Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Bài Mới Nhất trang Văn Học
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
20,418,035

Từ Bi –thiện Ý

Tuesday, November 21, 201705:07(View: 4310)
Từ Bi –thiện Ý

TỪ BI –THIỆN Ý

Tỳ Khưu Thanissaro
 
Diệu Liên Lý Thu Linh

 
Từ Bi –thiện Ý

Tỳ Khưu Thanissaro (Geoffrey DeGraff) là một tu sĩ người Mỹ theo truyền thống tu trong rừng của Thái Lan.  Sau khi tốt nghiệp Đại học Oberlin năm 1971 với chuyên ngành về Lịch sử Tri thức Âu Châu, ông theo học thiền với Thiền sư Ajaan Fuang Jotiko ở Thái Lan và xuất gia năm 1976.  Năm 1991, ông giúp xây dựng Lâm Tự Viện ở San Diego, California, nơi ông là trụ trì.

Ông là một dịch giả, người viết năng nổ.  Nhiều tác phẩm của ông có thể được tìm thấy trên mạng có tên: www.accesstoinsight.org

***

Thầy tôi, Ajaan Fuang, có lần khám phá ra có một con rắn đã bò vào phòng mình.  Mỗi lần bước vào phòng, Sư thấy nó chui vào cái khe sau tủ đựng đồ.  Và dầu ông đã cố tình để cửa mở cả ngày, rắn cũng không chịu ra khỏi phòng.  Họ đã sống chung như thế trong ba ngày.  Ông đã rất cẩn thận không làm kinh động rắn hay làm nó cảm thấy bị đe dọa bởi sự có mặt của ông.  Cuối cùng vào buổi chiều của ngày thứ ba, khi ngồi thiền, ông đã quán tưởng đến con rắn.  Ông thầm nghĩ, “Này rắn, không phải là ta ghét ngươi.  Ta không có ý xấu gì về ngươi.  Nhưng tâm chúng ta vận hành khác nhau.  Vì thế, ta rất dễ hiểu lầm nhau.  Bên ngoài rừng kia có rất nhiều chỗ cho ngươi sống mà không phải sống e dè với ta”.  Khi ông ngồi thiền rải tâm đến cho rắn như thế, nó đã bỏ đi.

Lần đầu tiên nghe Ajaan Fuang kể chuyện này, tôi dừng lại, quán xét sự hiểu biết của mình về từ bi (metta) như thế nào.  Từ bi là ước muốn được hạnh phúc –hạnh phúc thực sự- và đức Phật dạy ta phát triển ước muốn này cho bản thân và cho người: “Với tâm từ cho toàn thể vũ trụ, vun trồng một trái tim không giới hạn”. (Sn 1:8)[1]  Nhưng cảm xúc nào sẽ đi cùng với ước muốn đó?  Nhiều người định nghĩa đó là “tình thương, sự tử tế” (lovingkindness), ám chỉ một ước muốn được có mặt vì người khác: để yêu thương, để ban tặng sự âu yếm, vỗ vềbảo vệÝ tưởng về việc cảm thấy yêu thương tất cả mọi người nghe rất cao cả, đẹp đẽ.  Nhưng khi bạn thực sự dừng lại để nghĩ về tất cả mọi chúng sanh trong vũ trụ, thì có rất nhiều người -giống như con rắn đó- sẽ phản ứng lại với lòng tử tế của ta bằng tâm nghi ngờ và sợ sệt.

Thay vì đón nhận lòng từ của bạn, họ chỉ muốn được để yên.  Kẻ khác thì lại cố tình lợi dụng lòng tử tế của bạn, coi đó là dấu hiệu của người yếu đuối hay sự đồng thuận của bạn về mọi việc họ muốn làm.  Trong tất cả những trường hợp này, liệu tâm từ bi của bạn có mang đến hạnh phúc thực sự cho ai không.  Trong trường hợp này, hẳn là bạn không thể không nghĩ liệu những lời dạy của Đức Phật về từ bi có thực sự khôn ngoan hay thực tế?

