bạn sinh ra được gọi con người. Nhưng nền tảng làm người nhiều lúc bạn và tôi chưa hẳn có, nên cái thân của chúng ta nhiều lúc đứng trên sự ảo tưởng không hay. Đạo Phật rốt ráo và đầy biện chứng giúp mỗi người có thể tạo chỗ đứng vững vàng cho mình trong đời này và đời sau. Đạo Phật đối với đời này không một tông phái nào đầy đủ và cặn kẽ hơn, đã chỉnh lại toàn bộ thân tâm kiếp người mà bất cứ đạo học nào cũng chỉ là nội hàm. Tâm bao giờ cũng cao hơn Trí. Trí là thuyền để vượt sông ô trược cập bờ tâm nhiên. Kinh Thủ Lăng Nghiêm có nhắc đến quả vị Vô Học tức đoạn trừ vô minh đạt tối thượng Bát nhã trí huệ. Thiểu trí dĩ nhiên khó tiếp cận tri thức; nhưng bát nhã vốn “vô tri”, song “vô sở bất tri” - chẳng gì không thấu triệt.


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phần II

TÂM THỨC MÙ LÒA


 

Đốm lửa soi tâm

 

 

Tôi nhớ mình có quen một người. Phần cốt lõi nhất ông lặp lại khá dày trong nhiều lần giảng pháp với từng nội dung khác nhau, ấy là thời gian. Ông giảng cho tôi nghe (có thể từ trong... giấc mơ): 

Nếu chúng ta giải quyết gọn ghẽ thời gian, mọi sự sẽ thay đổi; cái nhìn về tâm linh của bạn cũng thay đổi, đó mới chính là bước tiến bộ trong mỗi phần người. Sở dĩ nhiều người không muốn chạm vào miền tâm linh vì họ thấy cuộc đời này dài mấy trăm năm, nên sống và hưởng thụ đã, gần cuối đời chạm tay vào miền tâm linh cũng chưa muộn. Ai đảm bảo cho việc bạn sẽ sống đến trăm tuổi. Ai đảm bảo, rằng bạn sẽ không rời khỏi không gian này khi chưa hiểu đủ về đời sống vật chất. Tại sao có những đứa trẻ mới mở mắt chào ánh sáng đã phải quay lại nơi nó xuất phát cách 9 tháng mười ngày trước đó? Tại sao bạn không dựa vào linh cảm và trực giác của bạn - đấy là kho tư liệu vô tận mà bạn đã tích lũy từ rất nhiều kiếp, và nó đã bật mở nhiều lần vào những lúc bộ óc của bạn mệt lả? Những phát minh, những câu thơ đoạn nhạc xuất thần, những ý tưởng vụt sáng như ngôi sao băng... đều xuất phát từ bộ óc thông minh của bạn ư? Khoa học đã chế ra máy chụp hào quang sự vật hiện tượng, máy thu thứ âm thanh đã “mất” trong không gian nhiều thế kỷ trước, máy chụp lại thời điểm xẩy ra vụ tai nạn mặc dầu nó đã trôi qua; khoa học chế tạo ra kính viễn vọng nhìn thấu các thiên hà, rồi biết đâu khoa học cũng sẽ chế tạo ra kiếng nhìn thấy cõi ma quỷ. Sao chúng ta không dùng trực giác nhạy cảm của mình dẫn đường tới miền tâm linh? Không gian tâm linh có ngay nơi bạn ngồi, nhưng bạn không muốn tiến nhập vào. Khoa học đóng vai trò quan trọng trong việc chứng minh cho con người thấy vùng sáng mà que diêm xoẹt lên trong bầu trời tâm linh bí ẩn và... “tăm tối”.

Thời gian thăm thẳm trong vũ trụ rộng lớn với hàng tỉ hành tinh lớn hơn trái đất này, và thời gian chúng ta đang sống, chỉ là điểm dừng chân nghỉ mát trên chặng đường mà con tàu tâm linh chạy với vận tốc thấp nhất 299 992km/s, như vậy bạn đã mờ ảo nhận diện được thời gian rồi; như vậy có nghĩa bạn đã thừa nhận một trăm năm cho cuộc đời, cho chặng đường mà bạn phải đi, chỉ là chớp mắt trong dải ngân hà. Sự tiến bộ trong bạn đã khởi hành. Có nghĩa lúc bạn không (hoặc may mắn) chết đi, bạn đâu còn phải lần mò để tiếp tục bước ở thế giới siêu hình (như lúc bạn sinh ra ở thế giới hữu hình này). Có nghĩa, ngay lúc này, bạn phải chuẩn bị cho mình sự chết.

Chuẩn bị sự chết, đương nhiên không phải, nếu vợ bạn còn trẻ, bạn tìm cho cô ta một người tình đủ tin cậy; không phải nếu bạn có quá nhiều tiền, bạn phải gửi vào ngân hàng sinh lợi. Bạn hoàn toàn không mang theo được gì cả ngoài Đức và Nghiệp. Nếu bạn có đức, như vậy bạn đã có hành trang; nếu bạn tích nghiệp, bạn cũng phải mang theo qua bên kia, không cất giấu hay biển thủ đi đâu được. Vậy chuẩn bị cho sự chết là chúng ta chuẩn bị những gì? Bạn hãy tưởng tượng, bạn (lúc chết) là một người cô đơn trong một căn phòng, đang xem truyền hình trực tuyến từ nước ngoài, phát sóng cảnh vợ bạn tình tứ với người ta; hay cảnh tài sản của bạn cất giấu kỹ nay con cháu bè bạn trộm cắp chia chác, mà bạn không hề can thiệp; chỉ có hành trang bạn chuẩn bị lúc sống, là bạn không tiếc nuối, không ghen tuông, con đường phía trước của bạn còn quá xa, tâm bình mà bước; khi ý niệm đó chuyển thành hành động, thánh thần song hành cùng bạn.

Vẫn biết bạn sẽ chưa tin kiểu xem vô tuyến đó, bạn còn phải chờ khoa học chế tạo ra một loại máy phân tích mỗi cử chỉ, ý niệm, hành vi ra đức và nghiệp. Bằng chứng khoa học về sự tái sinh tràn ngập trên internet, trong các hiệu sách uy tín và trong các thư viện lớn, bạn vẫn nghi ngờ. Bạn không tin đầu thai, và có ai đó “cãi” rằng ông nội họ mất mấy trăm năm vẫn còn ngoài mồ. Nhà ngoại cảm đã trò chuyện với ông? Đấy, tôi đang quay lại vấn đề nan giải mà bạn nên giải quyết: thời gian. Bạn đã tin ông nội bạn còn “sống” ngoài mồ, chỉ là bạn không nhìn thấy ông. Vì sao? Vì ông nội bạn đang ở không gian khác dẫu ngay cạnh bạn. Không gian khác, thời gian dĩ nhiên cũng khác, nói gì đến mỗi người duyên khởi khác nhau. Tại sao bạn không tự xét, có nhiều người vừa mới qua thế giới bên kia, nhà ngoại cảm đã không thấy họ đâu nữa? Họ đã trở lại không gian của bạn rồi, có khi là ân nhân qua đường, là hàng xóm của bạn, và không ngoại trừ họ là con của bạn, là chim trong lồng, gà heo trong chuồng nhà bạn, cũng có thể họ đang giữ nhà cho bạn; bạn cho nó ăn hay để nó đói rét, hay bạn vỗ béo để làm món nhậu. Và rồi như một đứa trẻ, bạn đang vẽ từng nét thú lên chân dung mình ở kiếp tương lai.

*

Tình cờ đọc tác phẩm của một văn hào Nobel, Mù lòa; mươi trang đã biết ông này bịa, vậy mà như thật. Cảm giác giống ngày bé nghe chuyện ma; ngô nghê quan niệm, ma làm gì có thật, song nghe kể thì há hốc mồm nuốt từng chi tiết, sợ. Nhà văn José Saramago đã “xỏ mũi” người đọc theo từng trang sách. Chuyện bắt đầu từ một người đàn ông đang giữa phố chợt không nhìn thấy gì nữa; sau, từ ông, bệnh mù trắng đó lây lan thành dịch, người chưa mù chẳng may nhìn vào mắt người mù thì mù luôn. Họ bị nhốt cách ly vào một nhà thương điên bỏ hoang; đúng hơn, chính quyền lùa họ vào đó như lùa bầy gia súc, tự “đấu tranh sinh tồn”. Họ giằng xé nhau từng miếng ăn; những người phụ nữ thì phải lần theo dây đến trao thân cho bọn cơ hội để đổi lấy cơm cho lũ đàn ông. Họ lại phải tự tay mò mẫm đào hố chôn thây. Và khi họ được thả tự do, cũng là lúc bệnh dịch lan tràn khắp đất nước, chính quyền bó tay, y học bó tay. Trên từng nẻo đường góc phố, người người dắt díu nhau kiếm ăn. Những nhân mạng đói rục bên đường bị lũ chó xông vào xé từng miếng thịt thỏa mãn cơn đói. Một người đàn bà mù đã ăn thịt sống những con thỏ và bầy gà trong khu vườn của ngôi nhà không phải của bà... Bao cảnh tượng thê lương, kiệt cùng bi đát, rùng rợn.

Tôi trộm nghĩ José Saramago đã làm một cuộc dự báo về tương lai của loài người, khi trái đất này đã chứa quá nhiều tội lỗi, khi con người phá rào thập thiện để sống với mười điều bất thiện. Nhưng lấy bản thânchứng nghiệm, lại thấy tôi chính là kẻ đang nghênh ngang giữa trần gian bằng sự mù lòa của đôi mắt sáng.


 

Thi nhân và thiền nhân

 

Thiền nhân và thi nhân đều có thể sáng tạo thơ hay. Thơ của các thiền sư thường là sự phóng thích chút bản ngã cuối cùng, nên nó không sanh từ vọng tưởng. Còn thơ thiền chính là lúc kẻ phàm phu nhón tay vốc được linh tự nơi chân như khi vọng tưởng bỗng nhiên chừng lặng.

Daisetz Teitaro Suzuki - người cố giải mã công án trong 3 tập Thiền luận nói rằng “Thông thường thiền sư cũng là thi sĩ”. Theo ông, "văn học Thiền hưng khởi từ thời Huệ Năng (638 - 713) và nay còn giữ đủ, vẫn đáng cho các nhà thông thái và người tìm chân lí bỏ công nghiên cứu". Có khoảng 1.750 công án mà Thiền giả thường tham cứu như một hấp hực của hậu nhân học Phật. Công án thuộc hàng khó giải nhất có nội dung: “Ý chỉ của Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn sang Tàu là gì?” Riêng luận về cuộc Đông du của Tổ này, Suzuki đã dẫn ra nhiều lời giải của các thiền sư dưới dạng gần như thơ, ví như hai câu của Đại Đồng Tế đậm đầy thi hứng:

Ta nghe gió rì rào qua khóm

Biết bao ngàn ngọn trúc đong đưa.

Ở Nhật, nhiều thiền sư sáng tác thơ haiku. Thơ haiku là sản phẩm của tâm thiền, là thơ thiền đúng nghĩa. Suzuki thử dẫn bài thơ của Basho: “Một vũng lầy hiu hắt/ Một con ếch nhảy vào/ Và tiếng nước; ôi chao!”; và luận: “Đấy là cái tiếng thức tỉnh đạo lý của Phật giáo Thiền tông. Kinh nghiệm tự nó không thể tỏ bày bằng cách khác, thế nên bài thơ hài cú chỉ mô tả cơ duyên, không tâm tình, không biện giải”. Suzuki nhận xét chuẩn xác hồn cốt của thể loại haiku; đáng lưu ý là mấy chữ “không tâm tình, không biện giải”. Tuy nhiên ở bài thơ này, có thể do người dịch nên nó đã rơi vào “biện giải”. “Ôi chao!” là một dạng thán từ, tiếng reo, một cảm xúc ứ trào, thì chính “tâm tình”. Phật thuyết Kinh Viên Dung Thuần Khiết: “Cái không còn ý nghĩ phân biệt là cái không thể nắm bắt được. Vì sao? Bởi vì trạng thái không có ý nghĩ phân biệt, dù ngay cả tâm cũng đã không thể nắm bắt được, huống chi là những hoạt động tâm sở. Trạng thái tâm không nắm bắt được đó gọi là không thể nghĩ bàn”.

Một bài thơ khác:

Ngày ngày trên lá sen

Giọt sương rơi xuống

Nát tan hình hài

Ở đây tuyệt nhiên vắng bóng tâm tình và biện giải, nghĩa là hoàn toàn vắng cái “ngã”, cái “tôi” tác giả, chỉ có hình ảnh những giọt sương “nát tan hình hài” khi gieo xuống lá sen, trong sự cô đơn và nhẫn nhịn tuyệt vời! Hình ảnh cứ đeo bám, ám ảnh người đọc, nó khơi lòng từ bi, nó “mắc nợ” vào người đọc. Chính đó là tâm trạng của thể haiku; hay nói ngược lại, với bậc thoát lụy trần, tâm thanh tịnh mới gửi được cái vi diệu không sắc vào thể thơ kiệm lời bậc nhất này.

Có một câu chuyện thiền tường minh mối tương giao giữa thơ thiềnthiền thơ. Tiền thân của Tô Đông Pha vốn là Giới Diễn thiền sư, tu đến độ có thể tự tịch. Một hôm cùng với sư huynh Quang Huệ ngồi thiền; giữa thời, Giới Diễn bỗng khởi niệm ái sắc. Lúc xuất thiền sư huynh mới hỏi xéo “lúc nãy đệ nghĩ gì vậy”? Biết sư huynh đi guốc trong bụng, hổ thẹn quá Giới Diễn nhắm mắt tịch luôn. Quang Huệ tự vấn: "Bạn ta trong khi thiền định có niệm sắc ái, sau tất lụy về sắc; vì phiền ta mà thị tịch... lỗi ấy một phần do ở nơi ta". Thế nên Quang Huệ cũng tịch mà đuổi theo hóa độ. Tô Đông Pha - hóa thân của sư Giới Diễn, sau này ông là nhà thơ trứ danh đời Tống. Cư sĩ Tô Đông Pha kết thân với nhiều nhà sư, trong đó có sư huynh của mình ở kiếp trướcthiền sư Phật Ấn. Một hôm để chứng tỏ công phu tu tập, ông làm một bài thơ tứ tuyệt; câu luận: Bát phong xuy bất động, ("Tám gió" tung hoành không lay động), ý nói tám ngọn gió thế gian không thể lay động được tâm ông. Tấm tắc ngâm ngợi suốt ngày, rồi họ Tô gửi lên chùa Kim Sơn cho thiền sư Phật Ấn. Sư xem xong phê dưới "đồ đánh rắm", nhờ tiểu đồng mang trả lại. Tô Đông Pha thấp thỏm đợi chờ lời khen, ai dè..., liền nổi giận chèo thuyền bạt gió qua sông. Mới bước đến cổng chùa ông thấy dòng chữ treo sẵn: “Tám ngọn gió không lay chuyển được mi/ [Thế nhưng] một cái đánh rắm cũng đủ thổi mi sang đến bờ bên này”.

Mới hay tâm còn ngã chấp tiểu kiến, dẫu vi tế, thơ vắt ra không thể là thơ thiền, dẫu mỗi mỗi chữ đều khoác áo thiền. Đánh bóng chữ dán mác thơ thiền, đâu hay thơ thiền không dễ sinh từ trí mà chảy từ suối tâm. Cũng như nếu đem trí để soi Đạo chẳng những không thấy trời đêm ngàn sao mà dưới mặt nước (tâm) động kia vầng trăng cũng lấp lóa mờ nhòa. Xưa, sư Trí Bảo tự thấy mình dốt Đạo đã rời chùa tìm lối vượt thoát sanh tử. Cơ duyên gặp được thiền sư Đạo Huệ khai ngộ liền thốt lên chứng đạo ca:

Không nhờ gió cuốn mây trôi sạch

Đâu thấy trời xanh muôn dặm thu.

Khi thuyết pháp, Phật, Bồ tátthiên nhân thường diễn ý thành kệ. Xuất khẩu thành kệ. Kệ ấy, ở mức độ mờ/nhòa nghĩa của ngôn ngữ, cũng xem là thơ. Bài Cư trần lạc đạo của Trần Nhân Tông, theo tinh thần “thiền đạo”, nó là kệ nhưng bây giờ nghiễm nhiên thành một bài thơ. Kinh Thi có ba trăm bài; Bộ Hoa Nghiêm kinh nguyên khởi có hơn một trăm ngàn câu kệ; Trường Bộ Kinh được Giới lạc Mai Lạc Hồng chuyển thể thơ 3 tập với 1500 trang theo thể song thất lục bát; Cuốn luận về Bát Nhã Ba La Mật Đa (Prajna Paramita Çastra) của Bồ tát Long Thọ (tổ Thiền thứ 14 của Ấn Độ, cũng là vị tổ trong Tịnh độ tông) in ra làm 3 bản; trong đó con số ước lượng, một bản gồm hàng trăm ngàn câu kệ; Kinh Pháp Cú nhắc người đời: "Tụng trăm câu kệ vô nghĩa/ Chẳng bằng một câu Pháp cú". Kinh này cũng được tác giả Tịnh Minh dịch thành Thi kệ pháp cú kinh. Thử tụng câu 85:

Xem trong đám nhân quần

Ít người đến bờ kia

Còn bao nhiêu người khác

Quanh quẩn tại bờ này

Nghe qua có vẻ bình dân, song ai bước vào rừng kinh điển mới thấu lý bờ này, bờ kia, bao nhiêu người, quanh quẩn… Người sáng tạo thơ thiền thường phải khắc khắc nghiền ngẫm, vật lộn cùng chữ nghĩa. Luôn luôn trong tình trạng “nghi án”; và lạ thay, lúc người ấy thả lỏng mình trở về trạng thái vô nghiệm thì thơ thiền phát lộ. Có một đệ tử của ngài Qui Sơn Linh HựuLinh Vân, loanh quanh bên đời mãi vẫn đường đạo mịt mù, một lần chợt thấy hoa đào mà ngộ; liền làm thơ: “Tự tùng nhất kiến đào hoa hậu/ Trực chí như kim bất cảnh nghi”. Hoặc như tổ Hoàng Bá từng viết bài kệ với hai câu kết:

Không chịu trời lạnh thấu xương

Hương thơm hoa mai sao tỏa!

Thiền sư Hư Vân thuyết về thành quả hành trì của người tu đã có nhắc: “Hoa mai nở bông vào mùa đông lạnh giá chớ không nở trong tiết xuân ấm áp, tràn đầy ánh nắng hồng. Hoa tâm khai nở không phải ở nơi vui buồn, thương ghét, hay đúng sai giữa mình và người”.

Thiền quan sách tấn chép về Mông Sơn Đức Dị (thuộc dòng Thiền của Ngũ Tổ Sơn Pháp Diễn) đã trải qua quá trình ngộ đạo hết sức gian nan. Ông ôm nghi tình chữ hàng chục năm không khai tỏ, có đến hai năm ròng chỉ tu ngồi. Thỉnh giáo biết bao cao nhân, một lần gặp thầy Kỉnh, “thầy hỏi: “Ai đến đây?” Đáp: “Chẳng phải ta chẳng phải người”. Thầy bảo: “Chẳng phải ta chẳng phải người, thế là cái gì?” Đáp: “Đói thì ăn mệt thì ngủ”.

Đây là tinh thần thiền đạo của những bậc đã hòa vào cảnh giới an lạc tự tại. Chúng ta nhớ đến Cư trần lạc đạo củaPhật hoàng. Ý này chúng ta cũng có thể tìm thấy trong cuộc hội thoại của gia đình cư sĩ cùng chứng quả Bàng Uẩn. Chồng: “Khó! Khó! Khó! Đem hạt mè để trên đỉnh cây thật khó”; Vợ: “Dễ! Dễ! Dễ! Ý Tổ sư trên trăm đầu ngọn cỏ”. Con gái Linh Chiếu: “Không khó cũng không dễ. Đói thì ăn. Mệt ngủ liền”. Hoặc như với Tế Công Hòa thượng: “Người bảo Ngài điên, Ngài chẳng điên/ Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền”. Trần Nhân Tông thấm đẫm diệu lý “tùy duyên” từ Thiền tông: Người tu đạo chân chính là “sống với mọi cơ duyên của cuộc sống trần gian này. Buổi sáng, y lặng lẽ thức dậy, vận y phục và ra ngoài làm việc. Khi muốn đi dạo, y liền đi dạo, khi muốn ngồi, y liền ngồi. Y không làm Phật, không nghĩ tưởng xa vời. Sao lại có thể thế? Cổ nhân nói, nếu bạn chuyên tâm tinh tấn cần cầu Phật quả, Phật của bạn thực tình là căn nguyên của luân hồi” (Tổ Lâm Tế). Lý này khiến rất nhiều người đời sau tưởng dễ nhảy vào, buông thả sống, khiến thân còn sống mà tâm đã bị đọa đày trong tầng tâm linh ngột ngạt, mờ mịt, bán rẻ tương lai tiêu xài vào cơn mộng lợi danh siêu thoát. Đạt đến tùy duyên là Nhìn thấu - Buông xả - Tự tại - Tùy duyên; nghĩa là hết thảy vật tài, thân quyến cho đến vọng tưởng, chấp ngã mê lầm đều không dính mắc. Cái lý này với đời chừng như ngược, với đạo là xuôi. Xuôi theo đạo ấy mới là việc khó, nhân thế mấy ai!

Mãn Giác thiền sư cũng là người sống kỹ trong Đạo và học kỹ ngón thiền của các Tổ. Bài thơ nổi tiếng của ông, hai câu đầu: “Xuân khứ bách hoa lạc/ Xuân đáo bách hoa khai” (Xuân đi trăm hoa rụng/ Xuân đến trăm hoa nở), ta nhớ đến Sử Quảng Phúc Đam Chương trả lời một thiền tăng tham vấn về tâm pháp của Đạt Ma: “Xuân đến, cây cối trổ hoa” (Xuân lai hoa tự phát); “Thu đến, lá lay rơi rụng” (Thu chí diệp tiên điêu). Và hai câu sau: “Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết/ Đêm qua sân trước một cành mai”, cũng là trên tinh thần lời Phật (thuyết kệ trong kinh Lăng Nghiêm): “Vi vi, thì không sinh, không diệt - Chẳng thật hư hoa đốm hư không”. Hoa nở hoa tàn ấy là “hoa đốm hư không”, do vọng tưởng hư diệu tạo thành, thực tế nhành mai là sự bất diệt của vạn pháp, là tự tánh trọn đủ hạt giống trong khiết; mai rồi lại nở vào những xuân sau.

Đức Thích Ca bảo “chúng sanh đều có trí tuệ, đức tướng của Như Lai”. Kinh điển chính là Phật. Người Tu mức cao sẽ thấy những câu kinh ấy vốn sẵn nơi chân tâm. Bậc triệt ngộ thì cả Đại tạng kinh cũng phơi ra như báu vật bao nhiêu kiếp vùi trong vọng tưởng chấp trước. Kinh Lăng Nghiêm: “Nếu chuyển được vật, tức đồng Như Lai”. Tu lại để tạp niệm làm chủ tức vật chuyển mình, vật lôi kéo, giật dây thành rối. Chân như tức tâm chuyển cảnh. Lúc đó muôn hoa nước trời cùng vươn nở chào mừng nói chi vạn vật nhân gian. Mối tương ưng giữa Phật và chúng sanh, là chân tâm. Thủ kiến dễ khiến người đời “giương án” cho những thiền sư làm thơ (và pháp sư thuyết pháp) - điều mà xưa nay trong giới chân tu chưa hề bỏ ra nửa lời. Thiền nhân hoát ngộ đề thơ chính là thi nhân, còn thi nhân một phen lạc thăng hoa tiết ra thơ thiền cũng chưa thể gọi họ là thiền nhân được; dẫu Thơ và Thiền muốn viên mãn phải đánh đổi danh lợi giữ tâm ý sáng trưng như kẻ phong lưu bước trên băng mỏng vậy.

 

 

 


 

Kinh điển và căn mạng đời người

 

 

Tổ Quy Sơn dặn: “Nói ra lời nào phải liên hệ với kinh điển. Đàm luận gì, phải xét lại lời người xưa”. Phật Thích Ca sau 49 năm thuyết pháp cũng bảo những lời ta nói là thuyết lại lời cổ Phật.

Vì sao nói lời nào đều phải liên hệ với kinh điển? Nếu kinh điển không mang sinh khí thời đại, không trực tiếp dẫn nguồn vào cuộc sống liệu có còn là kinh điển. Những kinh điển lạc lõng giữa dòng đời bất tuyệt là kinh điển khô nhắc chết cứng, không còn tự bảo vệ được mình trước những phát triển của văn minh nhân loại, trước những phát hiện khoa học về con ngườibản thể vũ trụ. Kinh điển ấy… lỗi thời. Kinh điển phải luôn gắn với đời sống; nhất cử nhất động của con người đều có thể soi vào mà chỉnh sửa, ấy là chân kinh.

Thế kỷ XXI được xem là thời đại khoa học công nghệ. Những phát minh, khám phá của khoa học làm chấn động nhân loại. Một trong những công trình đó là khám phá ra biểu cảm của nước (cũng như trước đó khoa học phát hiện bản tánh của thực vật). Một thí nghiệm ở Nhật với hơn một trăm vị sư ngồi tụng niệm yêu thương nước trước hồ Tỳ Bà ô nhiễm rộng mênh mông, sau một buổi hồ nước dần trong trở lại. Thân thể người do tứ đại hợp thành, trong đó nước chiếm khoảng 70%, vậy ra bệnh tật có nguồn từ sân hận, chấp trước, phân biệt, tự lợi, xan tham, mê đắm, tật đố, ngã mạn…, những thứ khiến cho nước trong thân thể nhiễm ô. Nhiều ngôi chùa nhận chữa cho những người bệnh mà y học đã bó tay với điều kiện: ở lại chùa ăn chay, nghe giảng pháp… Chính là chùa chữa Tâm (thanh tịnh, trong sáng) chứ ít chú trọng chữa thân, vì thân vật lý chiếm tỉ lệ rất nhỏ so với mặt tinh thần trong chỉnh thể người. Người mà bệnh viện trả về, tức bị dồn vào bức mành mong manh cuối cùng ngăn cách sống chết. Yêu cầu ăn chay niệm Phật, nghe kinh, lạy Phật sám hối mà họ cũng lắc đầu, trong lúc chùa không chút vụ lợi; đủ thấy ở họ chấp chặt sự thiên lệch về vật chất. Đại sư Buddhadasa người Thái Lan trong cuốn "Cốt lõi của cội Bồ đề" (Hoang Phong dịch) gọi đây là "bệnh tâm linh" - "là một căn bệnh không cho phép mình quán thấy được sự thật tối hậu của mọi sự vật đúng thật với những gì là như thế. Do đó bệnh ấy là một thứ bệnh liên quan đến vô minh, hay là sự hiểu biết sai lầm, và nếu đã là một sự hiểu biết sai lầm thì tất nhiên là nó sẽ đưa đến những hành động sai lầm và từ đó phát sinh ra khổ đau”. Và "Phương thuốc giúp chữa khỏi chính là tánh không. Hơn nữa tánh không chẳng những là một phương thuốc mà còn là cả một sự giải thoát có thể làm triệt tiêu tất cả mọi thứ bệnh tật, bởi vì phía sau tánh không sẽ chẳng còn lại gì cả". Hiểu được lý vô thường chúng ta sẽ không chấp điều lớn nhất: thân này là ta (mà chỉ là của ta như áo quần). Khoa học chứng minh cho thấy những người “chết giả”, hồn họ tạm lìa xác và họ thấy được xác mình, họ thấy được những người từng chết trước đó, thậm chí thấy cả những vị thánh. Một khi có họ đứng nhìn xác mình, dĩ nhiên các xác ấy không phải mình rồi, hay hiểu đơn giản là chết không phải hết. Chết vẫn còn ta, vậy sao ta không mảy may tìm hiểu cảnh giới sau cái chết, và cái gì sẽ giúp ta lúc bỏ thân này.

Khám phá về nước nói riêng làm lay chuyển nhận thức loài người, khoa học gia phải mất vô lượng thời gian, đâu hay đã vô tình chứng minh một vài câu kinh Phật. Còn vô vàn kinh điển nữa đều đang chờ khoa học soi chiếu. Nhưng có điều sợ muộn màng, sợ đến lúc chúng ta có chứng cứ trong tay e hành tinh xanh đã hoang hóa. Khoa học thấy Phật pháp là bậc thầy của khoa học. Nhưng nhiều người vẫn chỉ “sử dụng” những câu kinh đã được thực chứng, thế nên một pháp sư gọi hiện tượng này là “mê tín khoa học”!

Kinh điển Phật giáo là kim chỉ nam của bất cứ người nào muốn trả lời hai câu hỏi: “Ta từ đâu đến?” và “Ta sẽ về đâu?” (Ở đây xin không hiểu theo danh hiệu của các Phật: Như Lai - không từ đâu đến, không đi về đâu - Kinh Kim Cang: “Vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ”). Lời Hòa thượng Tuyên Hóa: “Đối với người tu hành chân chính, lúc chết tâm họ rất sáng suốt, biết mình từ đâu tới và sẽ đi về đâu”. Biết đâu chúng ta đến hồng trần này từ bên châu Phi; biết đâu chúng ta từ cõi ngạ quỷ đầu thai thăng lên hay từ cõi trời “rớt” xuống; và (nếu thành tựu trong Tịnh độ), chúng ta sẽ biết chắc mình sẽ về Cực lạc thế giới khi thân giả tạm này mất. Học Phật nhất thiết phải bám sát kinh điển, vừa học vừa hành. Phật nhập diệt, ngón tay chỉ trăng bây giờ chính là kinh điển và những vị được giới chân tu xem là chứng quả, Bồ tát thị hiện. “Các con hãy lấy Pháp của ta làm đuốc”! (Kinh Pháp Cú). Không nương theo kinh là không tin lời Phật: “Những kẻ không tin lời Như Lai nói là những kẻ mãi mãi thọ khổ”. Một người đời nay không thể không biết - pháp sư ChinKung. Ngài bảo những “người cúi lạy Phật mà không hiểu Phật, không học Phật chính là mê tín”. Thế nên học Phật không hành (ví như học Mật tông lại không trì/nghe chú, học Thiền tông lại không tham thiền, quán chiếu và sống với thực tại tánh giác, học Tịnh độ lại không chuyên niệm Phật đến lịm) thì khác nào bám phần nổi của tảng băng phiêu dạt trên biển. Theo Phật mà xa rời kinh điển dễ mập mờ giữa chánh và tà. (Tuy nhiên), cổ Đức nói: “Y kinh giải nghĩa tam thế Phật oan, ly Kinh nhất tự tức đồng ma thuyết”. Có một ví dụ rất tuyệt: ly sữa bổ dưỡng là Phật pháp, nhưng thêm vào một giọt độc thôi, hỏi ly sữa còn dùng được? Y giáo phụng hành là lẽ căn cốt của người học Phật. Người không tu, không phải vì thế mà khinh khi Phật pháp, đứng trước cửa Không khua chuông đánh trống; không phải vì thế mà ung dung ngoài luật nhân quả, kể cả người theo các tôn giáo khác. Bởi nhân quả vốn thường hằng bất biến, tin hay không thì từng giây phút bất cứ chúng sanh nào cũng bị chi phối bởi nhân quả. Từng giây phút phước họa chiêu cảm từ ý niệm và hành vi của ta đều chi phối đến vận mạng của ta.

Hành vi thì đương nhiên ảnh hưởng đến thọ mạng chúng ta, nhưng khoa học lượng tử đã chứng minh (kinh điển), là những suy nghĩ của chúng ta chẳng những ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của ta mà còn ảnh hưởng đến toàn thể thời không trong vũ trụ. Bản thân tôi từng sản sinh nhiều quan điểm lệch lạc về Phật pháp. Có câu có lời đã được chính thống hóa trong các ấn phẩm, sách xuất bản, sự ảnh hưởng lan rộng, người viết ra nó sẽ nhận về phần nghiệp càng nặng; có câu mới chỉ là ý niệm - những ý nghiệp hằn sâu trong tâm thức trước ngày đến với Phật. Mới hay không nương vào lời Phật thì nhất cử nhất động, nhất tâm nhất ý đều dễ gây nghiệp. Có khi buông ra một câu song (do mức ảnh hưởng) cả cuộc đời không trả hết nghiệp, ai không biết nguyên lý này đương nhiên thường trách trời sao tôi khổ, sao tôi không tạo ác với ai lại khổ thế này.

Từ gia đình bước ra xã hội, tôi gặp nhiều cảnh đời tăm tối. Con người bị dồn vào đường cùng bi đát, con người kêu gào trời Phật, nhưng trời Phật dường như không thấy; nên nghe câu “Chúa đã bỏ loài người, Phật đã bỏ loài người”, tôi tin. Thiển nghĩ trời Phật không có, vậy mình nhìn lên trời làm gì? Hãy cứ bám chân trên đất mà đi. Phật có nêu quy luật nhân quả luân hồi, và Phật thần thông quảng đại sao không đưa loài người thoát khỏi Bể Khổ. Thế nên lần đầu tiên tiếp xúc với chữ Không, tôi xem đó là sự phủ nhận trần gian.

Cơ duyên sao giáo lý nhà Phật vẫn cuốn hút. Học thêm được chút ít, mới hay nghiệp ý về chữ Không thật sự nghiêm trọng. “Không hay Tánh Không là một trong những khái niệm quan trọng nhất trong triết lý Đại thừa”. Luận về Triết họcTôn giáo, Suzuki cũng viết: “Đừng lẫn lộn không với không chi; cũng đừng tưởng rằng có một đối tượng của tư tưởng được gọi là không, vì ý tưởng này đi ngược hẳn với bản chất đích thực của Không. Không nên xác định nó như là tương đối tính, như một số học giả quan niệm. Chính Bát Nhã dạy rằng các pháp hiện hữu tương quan liên hệ như là những kết quả của những tập hợp duyên sinh và do đó chúng là không (…). Chính trí Bát Nhã soi thấy tất cả những hàm ngụ của Tánh Không”.

Một Hòa thượng người Việt Nam ví Không như con số không (0). Nó vốn không là gì song thiếu số 0 thì mọi tính toán trên tiểu học đều tắc tị. “Vì có nghĩa Không này - Tất cả pháp được thành - Nếu khôngnghĩa Không - Tất cả bèn chẳng thành” (Trung Luận - Long Thọ). Không gần như là trung tâm luận Phật giáo. Nếu tôi cho Không là sự phủ nhận trần gian thì cũng khác chi nói Phật giáo phủ nhận nhân gian. Kinh Pháp Hoa có một câu rất đặc biệt: “Các đức Phật chỉ vì một việc trọng đại duy nhất mà ra đời, đó là vì khai ngộ cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật”; "Bồ Tát nếu có thể tùy thuận chúng sanh, thì chính là tùy thuận cúng dường các đức Phật. Còn tôn trọngthừa sự chúng sanh thì chính là tôn trọngthừa sự các đức Như Lai. Nếu làm cho chúng sanh vui mừng thì chính là làm cho tất cả Như Lai vui mừng." (Trích Mười nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát); "Nếu cần hiện thân Tỳ Kheo độ thì hiện thân Tỳ Kheo, nếu cần hiện thân Tỳ Kheo Ni độ thì hiện thân Tỳ Kheo Ni, nếu cần hiện thân cư sĩ độ thì hiện thân cư sĩ". (Kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn); “Không những tự điều phục mình mà còn điều phục cho kẻ khác, không những dứt phiền não cho mình mà còn dứt phiền não cho kẻ khác. Không những tự mình qua đến bờ giác giải thoát, mà còn độ cho người khác đến bờ giác giải thoát”. Dẫu vẫn có người chứng được sơ quả liền “chán bỏ” thế gian, ngồi thiền chìm đắm, quên hóa độ chúng sinh. Thế nên Đức Phật giảng cho những đệ tử đầu tiên chứng đạo: “Hãy lên đường, này các Tỳ kheo, vì lợi ích cho số đông, vì an lạc cho số đông, vì thương tưởng thế gian, vì lợi íchan lạc của chư thiên và nhân loại”; Đức Đạt Lai Lạt Ma căn dặn: “Đã tự xem mình là người noi theo gót chân Phật thì phải luôn tự xét chính mình, tự xét tâm nguyện của mình, và phải luôn giữ gìn nguyện vọng muốn giải thoát tất cả mọi người mọi loài ra khỏi khổ nạn luân hồi”. Kinh Hoa Nghiêm khuyên nhắc bậc chứng Bồ đề phải “vì người mến thích cảnh giới mà nói pháp vô sở hữu. Vì người mến thích chỗ tịch tịnh mà nói pháp phát thệ nguyện lớn khắp lợi ích tất cả chúng sanh”.

“Vạn pháp giai không, duyên sanh như huyễn”. Bàn về Không thực tế không bờ mé: bất khả thuyết, bất khả luận, bất khả tư nghì. Ở cấp độ phàm phu, chỉ sờ mó và chấp nhận đưa ra một khái niệm tạm thời chứ không thể xuyên qua bản thể của nó được. Khoảng một phần tư giây là một khảy móng tay, trong một khảy móng tay có hàng trăm triệu lần sinh diệt, mức cực vi tế. Một lão pháp sư giảng: một giây trên màn hình là sự ghép lại của 24 hình, tức 24 lần sinh diệt, nhưng mắt chúng ta chỉ thấy một bước chân người đi chứ đâu thấy được 24 hình ghép lại. Mức sinh diệt quá nhanh nên nhục nhãn bị lừa.

Con người hợp từ tứ đại, cũng như một đám mây mà ta chỉ thấy đám mây với nhiều hình dạng, chứ đâu thấy hợp tan. Sắc tức thị không không tức thị sắc (Bát Nhã Tâm Kinh). Mỗi người khi sống chính là có hình tướng, lúc chết thì tan rã trở về không (hình tướng). “Ngay cả khi sắc được phân ra thành các phân tử cực kỳ vi tế, hoặc các đặc tánh của nó được phân ra thành các hiện tượng giới chẳng hạn như mùi vị, sự nhận biết về bản tánh của sắc vẫn tồn tại”. (Bảo tàng tri kiến, Thế Thân). Không ấy đâu phải là không. Chính là còn linh hồn (theo cách gọi dân gian; thực tế khái niệm Linh Hồn không có ở pháp Chân đế); gọi đúng là thần thức, hay thức alaya. Tam giới duy tâm. Tâm chứng thì hết thảy mười phương khắp pháp giới hiển bày. “Thế giới này được dẫn đạo bởi tâm tư, thế giới này bị quét sạch bởi tâm tư, thế giới này dưới sức mạnh của tâm tư” (Kinh Samytta Nikàya, I, tr. 39).

Sách Truyền đăng lục chép công án “Con chó của Triệu Châu”: Có người hỏi Thiền sư Triệu Châu: - “Con chó có Phật tánh không? Triệu Châu đáp: “Không”. Phật bảo tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, sao con chó lại không. Không, “cái không có này không phải là làm cho không có mà bản tánh của tất cả các pháp vốn là Không” (Kinh Viên Giác). Và nữa, không là “vô”. “Vô” là vô nhị tướng. Nếu bậc chân tu miên mật, họ chẳng những hòa cùng tạp niệm bất thiện mà cả niệm thiện, để đạt đến, định trong động, tức thường tại định.

