Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,715,586
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Bản Giác

12 Tháng Giêng 201816:53(Xem: 1223)
Bản Giác

Lâm Như-Tạng

BN  GIÁC


Ban Giac

Cảm tạ:

 

Trung Tâm Y Tế:

FAIRFIELD FAMILY CARE MEDICAL PRACTICE

  • Bác Sĩ Jenny Nguyễn-Lâm
  • Quản Lý Nguyễn Thị Ngọc Bích
  • Cùng nhân viên phòng mạch

Đã tận tình giúp đỡ cho sự hoàn thành tập sách BẢN GIÁC nầy.

 

Trân trọng

 

Tác Giả Lâm Như-Tạng

LỜI NÓI ĐẦU

 

 

Bản Giác  là một Thuật Ngữ trong hệ thống Siêu Tâm Lý Học Phật Giáo.

 

Thuật Ngữ nầy có liên hệ đến rất nhiều Thuật Ngữ khác trong Kinh Điển Phật Giáo như:

Thủy Giác, Chân Như, Như Lai Tạng, Pháp Tánh, Pháp Giới, Niết Bàn, Pháp Thân, Phật Tánh, Giải Thoát Thực Chất, Toàn Giác v.v…

Chúng tôi đã cố gắng kê cứu để giải rõ những ý nghĩa, những sự liên hệ đan chéo, tương tức, tương nhập lẫn nhau giữa  những  Thuật Ngữ đó.

 

Nhưng vì trí lựcgiới hạn nên nếu có điều chi sơ sót kính xin các bậc thạc đức cao minh hoan hỹ chỉ giáo cho, xin chân thành cảm tạ.

 

Sydney tháng 1 năm 2017

 

Trân trọng

 

Lâm Như-Tạng

LỜI GIỚI THIỆU

 

Giáo phápĐức Thế Tôn thuyết giảng vô cùng phong phú nhưng chỉ có một vị, đó là vị giải thoát. Tuy nhiên, tùy thời duyên và căn cơ, mỗi người có một cách tiếp cận và có những cảm thọ khác nhau.

 

Theo thời gian, từ những gì Đức Phật tuyên thuyết hơn hai ngàn năm trăm năm về trước đã được các thế hệ Tổ sư, Luận sư, Học giảHành giả tô bồi thêm, làm cho phong phú, đa dạng trong ngôn ngữ biểu đạt.

 

Trong những lần đi dự lễ khánh thành chùa và dưỡng bệnh trên đất nước Úc  (từ 1996 – 2016), hửu duyên tôi có dịp quen biết Tiến sĩ Lâm Như-Tạng, và cũng được biết Tiến sĩ đã từng theo học, tốt nghiệp tại Phật học viện Huệ Nghiêm ở Sài Gòn trước đây, rồi du học và tốt nghiệp Tiến sĩ tại Nhật Bản, sống và làm việc tại Úc hơn 30 năm qua, là tác giả của nhiều bài viết, tập sách nghiêng cứu và thi ca đã được xuất bản. Gần đây Tiến sĩ Lâm Như-Tạng đã chuyễn cho tôi bản thảo “Bản Giác”, tiếp cận về Phật học bằng con đường riêng của mình.

 

Sách có 10 chương, tác giả lần lượt đi vào các vấn đề ý nghĩa của Bản Giác, Thủy giác, Chân như, Như  Lai tạng, Pháp tánh, Pháp giới, Niết bàn, Pháp thân,  Phật tánh, Giải thoát thực chất...đối với tác giả được xem như là một sự cảm nhận và thân chứng trước cuộc sống.

 

Do nhân duyên đó, tôi viết đôi dòng ở đây để tán thán sự nhiệt tâm của Tiến sĩ Lâm Như-Tạng trên con đường học Phật và chia sẻ nhận thức, xin trân trọng giới thiệu tập sách nầy với chư độc giả hữu duyên.

 

Phương Thảo am

Ngày vía Đức Phật Thích Ca nhập diệt, PL.2560

Hòa thượng Thích Giác Toàn

 

CHƯƠNG MỘT:  KHẢO SÁT VỀ Ý NGHĨA CỦA BẢN GIÁC

 

Bản Giác thông thường  được hiểu nghĩa là Đức giác tri vốn sẳn. Tâm thể của chúng sanh tự tánh thanh tịnh, lìa khỏi tất cả các tướng quấy, chiếu sáng khắp mọi lẽ, thiêng liêng đủ mọi bề, chẳng cần phải tu mới được. Đó là đức  tánh vốn sẳn có như vậy, gọi là Bản Giác. Tức là đồng nghĩa với Pháp Thân của Như Lai.

Trong từ điển   Buddhist Terms bằng tiếng Anh  có đoạn viết về Bản Giác như sau :

 

“Original Bodhi, i.e. “enlightenment” , awareness, knowledge, or wisdom, as contrasted  with  Thủy Giác initial knowledge, that is “enlightenment a priori is contrasted with enlightenment a posteriori”. Suzuki, Awakening of Faith, p.62. The reference is to universal mind (chúng sanh chi tâm thể), which is conceived as pure and intelligent, with Thủy Giác as active intelligence... It is considered as the Buddha-dharmakãya, or as it might perhaps be termed, the fundamental mind. Nevertheless in action from the first it was influenced by its antithesis (vô minh) ignorance, the opposite of awareness, or true knowledge (xem Khởi Tín Luận và kinh Nhơn Vương). There are two kinds of  Bản Giác, one which is unconditioned, and never sullied by ignorance and delusion, the other which is conditioned and subject to ignorance. In original enlightenment is implied potential enlightenment in each being.

 

Chơn Như, i.e. bhũtatathatã, is the THỂ  corpus, or embodiment; the Bản Giác is the Tướng or form primal intelligence; the former is Lý or fundamental truth ; the later is the Trí ,  i.e. the knowledge or wisdowm of it; together they, form the whole embodiment of Buddha-dharmakãya”. 

 

A-KHẢO SÁT MỘT

 

Khảo sát chi tiết hơn về từ Bản Giác.

Bản Giác: Tâm thể của chúng sinh tự tánh thanh tịnh, lìa mọi vọng tưởng, sáng tỏ vằng vặc, có đức giác tri. Đó chẳng phải do tu thành mà được. Đó chính là tính đức tự nhiên bản hửu, nên gọi là Bản Giác. Đó tức là Pháp Thân của Như Lai. Bản tâm thể đó từ vô thủy tới nay bị che bởi vô minh phiền não, ẩn tàng cho tới ngày nay, một khi nhờ công tu trì thì mới tỏ rõ  được tính đức đó. Đó gọi là Thủy Giác. Song Giác Ngộquan sát thì thấy Thủy Giác chẳng phải cái gì khác mà vốn là thể của Bản Giác. Cho nên Thủy Giác, Bản Giác đều cùng nhất trí. Ngoài Bản Giác không có Thủy Giác. Thủy Giác tức là cái đồng nhất với Bản Giác.  Luận Khởi Tín: “Tâm thể lìa niệm, lìa niệm tướng hệt như hư  không giới, không đâu không khắp, pháp giới nhất tướng tức là pháp thân bình đẳng của Như Lai. Căn cứ vào Pháp Thân nầy mà nói thì gọi đó là Bản Giác.

Một số từ ngữ khác có liên hệ với  Bản Giác như sau:

 

I-TÙY NHIỄM BẢN GIÁC

 

Dựa vào lực nội huân của Chân Như và lực ngoại duyên của giáo pháp Như Lai mà như thực tu hành, phương tiện đầy đủ, nên phá vọng tâmhiển hiện pháp thân, khiến trí Bản Giác thuần tịnh, nhất trí với Bản Giác, mà vô lượng tướng công đức thường chẳng đoạn tuyệt, theo căn cứ của các tướng tự nhiên tương ứng, hiện ra mọi thứ lợi ích. Hai thứ nầy,  loại trước gọi là Trí Tịnh Tướng của Bản Giác, loại sau gọi là Bất Tư Nghị Nghiệp Tướng của Bản Giác. Hai tướng nầy nếu lìa nhiễm duyên thì chẳng được thành. Tướng trước dựa vào nhiễm duyên của bản thân mà thành, tướng sau dựa vào Tha Nhiễm Duyên mà thành, nên gọi là Tùy Nhiễm Bản Giác.

 

II-TÍNH TỊNH BẢN GIÁC

 

Chân Như của Bản Giác xa lìa mọi nhiễm pháp, có đầy đủ mọi tính đức, hai loại thể tướng là nhân nội huân. Dụng đại là sự giúp đỡ ngoại duyên.  Đó là tính tịnh Bản Giác.

 

III-BẢN GIÁC CHÂN NHƯ

 

Căn cứ vào tướng mà nói thì gọi là Bản Giác. Căn cứ vào thể mà nói thì gọi là Chân Như. Hơn nữa  Bản GiácTrí Năng Chứng,  còn Chân Như là Lý Sở Chứng. Hai loại Lý và Trí nầy  là toàn thể Pháp Thân Như Lai.

 

IV-BẢN GIÁC HẠ CHUYỄN

 

Theo Thích Ma-ha-diễn luận có các nghĩa Bản Giác hạ chuyễn và Thủy Giác thượng chuyễn. Bản giác có hai loại:

Tùy nhiễm Bản Giác và Tính Tịnh Bản Giác. Bản Giác hạ chuyễn là tướng tùy nhiểm Bản Giác, Bản Giác Tùy nhiễm, tùy theo nhiễm duyên của chúng sanh, thuận theo tướng của chúng sanh hiện làm nhiều loại lợi ích. Thủy Giác thượng chuyễn là dựa vào Bản Giác huân tập ở trong như thực tu hành, nẩy nở trí rốt ráo.

 

V-BẢN GIÁC NỘI HUÂN

 

Chân như Bản Giác có hai tác dụng nội huânngoại duyên. Nội huânthể tướng của chân như huân tập từ vô thủy tới nay sẵn có pháp vô lậu ngấm ngầm huân tập vọng tâm của chúng sinh ở bên trong, có thể khiến cho chúng sinh chán nỗi khổ sinh tử, ưa cầu Niết Bàn, tự tin bản thânpháp chân như, phát tâm tu hành. Đó là tác dụng tự nhiên. Ngoại duyêndụng huân tập của chân như, từ Pháp thân mà hiện thành hai thân Báo Hóa, là ngoại duyên khiến chúng sinh được thấy Phật nghe Pháp, đó là tác dụng vô tác.

Luận Khởi Tín: “Chân Như huân tậphai nghĩa. Hai nghĩa đó là gì? Một là tự thể tướng huân tập, hai là dụng huân tập. Tự thể tướng huân tập có nghĩa là từ đời vô thủy tới nay đã sẵn có pháp vô lậu, có đủ bất tư nghị nghiệp… thường xuyên huân tập. Nhờ có lực huân tập nên có thể khiến cho chúng sinh chán nỗi khổ sinh tử, ưa cầu Niết Bàn, tự tin bản thânchân như pháp, phát tâm tu hành... Dụng huân tập tức là ngoại duyên lực của chúng sinh.”

 

 

B-KHẢO SÁT HAI

 

Sự liên hệ giữa Bản GiácThủy Giác:

Bản Giác đối lại Thủy Giác, tánh giác sẵn có. Tức là bản thể thanh tịnh đầy đủ tướng bình đẳng, lúc nào cũng hàm chứa đức sáng suốt của đại trí huệ, xa  lìa những tâm niệm sai biệt của thế tục.