 Qua cách Ajaan Fuang đối xử với con rắn, tôi nhận thấy metta không hẳn là thái độ từ bi.  Đúng hơn, đó là thái độ của thiện ý -mong muốn điều tốt lành cho người khác, với ý thức rằng hạnh phúc thực sự là điều mà mỗi chúng ta phải tự khám phá ra cho mình, và đôi khi cách dễ nhất là mỗi người đi theo hướng của mình.

Ta cần hiểu metta từ nguồn gốc kinh tạng Pali, đầu tiên chính là từ từ ngữ đó.  Trong ngôn ngữ Pali, pema mới có nghĩa là tình thương, trong khi metta, liên hệ với từ mitta, có nghĩa là bạn.  Đức Phật không khuyên ta phát triển tình yêu phổ quát (universal pema) –vì Ngài biết là tình thương yêu có thể dễ dàng đưa đến hận thù khi người ta thương yêu bị người khác đối xử tệ- nhưng Đức Phật khuyên ta nên phát triển tình bạn phổ quát (universal metta): sự thân thiện cho tất cả mọi người.  Sự thân thiện được coi như thiện ý qua bốn đoạn trong kinh tạng khi Đức Phật ban cho ta những câu để ghi nhớ trong tâm khi phát triển những tư tưởng từ bi.  Các câu này cho ta những hướng dẫn rõ ràng nhất của ngài không chỉ về các cảm xúc cao đẹp hàm chứa trong metta, mà cũng khuyên ta cần phải hiểu ý nghĩa của hạnh phúc, giúp ta hiểu tại sao việc phát triển lòng từ đến với tất cả mọi người là điều khôn ngoan và thực tế.

Nhóm câu đầu tiên này ở trong đoạn kinh khi Đức Phật khuyên ta nên có những suy tư như thế nào để chống lại với ác ý.  Các câu kệ này được tụng đọc mỗi ngày trong các cộng đồng Nguyên thủy ở khắp nơi trên thế giới:

Mong cho tất cả mọi chúng sinh –không thù oán, không bị áp bức, không phiền não –dễ dàng tự chăm sóc mình[2]. –AN 10:176

Hãy xem xét câu cuối cùng: “Mong là họ dễ dàng tự chăm sóc mình”.  Ta không nói là ta sẽ luôn có mặt bên tất cả mọi chứng sanh.  Hơn nữa đa số đều sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn khi biết rằng họ có thể dựa vào bản thân hơn là dựa vào người khác.  Có lần tôi nghe một vị giảng sư nói rằng ông không muốn sống nơi không có khổ đau, vì như thế thì ông không thể hiện được tâm từ bi của mình –là một ước muốn cực kỳ ích kỷ, nếu bạn suy xét thấu đáo về nó.  Ông ta muốn người khác khổ đau để ông có thể vui vì được thể hiện tâm bi mẫn?  Một thái độ tốt hơn sẽ là, “Mong cho mọi chúng sanh đều được hạnh phúc.  Mong cho họ có thể tự lo cho mình được bình an”.  Như thế họ có thể hưởng hạnh phúc của sự tự túc và độc lập.

Một số câu kệ từ bi khác ở trong kinh Từ Bi Karaniya[3]Bài kệ mở đầu bằng ước muốn được hạnh phúc giản đơn:

Không bỏ sót một hữu tình nào 
Kẻ ốm yếu hoặc người khỏe mạnh 
Giống lớn to hoặc loại dài cao 
Thân trung bình hoặc ngắn, nhỏ, thô.

Có hình tướng hay không hình tướng 
Ở gần ta hoặc ở nơi xa 
Đã sanh rồi hoặc sắp sanh ra 
Cầu cho tất cả đều an lạc.

