Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
15,502,842
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250

Phật Giáo Là “khoa Học Tâm Linh”

11 Tháng Giêng 201805:06(Xem: 1174)
Phật Giáo Là “khoa Học Tâm Linh”

PHẬT GIÁO LÀ “KHOA HỌC TÂM LINH”


(Jason Gots, chuyển Việt ngữ: Thích Nữ Đức Trí & Thích Nữ Giới Hương)

tu tap

 

“Đạo Phật nhấn mạnhtu tập giúp chúng ta loại bỏ những tà kiến, chứ không phải là nơi tập hợp các hí luận”.

(Thích Nhất Hạnh, Trái Tim Của Bụt)

Ý Tưởng lớn là gì?

Tôi đã có thể dự đoán những lời phê bình. Khoa học thì nói về kinh nghiệm được thực chứng khách quan. Trong khi đó, Thiền Phật giáo, là nói về bạn, sự trải nghiệm chủ quan của riêng bạn trong tâm trí của chính bạn. Tất cả những điều đó có thể gọi là “chứng nghiệm” cho những tác động tích cực của trạng thái thiền, về khả năng vô tận của tâm thức con người như an lạc, từ bi và định tĩnh, vv…

Tạm để các khía cạnh “tinh thần” của giáo pháp sang một bên, khoa học thần kinhnhận thức đã chú ý đến phương pháp thiền trong thời gian gần đây. Trong lúc các đề tài nghiên cứu như vậy đang tạo nên một luồng tranh cãi trong cộng đồng khoa học, thì ngày càng có nhiều sự đồng thuận rằng việc thực hành thiền định liên tục có thể làm thay đổi cấu trúc não bộ và phát triển khả năng nhận thức.

Đó là những giai đoạn đầu của nền khoa học thần kinh về thiền định, nhưng Kadam Morten, một vị giáo thọ trong truyền thống Phật Giáo New Kadampa, biện luận rằng Đức Phật (Cồ Đàm – Bậc đã sống ở Ấn Độ khoảng chừng 2500 năm về trước) là vị sáng lập “nền khoa học tâm linh”, việc thực hành Thiền Phật giáo (lặp lại lời của Đức Geshe Kelsang – người sáng lập New Kadampa), cho phép bất cứ ai cũng có thể quán chiếu tự ngã với “những vọng tưởng” của sân giận, ganh tị, và chấp trước, những trạng thái này chiếm ưu thế trong đời sống tỉnh thức của chúng ta như từ bi, hỉ, xả.

Đây là “hướng tâm linh” đang hiện hữuPhật Giáo tin là sự trải nghiệm được thực chứng được thông qua tu tập, đây cũng là những nền tảng nổi bật của Phật Giáo để phân biệt với Chính Thống Vô Thần, đã phủ nhận sự tồn tại của bất kì chiều hướng nào.

Tầm quan trọng là gì?

Những khía cạnh này của Phật pháp được duy trì trong nhiều truyền thống khác nhau như lý duyên khởitính chất tương quan của các pháp - một học thuyết thống nhất tất cả các pháp mônThực ra mà nói, họ tranh cãi nhau rằng hầu hết thật tế nhân loạichúng ta biết chỉ là sự bóp méo, kết quả của vọng tưởng đã ô nhiễm những tâm thức cá nhân, và chúng ta đã nhận ra tâm phân biệt vốn không có tồn tại.

Đối với nhân loại, Phật tử tin rằng ban tình thương cho người khác là hiệu quả tương ứng của sự thấu hiểu lý duyên khởi và chia sẻ kinh nghiệm đau khổ do tâm tạo ra. Thông qua quán chiếu, “nhà khoa học Phật giáo” đến để thấy rõ nguổn gốc của tâm bất an, tán loạn chính mình và giác biết những điểm khác biệt bên ngoài đã chia cách chúng ta, từ đó có thể khởi lòng thương cảm những người khác hơn.