 

chúng sanh bất giác nên phải trải qua sự tu tập hiện đời. Thứ lớp đoạn trừ các lậu hoặc mê lầm từ vô thủy đến nay, từ từ giác tri, khơi mở nguồn tâm sẳn có,  gọi là Thủy Giác. Bản tánh của nguồn tâm ấy là giác thể xưa nay thanh tịnh, gọi là Bản Giác.

 

 Luận Đại Thừa  Khởi Tín của Hiển Giáo, Luận Thích Ma-ha Diễn của Mật Giáogiáo nghĩa của Tông Thiên Thai Nhật Bản đều có trình bày ý nghĩa về tư tưởng của Bản GiácThủy Giác, nhưng ý chính lại khác nhau, đại khái như sau:

 

I-TƯ TƯỞNG CỦA LUẬN ĐẠI THỪA KHỞI TÍN

 

Luận nầy chủ trương vạn hửu đều quy về nhất tâm, và trong nhất tâm có lập hai môn:

1-TÂM CHÂN NHƯ

 

Tâm Chân Như là tâm luôn luôn tồn tại thanh tịnh, tuyệt đối không hai, vượt ngoài tướng sai biệt, vốn không có tên,  gọi là Bản Giác hay Thủy Giác.

 

2-TÂM SANH DIỆT

 

Tâm Sanh Diệt là tâm bị vô minh từ vô thủy đến nay làm ô nhiễm nên sanh ra các thứ tướng sai biệt, cho nên luận Đại Thừa Khởi Tín cho rằng thức A-Lại-Ya có hai phần Bản GiácThủy Giác.

Chân Như gặp duyên vô minh liền sanh khởi các hiện tượng mê vọng, bấy giờ Tâm hoàn toàn mờ mịt không tỉnh giác, gọi là Bất Giác. Nhưng giác thể của tâm chân như ấy không mảy may bị tổn hại, gọi là Bản Giác.

Tâm đã bị mê vọng làm  nhiểm ô, nếu nương vào sức huân tập (tác dụng) bên trong của Bản Giác (Bản Giác nội huân) và sức huân tập bên ngoài (là duyên bên ngoài của giáo pháp) mà phát tâm tu hành thì dần dần sẽ làm cho tánh giác thức tỉnh; nhàm chán, xa lìa vô minh, ưa thích mong cầu bản chân, lần lần dứt hết vọng nhiễm của bất giác và hiệp làm một với Bản Giác để thành Đại Giác (Thủy Bản bất nhị) tức đồng với cảnh giới của chư Phật. Trí huệ có được của giai đoạn từ khi phát tâm tu hành cho đến Đại Giác gọi là Thủy Giác.

 

II-ĐẠI THỪA KHỞI TÍN LUẬN NGHĨA KÝ 3 CỦA PHÁP TẠNG

 

Trong luận nầy trình bày rộng thêm cho rỏ, cuối cùng, luận nầy cho rằng: từ  Bản Giác sanh ra bất giác, từ bất giác mà khởi Thủy Giác, lại nương nhờ thủy giác mà đoạn phá bất giác, như thế là trở về Bản Giác.Thế nên biết: Thủy giác, Bản Giác dù có quan hệ trái nhau, nhưng cứu cánh của Thủy Giác thì đồng với Bản Giác.

Bản Giác thường đầy đủ đức tướng bình đẳng, sáng suốt của đại trí huệ, là một bản thể thanh tịnh, xa lìa những tâm niệm phân biệt của thế tục, tức là tánh giác ngộ vốn có từ xưa nay.

Nếu phối hợp các giai đoạn tu hành của Bồ Tát Đại Thừa thì có thể chia Thủy Giác ra làm bốn thứ bậc:

 

1-BẤTGIÁC

 

Bất Giác: Những Bồ Tát ở giai vị Thập Tín (địa vị ngoại phàm), dù đã rỏ biết nhân quả của ác nghiệp sẽ chiêu cảm quả khổ và đã xa lìa ác nghiệp, nhưng chưa phát sanh trí đoạn hoặc.

 

2-TƯƠNG TỢ GIÁC

 

Hàng nhị thừa, Thanh Văn, Duyên Giác và các vị Bồ Tátđịa vị Tam Hiền (Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng) dù đã xa lìa ngã chấp, rõ biết lý ngã không, nhưng vẫn chưa xã bỏ niệm phân biệt pháp chấp; đối với lý chân như, chỉ được pháp vị tương tợ phảng phất mà thôi.

 

3-TÙY PHẦN GIÁC

 

Bồ Tát từ sơ địa đến cửu địa đã xa lìa pháp chấp, rõ biết lý tất cả các pháp đều do tâm thức biến hiện, đối với lý chân như pháp thân có thể tùy theo cảnh địa tu chứng mà tiến lên và liền ngộ thêm một phần lý chân như.

 

4-CỨU CÁNH GIÁC

 

Chỉ hàng Bố Tát Thập Địa đã hoàn thành nhân hạnh, vì tương ưng với nhất niệm huệ nên rõ biết được ngồn tâm và xa lìa niệm vi tế, thấy suốt tâm tánh, cho nên gọi là Cứu Cánh Giác. Do đây tiến tới Phật Quả, thành tựu Đại Giác Thủy Bản bất nhị, tuyệt đối bình đẳng.

Bốn thứ bậc đã nêu trên là 4 giai vị Thủy Giác hoặc 4 giai vị Phản Lưu (ngược dòng). Vì sự lưu chuyễn trong cõi mê không ra ngoài 4 tướng sanh, trụ, dị, diệt của tâm chúng sanh, cho nên theo thứ lớp ngược dòng hoàn diệt, rõ biết 4 tướng nầy thì vào 4 giai vị ấy. Nghĩa là Bất giác thì rõ biết tướng DIỆT của tâm chúng sanh. Tương Tợ Giác thì rõ biết tướng DỊ của tâm. Tùy Phần Giác thì rõ biết tướng TRỤ của tâm. Cứu Cánh Giác thì rõ biết tướng SANH của tâm.

Phản Lưu tức là ngược dòng sinh tử mà hướng trở về Giác Ngộ Bồ Đề .

 

Bởi vậy, Thủy Bản bất nhị tuyệt đối bình đẳnghoàn toàn vượt ngoài phạm vi mang tánh đối lập. Để thuyết minh về tướng của Bản Giác có thể dùng hai nghĩa:  Tùy Nhiễm và Tánh Tịnh. Nếu nói theo tác dụng của nó thì có thể dùng Tùy Nhiễm Bản Giác để giải thích. Nếu nói theo thể đức của nó thì dùng Tánh Tịnh Bản Giác để giải thích:

 

III-TƯỚNG CỦA BẢN GIÁC

 

Trong phần trước (A- Khảo sát một) đã đề cập đến Tùy Nhiểm Bản Giác và Tính Tịnh Bản Gác nhưng trong phần nầy khảo sát tinh tế hơn nên soạn giả muốn đưa ra nhiều chi tiết hơn để so sánh nội dung của hai tướng trạng của Bản Giácmục đích là để độc giả có cái nhìn tinh tế hơn.

 

1-TÙY NHIỄM DUYÊN

 

Nhắm vào đối tượng là phiền não ô nhiễm để làm sáng tỏ tác dụng của Bản Giác mà chia làm hai:

 

 

a-TƯỚNG TRÍ THANH TỊNH

 

Tức nương theo Thủy Giác, dứt hết vọng nhiễm Bất Giác, trở về tướng Bản Giác xưa nay thanh tịnh.

 

b-TƯỚNG NGHIỆP KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN 

 

Dứt hết vọng nhiễm, thành tựu Đại Giác, hiện tánh đức của Bản Giác, từ đó tùy thuận căn khí của chúng sanh, tự nhiên tương ứng với chúng sanh, thường làm các việc lợi tha không bao giời ngừng dứt.

 

2-TÍNH THANH TỊNH BẢN GIÁC

 

Thể tướng của Bản Giác, tánh của nó là xưa nay thanh tịnh, hiển hiện tác dụng vô hạn. Cho nên, nếu lấy tính chất của gương làm dụ thì có thể chia làm 4 loại để hiển bày 4 nghĩa chính của tánh tịnh bản giác. Đó là :

 

a-NHƯ THẬT

 

Không giữ lấy bất cứ vật gì ở bên ngoài. Tâm thể tánh tịnh Bản Giác đã xa lìa bất cứ tâm niệm nào, tự xa lìa hẳn tất cả các tướng cảnh giới tương ưng với tâm, rốt ráo thanh tịnh không nhơ bợn.

 

b-HUÂN TẬP

 

Tánh của nó không ra, không vào, không mất, không hư. Tâm thể thường trụ, là tánh chân thật của tất cả pháp. Tự đầy đủ các công đức của tánh vô lậu. Vì nó cũng  là NHÂN để có thể huân tập tất cả pháp nên gọi là GƯƠNG  huân tập.

 

c-XUẤT LY

 

Giống như lau quét bụi nhơ làm cho mặt gương sáng sạch, giác tánh từ trong phiền não chướng, sở tri chướng mà thoát ra, xa lìa tướng nhiểm tịnh, hòa hợp mà sạch trong thuần sáng.

 

d-DUYÊN HUÂN TẬP

 

Giống như mặt gương đã được lau sạch có ánh chiếu vạn tượng cho người sử dụng. Trí tánh Bản Giác khi đã thuần tịnh rồi có thể chiếu vào tâm của tất cả chúng sanhtùy niệm thị hiện, trở thành sức huân ngoại duyên của trí thủy giác mới phát khởi của chúng sanh siêng tu thiện căn.

Bốn nghĩa của tánh tịnh Bản Giác dùng gương để tỷ dụ vừa nói trên gọi tắt là  TỨ CẢNH (bốn gương). Trong đó, ý chỉ của hai gương trước là chỉ rỏ BẢN GIÁC TẠI TRIỀN. Chữ triền  nghĩa là phiền não buộc ràng. Tại triền nghĩa là NHƯ LAI TẠNG tự tánh thanh tịnh tâm bị che lấp trong sự buộc ràng của phiền não (Bản Giác dù bị phiền não buộc ràng, nhưng tự tánh nó trước sau thanh tịnh, không nhiễm).

 

Trong Luận Đại Thừa Khởi Tín, khi giải thích môn Tâm Chân Như, ngài Mã Minh đặc biệt đưa ra hai nghĩa: NHƯ THẬT KHÔNGNHƯ THẬT BẤT KHÔNG. Đồng với hai nghĩa nầy, Bản Giác Tại Triền cũng đủ hai nghĩa: KHÔNG (lìa tướng), và BẤT KGÔNG (đầy đủ các công đức). Ý chỉ của hai gương sau chỉ rỏ Bản Giác Xuất Triền, nghĩa là Bản Giác do xa lìa phiền não cấu nhiễm mà sạch trong thuần sáng, đồng nghĩa với sự biểu thị của Trí Tịnh Tướng và Bất Tư Nghì Nghiệp Tướng của Tùy Nhiễm Bản Giác.