Quay lại với ý nghiệp ban đầu. Lúc nghĩ oan cho cái Không, thì hàng loạt suy nghĩ sau đó nối đuôi nhau “nhúng chàm”. Từng đọc một tác phẩm văn học, ý nói Phật tuy lớn khôn cùng song đã “rủ” loài người đi quá xa hồng trần. Cõi mà Phật muốn con người vươn tới gần như ảo tưởng. Cho nên Phật dẫu là Đại Lương Y sợ rằng sẽ ban phát thứ thuốc ru ngủ sự tuyệt vọng mà mình vì tài hèn nên không đạt được.

Nói đạo lộ của Phật vốn ảo tưởng, là bóp méo kinh điển. Kinh chính là Phật. Phật chính là Kinh. Những người đắc đạo hiện thời và các Bồ tát được ấn chứng rất nhiều. Họ chính là kinh điển sống. Ở Việt NamBồ tát Thích Quảng Đức; có Tuệ Trung Thượng Sĩ, Phật hoàng Trần Nhân Tông, Hòa thượng Từ Đạo Hạnh, v.v. Nước ngoài có các tổ sư thuộc Thiền và Tịnh, trong đó như Ngài Huệ năng lưu lại thân xá lợi đến bây giờ. Thời hiện đại có Đức Đạt Lai Lạt Ma; rất nhiều vị chứng quả Thánh, nhiều vị tu niệm Phật đạt Tam muội, và nhiều vị biết trước ngày giờ vãng sanh về thế giới Cực Lạc, lúc đi còn để lại toàn thân xá lợi vàng ròng bất hoại trước thời gian. Một giáo sư uyên bác thỉnh giảng khắp thế giới với số giáo án hạn hẹp, lâu lâu không xem lại thì quên. Một pháp sư xứ Ấn xem đó là kiến thức ao hồ (tạo một cái hồ rồi tát nước của thiên hạ vào), lâu ngày nước không cạn cũng đục. Bậc đắc đạo giảng pháp suốt đời không lặp chủ đề. Có vị riêng giảng bộ kinh Hoa Nghiêm đến 17 năm; lần giảng thứ hai chưa được một phần 5 bộ đã lên tới ba vạn giờ. Có vị suốt ba mươi năm không xem thời sự báo đài nhưng hỏi đến đâu đều tường tận. Đó chính là trí huệ ba la mật, mỗi lời đều như suối mát tuôn chảy.

Có một thực tế, nhiều người bị cuộc đời đánh cho ra “xơ mướp” mới cầu đến Phật. Họ xem Phật ngang với hàng thần linh. Phật là bậc minh bạch, hiểu rõ chân tướng vũ trụ nhân sinh, nên lời Phật đều là nói về bản thân con ngườihoàn cảnh sống; có xa rời thực tế bao giờ. Phật chỉ con đường thấu tỏ cuộc đời vốn bể dâu, cực khổ. Họ phải học và hành theo đúng lời Phật dạy. Thân tâm an lạc, cuộc sống thanh tịnh chính là cực lạc. Nếu chặt phăng các kiếp quá khứvị lai, chỉ giữ lấy một khúc ngắn là cuộc sống tại cõi trược này, dĩ nhiên quan niệm của họ không sai. Học Phật chính là phá mê; “mê” trước nhất là đập bức tường ngăn cách với các kiếp trước sau tương tục. Muốn vậy phải soi mình vào đức hạnhgiáo lý của Phật. Thập thiện chính là máy “phát hiện cái giả” trong mỗi người. Nếu Tứ diệu đế, Tứ chánh cần, Thập thiện, Bát chánh đạo, Thập nhị nhân duyên, Lục độ… là những liều thuốc ru ngủ những người tuyệt vọng, thì có lẽ bây giờ chính là thời… Diệt Pháp, Mạt Kiếp - hết thảy nhân loại đều được thay bằng người máy! Cũng được biết rất nhiều học giả, nhà khoa học tầm cỡ trên thế giới sau chặng đời “loanh quanh” đã quay về nghiêm túc học Phật, tôn đạo Phật làm Thầy. Tương lai hòa bình thế giới, thực sự Phật pháp đóng một vai trò trọng yếu nếu biết nương vào, biết trì giữ giới luật của Phật để ai cũng được ân hưởng từ quy luật vũ trụ nhờ ý nghĩhành vi tương hợp với tánh chân thiện của vũ trụ.

Trong văn học, tôi từng sản sinh nhiều câu chữ khiến bây giờ đọc lại mới thấm tội đã gieo. Trong một truyện ngắn, sau khi khen đạo hạnh của vị sư nọ, tôi liền nhét vào mồm nhân vật ấy những lời: “đâu như cha thầy chùa hay tới nhà con mệ đầu xóm này này… Năm ngoái cha tới tìm mua đất, nói xây cái am tịnh tâm. Tịnh đâu chả thấy…”. Bây giờ mới hiểu để kịp sửa lại: “Chứ mô như thằng cha giả cạo đầu làm sư hay tới nhà con mệ đầu xóm này…”. Tuy chỉ đính chính được vài nơi; nhiều cuốn sách được in, nhiều trang web “mặc định” hoặc google lượm lặt, không thể sữa chữa ngoài việc sám hối, chuyển tâm về với Phật, dùng chánh kiến hóa giải tà kiến.

Những dòng trên, dân gian nhìn vào họ sẽ nói: “À, thầy tu là như vậy đó, Phật giáo là như vậy như vầy, rồi “quy kết” Mạt Pháp. Thực tế Pháp thì vẹn nguyên. Phật Thích Ca bảo, đến thời Diệt Pháp (sau khoảng 9000 năm nữa) Pháp chỉ còn “Nam mô A Di Đà Phật”. Người chuyên sâu Tịnh tông đã thấy, ấy là vạn pháp được nén vào 6 chữ (hoặc 4 chữ A Di Đà Phật). Thoát luân hồi phải là mục tiêu căn cốt nhất trong kiếp người. Không nhắm đến mục tiêu này, “duyên” rơi vào tuyệt lộ dễ như bỡn. Chúng sinh là danh từ dùng chung cho tất cả sinh linh trong tam đồ. Bể Khổ cũng chính là Tam giới (Kinh Pháp Hoa ví là ngôi nhà lửa - Tam giới như hỏa trạch). Con người không nhìn thấy ngạ quỷchúng sinh trong địa ngục, không chịu tin mình cũng có duyên vào đó dạo chơi nên không tin đời Bể Khổ, cũng dễ hiểu (!).

Trong sự gọi “Mạt Pháp”, ở tôi góp thêm tội nghiệp. Kinh chép, thuyết giảng cho ngài Trừ Cái Chướng xong, lúc bấy giờ Đức Phật bảo ngài A Nan: "Nếu ai khinh mạn chư Tăng Ni, thì người này sẽ sanh trong gia đình bần cùng hạ tiện. Ở mọi nơi sanh ra, các căn đều chẳng hoàn chỉnh, gù lưng, lùn và xấu xí. Lúc xả báo thân đó, thì khi sanh ở đời sau sẽ chịu nhiều bệnh tật, gầy ốm héo hon, chân tay co quắp, có máu mủ ứa ra và nhiểu khắp trên thân thể...”. Chưa nói kiếp sau, mà với quả báo nhỡn tiền, tôi đã chứng kiến cơn bệnh trầm kha của nhiều người coi trời bằng vung, không chút tín tâm về miền huyền diệu, thỏa sức tạo nghiệp, thỏa sức kiêu mạn và đang tâm sát hại, tổn hại người và vật, khiến quãng cuối đời thực sự là địa ngục đối với họ.

Bước đầu tiên vào cửa Phật, đã thấy được sức hút của Phật học về các tầng trời, các cảnh giới, tôi vẫn có một sự so sánh kỳ cục. Một nhân vật không thể cưỡng sức hút ghê gớm của đàn bà, nhân vật ấy ví sức hút đó cao hơn sức hút của Đạo, từ đó bẻ gãy mầm Phật pháp. Sức hút tinh thần chính là sức hút từ cõi thiêng vốn sẵn trong mình. Tinh thần ở đây có thể hiểu là Tâm. Tâm là đích tu mà đạo Phật nhắm tới. Tâm như “hạt minh châu” bị cơn lốc cuốn theo mọi tạp nhơ; vạn duyên buông xuống, tay không sẽ thõng vào hư không pháp giới. Còn sức hút ghê gớm của người đàn bà là sức hút của mê. Mê quá sâu cái hạ tiện! Hòa thượng Tuyên Hóa giảng Kinh Địa Tạng đã nhắc kẻ đương cơ, dâm chính là hổ, chưa hàng phục được dâm chính là chưa hàng phục được hổ. Vạn ác dâm làm đầu; mê sâu dục lạc sẽ khiến con người bỏ lại phía sau tâm hiếu kính khiêm hạ vốn là nền tảng là thước đo giá trị kiếp người, với người chuyên tu thì khó lòng nhấc chân khỏi mặt đất. Bởi mê quá sâu cái thấp hèn nên trí tuệ bị che mờ. Giới của người chuyên tu luôn xem trọng tránh sa vào cái thấp hèn, vì nó là nghiệp dẫn đầu khiến tâm không định, tâm không định sẽ không sanh trí tuệ, không sanh trí tuệ sẽ không soi chiếu trở lại thứ ánh sáng khiến người ta bước lên một tầng thanh cao, để hưởng pháp vị vượt lên mọi dục thế gian.

tác phẩm khác chưa công bố, mô tả cảnh người người đổ xô về chùa tìm chốn nương thân lánh nạn, tôi phán họ xuất thế gian chạy đi tìm Cực lạc. Những nhân vật không có chút khiêm hạ, không có lòng tự trọng, trốn tránh việc thế gian trong thời tao loạn chạy lên chùa xài đồ chùa mà phán là tìm Cực lạc! Thực tế trong trăm ngàn người, để thấy người chân thật trì giới tu Tịnh độ nguyện sanh về nước Phật, phải tìm mờ mắt. Bậc đại đức, tài sản của họ chỉ vài bộ y, mỗi ngày ăn đạm bạc không thể đạm bạc hơn, bữa ăn của “hộ nghèo”; họ không nắm tiền, hết thảy vật cúng dường dành làm từ thiện, ấn tống kinh điển hoằng pháp lợi sanh… Kinh ví một hạt gạo cúng dường nặng tựa núi Tu Di, người tu nhận rồi phải vắt chân đêm ngày mau chóng viên thành chánh quả, thực hiện ước nguyện lớn nhất: “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”. Hòa thượng Tuyên Hóa, trong một buổi giảng Kinh năm 1969 có dặn: “Đừng nói là người tại gia, ngay cả tôi tuy là kẻ xuất gia, song hễ đến trú ở bất cứ Thường Trụ nào, tôi đều có cúng dường. Nếu quý vị quả thật là không có tiền thì không sao, nhưng nếu có tiền thì chớ nên xâm tổn của Thường Trụ; cho dù là người xuất gia cũng không nên xâm tổn của Thường Trụ. Bởi Thường Trụví như đại địa, là nơi trú ngụ của đại chúng; nếu quý vị phá hoại, phung phí của Thường Trụ, khiến cho đại chúng bị thiếu thốn, không đủ ăn, thì quý vị có tội rất lớn”. Thế nên dòng người chạy đến chùa chiền xâm hại ở trên tội thực không nhỏ. Tam bảo là nơi dành cơ hội duy nhất cho con người thoát khỏi sự lầm mê. Chúng ta xâm lại Tam bảo cũng bằng tự che mắt thánh làm điều sai quấy. Kinh Đại thừa trang nghiêm bảo vương nêu chi tiết những ai phương hại, chiếm đoạt Thường Trụ lãnh quả báođịa ngục nhiều kiếp thật khủng khiếp, sau đó mới thác sanh vào trong một gia đình bần cùng hạ tiện với hình hài dị tật.

Một vấn đề rất cũ, và cũng đã được cắt nghĩa: Phật không phải thần thánh. Dĩ nhiên, người chứng sơ quả tức siêu phàm nhập thánh. Quả vị cao hơn như Sơ trụ Bồ tát họ đã đầy mình thần thông. Song không bao giờ có chuyện họ thị hiện. Do chúng sanh cần tự ngộ; hiển bày thần thông chẳng khác đưa “mồi” dụ dỗ (vốn có ở Ma), đánh mất cơ hội giác ngộ của người tu. Không ngộ dẫu có tu được chút thần thông cũng chẳng thể lên nước Phật. Đây là chân lý của Đạo. Bước biến chuyển sai lầm của tôi bắt đầu: Lúc gặp người kêu oan “vô vọng”, tôi không cho rằng có Phật; chập chững theo Phật, lại cho “ông” là bậc siêu nhiên. Bây giờ mới lờ mờ hiểu cái lý Phật “không phải” thánh thần. Tin thần thánhtín đồ tôn giáo (trong khi gốc Đạo Phật không phải tôn giáo). Phật chỉ vào mỗi người và bảo: Phật tánh (chứa đầy đủ phước báu và trí huệ) có sẵn trong tâm vọng kia, hãy tin ở chính mình, trọn làm theo lời ta sẽ đến bờ giác ngộ); ai tin và hành theo Giới - Định - Tuệ mới chính là con Phật. Ngài từng căn dặn: “Nếu con coi ta là Phật, con sẽ không bao giờ thấy được Phật. Nếu con lắng nghe giáo Pháp của ta mà coi là Pháp, con sẽ không bao giờ thấu đạt được chân Pháp.” Gyalwang Drukpa XII gọi đó là "thông điệp vĩ đại”. Kinh Kim cang Bát nhã Ba la mật: "Nếu như vị A la hán nghĩ thế nầy: Ta chứng được quả vị A la hán, thời chính là còn chấp trước tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả". Nên có đạo lý: hễ ai phát ngôn chứng thánh (dẫu là quả Tu đà hoàn), người ấy sẽ bị tước bỏ. Lúc ấy họ chẳng phải từ đọt tre rơi xuống mặt đất mà chính là từ trên trời rơi thẳng xuống... hố đen. Nhà Phật có treo khẩu hiệu ngầm: hễ hôm nay để lại thân phận hoặc bị lộ mình là Phật hay Bồ tát tái lai, ngày mai họ sẽ rời nhân gian: (Bố Đại hòa thượng (Phật Di Lặc), Hàn Sơn, Thập Đắc (Bồ tát Văn Thù, Phổ Hiền), Vĩnh Minh thiền sư (Phật A Di Đà),… Chuyện về tổ Ấn Quang thời hiện đại (được xem là Bồ tát Đại Thế Chí tái lai) là một minh chứng điển hình.

Ngôn ngữ vốn dừng lại ở mức gọi tên cái đã có tên (siêu ngôn ngữ), với Thiền, ngôn ngữ chỉ tạm gọi tên điều bất khả (“Nếu pháp rốt ráo thì pháp tánh của tự tánh chẳng phải là tự tánh. Pháp thí dụ không thể thuyết. Nếu dùng danh tự cũng không thể thuyết. Đây là một pháp mà Như Lai giác ngộ” (Kinh Vô Tự Bảo Khiếp; đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh - Lão Tử). Chúng ta thường dịch Thiền là suy tư mặc tưởng (Méditation). Nhưng thiền vốn rỗng Không, vốn là thực tại nhi nhiên, trong sáng đến… ngây thơ. “Lập thiền” thì nhiếp tâm theo dõi mọi biến thái chạy qua tâm mà không dùng lý trí, không tâm tùy cảnh chuyển. Hoặc có thể thiền Tứ niệm xứ; đầu tiên là quán (tạm xem là suy tư mặc tưởng) về thân bất tịnh: từ lúc còn trong bụng mẹ, sinh ra bùng nhùng nhau thai nhuốm máu, quán đến những chỗ bẩn nhất trên cơ thể, quán trong mình chứa thứ hôi thối, quán bệnh tật mụt nhọt ghẻ lở, quán lúc chết nằm trong quan tài rữa nát… Đến một lúc hành giả sẽ định lại ở một mảnh người nào đó. Cao nhất là Thiền tự tánh thuộc Đại thừa, nghĩa là Tánh vốn định, đi đứng nằm ngồi đều ở trong định. Tôi từng được thân cận với người niệm Phậtnhư không niệm, là tâm niệm, họ đứng hay ngồi hay nằm đều có thể định được.

Đời nay vẫn có nhiều bậc trì giới một cách nghiêm ngặt. Lấy giới làm Thầy theo “di chúc” của Phật. Nhưng lắm người nhìn vào lại phản bác sự “khổ hạnh” đó. Họ không cần biết giới luật là mạng sống của Phật pháp, ở đâu không có giới luật ở đó không tồn tại Phật pháp. Giới luật vốn là nền móng, không có nền móng là xây nhà giữa hư không, vin vào một niềm tin ảo tưởng. Phật đưa ra lối tu trung đạo (hành theo Bát chánh đạo). Tuy nhiên cần hiểu sâu hơn. Một hành giả chân chính phải ngày vài ba lần tham thiền, hoặc vài ba lần tụng kinh niệm Phật, lạy Phật, ở chùa thì ai nấy 3 giờ sáng là đã thức dậy chuẩn bị công phu. Đối với các bậc thượng căn thì mức độ hành trì còn “khủng khiếp” hơn nhiều. Hòa thượng Quảng Khâm một mình lên núi bế quan, ăn rau củ tự kiếm, nhiều lúc thiếu thốn suýt mất mạng. Ngài Hư Vân “tam bộ nhất bái” xuyên mưa gió bão bùng, đồi núi, một mình băng băng. Tâm không vững thì dẫu là thân sắt cũng gục ngã. Nghị lực phi thường đó nhiều lần kéo thiền sư khỏi cõi chết nhập thánh duyên. Luyện tâm là khó nhất trong mọi sự luyện (luyện thân, luyện trí, luyện đan, luyện gang thép…). Không nhẫn nhục khổ ải thì cái vé lên nước Phật rẻ rúng quá sao? Bậc minh sư đưa ra hai phương án: đời này chịu khổ chút chút để có Vô lượng thọ, ngược lại truy tìm cái sướng giả ảo một kiếp để nhận lãnh vô lượng nghiệp trong ác đạo, tùy chọn.

Nhớ hồi đọc Thiền luận, tôi gán yếu tố “cơ hội”, “ăn may” trong việc đốn ngộ. Kinh Pháp hoa: “Nhược nhân tán loạn tâm, nhập ư tháp miếu trung, nhất xưng Nam Mô Phật, giai dĩ thành Phật đạo”. (Nếu người tâm tán loạn, đi vào trong tháp Phật, niệm một lần ‘Mô Phật’, cũng đủ thành Phật đạo). Sự “thành Phật đạo” này hiểu là "sẽ thành" như Phật nói: "Ta là Phật đã thành chúng sanh là Phật sẽ thành"; còn thành lúc nào thì chưa biết được. Nhiều người nhờ nhân lành trong đời trước, phút lâm chung hội đủ nhân duyên, nên chỉ “mười niệm” vào thời điểm cận tử liền được tiếp dẫn lên thế giới thanh tịnh của Phật A Di Đà. Câu chuyện chép trong kinh: một ông già đến quy y với Phật, rồi đắc quả; các đồ đệ ngạc nhiên vì họ nhìn trong nhiều đời quá khứ của ông không thấy có nhân. Phật mới nói: các ông chỉ nhìn thấu suốt tám mươi vạn kiếp lại đây còn trước đó các ông không thấy; có kiếp ông ta là một tiều phu, lên rừng bỗng dưng gặp hổ, ông trèo lên cây, ngửa mặt lên trời "Nam mô Phật" cứu độ. Đấy là câu niệm Phật bằng cả máu huyết. Nhân lành ấy gieo, sau hơn tám mươi vạn kiếp mới viên mãn Bồ đề. Để thấy có người niệm vạn câu Phật hiệu vẫn không rút ngắn kiếp nào trên đường dài tiến hóa căn mạng, có người hành thiện suốt đời vẫn không tích được bao nhiêu phước đức, có người tu theo kiểu gieo nhân, nên mãi vẫn phàm.

Cũng như bản thân lạm bàn về giáo pháp thật vô cùng hổ thẹn. Phật họcđại dương, tôi chỉ có vốc nước soi khuôn mặt nhớp nháp của mình. Phóng con tàu hạnh nghiệp quá sớm lúc chưa đủ sức đuổi theo, những dòng thô mộc là mong người đọc ghi nhận ở tôi lời sám hối chân thành.


 

 

Phía sau văn bản đời người

 

 

Phật pháp là ngôi nhà chung của nhân loại. Nhưng những ai theo cuộc sống tạm bợ trần ai vẫn còn ngại ngùng bước vào. Một bài viết pha chút giáo lý nhẹ nhàng, người ta tạm gật đầu; thêm về thuyết nhân quả luân hồi người đọc hoài nghi; sâu thêm vào các tầng trời cõi Phật, về Tam giới liền bị chối. Cũng như một người bỗng đâu ai đó ngồi bên tỉ tê nghiệp quả phước báo, nghe chút thì vui vui gật gật, thêm nữa liền kêu đủ rồi.

Cuộc sống vật chất luôn tích trường nghiệp lực che lấp phần minh tuệ. Ấy nên Jesus mới phản tỉnh: Người giàu muốn vào nước Chúa cũng khó như con lạc đà chui qua lỗ kim. Nói vậy dễ bị quy kết con người đi thụt lùi, xã hội không phát triển. Về con người, hãy làm một phép so sánh mối quan hệ trong gia đình, mối quan hệ thầy trò và họ hàng làng xóm ngày xưa với đời nay thì rõ nhất ở mặt hiếu - lễ - kính. Về mặt xã hội, người ta cũng sẽ bảo Tây Tạng là vùng đất lạc hậu chậm tiến. Sự lạc hậu chậm tiến đó nay cả nền khoa học triết học thế giới đổ về nghiên cứu khám phá, học và hành.

Tâm lý học Phật giáo Duy thức đã giải phẫu tỉ mỉ con ngườiTâm lý học và cả Y học hiện đại cũng thán phục. Kiếp trước kiếp sau cũng là sự thật hiển nhiên theo cái nhìn khoa học. Thời điểm cuốn Tử Thư Tây Tạng ra đời từ thế kỷ thứ VIII, nó “giấu mặt” suốt 6 trăm năm để người đời đủ thời gian tỉnh táo tiếp nhận. Nhưng tác giả cũng không ngờ là cho đến nay, khi được dịch ra nhiều thứ tiếng nó vẫn nằm bụi bặm ở các quầy sách lớn trên thế giới. Người ta hoài nghi, e dè kiêng kị, sợ chạm vào nó kiểu như chạm vào xác chết. Mà đâu ai tránh được cái chết. Ngay cả tỉ phú đủ tiền mua một thành phố, vẫn chết rất trẻ. Nếu con người điều khiển được quy luật nhân quả, hẳn nhiên các tỉ phú là người sống thọ nhất. Khi cái chết chiếm lấy thân, giống như ta (không hay) được trang bị thở bình ô xi rồi nước dâng lên quá đầu… ta mới à lên thì ra sự sống vẫn tiếp diễn. Sự tu tập sẽ có cơ may sau khi người ấy trải vòng luân hồi hắc ám trong các nẻo. Phủ nhận nhân quả luân hồi là phủ nhận khoa học hiện đại; phủ nhận hành trì tâm linh, dẫu là thiên tài chết đi “thiên tai” sẽ phủ trắng những gì ta có. Trôi lăn khổ não qua nhiều kiếp, phải ăn mày từng câu kinh mong được siêu thăng. Người ta vẫn thường xây lăng mộ cho người thân và xem đó là ơn đức. Thay vì xây lăng mộ, nên dùng tiền đó giúp kẻ bần khó, phóng sanh hành thiện may ra người thân bên kia mới như cánh diều được cắt dây. Còn không họ chỉ chia nghiệp dữ từ việc phung phí tiền của vào lăng mộ cho mình. Nhiều nhà ngoại cảm ra nghĩa trang thấy vô vàn người đứng ngồi san sát. Hầu hết còn bị nghiệp trì níu. Những vong hồn ấy như vô vàn quả bóng. Việc cứu chuộc không đơn giản dùng kim chích vào cho nổ tan. Họ chỉ biết mình đang chịu nghiệp (đứng đó), không biết bao giờ mới được độ nếu thân nhân không ngày đêm tích phước hồi hướng. Người ta lại sẽ thốt lên, xưa xa đến nay ông bà tổ tiên nội ngoại bao người đã sống và chết đi có ảnh hưởng gì đến sự sốngngười dương? Nhưng, chúng ta có biết và có tìm hiểu những người đã mất họ giờ ở đâu, là ai? Hẳn ta không dám biết? Phật pháp với lòng tư bi vô hạn đã giấu giùm chúng ta.

Người Ai Cập linh cảm được “điều gì đó” sau cuộc đời nên xem cõi này tạm bợ, mới xây Kim tự tháp; dĩ nhiên đây lại là một bước sai lầm, bởi để chuẩn bị cho kiếp sau chỉ xây cho mình một nấm mộ lớn thì quá đơn giản. Dân gian có câu “sống gửi thác về”. Thần Chết là một mãnh hổ từ nhỏ sống trong rừng sâu địa thẳm, sa bẫy. Người ta do vật chất che mờ nên không biết Thần ấy đã được thuần dưỡng, nên chẳng bao giờ dám thân cận vuốt ve. Người ta nhìn Thần Chết với ánh mắt lạnh lùng, để rồi Thần Chết đối với người đó khô kiệt tình người, ác tâm dần dần khôi phục.

Sống trong vòng tay của Đạo, con người sẽ an bình tự tại. Chấp dùng vật chất làm thần hộ mạng chẳng khác ta tự tù đày cuộc sống của mình. Từ cái mũ bảo hiểm nhỏ, người ta kiếm cho bằng được tiền tậu cái “mũ bảo hiểm lớn”, tậu danh vọng rồi sanh tâm kiêu ngạo. Con ngườiđại ngã thì trên đầu họ không phải bầu trời mà là cái vung! Ai cũng có quyền hưởng thụ. Có tiền, ai cũng có quyền ăn uống xả láng nếu trên hành tinh xanh không còn vô vàn người chết đói; ai cũng có quyền xả nước sạch ào ào, tắm bồn hàng ngày nếu trên trái đất này như ở vùng châu Phi không còn người dật dờ bước hàng chục km để được uống một hớp nước; ai cũng có quyền thắp ánh sáng suốt đêm (mà chẳng để làm gì) và phung phí các thiết bị xài điện vô ích khác nếu như một phần của trái đất không chìm trong bóng tối. Nếu như những vùng nghèo đói thiếu điện thiếu lương thực thiếu nước, thiếu đủ thứ ấy được dời đến gần thành phố chúng ta… Không cần ống nhòm hay kính viễn vọng; nhìn bằng con mắt của đạo, tất thảy nỗi đau đều bên cạnh chúng ta.

Sự tích nghiệp dường như vô tình và nằm ngoài sự kiểm soát sẽ khiến con người cõng đá bước trong đầm lầy ở bên kia núi. Hay nghiệp ấy sẽ là trùng trùng đất đá tấp lên thân xác... Ví cái chết như thay áo, chưa đủ. Ta tích nghiệp, kiểu như một con rắn oằn oại lột da. Quá nặng nghiệp thì gần như chính ta lột da mình. Cái đau rên xiết ấy sẽ thấm dài vô tận. Người đời vẫn dạy con cháu sống cho xong kiếp này hẵng tính. Có thể ví sự sống như một viên kim cương luôn bất ly thân, và rồi tên trộm (thần chết) sẽ nhón đi bất cứ lúc nào bạn lơ đễnh. Nếu có ông thầy bói cực giỏi xem chính xác số mạng, liệu ai có dám đối diện với thông tin kinh hoàng đó. Hay, ai cũng vô tình “muốn” cái chết đến bất ngờ.

Cái chết dẫu đến bất ngờ chăng nữa, thì nó cũng không quan trọng nhiều nếu phía sau đó là số 0. Thử tưởng cái chết đến với ta... hay ngược lại cái chết đến với người thân; ta tiễn họ lên con tàu về vô xứ. Họ không có gì mang theo, trong lúc ta chẳng có một đồng (phước đức) dúi vào tay họ; ứa nước mắt trước cảnh họ lầm lụi trong mù mịt, vừa lê bước vừa xin ăn, rồi bao tai ương chướng ngại như thác lũ... Thầy Drakpa Gyaltsen có nói: “Loài người trải qua suốt cả đời để chuẩn bị hết việc này tới việc khác chỉ để thình lình bắt gặp đời sau mà họ hoàn toàn không chuẩn bị”. Nếu biết tin sau sự sống này là một sự sống khác vô tận với biết bao trầm luân, với biết bao kiếp nữa phải kinh qua hẳn con người đã không tranh giành giẫm đạp nhau chạy theo xa hoa. Nếu an tu tự tại, một bữa ăn vài món rau cỏ, người ta vẫn vui so với bữa đại tiệc mà kẻ dự phần vẫn thấy món này nấu chưa đạt, món kia còn thiếu một vài hương vị... Nhiều người băn khoăn sao nhà sư phải tự rước khổ, đâu biết họ quá ư hoan hỉ. Vật chất không thể là thước đo an lạc. Thật nghịch lý khi cha mẹ tích trữ tiền bạc đến cả đời con sống vương giả thỏa thuê. Những đứa trẻ đó sẽ chỉ chú tâm vào việc tiêu tiền và tích nghiệp. Kho tàng mà chúng ta để lại cho con cháu không nên vàng bạc châu báu mà nên là kho tàng tâm. Từ nhỏ một đứa trẻ đã bị gánh nghiệp. Với một gia đình có mức sống khá, trong dăm năm đầu chúng đã không thiếu thứ gì, nhất là khoản ăn mặc. Từ nhỏ chúng không nếm khổ. Nhiều cha mẹ còn ép con dùng thịt và hải sản thay cơm. Chúng sẽ chịu hai loại nghiệp: Về tâm linh là nghiệp sát do ăn mặn; về khoa học chúng sẽ mang bệnh do thừa chất. Bệnh vốntừ nghiệp tích tụ trong tâm. Tâm là ngọn đèn của thân. Đèn sáng thì thân vô nhiễm. Rồi sự chiều chuộng, vun vén vị kỷ... Cha mẹ cũng hại con? Đúng, bởi họ không biết mình đang bơi ngược dòng minh triết.

Phật pháp không phải là miếng mồi giơ ra để con người nổi tham chụp lấy. Trong kinh Phật lý giải tiến trình khám phá chân lý phải theo nguyên lý Tín - Giải - Hành - Chứng. Người phàm chúng ta bởi luôn bị điều động bởi Tham - Sân - Si - Mạn nên nếu không thực hành tâm pháp, cao lắm chỉ đạt mức Tín và Giải, tức “thế trí biện thông” - một trong tám nạn ngăn chặn sự tiến hóa vận mạng. Đại diện của khoa học đến như nhà bác học Albert Einstein chứng nghiệm thành tựu trọn đời đã phát biểu: "Chỉ tri thức và kỹ năng thôi không thể dẫn dắt loài người đến một cuộc sống hạnh phúc và có phẩm giá được. Những người khai sinh ra các chuẩn mực và giá trị đạo đức cao quý luôn xứng đáng được nhân loại đề cao hơn những người khám phá ra chân lý khác quan…. Những gì nhân loại chịu ơn những nhân cách như Đức Phật, Moses và Jesu đối với tôi còn cao hơn tất cả thành tựu của những bộ óc khám phá và phát minh". Tin khoa học, nên tin điều khoa học đã chứng minh trước nền văn minh chúng ta từng có những nền văn minh tột đỉnh khác đã hủy diệt. Khoa học cho biết loài người tiến hóa từ khỉ là phi lý, song trong đầu ta lúc nào cũng mặc con khỉ nhảy múa trêu đùa!

Con người hiện hữu trên trái đất do duyên nghiệp từ các kiếp trước. Đức còn, nghiệp chưa sờ đến. Đức vơi, là lúc nghiệp đánh hơi, tâm rối, tướng mạo bắt đầu mất dần sắc khí. Nhiều người tiền bạc phủ phê; cũng như các dòng tộc sống ác vẫn còn chút bình an là bởi phước họ quá nhiều, một đời xài chưa hết. Dấn thêm vào đời sau hoặc sau nữa họ sẽ lâm nguy và có khi nghìn vạn kiếp chưa thấy mặt trời. Tất cả những điều này nói ra sẽ là viễn vông đối với những ai không tin Đức Phật là bậc đại trí huệ. Người Tây Tạngnghi lễ: vẽ bức tranh tuyệt mỹ bằng một dạng màu như cát. Mandala. Họ vẽ trong chánh niệm, trong cõi thiền tuyệt tĩnh mất hàng tuần mới xong. Đỉnh cao nghệ thuật. Mê hồn. Song vừa lúc bức họa hoàn thành liền bị xóa đi. Đời người cũng như vậy. Bòn rút thời gian tô vẽ trau chuốt, đẹp như bức tranh kia cũng trong một giây thôi. Có thông điệp nào thâm thúy đến vậy. Tử thư Tây Tạng, xem là chìa khóa mở mở một góc nhìn về kiếp khác, bắc cầu đến ánh đạo vàng. Để nhận chân sự hiện hữu của chúng ta mong manh như mây mùa thu như lời Phật. Để biết mình sẽ phải đi về đâu. Để biết đạo Phật đã thấm vào căn cốt của người Tây Tạng từ hàng chục thế kỷ trước nên ở họ luôn toát ta đức khiêm cung và hương bát nhã.

Tạng thư sống chết của Sogyal Rinpoche viết:

“Nếu ước muốn sâu xa nhất của chúng ta quả là sống và tiếp tục sống, thì tại sao ta lại cả quyết một cách mù quáng rằng chết là hết chứ? Ít nhất cũng nên thử thám hiểm xem có thể có đời sau hay không đã chứ? Nếu quả thực chúng ta có óc thực nghiệm như ta tuyên bố, thì tại sao ta không khởi sự tự đặt câu hỏi cho mình một cách nghiêm chỉnh: “Tương lai thực sự của ta nằm ở đâu?” Chung quy, chẳng có mấy ai sống lâu trên trăm tuổi. Và sau thời gian đó là cả một thời gian vô tận trải dài, không được giải thích...”.

“Nếu bây giờ chúng ta không chịu chấp nhận cái chết trong lúc ta đang sống, thì chúng ta sẽ phải trả giá rất đắt suốt cuộc đời, vào lúc chết, và sau khi chết. Hậu quả sẽ là, ta tàn phá cả cuộc đời này và tất cả những đời sắp tới. Ta sẽ không thể sống cuộc đời mình một cách viên mãn, ta sẽ cứ bị giam hãm trong cái phần phải chết của ta. Sự vô minh này sẽ cướp đi của ta cái căn bản của cuộc hành trình tiến đến giác ngộ”.

Biết về sự sống sau cái chết, chắc chắn ai cũng lo chuẩn bị cái chết. Tức hành trang về cõi chết luôn sẵn trong tâm. Nhiều người suốt đời chuẩn bị cho cái chết vẫn chưa đủ tự tin để chết, huống hồ chỉ lo đến tờ di chúc và những gì bày biện dưới cái rạp tang. Trong ngàn vạn pháp môn làm phương tiện cho người thoát bể khổ, Tịnh độ tông chủ trương niệm "A Di Đà Phật", niệm đến nhất tâm khi chết sẽ từ cõi Cực Khổ bay về Cực Lạc trang nghiêm thanh tịnh. Nhưng ai đã niệm Phật mới hiểu không dưng chưa hề gội rửa bằng thiện nghiệp lại có thể định tâm. Tương đương với việc cuộc sống của họ phải như nhiên không hề nhúng tay vào cấu uế, và trong đầu hễ không phải lo việc thế gian thì luôn luôn "A Đi Đà Phật", lúc ngủ cũng như thức đều sống với câu hồng danh khai trí tuệhuệ mạng này. Trong tâm họ luôn có "A Di Đà Phật", và cái chết dẫu đột ngột viếng thăm thì xem như nắm được vạt áo của Đức Quán Thế Âm, Bồ tát Đại Thế Chí tiếp dẫn về cõi Tịnh. Chuẩn bị cho cái chết, nó đâu ảnh hưởng gì đến cuộc sống của ta. Nó chỉ “cướp đi” sự ích kỉ hẹp hòi trong mỗi ta thôi. Phú quý sinh lễ nghĩa. Chúng ta quá sa vào lễ nghĩa. Lễ dành cho cái chết thật ra chỉ quan trọng khoảng một giờ trước lúc người ta tắt thở và sau đó khoảng 9 tiếng yên tĩnh ngoại trừ lời khai thị giúp họ bước qua cánh cửa màu đỏ. Sau đó cái xác... vô dụng. Thế nên ở Tây Tạng mới có tục Thiên táng (để xác trên núi cao "cúng dường" cho lũ kền kền có được bữa no).

 Hiểu Đạo Phật không khó. Khó là ta chỉ hiểu mà không chịu hành; không mang thai nghi tình nên chẳng thể nào khai phóng bản thể. Học rồi hành rồi soi trở lại những điều mình học, sẽ cảm được niềm vui khôn tả. Ta hiểu thiền là meditation (suy tư mặc tưởng...), lúc hành thiền sẽ nhận ra ngôn ngữ không thể diễn đạt linh nghĩa Thiền và diệu lý của Tịnh. Lời Phật vang đến ngàn sau: "Cái thế giới của sinh tử mà ta đang sống là một biển khổ vô biên không thể nào chịu nổi. Chỉ có một con đường duy nhất ra khỏi vòng sống chết bất tận đó là con đường giải thoát. 49 năm thuyết pháp, trước lúc nhập diệt Phật Thích Ca lại bảo “Ta chưa nói điều gì”. Là sao? Bởi: (1) Ngài bảo ta chỉ hoàn toàn thuật lại lời dạy cổ Phật (như Khổng Tử nhận mình nói lại lời cổ thánh không thêm bớt không sáng tạo - thuật nhi bất tác); (2) Lời Phật như thuốc trị bệnh; Ngài sợ đời sau chấp văn tựchân lý - như uống nhầm thuốc, nên “ngón tay chỉ trăng” phải rụng; (3) Theo lý Bát nhã, mọi lời nói của Phật đều tuôn chảy từ Tự Tánh, nên nói mà không nói, ấy là nghĩa Vô Trụ; ai chấp lời nói thành ra Có Trụ mất rồi; (4) Một lời trong kinh điển gồm vô lượng nghĩa. Đời sau dựa trên mặt ngữ nghĩa diễn dịch theo ý mình thì đã phần nào sai biệt (Y kinh giải nghĩa tam thế Phật oan/ Ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết); (5) Phật muốn mỗi người “hãy tự thắp đuốc mà đi, đừng dựa vào ai khác; hãy y vào chánh pháp” soi đường.

Nếu ta không tự đập bức tường ngăn giữa hai cõi sống - chết; chúng ta không tin nhận lời Phật dạy, ban phát tâm từ đến tha nhân gắng sống một đời phạm hạnh thì sẽ không ai cứu được. Dẫu Phật ngậm tiếng hàm oan bỏ mặc muôn loài.


 

Con người giấu cái đuôi ở đâu?

