Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
15,500,238
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250

Từ Bi –thiện Ý

21 Tháng Mười Một 201705:07(Xem: 1232)
Từ Bi –thiện Ý

TỪ BI –THIỆN Ý

Tỳ Khưu Thanissaro
 
Diệu Liên Lý Thu Linh

 
Từ Bi –thiện Ý

Tỳ Khưu Thanissaro (Geoffrey DeGraff) là một tu sĩ người Mỹ theo truyền thống tu trong rừng của Thái Lan.  Sau khi tốt nghiệp Đại học Oberlin năm 1971 với chuyên ngành về Lịch sử Tri thức Âu Châu, ông theo học thiền với Thiền sư Ajaan Fuang Jotiko ở Thái Lan và xuất gia năm 1976.  Năm 1991, ông giúp xây dựng Lâm Tự Viện ở San Diego, California, nơi ông là trụ trì.

Ông là một dịch giả, người viết năng nổ.  Nhiều tác phẩm của ông có thể được tìm thấy trên mạng có tên: www.accesstoinsight.org

***

Thầy tôi, Ajaan Fuang, có lần khám phá ra có một con rắn đã bò vào phòng mình.  Mỗi lần bước vào phòng, Sư thấy nó chui vào cái khe sau tủ đựng đồ.  Và dầu ông đã cố tình để cửa mở cả ngày, rắn cũng không chịu ra khỏi phòng.  Họ đã sống chung như thế trong ba ngày.  Ông đã rất cẩn thận không làm kinh động rắn hay làm nó cảm thấy bị đe dọa bởi sự có mặt của ông.  Cuối cùng vào buổi chiều của ngày thứ ba, khi ngồi thiền, ông đã quán tưởng đến con rắn.  Ông thầm nghĩ, “Này rắn, không phải là ta ghét ngươi.  Ta không có ý xấu gì về ngươi.  Nhưng tâm chúng ta vận hành khác nhau.  Vì thế, ta rất dễ hiểu lầm nhau.  Bên ngoài rừng kia có rất nhiều chỗ cho ngươi sống mà không phải sống e dè với ta”.  Khi ông ngồi thiền rải tâm đến cho rắn như thế, nó đã bỏ đi.

Lần đầu tiên nghe Ajaan Fuang kể chuyện này, tôi dừng lại, quán xét sự hiểu biết của mình về từ bi (metta) như thế nào.  Từ bi là ước muốn được hạnh phúc –hạnh phúc thực sự- và đức Phật dạy ta phát triển ước muốn này cho bản thân và cho người: “Với tâm từ cho toàn thể vũ trụ, vun trồng một trái tim không giới hạn”. (Sn 1:8)[1]  Nhưng cảm xúc nào sẽ đi cùng với ước muốn đó?  Nhiều người định nghĩa đó là “tình thương, sự tử tế” (lovingkindness), ám chỉ một ước muốn được có mặt vì người khác: để yêu thương, để ban tặng sự âu yếm, vỗ vềbảo vệÝ tưởng về việc cảm thấy yêu thương tất cả mọi người nghe rất cao cả, đẹp đẽ.  Nhưng khi bạn thực sự dừng lại để nghĩ về tất cả mọi chúng sanh trong vũ trụ, thì có rất nhiều người -giống như con rắn đó- sẽ phản ứng lại với lòng tử tế của ta bằng tâm nghi ngờ và sợ sệt.

Thay vì đón nhận lòng từ của bạn, họ chỉ muốn được để yên.  Kẻ khác thì lại cố tình lợi dụng lòng tử tế của bạn, coi đó là dấu hiệu của người yếu đuối hay sự đồng thuận của bạn về mọi việc họ muốn làm.  Trong tất cả những trường hợp này, liệu tâm từ bi của bạn có mang đến hạnh phúc thực sự cho ai không.  Trong trường hợp này, hẳn là bạn không thể không nghĩ liệu những lời dạy của Đức Phật về từ bi có thực sự khôn ngoan hay thực tế?