Bài kệ lại tiếp tục mong cầu là mọi chúng sanh đều tránh khỏi mọi nguồn gốc của khổ đau:

Với ai và bất luận ở đâu 
Không lừa dối chẳng nên khinh dễ 
Lúc căm hờn hoặc khi giận dữ 
Đừng mưu toan gây khổ cho nhau.

Khi đọc tụng các câu kệ này, ta không chỉ mong chúng sanh được hạnh phúc, mà còn mong là họ tránh được những hành động đưa đến ác nghiệp, đưa đến khổ đau cho bản thân.  Ta nhận thấy rằng hạnh phúc phải dựa vào hành động: Người muốn tìm hạnh phúc chân thực, phải hiểu nhân của hạnh phúc, và hành theo đó.  Họ cũng phải hiểu rằng hạnh phúc thực sự không đem lại tai hại.  Nếu hạnh phúc dựa trên điều gì có hại cho người khác, thì nó không vững bền.  Người bị hại chắc chắn sẽ tìm cách để trả đũa, để phá hoại hạnh phúc đó.  Ngoài ra sự cảm thông còn có đặc tính hiển nhiên như sau: nếu ta thấy người khác khổ đau, ta cũng đau xót.  Nếu ta có chút cảm xúc nào, ta khó thể cảm thấy hạnh phúc khi ta biết rằng hạnh phúc của mình đang gây đau khổ cho người khác.

Vì thế, khi bày tỏ thiện ý, ta không nói rằng ta sẽ luôn có mặt ở đó với họ.  Ta mong rằng tất cả chúng sanh sẽ khôn ngoan để biết tự lực, tự tìm hạnh phúc cho bản thân.

Kinh Tâm Từ còn tiếp tục nói rằng khi ta phát triển thái độ này, ta muốn bảo vệ nó như người mẹ bảo vệ đứa con duy nhất của mình.

Như mẹ hiền thương yêu con một 
Dám hy sinh bảo vệ cho con 
Với muôn loài ân cần không khác 
Lòng ái từ như bể như non.
Không vuớng mắc, oán thù, ghét bỏ.


Nhiều người hiểu lầm đoạn kệ này – nghĩ rằng Đức Phật khuyên ta phải thương yêu tất cả chúng sanh giống như cách người mẹ thương đứa con duy nhất của mình.  Nhưng thật ra Đức Phật không thực sự nói thế.  Trước hết Đức Phật không hề nói đến từ “thương yêu” (cherish) ở đây.  Và thay vì so sánh giữa việc bảo vệ đứa con duy nhấtbảo vệ các chúng sanh khác, Ngài lại so sánh giữa việc bảo vệ con và bảo vệ thiện ý của mình.  Điều này tương ưng với những lời dạy khác của Ngài trong kinh tạng.  Không có nơi nào trong kinh tạng Ngài khuyên chúng ta bỏ thân mạng để chống lại mọi điều ác, điều bất công trên thế giới, nhưng Ngài tán thán các đệ tử khi họ sẵn lòng từ bỏ mạng sống cho giới luật“Giống như biển lặng, không nhấn chìm sóng biển, các đệ tử của ta cũng không –dầu có bỏ thân mạng- nhấn chìm các giới luật mà ta đã đề ra cho họ”[4]. –Ud 5:5

Những câu này cũng mang một thông điệp, một tình cảm tương tự: rằng ta cần phải dốc lòng vun trồngbảo vệ thiện ý của mình để bảo đảm rằng các ý hướng thiện của ta không lay chuyển.  Vì ta không muốn làm hại đến ai.  Điều ác có thể dễ dàng xảy ra khi lòng từ của ta bị lay chuyển, vì thế ta cần phải làm bất cứ điều gì để luôn bảo vệ thái độ này.  Đó là lý do tại sao, khi Đức Phật nói ở cuối bài kinh rằng ta cần phải quyết chí thực hành loại chánh niệm này: chánh niệm để ghi nhớ trong tâm ước muốn mọi chúng sanh đều được hạnh phúc, để bảo đảm rằng tất cả mọi hành động của ta đều vì mục đích này.