 

Ngoài ra Bản Giác còn chia làm hai gương:

Nhân Huân (nội nhân) và Duyên Huân (ngoại duyên) để trở về trí thể của Bản Giác; tức là lấy  tịnh huân của Bản Giác nội tại làm nhân (nhân huân), từ đó khởi ra Thủy Giác, đồng thời Bản Giác cũng trở thành sức huân ngoại duyên (Duyên Huân) để sinh khởi Thủy Giác.

Bản Giác dù bị phiền não buộc ràng, nhưng tự tánh nó trước sau thanh tịnh, không nhiễm.

 

(Tham khảo: Phẩm Chủng Tánh, Kinh Bồ Tát Trì Địa 1; phẩm Tam Nhân, luận Phật Tánh 2; Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận 6; Giải Thâm Mật Kinh Sớ 3; Khởi Tín luận Sở Bút Trước Ký 3; v.v…).        

IV-THEO LUẬN THÍCH MA-HA DIỄN VÀ ĐẠI THỪA KHỞI TÍN

     

Giác có 4 nghĩa: Bản Giác, Thủy Giác, Chân NhưHư Không gọi là Tứ Vô Vi. Trong 4 môn nầy mỗi môn lại chia làm hai thứ: Thanh TịnhNhiễm Tịnh để giải thich.

Trong đó Thanh Tịnh Bản Giácpháp thân sẳn có đầy đủ công đức từ vô thủy đến nay thường hằng sáng sạch.

Nhiễm Tịnh Bản Giác là tâm tự tánh thanh tịnh bị sự huân tập của vô minh mà lưu chuyễn trong sanh tử.

Thanh Tịnh Thủy Giác là tánh trí vô lậu xa lìa tất cả vô minh, không bị vô minh huân tập.

Nhiễm Tịnh Thủy GiácThủy Giác khi chưa rốt ráo, vẫn bị sự huân nhiễm của vô minh.

 

1-TỪQUẢ HƯỚNG ĐẾN NHÂN

 

Đối lại với Thủy Giác Thượng Chuyễn, Giáo pháp do Mật Giáo lập ra căn cứ theo tướng Tùy Nhiểm Bản Giác (1 trong 2 thứ Bản Giác) trong luận Ma-ha Diễn. Nghĩa là  trong tâm của chúng sanh đều sẵn có giác thể thanh tịnh. Giác thể thanh tịnh nầy bị vô minh huân tập mà lưu chuyễn trong sinh tử nên gọi là Trí Tịnh Tướng của Tùy Nhiễm Bản Giác. Bản Giác Tủy Nhiễm lại chuyễn xuống theo thứ lớp, tùy theo nhiễm duyên của chúng sanh, thuận theo tướng của chúng sanh hiện làm các thứ lợi ích gọi là bất tư nghì nghiệp tướng của Tùy Nhiễm Bản Giác hay gọi là Bản Giác Hạ Chuyễn.

Hạ Chuyễn là chuyễn xuống theo thứ lớp, chẵng hạn như đã đạt thánh quả lại chuyễn xuống địa vị phàm phu để tùy thuận điều phục giáo hóa chúng sanh, gọi là từ quả hướng đến nhân, thuộc về pháp môn Bản Giác Hạ Chuyễn.

 

Trái lại, từ địa vị phàm phu hướng thượng chuyễn lên địa vị thánh đế  mong cầu Bồ Đề  thì gọi là từ nhân hướng đến quả, thuộc về  Chân Như pháp môn Thủy Giác Thượng Chuyễn.

 

Luận Thích Ma-ha Diễn (Đại 32, 619 hạ) ghi:  “Thủy Giác bỏ phàm hướng đến thánh chuyễn theo thứ lớp lần lượt đi lên, Bản Giác Tùy Nhiễm bỏ thánh hướng về phàm, chuyễn theo thứ lớp lần lượt đi xuống”.

 

2-TỰ THỂ TƯỚNG HUÂN TẬP

 

Tự thể tướng huân tập, tác dụng nội huân của Bản Giác Chân Như.

 

Theo luận Đại Thừa Khỏi Tín, trong tâm chúng sanh đều có sẵn Chân Như Phật Tánh. Nghĩa là Chân Như vốn sẵn có pháp vô lậu, có nghiệp dụng không thể nghĩ bàn. Tánh Chân Như thường huân tập vào tâm chúng sanh, khiến họ nhàm chán sanh tử, mong cầu Niết Bàn, tự tin nơi tâm mình sẵn có Phật Tánh, Chân Nhưphát tâm tu hành.

 

Đại Thừa Khởi Tín (Đại 32, 578 trung) ghi:  “Chân Như Huân Tập có 2 nghĩa:  Tự thể tướng huân tậpDụng huân tập.

 

Dụng huân tập tức là chúng sanh nhờ sức  huân tập công đức của chư Phật và Bồ Tát thuộc duyên bên ngoài làm cho thiện căn của họ ngày càng tăng trưởng ”.

 

V- BẢN GIÁC PHÁP MÔN, THỦY GIÁC PHÁP MÔN

 

(Đây là dụng ngữ của Phật Giáo Nhật Bản)

 

Giáo thuyết mà tông Thiên Thai Phật Giáo Nhật Bản căn cứ vào thuyết Bản Tích nhị môn trong Pháp Hoa Huyền Nghĩa phối hợp với tư tưởng Tâm Tánh Nhiễm Tịnh của luận Đại Thừa Khởi Tín và luận Thích Ma-ha Diễn của Mật Giáo để lập ra.

 

1-PHÁP MÔN BẢN GIÁC

 

pháp môn từ Quả Vị chuyễn xuống Nhân Vị tu hành ngược thứ lớp.

 

2-PHÁP MÔN THỦY GIÁC

 

pháp môn từ Nhân Vị chuyễn lên Quả Vị tu hành thuận thứ lớp.

 

Nếu nhìn theo quan điểm Bản Tích nhị môn thì Bản Môn thuộc pháp môn Sự Viên. Tích Môn thuộc pháp môn Lý Viên.

Bản Môn là pháp môn của 9 thức. Tích Môn là pháp môn của 6 thức.

Bản Môn là pháp môn Bản Giác Hạ Chuyễn.

Tích Môn là pháp môn Thủy Giác Thượng chuyễn.

Trong giáo nghĩa Mật Giáo đem việc cầu thành Phật của hành giả lần lượt tiến tu theo hai cách khác nhau là từ NHÂN hướng đến QUẢ và từ QUẢ hướng đến NHÂN mà phân ra và qui thành nghĩa Thủy Giác Thượng Chuyễn và Bản Giác Hạ Chuyễn.

 

Tông Thiên Thai của Nhật Bản dung hợp tư tưởng tâm tánh nhiễm tịnh của Hiển GiáoMật Giáo mà nêu ra pháp môn Bản GiácThủy Giác nầy.”

 

Từ những khảo sát trên có 4  Từ Ngử liên quan đến Bản Giác  là Thủy Giác, Chân Như, Phật TánhPháp Thân.

 

Sau đây là những từ ngữ khác có liên hệ đến Bản Giác.

 

Thủy Giác, Chân Như, Như Lai Tạng, Pháp Tánh, Pháp Giới, Niết Bàn, Pháp Thân, Phật Tánh, Giải Thoát Thực Chất Luận hay Luận Giải Về Bậc Toàn Giác.    

 

CHƯƠNG HAI: THỦY GIÁC

 

A-KHẢO SÁT MỘT

 

Thủy Giác: “Mới tỉnh giác. Bổn tánh của hết thảy chúng sanh sẳn có lòng thanh tịnh tự tánh, đủ  đức vốn chiếu sáng tự thuở nay, gọi là Bổn Giác (vốn tỉnh giác sẳn). Bổn Giác ấy do bên trong ung đúc và nhờ duyên ngoài thầy dạy, mới khởi ra tham cứu thuận theo Bổn Giác lần lần sanh ra có trí giác ngộ gọi là Thủy Giác (sau mới tỉnh giác).

Bổn Giác đó tức là bốn đức (thường, lạc, ngã, tịnh) vốn đã có sẵn. Thủy Giác là bốn đức mới thành ra sau nầy.”   

 

Trong từ điển Buddhist Terms có viết về Thủy Giác như sau:

 “Thủy Giác: The initial functioning of mind or intelligence as a process of  “becoming”, arising from Bổn Giác which is Mind or Intelligence,  self-contained, unsullied,  and considered as universal, the source of all enlightenment. The “initial intelligence” or enlightenment arises from the inner influence “Huân” of the Mind and from external teaching. In the “original intelligence” are  the four values adopted and made transcendent by the Nirvãna-Sũtra, viz. (Thường, Lạc, Ngã, Tịnh) perpetuity, joy, personality, and purity; these are acquired through the Thủy Giác process of enlightenment. Cf. Khởi Tín Luận Awakening of Faith.”

 

Thủy Giác: Tâm thanh tịnh, tự tính của bản tính của hết thảy chúng sinh vốn có đức sáng gọi là Bản Giác. Do sự hun đúc bên trong của Bản Giác ấy, cùng với sự truyền dạy của thầy làm nhân duyên bên ngoài mà bắt đầu khởi lòng chán nản đối với mọi tham cầu, từ đó dần dần nẩy sinh trí tuệ giác ngộ, gọi là Thủy Giác. Bốn đức (Thường, Lạc, Ngã , Tịnh) vốn có sẵn, gọi là Bản Giác: bốn đức mới hình thành gọi là Thủy Giác.

 

Luận Đại Thừa Khởi Tín viết: Vì nương theo Bản Giác mà còn có sự không tự giác, cho nên gọi là Thủy Giác (mới giác ngộ, mới tỉnh giấc). 

 

B-KHẢO SÁT HAI

 

Thủy Giác, đối lại  với Bản Giác.

Sự giác ngộ do quá trình tu tập hậu thiênđạt được.

Luận Đại Thừa Khởi Tín cho rằng thức A Lại Ya có hai nghĩa là Giác và Bất Giác. Giác lại có Thủy GiácBản Giác khác nhau.

Trong đó, trải qua quá trình tu tập hậu thiên, dần dần đoạn trừ vọng nhiễm từ vô thủy đến giờ mà biết được nguồn tâm tiên thiên, gọi là Thủy Giác cũng tức là phát tâm tu hành, lần lược sinh khởi trí đoạn hoặc, phá vô minh, trở về bản tính thanh tịnh của Bản Giác. Đại Thừa cho rằng tâm người ta xưa nay vốn lặng lẽ bất động, không sinh không diệt, thanh tịnh vô nhiễm gọi là Bản Giác (tâm thể giác xưa nay vốn lìa niệm); sau vì gió vô minh dấy động, sinh ra các hoạt động ý thức thế tục, từ đó có các sự sai biệtthế gian, đó gọi là Bất Giác; cho đến khi được nghe Phật Pháp, mở ra Bản Giác, huân tập Bất Giác, đồng thời dung hợp Bất GiácBản Giác làm một, tức gọi là Thủy Giác.

 

Luận Đại Thừa Khởi Tín lại chia Thủy Giác làm 4 giai vị, đồng thời phối hợp 4 giai vị nầy với các giai đoạn tu hành của Bồ Tát Đại Thừa, đó là:

 

 

I-CHƯA SINH KHỞI TRÍ ĐOẠN HOẶC

 

Giai vị Thập Tín (ngoại phàm vị) tuy đã biết quả khổ là do các ác nghiệp mang lại, nên thân, khẩu không còn tạo tác các việc ác, nhưng Ý vẫn chưa sinh khởi trí đoạn hoặc.