 Qua cách Ajaan Fuang đối xử với con rắn, tôi nhận thấy metta không hẳn là thái độ từ bi.  Đúng hơn, đó là thái độ của thiện ý -mong muốn điều tốt lành cho người khác, với ý thức rằng hạnh phúc thực sự là điều mà mỗi chúng ta phải tự khám phá ra cho mình, và đôi khi cách dễ nhất là mỗi người đi theo hướng của mình.

Ta cần hiểu metta từ nguồn gốc kinh tạng Pali, đầu tiên chính là từ từ ngữ đó.  Trong ngôn ngữ Pali, pema mới có nghĩa là tình thương, trong khi metta, liên hệ với từ mitta, có nghĩa là bạn.  Đức Phật không khuyên ta phát triển tình yêu phổ quát (universal pema) –vì Ngài biết là tình thương yêu có thể dễ dàng đưa đến hận thù khi người ta thương yêu bị người khác đối xử tệ- nhưng Đức Phật khuyên ta nên phát triển tình bạn phổ quát (universal metta): sự thân thiện cho tất cả mọi người.  Sự thân thiện được coi như thiện ý qua bốn đoạn trong kinh tạng khi Đức Phật ban cho ta những câu để ghi nhớ trong tâm khi phát triển những tư tưởng từ bi.  Các câu này cho ta những hướng dẫn rõ ràng nhất của ngài không chỉ về các cảm xúc cao đẹp hàm chứa trong metta, mà cũng khuyên ta cần phải hiểu ý nghĩa của hạnh phúc, giúp ta hiểu tại sao việc phát triển lòng từ đến với tất cả mọi người là điều khôn ngoan và thực tế.

Nhóm câu đầu tiên này ở trong đoạn kinh khi Đức Phật khuyên ta nên có những suy tư như thế nào để chống lại với ác ý.  Các câu kệ này được tụng đọc mỗi ngày trong các cộng đồng Nguyên thủy ở khắp nơi trên thế giới:

Mong cho tất cả mọi chúng sinh –không thù oán, không bị áp bức, không phiền não –dễ dàng tự chăm sóc mình[2]. –AN 10:176

Hãy xem xét câu cuối cùng: “Mong là họ dễ dàng tự chăm sóc mình”.  Ta không nói là ta sẽ luôn có mặt bên tất cả mọi chứng sanh.  Hơn nữa đa số đều sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn khi biết rằng họ có thể dựa vào bản thân hơn là dựa vào người khác.  Có lần tôi nghe một vị giảng sư nói rằng ông không muốn sống nơi không có khổ đau, vì như thế thì ông không thể hiện được tâm từ bi của mình –là một ước muốn cực kỳ ích kỷ, nếu bạn suy xét thấu đáo về nó.  Ông ta muốn người khác khổ đau để ông có thể vui vì được thể hiện tâm bi mẫn?  Một thái độ tốt hơn sẽ là, “Mong cho mọi chúng sanh đều được hạnh phúc.  Mong cho họ có thể tự lo cho mình được bình an”.  Như thế họ có thể hưởng hạnh phúc của sự tự túc và độc lập.

Một số câu kệ từ bi khác ở trong kinh Từ Bi Karaniya[3]Bài kệ mở đầu bằng ước muốn được hạnh phúc giản đơn:

Không bỏ sót một hữu tình nào 
Kẻ ốm yếu hoặc người khỏe mạnh 
Giống lớn to hoặc loại dài cao 
Thân trung bình hoặc ngắn, nhỏ, thô.

Có hình tướng hay không hình tướng 
Ở gần ta hoặc ở nơi xa 
Đã sanh rồi hoặc sắp sanh ra 
Cầu cho tất cả đều an lạc.

Bài kệ lại tiếp tục mong cầu là mọi chúng sanh đều tránh khỏi mọi nguồn gốc của khổ đau:

Với ai và bất luận ở đâu 
Không lừa dối chẳng nên khinh dễ 
Lúc căm hờn hoặc khi giận dữ 
Đừng mưu toan gây khổ cho nhau.