Đó là lý do tại sao Đức Phật khuyên ta phải phát triển các thiện ý trong hai trường hợp đặc biệt quan trọng –và đặc biệt khó- để duy trì ý hướng thiện: khi người khác làm hại ta, hay khi ta cố ý làm hại người khác.

Nếu kẻ khác hại ta bằng lời nói hay hành động –“ngay như những kẻ đạo tặc hạ liệt, dùng cưa hai lưỡi mà cưa tay, cưa chân;”- Đức Phật khuyên ta luyện tâm như thế này:

 “Ta sẽ giữ tâm không biến nhiễm; ta sẽ không nói lời ác độc.  Ta sẽ duy trì sự thông cảm, với tâm từ, không có nội tâm sân hận.    Ta sẽ luôn rải tâm từ đến họ, bắt đầu từ họ, ta sẽ rải tâm từ khắp thế giới –quảng đại, vô biên, không hận, không sân[5]. –MN 21

Khi làm được như thế, Đức Phật bảo rằng, ta đã khiến tâm ta bao la như sông Hằng hay rộng lớn như trái đất –nói cách khác, nó lớn hơn các ác hại mà những kẻ kia đang làm hay đe dọa sẽ làm với ta.  Chính Đức Phật đã áp dụng giáo lý này nơi bản thân sau khi Devadatta mưu toan giết hại ngài.  Như khi ngài nói với Ma vương –người đến để chế ngạo ngài khi ngài đang an dưỡng vết thương- “Ta nằm xuống với lòng thương xót muôn loài”[6]. (SN 4:13)

Khi ta có thể duy trì tâm rộng mở trong lúc đau đớn, cái người khác hại ta không còn quá sức chịu đựng, và ta khó lòng phản ứng một cách tiêu cực.  Ta bảo vệ -cho bản thân và cho người- khỏi bất cứ hành vi tiêu cực nào mà ta có thể làm.

Còn đối với những khi ta cố ý làm hại người, Đức Phật nhắc nhở ta phải nhớ rằng việc sám hối không thể thay đổi cái ác, nên nếu cần xin lỗi, ta xin lỗi.  Trong bất cứ hoàn cảnh nào, ta phải quyết không lặp lại hành động ác đó nữa.  Sau đó rải tâm từ đến muôn nơi.

Việc này giúp ta thành tựu một số điều.  Nó nhắc nhở ta về sự thiện lành của bản thân để ta không –nhằm bảo vệ tự ngã- quay trở lại việc không chấp nhận mình đã làm điều gì tai hại.  Nó làm mạnh thêm quyết tâm không làm hại ai.  Và nó buộc ta phải quán sát hành động của mình để thấy được ảnh hưởng thực sự của chúng: nếu ta có những thói quen gây tai hại, ta nên buông bỏ chúng trước khi chúng gây tổn hại thêm.  Nói cách khác, ta không muốn thiện ý của ta chỉ là một ý nghĩ buông lung, mơ hồ.  Ta muốn ứng dụngrốt ráo, từng li từng tí vào tất cả mọi giao tiếp với người.  Như thế thiện ý của ta mới chân thật.  Và nó thực sự có ảnh hưởng, đó là lý do khiến ta phát triển thái độ này ngay từ buổi đầu: để bảo đảm rằng nó thực sự cổ vũ cho tư duy, lời nói và hành động của ta hầu dẫn đến hạnh phúc, vô hại cho tất cả.

Cuối cùng có một đoạn kinh trong đó Đức Phật dạy các đệ tử tụng để rải tâm từ đến tất cả loài rắn và các loài bò sát khác.  Chuyện là có một vị tu sĩ hành thiền trong rừng và bị rắn cắn chết.  Các vị đệ tử khác đem chuyện này kể lại với Đức Phật và Ngài trả lời rằng nếu vị tu sĩ kia đã rải tâm từ đến tất cả bốn đại gia đình của loài rắn, thì con rắn nọ đã không cắn ông.  Lúc đó Đức Phật dạy các vị đệ tử một bài kệ bảo vệ để rải tâm từ không chỉ đến với loài rắn, mà còn cho tất cả mọi chúng sanh.