 

Thập Tín: mưòi đức tu hànhtín tâm là đức đứng đầu, nên gọi là Thập Tín. Trong hàng 52 địa vị tu hành của Bồ Tát 10 địa vị hàng thứ nhất gọi là Thập Tín. Vì muốn vào hàng Giáo Pháp của Phật trước hết phải có lòng tin.

 

10 TÍN TÂM

 

  • 1/-Tín Tâm (lòng tin): Diệt hết tất cả các mối vọng tưởng, lấy trung đạo thuần chơn.
  • 2/-Niệm Tâm: Lòng chơn tín đã tỏ rõ rồi, tất cả viên thông, trải qua bao nhiêu cuộc sống thác chẳng sót quên tập khí hiện tiền.
  • 3/-Tinh Tấn Tâm: Diệu viên thuần chơn, đem sự tinh minh mà tu tiến tới cõi chơn tịnh.
  • 4/-Huệ Tâm: Lòng tinh tấn đã hiện ra thì trí huệ thuần chơn tự nhiên phát khởi.   
  • 5/-Định Tâm: Chấp trì trí sáng thì lòng tịch tỉnh trong sáng bủa khắp cả, thường chú tâm vào một cảnh vật…  
  • 6/-Bất Thối Tâm: Định quang phát minh thì tánh sáng càng vô sâu, chỉ tiến mà chẳng thối lui.
  • 7/-Hộ Pháp Tâm: Lòng tấn tới một cách an nhiên thì bảo trì được tất cả Phật Pháp mà chẳng bỏ rơi. Chư Phật Như Lai mười phương đều truyền cho mình phần khí giao thiệp…
  • 8/-Hồi Hướng Tâm: Giác và Minh đã được bảo trì, mình có thể đem diệu lực cảm được hào quang của Phật chiếu lại, hướng về Phật mà an trụ.
  • 9/-Giới Tâm: ánh sáng quay lại trong lòng, mình an trụ trong cảnh vô vi mà chẳng sai sót.
  • 10/-Nguyện Tâm: Trụ ở giới hạnh thì được tự tại, mình có thể đi khắp mười phương, làm mọi công việc tùy theo sở nguyện của mình vậy. 

 

II-TRỪ BỎ NGÃ CHẤP NHƯNG CÒN PHÁP CHẤP

 

Hàng nhị thừaBồ Tát giai vị Tam Hiền tuy đã xa lìa ngã chấp, biết lý ngã không, đoạn trừ các phiền não tham, sân, kiến, ái…nhưng vẫn chưa lìa bỏ ý niệm phân biệt pháp chấp.

Tam Hiền, ba bực Hiền: đó là Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng. Hiền là bực phát khởi cái  ý muốn giải thoát khỏi các điều mê lầm. Vì chưa chứng quả Thánh nên gọi là Hiền.

 

1-MƯỜI TRỤ

 

Mười địa vị an trụ của Bồ Tát Đại Thừa.

Bồ Tát chứng được trụ vị thứ 10 là địa vị cao nhất tức Thập Trụ Bồ Tát Ma Ha Tát. Thập Trụ có giải rỏ trong kinh Thủ Lăng Nghiêm quyển 8 như sau:

  • 1/-Phát Tâm Trụ: Đem phương tiện chơn thật mà phát khởi 10 mối lòng trụ. Đặt vào chổ dụng của 10 lòng tin (Thập Tín) viên thành địa vị nhất tâm.
  • 2/-Trì Địa Trụ: Tâm sáng trong như trong kiến pha lê hiện ra chất tinh kim, đem tâm mầu nhiệm trước mà quản trị nó, cho nên gọi là Trì Địa.
  • 3/-Tu hành Trụ: Nhờ đã trải qua địa vị trước, sự hiểu biết trở nên minh bạch, chu du mười phương mà chẳng ngăn ngại.
  • 4/-Sanh Quí Trụ: Nhận lấy phần khí lực của Phật, thông bề Ngộ và bỏ bề Mê, bèn nhập dòng giống Như Lai.
  • 5/-Phương Tiện Cụ Túc Trụ: Tự lợilợi tha, phương tiện đều đủ, tướng mạo chẳng khuyết lậu.
  • 6/-Chánh Tâm Trụ: Chẳng những tướng mạo, tâm tướng cũng đồng với Phật.
  • 7/-Bất Thối Trụ: Thân tâm hiệp thành, càng ngày càng tăng trưởng, không còn lui bước đối với Phật quả.
  • 8/-Đồng Chơn Trụ: Tướng thiêng liêng của Mười Thân Phật đồng thời đủ hết.

 

Mười Thân Phật có 2 loại:

 

(a)          Một là mười thân dung thông ba thế gian:

 

(1)-Thân chúng sanh. (2)-Thân quốc độ. (3)- Thân nghiệp báo. (4)-Thân Thanh Văn. (5)- Thân Độc Giác. (6)-Thân Bồ Tát. (7)-Thân Như Lai. (8)-Thân Trí : là thân đức Phật có đủ, chứng được Thật Trí. (9)-Thân Pháp: là thân Phật có đủ , chứng được chơn lý. (10)-Thân hư không: là thân lìa khỏi hai tướng Nhiễm và Tịnh nhưng theo hai phần nhiểm, tịnh ấy biến ra  khắp pháp giới, là thật thể vô hình hư không.

 

(b)         Hai là 10 thân mà Phật có đủ:

 

(1)-Thân Bồ Đề. (2)-Thân nguyện. (3)- Thân hóa. (4)-Thân trụ trì. (5)-Thân tướng hảo trang nghiêm. (6)-Thân thế lực. (7)-Thân như ý. (8)-Thân phước đức. (9)-Thân trí. (10)-Thân pháp.

 

  • 9/-Pháp Vương Tử Trụ: Bồ Tát thành bực Pháp Vương Tử (Kumara), con tinh thần của bực Pháp Vương, làm tiếp công việc với bực Pháp Vương, làm nổi Phật sự.

     Từ trụ vị thứ nhất là Phát Tâm Trụ đền trụ vị thứ tư là Sanh Quí Trụ, gọi là Nhập Thánh Thai.

Từ trụ vị thứ năm là Phương Tiện Cụ Túc Trụ đến trụ vị thứ tám là Đồng Chơn Trụ, gọi là Trưỡng Dưỡng Thánh Thai.

trụ vị thứ chín nầy có hình tướng đều đủ gọi là Xuất Thánh Thai.

 

  • 10/-Quán Đảnh Trụ: Bồ Tát đã thành Pháp Vương Tử, đảm đương nổi Phật sự, Phật bèn đem nước trí tuệ mà rưới lên đỉnh đầu. Đó cũng như vị vương tử dòng Sát-Ly khi lên ngôi quốc vương thì thọ lễ quán đảnh nơi tay một vị sư Bà La Môn vậy.

Kinh Niết Bàn, quyển 27 viết: bực Bồ Tát còn trụ nơi Thập Trụ cho nên chẳng thấy rỏ Phật Tánh. Bậc Thế Tôn, bậc Như Lai vốn là bất trụ, bất khứ cho nên thấy rỏ Phật Tánh.

 

2-MƯỜI HẠNH 

 

Bồ Tát trong khi tu hành kể cả tự lợilợi tha. Về việc tự lợi thì tu theo Mười Tín, Mười Trụ. Về lợi tha cần tu Mười Hạnh như sau:

1/-Hoan hỷ hạnh. 2/-Nhiêu ích hạnh. 3/-Vô Sân Hạnh. 4/-Vô Tận Hạnh. 5/-Ly Si Loạn Hạnh. 6/-Thiện Hiện Hạnh. 7/-Vô Trước Hạnh. 8/-Tôn Trọng Hạnh. 9/-Thiện Pháp Hạnh. 10/-Chơn Thật Hạnh.

(Tham khảo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển 8).

 

3-MƯỜI HỒI HƯỚNG

 

Hồi hướng là đem công đức tu hành của mình mà xây về cho chúng sinh, xây về quả Phật…:

1/-Cứu hộ chúng sinh, ly chúng sanh tướng hồi hướng.

2/-Bất hoại hồi hướng. 3/-Đẳng nhứt thiết chư Phật hồi hướng.

4/-Chí nhứt thiết xứ  hồi hướng. 5/-Vô tận công đức tạng hồi hướng. 6/-Tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng.

7/-Tùy thuận đẳng quán nhứt thiết chúng sanh hồi hướng.

8/-Chơn  như tướng hồi hướng. 9/-Vô phược giải thoát hồi hướng. 10/-Pháp giới vô lượng hồi hướng.

  

 

III-GIÁC NGỘ TỪNG PHẦN LÝ CHÂN NHƯ 

 

Hàng Bồ Tát từ sơ địa trở lên đến địa thứ 9 đã xa lìa niệm Pháp chấp, rõ biết tất cả pháp đều do tâm biến hiện, tức sự giác biết tùy theo cảnh giới tu chứngđịa vị chuyển lên mà ngộ một phần lý chân như pháp thân.

 

Mười Địa Bồ Tát (Dasabhũmi): Y cứ trong các kinh đại thừa như Hoa Nghiêm, Nhơn Vương  có Đại Thừa Bồ Tát Mười Địa như sau:

1/-Hoan hỷ địa. 2/-Ly cấu địa. 3/-Phát quang điạ. 4/-Diệm huệ điạ. 5/-Cực nan thắng địa. 6/-Hiện tiền địa. 7/-Viễn hành địa. 8/-Bất động địa. 9/- Thiện huệ địa. 10/-Pháp vân địa.

 

IV-GIÁC NGỘ HOÀN TOÀN

 

Hàng Bồ Tát Địa thứ 10 đã đầy đủ nhân hạnh,  dùng tuệ giác tương ứng với một niệm để giác biết chỗ sơ khởi của tâm, đồng thời xa lìa niệm vi tế, thấy suốt toàn bộ tâm tính.

Theo luận Thích Ma Ha Diễn thì giáo nghĩa của Mật Giáo cũng chia  “Giác Tính”  làm 4 thứ, trong đó hai thứ trước tức là Bản GiácThủy Giác, rồi lại y cứ theo sự Nhiễm và Tịnh khác nhau của mỗi thứ mà chia thành Thanh Tịnh Bản Giác, Nhiễm Tịnh Bản Giác, Thanh Tịnh Thủy Giác, Nhiễm Tịnh Thủy Giác …, đồng thời nói rõ về mỗi thứ mà luận chỉ ý thú khác với thuyết của luận Đại Thừa Khởi Tín được trình bày ở trên.

Mật Giáo lại gọi Hiển GiáoThủy Giác Tông và gọi tông mình là Bản Giác Tông. Vì Mật Giáo cho rằng Hiển Giáo phải tu hành trải qua nhiều kiếp mới giác ngộ được bản chân, trừ bỏ mê tìnhtrở về chân lý vô tướng.

 

(Tham khảo: Luận Thích Ma Ha Diễn q.3; Đại Thừa Khởi Tín Nghĩa Ký q. trung, phần đầu, xt Bản Giác; v.v…). 