Khi đọc tụng các câu kệ này, ta không chỉ mong chúng sanh được hạnh phúc, mà còn mong là họ tránh được những hành động đưa đến ác nghiệp, đưa đến khổ đau cho bản thân.  Ta nhận thấy rằng hạnh phúc phải dựa vào hành động: Người muốn tìm hạnh phúc chân thực, phải hiểu nhân của hạnh phúc, và hành theo đó.  Họ cũng phải hiểu rằng hạnh phúc thực sự không đem lại tai hại.  Nếu hạnh phúc dựa trên điều gì có hại cho người khác, thì nó không vững bền.  Người bị hại chắc chắn sẽ tìm cách để trả đũa, để phá hoại hạnh phúc đó.  Ngoài ra sự cảm thông còn có đặc tính hiển nhiên như sau: nếu ta thấy người khác khổ đau, ta cũng đau xót.  Nếu ta có chút cảm xúc nào, ta khó thể cảm thấy hạnh phúc khi ta biết rằng hạnh phúc của mình đang gây đau khổ cho người khác.

Vì thế, khi bày tỏ thiện ý, ta không nói rằng ta sẽ luôn có mặt ở đó với họ.  Ta mong rằng tất cả chúng sanh sẽ khôn ngoan để biết tự lực, tự tìm hạnh phúc cho bản thân.

Kinh Tâm Từ còn tiếp tục nói rằng khi ta phát triển thái độ này, ta muốn bảo vệ nó như người mẹ bảo vệ đứa con duy nhất của mình.

Như mẹ hiền thương yêu con một 
Dám hy sinh bảo vệ cho con 
Với muôn loài ân cần không khác 
Lòng ái từ như bể như non.
Không vuớng mắc, oán thù, ghét bỏ.


Nhiều người hiểu lầm đoạn kệ này – nghĩ rằng Đức Phật khuyên ta phải thương yêu tất cả chúng sanh giống như cách người mẹ thương đứa con duy nhất của mình.  Nhưng thật ra Đức Phật không thực sự nói thế.  Trước hết Đức Phật không hề nói đến từ “thương yêu” (cherish) ở đây.  Và thay vì so sánh giữa việc bảo vệ đứa con duy nhấtbảo vệ các chúng sanh khác, Ngài lại so sánh giữa việc bảo vệ con và bảo vệ thiện ý của mình.  Điều này tương ưng với những lời dạy khác của Ngài trong kinh tạng.  Không có nơi nào trong kinh tạng Ngài khuyên chúng ta bỏ thân mạng để chống lại mọi điều ác, điều bất công trên thế giới, nhưng Ngài tán thán các đệ tử khi họ sẵn lòng từ bỏ mạng sống cho giới luật“Giống như biển lặng, không nhấn chìm sóng biển, các đệ tử của ta cũng không –dầu có bỏ thân mạng- nhấn chìm các giới luật mà ta đã đề ra cho họ”[4]. –Ud 5:5

Những câu này cũng mang một thông điệp, một tình cảm tương tự: rằng ta cần phải dốc lòng vun trồngbảo vệ thiện ý của mình để bảo đảm rằng các ý hướng thiện của ta không lay chuyển.  Vì ta không muốn làm hại đến ai.  Điều ác có thể dễ dàng xảy ra khi lòng từ của ta bị lay chuyển, vì thế ta cần phải làm bất cứ điều gì để luôn bảo vệ thái độ này.  Đó là lý do tại sao, khi Đức Phật nói ở cuối bài kinh rằng ta cần phải quyết chí thực hành loại chánh niệm này: chánh niệm để ghi nhớ trong tâm ước muốn mọi chúng sanh đều được hạnh phúc, để bảo đảm rằng tất cả mọi hành động của ta đều vì mục đích này.

Đó là lý do tại sao Đức Phật khuyên ta phải phát triển các thiện ý trong hai trường hợp đặc biệt quan trọng –và đặc biệt khó- để duy trì ý hướng thiện: khi người khác làm hại ta, hay khi ta cố ý làm hại người khác.