Ta hãy có từ tâm
Với các loài không chân,
Ta hãy có từ tâm
Với các loài hai chân,
Ta hãy có từ tâm
Với các loài bốn chân,
Ta hãy có từ tâm
Với các loài nhiều chân.

Mong rằng loài không chân
không có làm hại ta.
Mong rằng loài hai chân
không có làm hại ta.
Mong rằng loài bốn chân
không có làm hại ta.
Mong rằng loài nhiều chân
không có làm hại ta.

Mong chúng sanh hữu tình
Toàn thể mọi sinh vật,
Mong chúng thấy hiền thiện,
Chớ đi đến điều ác.

Đức Phậtvô lượng, Pháp là vô lượng, chúng Tăngvô lượng.

Có lượng là loài bò sát: rắn, bò cạp, rết, nhện, cắc kè & chuột.  Ta đã làm sự hộ trì.  Ta đã làm sự che chở. Mong các loài hữu tình sẽ bỏ đi[7]AN 4:67

Câu cuối cùng trong bài kệ về tâm từ này cho thấy sự thật là việc chung sống cùng nhau với mọi loài thường mang lại khó khăn –nhất là khi chúng sinh thuộc nhiều giống loài có thể xâm hại nhau –và phương cách tốt đẹp nhất cho tất cả những loài có liên quan là sống xa cách, không xâm hại nhau.

Những cách thể hiện lòng từ khác nhau này cho ta thấy tâm từ không nhất thiếttính chất của tình thương yêu.  Tâm từ tốt hơn nên được coi như là thiện ý, vì hai lý doĐầu tiênthiện ýthái độ mà ta có thể thể hiện với tất cả mọi người mà không sợ phải mang tiếngđạo đức giả hay thiếu thực tế.  Không phải vì ta giúp đỡ mà người khác hạnh phúc, họ sẽ thực sự hạnh phúc hơn nếu đó là kết quả của chính hành động thiện xảo của họ.  Hạnh phúc của sự tự lực lớn hơn bất cứ thứ hạnh phúc nào đến từ sự phụ thuộc.

Lý do thứ hai, thiện ý là một cảm xúc khôn ngoan để đối phó với những người có thái độ vô ơn đối với sự tử tế của ta.  Có thể có những người bạn đã xâm hại trong quá khứ nên họ không muốn có bất cứ liên hệ nào với bạn, vì thế sự thân thiết, thương yêu của bạn thực ra là nguồn gốc khổ đau cho họ, hơn là niềm vui.  Cũng có những người khi thấy bạn muốn thể hiện tình thương yêu đến với họ, thì họ nhanh chóng lợi dụng bạn.  Và cũng có rất nhiều sinh vật trên đời sẽ cảm thấy bị đe dọa bởi sự biểu lộ tình cảm quá ào ạt của con người.  Trong những trường hợp này, một cảm nhận từ xa về thiện ý của ta –rằng ta tự nguyện không xâm hại những người này hay những chúng sanh này- sẽ tốt hơn cho tất cả mọi người liên quan.

Như thế không có nghĩa là tình thương yêu không bao giờ là một thể hiện phù hợp của thiện ýĐơn giản là bạn phải biết khi nào nó phù hợp và khi nào không.  Nếu bạn thực sự có lòng từ đối với  bản thân hay với người, thì bạn không thể để ước muốn được bày tỏ sự thân mật, được có cảm giác ấm áp, thương yêu, khiến bạn quay lưng lại với những gì thực sự là phương cách hoàn hảo nhất để mang hạnh phúc chân thật đến cho tất cả.