 

 

Có thể, khi minh định được loài người thoát thai từ đâu, hẳn đó là giai đoạn đầu của sự hủy diệt, bởi chúng ta quá chậm tiếp cận những chân lý mầu diệu. Nhân loại bằng tiến bộ vượt bậc của khoa học, những bí mật lớn về tâm linh đã rọi ra tia hy vọng cứu rỗi giống loài. Nỗ lực vén bức màn vô minh thấu cảm chân tướng vũ trụ sẽ vô vọng nếu không dựa vào khoa học huyền bí.

Chúng ta biết, trái đất từng trải qua thảm họa Đại hồng thủy cuốn sạch người Át-lan; riêng đỉnh Himalaya và Tây Tạng nước không vươn tới, nên hiển nhiên nó được đoán định là nơi cất giấu hạt giống loài người. Ngành khảo cổ học cũng tìm thấy trong các hang động cổ xưa hình vẽ mô tả các loại máy móc về Y học, hiện đại hơn cả bây giờ; xem là nền văn minh tiền sử bị lấp vùi. Việc phát hiện ra các bích họa tuyệt mỹdãy núi Alps; những dấu chân hóa thạch có niên đại cách nay mấy trăm triệu năm đã cho thấy người tiền sử từng sinh sôi, rực rỡ vượt xa nền văn minh chúng ta. Rồi giới khảo cổ còn tìm thấy các di vật cách hàng tỉ năm, khi mà vỏ trái đất chưa thật hoàn thiện... Nên biến cố “trùng tang” giữa các hành tinh, có nguy cơ gây nên bão từ không gì lạ. Nhiều năm trước có một hội nghị khoa học khám phá ở Sydney, trọng tâm bàn về tương lai ảm đạm của trái đất. Bản tổng kết không báo động cũng không đảm bảo sự an toàn cho loài người. Tuy điều đáng lưu ý, họ hy vọng cư dân trên địa cầu từ nay "bỏ ác dương thiện, cải tà quy chánh, đoan chánh tâm niệm” để cứu rỗi đại họa. Bởi tư tưởngý niệm bất thiện của loài người (chưa bàn tới hành động) có thể “kết tinh” thành sóng thần và bão lụt và nhiều tai ương khác.

Nền văn minh càng phát triển, người người chạy theo lối sống vật chất, nhân tâm khô cằn hoang hóa. Một số cường quốc tự hào về việc chế tạo các loại vũ khí tối tân, tự hào việc tìm ra các hành tinh mới mà không mấy để ý đến những khám phá tâm linh mang tính quyết định cho tương lai hoàn cầu. Mundasep - Gs Y học, Giám đốc Trung tâm phẫu thuật mắt Liên bang Nga, ông đã hành trình qua Tây Tạng chụp những “con mắt thứ ba” trên các đền đài cổ, dùng kỹ thuật hiện đại dựng lại hình dáng của một loại người có tên Xô ma chi. Người Xô ma chi đã rời thế gian hoặc vẫn ngụ trong lòng các ngọn núi, như là sự di truyền hạt giống cho nền văn minh hậu trái đất; trong đó Himalaya, Tây Tạng được xác định là trung tâm quỹ gen của nhân loại. Qua tiếp xúc với các Lạt ma, Gu ru, khám phá của Mundasep là kho tư liệu quý giá về phương Đông khó có so với khoa học nghiên cứu tâm linh trước ông.

Bây giờ khái niệm linh hồn không còn xa lạ tại Việt Nam. Viện Tiềm năng con người hiển nhiên là cầu nối thông tin giữa cõi sống và cõi chết, dẫu cho sự biết đó rất hạn hẹp ở bề thấp trong cõi Trung giới và giai đoạn Thân trung ấm của đời người. Linh hồn là cách gọi dân gian thô tục, thực tế trong Kinh Phật giải ở một tầng rất thâm sâu, gọi là thần thức, là tàng thức (alaya) lưu chủng tửchủng tử nào mạnh nhất sẽ cơ bản quyết định cho sự đầu thai tái sanh của một người. Khoa học gia Mundasep, lúc qua Tây Tạng mới làm quen được khái niệm Từ Bi, rồi trong thời gian ngắn ông khám phá thêm các thức sau kiếp người. Ai cũng có cơ hội đến bờ giải thoát trầm luân, có thể trong chúng ta “đang là” đây sẽ cán đích trong kiếp này hoặc nhiều kiếp nữa, cũng có thể trôi trong lục đạo cả A Tăng Kỳ kiếp. Một người nông dân ngộ Đạo, nếu tính trên mặt bằng cõi nhân, họ tiến bộ hơn nhiều một trí thức xem thường Phật pháp. Danh giá bây giờ, song họ phải nhận thêm nhiều kiếp nữa để tiến hóa vận mạng như người nông dân kia.

Không nhất thiết lật lại vụ nổ Big Bang, cũng không cần soi lại thuyết Tiến hóa. Mundasep bước đầu cảm nhận chủ nhân của các Kim tự tháp là người Át-lan có tuổi thọ 78.000 năm (trong lúc nếu là của người Ai Cập mới chỉ khoảng 4 - 5000 năm). Vậy các Pharaông từng được xem là xác ướp, có thật? Giả thuyết: đó có thể là những Xô ma chi tạm thời gửi xác trong các “tháp mộ”; thời điểm loài người hủy diệt, (hồn) họ sẽ quay lại nhập vào xác duy trì giống người. “Học thuyết bí ẩn” của học giả người Nga E.P. Bờ-la-vát-cai-a xuất bản năm 1937, xin phép dẫn lại từ sách Con người thoát thai từ đâu: “Tại nơi bây giờ là hồ nước mặn và những sa mạc cằn cỗi hoang vu, đã từng có một biển cả nội địa rộng lớn, trải dài từ dãy núi Himalaya hiên ngang và các nhánh phía tây qua Trung Á đến phương Bắc. Trên đó có một hòn đảo đẹp vô song là nơi cư trú của những người còn lại cuối cùng của Chủng tộc trước chúng ta”.

Xô ma chi cũng gần với trạng thái “nhập định viên mãn” trong Thiền Nguyên thủy. Người tu đắc quả La hán, tế bào của họ sẽ được thay bằng năng lượng thanh cao, có thể đưa xác lên cõi khác hoặc xác ấy để lại trần gian mãi mãi không hư hoại (một dạng như 2 vị chân tu để lại nhục thân xá lợi ở chùa Đậu). Trường hợp Xô ma chi tạm thời gửi xác trong hang đá, trong lòng đất hoặc cũng có thể dưới đại dương; họ sẽ trở lại lấy xác hoặc không, bởi chính (thể tánh) họ, bằng năng lực siêu nhiên hoàn toàn tạo được một thân hình vừa ý khác. Ở Tây Tạng có người Xô ma chi mật tu trong các hang động; người đời không được phép vào trừ những ai thực sự tịnh hóa thân tâm hoặc người xin vào với sứ mệnh lớn lao thức tỉnh nhân loại. Điều này lô gích với số người thiệt mạng tại hầm mộ Pharaông trong các Kim tự tháp. Hiểu cách khác, xác ướp ấy được gửi lại trần gian theo kiểu Xô ma chi. Đó có thể là một phần trong quy luật của vũ trụ, vĩnh viễn bất khả tri với “người thường” dẫu có sáng chế ra kính thiên văn nhìn thấu thiên hà.

Người đạt trạng thái Xô ma chi xuất hồn gửi xác hàng triệu năm, thì họ hoàn toàn chủ động kiếm phần xác thích hợp khác hay tự tạo ra phần xác cho mình để sinh ra một giống người mới trên trái đất sau thảm họa... Chúng ta cần suy ngẫm khái niệm Nghiệp. Nghiệp là “bộ máy” tinh vi phân tích nhân tạo quả chi phối xuyên không gianthời gian. Trong giới động vật, mỗi loài đều do quy định của nghiệp quả. Vũ trụvô số cảnh giới khác nhau được tạo ra để phân loại cho giới loài sinh sống. Danh sư Di Pama chui được xuống đất song khi lên người ướt rượt, để thấy ở cảnh giớithâm nhập, mặt đất không phải đất mà là nước. Trong kinh Hoa Nghiêm mô tả: “Ở bờ sông Hằng, có trăm ngàn ức vô lượng ngạ quỷ lõa lồ đói khát, khắp mình lửa cháy. Những quạ, kên kên, chó sói đua nhau rượt bắt. Các ngạ quỷ này vì quá khát muốn tìm nước uống, nhưng dầu ở bên sông mà chẳng thấy nước. Cũng có kẻ thấy sông nhưng lại thấy khô cạn. Tại sao vậy? Vì các ngạ quỷ này bị nghiệp chướng sâu nặng che mờ”. Cũng như trong ngôi nhà rỗng của chúng ta, nhìn thì trống không, thực tếcảnh giới cõi âm, “người” vẫn tồn tại (trong cảnh giới của họ). Thấp hơn là cõi ngạ quỷ, địa ngục... và nhiều cảnh giới nữa vẫn “tận dụng” không gian của loài ngườixem ra chẳng ảnh hưởng đến nhau. Loài tinh tinh thông minh, khoa học giải mã bộ gen của nó gần trùng khớp với người. Cũng yêu ghét giận hờn, sẻ chia vui buồn, cũng tham sân như ai, nhưng tí chút khác biệt chính là cái nghiệp khiến nó phải là con tinh tinh trọn kiếp!

Để phá Mê khai Ngộ, con người phải đánh đổi mọi tục lụy tầm thường trải qua sự huân tu lâu dài mới mong hưởng được pháp lạc. Kinh Phật vẫn từng nhắc đến rất nhiều vị La Hán, Bồ Tát thần thông quảng đại, dời chuyển không gian. Ngài Mục Kiền Liên xuống địa ngục thăm mẹ, xem Đề Bà Đạt Đa bị đọa như thế nào; Chân sư Di Pama có thể quay về nhiều ngàn năm trước ngồi chung với các tỳ kheo nghe Phật giảng Tứ thánh đế; Thiên Thai Trí Giả đại sư trong định ngồi nghe Phật Thích Ca giảng kinh Pháp Hoa ở núi Linh Thứu; ấy là “thế gian tướng thường trụ”… Người chứng Đạo hầu như có thần thông. Vậy tại sao tất thảy họ không tiêu trừ hết khổ đau cho nhân loại? Đâu dễ. Nghiệp ai tạo nấy mang. Như tên giết người đêm nào cũng nằm mơ bị rượt đuổi báo oán, sống trong ác mộng, điều này là tự chuốc lấy như chính lúc họ bước qua kiếp khác mà hậu quả còn khủng khiếp trăm vạn lần. Nghiệp tự chiêu tự cảm. Con người rớt xuống cõi này đều do lãnh nghiệp từ tiền kiếp, đòi hỏi phải hóa giải, tự tháo gỡ; Phật chỉ cho lối thoát và ai nấy tự thắp đuốc mà đi; cũng như lương y bốc thuốc, người bệnh không tin không uống đành chịu! Nếu khả năng kỳ diệu (do đắc Pháp mà có) phơi lộ trước mặt, chúng ta sẽ nổi tham; đã nổi tham liền gặp chướng ngại, nói chi đến ngộ đạo. Nếu ai đem huyền năng khoe khoang trục lợi, phô bày bản ngã, chắc chắn sẽ bị rút phép thông công.

Thật nghiêm trọng nếu nghĩ đạo Phật chỉ dành cho một bộ phận người, ai không theo không cần giữ giới. Thực tế Phật pháp dành chung cho nhân loại. Cõi người là tầng rất thấp trong Tam giới. Chúng ta “rớt” xuống đây xem như cõng nghiệp, duy trì thân mạng cốt tạo phước hầu trả nghiệp tiêu nghiệp, nhẹ gánh mà bay lên. Muốn tìm lại đúng con đường về cõi Cực lạc, không ngọn đèn nào soi tỏ ngoài ánh hào quang của Phật. Chúng ta không nên học Phật qua “tảng băng nổi” mà phải học bằng Tâm ở phía sau văn bản, tức chặt đứt “ngón trăng”. Cho dù “triết học Kinh Phật là nền triết học cao nhất của triết học thế giới” (như nhận định của Giáo thọ Phương Đông Mỹ) thì sau sở học là hành. Là tẩy nghiệp, thắp lên những ngọn đèn trong tâm thức mờ mịt. Cao nhân Phật pháp, họ cũng chỉ nhận mình là hành giả chứ không gắn mác học giả bao giờ. Nếu cảm Phật bằng Tâm, chúng ta sẽ không mất quá nhiều thời gian chờ đợi ngành vật lý lượng tử chứng minh bí mật của vũ trụĐức Phật đã nói gần ba ngàn năm trước.

Giữa một xã hội ngày càng thực dụng, động loạn, Phật pháp cũng mềm dẻo hòa vòng dòng sống để thanh lọc tâm người, càng tối thắng khi chúng ta được chư Bồ tát hóa hiện “làm người thường” len lỏi vào nhân gian hóa độ như trong kinh Hoa Nghiêm dự báo. Từ Phật giáo Tiểu thừa (Nguyên thủy) đến Phật giáo Đại thừa (Phát triển) là một quá trình biến đổi lớn về tư duy hành đạo. Ta vẫn có thể “trà trộn” vào dòng đời, lấy đời làm trường tu, nhiếp phục tâm làm hiển lộ tánh giác. Khi miếng ăn bị xâm hại, nếu ta biết đặt sự nhường nhịn lên trên hẹp hòi ích kỷ thì xem như đã vượt qua một trong số cửa ải tử sinh. Khi biết chịu thiệt về mình để ban phát tình thương lên vạn vật thì nỗi sợ hãi và nghiệp nạn sẽ khó chạm được vào cánh cửa tử sinh kế tiếp. Nếu trái đất bị đảo chiều suy biến, khi đó tâm từ mà ta luyện thành sẽ là nơi an trú viên mãn. Có thể chưa nhiều người tin, (trừ các nhà khoa học lượng tử tiến bộ), tương lai nếu ai cũng chọn cho mình một câu chú (như bên Mật tông), một đoạn kinh hay thường nhớ niệm hồng danh “A Di Đà Phật”, là đang góp phần thanh lọc từ trường trái đất, góp phần thiết yếu đẩy lùi nạn nghiệp của nhân loại.

Nếu trái đất không lâm đại nạn như nhiều “tiên đoán”, hoặc cộng nghiệp sai số hàng chục, hàng trăm nghìn năm thì tương lai gần của loài người cũng không sáng sủa cho lắm. Đạn nạn và tận thế chính là khi chúng ta bị đời sống vật chất che đi chân lý vĩnh hằng. Đại nạn chính là lúc con người không còn màng đến giáo thuyết về chân tướng của vũ trụ từng giờ phút tác động lên cuộc sống của chúng ta. Ngày tận thế chính là lúc cái chết đang sờ gáy mà chúng ta hoàn toàn mù tịt về một đời sống bên kia núi trong lúc khoa học hiện đại đã chứng minh xong chuyện chết không phải hết. Còn nhìn ở sự tướng trong tương lai, đại thế chiến tiền ẩn. Bom nguyên tử chờ kích hoạt… Sự lệch quỹ đạo trái đất sẽ tạo nên địa chấn, đại dương trồi lên và phần đồng bằng đồi núi lún xuống. Điều này lý giải nguyên do chúng ta tìm thấy những thành phố chìm dưới đáy đại dương. Thời điểm nền văn minh vật chất “lên đỉnh”, thời điểm các cường quốc “chơi cờ người” phục vụ cơn ngông cuồng của nhóm người băng hoại đạo đức, biết đâu sẽ có bàn tay thiên tượng (vốn là nghiệp quả chung từ ý niệm xấu ác của nhân loại kết tinh mà thành) xóa bàn cờ thế sự tạo nên một nền văn minh mới. Sẽ chẳng có bất công khi tất cả cùng lâm nạn song người xấu xuống địa ngục còn người tốt lên cõi thiên; người bị đầu thai vào lớp động vật bậc thấp còn lớp người thuần thiện hưởng phước tại các cõi Vô sắc giới, và hơn hết là các bậc chân tu luôn bình tâm trước những đảo điên.

Nếu chúng ta gạn khỏi “bể khổ” lớp váng vô minh và không nhìn Phật pháp qua lăng kính màu của mê tín, của chính trị và quyền lực thì miền huyền nhiệm trong mỗi người sẽ tự thắp sáng sau những bể dâu.


 

 

 

 

 

 

 

 

Phần III

THƯ GỬI BẠN


 

Nơi hoang vu phận người

 

 

Mình không biết bắt đầu cuộc chuyện với bạn từ đâu lại không phảng phất hình bóng của K. K - tên nhân vật bạn đặt cho vợ trong một truyện ngắn gần đây, người con gái tưởng đã chết lặng từ lâu trong ký ức mình. Nhưng mình đã nhầm. Hẳn bạn sẽ rất giận bởi mình từng nghĩ, bạn không bảo đảm cho K một cuộc sống tốt. Và để trả đũa cho sự hiểu nhầm đáng tiếc về mình và K, cộng với sự kiêu mạn của một người sung mãn tiền tài, bạn đã buộc K rời công sở. Cho đến một sớm, vẫn góc quán cà phê ấy, mình thấy chiếc ô tô mới toanh đậu trước nhà bạn, K bước xuống với một con người khác hẳn những gì mình lưu giữ; lối sống vương giả đã khiến tâm hồn trong trắng kia gợn đục, mình thoáng nghĩ đã mất K rồi. Và tin K bị ung thư lượn lờ trên mạng, càng khiến mình tin bạn chẳng những không đưa lại cho K những gì tốt đẹp nhất mà đang buông K trôi vào cõi khác.

Mình đã đọc hết những cuốn sách của bạn. Đó thực sự là một cố gắng, có lẽ cốt nhặt nhạnh thông tin về K trong không gian sống bạn dựng lên thành tác phẩm. K gần như bị nhốt giữa một đời sống thượng lưu không nhận ra những đám mây gợn đục trong đôi mắt trong veo mây trời. Nhớ lần mình bắt con ve sầu, K không nhận và bảo: “Tha cho nó đi anh”. Mình đã nhìn rất sâu vào đôi mắt ấy, mê dụ đến bàng hoàng. Mình đọc được ẩn ngữ từ trái tim của K và dường như muốn quỵ xuống bởi hình ảnh thoáng qua: trong một ngôi nhà cao sang K đứng trên sân thượng u sầu nhìn về hun hút đồng quê xanh mát này. Lại nhớ mấy năm trước mình tặng bạn cuốn Hiểu về trái tim, cuốn sách được những học giả tiếng tăm ấn chứng, đạt kỷ lục về lượng phát hành ở Việt Nam 100 ngàn bản trong năm đầu tiên; tưởng đến cảnh bạn đọc bài đầu sách “Đau khổ” liền mừng vui đưa K xem để băng qua số phận ngặt nghèo. Rồi hơn năm sau mình chuyển đến bạn đường link file diễn đọc cuốn sách này, nhưng bạn đã làm lơ. Bởi bạn nghĩ cái hiểu của bản thân vượt lên những thứ đó rồi. Bạn nghĩ tác phẩm của bạn in ra sẽ vượt con số 100 ngàn bản trong năm phát hành đầu tiên, và bạn nghĩ mình sẽ háo hức ra mua cuốn sách mới ra lò ấy về lăn lê đọc rồi trang trọng đặt lên giá như một vật thờ? Thú thực mấy năm nay mình không sờ tới một tác phẩm văn học, dẫu nó thuộc về giải Nobel. Mình đã có một kênh khác để “sạc pin”. Hồi xưa mình nghĩ đọc nhiều ông lớn mới viết tốt, bây giờ khác. Bạn biết chăng, đôi khi ngồi xuống tịch mặc thanh lọc nội tâm cũng là nguồn năng lượng hơn cả ngàn trang sách. Nói vậy không hẳn mình ngưng việc đọc. Cái sự đọc của mình giờ cũng lạ. Dạo K tặng cuốn Chuông nguyện hồn ai, mình mang về chưa kịp đọc thì vướng việc gia đình. Lần gặp sau K hỏi đọc chưa? Như một phản ứng tức thời mình bảo, rồi. Bạn biết không, mình mới chỉ đọc cái tên sách. Chuông nguyện hồn ai, mấy chữ đó thôi đã thấy quá đủ; mình đọc được cả thế giới nội tâm Hemingway, mình đọc được tầm vóc của Hemingway trên căn nền của thứ triết học nhuần nhị. Bạn tôn sùng Henry Miller nhưng bạn chỉ hiểu một phần nhỏ trong sự nghiệp của nhà văn này mà ở đấy sự tung hô đã khiến ông ta thấy cần cúi mặt (trước những chân lý siêu nhiên đang rọi vào góc khuất cuộc đời ông). Đứng ngoài miền tâm linh, bạn lại lấy Phạm Công Thiện làm thần tượng và đắm vào mấy cuốn triết gia viết thời nông nổi, và dĩ nhiên bạn bỏ qua những tác phẩm tinh túy sau này cùng rất nhiều bài thuyết giảng Phật pháp của Phạm Công Thiện trên hành trình giải thoát (tri kiến) mà ở đấy quá khứ về một Ý thức hệ chết hẳn.

Đôi lúc mình nghĩ bạn đã hiểu chính bạn chưa? Bạn đã hiểu K? Cảm nghĩ những gì mình đọc trong tác phẩm của bạn là một con người đeo mặt nạ thu lu trong góc tối trước màn hình vi tính lường gạt ngay từ những con chữ vô tội. Bạn có biết K buồn tủi lắm trước vô số mặt nạ bạn thay đổi thường xuyên trong cuộc nhập lưu vào một xã hội lắm sự đãi bôi phờ phỉnh. Bạn hiểu gì về cỗ máy cơ thể bạn, chưa nói đến tâm hồn K và con bạn nữa. Bạn luận thế sự nhiều trong lúc chưa biết cội gốc nguyên nhân. Đã bao giờ bạn ngẫm câu hỏi rất cũ: Tại sao đời sống vật chất càng nâng cao bệnh tật càng bùng phát và nhiều thêm những bệnh nan y? Có biết vì sao bệnh viện mọc lên ngày một nhiều (?), bạn lại tung hê thái quá sự tụt hậu đó trong tiến trình phát triển của loài người. Có thể bạn đã trang bị cho mình nền tảng thông qua giá sách triết học, nhưng mình nghĩ chắc bạn còn mù mờ về triết lý nhân sinh. Con người được cấu thành bởi hai phần vật chấttinh thần; mới chiếu theo khoa học lượng tử thôi, đã thấy phần tinh thần chiếm quá nửa, còn hiểu theo khoa học huyền bí đôi khi phần tinh thần chiếm trọn, thế nên rất nhiều hành giả Phật giáo tiêu bệnh nan y mà không dùng đến thuốc. Mình lại tự hỏi: Với trách nhiệm của một người cầm bút trước vấn nạn xã hội, Bạn hiểu gì vềUng Thư? Căn bệnh bị hiểu lệch là án chung đang từng ngày bóp nghẹt tuổi xuân của K? Bạn xoãi tay truyền thông tin rồi đây người dân sẽ đại trà được máy siêu phát hiện ung thư rà soát. Bởi bạn chưa thực hiểu về ung thư, và một khi không chữa gốc mà chữa ngọn sẽ sinh ra vô vàn cành lá. Những nghiên cứu mới nhất cho thấy hầu hết mỗi người trong đời đều từng xuất hiện tế bào ung thư, nhưng nó phát triển hay không trọng yếu phụ thuộc vào ăn uống. Hôm nay bạn không có tế bào ung thư, ngày mai phát hiện có là sự thường, và những tế bào không được mã hóa này sẽ không phát thành u nếu bạn ăn thuần chay kết hợp thực hành tâm linh hay ít nhất bỏ ra ngoài sự ấu trĩ về đạm từ thịt, trứng và đường sữa. Chỉ những người nội lực thâm hậu mới không hề lo lắng nếu mắc bệnh nan y. Tế bào ung thư có trong K là điều bình thường; bởi không hiểu nó bình thường, người đời sẽ nhầm với một khối ung, rồi âu sầu như đang chạm vào cái chết. Chính sự lo ấy là nhiên liệu để tế bào xấu phát triển thành u theo quy luật cảm xúc “tâm sở hiện” đã được minh tường trong những báo cáo khoa học.

Mình đang nghĩ đến K, như với những bệnh nhân khác từng ngày nuôi lớn tế bào ung thư bằng nguồn thức ăn bẩn. Bạn đừng đổ lỗi cho môi trường như trong tùy bút đăng báo vừa qua. Bạn có biết loại thức ăn nào là bẩn, chứa mầm bệnh nan y và loại thức ăn nào sạch chẳng những thanh tẩy thể xác đến sự phát tuệ? Thức ăn vốn quyết định vận mạng con người. Thức ăn thuần khiết xét ở hai mặt vật chấtđạo đức trong mối tương quan sinh tồn của muôn loài sẽ khiến Trí sáng. Các nhà dinh dưỡng Âu Mỹ cũng thích đeo kính màu, chưa thấy rõ con người ăn lộn thực phẩm xét trên nguyên lý cơ thể học, nên những gì thêm bớt về sau càng khiến cho vấn đề thêm lệch lạc. Bạn tin họ, tin đám đông và tin quảng cáo. Mình cũng từng bị các nhà sản xuất nhuộm não từ lúc biết xem truyền hình. Ngay đây mình muốn bỏ trang viết lao tới đưa K khỏi ngôi nhà cao sang ấy. Hãy nghĩ về tương lai những đứa con của bạn (?) với ai-phôn ai-pát nối mạng. Bạn có biết sự nhiễm độc tâm hồn từ thông tin xấu và sóng sẽ khiến chúng dễ mắc bệnh hiểm nghèo. Nếu miệng bạn chọn lựa thức ăn tốt thì mắt tai cũng có quyền như vậy; còn hơn thế bởi tinh thần chiếm phần lớn tạo nên một chỉnh thể người và chiếm phần lớn sự gây ra bệnh. Nguồn dữ liệu bẩn nhập qua tai mắt sẽ tạo nên Trường Sóng làm nhiễm ô trầm trọng bầu trời; và chiếu theo nghiệp ý, nó góp phần tạo nên những thiên tai mà trước hết dội về ngay chính người gieo rắc. Nhớ năm ngoái mình chuyển đến bạn những thông tin như là niềm ân huệ dành cho bệnh nan y; bởi mình luôn nghĩ về K đang tuyệt vọng, với khôn nguôi hy vọng K tiếp xúc với những khám phá về cách chữa những căn bệnh xuyên thế kỷ nhờ nguồn thực phẩm xanh. Như ông tổ của ngành Y học phương Tây Hipprocrates (một người ăn trường chay) từng nêu chân lý: “Thức ăn là thuốc”. Rồi hôm kia mình gửi link bộ phim khoa học NĨA thay vì DAO, nhưng bạn phẩy đi. Bạn vẫn tiếp tục nạp thêm hóa chất vào thân hình mong manh củaK, tiếp tục cho K uống sữa và bồi bổ bằng thức ăn đắt tiền. Mấy năm trước, bệnh viện danh tiếng Johns Hopkins chuyên về bệnh ung thư đã công bố gây chấn động: thức ăn chính của ung thư là đường, sữa, thịt đỏ và thịt động vật nói chung. Văn bản này may thay có sẵn trên google để ai cũng dễ tiếp cận, còn K thì không! Giá K có vài ngày nghiên cứu Thực Dưỡng thôi, sẽ tự chữa ung thư; K dùng số tiền dư hành thiện, làm một ân huệ trong đời? Phước đối với mạng người như ngọn đèn cần dầu. K dốc sức hành thiện và tiếp cận tâm linh, tiếp cận thực dưỡng lẽ nào không cảm động thần minh. Hàng ngày bạn đang cố thúc lớn con ung thư trong người K. Bạn đánh tế bào ung thư nhưng cung cấp tuyệt đối thức ăn cho chúng, ngược lại còn tự làm suy kiệt K bằng hóa chất; trong lúc khoa học hiện đại đã tha thiết kêu gọi phải “bỏ đói tế bào ung thư”. Còn dùng đường, sữa và thịt động vật, việc chữa lành ung thư là khá ảo tưởng. Đường - hiểm họa của nhân loại, hàng trăm năm trước ngành Thực Dưỡng đã cảnh báo, và hàng nghìn triệu năm trước tổ tiên chúng ta ít bệnh nhờ không có đường. Còn sữa? Ngay đến một loại sữa hàng đầu được WTO chứng nhận, được các bác sĩ khuyên bệnh nhân uống, cũng là sự tổng hợp của nhiều loại hóa chất kể cả thuốc trừ sâu và dĩ nhiên cũng như nhiều loại nước ngọt khác, luôn có chất gây nghiện để thu nhiều lợi nhuận một cách thông minh. Bạn có muốn biết về những con bò luôn bị tiêm thuốc thụ tinh nhân tạo (để tiết sữa) và nhiều loại thuốc độc hại nhằm bảo đảm bầu sữa bự; bê con sinh ra chưa hề nhận giọt sữa nào đã bị vứt vào lò mổ, còn mẹ nó phải đứng suốt ngày cung cấp sữa cho K và con bạn uống? Hãy tưởng đến K thay vì đủ sữa cho con bú, nay bầu sữa phình gấp chục lần, thì đó chẳng phải là một loại nước quái đản? Một ngày mấy chục lít từ bò mẹ, là một dạng nước nhờn nhợt trộn máu mủ cùng độ dư của tân dược và với độc tố được tiết ra từ chính sự điên của con bò luôn phải đứng và bị hành hạ, sau nốt là quá trình khử trùng (bằng hóa chất), và cũng chỉ hóa chất để khỏa lấp các dinh dưỡng tự nhiên của sữa, rồi bịp bạn bằng sự nhảy múa vui tươi của đàn bò sạch sẽ trên những thảo nguyên xanh mướt. Cơ thể người là một bộ máy điều hòa hoàn hảo, một khi đưa sữa hoặc đường (hoặc thịt) vào, nó phải huy động kháng thể điều hòa, với sữa thì tiết can xi trong xương ra gây loãng xương. Những quốc gia dùng đường sữa đứng đầu thế giới người dân luôn mắc bệnh loãng xương nhiều nhất thế giới và kéo theo nhiều bệnh cấp thời; các nước dùng sữa xếp sau danh sách bệnh luôn tỉ lệ thuận - là những kết quả khoa học không chối cãi, nhưng bạn vẫn không chịu nhìn nhận giúp K vượt bể khổ.

Bạn nghĩ người ta tinh luyện mười củ sâm thành một viên thuốc, thì viên thuốc ấy tốt hơn củ sâm? Con người bạn vắng bặt xúc cảm? Gạo lứt tốt nên các nhà dinh dưỡng sẽ tinh chất để chữa lành ung thư như hàng ngàn người đã kiên nhẫn ngồi nhai gạo lứt với muối mè để hạ một lúc rất nhiều bệnh? Bạn chưa hiểu nguyên lý của cơ thể trong sự tương tác với thiên nhiên, với ánh nắng với không khí và thậm chí với hư không huyền diệu nữa. Bạn thử cho K ăn theo một chế độ tiến bộ nhất của phương Tây, rồi nhốt K trong căn phòng không ánh sáng không mặt trời trăng sao, chuyện gì sẽ xảy ra? Tại sao cũng một miếng gạo lứt với muối mè nếu K không nhai ra nước mới nuốt thì chẳng có hiệu quả chữa bệnh ngoài sự bổ dưỡng? Bạn có thể không theo Thực Dưỡng để chữa bệnh, rằng Khó, như bao người khác, điều này dễ hiểurất bình thường, nhưng bạn không thể tự rào đường đến Chân Lý. Hay bạn sợ Chân Lý sẽ đánh sập sự Sai Lầm bạn sở hữu như một thứ trang sức thượng lưu?!

Mình luôn thái phục Tây y, mình luôn cúi đầu tri ân mọi bác sĩ, y tá và điều dưỡng bởi mình không tuyệt đường đến bệnh viện; người thân của mình và rất nhiều người cần bệnh viện và đã được bệnh viện cứu. Nhưng với K, bệnh viện hứa sống bao lâu? Trong lúc bạn có tính hết số người lành bệnh nan y đơn giản nhờ ăn uống? Mình đang đưa đến K những nghiên cứu thuyết phục nhất của Y học hiện đại; thật ngạc nhiên, nó tương hợp kỳ lạ với ngành Thực Dưỡng của tổ tiên chúng ta, vậy thôi. Cuộc đời không hề có ngõ cụt, và đó chính là nguyên nhân thôi thúc mình đưa phương pháp này đến với K để dựng dậy sức sống. Nhưng bạn xem những thứ mình giới thiệucổ hủ, là phương pháp lang băm không chút minh triết. Một thí nghiệm khoa học của BBC cho thấy, tâm thức xử lý và hoàn thành một quyết định rồi phát lên não bộ con người 6 giây, nghĩa là qua máy thí nghiệm người ta biết bạn sẽ nhấn cái nút màu xanh hay đỏ trước 6 giây; quá rõ Tâm mới là nguồn phát lên não rồi não sai khiến thân thực thi. Để muốn nói, lá thư này gửi tới bạn không phải của mình; đây chỉ là việc Tâm mình xử lý nguồn dữ liệu tiến bộ theo một sự thôi thúc của nghiệp dĩ. Nhưng mình vẫn ký tên phía dưới, không dám cầu lời khen mà để chịu trách nhiệm nếu lỡ bị ném đá thôi. Bạn chưa hiểu về Sóng Tâm nên thản nhiên truyền rộng rãi K mắc ung thư. Các nhà lượng tử giải thích, nếu Tâm không đủ Lực, thêm một người phát ý niệm “K hết chữa rồi, K tận số rồi”, là K như tấm bia chịu thêm một ý niệm xấu như mũi tên xuyên vào tâm thể, ôm thêm một mối lo. Nỗi lo dễ dàng hạ gục người khỏe mạnh chỉ sau một đêm. Lại hỏi bạn Ung Thư sợ gì? Bằng chứng khoa học hiển nhiên: sợ nhất chữ Ái. Là yêu thương, hòa ái, không hờn giận, không ích kỷ tự lợi và luôn hướng về tha nhân phụng sự; Ái là lòng từ tràn ra muôn loài. Với chữ Ái này thôi đã đủ khiến những tế bào xấu nhất dần dà chuyển hóa trở lại thành tế bào tốt. Mình đọc được chữ Ái trong K ngày ấy khi K bảo mình tha cho con ve tội nghiệp. Mình đọc được chữ Ái trong K vào một chiều ở cửa Tư Hiền K chắp tay cảm ơn hoàng hôn đang dần xuống và mặt biển chói lòa sắc đỏ... Mình bỗng nhớ Thông điệp từ Nước. Rằng nước hiểu ý nghĩ mọi người, hiểu mọi ngôn ngữ và chữ Ái luôn cho ra kết tinh đẹp nhất như một bông tuyết lóng lánh. Ngành vật lý tiên phong hướng ánh nhìn ra vũ trụ khẳng định mỗi cá nhân đều đang nối mạng với vũ trụ bằng sóng tâm, sóng tư tưởng. Thế giới này sẽ không thể trở lại được thời Phục Hưng khổng lồ với những nghệ sĩ khổng lồ. Bởi thời đại ấy, sao nhỉ: không có tivi và internet. Tia sáng (laser) có thể xuyên sắt thép (?), bởi nó hội tụ. Tâm bạn muốn hướng về mục đích viết một tiểu thuyết đỉnh, thì bạn phải học nhà văn Marcel Proust tuyệt dứt với thế giới bên ngoài để tìm lại những thời gian đã mất. Bây giờ với dụng cụ nối mạng trên tay bạn chuyển kênh liên tục như một cái tủ đông mươi phút lại bị ngắt điện khiến đá không thể đông. Năng lượng tâm loãng với đủ nguồn tin khiến tác phẩm luôn thiếu chiều sâu và vắng hoàn toàn chân lý tối thượng. Những thứ bạn viết dẫu văn nuột nà rốt cục cũng bị cơn lốc của thông tin cuốn phăng, đoản thọ. Thử hỏi, sao kinh điển Phật giáo sau gần ba ngàn năm vẫn lấp lánh và càng chói sáng khi khoa học soi vào. Các nhà lượng tử tính từ Albert Einstein và Niels Bhor cho đến nay với những phát hiện đột phá về thời không đều “cũ”, bởi Đức Phật đã thuyết từ xa xưa rồi. Sóng hấp dẫn cách trái đất hàng tỉ năm ánh sáng nhưng ai đã tin Sóng Tâm phủ trùm vũ trụ ngay trong một phần tỉ giây. Sự liên mạng tư tưởng này khiến mình hễ phát xuất ý niệm xấu là góp phần nhiễm ô từ trường trái đất, chưa bàn đến chuyện hàng giờ ai đó đưa lên Facebook toàn những thứ khiến người người sân giận, tị hiềm và bế tắc trong sự thỏa thuê Bản Ngã. Xét ở mức độ nghiêm xác nhất của lượng tử lực học đối với sự tồn vong của địa cầu, mình nghiện game, nghiện lướt web mức nguy hại còn hơn cả nghiện ma túy. Một cơn giận nhẹ, đã khiến cơ thể tiết ra lượng độc tố phải mất từ 8 tiếng đến 3 ngày mới tiêu hết. Nhờ đâu? Là cơ thể rút nguồn năng lượng quý báu ra để điều hòa. Bạn đã biết chuyện một người vợ cho con bú lúc sân nộ với chồng, để rồi đứa con ấy chết. Do cơn giận tiết độc và đứa con uống độc từ dòng sữa mẹ. Oan không? Những con vật bị giết, hận thù dâng lên đôi mắt rần máu, nghĩa là độc tố tăng muôn lần so với cơn giận khiến đứa trẻ trên phải chết. Con người cũng là động vật; loài động vật thông minh nhất hành tinh. Thực tế chưa hẳn. Bạn cũng biết mình vẫn thường ăn xác chết động vật. Rồi một ngày mình tự hỏi, nếu thông minh, thay vì xây bệnh viện cho bản thân, trước hết mình phải vận động xây bệnh viện cho loài vật. Những con vật phải được ăn sạch uống sạch, phải được khám thường xuyên để xem có bị tiểu đường, tim mạch, có bị nhiễm dịch và đặc biệt có ung thư hay không rồi mình và bạn và K dùng thịt chúng. Ngay cả khi con vật được săn sóc để cho ra loại thịt sạch (như cách các đại gia tự sản xuất rau sạch), thì nguồn thức ăn từ động vật nói chung theo những thống kê công phu kéo từ lịch sử thế chiến đến thời nay đều kết luận chứa mầm bệnh quá nguy hiểm, bởi nó tạo nên môi trường a xít trong cơ thể cho tế bào “ác” sinh sôi. Hơn 80 năm trước nhà bác học Otto Heinrich Warburg đã dày công nghiên cứu về ung thư và nhận giải Nobel Y học khi đưa ra nguyên lý: “Ung thư không thể sống nổi trong môi trường kiềm và giàu ô xi nhưng lại thăng hoa và phát triển như nấm trong môi trường a xít và ít ô xi”.