Nếu kẻ khác hại ta bằng lời nói hay hành động –“ngay như những kẻ đạo tặc hạ liệt, dùng cưa hai lưỡi mà cưa tay, cưa chân;”- Đức Phật khuyên ta luyện tâm như thế này:

 “Ta sẽ giữ tâm không biến nhiễm; ta sẽ không nói lời ác độc.  Ta sẽ duy trì sự thông cảm, với tâm từ, không có nội tâm sân hận.    Ta sẽ luôn rải tâm từ đến họ, bắt đầu từ họ, ta sẽ rải tâm từ khắp thế giới –quảng đại, vô biên, không hận, không sân[5]. –MN 21

Khi làm được như thế, Đức Phật bảo rằng, ta đã khiến tâm ta bao la như sông Hằng hay rộng lớn như trái đất –nói cách khác, nó lớn hơn các ác hại mà những kẻ kia đang làm hay đe dọa sẽ làm với ta.  Chính Đức Phật đã áp dụng giáo lý này nơi bản thân sau khi Devadatta mưu toan giết hại ngài.  Như khi ngài nói với Ma vương –người đến để chế ngạo ngài khi ngài đang an dưỡng vết thương- “Ta nằm xuống với lòng thương xót muôn loài”[6]. (SN 4:13)

Khi ta có thể duy trì tâm rộng mở trong lúc đau đớn, cái người khác hại ta không còn quá sức chịu đựng, và ta khó lòng phản ứng một cách tiêu cực.  Ta bảo vệ -cho bản thân và cho người- khỏi bất cứ hành vi tiêu cực nào mà ta có thể làm.

Còn đối với những khi ta cố ý làm hại người, Đức Phật nhắc nhở ta phải nhớ rằng việc sám hối không thể thay đổi cái ác, nên nếu cần xin lỗi, ta xin lỗi.  Trong bất cứ hoàn cảnh nào, ta phải quyết không lặp lại hành động ác đó nữa.  Sau đó rải tâm từ đến muôn nơi.

Việc này giúp ta thành tựu một số điều.  Nó nhắc nhở ta về sự thiện lành của bản thân để ta không –nhằm bảo vệ tự ngã- quay trở lại việc không chấp nhận mình đã làm điều gì tai hại.  Nó làm mạnh thêm quyết tâm không làm hại ai.  Và nó buộc ta phải quán sát hành động của mình để thấy được ảnh hưởng thực sự của chúng: nếu ta có những thói quen gây tai hại, ta nên buông bỏ chúng trước khi chúng gây tổn hại thêm.  Nói cách khác, ta không muốn thiện ý của ta chỉ là một ý nghĩ buông lung, mơ hồ.  Ta muốn ứng dụngrốt ráo, từng li từng tí vào tất cả mọi giao tiếp với người.  Như thế thiện ý của ta mới chân thật.  Và nó thực sự có ảnh hưởng, đó là lý do khiến ta phát triển thái độ này ngay từ buổi đầu: để bảo đảm rằng nó thực sự cổ vũ cho tư duy, lời nói và hành động của ta hầu dẫn đến hạnh phúc, vô hại cho tất cả.

Cuối cùng có một đoạn kinh trong đó Đức Phật dạy các đệ tử tụng để rải tâm từ đến tất cả loài rắn và các loài bò sát khác.  Chuyện là có một vị tu sĩ hành thiền trong rừng và bị rắn cắn chết.  Các vị đệ tử khác đem chuyện này kể lại với Đức Phật và Ngài trả lời rằng nếu vị tu sĩ kia đã rải tâm từ đến tất cả bốn đại gia đình của loài rắn, thì con rắn nọ đã không cắn ông.  Lúc đó Đức Phật dạy các vị đệ tử một bài kệ bảo vệ để rải tâm từ không chỉ đến với loài rắn, mà còn cho tất cả mọi chúng sanh.