Một vị khách khác mới đây của Big Think, nhà triết học Alain de Botton, không đồng tình với siêu hình học của Phật giáo, nhưng ông chia sẻ một niềm tin chính yếu rằng tận sâu thẫm bên trong những hành vi xấu ra biểu hiện ra bên ngoài đối đãi với nhau, vẫn có tồn tại những giá trị nhân văn như là sự tử tế, tình thương yêu, và giá trị của trẻ thơ – và đó là thách thức lớn nhất của chúng ta khi muôn loài không đánh mất bản lai tốt của họ.

Tất nhiên, nếu bạn tin điều đó như là nồng cốt, mọi người thì bạo lực, tranh đấu và tàn ác, và vì thế không có sự tranh luận nào khiến bạn quan tâm. Nhưng nếu bạn đồng tình rằng lòng căm thù, lo lắng, tham lam, và ghen tuông là thứ yếu và bản chất bên trong của những tâm phá hoại sâu sắc đó – vẫn hiện hữu– tìm một vài biện pháp đáng tin cậy để điều ngự hoặc chuyển hóa chúng – và bằng cách ấy tánh bản thiện của chúng ta trở nên tốt hơn – xứng đáng để nhân loại truy tìm.

(http://bigthink.com/think-tank/buddhism-as-a-science-of-the-mind)

 

 

Buddhism as a “Science of the Mind”

 by JASON GOTS

Buddhism is not a collection of views. It is a practice to help us eliminate wrong views. 

                                                   Thich Nhat Hanh, The Heart of Buddha's Teaching. 

What’s the Big Idea? 

I can already anticipate the critiques. Science is about objective, reproducible verification. Buddhist meditation, on the other hand, is about you, alone with your own subjective experience of your own mind. All of its so-called “evidence,” of the positive effects of meditation, the limitless capacity of the human heart for joy, compassion, and peace, etc. is anecdotal. 

Putting aside for the moment the more “spiritual” aspects of Buddhist teaching, neuro and cognitive science have been paying close attention to meditation for some time now. While such studies are a source of controversy in the scientific community, there is increasing consensus that the sustained practice of meditation can permanently change the structure of the brain and improve attentional capacity. 

It’s early days still for the neuroscience of meditation, but Kadam Morten, a teacher in the New Kadampa tradition of Buddhism, argues that the Buddha (Gautama Buddha, who lived in India approximately 2500 years ago) was the creator of a “science of the mind.” The practice of Buddhist meditation, he says (echoing Geshe Kelsang, the founder of New Kadampa), enables anyone to verify through self-study that beneath the “deluded mind-states” of anger, jealousy, and attachment which dominate our waking lives there exists a universal, self-renewing wellspring of compassion, joy, and love. 

This “spiritual dimension” of our existence, which Buddhists believe is empirically verifiable through practice, is what fundamentally distinguishes Buddhism from what might be called Orthodox Atheism, which denies the existence of any such dimension.  

What’s the Significance?

Those aspects of Buddha’s teachings that have been preserved in various traditions share a belief in the interdependence and interconnectedness of all things – a kind of unified theory of everything. In effect, they argue that most of human reality as we know it is a distortion, the result of the delusions that afflict our individual minds, and that we perceive distinctions where none exist. 

For humans, Buddhists believe, compassion for others is the logical response to the understanding of interdependence and the shared experience of suffering that deluded mind-states cause. Through observation, the “Buddhist scientist” comes to understand the sources of her own confusion and psychic dissonance, and, seeing through the external differences that divide us, can better empathize with others. 

Another recent Big Think guest, philosopher Alain de Botton, might disagree with the metaphysics of Buddhism, but he shares this core belief – that beneath our often horrible outward behavior toward one another, there exists a set of shared human values such as kindness, compassion, and value of children – and that our biggest challenge as a species is not losing track of them. 