Bạn còn hạnh phúc khi những đứa con xa dần vòng tay của mẹ? Bạn còn hạnh phúc khi hình dáng của K với cái đầu trọc vì hóa chất và khuôn mặt xanh xao? Bạn vẫn nghĩ nguồn vật chất ùa về để có một cuộc sống cao sang nhưng duyên nghĩa vợ chồng đang mong manh, là hạnh phúc? Bạn từng nghĩ K ngồi trong bữa tiệc đủ món sẽ hạnh phúc hơn người ăn rau luộc chấm tương? Bạn đang biến K thành một con ve sầu, khản kêu vô vọng! Hẳn bạn sẽ đờ ra khi biết ở Mỹ mức lợi nhuận từ vũ khí không nhằm nhò so với Thuốc Tây. Nhà văn minh lớn Hoa Kỳ, người dân tin tưởng số một Viện Dinh dưỡng, nhưng họ không ngờ phía sau những cơ quan đáng kính ấy là các tập đoàn lợi nhuận như bóng ma phủ bóng lên quá nửa địa cầu; để rồi hầu hết người dân bị thừa cân, và từ đó mang đủ thứ bệnh hiểm như ung thư, tim mạch, huyết áp, đột quỵ, tiểu đường, loãng xương. Trẻ em châu Phi thiếu đói đến chết, là một nỗi đau lớn; còn xu hướng những nước được cho văn minh đang phát bệnh bởi thừa mứa cá thịt trong mọi bữa ăn - ấy là tội lỗi. Chớ phũ phàng với chân lý, với chính mình và nhất là với căn bệnh của K. Việc lựa chọn thức ăn chính là đẳng cấp sống của con người. Thức ăn thuần khiết từ thảo mộc sẽ dựng lập hòa bình thế giới. Điều này không phải mình nói mà từ thiện khẩu những bậc thức giả lỗi lạc nhất hành tinh. Bạn sẽ không thể so sánh nổi niềm hạnh phúc của một người chay tịnh hân hoan thức dậy lúc mờ sương với một người ăn uống nặng nề lúc nào cũng uể oải sau giấc ngủ chìm trong mê loạn và bất an bởi cái bóng nghiệp thức luôn ẩn sau gáy.

Bạn có biết trong quá khứ K bao dung mạnh mẽ nhường nào không? Còn nay K đang héo dần với sự bất lực của những người xem thường y lý tồn tại trăm nghìn năm vững chãi. Mình từng đọc được trong mắt K sự nhiệm màu, nhưng nó đang mờ dần bởi lòng ghen tị và ganh tị của bạn, bởi sự tôn sùng nền văn minh kỹ trị lại quá xem thường sức mạnh tinh thần vi diệu ở mỗi người. Chuông đang nguyện hồn bạn đấy. Bạn sẽ nghĩ mình bỗng dưng đến quậy, cái thằng này đang đứng ra gây hấn với bạn? Ừ, tùy thôi. Nhưng bạn nên nhớ, không bàn đến K, chỉ riêng bạn thôi mãi là một hình bóng linh thiêng trong cõi mình, dẫu cho một ngày K nhận ra khuôn mặt thật của bạn và khước từ chung sống với bạn để trở về miền xa xăm chăng nữa.


 

Thuyền trôi trên sa mạc

 

 

Bạn ơi…

Người nào lại viết một bức thư tay thời @ nhỉ? Lật xem tên ai ở trang cuối. Không có đâu. Bạn hãy bình tâm ngồi xuống buông vọng tưởng, hãy vùi bức thư này lại cho đến lúc bạn thảnh thơi hẵng đọc. Rất nhiều lần mình muốn tâm sự với bạn, chỉ đơn giản ngồi vào bàn phím gõ chữ rồi thêm cái nhấn chuột… Viết rồi lại xóa. Nói chuyện với bạn rất dễ, ngặt nỗi mình chẳng biết bắt đầu từ đâu. Sáng nay ngồi vào bàn chép kinh, mình thảo luôn bức thư này.

Mình đã tu. Bạn ạ. Bất ngờ lắm? Giật mình phải không. Tu rồi mới hiểu. Lâu nay mình chấp thủ dựng lô cốt tự nhốt mình lại. Học Phật nghe pháp rồi bỗng sinh “nghi”. Đời người trăm tuổi là bao so với hàng tỉ năm tồn tại của trái đất; còn dõi thêm ra các dải ngân hà chẳng khác ta nhìn vòng đời của một chú kiến. Bạn hãy đặt con kiến lên quả địa cầu nhựa rồi thử quay một vòng xem nó có rơi không? Con kiến nhỏ đến mức nó không cảm nhận được sự quay của trái đất ấy kia mà. Sao chúng ta nhỏ bé đến tội nghiệp, lại có bản ngã lớn vậy nhỉ. Không ai nhanh hơn ai tính tại thời điểm nhắm bờ giác ngộ lướt biển vô minh.

Niệm gì khởi lên trong tâm bạn lúc này? Có phải bạn nghĩ mình chưa già đã lẩm cẩm. Sống mới một phần ba cuộc đời đã lo tu. Mình biết, bạn sẽ không xua đuổi mình đâu, nhưng bạn sẽ… tránh. Bạn nghĩ nếu gặp mình nhẽ ra hàn huyên chuyện cũ, dự phóng tương lai lại bàn về nghiệp thức nhân quả… nghe rất “chối” phải không. Giống như ngày xưa cha mẹ hay nhắc nhở đủ thứ. Đến như ăn xong liền nằm xuống mẹ đã “ngồi dậy kẻo đau dạ dày đó”. Mình thề mẹ không hề biết đến thứ kiến thức đó, mẹ chỉ linh cảm và răn con cái. Bây giờ mình bỗng nhớ những thuận ngôn nghịch nhĩ. Phật cũng dạy trong kinh Cú pháp: “Được sinh làm người là khó, được sống trọn đời còn khó hơn, được nghe Chánh pháp là khó”. Khó ở đây cũng là khó nghe bạn ạ. “Tín huệ văn pháp nan trung nan”. Nói vậy nghĩa là đang tự nhắc nhở. Đến mình chưa dạy được mình mà. Nếu mình dạy được mình, mình nghe theo mình, hàng phục mình không thuận với rất nhiều xan tham, thì mình đã an lạc trước mọi nghịch cảnh! Chưa chiến thắng thuần hóa được tâm nên mình chưa thể dứt dục lạc. Bạn cảm thấy “ngán” chứ gì. Chưa bao giờ bạn đọc một bức thư kiểu như thế này mà. Ừ. Mình… khác rồi. Nhưng đừng bỏ mình bạn nhé. Mình luôn nhớ đến bạn, kiểu như trước đây mình từng gây lỗi với bạn; mình muốn sám hối, xin bạn hãy đừng xa lánh. Mình đang “luyện” trở thành một người hoàn toàn vô hại với mọi loài. Tâm bạn dịu hơn rồi thì phải. Bạn đã xích lại bên mình thêm một tí, song nom mặt còn khó chịu. “Mà tu để làm gì”. Cứ cho là có kiếp sau. Thì đã sao. Ừ, chẳng sao cả. Chỉ là mình không muốn chết liền phải đầu thai làm động vật bậc thấp thôi. Có tham lam gì cho cam. Mình đọc kinh, nghe Phật hứa nếu xả bỏ uế trược, chú tâm niệm Phật sẽ được tiếp dẫn lên cõi Tịnh độ; ở đó có thể “mặc áo giáp” trở lại trần gian trợ duyên cho thân nhân… Không đùa đâu bạn. Nhiều khoa học gia hàng đầu thừa nhận: Những khám phá vĩ đại của chúng ta chỉ minh định kinh điển Phật giáo. Mà kinh Phật cũng không chép sai câu nào. Ai vào tu tức có ngộ. Sự ngộ đó tự khắc kiểm định đúng sai lời Phật. Nếu bạn gom hết bể học nhân loại, bạn vẫn thiếu một môn là Phật pháp. Đạo Phật không phải chứa hết thảy tri thức khác song nếu bạn chỉ học và hành theo Phật pháp mà chưa cần học thêm bất cứ điều gì, vẫn đủ. Cho đến nay Kinh Dịch là món chưa một nhóm học giả nào chinh phục được. Có bậc chứng thánh phát biểu Kinh Dịch do tiền thân của một Hòa thượng bên Trung Hoa viết ra. Thế nên giả như có ai phá được hết các quẻ Dịch thì vẫn… bế tắc, vẫn không giải thoát được bản thể. Vẫn là một sinh mệnh ngơ ngác giữa trần gian chẳng rõ sẽ về đâu.

Bạn biết không, đêm qua mình mơ thấy đang chen lấn giữa đám đông, nghẹt thở. Rất nhiều người từ già đến trẻ nhỏ trong thành phố đều tập trung tại sân vận động nghe “lời phán xử”. Trên cao. Trong sự tĩnh lặng hiếm hoi, Ngài nhẹ nhàng nói, “Con người sinh ra từ bào thai, nhưng kẻ ác thì đọa vào địa ngục”. Bạn ạ, trong số phàm nhân chúng ta, nếu chiểu theo nhân quả, may ra chỉ có mấy người (chết đi) sẽ được về cõi Tịnh độ trang nghiêm. 3% trong số người còn lại lên được cõi Trời. 60% trong số người còn lại đầu thai vào ác đạo. 50% trong số người còn lại tiếp tục được nhận thân người. Số còn lại xuống địa ngục. Cõi nhân gian khó cưỡng phù hoa giả tạm, khó cưỡng danh sắc huống hồ lên cõi trời nữ nhân đẹp vạn lần… nên mê mờ hưởng hết phước chắc chắn thẳng xuống tầng thấp lãnh nghiệp báo. Bạn có biết so với chục năm trước, trước nữa, bây giờ mực nước biển dâng lên bao nhiêu không? Ấy là do hiệu ứng nhà kính, do tầng ô dôn bị chọc thủng, nên lửa mặt trời rọi trực tiếp khiến băng tan,địa cầu nóng lên. Đạo đức nhân loại ngày nay cũng dần tan chảy giống băng vậy đó. Hiệu ứng nhà kính biểu hiện cho tiện nghi vật chất, tầng ô dôn biểu thị cho phước đức bị lòng tham tàn hoại. Bạn biết khi công an thẩm vấn một đứa trẻ giết người, nó trả lời sao? “Cháu thích rứa”. Chẳng cần theo dõi truyền hình báo chí bạn cũng hay chuyện người ta dùng cả thai nhi làm món lẩu, tẩm bổ cho sự si ám. Thú hoang trong rừng giết nhau theo bản năng của cái đói, con người thì có thêm trí tính toán và thanh toán, để quét sơn lên tội ác.

Ừ, mình đã tu bạn à. Tu đơn giản trước nhất là sửa từ thập ác thành thập thiện, chẳng biết đến bao giờ viên mãn. Bắt đầu là một bữa ăn chay. Từ đó đến giờ… (Mình xa nhau mấy năm rồi nhỉ?). Chắc nhờ ai đó trợ duyên, chứ mình biết tập ăn chay khó lắm. Nói điều này chắc tổn phước quá. Gia đình mình vẫn còn người ăn mặn, nhưng mừng là không còn mua đồ sống nữa. Những người chưa thể ăn chay mình đều tôn trọng… Mình đang tập hòa đồng ở mức có thể. Bạn biết không, có một ông sư ở chùa Từ Hiếu, mẹ đau nên sư ra chợ mua cá về nấu cháo; dọc đường nhận tiếng oan “sư mà cũng ăn cá à!”

Cùng là động vật cơ mà. Công nghệ chăn nuôi bây giờ, bạn thấy, các trang trại nuôi hàng triệu con mỗi lứa vẫn hết vèo. Chúng sống tự nhiên với chu trình sinh diệt, sẽ chẳng ảnh hưởng đến con người mà còn lợi nhiều lắm cho sinh thái môi trường… Nhân loại bước đến thời điểm này không thể quay lại được nữa bạn ơi. Có người dấm dẳn, nếu ai cũng ăn chay niệm Phật thì xã hội “chết tại chỗ” à? Vậy là nói bừa rồi. Thêm một người vào tu, thêm một người thôi bắt con này giết con nọ, thôi hành hạ dã man động vật là chuyện hiếm rồi, lấy đâu ra chuyện “ai cũng…”. Mới vừa báo đưa tin một ngư dân bắt được con cá lạ: vây rắn, hình thù kỳ quái, lâu lâu lại khẹc khẹc như người. Bạn sẽ không tin ai đó do chẳng tin nhân quả, vung tay nên luân hồi thành… hải sản. Hễ cứ nhắm mắt định tâm, mình lại nhớ trước đây từng róc vảy cá cắt cổ gà, từng bắn chim giết thú, từng chặt đầu lũ chàng hương ếch nhái… mà rùng mình toát lạnh mồ hôi. Thì chỉ biết hy vọng thôi, chỉ biết ngày ngày cúi đầu sám hối mong được an trú dưới ánh hào quang của Phật suốt phần đời còn lại.

Bạn vẫn chưa biết mình là ai đúng không? Lục trong trí nhớ, bạn sẽ chẳng tìm ra ai ngày trước có “Phật tính”. Mình bây giờ cũng chẳng tin mình theo Phật nữa là. Nhắc chuyện này chắc bạn nhớ. Thời đại @ đang tiến đến 100% người biết sử dụng điện thoại di động đều sở hữu ít nhất một. Thật bất tiện khi bạn mang trong mình đến hai ba điện thoại, vậy nên nhà sản xuất mới cho ra đời loại có nhiềm sim và nhiều tính năng tiện ích. Tương tự, bây giờ bạn hãy (phải) xem nghiệp là một cục đá. Vì sao lại cục đá, vì nghiệp là thứ vô dụng, lại nặng nề, nó khiến người ta bực dọc muốn quẳng đi mà không thể trừ phi chúng ta thành tâm cúng dường, pháp thí, phóng sanh… (Bạn và mình chưa cần tính đến phần cực trọng nghiệp, tích lũy nghiệp tồn lưu từ quá khứ, hãy tính ngay khi bạn đọc dòng chữ này). Sáng ấy trước lúc tới công sở, chúng ta tạt vào quán cà phê; mình gọi một ly chanh nóng, đứa chạy bàn nghe lộn nên mang ra chanh đá, tức thì mình nhăn nhó. Bạn nhớ ra chưa? biết mình là ai rồi chứ. Ừ. Nhưng bạn đừng cố hồi tưởng lại khuôn mặt dạo ấy và nó bây giờ tròn méo ra sao. Chỉ nên biết, hành vi của mình vừa đó khiến phải nhận ngay một cục đá. Mình lại còn nhằn đứa chạy bàn là “đồ lảng tai” trước mặt nhiều người, liền nhận thêm những cục đá nữa. Nó bưng ly nước chanh vào, chủ chặn lại dọa nếu chốc nữa không ai gọi chanh nóng sẽ trừ vào tiền lương của nó (mình nhận thêm cục đá nữa; tất nhiên chủ quán cũng bị nghiệp nhét vào những cục đá). Uống cà phê thấy không ngon. Chúng ta đứng dậy sau đó không lâu, vào phòng làm việc. Hôm đó trời rất mát, mình vẫn bật điều hòa (để nhận lấy những cục đá), rồi mình để mặc điều hòa và quạt tỏa hơi lạnh ngắt, cả màn hình máy tính không ở chế độ tiết kiệm điện; ta chuyện phiếm đủ thứ trên đời… Chưa tính khẩu nghiệp qua đề tài phiếm luận. Bạn còn nhớ không, mình khoe tuần trước “bồ” cho mấy tờ đô… Đồng tiền chúng ta có được cũng nhờ duyên phước. Làm giàu từ nghề chánh mạng không có tội. Ví dụ bạn mở quán chay, bán với mức giá vừa phải; đông khách là biểu hiện của “may mắn”. Nhưng bỗng đâu có người lạ vào ăn một bát lại vui lòng biếu thêm tiền. Người ta cho dĩ nhiên không phải trả, có điều bạn ạ, tiền ấy sử dụng không khéo sẽ quy ra những “cục đá”… Ấy là mình đang hoàn toàn được xem người tốt. Chứ chưa bàn đến người xấu kẻ ác. Hôm nay thứ bảy bạn ạ, mình không đi làm nên chợt nhớ lại khung cảnh này, sẵn thời gian nhẩm xem tích khoảng bao nhiêu cục đá trong nửa buổi sáng đẹp trời ấy. Rồi trưa tan tầm mình ghé chợ, cố mua bằng được những con còn tươi giãy. Nghĩ mình không mua thì người khác cũng mua, chúng cũng chết; mà không hay chúng bị bắt, còn sống là “việc của chúng”, mình mua và giết nó khắc nhận nghiệp! Chừng ấy cục đá cho vào bao, liệu bạn có vác nổi về nhà? Thật may, cũng thật nghiệt ngã là nghiệp ấy vô hình. Vô hình mà hữu hình và nó ở lại với chúng ta. Thế đấy, nghiệp sao giống “chuyện vặt” vậy? Phải, chúng ta chỉ cần gom chuyện vặt mà không nhất thiết phải ôm “chuyện lớn”, đến lúc bao trắc trở tụ về, hoặc sẽ từ vô vàn những cục đá hóa thành chướng nạn bệnh tật, là lúc chúng ta đang ghé lưng vào ngọn núi khổng lồ!

Bạn với mình, về cuộc sống gia đình không hơn thua nhau nhiều. Mình cũng có công việc khá ổn, cứ đến tháng nhà nước trả lương. Đời sống tùng tiệm xem như xuôi. Vậy tu làm gì? Phải. Mình tu cho kiếp sau bạn ạ. Kiếp này vậy tạm đủ rồi. Mình không có ý nghĩ phấn đấu làm nhà hay sắm sửa tiện nghi này nọ. Không tích trữ. Người ta có thể chửi nhưng mình vẫn sẽ nói những gì Phật dạy. Bạn vẫn nghĩ chết rồi cũng sẽ được đầu thai lại làm người phải không? Thật không dễ vậy. Nếu suối đời bạn giúp người hành thiện chăng nữa mà không nương Phật, không thiền định và niệm “A Di Đà Phật” thì phước báu lắm chỉ lên được cõi Trời. Sau kiếp sống ở thiên giới sẽ về đâu? Cái gì không nhìn thấy và không sờ thấy người ta thường phủ nhận. Mình sẽ không giải minh giữa mình với một người hành nghề sát sanh, ai đúng ai sai. Họ có “triết lý” sống của họ. Họ tuyên bố giết một con vật là “hóa kiếp” giùm nó. Thôi cứ vậy. Hoàn toàn do ngộ tính thôi bạn. Mình đồng nghĩa với loài vật. Mong rằng họ sẽ hóa kiếp giùm “đồng loại” của mình bằng cách cho nó uống một loại thuốc làm tê liệt mọi đau đớn trước lúc nó thọ quả báo đời trước lỡ gieo. Nếu người ta hành hạ một con vật đến chết rồi ăn mà vỗ ngực xưng đại nhân anh hùng thì mình nghi ngờ hết những con người đó. Phật nói "còn sát hại chúng sanh, đâu được xưng là Thánh hiền". Và nhiều bậc thánh nữa, những người xưa nay ta rạp mình nể phục, nhưng nếu giơ ra một câu họ nói về phương diện con người tự chạy theo lối sống của loài vật, thật tội lỗi, không chừng bạn và mình sẽ nhìn họ với ánh mắt hờn giận.

Bạn là một nhan sắc hồng trần. Lật Kinh mình hiểu đẹp nhường ấy phải phước báu nhiều lắm ở đời trước, hoặc là rớt xuống từ cõi trời. Danh và Sắc nhiều lúc dễ khiến người ta kiêu mạn. Từ kiêu mạn sẽ khởi ý mình xứng đáng được chiều chuộng hưởng thụ, xứng đáng người đời hầu hạ. Đó là lý do khiến hậu vận của người đẹp, kiếp sau thua thiệt ngàn lần so với người bình thường. Những trường hợp “sao” tương tự chắc bạn cũng dễ liên tưởng…  

Thôi nhé, chắc bạn mệt mỏi lắm rồi. Mấy trang thư có khi khiến bạn ngán đến độ tối nay không ngủ được cũng nên. Nhưng mà nếu bạn thao thức trằn trọc, thì mình đội ơn trời Phật… Mong bạn nghe mình: hãy chuyên niệm “A Di Đà Phật”. Hãy thôi nghĩ mông lung bằng thói quen chú tâm niệm Phật trong suốt ngày đêm. Bạn thân mến ơi, chính đó là con zhuyền chở ta qua sa mạc xuôi dòng tâm linh miên viễn.

 

 

 

 

-----------------o00-----------------


 

 

 

VŨ ĐIỆU Ý NIỆM

trong cơn đau bản thể

 

- Nhụy Nguyên -

 

MỤC LỤC

 

Phần I: NĂNG LƯỢNG TÂM

1. Năng lượng tâm và nền văn minh tự hủy

2. Lấp lánh những góc nhìn huyền diệu

 

Phần II: MÊ LỘ TÂM

3. Hành trình siêu ý niệm

4. Cõng nghiệp rong chơi bên bờ vực thẳm

5. Vũ điệu ý niệm trong cơn đau bản thể

 

Phần III: TÂM BỆNH

6. Vi rút sóng tâm chiêu cảm nghiệp

7. Thấy bệnh & thấy tánh

8. Niềm ân huệ của bệnh nan y

 

Phần cuối

9. TÂM HỒNG DANH CHIẾU RA MIỀN CỰC LẠC

 

 

 

* Trong vũ trụtrùng trùng thế giới. Toàn Giác là bậc câu thông cùng vũ trụ, họ cùng một thể tánh với vũ trụ, thấu suốt quy luật vận hành của vũ trụ rồi “truyền thần” lại sự thấy biết đó. Để thấy rằng Đức Bổn sư không sáng tạo ra vũ trụ, không chế định ra luật nhân quả luân hồi, mà vũ trụ vốn sống động từ vô thỉ dù Phật có ra đời hay không.

 

* Đạo Phật không phải triết học, càng không phải tôn giáo. Đạo Phật là tấm gương phản chiếu quy luật vận hành của vũ trụ nhân sinh vô cùng tận nên trong nó sẵn chứa thượng tầng triết học và huyền nhiệm tôn giáo.

 

* Bạn và tôi nếu không học giáo lý nghiêm túc, không chọn lấy một pháp môn rốt ráo thực hành đã khởi tâm bài Phật, là khác nào vừa lội qua đầm lại muốn dò lòng đại dương

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phần I

NĂNG LƯỢNG TÂM


 

 

Năng lượng tâm

& nền văn minh tự hủy

 

 

Thời-không vũ trụ chứa hàng triệu, tỉ, hàng ức cho đến không máy móc nào đếm hết hằng hà sa số hành tinh như trái đất mới biết con ngườimột sinh thể gần như bằng không. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, con người vốn siêu việt, câu thông với vũ trụ, chứa thông tin vũ trụ và do đó sự tồn tại của vũ trụliên đới trực tiếp với con người. Chân lý tối thượng này mấy ngàn năm trước từ một người bình thường như bao người khác đã phát hiện thông qua sự giác ngộ toàn triệt - đó là Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Cho đến khoảng ba mươi năm trở lại đây, ngành khoa học tiên phong Vật lý lượng tử đã phần nào nhìn ra, khiến cho lời Phật thêm phần chói sáng; chứng minh tuyệt đối kinh Phật chẳng những là triết học mà còn là nền khoa học tối cao. Cũng đi đến một kết luận đặc biệt quan trọng: Hễ ai nói chỉ tin khoa học, không tin Phật giáo, họ hoàn toàn chưa tiếp cận đến nền khoa học đỉnh cao đang dấn mình về phía hư không đầy hấp dẫn.

Từ sự thấu triệt chân tướng vũ trụ nhân sinh, Đức Phật thuyết lại không thêm bớt. Một khi các nhà thiên văn học biết vũ trụ rộng lớn nhường nào, sẽ phần nào hiểu lẽ những ẩn nghĩa siêu hình trong kinh Phật. Siêu hình ở đây là siêu quá, vượt khỏi lối kiến giải thông thường. Thử nghiệm câu trong Bát nhã Tâm kinh: “Sắc tức thị không”. Sắc, hiểu thô là vật chất; đã vật chất sao lại không? Nói như giỡn chơi. Phải đến lúc khoa học phát triển, cùng với việc chia chẻ vật chất ra điện tử, trung tử, quang tử, lượng tử, cho đến hạt cơ bản, mới hay vật chất đó chính xáchuyễn tướng (Kinh Kim Cang: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”). So với các hạt Phật nêu như sắc tụ chi vi, cực vi chi vi (hay còn gọi lân hư trần), khoa học hãy còn rất xa mới thể hội tường tận. Thông điệp “Sắc tức thị không, không tức thị sắc; sắc bất dị không, không bất dị sắc” không đơn thuần dừng lại ở sự vi diệu đó. Nó là bản thể của chân tâm mà những vị tu chứng mới phần nào thâm nhập, nghĩa là vượt ngoài sự kiến giải để sờ chạm.

Một câu quen thuộc khác trong kinh Hoa Nghiêm: “Nhất tức nhất thiết” (một là tất cả). Một cộng một bằng hai. Bây giờ một gồm thâu tất cả, nghe thật buồn cười. Điểm này một học sinh tiểu học sẽ cùng ý nghĩ với phần lớn các bậc trí. Đến thời điểm giải Nobel Lý thuyết toàn đồ(1) thực chứng, chân lý này mới thoát khỏi nỗi ám ảnh siêu hình để đưa ra luận đề mới: Con người nhỏ bé với vũ trụ bao la có mối liên hệ mật thiết; mà theo Phật phápmột thể thông qua sóng tâm. Bản kinh Báo hiếu phụ mẫu trọng ân cách nay gần ba ngàn năm Phật đã thấu rõ "thai mang một tháng mới như hạt sương rơi trên cỏ, tụ tán mong manh. Hai tháng mới như váng sữa. Ba tháng mới như huyết đọng…". Đọc những bộ kinh khác thực sự tuôn trào cảm xúc, như chính được quay về bến bờ sau nghìn trùng lưu lạc. Những bộ kinh Vô Lượng Thọ, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, A Di Đà, Địa Tạng, Đại Bảo Tích, Quán Kinh, hay bộ kinh trọng yếu khai tuệ là Lăng Nghiêm; nghe qua tưởng như những câu chuyện bình thường, thần thoại, huyễn hoặc nhưng nó tả về một cảnh giới cao vợi, ngôn ngữ thế gian khó tường giải. Triết gia Pháp Michel Foucault (1926 - 1984), một trong “tứ trụ” của chủ nghĩa hậu cấu trúc (post-structuralism) nói rằng con người sáng tạo ra ngôn ngữ nhưng lại bị đóng khung trong cái nghĩa hạn hẹp của nó(2). Cảnh giới chư Phật đưa ra vượt khỏi những định danh của ngôn ngữ, do vậy để hiểu đúng nghĩa chân thật phải từ trong ngộ tánh thông qua quá trình hành pháp miên mật. Kinh Phật vốn vô lượng nghĩa. Hành giả suốt đời tụng một bản kinh, mỗi ngày có khi tụng trăm lần, càng tụng trí càng sáng, càng thấy ẩn nghĩa lộ diện, niềm hạnh phúc tuôn trào. Rồi một khi cảnh giới nâng thêm, kinh ấy lại tự phát sinh nghĩa thâm diệu, tức nghĩa kinh vô hình. Cho đến lúc triệt Ngộ, toàn bộ chân kinh hiện trên mặt-phẳng-Tâm. Chẳng phải từ đâu tới, mà “viên minh châu” ấy một phen được vén bụi trần. Như chính lịch sử vũ trụ đã được Đức Phật “khảo cổ” chi tiết đến hạt vi trần. Chúng ta có thể bày ra triết học, khoa học tiến bộ nhất thế gian, sẽ thấy không gì ra ngoài Tam tạng kinh điển. Kinh viết: “Vạn pháp duy tâm” (không phải duy tâm trong triết học đối lập với duy vật), là cách mà khoa học ngày nay đang tiếp cận; họ thậm chí đã nén được nước thành “dao” cắt đứt cả sắt thép. Về mặt nhân văn, Đạo Phật chính là nền tảng, là thước đo cho mỗi sinh mệnh. Ai học Phật sẽ tự xếp chỗ đứng cho mình trong xã hội và các tầng hư không. Chạm vào mấy câu Chứng đạo ca, đã thấy thi pháp thơ lừng lẫy; dẫn vài Công án thiền đã hàm dung tuyến tính truyện điệp trùng. Lại thấy những gì con người sáng tạo thật nhỏ bé ngay trong sự nhỏ bé của xác phàm. Nhưng có một bí mật. Bí mật của toàn thể bí mật. Là, vũ trụ nằm trọn trong tâm mỗi con người.  

Nhiều khoa học gia hàng đầu thế giới chiêm nghiệm, trước khi vật chất hình thành nó nằm trong tâm trí chúng ta. Đức Phật lý giải vạn vật đều từ tâm sinh khởi, theo đó dẫu là một hạt vật chất nhỏ nhất cũng hàm dung vũ trụ. Từ việc truy tìm vụ nổ Big Bang, khoa học cảm nghiệm nó không hề lớn như tưởng tượng, mà rất có thể nguyên khởi từ trên bề mặt của một sợi tóc. Điều này tương hợp với lý thuyết Hiệu ứng cánh bướm(3), với ngành khoa học sai số. Từ kết quả của sai số (như số π chẳng hạn), người ta bỗng thấy tổng hợp những sai số nối nhau kia dễ dàng gây ra một dư chấn thảm khốc. Phật giảng, Tâm mỗi người dung chứa sức mạnh toàn thể, và mỗi ý nghĩ đều loang đến vô tận. Trong Kinh A Hàm Tiểu thừa thí dụ, con chim lúc sà xuống đậu trên cây cao chót vót với con chim lúc sà xuống đậu trên nhánh cây thấp, thì bóng của nó tiếp cận mặt đất đồng nhau. Mỗi niệm của chúng ta xuyên thấu hư không giới và do đó tác động đến vũ trụ nhân sinh, nhanh hơn tốc độ ánh sáng đến không thể so sánh. Thế nên Phật bảo trong các nghiệp chúng sanh gây ra, nghiệp ý là gốc rễ. Ta không đánh đập ai song những ý nghĩ sát, trộm, dâm, dối, tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến sẽ là năng lượngđen trước hết bao vây lấy mình rồi ảnh hưởng trực tiếp đến từ trường, đến thứ năng lượng sạch ở mọi pháp giới, chiêu cảm thiên tai. Phát loại ý nghĩ xấu ác, là đang xây “ngục” cho chính mình, trong lúc chúng ta lại tưởng là lâu đài, một lâu đài ảo ảnh. Ý nghĩ có mức thu hút thứ cùng loại vô cùng lợi hại, (có thể so với khoa học Luật hấp dẫn). Trong nhà nếu bài bạc, sẽ tự động hút những người mê trò này tụ đến; còn ta dẫu lặng lẽ tụng kinh, cũng sẽ tự động thu hút những Phật tử quanh đó. Ta nghĩ xấu, nó chiêu cảm những ý nghĩ xấu sẵn giữa không trung xoáy vào tâm; nghĩ thiện thì ngược lại. Xưa nay rất nhiều người hành trì pháp niệm Phật, niệm Chú, tụng trì Kinh, quán hơi thở, thiền minh sát,… tạo nên nguồn năng lượng tịnh khiết. Ta niệm Phật ở bất cứ thời điểm nào cũng là mở cánh cửa Tâm để nguồn năng lượng thiện ùa vào. Ở mức thấp khoa học cũng kết luận trí tuệ khởi nguồn từ lòng bi, ái mẫn, tận hiến vì người.

Để phát sinh trí tuệ, Phật pháp đưa ra phương pháp chế tâm nhất xứ; như ta thắp bóng đèn hàng ngàn watt (W) dẫu sao cũng là sự sáng, còn gom vào một điểm lượng sáng đó sẽ xuyên cả sắt thép. Nó khác với sự tích lũy tri thức thế gian. Đọc càng nhiều học càng nhiều, đa phần là sự cóp nhặt thông tin; một thiền sư gọi là kiến thức ao hồ (không phải loại kiến thức lòng giếng), rồi ta sử dụng nó theo một chiều hướng gọi là phản ứng trở ra từ những kinh nghiệm. Những khái niệm được chúng ta lưu cửu thành khuôn thước dựa theo nghiệp báosở thích. Rồi chúng ta dùng vô số khái niệm, kinh nghiệm phủ chụp lên thế giới quanh mình. Khoa học nêu danh từ reaction, kết hợp giữa repeat, và action. Thấy ai có biểu hiện về tinh thầnthể chất giống với cái ta lưu trong đầu, liền mang ra gán ghép họ vào. Điều này hết sức tệ hại đối với việc ta không biết gì lại phán cho người mắc căn bệnh ấy bệnh kia; mà theo Tâm lý học hiện đạiDuy thức học cùng với Luật xung động, ta dễ biến từ không [bệnh], thành (4). Chúng ta càng học theo kiểu chấp giữ khái niệm, nên vạn sự vạn vật phần nhiều bị bóp méo trở nên tuyệt đối với riêng ta trên cái tương đối của pháp giới toàn chân. Sức mạnh của nguồn năng lượng sạch sẵn mọi nơi mọi lúc, mỗi người đều có thể sử dụng một khi tâm không vọng động. Sự ngáng trở Tâm nối mạng với vũ trụ chính là vọng tưởng, hiểu đơn giảnnghĩtưởng. Bạn hãy nhắm mắt tự răn mình không nghĩ gì sất, sẽ thấy trong đầu là dòng sông cuồn cuộn ý nghĩ. Dừng hẳn nghĩ tưởng, tâm trở về trong lặng như tờ giấy trắng là ước vọngTriết học đã chạm tới. Là kiến tạo lại thế giới một cách ngây thơ sau khi đã giảm trừ toàn bộ hiện tượng để tiến đến bản chất do chủ thể cấp cho sự vật; ở đây phát sinh một điều mà Husserl gọi là tương đồng tính là năng tri (noema) và sở tri (noesis)(5). Sự ngây thơ ở đây chính là tờ giấy trắng của Tâm; cũng là Đạo mà Lão Tử đã thâm nhập. Với triết học đó là mong ước rất xa vời. Trong nhà Phật, tờ giấy trắng chính là Tâm tịch mặc trên sự định thường tại dẫu cho thế giới đảo điên thế nào chăng nữa; từ đây “sanh ra vạn pháp” như cách nhìn của thiền sư Huệ Năng lúc kiến tánh. Tâm ấy cũng là tấm gương soi chiếu vũ trụ mười pháp giới.

Bậc thức giả lỗi lạc Friedrich Nietzsche (1844 - 1900)nhận định: Phật giáo là tương lai của nhân loại được nêu ra trong tác phẩm Kẻ chống Chúa (còn được biết đến với tên Kẻ phản Ki-tô). Với cái búa trong tay, ông muốn tạo ra hệ giá trị mới gần như chống lại tín điều ngáng trở tầm nhìn của con người về vũ trụ. Từ khoa học nhìn về tôn giáo, AlbertEinsteincàng thấy rõ Phật giáo là khoa học của vũ trụ bởi sự hoàn thiện cả hai mặt tự nhiêntâm linh. Qua Thuyết tương đối, ông chứng minh tuổi thọ con người tùy thuộc vào không gian. Thí nghiệm hai người cùng tuổi, một người vẫn sống dưới đất, người kia du hành trên trời, sau mấy năm hai bên gặp lại, người sống trên trời trẻ măng còn người kia thì già nua. Tiến sĩ, Hòa thượng Chin Kung trong thời giảng kinh Hoa Nghiêm có dẫn một câu chuyện được giới khoa học phát hiện không lâu sau Đệ Nhị Thế Chiến. “Chuyện kể rằng: Có một chiếc máy bay chở hơn năm mươi hành khách, bỗng dưng bay tới một chiều không gian khác! Rất may mắn, nó lại trở về. Sau khi trở về, đáp xuống một phi trường. Sau khi hạ cánh, mọi người cảm thấy rất ngỡ ngàng: “Chúng ta chẳng đến chỗ này, vì sao lại đáp xuống nơi đây?” Lại hỏi về thời gian của chuyến bay, tra mã số chuyến bay, đúng vậy, chẳng sai, ba mươi lăm năm trước có một chiếc phi cơ chở khách như thế bị mất tích. Bỗng nhiên nó đáp xuống, họ chẳng có cảm giác lâu lắc chi cả, từ chỗ kia bay tới chỗ này, chỉ là bay sai phương hướng. Sau khi đáp xuống, mới biết trong thế gian này đã hơn ba mươi năm trôi qua! Do mọi người đều cho rằng chiếc máy bay ấy đã gặp nạn, tiền bảo hiểm đã đều đền bù cả rồi. Họ đều quay về gặp người nhà của chính mình, chính họ chẳng già nua, giống như mới lên máy bay ngày hôm qua, hôm nay quay về, người nhà đều già khọm cả rồi! Đấy là chuyện phát sanh trên địa cầu, là thật, chẳng giả! Chiều không gian khác nhau, thời gian sai biệt lớn ngần ấy, khoa học chẳng có cách nào giải thích!” Còn như cảnh giới Cực Lạc được Phật Thích Ca giới thiệu trong Kinh A Di Đà, Vô Lượng Thọ siêu vượt 28 tầng trời(6); hay câu chuyện dân gian thường kể về người lên trời ba ngày lúc trở lại trần gian đã không còn tìm thấy người thân bởi đã trôi qua ba trăm năm, thực sự có căn cứ khoa học(7). Với Nguyên lý Vũ trụ toàn ảnh, thế giới này vốn dĩ đang trong một giấc đại mộng! Hãy tưởng đến, đang giữa ban ngày bỗng cô gái thấy phía trước người yêu (đã chết từ lâu) nói chuyện với ai đó. Cô dụi mắt ào tới (để biết mình không mơ). Vòng tay giang rộng, nhưng cô gái, thật đau đớn, bởi đó là ảnh được chiếu từ bộ máy tinh vi bậc nhất hiện thời. Các nhà lượng tử chứng minh thuyết phục cuộc sống của ta đều từ [não bộ] chiếu ra; thế giới này là ảnh được chiếu từ một a-lại-da tổng thể. Phật giảng từ rất xưa: “Nhất thiết pháp hữu vi như mộng, huyễn, bào, ảnh. Đại sư Vĩnh Gia thốt lên: “Trong mộng rõ ràng có sáu cõi”; tu chứng rồi thì “không cả đại thiên”. Để thấy rằng [phàm] nhân loại đang trong giấc mộngĐức Phật luôn gắng đánh thức bằng ngàn vạn pháp môn, để ít nhất không lao về phía vực thẳm; để ít nhất mỗi người thấy mình với mọi người mọi vật trên thế gian đều “nối mạng” vương víu với nhau trong một vở kịch bi hài.