Ta hãy có từ tâm
Với các loài không chân,
Ta hãy có từ tâm
Với các loài hai chân,
Ta hãy có từ tâm
Với các loài bốn chân,
Ta hãy có từ tâm
Với các loài nhiều chân.

Mong rằng loài không chân
không có làm hại ta.
Mong rằng loài hai chân
không có làm hại ta.
Mong rằng loài bốn chân
không có làm hại ta.
Mong rằng loài nhiều chân
không có làm hại ta.

Mong chúng sanh hữu tình
Toàn thể mọi sinh vật,
Mong chúng thấy hiền thiện,
Chớ đi đến điều ác.

Đức Phậtvô lượng, Pháp là vô lượng, chúng Tăngvô lượng.

Có lượng là loài bò sát: rắn, bò cạp, rết, nhện, cắc kè & chuột.  Ta đã làm sự hộ trì.  Ta đã làm sự che chở. Mong các loài hữu tình sẽ bỏ đi[7]AN 4:67

Câu cuối cùng trong bài kệ về tâm từ này cho thấy sự thật là việc chung sống cùng nhau với mọi loài thường mang lại khó khăn –nhất là khi chúng sinh thuộc nhiều giống loài có thể xâm hại nhau –và phương cách tốt đẹp nhất cho tất cả những loài có liên quan là sống xa cách, không xâm hại nhau.

Những cách thể hiện lòng từ khác nhau này cho ta thấy tâm từ không nhất thiếttính chất của tình thương yêu.  Tâm từ tốt hơn nên được coi như là thiện ý, vì hai lý doĐầu tiênthiện ýthái độ mà ta có thể thể hiện với tất cả mọi người mà không sợ phải mang tiếngđạo đức giả hay thiếu thực tế.  Không phải vì ta giúp đỡ mà người khác hạnh phúc, họ sẽ thực sự hạnh phúc hơn nếu đó là kết quả của chính hành động thiện xảo của họ.  Hạnh phúc của sự tự lực lớn hơn bất cứ thứ hạnh phúc nào đến từ sự phụ thuộc.

Lý do thứ hai, thiện ý là một cảm xúc khôn ngoan để đối phó với những người có thái độ vô ơn đối với sự tử tế của ta.  Có thể có những người bạn đã xâm hại trong quá khứ nên họ không muốn có bất cứ liên hệ nào với bạn, vì thế sự thân thiết, thương yêu của bạn thực ra là nguồn gốc khổ đau cho họ, hơn là niềm vui.  Cũng có những người khi thấy bạn muốn thể hiện tình thương yêu đến với họ, thì họ nhanh chóng lợi dụng bạn.  Và cũng có rất nhiều sinh vật trên đời sẽ cảm thấy bị đe dọa bởi sự biểu lộ tình cảm quá ào ạt của con người.  Trong những trường hợp này, một cảm nhận từ xa về thiện ý của ta –rằng ta tự nguyện không xâm hại những người này hay những chúng sanh này- sẽ tốt hơn cho tất cả mọi người liên quan.

Như thế không có nghĩa là tình thương yêu không bao giờ là một thể hiện phù hợp của thiện ýĐơn giản là bạn phải biết khi nào nó phù hợp và khi nào không.  Nếu bạn thực sự có lòng từ đối với  bản thân hay với người, thì bạn không thể để ước muốn được bày tỏ sự thân mật, được có cảm giác ấm áp, thương yêu, khiến bạn quay lưng lại với những gì thực sự là phương cách hoàn hảo nhất để mang hạnh phúc chân thật đến cho tất cả.