Of course if you believe that, at their core, people are violent and competitive and cruel, then neither argument is likely to interest you much. But if you agree that hatred, anxiety, greed, and jealousy are secondary and deeply destructive aspects of our nature, then – after survival – finding some reliable method to control or eradicate them – and thereby liberating our better angels –becomes pretty much the only worthwhile human pursuit.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 288)
àm thế nào để các lậu hoặc đoạn tận lập tức? Nghĩa là, không cần trải qua thời gian. Cũng không cần tu Tứ niệm xứ hay Tứ thiền bát định.
(Xem: 121)
Các pháp không tự sinh Cũng không do cái khác sinh. Không do sự kết hợp cũng chẳng nhân nào sinh. Tất cả đều vô sinh.
(Xem: 364)
Tới cuối kinh này, Đức Phật dạy về pháp Niết Bàn tức khắc, ngay trong hiện tại, giải thoát ngay ở đây và bây giờ.
(Xem: 303)
Tôn giáo nào cũng có những nhà truyền giáo, phát nguyện rao giảng những điều mà họ tin là mang đến hạnh phúc cho nhân loại.
(Xem: 643)
Ấn-độ là một bán đảo lớn ở phía Nam Châu Á. Phía Đông-Nam giáp với Ấn-độ dương (Indian Ocean), phía Tây-Nam giáp với biển Á-rập ( Arabian Sea).
(Xem: 474)
Nguyên bản: The Inner Structure, Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D., Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 768)
Thái tử Siddharta Gautama là người đầu tiên đã nghĩ rằng Ngài đã đạt được Giác ngộ. Ngài đã trở thành vị Phật lịch sử. Rồi Ngài đã đem những điều mình giác ngộgiáo hoá cho chúng sanh.
(Xem: 545)
Căn Bản Hành Thiền - Bình Anson biên dịch 2018
(Xem: 420)
Luận Duy thức tam thập tụng này được viết với mục đích khiến cho những ai có sự mê lầm ở trong nhân vô ngãpháp vô ngã mà phát sinh ...
(Xem: 316)
Ba địa mỗi địa mười, Năm phiền não, năm kiến, Năm xúc, năm căn, pháp, Sáu: sáu thân tương ưng.
(Xem: 273)
Bất cứ sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại;thuộc nội phần hay ngoại phần, thô hay tế, hạ liệt hay thắng diệu, xa hay gần, mà dồn chung lại, tổng hợp thành một khối. Gọi chung là sắc uẩn.
(Xem: 265)
Kính lễ Nhất thiết trí, Vầng Phật nhật vô cấu, Lời sáng phá tâm ám Nơi nhân thiên, ác thú.
(Xem: 367)
Trong cách nghĩ truyền thống, Tứ Thánh đế (Cattāri Ariyasaccāni) được xem là bài pháp đầu tiên khi Đức Phật chuyển pháp luân độ năm anh em Kiều-trần-như.
(Xem: 405)
Suốt kinh Pháp hội Pháp giới Thể tánh Vô phân biệt, Bồ tát Văn-thù-sư-lợi là người thuyết pháp chính, Đức Phật chỉ ấn khả và thọ ký...
(Xem: 280)
An cư” là từ không còn xa lạ đối với tín đồ Phật giáo; tuy nó không có nghĩa “an cư lạc nghiệp” của đạo Nho, nhưng khía cạnh nào đó, “lạc nghiệp” mang nghĩa...
(Xem: 400)
Trung luận, còn gọi là Trung quán luận, bốn quyển, Bồ-tát Long Thọ trước tác kệ tụng, ngài Thanh Mục làm Thích luận, được dịch ra chữ Hán ...
(Xem: 501)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào?
(Xem: 682)
Trước tiên là về duyên khởi của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Theo truyền thuyết, Kinh này được Phật giảng vào lúc cuối đời, được kết tập trong khoảng năm 200.
(Xem: 409)