 

CHƯƠNG BA: CHÂN NHƯ

 

A-KHẢO SÁT MỘT

Theo Phật Học tự điển tiếng Anh:

Chân Như, tiếng Phạn viết là Bhũtatathatã. “Chơn” is as the real. “Như” is “as Như Thường , as thus always, or eternally so. i.e. reality as contrasted with unreality, or appearance and unchanging or immutable as contrasted with from and phenomena. It resembles the ocean in contrast with the waves. It is the eternal, impersonal, unchangeable reality behind all phenomena. Bhũta is substance, that which exists; tathatã is suchness, thusness; i.e. such is its nature. The word is fundamental to Mahãyana philosophy, implying the obsolute, the ultimate source and character of all phenomena, it is all. It is also called self-existent pure Mind (tự tánh thanh tịnh tâm); Buddha-nature (Phật tánh);  Dharmakãya (pháp thân); Tathãgata-gabha (Như Lai Tạng) or Buddha-treasury; reality (thực tướng); Dharma-realm (pháp giới); Dharma-nature (pháp tánh);  the complete and perfect real nature or reality (viên thành thật tánh);

There are categories of  1, 2, 3, 7, 10 and 12 in number: (1) The undifferentiated whole . (2) There are several antithetical classes, e.g. the unconditioned and the conditioned;  the “Không” void , static, abstract, noumenal, and the  “Bất không”  not-void, dynamic, phenomenal; pure, and affected (or infected) ; undefiled (or innocent), i.e. that of Buddhas, defiled, that of all beings; in bonds and free;  inexpressible , and expressible in words. (3) Formless (vô tướng); uncreated (vô sanh); without nature (vô tánh); i.e. without characteristics or qualities, absolute in itself. Also as relative; i.e. good, bad, and indeterminate , (7, 10, 12).

The 7 are given in the “Duy Thức Luận 8”; the 10 are in two classes, one of the “Biệt Giáo” cf. Duy Thức Luận 8; the other of the Viên Giáo, cf.  Bồ Đề Tâm Nghĩa 4; the 12 are given in the Nirvãna Sũtra.

Ngoài ra còn có những từ liên quan đến Chân Như như:

Chân Như Nhứt Thực: Bhũtatathatã the only reality, the one  Bhũtatathatã reality.

Chân Như Tam Muội: The meditation in which all phenomena are eliminated and the bhũtatathatã or absolute is realized.

Chân Như Nội Huân: The internal performing or influence of the bhũtatathatã or Buddha-spirituality.

Chân Như Thật Tướng: The essential characteristic or mark (laksana) of bhũtatathatã; i.e. reality. Chân Như is bhũtatathatã from the point of view of the void, attributeless absolute. Thật Tướng: is bhũtatathatã from the point of view of phenomena.

Chân Như Hải: The ocean of the bhũtatathatã, limitless.

Chân Như Pháp Thân: The absolute as dharmakãya, or spiritual body, all embracing.

Chân Như Duyên khởi: The absolute in its causative or relative condition; the bhũtatathatã influenced by environment, or pure and impure condition, produces all things.

Chân Như Tùy Duyên: The conditioned bhũtatathatã, i.e. as becoming; it accords with the Vô Minh Nhiễm Duyên unconscious and tainting environment to produce all phenomena.

 

 

 

 

B-KHẢO SÁT HAI:

Chân: chân thật, không hư vọng.

Như: như thường, không biến đổi, không sai chạy. Chân Như tức là Phật Tánh, tánh chân thật, không biến đổi, như nhiên, không thiện, không ác, không sanh không diệt. Chân Như đầy đủ nơi Phật. Nó cũng vẫn có nơi chúng sinh. Những chử dưới đều đồng nghĩa, đồng thể với Chân Như: Tự tánh thanh tịnh, Phật tánh, Pháp Thân, Như Lai Tạng, thật tướng, pháp giới, pháp tánh, viên thành thật tánh, Pháp vị.

Trong Duy Thức Luận có viết về ba Chân Như như sau: Vô Tướng Chân Như, Vô Sanh Chân Như, Vô Tánh Chân Như.

I-VÔ TƯỚNG CHÂN NHƯ

Chân Như không tướng: là Thể của các pháp khắp cả, không có tướng hư chấp.

II-VÔ SANH CHÂN NHƯ

Chân Như không sanh: các pháp đều do nhân duyên hòa hợp mà sanh ra chứ hẳn là không thật có sanh .

III-VÔ TÁNH CHÂN NHƯ

Chân Như không có tánh: đó là thể thật của các pháp, không bàn bạc suy xét được. Đó là thật tánh không dính vào sự chấp trước của vọng tình.

Pháp Bảo Đàn kinh, phẩm 5 Tọa Thiền viết: Tánh người ta vốn trong sạch, chỉ bởi sự nghĩ quấy (vọng niệm) nó che lấp Chân Như. Vậy cứ không tưởng quấy (vọng tưởng) thì tánh tự nhiên trở nên trong sạch.

Những từ ngử  khác liên hệ đến Chân Như như:

Chân Như Bổn Tánh: Bổn tánh chơn thật như thường. Đó là bản tánh tự nhiên của chúng sanh, nó chơn thật, không hư vọng. Tánh ấy trống không mà linh thiêng, vắng lặngmầu nhiệm, dù trãi qua bao nhiêu kiếp vẫn tồn tại như thế; còn gọi là bổn lai diện mục.

Thiền Tông gọi là Chánh Pháp Nhãn Tạng. Tịnh Độ Tông gọi là Bổn Tánh Di Đà. Khổng Tử gọi là Thiên-Lý. Lão Tử gọi là Cốc-Thần  (Cốc là Hang trống; Thần là Hồn Thiêng).

Chơn Như Hải: Biển Chơn Như. Chơn Như, Pháp Tánh hay Phật Tánhvô lượng công đức bởi vậy nên gọi là Chơn Như hải.

Chơn Như Nội Huân: Chân Như huân tập bên trong, lần lần phát khởi lòng Bồ Đề, chán cõi trần tục, cầu thành Phật Đạo. Đó là do sức Nội Huân từ bên trong tâm mà thành. Cũng có thể hiểu là từ Pháp Thân, Phật Tánhphát khởi tính giác, trừ vọng hoặc đến giác ngộ giải thoát; đó gọi là Chân Như Nội Huân.

Chơn Như Tam Muội: đó là Đại Định Chân Như, tu theo phương pháp quán tưởngvô tướng của các pháp trừ được những mối vọng hoặc.

 

C-KHẢO SÁT BA

Tham khảo danh từ Chân Như đối chiếu Việt-Anh và có thêm phần chữ Sanscrit để chúng ta có cơ hội đối chiếutìm hiểu sâu hơn về sự tương quan giữa Chân Như và các từ ngử khác.

I-Ý NGHĨA CHÂN NHƯ

 The meanings of the bhũtatathatã (những ý nghĩa của Chân Như):

        Chân là chân thực: Chân means the real, or true.

        Như là như thường: Như means  so, such, suchness, thus, thusness, thus always, in that manner, or eternally so.

Chân Như: Bhũtatathatã or Tathata (skt)—Tự Tánh Thanh Tịnh Tâm—Phật Tính—Pháp Thân—Như Lai Tạng—Thực Tướng—Pháp Giới—Pháp Tính—Viên Thành Thực Tính—Real—Reality—Suchness—According to reality—Natural purity.

Theo Trung Quán Luận, chân nhưchân lý, nhưng nó phi nhân cách. Để hiển hiện, nó cần có một môi giới. Như Lai chính là môi giới của nó. Như Lai là trực ngộ về thực tại. Ngài là Thực Tại được nhân cách hóa. Đồng thời Ngài còn có cả hai loại tính chất của Tuyệt Đốihiện tượng. Ngài đồng nhất với Chân Như, nhưng được thể hiện trong hình dạng của một con người. Đây là lý do tại sao Chân Như cũng còn được gọi là Như Lai Tạng—According to Madhyamaka Philosophy, Tathata is the Truth, but it is impersonal. In order to reveal itself, it requires a medium. Tathagata is that medium. Tathagata is the epiphany of Reality. He is Reality personalized. Tathagata is an amphibious being parting both of the Absolute and phenomena. He is identical with Tathata, but embodied in a human form. That is why Tathata is also called the womb of Tathagata (Tathagatagarbha)—See Tự Tánh Thanh Tịnh.

II-NHỮNG TỪ KHÁC VỀ CHÂN NHƯ

Other terms for “Bhũtatathatã”

        Chân Thực Như Thường: The eternal reality.

        Bất Biến Bất Cải: Unchanging or immutable.

        Tự Tánh Thanh Tịnh Tâm: Self-existent pure Mind.

        Phật Tánh: Buddha-nature.

        Pháp Thân: Dharmakaya.

        Như Lai Tạng: Tathagata-garbha, or Buddha-treasury.

        Thực Tướng: Reality.

        Pháp Giới: Dharma-realm.

        Pháp Tính: Dharma nature.

        Viên Thành Thực Tánh: The complete and perfect real nature.

*   Nhất Chân Như—The undifferentiated whole.

Nhị Chân Như—There are two kinds of bhũtatathatã:

1-THEO CHUNG GIÁO CỦA TÔNG HOA NGHIÊM

According to the Final Teaching of the Flower Adornment Sect:

a-BẤT BIẾN CHÂN NHƯ 

Bất Biến Chân Như: Chân tính của vạn phápbất biến (vạn phápchân như)—The immutable bhũtatathatã in the absolute.

b-TÙY DUYÊN CHÂN NHƯ

Tùy theo duyên vô minh mà dấy lên vọng pháp (chân nhưvạn pháp)—The bhũtatathatã in relative or phenomenal conditions.

2-THEO BIỆT GIÁO CỦA TÔNG THIÊN THAI

According to the Differentiated teaching of the T’ien-T’ai Sect:

Có những từ như sau

a-NHƯ THẬT KHÔNG

The essence in its purity,The void,Static,Abstract,Noumena.

b-NHƯ THẬT BẤT KHÔNG

Như Thật Bất Không: The essence in its differentiation

The not-void—Dynamic-Phenomenal.

3-THEO ĐẠI THỪA KHỞI TÍN LUẬN

According to The Awakening of Faith:

a-THANH TỊNH CHÂN NHƯ

The pure bhũtatathatã.

b-NHIỄM TỊNH CHÂN NHƯ

Infected (affected)  bhũtatathatã.

4-HỬU CẤU VÀ VÔ CẤU CHÂN NHƯ

a-HỬU CẤU CHÂN NHƯ

Chân như nơi chúng sanh—Defiled bhũtatathatã, i.e. that of all beings.

b-VÔ CẤU CHÂN NHƯ

Chân như nơi chư Phật—Undefiled or innocent bhũtatathatã, i.e. that of Buddhas.

5-TẠI TRIỀN VÀ XUẤT TRIỀN CHÂN NHƯ

a-TẠI TRIỀN CHÂN NHƯ

Bonded (In bonds) bhũtatathatã.

b-XUẤT TRIỀN CHÂN NHƯ

Free bhũtatathatã.

6-Y NGÔN CHÂN NHƯ, LY NGÔN CHÂN NHƯ

According to the Awakening of Faith:

a-Y NGÔN CHÂN NHƯ

Dựa vào danh nghĩa lời nói giả danh để hiện rõ bản tướng—Bhũtatathatã that is expressible in words.

b-LY NGÔN CHÂN NHƯ

Thể của chân như vốn là xa lìa tướng ngôn từ, xa lìa tướng tâm niệm—Bhũtatathatã that is inexpressible.