Diệu Liên Lý Thu Linh -2017

 

(Chuyển ngữ từ "Metta Means Goodwill", Nguồn:  Access to Insight (Legacy Edition), 24 November 2013)

[1] Saṃyutta Nikāya – Tương Ưng Bộ Kinh

[2] Aṅguttara Nikāya – Tăng Chi Bộ Kinh

[3] Karaniya Metta Sutta (Good Will _Kinh Tâm Từ thuộc Kinh Tập- Dịch Giả: Thích Thiên Châu.  Nguồn: Thư Viện Hoa Sen

[4] Udana: Kinh Phật Tự Thuyết

[5] Majjhima Nikāya – Trung Bộ Kinh

[6] Saṃyutta Nikāya – Tương Ưng Bộ Kinh

[7] Aṅguttara Nikāya – Tăng Chi Bộ Kinh

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 29)
Đầu năm mới, người thế gian mừng tuổi nhau với mong ước gặp điều tốt đẹp may mắn, làm ăn phát tài thăng tiến.
(Xem: 771)
Nhà sư Nhật bản Kenjitsu Nakagaki đang tìm cách thuyết phục người Tây Phương về ý nghĩa của chữ Vạn (Swastica) mà người Nhật gọi là manji.
(Xem: 193)
Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832) là một văn sĩ, thi sĩ, kịch tác gia, khoa học gia, triết gia, chính tri gia, nói chung là một nhà thông thái lừng danh nhất của nước Đức
(Xem: 103)
Xuân đến Xuân đi nghi Xuân hết Hoa tàn hoa nở chỉ là Xuân. Xuân lai Xuân khứ nghi Xuân tận Hoa lạc hoa khai chỉ thị Xuân.
(Xem: 112)
Khi con người lạc hậu còn đi bộ. Rồi lần lần biết cưỡi ngựa, cưỡi trâu. Rồi lần hồi thông minh tìm ra hơi nước, Rồi máy bay, xe lửa, xe hơi.
(Xem: 160)
Essence of the Heart Sutra: The Dalai Lama’s Heart of Wisdom Teachings” (Tinh Yếu Tâm Kinh: Cốt Lõi Lời Đức Đạt Lai Lạt Ma Dạy Về Trí Tuệ) – tác giả ghi là Tenzin Gyatso The Fourteenth Dalai Lama.
(Xem: 142)
Nhân gian thường không hiểu trong Duyên có Nợ và trong Nợ có Duyên cho nên đã tách biệt Duyên và Nợ.
(Xem: 186)
Tứ nhiếp pháp là bốn phương pháp Bồ-tát dùng để nhiếp hóa chúng sinh, khiến họ khởi tâm cảm mến, rồi dẫn dắt họ vào Phật đạo,
(Xem: 464)
Câu thần chú lạc đề, lạc quẻ “Án ma hôm, bát mê khuya“ của bà lão thành tâm cũng có đủ thần lực sai khiến những hạt đậu nhảy từ bên này sang bên kia
(Xem: 277)
Như quý vị biết hạnh phúc được cảm nhận qua nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau, nhưng chung quy lại, hạnh phúc được cảm nhận ...
(Xem: 301)
Mù tỏa Lô sơn sóng Triết giang, Khi chưa đến đó hận muôn vàn. Đến rồi về lại không gì lạ, Mù tỏa Lô sơn sóng Triết giang.
(Xem: 355)
Mười câu chuyện sức mạnh của chân thật và nguyện cầu chân lý - Trích từ Tiểu Bộ Kinh Nikàya, Tâm Tịnh cẩn tập
(Xem: 270)
Những lúc như thế, hình ảnh khoảng sân cát trắng và lũ nhỏ ê a hiện lên trước mắt tôi lãng đãng y hệt như từ một giấc mơ nhiều ngàn đêm trước.
(Xem: 175)
Trong lời dạy của đức Phật, đất luôn là ẩn dụ quan trọng để Ngài sử dụng trong việc dạy dỗ hàng đệ tử học theo hạnh của đất.
(Xem: 169)
Đã có không ít những bài nghiên cứu về sự tương đồng giữa Duy thức học của Thế Thân và Phân tâm học của Sigmund Freud.
(Xem: 398)