Phật và chúng sinh thật ra vẫn đồng một thể tánh chơn tâm, nhưng chư Phật đã hoàn toàn giác ngộ được thể tánh ấy.
(Xem: 977)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào? Phát Bồ-Đề Tâm phải học theo những Kinh, Luận nào?
(Xem: 469)
Cúng dườngnuôi dưỡng khiến Tam Bảo hằng còn ở đời. Tất cả những sự bảo bọc giúp đỡ gìn giữ để Tam Bảo thường còn đều gọi là cúng dường.
(Xem: 562)
Bốn cấp độ thiền định hay tứ thiền là bốn mức thiền khi hành giả thực hành thiền có thể đạt được.
(Xem: 594)
Một bào thai sở dĩ có mặt trên cuộc đời này ngoài yếu tố chính là do cha mẹ sinh ra, còn là kết quả của một tiến trình không đơn giản.
(Xem: 466)
Đạo Phật là nguồn sống và lẽ sống của con người, là cương lĩnh cho nhân thế. Với sứ mạng thiêng liêng cao đẹp ấy, đạo Phật không xa lìa thực thể khổ đau của con người.
(Xem: 649)
Mục đích của Đạo Phậtdiệt khổ và đem vui cho mọi loài, nhưng phải là người có trí mới biết được con đường đưa đến an lạchạnh phúc
(Xem: 510)
Người ta thường nói đạo Phật là đạo của từ bitrí tuệ. Đối với nhiều người Phật tử, từ bi là quan trọng hơn cả, và nếu khôngtừ bi thì không có đạo Phật.
(Xem: 584)
Các nhà khảo cổ đang nghiên cứu tại Nepal đã phát hiện bằng chứng về một kiến trúc tại nơi sinh ra Đức Phật có niên đại thế kỷ thứ 6 trước công nguyên.
(Xem: 611)
Theo Đức Phật, tất cả những vật hiện hữu đều biến chuyển không ngừng. Sự biến chuyển này thì vô thuỷ vô chung. Nguồn gốc của vũ trụ không do một Đấng Sáng tạo (Creator God) tạo ra.
(Xem: 671)
Đức Phật đản sanh vào năm 624 trước Công nguyên. Theo lý giải của Phật Giáo Nam Tông thì Đức Phật sanh ngày Rằm tháng Tư Âm lịch.
(Xem: 717)
Nếu bạn say mê đọc kinh Phật, ưa thích những phân tích kỹ càng về giáo điển, muốn tìm hiểu các chuyện xảy ra thời Đức Phật đi giảng dạy nơi này và nơi kia, hiển nhiên đây là một tác giả bạn không thể bỏ qua
(Xem: 539)
Tánh Không là một trong những khái niệm quan trọng và khó thấu triệt nhất trong giáo lý Phật giáo Đại thừa.
(Xem: 740)
Nguyên bản: Meditating while dying; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 717)
Ba Mươi Hai Cách ứng hiện của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Bởi vì Quan Thế Âm Bồ Tát đồng một Sức Từ với đức Phật Như Lai cho nên ngài ứng hiện ra 32 thân, vào các quốc độđộ thoát chúng sanh
(Xem: 581)
Thể tánh của tâm là pháp giới thể tánh, bởi vì nếu không như vậy thì tâm không bao giờ có thể hiểu biết, chứng ngộ pháp giới thể tánh.
(Xem: 491)
Trong kinh tạng Nikāya, khái niệm con đường độc nhất (ekāyana magga) là một khái niệm thu hút nhiều sự quan tâm của học giới từ phương Tây cho đến phương Đông
(Xem: 483)
Thuật ngữ pháp (dharma, có căn động tự là dhṛ có nghĩa là “duy trì, nắm giữ”; Pāli: dhamma; Tây Tạng: chos) mang nhiều ý nghĩa và ...
(Xem: 488)
Trì danh là pháp tu Tịnh Độ phổ thông nhứt hiện nay. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm, có Mười cách trì danh khác nhau
(Xem: 581)
Phật dạy tất cả pháp hữu vi đều là vô thường sanh diệt không bền vững, như vậy thìthế gian cái gì có tạo tác có biến đổi đều là vô bền chắc.
(Xem: 593)
Nguyên bản: Removing obstacles to a favorable death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 614)