7-THEO ĐẠI TRÍ ĐỘ LUẬN

 Chân Như—According to the Mahaprajnaparamita-Sastra, there are three kinds of Tathata or essential nature:

a-CHÂN NHƯ LÀ TÁNH ĐẶC THÙ CỦA MỖI SỰ VẬT

Tathata means the specific, distinct nature of everything.

b-CHÂN NHƯ LÀ TÁNH TỐI HẬU CỦA NHỮNG BẢN CHẤT ĐẶC THÙ CỦA SỰ VẬT VỀ TÁNH HẠN ĐỊNH HAY TÁNH TƯƠNG ĐỐI CỦA MỌI SỰ VẬT

Tathata means the non-ultimacy of the specific natures of things, of the conditionless or relativity of all things that are determinate.

 

c-CHÂN NHƯ LÀ THỰC TẠI TỐI HẬU CỦA MỖI SỰ VẬT

Bản chất tối hậu, vô hạn định hay phi nhân duyên của tất cả sự vật mới đích thật đúng nghĩa Chân Như—Tathata means the ultimate reality of everything. Only this ultimate, unconditioned nature of all that appears which is Tathata in the highest sense. 

III-HAI CHÂN NHƯ

(xem Nhị Chân Như trong phần “Khảo Sát Bốn” tiếp theo).

IV-BA CHÂN NHƯ

Three kinds of bhũtatathatã:Trường hợp nầy được chia làm hai loại như sau:

1-BA LOẠI THỨ I

a-VÔ TƯỚNG CHÂN NHƯ

Thể của chư pháp là hư tướng—Formless bhũtatathatã.

 

b-VÔ SANH CHÂN NHƯ

Chư pháp do nhân duyên sinh ra, nên là vô thực sinh—Uncreated bhũtatathatã.

c-VÔ TÁNH CHÂN NHƯ

Chân thể của chư pháp, tuyệt hết tất cả mọi suy nghĩ và lời nói—Without nature bhũtatathatã (without characteristics or qualities, absolute in itself).

2-BA LOẠI THỨ II

a-THIỆN PHÁP CHÂN NHƯ

Chân như tùy duyên mà thành thiện pháp—Good-deed bhũtatathatã.

b-BẤT THIỆN PHÁP CHÂN NHƯ

Chân như tùy duyên mà thành bất thiện—bad-deed bhũtatathatã.

c-VÔ KÝ CHÂN NHƯ

Chân như tùy duyên mà thành vô ký pháp—Indeterminate bhũtatathatã.

Ngoài ra còn có những từ khác như sau:

Chân Như Duyên Khởi: Chân như bị ảnh hưởng bởi ngoại cảnh, điều kiện thanh tịnh hay bất tịnh, tạo ra chư pháp—The absolute in its causative or relative condition—The Bhũtatathatã influenced by environment, or pure and impure conditions, produces all things.

** For more information, please see Duyên

     Khởi and Tứ Duyên Sanh .

Chân Như Hải: Biển chân như—Pháp tính chân như có đầy đủ vô lượng công đức tính—The ocean of the Bhũtatathatã, limitless.

Chân Như Nhứt Thực: Chân nhưchân lý duy nhất—Bhũtatathatã the only reality, the one bhũtatathatã reality.

Chân Như Nội Huân: Hương thơm từ bên trong hay ảnh hưởng của chân như (pháp tánh của chân như là sự cảm hóa từ bên trong trong. Chân nhưtự tánh thanh tịnh tâm mà ai ai cũng đều có, là pháp thân của chư Phật. Pháp thân nầy có khả năng trừ bỏ vọng tâm ở bên trong. Còn bên ngoài thì nhờ hai báo thânhóa thân của chư Phật để lại giúp đở huân tập. Nhờ đó mà chúng sanh dần dần phát tâm Bồ Đề, chán cõi thế tục và cầu thành Phật)—The internal perfuming or influence of the bhũtatathatã, or Buddha-spirituality.

Chân Như Pháp Thân:

*     Bất Không Chân Như có đầy đủ pháp công đức vô lượng: Not-void, or phenomenal bhũtatathatã has limitless virtue.

*      Thể của pháp thân, chân thực như thường: The absolute as dharmakaya or spiritual body, all embracing.

Chân Như Tam Muội: Thiền định quán lý chân như vô tướng, trong đó mọi hiện tượng đều tận diệt và chân như hiển lộ—The true thusness samadhi—The meditation in which all phenomena are eliminated and the Bhũtatathatã or absolute is realized—See Nhứt Tướng Tam Muội.

Chân Như Thực Tướng: Chân nhưthực tướngđồng thể, nhưng tên gọi khác nhau. Đối với nghĩa nhất như của không đế thì gọi là chân như; còn đối với nghĩa diệu hữu của giả đế thì gọi là thực tướng—The essential characteristic or mark (laksana) of the Bhũtatathatã, i.e. reality. The bhũtatathatã from the point of view of the void, attributeless absolute; the real-nature is bhũtatathatã from the point of view of phenomena.

Chân Như Tùy Duyên: Tùy duyên chân nhưtùy theo nhiễm duyên vô minh mà sinh ra vọng pháp, hay chân như ảnh hưởng bởi ngoại cảnh, tịnh hay bất tịnh, mà sanh ra vạn pháp—The conditioned Bhũtatathatã or relative condition—The Bhũtatathatã influenced by environment, or pure and impure conditions, produces all things—See Chân Như Duyên Khởi.” (Xem: Phật Học Từ Điển của Thiện Phúc).

D-KHẢO SÁT BỐN

Mặc dù trong số những Từ Điển Phật Học đã trích dẫn có phần giống nhau nhưng cũng có nhiều luận điểm không tương đồng nên chúng tôi xin trích dẫn ra đây để tiện việc so sánh, tham khảo.

Chân Như, bhũta-tathatã

“Chân có nghĩa là chân thật. Như có nghĩa là như thường. Thể tính của chư pháp là lìa xa hư vọng, thường trụ, không biến, không đổi nên gọi là Như.

Luận Duy Thức quyển 2 viết: “Chân là chân thực, làm rõ cái không phải là hư vọng. Như là như thường, biểu thị sự không biến đổi. Tức là sự chân thực đó trong hết thảy chư pháp, thể tính của nó là thường như nên gọi là chân như”.

Các từ Tự tính thanh tịnh tâm, Phật tính, Pháp thân, Như Lai Tạng, Thực tướng, Pháp giới, Pháp tánh, Viên Thành Thực Tánh, đều là một thể, chỉ khác tên gọi.

Luận Đại Thừa Khởi Tín viết: “Chân Như của tâm tức là thể của pháp môn “Nhất pháp giới đại tổng tướng”. Đó là bất sanh bất diệt của tâm tánh, Tất cả các pháp chỉ nương nơi vọng niệm mà có sai khác. Nếu lìa vọng niệm thời không có tướng của bất cứ cảnh giới nào.

Cho nên tất cả các pháp, ngay trong bản chất, lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng danh tự, lìa tướng tâm duyên. Rốt ráo bình đẳng. Không có đổi khác. Không thể phá hoại. Chỉ là nhất tâm, cho nên gọi là Chân Như.” 

I-MỘT CHÂN NHƯ

Một cõi chân pháp, không sai biệt. Đó là nhất tâm chân sinh chưa chia chẻ ra.

II-HAI CHÂN NHƯ

có nhiều loại sau đây theo từng cặp đối nghĩa nhau nên  gọi là Hai  Chân Như

1-TÙY DUYÊN CHÂN NHƯ, BẤT BIẾN CHÂN NHƯ

Tùy theo duyên vô minh mà dấy lên vọng pháp của chín cõi, đó là tùy duyên chân như. Tuy tùy duyên Chân Nhưvọng pháp, song chân tính bất biến, nên gọi là Bất biến Chân Như. Vì là tùy duyên Chân Như nên Chân Như tức là vạn pháp. Vì là bất biến Chân Như nên vạn pháp tức Chân Như. Đó là những lời bàn trong chung giáo của tông Hoa Nghiêm, trong Biệt Giáo của tông Thiên Thai.

2-KHÔNG CHÂN NHƯ, BẤT KHÔNG CHÂN NHƯ

Chân Như rút cục lìa các pháp mà trong như gương sáng. Đó là Không Chân Như. Chân Như có đầy đủ tất cả các pháp, thanh tịnh như gương sáng hiện lên muôn vẻ, nên gọi là Bất Không Chân Như. Đây cũng là thuyết của Đại Thừa Khởi Tín luận .

3-THANH TỊNH CHÂN NHƯ, NHIỄM TỊNH CHÂN NHƯ

Đây là tên khác của Tùy Duyên Chân Nhưbất biến Chân Như (tham khảo luận Thích Ma Ha Diễn quyển 3).

4-HỬU CẤU CHÂN NHƯ, VÔ CẤU CHÂN NHƯ

Chân Nhưchúng sanh có đầy đủ gọi là Hửu Cấu Chân Như. Chân Như mà chư Phật hiển hiện gọi là Vô Cấu Chân Như. Đây là thuyết nêu ra trong Đại Thừa Chỉ Quán.

5-TẠI TRIỀN CHÂN NHƯ, XUẤT TRIỀN CHÂN NHƯ (THAM KHẢO KHỞI TÍN LUẬN)

6-SINH KHÔNG CHÂN NHƯ, PHÁP KHÔNG CHÂN NHƯ

Chân Như không có nhân ngãhiểu rõ gọi là Sinh Không Chân Như. Chân Như không có Pháp Ngã mà hiểu rỏ gọi là Pháp Không Chân Như. Đây là thuyết của Duy Thức Luận.

7-Y NGÔN CHÂN NHƯ, LY NGÔN CHÂN NHƯ

Thể của Chân Như vốn là xa lìa tướng ngôn từ, xa lìa tướng tâm niệm, đó là Ly Ngôn Chân Như. Dựa vào ngôn ngữ lời nói gỉa danh để hiện rõ bản tướng gọi là Y Ngôn Chân Như. Đó cũng là thuyết của Khởi Tín Luận.

 

 

8-AN LẬP CHÂN NHƯ, PHI AN LẬP CHÂN NHƯ

Đó là tên gọi khác của Y Ngôn Chân NhưLy Ngôn Chân Như. Theo thuyết của Thám Huyền Ký.

 

9-TƯƠNG ĐÃI CHÂN NHƯ, TUYỆT ĐÃI CHÂN NHƯ  

 

Là tên gọi khác của An Lập Chân NhưPhi An Lập Chân Như. Đây là thuyết của Hoa Nghiêm Đại Sớ Sao. Như trên chúng ta đã thấy sở dĩ gọi Hai  Chân Như vì từng cặp đối nghĩa nhau nên mới có tên gọi như thế.

 

III-BA CHÂN NHƯ

 

Có ba loại đó là:

1-KHÔNG TƯỚNG CHÂN NHƯ

 

Nói về thể của chư pháp là hư tưởng mà không có hư tướng biến kế sở chấp.

 

2-KHÔNG SINH CHÂN NHƯ

 

Nói về chư pháp do nhân duyên sinh ra, nên là vô thực sinh.

 

3-KHÔNG TÍNH CHÂN NHƯ

 

Nói về chân thể của chư pháp, tuyệt hết cả suy nghĩlời nói, đó là thực tính không chấp vào vọng tình.