Cư sĩ Nguyên Giác vừa cho xuất bản cuốn Kinh Nhật Tụng Sơ Thời mà theo sự nghiên cứu của các học giả đây là những lời dạy (kinh) cổ xưa nhất của Đức Phật
(Xem: 235)
Lòng từ bi trong Đạo Phật được định nghĩa như nguyện ước tất cả mọi chúng sanh được thoát khỏi khổ đau.
(Xem: 242)
Thời gian trôi qua thật nhanh, mới đó mà đã hết một năm. Tự hỏi, một năm trôi qua chúng ta đã làm được những gì?
(Xem: 329)
Cuối năm 1978, sau khi thành lập Hội Sinh Viên và Kiều Bào Phật tử Việt Nam tỵ nạn tại Đức, chúng tôi xúc tiến ngay việc viết báo để đi in bằng lối Photocopy.
(Xem: 327)
Ngày nay Phật Giáo đã đi vào sinh hoạt thường nhật của người dân Mỹ một cách sâu rộng, từ những giờ phút thực hành Thiền trong quân đội, sở cứu hỏa, ty cảnh sát, trường học và công tư sở đến phương thức trị liệu tâm lý trong y học.
(Xem: 385)
Đôi khi trong đời người ta, viết văn chỉ vì nhu cầu thôi thúc chứ thực ra nhà văn chưa chắc đã nắm vững một số kỹ thuật hoặc nguyên tắc viết văn. Ngay chính bản thân tôi cũng rơi vào trường hợp như vậy.
(Xem: 208)
Ca ngợi Ấn Độủng hộ việc ăn chay, nhà lãnh đạo tinh thần Tây Tạng nói hôm thứ Sáu (14-12) rằng tất cả chúng sinh phải được tôn trọng.
(Xem: 221)
Khi chúng ta lần đầu tiên tiếp cận những giáo lý của Đức Phật, chúng ta phải bắt đầu ngay từ đầu, tức là các thực hành sơ khởi (Ngondro).
(Xem: 416)
Với khám phá rất quan trọng, Einstein nhận thấy rằng hai sự vật không có thể được quan niệm như là riêng biệt. Nhị nguyên không phải là nhị nguyên mà là hai diện mục của một bản lai tương tự như hai mặt của một đồng tìền.
(Xem: 478)
Việc sám hối đúng pháp như trong bài Kinh Tàm và Quý Đức Phật đã dạy rất rõ. ... ý nghĩa Tàm Quý là thấy rõ lỗi lầm, xấu hổ ăn năn quay đầu sám hối và nguyện từ bỏ việc xấu ác không bao giờ tái phạm vào nữa.
(Xem: 440)
Nói thoát khổ như thế, nghĩa là thoát ra khỏi sinh tử luân hồi. Nghĩa là thoát ra khỏi những buộc ràng, những phiền trược của tất cả các kinh nghiệm của chúng ta luân hồi trong ba cõi
(Xem: 235)
Tosui là một thiền sư nổi danh vào thời của ông. Ông đã sống trong nhiều thiền viện và giảng dạy tại các tỉnh khác nhau.
(Xem: 170)
“Nhạc sĩ 50 năm Phật giáo” Hằng Vang - Phía Bên Kia Triền Dốc Của Cuộc Đời
(Xem: 395)
Nhưng nếu hiểu “ma” là chúa tể của dục vọng hay ham muốn của chính chúng ta….thì ma đó vô cùng đáng sợ, hãm hại chúng ta đã đành, mà còn hủy diệt luôn cả trái đất này.
(Xem: 257)
Văn Nhânvăn sĩ nổi tiếng đã có vài chục tác phẩm xuất bản. Nếu như sinh ra ở Hoa Kỳ hay Tây Phương thì chàng ta đã trở thành triệu phú, đời sống đế vương.
(Xem: 345)
Kiếp sống con người quả là phù du, vì thế chúng ta hãy nên dùng khoảng thời gian ngắn ngủi đó của mình trên địa cầu này để mang lại một chút lợi ích cho mình và kẻ khác.
(Xem: 316)
năm lực phải được thực hành khi gần kề cái chết. Chúng rất quan trọng. Hiện nay, đó là điều chúng ta cần phải tu tập.
(Xem: 529)