*

Qua lý thuyết Hồi quy vĩnh cữu (eternal recurrence), Nietzsche thừa nhận sự thay đổi và tuần hoàn của vạn vật chứ không hề mất đi. Điều này là những “phác thảo” về thuyết Luân hồi trong Kinh Phật. Khoa học đã tiến rất xa so với bộ máy cồng kềnh ì ạch của xã hội vật chất. Nhiều báo cáo uy tín trên thế giới bảo vệ mỹ mãn thuyết con người chết vốn như lật giở sang trang, theo nghiệp mà tái sanh trong một kiếp khác. Thí nghiệm ở phòng cấp cứu những bệnh viện lớn với hàng trăm trường hợp chết lâm sàng, lúc sống lại họ đã kể về việc thấy xác mình nằm dưới như thế nào, thấy lại người thân đã qua đời, thấy vô vàn hồn ma tàn ác bao vây đòi nợ báo oán,thấy thần linhv.v(8). Thuyết Hữu sinh trung tâm luận (lấy sự sống làm trung tâm) “giải thích những sự kiện kiểu như những kinh nghiệm cận tử, xuất hồn, thoát xác và thậm chí là sự đầu thai mà không cần đến quan niệm tôn giáo”. Giáo sư Stuart Hameroff ở ĐH Arizona khẳng định dứt khoát rằng “có sự hiện hữu của một linh hồn thường hằng (eternal soul)… Bộ não của con người là một máy tính lượng tử hoàn hảolinh hồn hay ý thức đơn giản là thông tin được tích trữ ở vào cấp độ lượng tử. Linh hồn có thể được truyền đi, sau cái chết của thân xác”.“Thời khắc tử vong” tạo nên những “ấn tượng thiên đường” sâu đậm, tạo nên một thế giới lộng lẫy của sự sống đằng sau cuộc chuyển kiếp bi hùng. Báo cáo khoa học thực nghiệm của Giáo sư Stephenson, ông đã miệt mài trong hơn 40 năm chứng minh luân hồi có thật qua việc thu thập lượng bằng chứng khổng lồ, nghiên cứu tường tận 3.000 trường hợp rất điển hình. Qua đây ông từng được giới khoa học mệnh danh là “Galileo Galilei của thế kỷ 20”. Để thấy về Đầu thai chuyển kiếp, xét ở góc độ khoa học, rốt ráo mà nói, đã được chứng minh quá rõ ràng, đã hoàn thành đã xếp lại rồi. Vấn đề là ta không quan tâm không muốn chạm đến, bởi thường vẫn nghĩ “chúng” không liên quan đến cuộc sống của mình; vũ trụ rộng lớn ngoài kia không mảy may liên quan đến sự nghiệp và vận mạng của mình.

Gần đây có phát hiện chấn động về sóng hấp dẫn (gravitational wave) cách trái đất 1,3 tỉ năm ánh sáng(9). Trong Kinh Phật chẳng có gì lạ lẫm, mà sóng ấy ở ngay cạnh mỗi người từ vô thủy, chỉ là khoa học chưa thể chứng minh đó thôi. Lúc ta nghĩ về một người thân trong xóm so với nghĩ về một người thân cư trú ở nước ngoài đều thông đến nhanh như nhau. Đệ tử Phật môn, hễ vừa khởi tâm động niệm đã biết niệm kia trùm khắp vũ trụ rồi, và vũ trụ cũng đã “hồi âm” về chính họ vô vàn những niệm tương đồng. Luận từ Bồ tát xứ thai kinh, một niệm xuất ra ước khoảng 1 ngàn 6 trăm triệu phần của giây. Khoa học nếu chế ra loại đồng hồ chia một giây thành tỉ tỉ phần, mới cảm được không gian là zero. Cộng với việc thu tần sóng giữa trời đất đã phần nào biểu hiện không gian hẹp đến mức nào. Nếu thật có không gian, thì trong một sát-na sao cách cả đại dương có thể bắt được sóng? Nếu thời gian là thật sao những sự kiện xảy ra trong quá khứ, khoa học vẫn thu được vẹn nguyên trong không gian mênh mông này. Còn với những bậc đã thâm nhập cảnh giới, họ chỉ sống với thực tại, cái thực tại soi chiếu quá khứ - hiện tại - vị lai trên mặt phẳng của tâm thức như gương, vượt ngoài thời không. Điều khả dĩ, khoa học đã tìm ra mối liên hệ mật thiết giữa mỗi cá nhân với vũ trụ thông qua sóng. Dẫu khoa học còn chưa thể biết sóng này xuất phát từ Tâm, chứ không phải bộ não. Thí nghiệm của BBC cho thấy ý niệm từ tâm có trước khi tác động lên não là 6 giây! Sóng Tâm. Quá trình mắt (6 căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) nhìn thấy một vật (tiếp xúc với trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), được đưa vào sâu trong thức thứ 8 alaya so sánh với những thứ lưu sẵn từ kiếp này hoặc tiền kiếp rồi sanh khởi tâm thích hay ghét mới dội ngược lên não (thời gian trong khoảng 1 phần tỉ giây). Đòi hỏi người tu phải thâm nhập Thiền thâm diệu mới cảm nổi. Chẳng hạn khoa học chứng minh có một cõi sau cái chết, con người thoát xác vẫn còn đó, nhưng khoa học không nhìn thấy. Rồi tương lai khoa học nếu bảo vệ thành công thuyết có tồn tại các cõi Quỷ, Địa ngục, Thiên giới chăng nữa, cũng không thể nhìn thấy chúng sinh ở mỗi cõi đó, trừ phi họ hành Pháp đắc đạo (chứ không phải học Pháp). Sự nhìn thấy này chính là Tâm trong veo như gương, và các cảnh giới tự hiện. Nói đúng hơn, Tâm mỗi chúng sanh vốn đã là tấm gương lớn (đại viên kính trí) phản chiếu toàn vũ trụ, chỉ là tạm do nghiệp phủ mờ. Hiểu trên phương diện khoa học, mỗi người vốn có tính chất của một dạng ăng-ten thu và phát sóng không ngừng. Ai không nhận được là do tâm vọng. Việc bậc tu hành chứng ở quả vị đầu tiên rồi quả thứ hai Tư đà hàmTha tâm thông, biết được ý nghĩ của bất cứ người nào trên thế gian, là sự thể không quá xa vời trong hạn hữu cái biết của Lượng tử học. Tôi hồi chưa học Phật từng có duyên gặp một vị ẩn tu, mà mình vừa nghĩ gì họ đã biết, nói ra cho tôi hay, khiến tôi xấu hổ cùng tận! Chợt nghĩ tương lai khoa học sẽ sáng tạo ra máy phát hiện mọi ý nghĩ của con người, (và tai hại thay nếu nó luôn hiện trên màn hình công cộng); hẳn ai nấy sẽ tự hiểu cái hẹp hòi của tri thức không giải quyết được phiền não, nghiệp nạn nếu không thực hành chánh pháp. Ở công trình Nước kết tinh của tiến sĩ Emoto đã cho thấy ý nghĩ của con người tác động trực tiếp đến vạn sự vạn vật(10). Sự tác động ở đây nếu hiểu rộng là do tác động của ý từ Tâm mỗi người. Vật lý lượng tử xem ý thức cũng là dạng “hạt siêu vị trí”, một khi vật được tác động bởi ý sẽ đổi khác và đặc biệt tạo nên “sự dao động toàn phần”. Từ những hành vi thường tình mà xét, chưa bàn đến sự gây rối xã hội thông qua thânkhẩu, ai hàng ngày với ý nghĩ thuần thiện chính họ là “diệu hảo nhơn”, góp phần hài hòa thế giới. Ở đây xin dừng lại để cúi lạy các bậc xuất gia tu hành chân mật. Chính họ, nhờ việc nhất tâm hành trì kinh giáo phát ra năng lượng tịnh khiết cùng với lực gia trì của chư Phật và Bồ tát đã giữ cho trái đất được trường tồn, giữ cho phước mạng mỗi người không phân biệt bản tánh ra sao. Chúng ta khỏe mạnh hạnh phúc tưởng chỉ nhờ mồ hôi nước mắt của mình âu là sự thật quá đỗi lầm. Chúng ta không hiểu nên không khởi lòng tri ân ấy là lỗi lỗi quá chừng. Ai với ý nghĩ ác (vượt khỏi khuôn Thập thiện Ngũ giới) là góp phần phá hoại thế giới. A truy đuổi B, không thấy B nhưng thấy xe của B liền thả sức đập phá; là A đang xả vào không gian một nguồn nhiệt lượng ác loang mãi và đến một ngày sẽ trở về với chính A. Hoặc, Y trả thù đánh Z; việc hại người này nhiều đôi khi tội không lớn bằng lượng từ trường sân giận Y phóng vào vũ trụ. Hay đó là việc một người chỉ ở trong nhà (xem như vô hại), song luôn luôn thù hận hằn học hoặc xem đồi trụy trên internet dậy nên vô vàn ý nghĩ độc... Thử cho một giọt mực vào bể, không cần tác động, hãy để yên như vậy sáng mai ta sẽ thấy giọt mực kia hòa khắp cùng nước trong bể. Lại hỏi nước biết giận hờn chăng? Câu trả lời từ khoa học là “Biết”. Kinh Hoa Nghiêm: “Tình dữ vô tình đồng viên chủng trí”(11). Nước hiểu sâu sắc ý nghĩ con người. Loại năng lượng xấu ác từ nhân tâm đang ngày càng gia tăng, đồng nghĩa với việc nước trong đại dương sông bể ngày một giận dữ. Nhân đã có, một khi vướng duyên sẽ tạo quả, cơn giận của nước bùng lên thành sóng thần. Động đất, thiên tai địch họa xét đến cùng cũng từ nguyên lý này. Ai chứ các nhà khoa học tiến bộ thì tin, vì họ đã mãn nguyện lý thuyết này.

Con người có thể bay lượn, biến hóa như chàng Ngộ Không? Trong Phật pháp, đây là sự thường. Vấn đề ở chỗ vọng niệm trùng trùng. Lưu một kỷ niệm, nó nằm đó mãi, bởi ta mê, luôn muốn bộ não chiếu lại nhấm nháp. Không cách gì xóa. Khoa học phát triển tới đâu cũng không giải quyết nổi vấn đề này. Bởi vọng chỉ được đẩy lùi thông qua việc chọn một Pháp môn trong nhà Phật quán sát tâm thời thời khắc khắc, gần như buông bỏ vạn duyên mới mong tiếp nhập cảnh giới siêu phàm. Ta mê tài - danh - sắc - thực - thùy, bị dục lôi kéo bởi ký ức quá đậm. Người bậc thấp thì mê sắc dục - ăn uống - ngủ nghỉ; người cao hơn thì mê tài - danh, hoặc họ mê tài danh dựa trên sắc thực thùy. Đều là do thammạn sai sử, mà gốc là do nghi lời Thánh hiền. Nếu ta nhạt bớt tham, ngã mạn, lợi dưỡng, làm trước hết vì người, thì tài danh vô hại, tài danh cần phát huy, còn không đều nằm trong khuôn khổ tham, đều nằm trong lâu đài của ảo ảnh. Sao ta mong Tết, trong lúc tháng năm vẫn nhẹ nhàng trôi; chính bởi tàng thức lưu giữ những hoa hòe, anh em xa gần hội ngộ, ta lưu hình ảnh bữa cơm tất niên, lộc lì xì, ta lưu cữu những bài hát về mùa xuân và phút giao thừa thiêng liêng, ta lưu giữ bổng lộc và tiền thưởng hậu hĩnh. Chúng đều là nhiên liệu nghiệp thức phóng “linh hồn” vào vòng luân hồi kiếp tới. Tưởng?! Tưởng đến niềm vui nhưng không có trước mặt, liệu có phải khổ? Tưởng đến nỗi buồn liệu nỗi buồn có vơi hay nhân lên gấp bội? Những câu hỏi luôn có đáp số rõ ràng nhưng ta vẫn lao theo. Người vợ mất chồng đang tuổi xuân thì ngày đêm chiếu lại những thước phim quá khứ; xem đến hao kiệt nguồn sống, phát bệnh rồi tự kết thúc vận mạng. Chính những lúc tâm chao lộn về những thời gian vàng phủ bụi hay ngược về tưởng cảnh người chồng bỗng làm cuộc trở về trong tưởng tượng, là thân đang ngồi lại với một hiện tại bạc nhược ươn hèn. Khoa học cảnh báo tưởng về quá khứ là ném sức mạnh về quá khứ, tưởng về tương lai là ném sức mạnh về tương lai. Quả, diệu lý. Mọi huyễn tướng đều ảo ảnh nằm trong “ngũ ấm ma” như Phật đã dạy; và dĩ nhiên ta hành pháp mới dần nhạt đi huyễn giác, ai thực tu sẽ có cơ duyên ra khỏi ảo ảnh, do đó họ tuyệt đối chạm được thứ hạnh phúc thật, không ảo.Cái này nếu đem kiến giải thông thường thì đến Phật cũng oan! Rất nhiều bậc đạt trình độ giảng bất cứ bản kinh nào với lượng thông tin mênh mang như biển cũng không cần suy nghĩ, không cần chuẩn bị mảy may. Nó thuộc về quả vị Vô Học xuất thế. Thiền tông luôn khuyên nhắc hành giả phải an trú trong thực tại, thực tại của từng giây sanh diệt. Tịnh tông khuyến tấn đặt câu Phật hiệu trong tâm không gián đoạn.Sông đời luôn cuộn xoáy. Ta lao theo vọng tưởng là buông thả cùng luân hồi. “A Di Đà Phật”; ý nghĩ hình ảnh vừa khởi, ta vin lấy nó sẽ phác lộ sự an lạc ngay giữa trần lao. Câu Phật hiệu này vốn là “bí kíp” đầy trí tuệ của Phạm Công Thiện. Câu này ai không thực tu mà cầm cũng bằng mê tín, rất tầm thường; ai hạ thủ công phu thực hànhcứu cánh tối thượng.

Khoa học thực nghiệm, nếu hút hết cái không trong mỗi người thì lượng vất chất còn lại chỉ bằng một hạt bụi. Nhưng cái file chứa lượng thông tin khổng lồ trong quá trình sống lại vĩnh hằng. Chẳng hạn tương lai dữ liệu cá nhân không cần lưu trong vi tính trong các ổ đĩa nữa, mà lưu trong box đám mây, không cần mang theo bất cứ gì ta cũng lấy được chúng. Với ngành Vật lý, chỉ nói đến hạt trung tử thôi, nó đã tự tại phiêu du không chướng ngại xuyên qua tấm sắt dày hàng vạn km. Một cục sắt? Nó đâu phải vật chất, nó là sự hội tụ của hàng tỉ các hạt - đơn giản thế thôi. Có vậy các đệ tử Phật tu ở mức đưa được tâm về không, họ không còn ý niệm về một cái ta hiện hữu (nhân tướng), không ta sẽ không cảnh (ngã tướng), mới xuyên tường tự tại. Sự tiến bộ của khoa học, nhìn từ Phật pháp, quả vạn lần bội phục. Người ta có thể chụp gen của một người, rồi bằng công nghệ in 3D phun ra (như kiểu in phun lên giấy) bức tượng y hệt. Thử nghiệm “xây” cây cầu nhỏ theo dạng chất liệu phun đôi khi mắt không nhìn thấy, đã hoàn mỹ. Tương lai những ngôi nhà hẳn cũng được xây dựng theo cách phun này; rồi những công nghệ kiểu “nhân bản vô tính” chẳng có gì lạ. Nhưng đó thực là thảm họa. Một khi không ngăn được việc “copy” những con người giống hệt bằng xương thịt nhưng với một tâm hồn vô cảm sẽ sớm hại diệt hành tinh xanh. Ngành khảo cổ học đã phát hiện, khoảng 6 vạn năm trước từng tồn tại đế chế Atlantic phát triển cao siêu đến độ phương tiện giao thông không tiếng động, lấy năng lượng sạch từ không trung nên cũng không ô nhiễm; con người thì đạt đến “sự hưởng thụ điên cuồng”, đắm trong Dục! Kết quả là thảm họa bị nhấn chìm xuống đáy biển Đại Tây Dương. Trong Phật pháp cuộc sống giản đơn vẫn mang lại hạnh phúc viên mãn, ở đó giàu sang, danh vọng và sự hào nhoáng vật phẩm không liên quan. Một khi ai “phát tâm” hưởng thụ, là mở đầu cho chiến dịch tạo nghiệp (như nguồn điện năng đang cung cấp cho bóng đèn quả ớt bỗng bị cắm thêm bàn ủi, lò sưởi), phước mạng tiêu hao ngồn ngộn khiến con đường dẫn đến tai nạn, đến bệnh viện và đến nghĩa trang ngắn hơn bao giờ hết. Tất thảy mọi tài sản ta có, cho đến sự bình an nói chung, đều nhờ Phước trong Mạng. Phước như dầu trong đèn, nhưng khác là ta không biết phước còn bao nhiêu, nên cứ đốt và không nghĩ đến việc tích phước chêm dầu. Liên tưởng đến tư tưởng “hãy tận tình hưởng thụ cuộc sống đi, ngày mai khó mà đoán trước” của người dân trong kinh thành La Mã cổ đại Pompeii vào năm 79 SCN; nay các nhà khoa học tìm thấy nguyên nhân chính từ dòng chữ khắc trên vách tường với lời nhắc nhở về tội ác từ sự hưởng thụ dục lạc vật chất đã đến mức đầy ứ.

Thời đạithế giới đang thu hẹp trên một mặt phẳng, việc khởi ý niệm của mỗi người thật sự quá lợi hại đối với sự an nguy của địa cầu. Chuyển vào thế giới mạng một mẩu tin xấu, nó dội nghiệp thức về tác giả (nhận phần trăm) cho đến khi mẩu tin đó vĩnh viễn biến mất khỏi hành tinh ở sự tướng. Những người có ảnh hưởng lớn đến số đông, từ hành vi lời nói, cho đến sản phẩm được truyền tải qua sách báo, băng đĩa, chẳng thể không suy ngẫm. Việc nhận diện ta với vũ trụ có mối liên hệ “huyết thống” thật sự quan trọng để góp phần cứu vãn thế giới bên bờ hủy hoại mau chóng. Tại những hội nghị hòa bình, đối phó thiên tai quốc tế thời gian qua, nhiều khoa học gia không khuyên giải giáp vũ khí không khuyên chống chiến tranh, mà khuyên nhân loại mỗi người hãy ý thức việc bỏ ác hành thiện, đoan chánh tâm niệm; thật sự là đang nhìn theo luồng ánh sáng chiếu từ “lỗ đen” của vũ trụ, thật sự đang nhìn theo cái nhìn Đức Phật trong ánh hào quang của từ bi vô lượng.

 

 

----------------------

(1)Lý thuyết toàn đồ hay còn được biết đến với tên gọi Lý thuyết não bộ toàn ảnh (the holonomic brain theory), được phát triển bởi khoa học gia thần kinh Karl Pribram trong một sự kết hợp với nhà vật lý lượng tử lừng danh David Bohm; lý thuyết là mô hình về sự nhận thức của con người qua việc mô tả não bộ như là một hệ thống liên mạng tích lũy mang tính toàn ảnh (holoraphic storage network) - (Tuệ Đan hiệu đính).

(2) Michel Foucault: Nếu thử một lần tháo dỡ toàn bộ ngôn ngữ hiện có trên thế giới này thì nhân loại khi ấy chẳng còn lại gì cả. Còn với nhà triết học Pháp Jacques Derrida (1930 - 2004), cha đẻ của thuyết Giải kiến tạo (deconstructionism): Sự định danh luôn đánh mất những chân trời ý nghĩa của ngôn từ; khi một sự vật được định nghĩa như là một cái gì đó (trong từ điển chẳng hạn) thì chính lúc ấy những cách hiểu khác cũng như những cách định nghĩa khác về nó sẽ bị khép lại và bỏ qua, sự định danh vô tình làm nghèo nàn đi tính biểu tượng của ngôn ngữ. - (Tuệ Đan hiệu đính).

(3)Hiệu ứng cánh bướm (butterfly effect) quan niệm rằng những nguyên nhân nhỏ, yếu hay không quan trọng lại có thể gây ra những kết quả to lớn. Trong lý thuyết hỗn độn (chaos theory), hiệu ứng cánh bướm là sự phụ thuộc về độ nhạy dựa trên những điều kiện ban đầu, ở đó, sự biến đổi rất nhỏ trong một trạng thái của hệ thống phi tuyến tính xác định cũng có thể mang lại kết quả trong những sự khác biệt to lớn nơi một trạng thái sau đó. - (Tuệ Đan hiệu đính).

(4) Lượng tử học cho rằng một sự vật sờ sờ trước mắt, ta cũng chỉ tiếp cận được với bản chất sự thật của nó rất hạn chế, thậm chí là một phần tỉ; rất khế lý Phật pháp. Đức Phật chỉ ra bởi phía sau mỗi hành động của chúng sanh là con tàu nghiệp lực sai khiến (oan gia trái chủ từ hữu hình như các loài vật hay người bị mình giết, phá thai, từ những ý nghĩ xấu do tâm mình phóng ra, và do tập khí huân tụ từ kiếp này và tiền kiếp). Chẳng hạn một vụ án đương sự đã thú nhận với đầy đủ tang chứng vật chứng; nhưng trường nghiệp lực sai khiến thôi thúc phạm nhân kia hành ác thì chỉ có bậc tu đạt Thiên nhãn thông mới thấy. Theo đó mọi hành vi trong đời đều như một ngọn tháp vĩ đại sừng sững giữa trời với vô vàn mặt song ta chỉ thấy được một mặt hướng về phía mình. Ta, thực không thể gọi là làm chủ được mình một khi Tâm chưa gạn lọc đến mức tịnh khiết; chẳng hạn ý muốn một cái gì nổi lên liên quan đến dục lạc, liệu có cưỡng lại? rồi ý nghĩ ấy dồn dập, chiêu cảm thêm năng lượng tương đồng sẽ đẩy ta đến hành động - là lộ trình của nghiệp [karma] đi từ nhân tương tác với duyên tạo quả.

(5) Triết gia Đức Edmund Husserl (1859 - 1938) đưa ra ba giai đoạn để đạt được yếu tính thuần túy của sự vật: (1) giảm trừ triết học hiểu như là hoài nghi, gạt bỏ tất cả những gì chúng ta đã học, đã biết từ sách vở, truyền thống, tập tục, lối sống…; (2) giảm trừ bản chất, nghĩa là đóng ngoặc mọi hiện tượng (khoan vội phán đoán quy kết định danh), tiến hành tìm lại kinh nghiệm ban sơ như lúc đầu ta bắt gặp thế giới, đến giai đoạn này điều quan trọng là ta phải biết gạt bỏ “thiên khiến thế giới”; (3) giảm trừ hiện tượng học, nghĩa là kiến tạo lại thế giới một cách ngây thơ sau khi đã giảm trừ toàn bộ hiện tượng để tiến đến bản chất do chủ thể cấp cho sự vật, ở đây phát sinh một điều mà Husserl gọi là tương đồng tính là năng tri (noema) và sở tri (noesis). - (Tuệ Đan hiệu đính).

(6) Vào giữa tháng 12 năm 1993, sau khi phi hành gia người Mỹ sửa chữa lại kính viễn vọng Hubble, vỏn vẹn trong vài ngày liền xuất hiện kỳ tích, kính viễn vọng hướng về một chòm sao thiên thể xa xôi, kết quả là đã chụp lại được “Thế giới thiên quốc” tươi đẹp ở trong vũ trụ. Ngày 8 tháng 2 năm 1994, tuần báo tin tức thế giới đã lần lượt đăng tải bức ảnh này, đồng thời cũng báo cáo về phát hiện của tiến sĩ Marcia Masson. [Tiểu Thiện, dịch từ Renminbao; theo tinhhoa]. Bức ảnh “Thế giới thiên quốc” hiện có trên internet.

(7) Theo Kinh Phật: Tuổi thọ thiên nhơn ở trời Tứ đại thiên vương là 500 năm (1 ngày đêm bằng 50 năm cõi hạ giới), tương đương với 9 triệu năm cõi người; ở trời kế tiếp Đao Lợi, một ngày một đêm bằng 100 năm ở cõi người, tuổi thọ trung bình là 1.000 tuổi; cứ thế tăng lên đến cõi trời Dạ ma, Đâu suất, Hóa tự tại, Tha hóa tự tại, v.v; đến tầng trời cao nhất Phi tưởng phi phi tưởng là tám vạn đại kiếp (mỗi đại kiếp tương đương với một lần trái đất thành - trụ - hoại - không); người ở cõi trời Phi tưởng này sống hoàn toàn trong định, nhưng vẫn cứ hết phước hết thọ mạng lại “rơi xuống” luân hồi trong lục đạo (trời, người, a tu la, súc sanh, quỷ, địa ngục), chưa ra khỏi Tam giới, tức chưa chứng quả thánh đầu tiên Tu đà hoàn theo tầng bực thuộc Nhị thừa giáo; đến quả thánh thứ tư A la hán mới thoát nghiệp tử sinh; hoặc thù thắng hơn là những hành giả thuộc Tịnh độ tông tu niệm A Di Đà Phật đạt Nhất Tâm Bất Loạn cầu sanh về thế giới Cực Lạc.

(8) Người ta đặt những vật trên những cái giá đỡ sát trần khoa Cấp cứu, được thay đổi thường xuyên, không ai có thể nhìn thấy, ngay bác sĩ ở đó cũng không được biết. Khi hồn lìa xác thường ở dạng chân không nhẹ bẫng, “họ” nâng dầng lên và vô tình thấy những vật trên giá đỡ. Sau này sống lại, những người đó được phỏng vấn đã kể tường tận sự kiện bỗng nhiên thoát xác. Trong đời thường ở bất cứ quốc gia nào những chuyện tương tự đếm không xuể.

(9) Ngày 14/9/2015, Đài quan sát sóng hấp dẫn giao thoa kế laser (LIGO) bắt được tín hiệu sóng hấp dẫn từ hai lỗ đen va chạm nhau cách Trái đất 1,3 tỉ năm ánh sáng.

(10)Thuyết Bất định (uncertainty principle) của Heisenberg cho rằng cùng một lúc không thể xác định đồng thời vị trí và vận tốc của một điện tử hay lượng tử; xác định cái này thì cái kia trở nên bất định và ngược lại, bởi do tác động chủ quan từ đối tượng thí nghiệm (như dụng cụ đo, phép tính, xử lý số liệu).

Trong Thông điệp của nước, tiến sĩ Masaru Emoto, giám đốc Viện Hado ở Tokyo, Nhật Bản, đã trình bày những kết quả chụp ảnh có độ phân giải lớn từ những tinh thể nước với kích thước siêu nhỏ. Nghiên cứu được thực hiện: cho nước tiếp xúc với một tác nhâný thức như suy nghĩ, âm nhạc, ngôn ngữ, từ ngữ hay một yếu tố vật lý, (không gian không giới hạn, ví như đặt cốc nước ở Mỹ nhưng người tác động suy nghĩ xấu hay tốt ở Việt Nam) sau đó nhỏ giọt nước ra khay rồi đem bỏ vào tủ lạnh, hạ nhiệt độ xuống còn -0C để nước kết tinh thành băng, nhanh chóng lấy ra đặt dưới kính hiển vi có độ phân giải cao để chụp lại mẫu tinh thể của nước; phát thông tin xấu nó xấu như lá mục, phát thông tin tốt nó như hoa tuyết kim cương; với câu hồng danhNam mô A Di Đà Phật”, câu chú “Um ma ni bát di hồng” hay cho nước nghe Kinh thì kết tinh mỹ mãn - (Tuệ Đan hiệu đính).

(11) Loài hữu tình (con người, động vật nói chung) và vô tình (thực vật, khoáng vật…) đều chung một bản/tánh thể, đều có kiến (tánh thấy), văn (tánh nghe) giác (tánh nhận thông tin), tri, v.v. Đây vốn là [Pháp tánh] bản nhiên của muôn vật. Theo kinh Phật, chẳng phải riêng nước mà ngay cả sơn hà đại địa đều có thanh, sắc, hương, vị; đều là khởi từ chúng duyên hòa hợpsanh khởi (như con người) và đều có mối liên hệ với con người trong một trường sóng nhất định


 

 

Lấp lánh những góc nhìn huyền diệu

 

Vũ trụ, con người hình thành như thế nào và tương lai sẽ ra sao? Câu hỏi chưa bao giờ được xếp lại. Khoa học lượng tử luôn tiên phong trong việc mở hướng nhìn ra ngoài thế giới. Nhiều báo cáo đúc rút từ những công trình khám phá vũ trụ đã làm thay đổi nhận thức về vạn vật. Để kết luận nước có tri giác, hiểu được ý nghĩ con người, tiến sĩ Masaru Emoto đã thí nghiệm hàng vạn mẫu nước. Dẫu rất nông cạn, song tiếp cận với nhiều thành quả khoa học công bố mới nhất, chúng tôi thấy rất gần với Kinh điển Phật giáo.

Bầu trời chúng ta ngước nhìn, khoa học ước đếm có hàng tỉ ngôi sao. Mà trái đất chưa thể lớn bằng một ngôi sao. Phi thuyền của nhân loại mới chỉ bay đến một số ngôi sao gần nhất trong hệ ngân hà. Giáo lý Phật môn mô tả, một dải ngân hà được gọi là đơn v thế giới. Cứ một ngàn dải ngân hà được tính là một tiểu thiên thế giới; một ngàn tiểu thiên thế giới là một trung thiên thế giới; một ngàn trung thiên thế giới là một đại thiên thế giới. Trong vũ trụ lại có trùng trùng đại thiên thế giới như vậy. Toàn giác là bậc câu thông cùng vũ trụ, họ cùng một thể tánh với vũ trụ, thấu suốt quy luật vận hành của vũ trụ rồi “truyền thần” lại sự thấy biết đó. Để thấy rằng Đức Phật không sáng tạo ra vũ trụ, không chế định ra luật nhân quả luân hồi, mà vũ trụ vốn sống động từ vô thỉ dù Phật có ra đời hay không.

Những công trình khoa học đem đối sánh với kinh điển nhà Phật đã phần nào hé lộ chân tướng nhân sinh vũ trụ bí ẩn. Nước Mỹ từng có hai vệ tinh đặt ở bắc bán cầu và nam bán cầu để đo từ trường của trái đất. Một ngày tháng 9 năm 2001 bỗng từ trường của trái đất cong vênh. Những nhà khoa học trực tại đây chưa từng thấy hiện tượng đột biến này. Đến lúc những chiếc Boeing đâm vào tòa tháp đôi New York gây ra đại họa thảm khốc, mới vỡ lẽ. Một nhóm người ít ỏi phát ý niệm cực xấu, nguy cơ làm hại nhiều người đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến từ trường trái đất. Khoa học hiện đại kết luận, vật chất vốn không có; vật chất chỉ là sự dao động trường. Theo tiến sĩ vật lý lượng tử của Đại học Harvard John Hagelin (Giám đốc Liên Hiệp toàn cầu khoa học gia cho Hòa bình Quốc tế, là người đã phát triển lý thuyết "Trường đại thống nhất dựa trên siêu dây" của A.Einstein): “Ý niệm là dạng dao động sóng phát ra sẽ biến đổi từ trường, có thể ảnh hưởng cả một thành phố”. Còn chân tướng sự thật thì sao, theo lời dạy của các vị minh sư cũng như trong Kinh điển, mỗi ý niệm dầu nhỏ nhiệm là "nhổ một sợi lông chấn động toàn thân", nên một ý niệm của riêng mình có thể chấn động tận hư không khắp pháp giới. Năng lực của tâm quá lớn, thật ngoài sức tưởng tượng, thậm chí còn hơn cả bom nguyên tử như một thiền sư từng ví. Tâm chính là pháp giới; toàn cả vũ trụ chính là tâm mình.

Đức Phật dạy: "Tất cả các pháp từ tâm tưởng sanh". Kinh Kim Cang: “Phàm những gì có hình tướng đều hư vọng”. Đến nay ngoài những công trình vĩ đại khiến Phật pháp thêm sáng thì khoa học không thể chứng minh điều ngược lại. Một giây con người phát xuất hàng tỉ ý niệm, thì còn gì trong tam thiên đại thiên là ngoại vi của Tâm. Theo Phật Di Lặc, một giây người phàm phát xuất ra 1280 triệu ý niệm tế, cũng là điều mà khoa học đã nhìn ra. Ấy chính là vọng tưởng đảo điên. Những học giả hàng đầu thế giới khuyên người đời nên nối mạng với làn sóng từ vũ trụ. Năng lượng thiện vốn sẵn trong trời đất, ta vừa mở tâm thiện lập tức nó ùa vào. Khoa học thấy giữa người với người đều “nối mạng” tư tưởng với nhau, không ai đứng độc lập giữa vũ trụ bao giờ; nghĩ ác thì hút vào năng lượng ác, sự chiêu cảm tự nhiên này thật đáng sợ. Lòng sân hận của giống loài trên hành tinh cộng lại tạo nên sóng thần cùng bao thiên tai ác chướng. Khoa học minh chứng được mức độ biểu cảm của nước. Nếu ta hòa ái với nước, bức ảnh chụp nước kết tinh đẹp như hoa tuyết; nếu khinh khi sân hậnsử dụng nước phí phàm, kết tinh chụp được xấu như một quả thối. Cơ thể người nước chiếm từ 50-70%, là “nói” lên điều gì? Tác phẩm Vạn vật của Vũ trụ Hồng trần của giáo sư Eddington đưa ra một kết luận: “Nếu chúng ta loại bỏ hết các khoảng trống không trong thân thể con người và góp lại những chánh điện tửvàđiện tửcủa con người làm thành một khối, thì xác thân của chúng ta chỉ còn nhỏ bằng hạt bụi, phải dùng kính phóng đại mới vừa đủ thấy mà thôi”. Ngạc nhiên chưa. Nước có biểu cảm, có “kiến, văn, giác, tri”; nước hiểu sâu sắc ý nghĩ và mọi ngôn ngữ trên hành tinh. Thậm chí cốc nước đặt ở Nhật, nếu một người ở Việt Nam quán tưởng yêu thương hay hờn giận, khi đem kết tinh, chụp lại sẽ cho ra hình ảnh đẹp như kim cương hay xấu như trái thối ứng với niệm của người đã quán tưởng; có nghĩa không gian bị xóa nhòa.

Một thiền sư Ấn Độ khuyên nhủ người đời: “Nếu người đó thật sự có điều xấu mà con nghĩ, thì con đang làm cho nó mạnh hơn và nuôi dưỡng tính xấu đó; và như vậy con đang làm cho bạn con trở nên xấu xa thay vì tốt lành hơn”. Liễu nghĩa ấy, chúng ta sẽ luôn nghĩ thiện về tha nhân để họ được tốt hơn. Đó cũng chính là nước trong ta lên tiếng đòi “nhân quyền”. Nước biết được đáp áncông trình vĩ đại; tác giảtiến sĩ Masaru Emoto, nhận xét: “Tâm của bạn tốt, vạn vật tự nhiên cũng sẽ tốt; tâm của bạn không tốt, vạn vật tự nhiên cũng sẽ không tốt”.Khám phá về đời sống thực vật, cũng vui ghét giận hờn trước thái độ đối xử của con người. Một kẻ cầm dao chặt cây, từ trường đo được méo mó chứng tỏ cây đang run sợ. Cũng cầm dao song người ấy chỉ giả bộ, từ trường phẳng lặng cho thấy cây đi guốc trong bụng người. Người ta từng tách mẹ con nhà hươu ra nhốt ở hai quốc gia xa lạ. Hễ mỗi lần đưa một hươu con ra bắn thì từ trường của hươu mẹ (ở quốc gia khác) “rùng mình”! Trong nhà Phật tuyệt đối không ủng hộ thí nghiệm này, song qua đây cho thấy ý nghĩ/ý niệm của động vật nói chung đều trong sát-na trùm phủ khắp hành tinh.

Đầy ắp những câu hỏi tại sao đời sống ngày được nâng lên, lại quá nhiều vấn nạn xã hội nảy sinh. Điển hình như ngành Y học đang phát triển tột bậc, con người vẫn mắc rất nhiều bệnh quái gở và bệnh viện mọc lên càng nhiều. Nói một cách đơn giản, là bởi con người ngày càng đánh mất nền tảng, chủ yếu về mặt tinh thần. Trước hết, nền tảng đạo đức phải được gây dựng từ nhỏ, thậm chí cần giáo dục từ lúc còn thai nhi như cái nhìn sáng suốt của bậc thánh hiền xưa. Khoa học hiện đại phần nào phát hiện ra diệu lý này, cho thấy mỗi ngày trong bào thai bằng hàng chục triệu năm tiến hóa sinh vật và trọng lượng cơ thể biến đổi tăng lên hàng tỉ lần, để thấy một ngày giáo dục thai nhi bằng rất nhiều năm trời đứa bé lúc sinh thành. Nền tảng đạo đức có từ thai nhi sẽ giúp sinh mệnh đó giữ được phẩm chất cốt tủy của đời người, luôn hướng đến hai chữ Hòa Bình từ nghĩa hẹp cho đến nghĩa rộng là đối lập với Chiến Tranh. Đức Đạt Lai Lạt Ma, bậc Thánh thời nay, với tư cách là người học trò thuần thiện của Đức Phật từng ngày khuyên mọi người bỏ ác hành thiện, hướng đến một thế giới bình đẳng bao dung, đúng như thông điệp chư đại đức từng dạy: “Chúng ta cùng là con người, không phân quốc gia, chủng tộc, tôn giáo, đều phải bình đẳng thương yêu lẫn nhau”. Ngài cũng nhắc nhở: "Những gì ông cha (tức cổ đại đức, trong đó có Đức Phật) nói với chúng tahoàn toàn sự thật".

Đức Phật không biện chứng sao thấy được tám vạn bốn ngàn vi khuẩn trong nước? Hồi đó người đời không tin. Phật giảng Kinh Hoa Nghiêm trong niệm (một dạng sóng), nghe vậy người người cho viễn vông. Nay khoa học bắt được sóng, sử dụng sóng khiến thế giới trở nên nhỏ hẹp. Niệm Phật trì chú, tụng kinh cũng là sóng, còn là sóng cực mạnh, cực lợi dưỡng thân tâm. Tâm vốn tạp, vốn không một khắc ngưng nghỉ sự dao động, tức luôn niệm xấu ác. Ta không tác ý nó vẫn tự niệm. Nếu tác ý niệm thiện, sẽ tạo nên tương lai thiện, tác ý niệm ác thì ngược lại. Có nghĩa, nếu ta không tác ý thì nó sẽ tự niệm theo tập khí, theo nghiệp lực từ thói quen trong kiếp này và cả từ tiền kiếp. Ta không tác ý niệm Phật, tâm sẽ tự niệm chín cõi còn lại, mà dễ vào nhất là niệm tham sân si. Mỗi giây, hàng tỉ tỉ ý niệm từ nhân loại phóng ra, thành một dạng sóng, đều ùa vào alaya mỗi cá nhân, song ta chỉ nhận biết khoảng một phần tỉ nhờ mắt tai mũi lưỡi thân ý. Thử ví dụ: một lần tôi đang nằm ngủ, mơ thấy người bạn xin số di động của Q. Tôi từ lâu đã nhớ số Q liền đọc cho họ. Mới đọc được bốn số 0914..., bỗng chuông điện thoại reo. Tôi giật tỉnh, dựng dậy chộp điện thoại; lạ không, Q đang gọi. Có nghĩa, trước lúc Q bấm gọi cho tôi, đã nghĩ về tôi, đã phóng ý niệm về tôi (lúc tôi đang ngủ); ý niệm đó liền khởi động tâm thức trở thành cơn mộng (mơ thấy tôi đang đọc đúng số điện thoại của Q cho người xin số). Trong một giây biết bao ý niệm như vậy xuyên vào alaya, ta lại không hề nhận biết. Đơn giản bởi tâm ta quá loạn. Nếu tâm trong lặng tịnh tĩnh, ai đó vừa nghĩ đến mình đã biết ngay. Còn cao hơn, chân tâm ấy sẽ như ngôi nhà không cửa, ý niệm trôi qua chẳng hề mảy may gợn sóng, nên không bị nghiệp lực chi phối (từ những ý niệm hữu/vô tình phóng qua). Hoặc đó là những người chuyên đặt tâm vào quán hơi thở, chuyên lần theo một câu chú, câu Phật hiệu, tâm lần chữ nào tai nghe rõ chữ đó, từng câu nối thành chuỗi, từng chuỗi nối nhau nên không ý/vọng niệm nào xen ngang. Gọi vọng tâm là bởi tâm ấy chứa nhiều tạp niệm. Những dòng sau đây của Lama Anagarika Govinda, nguyên là giảng viên Triết học tại Đại học Naples: “Mantra hay Hồng danh Chư Phật, hay Hồng danh Phật A Di Đà, được niệm lên với tất cả sự thành kính, được niệm lên nhiều lần, được niệm lên qua năm tháng. Ngữ điệu, âm thanh,... là những dao động. Tần số Linh thiêng này, như một nguồn cưỡng bức điều hòa, làm cho Tần số của các Chuỗi tạo nên Cơ thể, Tần số của các Chuỗi tạo nên Tâm thức, tạo nên quá trình Tâm thức của Con Người là Thọ, Tưởng, Hành và Thức; hòa nhập cùng Tần số Linh thiêng. Hiện tượng Hòa Tần số xảy ra. Tạo nên sự hòa nhập Thân, Tâm với Vụ trụ. Phật tánh Hiển lộ, Niết bàn xuất hiện”. 