Ba Chân Như nầy dựa vào Tam Vô Tính trong Duy Thức Luận mà lập ra. Còn gọi là:  (1) Thiện Pháp Chân Như: nói về Chân Như tùy duyên mà thành thiện pháp. (2) Bất Thiện Pháp Chân Như: nói về Chân Như tùy duyên mà thành bất thiện pháp. (3) Vô Ký Pháp Chân Như: nói về Chân Như tùy duyên mà thành vô ký pháp (xem Tạp Tập Luận).

 

IV-BẢY CHÂN NHƯ   

 

1-LƯU CHUYỄN CHÂN NHƯ

 

Nói về thực tính lưu chuyễn của Hửu Vi  pháp.

 

2-THỰC TƯỚNG CHÂN NHƯ

 

Nói về thực tính hiển hiện của vô ngã.

 

3-DUY THỨC CHÂN NHƯ

 

Nói về thực tính duy thức của nhiễm tịnh pháp.

 

4-AN LẬP CHÂN NHƯ

 

Nói về thực tính của Khổ Đế.

 

5-TÀ HẠNH CHÂN NHƯ

 

Nói về thực tính của Tập Đế.

 

6-THANH TỊNH CHÂN NHƯ

 

Nói về thực tính của Diệt Đế.

 

7-CHÍNH HẠNH CHÂN NHƯ 

 

Nói về thực tính của Đạo Đế.

Ba Chân NhưLưu Chuyển, An Lập, Tà Hạnh không thông với Phật. Ba loại Chân Như: Thực Tướng, Duy ThứcThanh Tịnh là cảnh của Căn Bản Trí. Chân Như còn lại thuộc về Hậu Đắc Trí. Đó là lấy nghĩa thuyết mà nêu là bảy. Nếu bỏ nghĩa thuyết mà bàn về thể của Chân Như, thì bảy loại Chân Như chỉ là một loại Chân Như.

(Tham khảo Giải Thâm Mật kinh, Phân Biệt Du Già phẩm và Duy Thức Luận quyển 8).

 

V-MƯỜI CHÂN NHƯ

 

Thập Chân Như là mười Chân Như mà hàng Bồ Tát Thập Địa chứng được đó là:

 

1-BIẾN HÀNH CHÂN NHƯ

 

Loại Chân Như nầy là do hai không:  Pháp KhôngNgã Không hiển hiện. Mọi Pháp không có chỗ nào là không tồn tại nên gọi là Biến Hành.

 

2-TỐI THẮNG CHÂN NHƯ

 

Chân Như nầy có đủ đức vô biên, cao hơn tất cả các pháp khác, nên gọi là tối thắng.

 

3-THẮNG LƯU CHÂN NHƯ

 

Giáo phápChân Như nầy lưu chuyễn rất thù thắng, nên gọi là Thắng Lưu Chân Như.

 

 

4-VÔ NHIẾP THỌ CHÂN NHƯ

 

Chân như nầy không bị lệ thuộc, không phải là cái mà ta giữ lấy, nên gọi là Vô Nhiếp Thọ Chân Như.

 

5-VÔ BIỆT CHÂN NHƯ

 

Chân như nầy không có các loại sai biệt nên gọi là vô biệt chân như.

 

6-VÔ NHIỄM TỊNH CHÂN NHƯ

 

Bản tính của chân như nầy là vô nhiễm, không phải là về sau mới thanh tịnh.

 

7-PHÁP VÔ BIỆT CHÂN NHƯ

 

Loại chân như nầy đa số pháp là an lập, không có biệt dị, nên gọi là pháp vô biệt.

 

8-BẤT TĂNG GIẢM CHÂN NHƯ

 

Loại chân như nầy xa lìa chấp trước tăng giảm, không phải tùy theo tịnh nhiễm mà có tăng giảm nên gọi là bất tăng giảm. Còn gọi là  “tướng độ tự đại sở y chân như”. Vì hàng Bồ Tát nếu chứng được loại chân như nầy thì có thể tự tại hiện ra thân tướng, hiện ra quốc độ.

 

9-TRÍ TỰ TẠI SỞ Y CHÂN NHƯ

 

Hàng Bố Tát nếu chứng được loại chân như nầy, thì được vô ngại giải đắc tự tại nên có tên như vậy.

 

10-NGHIỆP TỰ TẠI ĐẲNG Y CHÂN NHƯ

 

Nếu chứng được loại chân như nầy thì ở nhất thiết thần không tác nghiệp Đà La Ni Định Môn đều được tự tại nên có tên như vậy. Tính của chân như thật ra không sai biệttùy theo thắng đức mà lập ra 10 loại Chân Như. Hàng Bồ Tátbậc sơ địa đã đạt được tất cả và có thể chứng hành, nhưng còn chưa được viên mãn nên phải làm cho viên mãn rồi sau mới xây dựng được. (Tham khảo Duy Thức Luận quyển 10).

 

VI-MƯỜI HAI CHÂN NHƯ

Mười Hai Chân Như: còn gọi là 12 vô vi, 12 Không, gồm có:

 

1-CHÂN NHƯ

 

2-PHÁP GIỚI

 

Giới có nghĩa là cậy dựa, là nơi mà Phật Pháp dựa vào.

3-PHÁP TÍNH

 

Đó là thể tính của các pháp nên gọi là pháp tính.

 

4-BẤT HƯ VỌNG TÍNH

 

Để đối lại với hư vọng tính của chư pháp hửu vi mà gọi là hư vọng tính.

 

 

5-BẤT BIẾN DỊ TÍNH

 

Để đối lại với sinh diệt biến dị của chư pháp mà gọi là bất biến dị tính.

 

6-BÌNH ĐẲNG TÍNH

 

Đối lại với sự sai biệt khác nhau của chư pháp mà gọi là bình đẳng tính.

 

7-LY SINH TÍNH

 

Lìa bỏ sinh diệt nên gọi là ly sinh tính.

 

8-PHÁP ĐỊNH

 

Pháp tính thường trụ nên gọi là pháp định.

 

9-PHÁP TRỤ

 

Pháp vịchư pháp trụ ở chân như nên gọi là pháp trụ.

 

 

 

10-THỰC TẾ

 

Đó là chổ cùng cực chân thực của chư pháp tính nên gọi là thực tế.

 

11-HƯ KHÔNG GIỚI

 

Dùng để ví lý thể đầy khắp cả pháp giới nên gọi là hư không giới.

 

12-BẤT TƯ NGHÌ GIỚI

 

Lý thể tuyệt hết tư duyngôn ngữ nên gọi là bất tư nghì giới (tham khảo kinh Đại Niết Bàn).

        

VII-VIÊN GIÁO MƯỜI  CHÂN NHƯ

 

Mười chân như nói trên là nghĩa của Biệt Giáo. Mười chân Như của Viên Giáo nói trong kinh Pháp Hoa, chỉ có Phật và Bồ Tát mới có thể đến cùng tận thực tướng của chư pháp.

Có mười phép như thị nên mười như thị và mười chân như danh nghĩa giống nhau. Tông Thiên Thai bảo rằng vô tác trong vô tác. Chân Ngôn  nói rằng 10 giới chân như. Bộ Lý Thú Thích giải nghĩa trong 10  núi Kim Cương trí biểu thị 10 địa, 10 chân như, 10 pháp giới của Như Lai như vậy.

Trong bộ Tức Thân Thành Phật Nghĩa Thích trong 10 giới đã liệt  kê nhóm địa ngục, 10 giới cũng giống với Thiên Thai. Trong đó  có giải thích giả và chân như của Phật Tính luận, nên gọi là  Chân Như.

 

Còn những loại Chân Như khác như Chân Như Bất Biến, Chân Như Duyên KhởiChân Như Hải, Chân Như Nội Huân, Chân  Như Pháp Thân, Chân Như Tam Muội, Chân Như Thực Tướng, Chân Như Tịch Diệt Tướng, Chân Như Tùy Duyên đã giải thích ở phần trên.

 

(Tham khảo Bồ Đề Tâm Nghĩa, quyển 4; Phật  Học Hán Việt v.v…).

 

E-KHẢO SÁT NĂM

 

Một khảo sát khác về Chân Như chiết giải như sau.

“Chân Như, tiếng Phạn là Tathatà hoặc là bhùta-tathatà, chỉ bản thể chân thật, nguồn gốc của tất cả muôn vật. Còn gọi là Như Như, Như Thực, Pháp Giới, Pháp Tính, Thực Tế, Thực Tướng, Như Lai Tạng, Pháp Thân, Phật Tính, Tự Tính Thanh Tịnh Thân, Nhất Tâm, Bất Tư Nghì Giới. Trong sách Hán dịch ở thời kỳ đầu dịch là Bản Vô, Chân, chân thật không hư dối. Như, tính của sự chân thật ấy không thay đổi. Tức là cái mà Phật Giáo Đại Thừa gọi là “Bản Thể của muôn vật”. Nhưng luận cứu một cách tường tận, thì mỗi tông, mỗi nhà giải thích danh từ Chân Như đều có khác, tổng kết có thể đưa ra mấy định nghĩa như sau đây.

 

Theo các kinh điển A Hàm chép thì lý pháp duyên khởichân lý vĩnh viễn bất biến, cho nên gọi là Chân Như. Lại cứ theo luận Dị Bộ Tông Luận thì trong chín vô viHóa Địa Bộ liệt kê có  Thiện Pháp Chân Như, Bất Thiện Pháp Chân Như, Vô Ký Pháp Chân Như, Đạo Chí Chân Như, Duyên Khởi Chân Như. Trong đây, ba tính: Thiện, Bất Thiện, Vô Ký, Tám Chánh Đạo và Lý Pháp Sanh Tử Duyên Khởi, đều là chân thậtvĩnh viễn bất biến  cho nên gọi là Chân Như.

 

Phật Giáo Đại Thừa chủ trương: bản tính của hết thảy sự tồn tạiNhân Vô Ngã, Pháp Vô Ngã, bản tính ấy siêu việt các tính sai biệt, cho nên gọi là Chân Như. Như tự tính Pháp Thân của Như Lai chẳng hạn. Cứ theo Phật Địa Kinh luận quyển 7, thì Chân Nhưthực tính của hết thảy hiện tượng (chư Pháp), hình tướng tuy sai biệt, nhưng bản thể chỉ là một. Để phân biệt với quan điểm sai lầm, hư dối mà tạm gọi là Chân Như thôi. Nếu cho đó là chỗ nương tựa của hết thảy pháp lành, thì gọi là pháp giới. Để tránh quan niệm cho là KHÔNG thì gọi là Thực Hửu. Để tránh quan niệm nhận là CÓ thì gọi là Không Vô, chân thực, Thực Tế. Vì là trí không phân biệt được nên tạm gọi là Thắng Nghĩa.

 

Kinh Đại Bát Nhã quyển 360 nêu ra 12 tên gọi như sau: Chân Như, Pháp Giới, Pháp tính, Tính không hư dối, Tính không đổi khác, Tính bình đẳng, Ly sanh tínhPháp định, Pháp trụ, Thực tế, Hư không giới và Bất tư nghì giới.

 

Luận Đại Thừa A Tỳ Đạt Ma Tạp Tập quyển 2 nêu ra 6 tên về Chân Như: Chân Như, Tính Không, Vô Tướng, Thực Tế, Thắng Nghĩa, và Pháp Giới.