Diệu Liên Lý Thu Linh -2017

 

(Chuyển ngữ từ "Metta Means Goodwill", Nguồn:  Access to Insight (Legacy Edition), 24 November 2013)

[1] Saṃyutta Nikāya – Tương Ưng Bộ Kinh

[2] Aṅguttara Nikāya – Tăng Chi Bộ Kinh

[3] Karaniya Metta Sutta (Good Will _Kinh Tâm Từ thuộc Kinh Tập- Dịch Giả: Thích Thiên Châu.  Nguồn: Thư Viện Hoa Sen

[4] Udana: Kinh Phật Tự Thuyết

[5] Majjhima Nikāya – Trung Bộ Kinh

[6] Saṃyutta Nikāya – Tương Ưng Bộ Kinh

[7] Aṅguttara Nikāya – Tăng Chi Bộ Kinh

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 16)
Trong Kinh Như Thị Ngữ (Itivutthaka), Đức Phật nói: "Tất cả những công đức mà ta thực hiện ở trên đời góp lại cũng không bằng công đức của sự thực tập Từ Quán.
(View: 48)
Nếu bị người khác làm tổn thương, bạn vẫn cần yêu thương họ, nếu người khác khi dễ bạn, bạn phải tha thứ cho họ đấy gọi là rộng kết duyên lành.
(View: 124)
Tuệ Trí của Đức Đạt Lai Lạt Ma là một phần trích từ xuất bản trước đó của quyển Năng lực của Từ bi
(View: 96)
Quán niệm vô thường là một trong những nội dung tu tập căn bản của người Phật tử. Mọi sự mọi vật quanh ta luôn vận động, biến đổi từng phút, từng giây.
(View: 115)
Xung quanh các hiện tượng mê tín dị đoan “có tổ chức” diễn ra gần đây, đã có nhiều ý kiến trái chiều về “con đường tu tập” với những...
(View: 126)
Bụt đã từng sống với hàng ngàn vị khất sĩ túc trực xung quanh. Bụt cũng đi, cũng ngồi, cũng ăn cơm với những vị nam và nữ khất sĩ khác nhưng Ngài luôn an trú trong sự tĩnh lặng.
(View: 142)
Chúng ta ai ai cũng biết, trong cuộc sống hiện tại đương thời, bây giờ là thời buổi khoa học đương thời đi lên.
(View: 160)
Căn bản đời sống của chúng ta là đi tìm sự hạnh phúc và tránh né sự khổ đau, tuy nhiên điều tốt nhất mà ta có thể làm cho chính bản thân
(View: 150)
Theo quan niệm của Phật giáo, Khổ (zh. 苦, sa. duḥkha, pi. dukkha) là cơ sở quan trọng của Tứ Diệu Đế.
(View: 168)
Thoạt nhìn thì tánh Không và từ bi có vẻ ngược hướng nhau, vì tánh Không nhắm đến một thực tại tuyệt đối còn từ bi thì lại hướng về một thế giới và chúng sanh vô thường, tương đối.
(View: 202)
Trong nền văn hóa của chúng ta, mọi người rất khó khăn để hướng sự yêu thương tử tế đến với chính bản thân họ.
(View: 229)
Ngồi lắng lòng lại để cảm nhận từng hơi thở trong ta, nghe những thanh âm của cuộc sống và nghĩ về cuộc đời của những người ngoài kia,
(View: 201)
Trong xã hội Ấn Độ thời cổ đại, vị trí người phụ nữ hãy còn thấp kém. Tôn giáo và các giáo phái đương thời không đồng tình cho người nữ xuất gia.
(View: 283)
Trong đời sống thường nhật, nếu muốn được tự do tự tại tất phải thực hiện bằng được hai nguyên tắc “thiểu dục” và “tri túc”.
(View: 319)
Theo lời Phật dạy, nhân quả là một định luật mang tính tất yếu. Gieo nhân lành thì được hưởng quả lành, tạo nhân ác thì chịu quả báo ác.