Con người ngày bị bủa vây bởi thông tin, hiện tượng nghiền lướt web đã khiến Tinh Thần bị nhiễm độc, trí phán đoán sụt kém; biến mình thành một dạng đài thu phát sóng những thông tin đa phần trái với Thập thiện, khiến thời không nhiễu loạn, xã hội thêm động loạn. Là điều mà các nhà khoa học kêu gọi nhân loại hãy nghĩ thiện hành thiện để tránh thiên tai địch họa; đây là điều chưa phổ cập vì ngay cả trí giả thời thượng cũng chưa tin, rằng sóng tư tưởng còn mạnh mẽ và lợi hại vạn lần những thứ sóng kiểu như internet, điện thoại kết nối toàn cầu. Sự kết hợp giữa hai loại sóng này sẽ gây lên những căn bệnh xuyên thế kỷ, y học càng ngày càng bất lực.

Kinh điển Phật phápphác họa một cách chi tiết hình hài vũ trụ. “Tin thì tin không tin thì thôi” - đơn giản như một câu thơ vậy. Một cao tăng từng ví, nếu Phật pháp là ngôi nhà ba tầng thì tầng thứ nhất là Nho, tầng thứ hai là Đạo, tầng trên hết là Phật. Ai chưa vào được Phật giáo Đại thừa hãy học kỹ Nho, Đạo. Cái "Không" (không là gọi cái bản thủy trời đất) trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử rất gần với Tánh Không trong Bát Nhã. Tuy xét đến cùng, Lão Tử cũng là Bồ tát vô vi sanh tử rộng độ quần sanh. Điều nhiệm màu luôn khó tin. Ngay đến người học Phật cũng còn tồn nghi; nghi Phật giáo Đại thừa. Học Phật chưa thấm thì mặt mũi như mèo sáng sớm. Thấm rồi lúc nào cũng vui. Buồn, người ta bảo học Phật khổ sở vậy theo làm gì (tội này ai phải gánh?). Vui, mọi người nhìn vào liền bảo: ờ, học Phật quả lợi ích. Mọi pháp Phật thuyết đều bình đẳng “vô hữu cao hạ”, tùy vào căn cơ. Cùng bệnh cùng thuốc song không phải ai cũng lành là vì vậy. Một trong những thông điệp căn cốt Phật đưa ra: “Tất cả chúng sanh đều có đức tướng, trí huệ Như Lai, chỉ vì vọng tưởng chấp trướcmà không thể chứng đắc”. Hễ ai muốn thành Đạo chỉ cần buông vọng tưởng chấp trước. Khoa học chứng minh, phần nhiều năng lượng con người tiêu hao bởi vọng tưởng. Một người nằm trên giường nghỉ ngơi mà đầu óc chồng chéo cuồng loạn bao ý nghĩ (chưa nói đến ý nghĩ xấu) thì năng lượng tiêu hao chẳng thua người dốc sức bửa củi ngoài sân. Nhiều vọng tưởng cần ăn nhiều ăn bổ để bù lại sức, ít vọng tưởng cơ thể cần chút cháo cũng khỏe mạnh minh mẫn; nhiều vị sư ăn ngày một muỗng cơm chính từ nguyên lý này. Vọng tưởng ít, điều dễ nhận thấy là đêm nằm vắng dần ác mộng, mơ mộng cái đẹp cũng thưa. Vọng tưởng có thể ví như bèo tấm trên mặt hồ. Bớt vọng tưởng, bèo liền dãn ra, nước hồ nhờ vậy cũng bớt ô nhiễm. Khoa học kiểm chứng vọng tưởngkẻ thù tiêu hao năng lượng, lại không cách gì trừ diệt. Tịnh độ tông khuyên người niệm “A Di Đà Phật”. Bất cứ lúc nào không vướng việc phải nghĩ suy, trong tâm đều vang lên câu hồng danh, một thời gian vọng tưởng khắc thưa bớt. Đây quả là điều kỳ diệu. Tỉnh giác trong mọi lúc mọi nơi. Giả như phải tham gia vào một cuộc vui. Giữa ồn ào náo nhiệt, họ tùy duyên nâng ly “khai giới” hòa đồng mà trong tâm thì niệm “A Di Đà Phật”, vậy là thiền ngay trong cuộc thị phi nhơn ngã.

 

*

 

Đạo Phật là tấm gương phản chiếu quy luật vận hành của vũ trụ nhân sinh vô cùng tận nên trong nó sẵn chứa thượng tầng triết học huyền nhiệm tôn giáo. Mê khoa học, ít ai ngờ chính mình lạc hậu về khoa học. Nhiều công trình chứng minh sự tồn tại của alaya đằng sau xác thân tạm bợ, và nhiều khoa học gia còn khẳng định về sự luân hồi đầu thai Phật đưa ra là hoàn toàn đúng. Nếu ai đó lấy một triết gia, một nhà văn lẫy lừng hay siêu sao làm thần tượng, bất chấp đạo lý, loay xoay cố vươn cho bằng họ để “đứng trên mọi người” thì âu là sự tụt hậu thảm hại. Phải hướng vào nội giới. Câu khắc trên ngưỡng cửa Thánh Điện Delphes: “Ngươi hãy biết ngươi rồi ngươi sẽ biết vũ trụ và các vị Thượng Đế. Nếu không khám phá nội giới thì cũng bằng ta đang lấy ngao lường biển, “nhún dây tư tưởng vào cõi vô tận”. Chúng ta không hành Pháp, lại chuyên soi Phật bằng trí, dễ nhìn nhận thái tử Tất Đạt Đa và vua Trần Nhân Tông là những hiện tượng chán bỏ trần gian; thiền sẽ làm mất cảm xúc và theo đó Phật giáo phiêu du trong một cõi quá xa biệt hồng trần. Đạo Phật vốn là nền giáo dục uyên sâu. Phật là người chỉ ra “chư pháp thật tướng”. Lượng tử lực học mở ánh nhìn ra ngoài thế giới, đã thật sự ngạc nhiên bởi những khám phá vĩ đại thực ra vô tình minh chứng lời Phật thuyết ba ngàn năm trước. Ở đây không dám bàn đến những triết lý siêu việt trong Kinh điển, chỉ nói đến giáo dục nhân tâm thôi Đức Phật đã xứng danh Thầy Giáo vượt lên mọi thời đại. Nhiều vị chân sư thời hiện đại rất bội phục việc khoa học phát hiện ra ý niệm tạo cảnh giới. Người nào ngày đêm với một ý nghĩ (ước muốn) thường trực, đến quay cuồng, quy luật hấp dẫn tự nhiên theo đó sẽ tạo nên những điều kiện phù hợp để họ kiến tạo tương lai. Dĩ nhiên điều này còn phụ thuộc vào phước đức, căn mạng từng người. Một nhà khoa học từng vẽ ngôi nhà mơ ước, rồi ông xếp nó vào hộp, thời gian cứ trôi và gia đình ông chuyển đến nơi khác sinh sống. Một ngày sực nhớ bức vẽ, ông lấy ra xem bỗng giật mình: Ông đang sống trong ngôi nhà với hình dáng kể cả những sắp đặt nội thất giống y ngôi nhà mơ ước vẽ nhiều năm trước. Trong Phật pháp gọi là “duy tâm sở hiện”, hay “Phật do tâm sanh”. Càng đúng với ai đó trong cuộc sống luôn với ý nghĩ và hành động tham, sân, si (nguy cơ tạo cho mình cảnh giới u tối ở kiếp sau). Đáng lưu tâm: nguyên lý trên dễ đưa con người lệch đạo. Những mơ ước vật chất đa phần người đời mong đạt để phục vụ sự hưởng thụ, gần như là con đường tắt đưa đến khổ đau và họ càng bước càng lún sâu vào đất như ý một câu trong kinh Địa Tạng. Ý niệm phát xuất liền châu biến tận hư không pháp giới. Một cá nhân với những ý niệm cực xấu hoặc cực tốt trong suốt cuộc đời đều có ảnh hưởng đến cộng đồng. Mỗi cá thể không tách biệt mà có tác động nhất định đến “tính nết” của trái đất. Thế nên việc ta đóng cửa tha hồ xấu, tha hồ phát xuất ý nghĩ yêu ma quỷ quái, thật tai hại vì nó tiếp thêm sức mạnh cho nghiệp chướng. Ngược lại, một người luôn với ý nghĩ thuần thiện, cao hơn là tâm chỉ một câu kinh mà niệm, vậy đã góp công lớn cho sự an bình của trái đất; cá thể ấy dẫu quanh năm suốt tháng không giúp đỡ ai song đó là của quý hiếm giữa trời đất rồi. Thói thường phân biệt người này tốt kẻ kia xấu, không hay nếu ta cứ nhìn sâu Phật tính trong mọi chúng sanh chẳng những họ mà chính mình cũng mở lượng từ bi và ánh sáng tâm linh rọi vào.

Trong các nghiệp, ý nghiệp nguy hiểm vô cùng. Ý niệm như những con mọt nghiền trong thớ gỗ; nhìn ngoài bóng bẩy trơn tru song khi phát hiện một chỗ hư, mới hay lòng cột đã ruỗng. Thân tâm ta cũng sẽ mục bởi nghiệp ý. Tâm khởi những ý xấu là rơi vào trận đồ của ma. Giả như đến cả ý nghĩ thiện mà ta cứ "nhấm nháp" mãi, thực ra đang bị nó xỏ mũi lôi vào mù mịt; ấy là bộ mặt của tưởng ấm ma. Niệm Phật thù thắng ở cả phương diện đời thường đến giải thoát bởi, hễ nghiệp ý khởi lên liền thay vào từng chuỗi “A Di Đà Phật” sẽ là thần dược đặc trị phiền não, tâm tự hướng đến những giá trị thanh cao thuần khiết. Chuyên tâm niệm Phật, tâm sở thiện và bất thiện được quân bình, cao nữa thì tâm sở bất thiện suy yếu. Công phu vượt thắng, niệm thiện cũng vắng nốt; là thời điểm tâm bắt đầu trong lặng rồi phát huy công năng huyền nhiệm. Tâm sáng thân sẽ ít bệnh, hoặc như gặp bệnh hiểm nghèo vẫn có thể tự chữa bằng sự việc “không biết” trong thân mình có căn bệnh. Người niệm Phật chữa lành bệnh nan y kể không hết. Bác sĩ Ihaleakala Hewlen đã học được truyền thống tâm linh cổ xưa của thổ dân Hawaii chữa cho hầu hết người bệnh tâm thần bằng việc hướng vào nội tâm, đến nỗi bệnh viện nơi ông làm việc phải đóng cửa vì không còn bệnh nhân. Nghĩa là bác sĩ không hề động chạm gì tới con bệnh mà chỉ quán thấy trong tâm, trong ý nghĩ của mình người kia hoàn toàn không có bệnh. Theo Phật lý, bệnh ấy (hay tính xấu ác của đối tượng) chỉ là tập tánh huân tụ lâu dài chứ không phải bản tánh. Lục tổ Huệ Năng: “Tự tánh hằng thanh tịnh”. Chỉ cần trở lại “không” thì dạng vọng tưởng kia dần tan. Bởi vậy một người có khối u, nếu quá nặng nề lo lắng khối u phát triển càng nhanh. Tập quên nó đi, sống vì niềm vui của người khác, chuyên niệm Phật, tiết thực. Sở dĩ người ta quên hẳn căn bệnh bởi tâm họ pháp hỉ sung mãn, bặt vọng tưởng. Bệnh chỉ là sự ghé thăm của nghiệp thức, họ làm chủ được. Hòa thượng Quảng Khâm về già có lần đau nặng. Ngài bảo thân này như ngôi nhà tranh ọp ẹp, muốn nhập Niết Bàn rồi trở lại nhân gian thay một cái nhà bê tông cốt thép chắc chắn hơn. Các đệ tử ngày đêm tha thiết “thỉnh Phật trụ thế”. Thương tình Hòa thượng gật đầu, thế là những ngày sau ngài khỏe khoắn như thường. Điều này chứng tỏ tâm tịnh sáng sẽ điều phục được thân. Chẳng những vậy tâm ấy còn điều chỉnh được cả tinh cầu. (Vấn đề này xin không đề cập thêm bởi dễ sa vào thần thông diệu dụng - điều thường khiến người tu dễ lạc trong ma đạo như Phật từng nhắc trong kinh Thủ Lăng Nghiêm. Cũng như một số nhà ngoại cảm nhìn thấu cảnh Thân trung ấm, bên cạnh cái tốt là để biết chết không phải hết, lại dễ khiến người đời hiểu sai luân hồi khi thấy “họ” vẫn ở bên mồ chứ nào có đầu thai làm con gì. Thân trung ấm chỉ là một chút xíu trong vô biên cảnh giới cao thâm khác. Hiểu một nhầm thành “chư pháp thật tướng” thì khác gì vống lên trăm nghìn hỏi sao tam thế Phật không oan cho được!).

Xét về Y học, Đức Phật cũng là Đại Y Vương, bởi Ngài biết gốc của bệnh, và đưa ra phương pháp chữa tận gốc, tức cơ bản là chữa Tâm. Bệnh xuất phát từ công việc đặc thù, từ sự tùy tiện trong ăn uống, và bệnh dĩ nhiên xuất phát trước hết từ Tâm nhiễn độc vọng tưởng trái với đạo lý. Lời Phật dạy chưa dễ tin thì nay khoa học cũng minh tường: người ăn chay luôn ít bệnh tật và minh mẫn hơn người ăn mặn. Kịch tác gia Bernard Shaw (1856-1950) Nobel văn học năm 1925; bài thơ "Những ngôi mộ sống" của ông lan truyền khắp thế giới: “Trước Trời Phật, trên nấm mộ sinh sát/ Của muôn loài vô tội ta cầu xin/ Ban ơn lành, khi Luật Đạo Đức kia/ Ta xé nát mà không hề thương tiếc/ Và như thế ta gieo nhân tội ác/ Của Chiến Tranh cho nhân loại toàn cầu”. Rất nhiều lời khuyên từ những công trình khoa học uy tín bậc nhất nằm trong chương trình phát triển của xã hội người trên thế giới, rằng ăn thịt là một sai lầm. Theo Zen và dưỡng sinh: “Ăn thịt cá nhiều quá tánh tình trở thành ồn ào, tâm trạng rất tầm thường”. Sữa động vật, thiển nghĩ cũng như một dạng hoa quả, chúng ta hái đi (cây có đau, có buồn) song không ảnh hưởng đến sự sống của cây); đã có nguyên một công trình so sánh giữa ly sữa động vật với ly sữa đậu nành. Kết quả hàm lượng dinh dưỡng của ly sữa đậu nành (mà nhu cầu cơ thể cần) gấp ba lần ly sữa động vật. Mặt khác. Khi con vật bị giết, nỗi sợ hãi tột cùng khiến chúng tiết ra một loại độc tố. Chất bổ dưỡng như thịt bò, các loại cá thịt, sữa, đường… là thức ăn chính của con ung thư; chỉ cần người bệnh khước từ những thứ đó, ăn thuần rau củ, tiết thực, con ung thư không có thức ăn sẽ yếu dần. Hay theo thực đơn Ohsawa. Gạo lứt nấu trong nồi gang, kiên trì ăn với muối mè sẽ lành bệnh như phép màu. Bây giờ khoa học hiện đại phát hiện: đường là một thảm họa của nhân loại, phá hoại não trạng và bại hoại thân thể. Loại chất độc này cũng như mì tinh đánh lừa vị giác. Sự kết hợp giữa kiên trì nhai kỹ gạo lứt muối mè kết hợp hành trì tâm linh sẽ khiến cho cái tâm vọng trở nên chừng lặng, sự dao động sóng bớt sẽ khiến thân an hòa. Tâm lý người bệnh luôn sợ chết, đây là điều chỉ có thể giải quyết ở Tâm. Mỗi ý niệm sợ chết phóng ra, con vi rút trong họ có nhiên liệu sống mãnh liệt hơn. Nếu là đạo hữu cùng hiểu đạo lý thì chẳng sao (bởi khi ta khai bệnh, họ sẽ biết xóa ngay thông tin đó); ngược lại với người không thấm nhuần Phật pháp, họ sẽ khắc chạm căn bệnh của ta vào não trạng, ngày nào cũng phát ý niệm: “gay rồi, bệnh ấy nguy rồi, khó lành, khó qua khỏi rồi…”. Ta lo sợ, bệnh càng nặng đã đành; hễ “khối u” trong ta nhiều “fan hâm mộ” nó càng có lý do sinh tồn. Mức độ xóa thông tin thuần thục, quyền năng tối thượng làm việc cực kỳ hiệu quả. Sự vui sự buồn vừa ập đến liền như tảng băng ném vào lửa. Tâm trở về bình lặng. Trong bất cứ chúng sinh nào cũng đều có chủng tử Phật, vĩnh viễn không tàn lụi dẫu trôi qua lục đạo vô lượng kiếp. Mác đã đúng một phần trong câu mang tầm triết lý nhân sinh: "Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội". Nhưng có hai điểm hạn chế lớn: thứ nhất Mác chỉ bàn đến con người; quan trọng hơn, tổng hòa các mối quan hệ xã hội chỉ tạo nên tập tánh chứ không phải bản tánh (vốn tự có sẵn trí huệ).

Con người là sự kết hợp hoàn hảo giữa vật chất/thân xác và vật lý/tinh thần. Phần Vật Chất do ăn uống sai lầm tức không tuân theo quy luật vận hành của vũ trụ vốn thống nhất trong sự tương hỗ hai mặt Âm - Dương. Đừng nghĩ ăn uống là tầm thường. Ăn uống chay tịnh đúng với trật tự vận hành của vũ trụ theo nguyên lý triết học viễn đông có thể chuyển nghiệp lực và vận mạng. Người Kogi sống theo với quy luật tự nhiên/vũ trụ, thì chính là sống đúng với đạo Pháp. Đó là biết đạo trời đất. Không gian bộ tộc Kogi sinh sống tuyệt đối an ổn. Nhưng, nếu ta đặt một phàm phu vào đó chung sống, hẳn họ lại thấy nơi đây là một thiết chế bất ổn. Vậy mới thấm câu thơ của cụ Nguyễn: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Tâm tùy cảnh chuyển. Tâm tịnh thời cõi Phật tịnh, và ngược lại… Tâm nhiễm là tâm bất định. Tâm bất định thì thân bất định. Người ấy sẽ khó sập mọi giác quan ngồi yên cho được. Còn bậc chân tu, ngũ căn thông suốt, trần cảnh không khiến tâm dao động nên họ luôn định tĩnh sáng suốt. Những tiện nghi tưởng sẽ đưa con người tới an lạc, sau một thời gian nó lại khuấy đảo tâm. Có những người xây WC rất tiện nghi và phát ngôn là nơi đưa lại cho họ sự an tĩnh. Nếu vậy, thì thiết tưởng lên núi sống một mình còn... bình an bội phần. Con người với tâm không định thì có chui vào lô cốt cũng khác chi ở chợ trời. Tâm định, công phu có được này cơ bản bắt nguồn từ việc “không nhìn lỗi thế gian”. Giới khoa học đưa ra một kết luận vô cùng quan trọng: không nên chống chiến tranh mà hãy ủng hộ hòa bình. Từ đây triển khai ra ở mọi hoạt động trong cuộc sống sẽ chuyển được cả vận mạng. Ai đó từng chống chiến tranh, không có nghĩa bây giờ phủi tay, mà dành thời gian và tâm sức đó ủng hộ hòa bình. Tại sao? Chớ hỏi, bởi quy luật vận hành của vũ trụ là như vậy.

Do tích tập từ nhỏ, tâm lý chung thích gom chuyện xấu ác. Chuyện xấu ác luôn là nhiên liệu trong các cuộc trò chuyện, đàm đạo. Chuyện xấu ác còn có tên gọi khác là rác rưởi. Một khi chuyện xấu được ta hứng khởi thuật lại nhiều lần trước đám đông, hãy xem chừng, bởi rác ấy đang lưu cửu vào tâm thức. Theo đà này, theo thời gian tâm thành một thùng rác khổng lồ. Phật từng khuyên chúng sanh trong kinh Vô Lượng Thọ: “Thiện hộ khẩu nghiệp, bất cơ tha quá (khéo giữ gìn khẩu nghiệp, chẳng chê bai lỗi người khác). Đạo lý này sâu xa quá đỗi. Ở mặt bằng xã hội, người ta sẽ gay gắt phản biện trước thảm kịch cái ác ngày càng lên ngôi, mà không đặt ngược câu hỏi: Nếu tất cả người trên hành tinh xanh đều không ngó lỗi nhau mà chỉ xiển dương điều thiện, thế giới sẽ ra sao? Con người là một cá thể riêng biệt - lý thuyết này khoa học hiện tại đã cười nhạo. Mỗi cá thể nhỏ bé đến mấy cũng có mối liên hệ mật thiết với vũ trụ bao la. Vạn vật đồng nhất thể. Học giả James Gleick có nhận định rất triết lý qua hình ảnh: “Một cái đập cánh của con bướm hôm nay ở Bắc Kinh sẽ tạo ra trong không khí các cuộn xoáy có thể biến thành bão tố trong tháng sau tại New York”. Sự chống đương nhiên có lợi, chỉ là lợp bất cập hại. Các vị cao tăng đại đức lúc giảng kinh thuyết pháp nhiều lúc cũng nặng nhẹ với đệ tử; kẻ trí tự cao thấy cảnh “lánh đời” sẽ gán ấy là “chốnghồng trần tươi đẹp. Đâu hay hành vi lời nói của các Ngài lưu xuất từ gương tâm trong suốt không mảy bụi trần. Còn “chống” - hành động nô lệ của ý niệm xấu từ lượng tâm ích kỷ nhỏ mọn, sẽ khiến thời-không thêm nhiễu loạn. Sự chống ấy cũng như luồng khí nóng tưởng sẽ làm cơn bão đang tiến vào suy yếu chẳng ngờ càng góp sức cho bão.

Những gì người trần mắt thịt chúng ta chứng kiến quá ư hạn hẹp; cho trên đầu không có gì càng thiển cận. Trong lúc nếu không tụt hậu tri kiến, ta sẽ biết thế giới đã có nhiều công trình khoa học nghiêm túc khẳng định luân hồi. Ngày xưa ai dám tin cả thư viện sách chứa gọn trong cái USB nhỏ xíu. Chớ tưởng con người to lớn sẽ không thể chui vào thân con kiến ở kiếp vị lai. Cũng như loài vi khuẩn nhỏ vậy, thể tánh của nó không chứa tam thiên đại thiên thế giới. Một khám phá khoa học: Tấm hình cắt đôi; đưa (một nửa) vào chiếc máy khoa học, vẫn thấy nguyên vẹn bức hình đó. Cắt tấm hình ra chục mảnh, lạ thay, mỗi mảnh như vậy vẫn đầy đủ hình tướng chụp ban đầu. Điều này minh tường một câu trong kinh Hoa Nghiêm: "Nhất tức nhất thiết" (một là tất cả). Cá thể chúng sanhPhật tính. Vậy cái toàn giác đã có trong mỗi phàm phu. Buông vọng tưởng sẽ hoàn nguyên, trọn đủ tánh đức và trí huệ tuyệt vời.

Không học giáo lý nghiêm túc, không chọn lấy một Pháp môn rốt ráo thực hành đã khởi tâm bài Phật là vừa lội qua đầm lầy lại muốn dò lòng đại dương

Khi nhà thiên văn chụp được những thiên hà “hình xa luân”, “hình trụ”, “hình bầu dục”,… đúng như Phật tả về Hoa tạng thế giới thì chính là kinh điển Phật giáo lấp lánh dưới ánh sáng khoa học. Khi những khám phá làm rúng động nhận thức của loài người đơn giản chỉ là vô tình minh tường một số lá cành trong rừng kinh điển vô giá, liệu có cần đặt ra vô vàn câu hỏi trước lúc ta tin lời Đức Phật.

Không ai có đôi mắt sáng lại nhắm mắt mà đi. Tuy nhiên mắt sáng cũng không thể nhìn thấu kiếp mình nếu tâm thức mù lòa.


 

 

 

 

 

 

 

 

Phần II

MÊ LỘ TÂM


 

Hành trình siêu ý niệm

 

Con ngườisinh lão bệnh tử, đó là quy luật vĩnh hằng; cũng như trái đất có thành trụ hoại không. Hiện thời địa cầu đang ở trong kiếp trụ, rồi nữa sẽ đến hoại để kết thúc một chu trình [đại kiếp] vận hành trong pháp giới. Theo đó mỗi cá thể người cũng đều đang tiến dần đến tàn lụi, đang mỗi bước gần hơn với sự chết. Những sinh linh tiệm ngộ chân lý này sẽ “thụt lùi”, lội ngược dòng sinh tử tìm về với thế giới Vô Lượng Thọ vĩnh viễn không già không khổ đau không chết.

Khoa học với thuật thôi miên, ban đầu là sự nhớ lại những thời gian đã mất. Cái máy lục tìm quá khứ này càng tân tiến, vô tình khiến nhiều người dự phần thực nghiệm nhớ lại một cách sống động kiếp quá khứ. Kiếp trước tôi là nam hay nữ, là lớp động vật nào, sống ở châu lục nào; vào thời điểm đó cách nay mấy ngàn năm, con người ăn mặc ra sao, dùng tiền gì, đem so sánh với khảo cổ học đều không sai trật. Thuyết luân hồi trong kinh Phật thêm lần phát sáng. Cũng không thể tính hết các luận án tiến sĩ thuộc hàng nghiêm túc trên thế giới bảo vệ thành công lý thuyết chúng sanh chết không phải hết mà có luân hồi trong sáu nẻo trần ai tùy theo nghiệp quả. Có luận án người ta thu thập nhân chứng minh bạch đến con số hàng ngàn thuộc nhiều vùng đất và quốc gia khác nhau, chứ không đơn thuần dăm ba luận cứ. Chúng ta chưa tin chỉ có thể duyên chưa tới; chiếu theo Phật lý, là nạn. Người đời có thể mỉa mai, Ông Phật “thích đùa” quá: sắc tức là không, không tức là sắc; nhất tức là nhiều,tất cảtức là một…Kinh điển - là chân lý xuyên thời gian không gian, chẳng vậy mà những lời Phật nói ấy sau ba ngàn năm, các nhà khoa học lượng tử đã cúi mình thán phục. Thì ra con người cũng như đám mây vậy, có hình tướng đó, song thực chất chỉ là duyên hợp rồi tan, gọi đúng hơn là huyễn tướng sanh ra từ huyễn giác. Ta đưa tay chạm vào đám mây [hình người] ra sao thì các Ngài chạm vào chúng ta cũng như vậy. Vật chất vốn huyễn. Một cục sắt đặc, chỉ là sự hội tụ của lượng tử, trong nó cũng trùng trùng không gian cho các hạt dao động, trong Kinh gọi là kim trần. Dễ cảm nhận hơn có thể so sánh cục sắt đặc với tổ ong; từ dưới đất nhìn lên thấy một khối đen đặc, song tới gần thì đó là sự [hội tụ] bu bám của nghìn vạn con ong đang không ngừng chuyển động. Đây là lý do tại sao bậc đại ngộ đi xuyên tường xuyên núi xuyên lòng biển; họ còn trở thành “hạt siêu vị trí” [phân thân] có mặt ở khắp các cõi trong cùng một thời điểm.

Kinh Kim cang: Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng. Vật chất vốn giả, vậy hình tướng chúng sanh gồm người và vật sẽ tồn tại ra sao để xảy ra hiện tượng luân hồi. Chính là ý niệm, gọi đúng là thức. Hiểu thô là file alaya thâu lại tất tật mọi ý nghĩ hành vi của mỗi chúng sanh trong nhiều kiếp tương tục; lúc [thân] tướng tàn hoại, thức sẽ tự động phân tích đứcnghiệp, cộng với cận tử nghiệp để tiếp tục chui vào thân mới. Chớ nghĩ loài vật vô tri. Thì vô tri, song tình mẫu tử, tình thương, sự che chởhy sinh vì nhau của chúng nhiều lúc vượt hẳn con người. Cơn đau chia lìa mất mát của chúng biểu lộ đến đứt ruột, bầm gan, trào nước mắt; đến nước này cũng đòi chúng phải có trí? Mỗi lần đầu thai chuyển kiếp, “người ta” sẽ tạm quên mọi đức nghiệp mình mang theo, tuy nó vẫn là yếu tố chính thúc đẩy những hành vi rồi “làm chủ” sự nghiệp của chúng sanh ấy tại kiếp này. Dĩ nhiên từ nhân đến quả phụ thuộc rất lớn vào duyên. Duyên quan trọng nhất là việc trong đời có tin Phật pháp hay không, tức tin chân lý thường hằng, muộn nhất kể cả trước lúc chết - điều ảnh hưởng rất lớn đến việc tái sanh tại kiếp sau.

Thức, dẫu sao cũng là vọng tâm. Trong đó ý niệm là điều tiên yếu tạo vô vàn nghiệp; và chính hành động, suy cho cùng cũng là nô lệ của ý niệm. Kinh Địa Tạng viết chúng sanh khởi tâm động niệm đều tội nghiệp. Nhưng đã phàm phu không ai không khởi tạp niệm, khởi tà kiến. (Bởi chúng sanh một khi sạchtà kiến, họ đã nhập vào dòng thánh). Vậy phải làm sao? Phương pháp là đoan tâm chánh niệm, tức thay hết thảy niệm ô trược thành [một] thiện niệm; đó có thể là chọn ra một câu kinh, một câu chú hay hồng danh Đức Phật để trì niệm thời thời khắc khắc, lâu dần tâm sẽ an định. Tâm con người vốn đã mang tập khí loạn động, ngày nay càng loạn động bởi thế giới phẳng mà cụ thể như lướt web, đến nghiện. Chìm trong mạng ảo sẽ khiến người ta tiêu hao đến 90% năng lượng và quá nguy hại đối với tâm hồn, quá nguy hại đối với từ trường của trái đất. Từ sự rối bời trước vô vàn ý niệm, mỗi người cần quy về, lòn vào một câu kinh siêu thiện để thanh lọc chính mình, thanh lọc không gian chung. Thí nghiệm nước minh chứng, nước nghe những câu kinh sẽ cho ra mẫu kết tinh tuyệt mỹ. Bên Mật tôngtrì chú, bên Tịnh đông có niệm Phật. Thực ra câu “A Di Đà Phật” cũng là chú; còn đặc biệt mầu nhiệmnguyện lực cứu độ “đới nghiệp vãng sanh”. Giả như Mật và Tịnh cùng niệm (một bên niệm chú một bên niệm Phật), đều đạt công phu nhất tâm bất loạn, bên Tịnh đã sờ được tấm vé “khứ hồi” Cực Lạc thế giới. Công phu này cũng có thể so sánh với sơ thiền bên Thiền tông; dẫu sanh về phẩm thấp nhất Phàm thánh đồng cư, đã vĩnh viễn ra khỏi chín pháp giới, sánh cùng hàng Bồ tát bất thối chuyển. Đây là nguyên do Niệm Phật được xem là “nan tín chi pháp”, là “hoành siêu tam giới”, “môn dư đại đạo”,con đường tắt nhất trong mọi đường tắt đến nước Phật; mà trước hết nó khiến cho người hành sáng suốt trong những hoạt dụng đời sống, phước tăng, trí huệ chân thật bắt đầu sự khai mở. Quá trình siêu phàm nhập thánh, không nằm ngoài việc thay thế ý niệm.

Ý niệm, hiểu trên bề mặt phàm, là mọi ý nghĩ khởi lên tự tâm. Ý nghĩ mạnh và dày đặc sẽ tạo nên cảnh giới, tức vật chất. Thật ra, ý nghĩ (ý niệm) vốn cũng là vật chất. Tiến sĩ Nguyễn Tường Bách trong buổi nói chuyện tại chùa Xá Lợi năm 2013 với đề tài “Tâm linh hay mê tín” đã dùng từ rất tuyệt để gọi tên ý niệm là Thân Vật Chất, ta vừa tác ý vũ trụ đã khởi hành. Diễn theo Hoa Nghiêm áo chỉ: Ý niệm vừa khởi liền châu biến tận cùng pháp giới. Khoa học nhìn ra mỗi chúng sanhvũ trụ đều có sự liên thông [bởi ý niệm]. Ý niệm xấu khởi lên sẽ khiến vũ trụ chao động bất ổn, dễ tạo nên tai nạn, dễ cùng với các ý niệm xấu khác sinh ra động đất sóng thần; hay ý niệm này một khi vô tình xuyên vào ai đang khởi niệm xấu, sẽ nhân lên khiến kẻ đó không chừng thành sát nhân. Phật Bồ tát và các vị Thiện tri thức với bản nhiên từ bi vô hạn đã cùng những bậc chứng ngộ giữ ý niệm thuần thiện; nếu không có loại ý niệm này, một phần của vũ trụ sẽ thành mây khói. Và nếu ta nhìn nhận thêm, trái đất vốn là hạt cát cực bé phiêu du giữa trời, thì việc so sánh nó với một bình thủy tinh mong manh dễ vỡ là không quá. Điều này dĩ nhiên là một “cú sốc”, chưa dễ tin đối với số đông, nhưng những gì khoa học lượng tử chạm tới đã phần nào giải đáp. Chẳng hạn lúc bạn chưa tu, chung vui cuộc nhậu tưng bừng, cùng nhiều người phát xuất ý niệm xấu ác, việc này các nhà khoa học đo được mức nguy hại hạng khủng. Minh chứng rõ nhất là từ trường của trái đất bị méo trong vụ 11/9 ở tòa tháp đôi New York; kiểu như nhịp tim của người đang được cấp cứu nguy kịch theo đường vạch trên màn hình. Một cao nhân lạc giữa cuộc chơi vô bổ, là họ đang phát niệm lực từ bi vô hạn. Bởi họ biết, niệm niệm khởi hồng danh bậc Toàn giác có thể cứu cả một con thuyền ma!

Vật chất vốn huyễn tướng. Huyễn tướng ấy là sự kết tinh từ ý niệm. Trong cuộc sống người đời đã xem thường và bỏ qua điều quyết yếu nắm giữ vận mạng này.Đại thừa luận tâm không luận sự. Chẳng hạn bạn ngoài đời thù người ta, ấm ức vì chưa đánh được, đêm mơ thấy mình hành hung họ; vậy bạn thực sự đã đánh họ chưa? Khẳng định là rồi. Khẳng định bạn đã mang cái nghiệp ấy. Lại tỉ dụ: từng biết đến một gia đình từ cha đến con đều phạm tội, vậy là ai cũng chạm khắc ý nghĩ, cái gia đình đó đến đời cháu chắt cũng vào tù ra tội thôi. Câu nói này, ý niệm găm sâu trong tâm này ngày một nhân lên sẽ khiến đại gia đình kia khó đổi tương lai. Tại sao ta không nghĩ ngược lại, rằng rồi sẽ có đứa học hành tử tế, thành hiền nhân, thành Phật tử... Một khía cạnh khác, lúc ta bệnh [nặng] thường khai báo với thật nhiều người. Ai hiểu sâu lý niệm họ sẽ quán tưởng, nguyện hy vọng bệnh ấy chóng tiêu tan, ngược lại người hẹp hòi chấp ngã sẽ trì giữ căn bệnh của bạn trong cốt tủy. Thử hỏi chỉ riêng bạn đã xóa nổi ý niệm về bệnh mình mang chưa (?), huống hồ người khác; liệu bạn có nhảy được vào não trạng họ xóa cái ý niệm rằng bệnh ấy thuộc nan y, sẽ mau chóng bung vỡ! Hẳn bạn chưa biết khoa học, qua những cuộc thôi miên, rất nhiều người nhớ lại, thấy trong nhiều kiếp họ vẫn chết chỉ vì ung thư. Chết, thân ung thư hoại rồi, sao đầu thai lại vẫn mang ung thư? Đúng vậy. Thân đã mất, nhưng ý niệm bị ung thư còn quá sâu sắc trong alaya của họ; khoác thân mới, cái ý niệm đó lại khởi sinh [không hay], cộng theo sự ăn uống buông thả hưởng thụ, là càng tiếp tay duyên cho tế bào xấu mạnh lên.

Trong vọng tâm chúng ta có hàng vạn chương trình được cài đặt sẵn từ vô thỉ kiếp, giống như vi rút trong ổ đĩa; lúc bạn khởi động máy tính (đâu có khởi động vi rút), song mọi vi rút đều đồng thể trỗi dậy. Con người dẫu hành thiện đến đâu, dẫu có tích đức dày hơn cả dãy Himalaya mà trong đầu vẫn ý niệm thập ác, vẫn lợi mình trước, làm thiện trước nhất mong nhiều người biết đến, mong được đền đáp, thơm danh là phước hữu lậu, không chống nổi ý niệm nghiệp thức, cuối đời u ám, lúc chết vẫn quay vòng chuyển kiếp. Các đại đức xưa nhắc nhở, làm Phật sựtâm không thanh tịnh chính là ma sự. Giúp người thoát cảnh túng khó là tốt, nên làm. Nhưng nếu được kết hợp khai thị Phật pháp, không chừng họ tỉnh ngộ. Niệm Phật, nếu ngại thì niệm thầm, tu “như không” vậy. Trong Kinh, Thánh nữ Bà la môn sau khi tu phước đã xả bỏ triền phược thế gian nhất tâm niệm Phật liền đắc quả Bồ tát; lập tức không những mẹ cô mà họ hàng của cô ở Địa ngục đều được siêu thăng cõi trời. Ai đó sẽ đặt câu hỏi: Nhiều người tu, sao họ vẫn nghèo và bất hạnh. Thứ nhất, người đó rõ ràng không hướng thẳng về cõi Phật. Phước đã tạo, chuyển qua những kiếp khác họ có thêm thọ mạng trong nhung lụa. Giàu sangquyền lực luôn khiến người ta mê mất bổn tâm vốn thanh tịnh và đầy đủ trí huệ. Nếu không phát cái nguyện thật lớn về cõi Phật, nỗ lực dồn công đức và phước báu trong kiếp này, thì kết quả của Phật sự sẽ đưa ta bước trên nhung lụa của Ma vương. Nghiệp ý vô hình song quá lợi hại, khiến trong thế gian được xem là người nhân đức, chết đọa vào thai vật, là chuyện quá thường. Thế gian có những người cầm đầu cuộc chiến gây bao tang thương, kiếp trước chẳng ngờ họ từng cần mẫn tu; là trường hợp tu phước mà không tu tuệ, chưa nhập được vào dòng thánh, chuyển kiếp nhờ phước báu quá lớn làm quan làm tướng, nhúng tay vào chiến tranh, giết bao người nghiệp cũng chưa sờ tới được; hết phước nghiệp báo chồng chất ấy sẽ kéo thẳng xuống cảnh giới tối tăm để tiêu nghiệp.