Mối liên hệ giữa hình thức sớm nhất của Phật giáo và những truyền thống khác mà chúng đã phát triển về sau là một vấn đề luôn tái diễn trong lịch sử tư tưởngPhật giáo.
(Xem: 736)
Nghiệp và Luân hồi là hai ý niệm đã có trong Ấn độ giáo, được giảng giải trong các Kinh Veda và Upanishad vào khoảng 1500 năm trước CN.
(Xem: 9296)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 1131)
Mục tiêu cao cả của đạo Phật là dạy con người tu tập để thoát khổ, giác ngộgiải thoát.
(Xem: 582)
Phật giáo du nhập Nhật Bản vào thế kỷ thứ VI, sau đó trải qua thời kì Nara (710~785), thời kì Heian (794~1192) cho đến thời kì Kamakura (1192~1380), trước sau khoảng 700 năm, rồi phát sinh rất nhiều tông phái.
(Xem: 614)
Tổ Quy Sơn dặn: “Nói ra lời nào phải liên hệ với kinh điển. Đàm luận gì, phải xét lại lời người xưa”.
(Xem: 519)
Nhiều học giả phân vân là làm thế nào và tại sao những nhà Đại chúng bộ (Mahāsāṅghika) đã hình thành nên khái niệm về một Đức Phật siêu việt...
(Xem: 675)
Hoa Sen Diệu Phápgiáo pháp được thuyết giảng trong Kinh Pháp Hoa. Quang Trạch giải thích Diệu Pháp là nhân của đạo Nhất Thừa, là quả của đạo Nhất Thừa.
(Xem: 527)
Con người sống qui tụ lại thành một xã hội, và phát triển tập thể này rộng lớn dần dần thành một quốc gia.
(Xem: 1700)
Trước khi xác định Phật Giáo như là một hệ thống tư tưởng triết học (Buddhism as a philosophy) hay như là một tôn giáo (Buddhism as a religion), chúng ta sẽ tìm hiểu triết học là gì ? và Phật giáo là gì ?
(Xem: 644)
Lục độ Ba-la-mật-đa/ Sáu phương pháp tu Ba-la-mật-đa (Six Paramitas) là 6 pháp tu để giải trừ các khổ ách của Đại thừa Phật giáo.
(Xem: 628)
Theo quan điểm của Đại hoàn thiện thì ánh sáng trong suốt hiển hiện một cách tự nhiên và được gọi là "hoàn-toàn-tốt"
(Xem: 801)
Đức Phật ra đời vào năm 624 trước tây lịch tại nước Ấn Độ. Ngài thuyết pháp 49 năm. Phật giáo đã trở thành quốc giáo, vì các vua, các quan và dân chúng đa phần đều theo đạo Phật.
(Xem: 836)
Y Kinh Kinh Cang Bát Nhã Ba La Mật: Đức Thế Tôn Như Lai hỏi ngài Tu Bồ Đề: Như Lainhục nhãn không? Ngài Tu Bồ Đề thưa:
(Xem: 1761)
Cuốn sách “Luân Hồi trong Lăng Kính Lăng Nghiêm” được ra mắt cách đây 9 năm (2008), in lần thứ hai, ba và tư vào năm 2012, 2014 & 2016 tại Nhà xuất bản Phương Đông, và năm nay (2018) cũng tại NXB Hồng Đức
(Xem: 1175)
điều chắc chắn là làm người, ai cũng có ý thức về tội lỗi. Điều này là không đúng, điều này là không tốt, điều này là không đẹp.
(Xem: 770)
Tựa đề của khảo luận này phát xuất từ tồn nghi của một pháp hữu trong khi dịch lại bản kinh Tập (Sutta Nipāta) ở văn hệ Nikāya.
(Xem: 1267)
Khái niệm ‘nghiệp’, thật ra, đã có mặt trong văn học Bà-la-môn giáo từ rất lâu trước khi Đức Phật xuất hiện ở đời.
(Xem: 762)
Vũ trụ, con người hình thành như thế nào và tương lai sẽ ra sao? Câu hỏi chưa bao giờ được xếp lại. Khoa học lượng tử luôn tiên phong...
(Xem: 795)
rong lịch sử tư tưởng Ấn-độ, thuyết Trung đạo đã mang lại cho tư tưởng giới đương thời một không khí hoạt bát[1].
(Xem: 873)
Bản chất của ánh sáng trong suốt, mang tính cách nền tảng và rạng ngời, là cội nguồn tối hậu của tất cả mọi cấp bậc tri thức...
Quảng Cáo Bảo Trợ