Tôi xin niệm ân tất cả chư Tôn Đức Tăng Ni, người gần cũng như kẻ ở xa, người thân cũng như sơ, Phật tử cũng như không Phật tử, quý vị đã vì sự tồn tại văn hóa của quê hương tại xứ người mà nhiệt tình cộng tác cho báo Viên Giác suốt trong hơn 40 năm qua.
(Xem: 333)
Giống như dòng thác đổ mạnh mẽ Không thể chảy ngược lại Cũng vậy chuyển dịch của một đời sống con người Cũng không thể đảo ngược được.
(Xem: 289)
Việc nối kết kiếp sống tới khi ở trong thể trạng trung ấm là một tiến trình của sức hút và sức đẩy.
(Xem: 337)
Những người nào xác định “tôi sẽ chết” sẽ không lo sợ nữa Làm thế nào họ kinh hãi ngay cả những viễn tượng của sự chết!
(Xem: 283)
Theo Tantra Yoga Tối Thượng, thì không có tâm nào vi tế hơn tâm linh quang; nó phục vụ như căn bản của tất cả mọi hiện tướng của luân hồiniết bàn.
(Xem: 433)
Tây Ban Nha là nơi rất vắng Phật Tử, vì là quốc gia truyền thốngđại đa số dân theo Thiên Chúa Giáo. Trong hơn 500 năm, từ trước khi Tây Ban Nha thống nhất năm 1492, Công giáo đã đóng vai hình thành căn cước quốc gia Tây Ban Nha
(Xem: 324)
Chúng ta cứ nghĩ rằng mình thương mình nhưng thật ra là đang hại mình, làm cho mình đau khổ (hoặc hạnh phúc giả) trong hiện tại và sẽ đọa lạc trong tương lai.
(Xem: 328)
Cuộc đời vốn đục trong, đen trắng, Thánh phàm, vàng thau lẫn lộn, nói chung các cung bậc đều đủ.
(Xem: 874)
"Ngoảnh nhìn lại cuộc đời như giấc mộng. Được mất bại thành bỗng chốc hóa hư không", hai câu thơ của vị thiền sư nào đó đã ngấm sâu vào huyết mạch của tôi
(Xem: 312)
Sự buông xả là ngoài không sở cầu trong không sở đắc. Buông là không bám chấp vào sự bên ngoài, xả là ý niệm tâm tư bên trong.
(Xem: 362)
Người sống mà ôm tâm hận thù thì đó là thuốc độc mạnh gây hại rất lớn. Vì vô minh chấp ngã nên người đời không thấy sự độc hại của tâm thù hận,
(Xem: 282)
Sáu tùy niệm hay còn gọi là ‘lục niệm’ là sáu đối tượng để hành giả hồi tưởng, tưởng niệm, suy nghĩ.
(Xem: 331)
Phật Thích Ca Mâu Nilòng bi mẫn vô biên dành cho mỗi chúng sinh. Người ta nói rằng chính lòng bi mẫn vô biên này đã...
(Xem: 633)
“Con chim họa mi hót bên bờ vai đức Phật”, đó là cố danh ca Hà Thanh (1930 – 2014), người đệ tử của đức Đệ Nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết, được ngài ban pháp danh Tâm Tú.
(Xem: 457)
Nói đến xuân là nói đến cái đẹp, cái tươi mát, trong lành, cái sinh lực của con người; cho nên rất phong phú trong văn chương Việt Nam dù là bình dân hay bác học.
(Xem: 305)
Tứ Ân hay là Tứ Trọng Ân, bốn ơn nặng mà người Phật tử phải cố gắng đền đáp, cho vuông tròn.
(Xem: 309)
Bạn chỉ cần học từ buddho để hành thiền. Trong khi việc học ở thế gian không bao giờ hết, và chúng cũng không giúp bạn vượt thoát khổ đau.
(Xem: 308)
Cốt lõi của kinh kim cangtâm bình đẵng. Bình đẵng giữa con người với con người, bình đẵng giữa con ngườichúng sinh khác...
Quảng Cáo Bảo Trợ