Thân này có thể giữ được hành động tội lỗi nhưng đâu dễ giữ được nghiệp ý. Nghiệp ý không giữ, hay đúng hơn là không thay được bằng chân niệm, sẽ tạo nên cảnh giới xấu. Chu trình từ ý niệm tạo vật chất (nghiệp) đã được khoa học lượng tử khám phá, chứng minh tạm diễn thành công thức: Năng lượng (nhà Phật gọi Nghiệp tướng) + Tín tức (nhà Phật gọi Chuyển tướng) = Vật chất (nhà Phật gọi Cảnh giới tướng). Nhớ lần tham gia vào chầu cà phê cùng nhóm bạn, lúc tan hàng ai về nhà nấy rồi, đêm nằm ngủ tôi bỗng mơ thấy cuộc chơi đó tiếp diễn, những việc phát sinh mới lạ, lại rất hợp lẽ. Tỉnh dậy giật mình, may thay sự việc không thiện không ác. Chợt nghĩ cả chiều nếu không thầm chánh niệm trì kinh trong ồn ã, biết đâu tối này thức nó theo hướng xấu mà hành; ý tạo nghiệp (tưởng không liên can đến mình) nhưng thân vẫn phải chịu; (kiểu như con chưa đến tuổi vị thành niên ra đường phá phách gây gổ, cha mẹ lãnh nhận). Cũng dễ hiểu, bởi hàng ngày thả rông ý niệm, nó theo đó hư hỏng, ta ngủ rồi nó vẫn quậy, nghiệp này theo Phật pháp cũng là tự chuốc lấy. Giải thích tại sao có người nom bề ngoài hiền, không gây hấn với ai song nghiệp quá nặng, chính bởi chuỗi niệm hỗn này chiêu tụ. Muốn đổi căn mạng, ý niệm hễ khởi, ta liền biết và thay ngay bằng niệm thiện; như nước vừa bỏ vào tủ đông đã bị cúp điện nên chưa kịp thành đá (tạo cảnh giới xấu). Việc thay vọng niệm thế gian bằng hồng danh A Di Đà Phậtbước đầu lọc tâm phàm như kiểu ta lọc một ly nước bẩn thành trong; dần dà Phật hiệu mạnh lên, in vào tâm và tự phát vào bất cứ lúc nào, đặc biệt hơn là cả trong giấc mơ. Nhập môn, niệm thành tiếng là cách dễ, dần dà tiến đến Kim cang trì (không nghe tiếng, chỉ thấy môi mấp máy), cao hơn là mặc niệm, tức tâm khởi niệm và tai phải nghe rõ từng chữ. Một chữ “A” vang lên, ngân mãi như tiếng chuông, rồi chữ “Di” tiếp tục ngân… Hoặc như lúc kinh hành ta bước một bước là niệm “Nam”, bước nữa là “mô”, bước nữa là “A”... Đến lúc mỗi chữ hồng danh vang lên chẳng còn phụ thuộc vào nhịp chân nhịp tim hay hơi thở nữa, là lúc người ấy rời khỏi vọng tưởng của việc trì niệm, đưa câu Phật hiệu trở về chánh giác, trở lại đúng vị trí của ngôn ngữ thế gian thường gọi là Thiền. Dẫn đến việc ta có thể niệm Phật trong bất cứ sự náo loạn thế gian nào. Thiền minh sát cũng dựa trên cái biết sẵn ở sáu căn, hễ khởi tâm động niệm hành vi tạo tác cái biết ấy đều biết như mọi sự được soi vào gương. Nên các bậc thượng nhân mới khẳng định: Mọi pháp môn đều là Thiền. Tám vạn bốn ngàn pháp môn khác nhau ở tướng, còn tánh không hai. Thiền và Tịnh cũng chỉ khác nhau ở sắc, còn tánh vốn dĩ không - cái Không bao hàm vạn sự vạn vật.

Ngày nay Internet là kẻ phá hoại thế giới ghê gớm. Thế hệ trẻ hàng ngày thu vào tâm thức không đếm xuể thông tin, mà cái gì liên quan đến nghịch đạo luôn có sức hút đáng nể. Cái xấu cái ác là thức ăn chính của vọng tâm. Còn những việc nằm trong thập thiện luôn bị lướt qua mau lẹ. Tại sao ý tốt khởi lên dễ sanh cảnh giới xấu, còn tâm khởi niệm thiện vẫn chưa tạo cảnh giới tốt? (đơn cử giữ tâm thanh tịnh quán niệm tự chữa bệnh nan y). Bởi tâm ta còn uế. Hô một việc xấu, lũ tà niệm hùng hổ gấp rút hoàn thành; còn thiện niệm thì lác đác, luôn bị động, bạc nhược. Tâm vọng nó muốn nghe muốn nhìn thứ đồi trụy. Cái động luôn chi phối cái tĩnh. Định tâm trong khoảng một giờ niệm Phật đã khó. Tâm không định nổi, là thực tế cần phản tỉnh đối diện của giới tu tập theo dạng buông thả bản năng. Vọng tâm luôn muốn lượm rác, càng ngày thùng rác trong tâm càng phình ra. Chẳng những thế, phần lớn dữ liệu gom về đó luôn được hằn sâu qua mỗi lần kể lại diễn lại với người khác. Ta sống giữa sự bủa vây của các thông tin xấu, tâm ngập ngụa trong ý niệm nhiễm ô.

Các bậc chứng đắc đã nhìn thấy xung quanh mỗi người luôn có một dạng từ trường bao phủ với diện tích rất lớn. Nếu tâm luôn chánh niệm Phật pháp thì họ đang mang theo cả một tòa lâu đài nguy nga [hào quang]; người với ý niệm ngã chấp danh sắc ăn uống ngủ nghỉ, si mê sân giận, cũng sẽ mang theo “tòa lâu đài” song nó được xây bởi lửa và băng tuyết, gọi đúng là ngục - Địa Ngục hiểu thô là đây. Lúc chết, dẫu có duyên lành cũng chưa thể chui ra khỏi cái Ngục khổng lồ ấy. Điều này rõ là chẳng ai phàm phu thấy được, nhưng không xa lạ nếu soi vào Kinh điển. Một hiện tượng quá phổ biến khác, trẻ em bây giờ phần lớn mê game. Trò nào cũng đương nhiên đều không tốt, đều khuấy tâm (khiến tâm như hồ nước luôn đục); nếu game bắn nhau, trò chơi thì giả nhưng thử hỏi cảm xúc có thật? Cảm xúc thật sẽ tạo cảnh thật. Trên màn ảnh lúc hình nhân bị đạn xuyên vào cũng tóe máu, cũng gục xuống éo lên và chết. Công nghệ hiện đại còn khiến những cảnh tương tự diễn ra y thật. Có những game lập trình tái hiện nhiều trận chiến khốc liệt trong lịch sử chiến tranh thế giới, lũ trẻ vào đó cầm súng bắn nhau quên cả ăn uống. Chiếu theo khoa học ý niệm, chính thức chúng đang tham gia một cuộc chiến thậtvới đầy đủ súng ống đạn dược và ngây dại trong cơn say máu! Trong thế giới ảo chúng bắn người như ngóe; lúc ra đường, (ở những nước mà vũ khí được sử dụng tự do), chúng sẽ chỉa súng vào đám đông bóp cò tỉnh queo. Vì sao? Bởi chúng đã [vô tình] tập dượt sự lạnh lùng từ trong những cuộc chiến trên mạng. Còn biết bao trò chơi độc khác, bao phim ảnh bạo lực sẽ ùa vào tâm chúng, khiến từ quay đầu trở nên xa lạ. Sự khô kiệt tình người, sự hủy diệt của trái đất càng quay trong một quỹ đạo không phanh.

Mọi vấn nạn ảnh hưởng đến sự tồn vong của nhân loại, thực tế nguồn gốc chỉ nằm ở ý niệm thiện hay bất thiện. Ai cũng có Phật tánh, nhưng tự tánh hằng thanh tịnh đó luôn bị vọng khuất lấp. Gọi chúng sanh là bởi ta không sống bằng chân tâm với lực dụng vi diệu không mảy may huyền hoặc. Tam tạng kinh điển, không nằm ngoài việc chỉ rõ sự tung hoành của ý niệm làm chướng ngại hiển lộ chân tâm.

 

 


 

Cõng nghiệp rong chơi bên bờ vực thẳm

 

Kinh Hoa Nghiêm có câu: “Nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất” (một là tất cả, tất cả là một). Chân lý này hơn 20 năm trước đã được nhà vật lý D. Gabo chứng minh qua Lý thuyết toàn đồ và nhờ vậy ông vinh dự nhận giải Nobel. Phật còn dạy: Một hạt vi trần chứa tam thiên đại thiên thế giới. Chúng ta thực tế hiểu chưa tới một phần tỉ chính mình. Ở mỗi người, thứcalaya lưu mọi thông tin từ kiếp này và cả muôn kiếp trước, nên đời người rất phức tạp. Ý khởi từ sâu trong vọng tâm, truyền đến mạt na thức, trí não mới bắt đầu nhận lệnh và sai sử thân tạo tác; nghiệp ấy sẽ lại dội ngược vào tàng thức, lưu cho đến khi [nhờ tu tập mà] Phật tánh hiển lộ; cảnh mộng mới biến mất. Chiếu theo khoa học hiện đại, alaya (vọng tâm) ở mỗi người ví như đài thu phát sóng siêu cấp, hút hết thảy thông tin từ vũ trụ. Nhưng chỉ những thông tin mà ngũ căn của ta nhận bắt xử lý (ước khoảng chưa tới một phần tỉ) mới thực sự sâu đậm, dễ thành chủng tử khởi sinh nghiệp trong thời gian ngắn. Cũng có nhiều trần cảnh thoáng qua tai mắt rồi vùi lấp đâu đó trong tàng thức, thậm chí qua những kiếp khác, nhờ tác động mạnh bởi duyên bên ngoài đã khởi dậy sanh nghiệp dữ. Thử xét ở một hiện tượng: Đạo Văn. Đạo ở đây, xin khoanh vùng ở sự vô tình; (những trường hợp cố ý đương nhiên không nằm trong lộ trình nghiệp này). Có người lướt qua một bài thơ trên mạng trên giấy hay thoáng nghe ai đó đâu đó, rồi quên hẳn, quên tuyệt đối, đến mức có ai hỏi từng đọc những câu thơ này chưa, cũng không nhớ. Chưa hề. Bỗng một ngày nhân sự kiện tương đồng với bài thơ mình từng đọc dội đến, nhà thơ khởi ý làm một bài thơ. Bật ra tứ. Nhà thơ mang giấy bút bắt đầu nghiêm túc nghĩ được mấy dòng, lại nghĩ, lại viết. Từng câu từng chữ đều từ óc mình vắt ra. Lúc bài thơ khá trọn vẹn, nhà thơ đọc lại, thấy vẫn còn vài chữ chưa ưng ý, lại suy nghĩ, thay từ này từ kia, đổi đến mấy lần mới chuẩn. Nhưng. (Điều không ngờ, trí thì có thể quên, song kho alaya thông qua những dạng camera tự động (như mắt), nhoáng cái đã lưu đến từng âm tiết, từng tiếng động nhỏ, kể cả những thông tin mà tai, mắt, mũi không hề tiếp xúc). Nhà thơ không ngờ, duyên tương đồng khởi hiện cũng là lúc thông tin từ alaya thức giấc, được lôi ra mà trí não không hề hay biết. Tác giả sẽ rất ngạc nhiên lúc người ta đưa đến một bài thơ của người khác giống đến khó tả. Y như cùng một khuôn. Phản đối. Đây là bài thơ tôi làm trăm phần trăm. (Dĩ nhiên). Tôi chưa hề đọc bài thơ này. Chính bài thơ này mới đạo của tôi. Thế là sôi dư luận. Người ta tị hiềm, công kích, cay nghiệt lên án. Người ta nhầm lẫn giữa chống cái xấu ác với khuếch trương bản ngã, tự cho mình cái quyền phán xử trong lúc chưa thể nhìn rõ chân tướng sự việc. Luận về nghiệp, lại càng không.Dẫu người ta lôi chứng cứ rành rành. Oan! Mà không oan. Đến đây, nhà thơ sau bao thời gian không tin nổi chuyện đã xảy ra, mới lắng tâm suy xét. Trí não bỗng kích hoạt, hình như, hình như có lần nào đó mình có lướt qua bài thơ này. Vấn đề lại ở trí não. Mà không phải trí não. Chính alaya “khởi tác dụng”.

Quy cho cùng, đó cũng là Nghiệp. Dẫu vậy, trong họa có phúc. Giả như ta dư nghiệp, ắt gặp hoạn nạn. Nạn đến (thông qua sự mất mát về tiền tài, danh vọng, bệnh tật), tức ta đang thẩy khỏi mình một ít nghiệp. Ta tạo ác, cõng nghiệp, mà nạn chưa sờ tới, một là vẫn còn phước đỡ giùm (phước đỡ từng nào đương nhiên dễ phát sinh thêm nghiệp), hai là, mạng chung!, nhẹ hơn cũng dật dờ sống không bằng chết. Đây cũng là một vòng quay mới của nghiệp. Nhờ sự chết còn hơn sống, nhờ sự bất đắc kỳ tử này, [hồn/thức] ấy qua bên kia sẽ nhẹ gánh, dễ được lôi vào một thân tướng khá ổn như thân người hoặc trời (không đọa xuống tam ác đạo); còn người ấy với số phận như thế nào lại là một chu trình nghiệp khác nữa tùy vào duyên khởi và chính sự tin hiểu mức nào về chân lý.

Thức alaya đã được khoa học hiện đại chứng minh. Nó, như một file lưu giữ thông tin kiếp người. Càng minh chứng điều hễ trong không gian này có một tỉ thông tin, thì nó đều tiếp nhận và lưu kỹ, song những thông tin được tai mắt kiểm soát mới dễ kích động kích hoạt. Hãy so sánh với ông Google. Lúc ta để trong ngoặc kép một dòng tên nhân vật nổi tiếng hay một địa danh, một sự kiện, chưa tới một giây có khi ông Google cung cấp hàng triệu thông tin liên quan. Trên Youtube cũng vậy. Chẳng hạn search về bốn chữ “A Di Đà Phật”, liền hiện ra hàng loạt clip. Tắt máy, mai ta mở lại Youtube, trên màn hình đã tự hút thêm về những tin tức mới nóng về “A Di Đà Phật”. Đáng nể. Một cỗ máy do con người sáng chế đã làm được nhiệm vụ thu thông tin một cách tự nhiên như vậy, huống hồ chính bản thân con người. Alaya thức của ta chứa hầu như mọi thông tin thế gian (tính cả tiền kiếp). Tại kiếp này, ví như tác giả nọ muốn viết về đề tài X., lập tức trí não sẽ tự lôi mọi thông tin ta lưu trữ, quan trọng nhất vẫn là lượng thông tin “vô hình” được lưu sâu trong tàng thức, nó sẽ tuôn ra như suối nhờ tánh giác khiến ta ngạc nhiên đến sửng sốt. Từ Phật pháp mà nhìn, chỉ cần con người khởi ý về Z., mọi thông tin liên quan đến Z sẽ được quy tụ; là người có tâm lực mạnh, nhất là người với công phu hành pháp cao, những thông tin “mật” độc đáo dưới dạng từ trường, sóng, năng lượng sẽ được hút về, tác động lên não bộ. Những vị sư thâm hậu, họ giảng một bộ kinh hết mấy ngàn giờ, mà không hề chuẩn bị. Cứ đến là giảng, xong vài tiếng thì gấp lại làm việc khác (đã sắp kín thời gian trong ngày), mai giở ra giảng tiếp rất tự tại. Điều này thật sự vi diệu. Đây mới là trí huệ chân thật, không phải tri thức (thuộc vọng tâm). Trí huệ là cái sẵn có trong bổn tánh, giải quyết mọi chướng ngại trong đời.

Trong vọng tâm mà mỗi chúng ta tự thiết lập phủ lên tánh giác, bất thiện luôn lấn át sở thiện, ý nghĩ xấu thường nhiều gấp bội tốt. Một người trú trong ngôi biệt thự, hầu như không có nhu cầu ra ngoài, ngập chìm trong chiếc điện thoại nối mạng, suốt ngày xâm nhập thế giới đồi trụy, nghiện bạo lực và sex đến mờ mắt vẫn còn mê; là người tạo nghiệp nặng khôn kể đối với thế giớivũ trụ. Nghĩ xấu, vô vàn ý niệm tương đồng khắp mọi phương sẽ chiêu tụ về trong khoảnh khắc, tạo thành một trường lực tăm tối bao quanh. Chưa nói đến thiền vốn rất siêu tuyệt, ngay những người tu khí công cao họ đã nhìn thấy vầng ánh sáng/ màu quanh mỗi người, nếu chỗ nào lõm khuyết tức bệnh. Trong nhà Phật, bậc chứng thiền sẽ nhìn thấy sắc màu ở từng người, dao động theo tâm ý. Những kẻ sát nhân đôi khi đơn giản khởi niệm xấu, bỗng chiêu niệm ác, thế là sát khí tăng gấp bội, gấp tỉ lần. Ta đứng xa thấy người này đánh người kia, phân định phải trái rõ ràng, song dẫu sao đó cũng là cái nhìn thấy một phần tỉ nguyên nhân; đằng sau người khởi sự đánh ấy là con tàu nghiệp lực hàng vạn toa chở vô số oan gia trái chủ hùa với người kia tạo nghiệp, gọi chung là ma lực sai sử. Những bậc đắc quả thánh còn thấy hàng trăm kiếp mình từng trải như lật lại hồ sơ lưu giữ sống động quá trình họ trôi nổi luân hồi.

Mọi thông tin trên trái đất này đều có trong tàng thức mỗi người, mấu chốt là ta chưa thể biết có, nhưng cũng dễ cảm nhận. Ai một lần du lịch nước ngoài hay đến vùng đất lạ trong nước, họ đứng ngẩn ra, ô sao nơi này quen, thân thiết quá, muốn ở lại luôn; đơn giản bởi những kiếp nào đó họ từng sống nơi đây. Ta yêu hay ghét một sự vật, trước hết là: căn (nhãn, nhĩ, tỹ…) tiếp xúc với trần (sắc, thanh, hương, vị…); mắt tiếp xúc với sắc; mũi tiếp xúc với thanh; lưỡi tiếp xúc vị, tâm sẽ khởi lên sự thích hay không. Sắc hương vị ấy ví như thông tin, thông tin phải qua người lính gác cổng ý thức; ý thức chuyển thông tin vào mạt na; thức này mới đưa thông tin ấy dâng lên ông-vua-tàng-thức (alaya); nếu thông tin từng được lưu lại như một kỷ niệm đẹp trong quá khứ, nó sẽ thích. Thích, alaya liền gật đầu với mạt na, mạt na báo ra với tên-lính-ý-thức, ý thức bây giờ mới tác động lên trí não để sai khiến thân làm nô lệ. Vòng quay từ lúc căn tiếp xúc với trần rồi đến vua, vua gật đầu chuyển ra ngoài sự yêu hay ghét chỉ trong sát na, có thể là một phần tỉ giây. Hoàn toàn trí não không kiểm soát nổi. Lại tỉ dụ. Sau một tuần công tác về, ta tới quán gọi ly cà phê. Nhấp một ngụm, nhăn mặt. Không ngon. Không ngon không hẳn ly cà phê lúc đó không ngon, mà nó không ngon đúng như ký ức ta lưu về một ly cà phê trước đây. Ăn cũng vậy, nó dở trước hết bởi không giống như ta từng ăn món này được nấu rất ngon. Ký ức [tham] lưu toàn vẹn sự ngon đó một cách sâu sắc. Nghe bản nhạc. Cô này hát dở. Dở là chính ta đang so sánh với ca sĩ khác hát trong quá khứ, trong tiền kiếp với dòng nhạc tương tự; rồi nếu bài này được gắn với một kỷ niệm tình thì ký ức đạt đỉnh. Nhạc sến có cần? Một nhạc sĩ thiên tài nhiều lúc họ vẫn lắng nghe một bài nhạc sến. Họ lục ký ức, hồi đó từng ngồi với nàng nghe bài này rồi chia tay… nàng đã khóc. Bài nhạc sến trở thành món đặc sản tinh thần của ông. Nói xa hơn, hiện tượng đồng tính nếu xét ở nhân quả nghiệp báo cũng không khó hiểu. Anh [là đàn ông] bây giờ, kiếp trước mang thân nữ. Kiếp này đàn ông song ký ức lưu giữ về một cá tính nữ quá mạnh, quá trỗi vượt, nên kiếp này [đầu thai] mang thân nam, những cá tính lưu trong alaya là nữ ấy cứ chỗi lên như viên sỏi ném vào tro bếp. Anh [với tính nữ] chỉ muốn yêu một người nam. Nghiệp này, nỗi “oan” này đến trời cũng không cảm thông nổi.

Làm sao chế ngự nghiệp lực. Duy chỉ con đường: Hành pháp. Mục tiêu là khiến tâm định. Rồi mới tiến đến mức Vô Trụ - Phát tuệ. Mục đích tối cùng của việc học Phật là đắc huệ. Huệ mới giải quyết được phiền não, mới khiến cuộc sống của chúng ta an bình, không dao động bất an, ám ảnh. Chúng ta đọc nghìn vạn cuốn sách, thành học giả được cả thế giới ngưỡng mộ, nhưng một khi nạn nghiệp, bệnh tật, bất trắc ập đến mà nghìn vạn cuốn sách đó không giúp gì được thì phải cần hiểu bởi nó chỉ là tri thức, không có trí tuệ. Một học giả hàng đầu thuộc ngành gì trước hết cũng nên hiểu mặt tin thần tâm linh chiếm hơn chín mươi phần trăm con người mình. Để khi bệnh đến ta không giao một trăm phần trăm sinh mạng cho những bác sĩ chỉ chữa được có mười phần trăm con người mình. Tri thức có thể sanh ra trí tuệ, song thứ “trí tuệ” không khiến chúng ta bình lặng trước biến cố cuộc đời thì đó vẫn là tri thức. Chúng ta “thế trí biện thông”, lúc gặp người phỉ báng coi khinh liền trằn trọc ăn không ngon ngủ không yên; gặp nghịch cảnh, gặp chuyện không vừa cái tham liền sân nộ. Thử hỏi lúc ta sân nộ có nguy cơ tàn hoại thanh danhthân mạng (của ta và người), lúc ấy kiến thức của trăm vạn cuốn sách ở đâu rồi? Lúc ấy có phải người đời gọi chúng tamất trí. Thực tế không phải mất trí, mà từ lâu chúng ta nhầm thứ tri thức thuộc tài danh ngã mạn ấy là trí tuệ. Thực hành chánh pháp mới mang lại cho tâm ta an định; có định sẽ sinh trí tuệ. Thế nên giữa Phật họchọc Phật là cả một đại dương không mấy ai dễ đủ sức bơi qua. Học Phật, có thể đó là ngồi quán hơi thở vô ra, sự phồng xẹp của bụng, có thể là nhiếp tâm tụng kinh, trì chú, niệm Phật, thiền vipassana. Trì chú tụng kinh hay niệm Phật đều phải tâm khởi (dẫu là khởi thầm) tai luôn nghe rõ, gọi là tánh nghe; giống như ta tưởng đến một tiếng chuông và nghe trọn vẹn nó vậy. Như vậy mới hầu mong hòa giải vọng niệm, cảm hóa vọng niệm, dần vào định, dần tiến đến có niệm mà không niệm. Vọng niệm cũng như một cơn cảm cúm, đến rồi sẽ tự trôi, không nhất thiết phải dùng thuốc. Mỗi khi cơn giận khởi, chỉ nên “cười trừ”. Trong những thứ “đồ giả” bất chợt ùa tới, cũng có thể xem là cao nhân đang thử tâm mình. Mối quan hệ giữa ta với bà hàng xóm từ lâu vẫn hiền hòa, tự dưng một ngày bà vu ta thế này thế kia; nên hướng ngay vào nội giới, tâm lần theo câu chú hay hồng danh Phật. Mỗi chữ đều mạnh mẽ như tiếng chuông vỡ trong khuya, loang dần trong huyết quản; phiền não sẽ tan như sương dưới nắng mai chan hòa.

Tu là sửa mọi hành vi cho đúng với sự vận hành của vũ trụ. Sống trong giới luật nhà Phật, chính là không vi phạm pháp luật vũ trụ. Một niệm có thể trùm khắp không gian vượt khỏi giải ngân hà. Chúng ta tin hay không thì điều này vẫn tồn tại. Chúng ta tin chết không phải hết hay không?, tin chết rồi thức có thực đầu thai vào một trong các nẻo lục đạo hay không?, tin địa ngục hay không?; tin hay không tin nó vẫn tồn tại. Dẫu bạn theo bất cứ tôn giáo nào cũng không nằm ngoài quy luật vũ trụ. Quy luật vũ trụ luôn thông dự vào cuộc đời ta trong từng ý niệm. Là sản phẩm của một gia đình - ta đang tự hạn chế mình. Là sản phẩm của một nước - ta đang tự hạn chế mình. Là sản phẩm của toàn cầu - ta cũng đang tự hạn chế mình. Bởi, con người là sản phẩm của nghiệp thức trầm mình muôn kiếp trong vũ trụ bao dung; và hơn hết con người vốn là thể tánh “có mặt” ở khắp vũ trụ.

 


 

Vũ điệu ý niệm trong cơn đau bản thể

 

 

Loài thỏ khoái cà rốt, nhưng nhiều lúc chúng vẫn ăn nhầm củ cải trắng bởi đeo kính màu. Khoa học cũng đưa ra hiện tượng “mù màu” khi con người nhìn về vũ trụ; bắt đầu bằng những báo cáo về cấu tạo mắt của động vật. Mỗi loài, qua sự lồi lõm tròng mắt sẽ quy định cái nhìn khác nhau. Ngay trong cùng loài, mắt nhìn sự vật như qua cái kính lồi, chỉ cần xê dịch chút xíu hiện tượng đã biến đổi. Để thấy, mỗi người đều nhìn sự vật qua con mắt của riêng mình không ai hoàn toàn giống ai. Năm đứa con đều thấy mẹ mình tốt nhất, song sâu xa trong mỗi đứa đều lưu một hình ảnh mẹ khác xa. Công án Thiền về Tô Đông Pha. Sở dĩ họ Tô nhìn sư Phật Ấn ngồi thiền như một đống phân, đơn giảnngay lúc đó tâm thi sĩ này nhơ đục; còn sư Phật Ấn nhìn Tô Đông Pha giống Phật, bởi tâm của sư tịnh sáng. Ở tầng cấp cao hơn, kinh Lăng Nghiêm mô tả về loài quỷ chạy bên bờ sông Hằng vẫn kêu gào khát cháy, vì ở cảnh giới của chúng nơi mênh mông nước ấy lại là sa mạc. Vấn đề đặt ra: Liệu ta đã hiểu rõ về đối tượng mà mình có thói quen phán xét? Dĩ nhiên, không. Vợ chồng sống gắn bó từ lúc cưới đến đầu bạc nói hiểu nhau chân tơ kẻ tóc, thực tế họ chỉ hiểu phần tảng băng nổi. Khoa học cho biết mắt người chỉ thấy [hiểu] được 2000/400 tỉ = 1/200 triệu tức 0,0000005% thực tại. Tiến sĩ khoa học Joseph Dispenza: “Chúng ta chẳng biết gì về thực tại cả và tất cả cảm nhận về cái gọi là thực tại ngoài kia đều đã được sàng lọc qua các giác quan của con người. Não bộ xử lý 400 tỉ bit thông tin trong 1 giây nhưng chúng ta chỉ nhận biết được 2000 bit trong số đó”. Phật pháp dạy, ta chỉ cảm được phần tướng, còn tánh muốn thấy phải chứng ngộ, ngoài ra không còn cách nào khác.

Tánh là Tâm Phật. Tâm Phật vốn thâu toàn pháp giới vạn thể. Về mặt tinh thần, chúng ta đang sử dụng vọng chứ không phải chân. Vọng tâm như sóng trên mặt biển không ngừng dao động, và nghiệp lực là dòng cuồng lưu phía dưới, nó dễ hợp với duyên (gió, bão) tạo nên sóng thần. Còn thể xác chúng ta trên địa cầu, nhỏ đến mức không thể so sánh với một hạt cát trong vũ trụ. Vọng tâm lại biến hiện ra vô lượng cảnh giới khôn lường. Chỉ lúc người tu đại ngộ mới thoát vọng tâm, trở về chân tâm, hiểu sơ đẳng giống như một người đang giữa trận cuồng phong tàn phá kinh hoàng, bỗng trời yên biển lặng. Như trong cơn ác mộng thức giấc, mồ hôi còn đầm đìa. Bỗng à lên, thì ra mơ. Sợ. Khiếp quá. Đây không phải so sánh, mà thật. Đại ngộtỉnh mộng. “Trong mộng rõ ràngsáu cõi, tỉnh mộng rồi không cả đại thiên” (Đại sư Vĩnh Gia). Chúng sanh đều đang trong một giấc mộng lớn. Hãy kiểm thảo, hiếm ai trong mơ lại biết mình đang mơ. Vậy chúng ta đi đứng nằm ngồi, chúng ta véo mình thấy đau, sao gọi là mơ. Điều này Duy Thức Phật giáo giải thích cặn kẽ, hiện thời còn được ngành vật lý lượng tử minh tường. Chẳng hạn bóng đèn nê-ông bật sáng, dưới ánh nhìn khoa học, ấy là sự tắt và đỏ của liên tục các điện tử nối tiếp. Trong Kinh còn nêu thí dụ, quay tròn ngọn đuốc, ta thấy một vòng lửa, thật ra đó là sự tương tục của vô vàn điểm nối ngọn đuốc với nhau, nhanh quá nên mắt thường không nhận ra. Trong phim nhân vật bước một bước, đó là sự nối ghép của 24 hình/1 giây. Một giây, 24 hình tương tự [nối nhau] ẩn hiện đã lừa được nhục nhãn; huống hồ trong một giây vọng tâm phát xuất hàng tỉ ý niệm vi tế. Sự tiếp nối đó tạo nên vạn vật chuyển động. Chuyển động sinh năng lượng. Năng lượng sinh vật chất. Vẫn là mộng. Lúc ai nằm mơ, là mộng trong mộng, thậm chí trong mộng của mộng lại có mộng nữa. Địa ngục chính là những cơn ác mộng nối nhau không ngừng; nó là sự phản chiếu của nghiệp lực ta gây trong kiếp trước và kiếp này. Sự công bằng của con tạo khiến người đời không thể tin nổi. Tin, chính ở phước duyên sâu dày chủ yếu nhờ đời trước đã gieo nhân thiện, đã có tu.

Ta đều đang nhìn thấy một phần nhỏ chân lý tối thượng mà thôi. Trái đất lớn bằng ngôi sao, thì dải ngân hà có hàng tỉ ngôi sao; con người đã biết được mấy sao theo kiểu cưỡi ngựa xem hoa (như chân ướt chân ráo đặt lên sao Hỏa); nói gì đến trong vũ trụ có tỉ tỉ dải ngân hà. Ta thiển cận về toàn thể vũ trụ như thế nào thì thiển cận với nhân sinh như vậy. Ngay đến thiên tài, họ cũng mới sử dụng những tài năng phàm tình trong kho tàng vi diệu tự tánh. Mỗi ta đều có Phật tâm, cả vũ trụ hiện trong ấy, ta sẽ không hề chạm tới được nếu chẳng thực tu hành. Alaya thức chúng ta tích lũy vô vàn nghiệp thiện ác, dẫu qua bao nhiêu kiếp đầu thai đều y nguyên. Một lượng thông tin, nghiệp lực “nếu có hình tướng sẽ đầy cả hư không”, gặp duyên sẽ hiện cảnh quá lợi hại. Phật giảng: không ân oán, không đền nợ trả nợ đời trước sẽ không trở thành vợ chồng con cái trong kiếp này. Là sự hút nhau tự nhiên như một dạng sóng cùng tần số. Trả nợ thì con hiếu thuận, đòi nợ ắt bất hiếu; thậm chí còn trường hợp, con ngoan hiền song ốm yếu bệnh hoạn, cha mẹ bán hết gia sản đến mạt vận, cũng là một cách đòi nợ! Hướng vào Phật pháp mới chuyển được nghiệp bất hiếu [từ kiếp trước] thành có hiếu [trong đời này]. Rồi nữa, một ngày bỗng gặp người lạ giúp đỡ mình, ngược lại lần đầu tiên gặp mặt người đã muốn đẩy ta đến đường cùng, đích thị duyên nợ tiền kiếp. Ta không nhận ra trước đã gây nhiễu gì cho họ; họ cũng không hề biết, song nghiệp lực trong tàng thức vốn “có mắt”, biết nhận dạng do đó nó thôi thúc họ trả thù. Dẫu vậy, sự đòi nợ thường rất ít, gần như qua kiếp này oan gia chỉ đòi phần lãi (xóa phần nợ gốc). Đòi lãi, ta [do chẳng tin nhân quả] nên tìm cách trả đũa mạnh bạo hơn, thành dư báo! Chính ý nghĩ đòi lại “công bằng” là đầu mối của lục đạo, phần nhiều luân hồi trong cõi quỷ, bàng sanh. Người giàu sang danh vọng, trước hết là nhờ sự quy đổi từ phước nhiều đời; ngỡ nhờ tài năng của mình nên phồng bản ngã mặc sức tiêu pha, mặc sức coi khinh những người yếu hèn nghèo đói... Tiêu tiền thụ hưởng, vốn là tiêu phước. Phước mỏng dần nghiệp báo sẽ hiện, mà tai nạn, bệnh tật luôn là thước đo. Một nhân vật lừng danh, bỗng thân liệt trí mờ, bấn loạn mộng mị triền miên; giữa lúc ngoài kia sản phẩm dán mác của họ vẫn ngồn ngộn đẻ ra tiền. Họ chìm vào cõi cô đơn cùng tận cho tới lúc hồn dứt khỏi xác đau như “rùa sống lột mai”. Thân mất, thức ấy không chịu quy định bởi vật chất thế gian nữa mà quy định bởi phước đức. Hãy tưởng đến cảnh thân vừa mất, ta thấy ngay xác mình nằm đó dần thối rữa. Ta biết mọi sự diễn ra, thấy họ hàng thân quyến đó lại bất lực trao đổi bất lực sờ chạm. Ta đói không ăn được đồ cúng kiếng ngon lành bốc khói; ta lạnh được cúng áo ấm đốt lửa vẫn lạnh, ta nóng [hồn] chui vào tủ đông vẫn nóng. Và nếu [hồn] vẫn chấp trước về quan tài đắt tiền, nấm mồ sang trọng, cái ngã sẽ giữ họ ở lại trong thân trung ấm chịu khổ bội bội lần thảm cảnh cuối đời.

Phật vô ngã. Chúng sanh sở ngã. Cái Ngã to đùng và nó không ngừng lớn mạnh theo chút tài bé mọn. Ngã chấp càng lớn vô minh càng dày, càng che khuất phần minh tuệ. Cống cao ngã mạn nhờ nói lưu loát vài thứ tiếng? Xin phép gạn ra lớp váng mê tín dị đoan để nêu sự thật: một người nông dân lúc lên đồng, vong nhập vào liền tuôn ra trôi chảy nhiều ngoại ngữ. Lúc hồn kia xuất lập tức họ trở về sự thể ban đầu là người một chữ tây cắn đôi không biết! Đó dẫu sao vẫn là tục đế. Xét về chân đế, người chứng quả Thánh đầu tiên đã có thiên nhãn thông, nhìn thấu cảnh trời và địa ngục; chứng thêm nhị, tam, tứ quả liền thấu suốt ý nghĩ của bất cứ ai, rồi đắc Thần túc thông, khởi ý niệm muốn tới đâu liền có mặt ở đó. Người Niệm Phật đạt nhất tâm bất loạn có thể “tiền trạm” tới cõi Cực Lạc, thế giới của Vô Lượng Thọ muốn bất cứ gì liền có nấy. Nhưng trong nhà Phật không phải khuyên tu để đạt những thứ ấy lòe thiên hạ. Những vị chứng càng cao, chúng ta sẽ càng không thể biết! Người được xem và tự cho mình thông minh tỉnh táo hơn các bậc đại đạo sư, cho mình luôn làm chủ bản thân, họ nhầm. Khiến tự ngã thêm lớn. Một khi ta không ít nhất sai khiến được tập khí phiền não, đơn giảncụ thể như không hóa giải nổi cơn nóng giận là đang sống trong sự lôi dẫn của nghiệp lực. Sống thuần vọng tâm, con người gọi đúng là con rối của nghiệp lực.