(View: 361)
Phật dạy: “Không có gì là ngẫu nhiên”. Dường như nó cũng là một sự sắp xếp tưởng như vô tình mà lại hữu ý để loài người nhận ra những điều quan trọng, điều gì đó lớn hơn con virus...
(View: 291)
Đã có quá nhiều bài trên các trang mạng nói đến chính giáo và tà giáo. Đứng góc độ nào để phân biệt chính và tà?
(View: 330)
Theo Phật giáo, nghiệp là hành động có tác ý, chủ ý của thân (Kāya, 身), khẩu (Vacī, 口), ý (Mano, 意).
(View: 316)
“Lại nói: Ta vừa khởi một tâm thì nó đã thuộc về quá khứ. Tâm ta chưa khởi mới gọi là vị lai. Chẳng phải tâm vị lai tức là tâm quá khứ, tâm hiện tại lại ở tại chỗ nào.
(View: 321)
Phàm ở đời, những ai muốn xây dựng sự nghiệp lớn, đều phải có đức nhẫn nhục để vượt qua bao lần thất bại mới đạt được thành công.
(View: 331)
Giữa tâm điểm đại dịch COVID-19 diễn ra một cách phức tạp trong đời sống thực tiễn không chỉ ở nước ta mà khắp cả các nước trên hành tinh này,
(View: 339)
Muốn ít và biết đủ tiếng Hán gọi là “Thiểu dục-Tri túc”. Đây là hai khái niệm Phật học được đề cập nhiều trong Kinh tạng, Luật tạng cũng như trong Tạng vi diệu pháp.
(View: 366)
Một người khi sắp mạng chung, hành trang để đi đến đời sống khác chắc chắn không phải là tiền bạc, danh vọng mà đó chính là nghiệp thiện hay ác của chính mình.
(View: 374)
Dzongsar Khyentse Rinpoche lấy phim làm một ví dụ cho lời dạy của Đức Phật về luân hồi, niết bànbản thân đời sống.
(View: 339)
Đức Phật nói rằng không thể có một đời sống tâm linh chân chính nếu không có một trái tim rộng lượng.
(View: 348)
Giữa tâm điểm đại dịch COVID-19 diễn ra một cách phức tạp trong đời sống thực tiễn không chỉ ở nước ta mà khắp cả các nước trên hành tinh này,
(View: 381)
Thật là một thảm họa khi tôi dự khóa tu thiền lần đầu tiên. Lưng tôi yếu sau nhiều năm ngồi gù lưng trước máy tính và ...
(View: 338)
Muốn ít và biết đủ tiếng Hán gọi là “Thiểu dục-Tri túc”. Đây là hai khái niệm Phật học được đề cập nhiều trong Kinh tạng, Luật tạng cũng như trong Tạng vi diệu pháp.
(View: 344)
Theo Tứ phần luật thì nguyên nhân Phật chế định sự an cư là do nhóm sáu người gọi là lục quần Tỳ kheo thường du hành trong nhân gian,
(View: 345)
Người Á Châu không ai là không biết đến hoa Sen. Vì Á Châu chúng ta có khí hậu ấm áp, nhất là những xứ như Ấn Độ, Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan, Lào, Cam Bốt, Việt Nam, Trung Quốc và ngay cả Đại Hàn hay Nhật Bản, hoa Sen vẫn thường nở khoe sắc thắm vào mùa Hè nắng ấm.
(View: 307)
Cơn mưa phùn đêm qua còn đọng nước trên đường. Gió thu đã về. Lá vàng theo gió lác đác vài chiếc cuốn vào tận thềm hiên.
(View: 363)
Ấn Độ có nhân vật huyền thoại là Duy-ma-cật; Trung Quốccư sĩ Bàng Uẩn; Việt Nam có Thượng Sỹ Tuệ Trung.
(View: 415)
Theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy y cứ theo lịch Ấn Độ cổ đại, bắt đầu Vũ Kỳ An Cư (Vassavāsa) từ ngày 16 tháng 6 (tháng Āsālha) và kết thúc vào ngày 16 tháng 9 (tháng Āssina).
(View: 773)
Mong rằng quý vị có thể tìm được những thông tin hữu ích để giúp mình có chọn lựa tốt trong việc ăn uốngcách sống để duy trì hoặc cải thiện sức khỏe của mình.
(View: 477)
Trước tiên muốn hiểu về vấn đề này, chúng ta phải biết rõ, tin sâu và chấp nhận thuyết “nhân quả, luân hồi” !
(View: 551)
Cơn dịch Coronavirus vẫn tiếp tục hoành hành khắp nơi, đã gần hai năm rồi nhưng chưa thấy có dấu hiệu nó suy yếuchấm dứt, thậm chí ngược lại, nó còn sinh sản ra những chủng mới nguy hiểm hơn.
(View: 901)
Sách dày 572 trang kể cả phần tiếng Anh. Riêng phần tiếng Việt bắt đầu từ trang 1 đến trang 272 và phần tiếng Anh bắt đầu từ trang 277 đến cuối sách. Sách do Phật Việt Tùng Thư tại Hoa Kỳ xuất bản lần thứ nhất năm 2021
(View: 484)
Đọc tiểu sử của Hòa Thượng Tuệ Sỹ để chúng ta biết rằng Ngài là một bậc Vô Sư Trí, tự tu học, nhưng biết rất nhiều sinh ngữ như: Anh, Pháp, Đức và các cổ ngữ như: tiếng Phạn, Pali, Tây Tạng v.v…
(View: 407)
Giới luật Phật giáo không dành riêng cho đối tượng nào nhưng hàng xuất gia là đối tượng bắt buộc phải học giới luật Phật giáo.
(View: 452)
Trong suốt những năm tháng hoằng pháp độ sanh Đức Phật luôn chú trọng đến mục đích chính là giải thoát con người ra khỏi ...
(View: 475)
Với tâm kiêu ngạo, tự cao tự đại mà nói nhiều lại càng nguy hiểm hơn. Điều mà vị Tỳ-kheo vô sự cần thể hiện là bớt nói lại và nghe nhiều lên.
(View: 450)
Đức Phật dạy “Nhất thiết duy tâm tạo” hay “Tâm dẫn đầu các pháp”, tâm ý quyết định kết quả của hành vi con người.
(View: 415)
“Thiền sư Thường Chiếu (?-1203), thế hệ Thứ Mười Hai, thiền phái Vô Ngôn Thông.
(View: 795)
Vì muốn tạo sự thanh thản cho chư Tôn Đức Tăng Ni và quý Phật Tử Học Viên trong thời điểm căng thẳng của Covid-19, cho nên Giáo Hội quyết định chọn 3 ngày cuối của 2 tuần lễ và 3 ngày cuối tuần lễ thứ nhất là ngày 9, 10, 11/07/2021...
(View: 526)
Bắt phong trần phải phong trần. Cho thanh cao mới được phần thanh cao.
(View: 417)
“Phật tánh là Như Lai tạng” (phẩm Như Lai tánh). Tạng có nghĩa là bao trùm chứa giữ tất cả chúng sanh và muôn sự muôn vật, tất cả hiện hữu thanh tịnhbất tịnh.
(View: 570)
Đừng vấn vương quá khứvọng tưởng tương lai Quá khứ đã qua rồi Ngày mai còn chưa tới
(View: 482)
Chữ nghiệp trong nhà Phật nói, ý nghĩa của nó rất sâu rộng. Ở đây, chúng tôi chỉ xin giải đáp một cách đại khái sơ lược thôi.
(View: 422)
Phật giáo trên con đường truyền bá và hội nhập luôn gắn liền với hai yếu tố căn bản: khế lý và khế cơ.
(View: 541)
Câu chuyện nhỏ, do cơ duyên, xảy ra đã lâu, dường như lâu tới hơn hai thế kỷ! Lâu vậy, mà như không lâu, câu chuyện, ngỡ bình thường mà...
Quảng Cáo Bảo Trợ