Chúng ta có mặt trên đời bởi sự hội tụ kết tinh nghiệp từ tiền kiếp. Có những đứa trẻ mở mắt sống chưa bao lâu đã nhận ngay nghiệp dữ quá khứ; lý do khiến người đời thường gọi “trời không có mắt” gây oan giá họa. Thực tế nhân quả tơ hào không sai. Lộ trình từ nhân tới quả luôn biến hóa; quả có thể méo mó dị dạng khiến ta không nhận ra, tuy nhiên hiển nhiên nhân ác đã gieo, không sớm thì muộn quả xấu sẽ đến. Thường tội lỗi [nhân đời trước] chưa hiện, ta lớn dần theo cái nhìn và ý nghĩ của gia đình; lớn thêm bị quy định bởi tâm thái nhìn nhận của bè bạn, xóm làng; với những người nổi tiếng họ còn “nối mạng tư tưởng” với rất nhiều người trên địa cầu. Ý niệm câu thông, còn mạnh hơn bất kỳ loại sóng nào khoa học từng khám phá. Ý niệmyếu tố tiên quyết làm nền móng tương lai mỗi sinh mệnh. Lúc thai nhi hình thành phải được thai giáo. Người mẹ chẳng những nên sống trong một không gian nền nếp không có tạp âm mà ngay đến ý nghĩ của mình cũng luôn thiện lương hòa ái. Ý niệm là mấu chốt gieo nên nghiệp lực [xấu ác] mạnh mẽ nhất. Tin nhân quảbước đầu làm chủ vận mạng. Nhân quả phải là bài học đầu tiên và xuyên suốt đời người. Được giáo dục về nhân quả, đứa trẻ sẽ không nghĩ không nói xấu ác ai, sẽ không trộm cắp thứ không phải của mình, lớn lên sẽ không sa đà nghiện ngập rượu chè hút chích, sẽ không tà niệm với kẻ ngoài vợ mình. Đứa trẻ từ nhỏ được dạy không sát hại động vật kể cả côn trùng muỗi kiến, ngược lại còn yêu thương mèo chó trong nhà đến loài vật hoang trong rừng, làm sao chúng có thể khởi ý niệm hại [giết] người cho được. Nhân quả cũng giống như giới luật. Sống trong nhân quả tức đang sống trong một không gian thanh tịnh. Ta chưa hề thấy cố nội, qua ảnh cũng không, nhưng chắc chắn tin có cố nội. Có cố mới có ông, có ông mới có cha… Nhân quả đời trước cũng vậy, ta không thấy song phải tin sâu sắc. Phật dạy nhân quả xuyên ba đời. Tin chắc tất cả mọi sự việc không như ý gặp phải tuyệt đối chẳng ngẫu nhiên, mà do nhân đời trước, phải tin và quán, và quán như thế mới không khởi tâm oán hận người đã phiền hà mình, không khởi tâm trả đũa. Người kia gây hại dù lớn đến đâu sẽ có nhân quả vũ trụ quản lý, sẽ bị báo ứng trừng trị chẳng sớm thì muộn, chớ bao giờ khởi niệm "thay trời hành đạo", muốn chỉnh sửa, giáo huấn, trừng trị lại. Khởi ý niệm này nguy hiểm vô cùng, trước hết là tự hủy phước báu, nữa là khiến cho mạng lưới nhân duyên cộng đồng cũng bị tổn hại và chính ta lúc mạng chung sẽ lọt vào đọa xứ. Chưa hết, khởi loại ý niệm này các oan gia trái chủ vô hình trong nhiều đời sẽ có dịp thuận tiện càng tác ý giúp thêm cho ý niệm xấu của ta mãnh liệt. Mỗi người cơ bản đều có số lượng lớn oan gia trái chủ từ vô lượng kiếp âm thầm theo sát; nhờ phước ta còn dày, họ chưa thể làm gì; không tu, phần đông nghiệp sẽ nhào tới lúc lâm chung. Nhớ hồi học đại học, tôi luôn mua thức ăn của một dì bán thịt heo. Bẵng đi rất lâu, một ngày hay tin dì bị ung thư. Dì nói thường thấy ai cầm dao băm chặt dưới chân... Những ngày cuối đời dì được đạo hữu gần đó khuyên niệm Phật; lúc tôi đến thăm dì còn bảo đọc Chú Đại Bi. Có người khác, cận kề cái chết đã thấy rành rành oan gia, sợ đến biến dạng mặt mày lật mình xuống giường, mà nào có trốn được. Pháp gọi hiện tượng này là hoa báo; hoa báo hiệu cho quả phía bên kia đời. Lúc sống, ai từng vùng mình khỏi cơn ác mộng (như bị truy đuổi chém giết, bị tra tấn hành hạ…), sẽ cảm được chút ít về địa ngục. Hơn thế, trí não ta chỉ mới tưởng đến cảnh hành lạc, tưởng đến cảnh sẽ phương hại người như thế nào, vào địa ngục cũng hiện lên như vậy để thọ nhận. Bạn trong đời không đánh đập ai, song đã từng giết cá hay bất kỳ loài vật nào như thế nào, lúc mất thân, hồn vào địa ngục sẽ [hiện] chịu lại nỗi đau như thế; chủ tâm giết tổ kiến từng con từng con, vào hỏa đồ nhận y xì. Ở đời cắt xẻ thịt động vật, vào địa ngục ta buộc phải “diễn lại”. Đây chỉ là điểm xuyến thoáng qua cảnh tượng nhân quả điệp trùng Phật thuyết trong kinh. Đau đớn đến trời đất cũng ứa máu! Biết làm sao. Thân động vật từ người đến loài vật nói chung đều có 27 chi pháp (trong sắc pháp) hệt nhau; trong danh pháp chúng cũng có tâm vui buồn tham sân. Bình đẳng. Nhưng ta đã gây nghiệp bất bình đẳng! Nghiệp ấy tự tạo tự chịu, không ai quy định cả. Đó là quy luật vĩnh hằng trong vũ trụ, người phát hiện ra chính là Đức Phật. Ngài chỉ nói lên sự thật trong vũ trụ. Một sự thật quá thảm, sự thật vượt khỏi lối suy niệm thông thường, nên nó trở thành hoang đường. Nhưng cái hoang đường đó vẫn thường ngày sống động trong nhân sinh thế tục, sống động tuyệt đỉnh trong mắt của bậc chân tu.

Nhân quả hữu hình đã vậy, nhân quả vô hình quả đáng sợ biết báo - đó là Ý Niệm. Ý niệm cũng có đồng minh bè phái. Ý niệm xấu khởi ra, lập tức chiêu cảm cùng loại cuộn về như lốc tố, chiêu cảm ác niệm từ ác thần ác quỷ, la sát. Ngược lại ta khởi tâm lành, nhẫn nhục, tha thứ cho đối phương thì nghiệp chướng tiêu nhanh, sức khỏe ngày càng kiện khang trường thọ. Trong nhiều buổi giảng cho Phật tử và giới trí thức, tiến sĩ Nguyễn Tường Bách cũng đặc biệt nhấn mạnh điều này. Các bậc đại đức hiện thời thì kết hợp với những khám phá của khoa học để hướng người đời cứu thế giới bằng việc giữ ý niệm thiện, thay thế và loại trừ tà niệm. Ai không tin có thể đặt hai bát cơm, hai bát nước, hai loại trái cây hay bất cứ “vật vô tri” nào ở hai căn phòng, một nghĩ xấu về nó, một phát ý nghĩ yêu thương, thời gian sau sẽ thấy chúng biến đổi tươi ngon hay thối úng. (Chỉ phát ý niệm thiện hay ác là đủ, không cần ra tiếng chưởi rủa hay lời yêu thương). Những loại “vô tri” trên sẽ [bắt sóng] hiểu và biến đổi theo ý niệm của chúng ta. Ý niệm chính là nhiên liệu tạo nên bản chất mỗi người. Nếu ý niệm không thể hiện ra chân tay miệng, bề ngoài trong đời sống y không làm hại ai song chớ nhầm tưởng y thiện lương. Trong tâm y mang ý niệm sân hận, luôn muốn người ấy người kia sớm thân bại danh liệt mau già mau chết; và bởi góp vào vũ trụ loại từ trường cực xấu, chẳng những y hại một người mà còn [góp phần] hại đến cả nhân loại. Thầy Tuệ Hải trong một buổi giảng về Nhân Quả có đoạn: “Theo kinh Địa Tạng, chúng ta chỉ cần tác ý liền có nhân quả. Mỗi khi mình nghĩ tốt, sẽ tạo một dạng sóng trường tốt đưa ra vũ trụ, nghĩ xấu sẽ tạo sóng trường xấu mang theo một dạng màu. Nghĩ thiện lành sẽ cho ra màu trong sáng, êm ái nhẹ nhàng, đi hoài trong không gian không mất, thứ hai cái sóng trường thanh bình đó sẽ chạm tới các cõi có chúng sanh đau khổ, khiến được mát dịu; ta được nhận ngay phước. Nhưng mỗi lần sân si nghĩ xấu, sẽ tạo một sóng trường bất an mang theo khí xấu, mang theo sự khó chịu cho người, khiến ta tổn phước. Thử lắng tâm nghĩ xấu đến ai, là họ cảm giác khó chịu khi nghĩ tới mình liền… Trong Kinh nói nhất niệm xuyên tam giớisự thật. Một ý niệm chúng ta đi khắp tam giới chứ không phải chỉ tới một vài người bình thường; và trong khoảng cách từ mình đến đối phương còn có rất nhiều cõi, nhiều loài chạm phải, thì đã có nghiệp, có quả báo dành cho ta rồi”. Nên nghĩ tốt về người. Loại ra những điều xấu của người và thay bằng những lời nói, cử chỉ tốt của họ. Hành giả Tịnh tông, không cứ thiện ác, cứ phát tâm từ ái niệm “A Di Đà Phật” ắt lợi đôi đường cả Đời lẫn Đạo. niệm Phật (dẫu là niệm thầm) tai không nghe là miệng niệm chứ không phải tâm niệm, mà tâm thực đang nhảy múa vũ điệu tập khí trần ai. Niệm Phật tai không chịu lắng nghe câu mình niệm là chỉ ngửi mùi chứ không thực ăn. Niệm Phật như vậy miệng niệm nhưng tâm vẫn nhìn lỗi thế gian. Lục tổ Huệ Năng khuyến “bậc chân tu không nhìn lỗi thế gian”. Người nào còn tin Ngài, với lời khai thị này hẳn phải chạm khắc vào máu huyết. Còn nhìn lỗi thế gian, nên hiểu ngay lúc đó chưa phải chân tu! Khoa học lượng tử lúc thấu tỏ lý này quả thực thấy… đau đầu; cuối cùng đưa ra hướng giải quyết thật khế hợp với tinh thần kinh điển: Thay vì chống chiến tranh, hãy ủng hộ hòa bình.

Tu, trước nhất ở Tâm; là sự thay thế ý niệm, khiến mọi vọng niệm thế gian quy về chân niệm. Mức thấp nhất, hễ nghĩ ác nghĩ xấu lập tức biết để thay vào những ý nghĩ thiện. Ý nghĩ chuyển, hành vi mới chuyển. Người lo chuyển hành vi lại không chuyển ý niệm là gãi ngứa ngoài dày. Nên hướng vào nội giới, hướng vào kiểm thảo từng ý niệm tung hoành tạo tác trong tâm. Nên nhìn lỗi mình sửa lỗi mình, chớ nhìn lỗi người sửa lỗi người trong lúc mình soi gương tạo dáng nhiều lại nhìn bản tâm quá ít. Hễ thấy anh kia rượu chè phè phỡn là chê bai bại hoại, lại không nhìn mình đóng cổng tà hạnh. Thấy bà kia nhiều chuyện lại không thấy mình nịnh nọt bợ đỡ. Thấy kẻ tham ăn lại không thấy mình tham ngủ nghỉ, tham danh. Thấy người gặp nạn liền cho chắc hắn ở cơ quan sống chẳng ra gì, lại không nhìn nhân xấu mình thường gieo và ngay vừa khởi cái ý niệm hả hê đó... Quán sâu sắc chân lý, rằng ta chỉ hiểu người được một phần tỉ, không dễ khởi ý niệm phê bình. Thế gian chẳng thiếu hàng Bồ tát, những vị Phật thị hiện tướng “phàm” tùy duyên độ cho những chúng sanh đặc biệt, ta không biết nên cứ mặc nhiên phạm thượng các ngài. Một vị Tổ khuyên xem tất cả chúng sanh đều là Phật, ngoại trừ ta [là phàm phu].

Bậc chân tu thường ngày vẫn miên mật hạ thủ công phu lấy đó hồi hướng cho những người như tôi và bạn, mà Đức Phật từ bi gọi là “đáng thương xót”, nhưng dẫu sao vẫn là cứu vãn tình thế, trong lúc gốc bệnh của chúng ta không ngừng gia tăng thông qua cấp số nhân của ý niệm bất chánh. Đây, là nguyên nhân sâu xa khiến ngay đến bậc triệt ngộ với năng lực vô biên cũng không thể ngày một ngày hai cứu vãn trong lúc chúng ta không chừng đã dật dờ trên trần thế như một bóng ma!

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phần III

TÂM BỆNH


 

Vi rút sóng tâm chiêu cảm nghiệp

 

 

Vũ trụ tồn tại bởi ý niệm. Nói theo khoa học là vật chất tồn tại từ các hạt lượng tử. Vật chất đó vốn huyễn. Tốc độ ánh sáng từ mặt trời đến trái đất mất khoảng 8 phút; còn ý niệm từ tâm khởi sẽ biến khắp vũ trụ. Nhiều thứ mùi tỏa trong nhà, ra ngoài sân ta ngỡ chúng tan mất rồi; trong lúc cá heo có thể bắt sóng âm thanh ở xa 25 km. Trăn định vị được hang ổcách hàng chục km. Loài dơi vốn “mù”, nhưng chúng dùng tần sóng bay trong rừng cây dày đặc chẳng gì chướng ngại. Kinh viết “Niệm niệm thành hình”. Niệm khởi là sóng. Sóng như gió vô hình, gộp lại thành bão [hữu hình]. Nhiều người từ chối sống dưới điện cao áp, đài phát sóng tần suất lớn, sợ ảnh hưởng sức khỏe. Đúng. Họ lại chưa tin sự thật là từ trường ý niệm còn có sức hủy hoại mạnh hơn rất nhiều. Mới đây khoa học đưa ra kết luận ban đầu về việc lạm dụng điện thoại nối mạng có nguy cơ dẫn đến ung thư như những nguyên nhân khác. Có quốc gia tiên tiến, pháp luật quy định trẻ em dưới 15 tuổi không được sử dụng internet, là giàu đạo lý. Giao điện thoại nối mạng cho trẻ, ngập chìm trong đó sẽ hao tàn thể xác và tâm hồn vấy bẩn đến không thể tẩy rửa. Xem ti vi nhiều, nhất là ti vi bây giờ cũng liên mạng, là tiêu tán sản mạng quá oan uổng.

Giữa bệnh viện với một không gian nhiều cây cối núi đồi thảo nguyên xanh mướt, chỗ nào đáng ở hơn, chỗ nào sẽ mang lại an bình? Những đứa trẻ suốt ngày chúi mặt vào màn hình, dẫu có núp trong phòng kín, chúng cũng đang sống giữa một không gian đen kịt trường năng lượng xấu. Mang theo internet lên rừng xanh núi thẳm cũng là đang giữa ồn ào náo nhiệt và thứ từ trường ấy không ngừng nhiễm độc tâm. Một vụ án máu me được tung lên cộng đồng mạng; làn sóng hận thù tập thể lan truyền vô tận, làm biến dạng từ trường và theo đó nhân lên không ngừng, nó len lỏi vào ngõ ngách tâm hồn, khơi lên mầm u tối trong thế hệ x. Chúng lướt web hễ gặp việc thiện nguyện liền bị phẩy qua mau chóng, phanh lại ở trang sát trộm dâm dối, giật gân khiêu khích; những x những z tiếp thêm nhiên liệu. Hoặc như một cuốn sách bạo lực nằm yên trong tủ không sao nhưng ai đó lôi ra đọc, ý niệm cuốn theo từng con chữ, từ trường cuồng loạn loang xa.

Trái đất ít thiên tai chính là do niệm thiện nhiều (nhờ công phu hành trì Phật pháp), niệm ác ít. Không thể so sánh, song việc chúng ta thải ra không gian lượng từ trường xấu cũng như trong một hồ nước người người xuống tắm gây ô nhiễm; còn chánh Pháp là cái máy lọc thầm lặng. Niệm ác nhân lên sẽ biến đổi từ trường chung, chiêu cảm thiên [nhân] tai. Nếu ta vi phạm quy/pháp luật vũ trụ, vận mạng sẽ méo. Câu hỏi đặt ra: vậy ta có vi phạm quy luật vũ trụ? Ở đây không bàn đến người xấu, chỉ lấy người được xem khá mực thước đức độ để xét. Mười trọng giới trong nhà Phật (thập thiện), chỉ cần nói ngũ giới; lại muốn rút lại một giới tà dâm, đã phạm quá đà. Chưa bàn tác ý hay có hành vi với vợ người; giữa vợ chồng với nhau nếu bày trò quá mức, là tà! Xem hình, phim đồi trụy - là tà dâm. Lạm nghĩ, nói, viết về tính dục - là tà. Mây mưa trong ngày Phật đản, trong ngày rằm, mồng một, trong những ngày vía đức PhậtBồ tát, trong những ngày giỗ kị tang ma thân quyến, là tà. Thử so sánh, những ngày vía chư Phật và Bồ tát, đối với Phật tử xét về nhân đức phải xem giống như ngày giỗ của ông bà cha mẹ; lẽ nào ta phá rào?! Với lúc sấm chớp mây đen, là thời khắc trời đất lâm vào tăm tối, ta tức phóng ý niệm tà góp phần làm gãy từ trường chung. Đây không những phạm giới, còn là gieo nhân trực tiếp cảnh giới xấu trong tương lai. Nhưng trước hết, tinh - khí - thần sẽ tổn, phước hao, đoản mạng. Theo đó vận hạn, bệnh sẽ sờ gáy.

Chúng ta sống phần lớn bởi nghiệp lực lôi kéo, bởi không dễ làm chủ tâm. Ta nổi nóng. Tại sao nổi nóng rồi liền ân hận, sao tôi có thể nói vậy làm vậy nhỉ. Đó không phải con người tôi. Đúng rồi. Tâm một khi không được “thuần dưỡng”, thân chỉ là nô lệ của nghiệp. Nó giấu mặt, lạnh lùng, nó sai khiến tôi không thể trì lại. Trong một cuộc nhậu, vài ba người bỗng gây gổ, người đứng dựng dậy vỗ ngực đấm đá, so với người bình tâm với nét mặt không biến sắc, ai mới xứng trượng phu? Chớ nhìn vào hình tướng thô lậu để đánh giá sự tiến bộ mỗi cá nhân.

Chớ nhìn vào sự phát triển của vật chất mà nhầm tưởng xã hội phát triển không ngừng. Phật pháp vi diệu nhiều nơi bị đánh đồng với thần, với quan tham để người đời hối lộ xỏ xin đủ điều. Con cái chửi mắng cha mẹ thành chuyện thường; học trò không kính cẩn chào thầy cô, đồng tiền lên ngôi “hành đạo”. Có đáng ngại không khi bệnh viện mọc lên càng nhiều lại xem đó là sự phát triển. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện từng nói: “Nếu chúng ta đóng cửa một nhà chùa thì phải xây thêm một bệnh viện”. Bệnh viện đương nhiên tốt, song không thể tốt bằng một ngôi chùa. Tin sâu nhân quả, sẽ thấy nếu phước còn thì mạng còn; thọ mạng hết, dẫu đến bệnh viện tốt nhất thế giới cũng bó tay. Có người ân hận không kịp đưa người thân đến bệnh viện trung ương, vì bệnh quá nặng phải mổ ở một nơi xoàng, ca mổ không tốt khiến tử vong; thử nghĩ, đó chẳng phải do phước họ không đủ để tới bệnh viện tốt hơn chăng? Hoặc ai đó tới được bệnh viện lớn, sự lành một phần nhờ duyên hội từ gặp bác sĩ giỏi, từ tinh thần tốt nhờ thân nhân bè bạn con cháu động viên, từ niềm hy vọng sống mãnh liệt; từ việc tổn hao tiền tài, từ sự khổ sở của bản thân cũng tiêu đi một lượng nghiệp để đưa đến sự lành. Còn rốt ráo mà nói, nếu ta không nhuyễn trong giới luật mà vẫn khỏe mạnh sống lâu trong sự kiêu căng ích kỷ, cũng phải suy ngẫm, bởi đó chính là hưởng phước từ tiền kiếp, và tâm “tham” kia đang chiêu hút, vay mượn, “vơ vét” phước của mình trong tương lai, trong kiếp kế tiếp.

Nền tảng của con người phải bắt đầu từ việc giáo dục Nhân-Quả từ trong thai nhi, từ bé thơ, từ khi ngồi trên ghế nhà trường. Một khi Phật pháp dẫu sơ đẳng được đưa vào giảng dạy, con người từ việc nhận diện việc nào tốt việc nào ác theo nguyên lý của khoa học lượng tử hiện thời, sẽ cải biến hành theo; gây dựng nên phần Tâm Lý sâu chắc; phần Vật Lý, ai học Phật sẽ tự biết ăn chay rất tốt cho cơ thể. Sinh - lão - bệnh - tử, không ai ngược lại quy luật này nếu không chân thật tu hành. Sự phát triển của khoa học, (từ đây mới có bom nguyên tử, vũ khí sinh học, internet truyền vi rút ý niệm xuyên không/thời gian) v.v, cũng là yếu tố chính góp sức cho quá trình hoại diệt trở nên mau chóng. Nghệ thuật nấu nướng phát triển, món ăn ngon hơn cốt lõi nhờ các loại gia vị hóa chất kích độ ngọt gấp trăm lần mì tinh; hóa chất tràn vào bất cứ loại đồ ăn thức uống nào. Điều này, sự phát triển này giúp con người ngày càng trẻ khỏe hay mau bệnh mau chết?

Giàu lên phải đi đôi với an lạc, ít bệnh, đó mới là hạnh phúc. Người an lạc là người biết giữ thân, ít đến viện nhất (nhờ lối sống thiện lương thiểu dục tri túc). Ai bỏ ít thời gian nghiêm túc nghiên cứu rồi theo phương pháp Thực Dưỡng giản tiện, có thể tự ăn uống điều chỉnh bệnh kể cả bệnh hiểm nghèo; bởi chính như cha đẻ của y học phương Tây từng nói “Thức ăn (thuần chay) chính là thuốc”. Tại sao rất nhiều người ăn gạo lứt muối mè đã lành ung thư? Từ chỗ ăn mặn, họ trở về ăn uống thuần tịnh hơn cả chay, và nếu ăn với tâm từ sám hối, xét ngay ở nguyên lý này đã đúng, đã thấy họ xứng đáng nhận được sự gia ân của nghiệp. Với trường hợp xả bỏ duyên trần chuyênniệm “A Di Đà Phật” khiến những khối u quái ác biến mất là quá hiển nhiên, không cần bàn tới nữa, nó đúng hoàn toàn về mặt khoa học chữa bệnh bằng “sóng-từ-tâm”. Họ biết đổi ý niệm (từ ác qua thiện), từ tạp niệm quy về hồng danh Đức Phật, hay trì chú, tụng kinh. Tất thảy pháp môn đều đưa đến đích tâm thanh tịnh, định lực. Trí sáng, tâm an, lúc nào nhìn mặt họ cũng như trẻ thơ. Khoa học cho hay, bộ não con người là bộ máy phát sóng phát điện hoàn hảo của cơ thể; cũng là bộ máy truyền thông tin hoàn hảo đến hàng trăm tỉ tế bào có trên cơ thể. Ý niệm khởi từ tâm sẽ được não bộ phát đi khắp. Ta nghĩ xấu thì mọi tế bào chuyển xấu, nghĩ thiện nghĩ về pháp thì ngược lại. Đối với khối u, một khi tế bào cơ thể ta nhận thông tin xấu (từ ý nghĩ lo sợ) nó sẽ tạo nên áp lực, chẳng những các tế bào ung thư tệ đi mau chóng mà những tế bào khỏe mạnh cũng dao động theo chiều hướng đó. Một khối u hình thành đôi khi chỉ trong vòng vài tiếng; khối u tan mất đôi khi cũng như phép màu. Những công trình nghiên cứu y học mới nhất cho thấy phần lớn con người đều từng có tế bào ung thư xuất hiện. Từ tế bào đến hiện khối u/ung là một quá trình khởi động của duyên. Nếu duyên không đủ tế bào ấy sẽ như bèo dạt đến rồi trôi đi mất. Giờ đây ngành y vừa sáng chế loại máy siêu phát hiện ung thư. Giả như tế bào ung thư vừa tung tăng lội qua cơ thể ai đó bỗng bị cái máy ấy chộp được; cụm từ “có tế bào ung thư” sẽ chóng phát thành khối u chính bởi nỗi ám ảnh từ kết quả vừa lãnh nhận, và dĩ nhiên là đối với người tâm vọng động, sợ hãi, tâm tham đắm thân mạng trong lúc không hành pháp. Hoặc giả một người đau quặn, cứ nghĩ mình bị ruột thừa, bị u, mỗi mỗi phút giây lao theo ý niệm đó, Năng Lượng Tâm không đủ trì níu lại nên nhân duyên sẽ hội tụ ngay thành cái điều mà “tâm họ muốn”. Họ nhập viện cấp cứu, chụp phim. Phim ấy liền định danh đóng khung khối u lại; cơ hội năng lượng tâm hóa giải khối u xem như mất. Cũng có thể đó là Pháp khảo nghiệm Tâm lực của hành giả, hoặc cũng không ngoại trừ oan gia trái chủ đến quậy. Ai là Phật tử thuần thiện dễ được Hộ pháp hay một vị La hán nào đó trợ cứu; dĩ nhiên Hộ pháp đó biết hành giả này có hy vọng cho Phật môn, còn không cũng đành “bó tay” mặc họ trả nợxưa vậy. Chưa dám bàn đến ma vương Ba Tuần, chỉ nói oan gia thôi đã đủ để ta phản tỉnh. Bậc có Thiên nhãn thông thấy quanh mỗi chúng sanh đa phần luôn có “chủ nợ” theo riết. Có người đến hàng trăm con vật (họ giết) bám vào thân khiến sanh bệnh hiểm. Đi khám, việc y khoa kết luận rành rành nguyên nhân, xét ở khoa học lượng tử, chỉ là cái nhìn của một phần tỉ vấn đề. Thế nên muốn trị bệnh phải bắt đầu từ hai việc: sám hối nghiệp chướngtinh tấn công phu. Trọng tu hồi hướng. Phật pháp dĩ nhiên bất khả tư nghì. Song, như kinh đã viết: Chúng sanh nghiệp báo cũng bất khả tư nghì! Chưa trọn vẹn nguyện tu về cõi Tịnh, sẽ rất dễ sa lưới nghiệp chướng ở cõi Trược. Thường khi niệm Phật một thời, nay có bệnh thì buông xả thế gian tăng thời khóa lay chuyển những rễ độc từ vọng tâm đang bám quá sâu quá chặt Ta bà. Thường khi vẫn sanh tâm ngã mạn bởi tài danh vốn có, kể cả việc mình tự thấy tu hành cũng khá, thì nay chí tâm hướng đến Vô Ngã để có được sự gia trì của chúng thánh. Thường khi còn loanh quanh ngoài giới luật thì nay đứng hẳn trong vòng Ngũ giới Thập thiện.

Sống trong khuôn khổ thập thiện, vì người mà sống; sống trong phẩm hạnh tri ân tất thảy phụng sự tất thảy và giữ vững thời khóa công phu, bệnh ắt được đẩy lùi (bắt đầu từ việc chuyển đổi ý niệm). Nếu xóa được ý nghĩ về căn bệnh trong ta thì bệnh lành từ 30% đến 90%. Bác sĩ lừng danh Hew Len từng dùng phương pháp xóa thông tin về bệnh trong bệnh nhân và đưa tâm mình trở về Không, đã chữa lành cho hàng ngàn người. Từng có thí nghiệm khoa học cho hai người bệnh tương đương cùng uống thuốc, trong đó một người uống thuốc giả; (với điều kiện ngay bác sĩ đưa thuốc cho bệnh nhân cũng không hay gì, chỉ biết và truyền đến bệnh nhân thông tin đây là loại thuốc mới cực kỳ hiệu nghiệm), kết quả hai người kia đều lành. Khoa học gọi hiện tượng này là giả dược. Tây y từng đưa củ sâm vào nghiên cứu, họ thấy chất bổ dưỡng không là bao. Là bởi, củ sâm vốn trở thành biểu tượng của thần dược, ai cũng với ý nghĩ này nên đã kết tinh dưỡng chất [ý niệm] cho nó; đặc biệt là ai uống sâm đều với tâm niệm mình chắc chắn khỏe. Y học dẫu chế tạo ra một viên thuốc với đầy đủ các chất như củ sân, lúc người đau uống vào đương nhiên sẽ không bằng củ sâm. Chính nhờ ý niệm. Cũng cần thêm, thời nay ý niệm tốt về củ sâm có phần nhạt hơn, (do vọng tưởng về sự tốt từ nhiều loại thuốc ngoại khác) nên năng lực cứu bệnh của nó hẳn không bằng xưa. Phàm phu khác Phật ở vọng tưởng chấp trước. Thế nên, mọi thứ đến với ta không phải là vấn đề, vấn đề ở chỗ tâm ta đang vọng loạn về vấn đề ấy. Ai một khi mắc bệnh, cái ý niệm về bệnh cơ bản họ không xóa được, mỗi lần hơi đau là ý niệm hằn sâu, lại thêm phần kinh hãi; người có công phu thì ngược lại, họ sẽ hóa giải cái ý niệm đó như bao vọng tưởng khác.

Phương pháp thôi miên cũng đem lại hiệu quả khi người bệnh nhắm mắt tĩnh tâm quán tưởng về một trường năng lượng sạch từ từ kết tụ, huy động hệ thống miễn dịch làm lành bệnh. Đó có thể là tưởng đến một bàn tay đang thu hút năng lượng, nhẹ nhàng xoay vòng lên chỗ bệnh, ý niệm được đặt ở đó, năng lượng tụ về càng nhiều, vết đau đang được xoa dịu, đang lành dần lành dần. Nghĩ về một trái chanh được vắt hay cắt trái xoài làm ta chảy nước miếng; nghĩ về năng lượng cũng vậy, cơ thể sẽ tự tiết “thần dược”. Làm chủ được tâm tức làm chủ vọng niệm. Bước đầu làm chủ vọng, ta mới có năng lực huy động năng lượng. Năng lượng luôn biết lắng nghe và thực hiện ý niệm từ tâm; tuy đòi hỏi người đó phải đạt tịch tĩnh. Nói cụ thể hơn, chỉ với tâm trong lặng thuần khiết (nhờ hành thiền thông qua việc trì giới), thân thể sẽ luôn hài hòa năng động và tươi trẻ. Bởi, thân bệnh là do tâm nghiệp. Tinh tấn tu sẽ tẩy được nghiệp; nghiệp tan dĩ nhiên bệnh lùi. Ý niệm chuyển cảnh giới - thực đây mới là chân lý khế hợp quy luật nhân quả, tức sự vận hành của vũ trụ; song tu chưa đủ lực, quả ngọt đó ta không được dự phần. Tu vài ba năm, ngay đến chấp trước, nóng giận cũng chưa thuyên giảm, nói gì đến xóa bệnh. Không làm chủ được tâm, sao dễ làm chủ thân. Chưa thấu lý quanh mình vẫn nhiều lắm những chúng sanh ta từng gây hại từ đời trước và đời này, thì đến lúc đột ngột lâm bệnh tâm ấy sẽ run rẩy, niệm Phật niệm Pháp nhòa vào niệm đau niệm bệnh. Vẫn biết Tâm chuyển được vạn vật. Năng lượng tâm có thể chuyển mọi bệnh nan y, song điều này đâu dễ. Chẳng hạn như bản thân tôi việc tu trì trệ, chẳng may gặp bệnh cũng phải cậy đến bệnh viện, hết lòng kính trọng bác sĩ. Dẫu biết Y khoa và Y đức so với Phật pháp tường giải và so với ngành Thực Dưỡng vẫn nhiều hạn chế.

Bậc chứng thánh, bậc chân tu thực sự có công phu, sống trong tịnh pháp, phần lớn đều là những người vô bệnh. Xin mở ngoặc, Phật có bệnh, một số vị chứng quả có bệnh, chỉ là sự thị hiện thân xác vô thường. Hay đúng hơn, bệnh có song không khiến họ khổ. Đã sống trong giới luật tinh nghiêm, ăn uống đạm bạc theo nguyên lý mẹ thiên nhiên, bệnh nếu có sẽ nhắc nhở nên quán thân vô thường. Bệnh ấy âu cũng là “giới” để họ không thừa sức mà tạo nghiệp (như rượu chè, hút chích, mê dục). Họ còn xem bệnh như bạn, ngày ngày tâm tình với bệnh. Không phải tất cả, song những hành giả thực sự có công phu phần lớn đều nhờ định chuyển bệnh, hoặc “chung sống” với bệnh một cách tự tại trọn đời không phiền đến người thân, thậm chí chẳng ai biết họ mang bệnh. Tinh tấn tu thấy bệnh tiêu dần, thân ấy âu cũng là sự hưởng lợi từ ánh sáng vô lượng đang tràn vào tự tâm.


 

Thấy bệnh & thấy tánh

 

Con người từng luân hồi hàng ức kiếp, gây vô số tội. Đời sống hiện đại, không chỉ từ thân khẩu tạo tác trái với pháp tánh, trái với luân lý đạo đức, khiến cơ thể mất cân bằng tâm/ sinh lý dẫn đến bệnh tật, mà còn từ phương diện ý nghiệp. Khoa học lượng tử cho biết mỗi ý niệm đều phóng ra như làn sóng điện, có thể khiến môi trường thiên nhiên, con người, sự vật kết tinh theo tần số của ý niệm đó. Nếu là tích cực, hoàn cảnh sẽ chuyển tốt; nếu là tiêu cực như tham lam, sân giận, ganh ghét, đố kỵ, oán trời trách người, không những khiến chính mình lâm bệnh mà còn làm cho người chung quanh nhuốm theo, tương lai u ám. Đây là lý “vạn vật đồng nhất thể” mà Lão giáo, Ấn Độ giáoPhật giáo nói từ nhiều nghìn năm trước. Người hiện thời thường không tin, cho là mê tín, cho mình giỏi hơn người xưa, vậy thì các bậc vĩ nhân đại diện cho 3 nền văn minh trên là Lão Tử, Krishnamurti, Ramakrishna, Phật Cồ Đàm… đều không bằng mình rồi!

Nguyên nhân gây bệnh chính tự ta chiêu cảm. Sự chiêu cảm nghiệp lực, cội gốc ở tâm. Thế nên dĩ nhiên phải từ tâmtrị liệu, mà chuyển hóa. Trong nhà Phật, sự chuyển này là chuyển Tham Sân Si thành Giới Định Tuệ. Và còn hai điều quan trọng nữa là Mạn và Nghi. Kiêu mạn bất cứ ở lĩnh vực nào kể cả việc hành thiện, đó cũng là độc! Nghi, là hoài nghi lời dạy của Thánh hiền và chư Tổ sư Đại đức. Chúng ta có năm thứ độc ấy trong người, không bệnh mới lạ. Năm độc càng nhẹ, bệnh càng nhẹ. Ai kết hợp với hành trì tâm linh như thiền định hay hành đúng chánh pháp, không tà, không mê, ngay đến bệnh nan y cũng chuyển thành không. Hoặc ít ra bệnh thuyên giảm, thuyên giảm ngay ở ý niệm về bệnh do đó họ không đau khổ và thậm chí an vui sống với bệnh rồi thanh thản nhẹ nhàng ra đi.

Chúng ta do quá chấp thân vật chất, hầu như chẳng màng đến tinh thần tâm linh, sự chữa trị thuần vật lý sẽ dẫn đến những hậu họa. Nếu so sánh với y học hiện đại, việc chữa trị theo phương pháp thực dưỡng xem ra an toàn và gần hơn với đạo lý trời đất; cũng xem như người ta vô tình được chữa trị cả thân lẫn tâm, và điều này cũng hợp với tuyên ngôn của vị Tổ ngành Tây y Hippocrate; ông nói “không có cái bệnh để chữa, mà phải chữa con người bệnh”.

Không thể phủ nhận công lao to lớn của nền y học hiện đại. Nhờ sự phát triển của khoa học, y học đã có máy móc tân tiến, chế thành công nhiều phương thuốc quý phục vụ hiệu quả việc chữa lành rất nhiều chứng bệnh. Tuy nhiên với bệnh nan y, y học vẫn tỏ ra lúng túng.

Không phủ nhận sự phát triển của khoa học với nhiều phát kiến khiến loài người được hưởng lợi về đời sống vật chất (thân), nhưng người ta quên phần tinh thần (tâm), quên thế giới tâm linh nên sự sáng tạo chủ yếu phục vụ vật chất đẩy đến bất lực trước thảm họa. Y học một khi thuần phát triển theo hướng vật lý thì loài người vẫn “tiến lùi”. Một bệnh nhân dẫu gặp thuốc tiên mà không soát lại lỗi lầm sám hối nghiệp chướng, hướng về tâm linh cúi đầu (và ngước đầu) trước vô vàn bí ẩn màu nhiệm thì vẫn là nước đã vào thuyền lại khoanh tay đứng nhìn sự đắm.

*

Thường thì chúng ta không chú ý điều cơ thể cần mà chỉ quan tâm miệng mình muốn ăn gì, khiến cho “bộ máy hoàn thiện” sớm hư hoại. Theo đó thứ miệng đòi hỏi đều đánh đồng là tốt. Người hiểu biết hơn họ sẽ tìm đến loại thực phẩm được chứng nghiệm bổ dưỡng. Đây là thói quen phần nhiều mang tính áp đặt, tra tấn cơ thể. Điều quan trọng trước hết, là mỗi con người cần hiểu cơ chế hoạt động của cơ thể, hiểu giá trị thực phẩm, hiểu những thứ đưa vào cơ thể lợi hại hại như thế nào. Thực tế nếu chỉ kiêng kị đã chữa cơ bản căn bệnh; bởi nguyên lý cao nhất là, cơ thể vốn tự điều hòa, cái chính là chúng ta do ăn uống sai lầm, do thỏa mãn khẩu vị nên không cho cơ thể cơ hội tự điều hòa bệnh tật mà thôi.

Theo y học phương Đông, cơ thể có sự cố là do không điều hòa Âm - Dương. Hiểu thêm về Âm - Dương trong mình sẽ khiến cơ thể khỏe mạnh và đẩy lùi bệnh tật. Rất ngạc nhiên, từ nửa thế kỷ trước Oshawa từng khuyến cáo về tác hại khủng khiếp của đường: “Đường hóa học của kỹ nghệ và thương mại, là thức sát nhân có một không hai trong lịch sử loài người”; “nó chính thật nguồn gốc của sự tai vạ văn minh của kỹ nghệ tân thời”. Và ông còn đưa ra một kết luận quan trọng: “Nguyên nhân chính yếu của ung thư luôn luôn do sự quá thặng Âm ở thức ăn nhiều bánh ngọt, cà phê ngọt và sữa ngọt”. Trước đó một nhóm nghiên cứu ở phương Tây đã phát hiện tai hại của đường song do mức lợi nhuận quá lớn nên thông tin này với nhiều lý do đã không trở thành đáng tin cậy. Ngày nay khoa học cũng thừa nhận mức độ nguy hiểm của đường, trong khi nó ăn sâu vào tiềm thức nhân loại. Đường dưới bất cứ hình thức chế biến nào và cả trong trái cây đều đi ngược lại với phương pháp thực dưỡng bởi nó tạo nước từ các thực phẩm đưa vào cơ thể khiến tế bào trương nở, gây nên mức độ âm nặng, làm cơ sở cho nhiều căn bệnh hiểm nghèo và cả nan y. Hồi ấy Oshawa có thể chưa lường đến những nguyên nhân gây ung thư khác như môi trường ô nhiễm nặng, sóng từ; hay cụ thể hơn là dùng bia rượu vô độ; thuốc lá, thịt nướng - thứ chủ yếu do tác dụng của hóa chất. Xin mở ngoặc, thuốc lá nguyên gốc không quá độc hại như ta nghĩ; người dân tộc đa phần quấn lá thuốc hút từ nhỏ, hút lúc nhàn rỗi cũng như suốt thời gian cuốc rẫy, về già vẫn không sao. Còn thuốc lá đóng gói do sử dụng chất bảo quản và nhiều thứ khác trong quá trình chế biến là tác nhân của bệnh ung thư. Đường và sữa độc hại chính bản chất nó Âm tính. Thống kê gần đây cho thấy, những nước dùng sữa với số lượng nhiều thường có người mắc bệnh loãng xương rất cao. Một tài liệu quan trọng từ bệnh viện trường