Pháp Hoa Huyền Nghĩa quyển 8 phần dưới thì nêu ra 14 tên như sau: Thực tướng, Diệu hửu, Chân Thiện diệu sắc, Thực tế, Tất kính không, Như Như, Niết Bàn, Hư không, Phật tính, Như lai tạng, Trung thực lí tâm, Phi hửu phi vô trung đạo, Đệ nhất nghĩa đế, và Vi diệu tịch diệt

 

Ngoài ra còn gọi là Nhất như thực tướng, Chân như nhất thực, Chân như thực tế, Chân thắng nhĩa đế v.v…Vì  tướng Chân Như bình đẳng tuyệt đối nên cũng gọi là Nhất tướng.

 

 

I-KINH GIẢI THÂM MẬT

 

Kinh Giải Thâm Mật quyển 3 có nói về 7 Chân Như:            

 

1-LƯU CHUYỄN CHÂN NHƯ  

 

(Lí pháp duyên khởi)

 

2-THỰC TƯỚNG CHÂN NHƯ  

 

(Thực tính của các pháp)

 

3-LIỄU BIỆT CHÂN NHƯ  

 

(Lí pháp vạn pháp duy thức)

 

Bốn Chân Như sau đây phối hợp với 4 đế là Khổ , Tập, Diệt, Đạo thành 4 Chân Như:

 

4-AN LẬP CHÂN NHƯ

 

5-TU HÀNH CHÂN NHƯ

 

6-THANH TỊNH CHÂN NHƯ

7-CHÁNH HÀNH CHÂN NHƯ

 

Trong bảy Chân Như kể trên, ngoài Thực Tướng Chân Như ra, sáu thứ còn lại cũng gọi là 6 Chân Như, vì tự thể của các lí pháp vĩnh viễn bất biến, cho nên gọi là Chân Như. Đó là do các tướng trạng được hiển hiện bởi Chân Như thực tướng mà đặt tên là Chân Như.

Thuyết của tông Pháp Tướng, theo luận Thành Duy Thức quyển 9 thì Chân Như là pháp xa lìa sự phân biệt hư dối, là tính nhân vô ngã, Pháp vô ngã, tương đương với tính Viên Thành Thật trong ba tính.

Tông nầy chủ trương hết thảy hiện tượng đều từ thức A Lại Ya sinh ra, cho nên bản thân Chân Như là cái thể vắng lặng tuyệt đối, siêu việt hết thảy hiện tượng, tự thể của nó không trở thành hiện tuợng, cho nên nói  “Chân Như vắng lặng, không tạo các pháp”.

 

II-THÀNH DUY THỨC LUẬN QUYỂN 10

 

Bố Tát phải đến Sơ Địa mới ngộ lí Chân Như. Theo thứ tự sâu cạn của nội dung giác ngộ mà lập 10 Chân Như khác nhau:

 

 

 

1-BIẾN HÀNH CHÂN NHƯ

 

Tức lí nhân không, pháp không tràn khắp muôn vật.

 

2-TỐI THẮNG CHÂN NHƯ

 

Chân như do thân hoàn toàn thọ trì giới cụ túc mà ngộ được, vì nó có vô lượng công đức, nên gọi là tối thắng.

 

3-THẮNG LƯU CHÂN NHƯ 

 

Giáo pháp từ Chân Như lưu xuất, có phần hơn các giáo pháp  khác mà căn hản của giáo pháp ấy tức là Chân Như.

 

4-VÔ NHIẾP THỤ CHÂN NHƯ

 

Ý là không trở thành đối tượng của sự chấp trước.

 

5-LOẠI VÔ BIỆT CHÂN NHƯ 

 

Nghĩa là sanh tửNiết Bàn chẳng phải hai, mê ngộ nhất như.

 

6-VÔ NHIỄM TỊNH CHÂN NHƯ

 

Chân như siêu việt nhiễm và tịnh.

7-PHÁP VÔ BIỆT CHÂN NHƯ 

 

Nghĩa là Chân Như đã lìa tướng sai biệt, cho nên bất luận bàn về pháp nào thì thể của nó vẫn là một.

 

8-BẤT TĂNG GIẢM CHÂN NHƯ

 

Nghĩa là đoạn diệt các phiền não ô nhiễm nó chẳng giảm, mà tu các pháp thanh tịnh nó cũng chẳng vì thế mà tăng, tức lìa sự chấp trước tăng giảm. Một khi ngộ được Chân Như nầy, có thể biến hiện các loại hình trạng và quốc độ một cách tự tại, cho nên cũng gọi là Tướng độ tự tại sở y Chân Như.

 

9-TRÍ TỰ TẠI SỞ Y CHÂN NHƯ

 

Ý là được tự tại đối với bốn trí vô ngại.

 

10-NGHIỆP TỰ TẠI ĐẲNG SỞ Y CHÂN NHƯ

 

Tất cả tác dụng của thân khẩu ý, như thần thông, tổng trì, thiền định v.v… đều được tự tại.

 

Dùng 10 Chân Như trên đây làm thuận tự, từ Sơ Địa đến Thập Địa, hành trì mười Ba La Mật.

 

III-DUY THỨC LUẬN QUYỂN 9

 

Trong Duy Thức luận quyển 9 viết về 10 Ba La Mật (dasaparamita (scr.), dix vertus cardinales (fr.) ) còn gọi là  10 thắng hạnh, là hành pháp của hàng Thập Địa Bồ Tát (tham khảo Kinh Đại Thừa Bổn Sanh Tâm Địa Quán)  như sau: 

 

1-BỐ THÍ BA LA MẬT (danaparamita)

 

Có 3 loại : tài thí, pháp thívô úy thí.

 

 

2-TRÌ GIỚI BA LA MẬT (silaparamita)

 

Giữ giới, giữ oai nghi tế hạnh, không hại sinh mạng, khuyên người phát tâm vô thượng Bồ Đề.

 

3-NHẪN NHỤC BA LA MẬT (ksantiparamita)

 

Dứt sân hận, nhịn những điều khó nhịn, được từ tâm Tam Muội, khuyên người phát tâm vô thượng Bồ Đề.

 

4-TINH TẤN BA LA MẬT (viryaparamita)

 

Tấn tới không ngừng trên đường hành đạo, nói pháp tối thắng, khiến người nghe hoan hỷ phát tâm hành trì đạo pháp tiến đến giác ngộ giải thoát.

 

5-THIỀN ĐỊNH BA LA MẬT (dhyânaparamita)

 

Giữ chánh định, giáo hóa mọi người, nhập chơn pháp giới. thuyết pháp vi diệu khiến người nghe tĩnh ngộ thực hành theo đạt đến Vô Thượng Bồ Đề.

 

6-BÁT NHÃ BA LA MẬT (prajnaparamita)

 

Hiểu rỏ chân lý, quán thấu diệu lý bình đẳng.

 

7-PHƯƠNG TIỆN THIỆN XẢO BA LA MẬT (upayaparamita)

 

Hiểu rỏ cách giúp ích chúng sinh, xem chúng sanh bình đẳng, nói pháp vi diệu độ mọi người tiến tu đến giác ngộ.

 

8-NGUYỆN BA LA MẬT (pranidanaparamita)

 

Quán Trung Đạo, tu từ bi để hóa độ chúng sanh, nói pháp vi diêu, biện tài vô ngại, khiến chúng sanh không thối chuyễn quả vi Phật.

 

9-LỰC BA LA MẬT (balaparamita) 

 

Dùng sức trí tuệ khiến chúng sanh đắc nhập pháp đại thừa, làm cho người tà kiến quay về Chánh Đạo.

 

 

10-TRÍ BA LA MẬT (jnânaparamita)

 

Hiểu rỏ các pháp, giữ vững Trung Đạo: không chán sanh tử, không ham Niết Bàn, có đại xã tâm, thương xót chúng sanh, nói pháp Nhứt Thừa khiến chúng sanh đắc Phật Đạo.   

 

Đoạn trừ 10 trọng chướng mà đến bồ đề.

Chướng (obstructions(fr.) ) : chướng ngại, che lấp, ngăn bít. Chướng là tên gọi khác của phiền não.

 

IV-MƯỜI TRỌNG CHƯỚNG   

 

1-SANH TÁNH CHƯỚNG 

 

Chướng ngại vì sanh nơi tộc tánh lạ.

 

2-TÀ HẠNH CHƯỚNG

 

Chướng ngại do những hành động tà vạy.

 

3-ÁM ĐỘN CHƯỚNG

 

Chướng ngại vì u tối, chậm lụt.

 

4-VI TẾ PHIỀN NÃO HIỆN HÀNH CHƯỚNG

 

Chướng ngại về những mối phiền não nhỏ nhặc hiện hành.

 

5-Ư HẠ THỪA BÁT NIẾT BÀN CHƯỚNG

 

Nhập Niết Bàn của bậc Hạ Thừa (La-Hán). Đó là một mối Chướng ngại vì về sau còn phải tu học thêm nữa.

 

6-THÔ TƯỚNG HIỆN HÀNH CHƯỚNG

 

Chướng ngại vì tướng thô hiện hành.

 

7-TẾ TƯỚNG HIỆN HÀNH CHƯỚNG

 

Chướng ngại vì tướng nhỏ nhặc hiện hành.

 

8-VÔ TƯỚNG TRUNG, TÁC GIA HÀNH CHƯỚNG

 

Chướng ngại vì trong chỗ không tướng mà tác hành thêm ra.

 

9-LỢI THA TRUNG, BẤT DỤC HÀNH CHƯỚNG

 

Chướng ngại vì trong chỗ lợi ích cho người ta mà chẳng chịu hành động.

 

10-Ư CHƯ PHÁP TRUNG, VỊ ĐẮC TỰ TẠI CHƯỚNG

 

Ở trong các pháp mà chưa đắc tự tại, ấy cũng là một sự chướng ngại. (Tham khảo Duy Thức Luận quyển thứ 9).

 

Ngoài ra còn có Hai Chướng và Ba Chướng.

V-HAI CHƯỚNG (deux obstructions (fr.)

 

Hai mối chướng ngại, ngăn cản.

 

1-PHIỀN NÃO – TAM MUỘI 

 

a- PHIỀN NÃO CHƯỚNG

 

Phiền Não Chướng (phiền nãochướng ngại): tức là ý kiến và sự suy nghĩ lầm lạc của phàm phu.

 

b-TAM MUỘI CHƯỚNG

 

Tam muội chướng (thiền địnhchướng ngại): khi người tu chứng được Tứ Quả, còn gọi là tứ đạo quả: 1/- Nhập Lưu gọi là Tu Đà Hườn (srotappana); 2/-Nhất Lai gọi là Tư Đà Hàm (sakragamin); 3/-Bất Lai gọi là A Na Hàm (anagamin); 4/-Bất Sanh gọi là A La Hán (arhat) và phép Vô Tranh Tam Muội, nhưng lòng còn chấp trước, tức là còn tranh. Vì vậy nên chưa được giải thoát trọn vẹn.

 

2-PHIỀN NÃO - SỞ TRI 

 

a-PHIỀN NÃO CHƯỚNG

 

Phiền não chướng: sự tối tăm phiền rầu làm não loạn tâm thần, không hiển phát được cái chơn tánh diệu minh của mình.

 

b-SỞ TRI CHƯỚNG

 

Sở tri chướng (chỗ biết là chướng ngại), cũng gọi là Trí Chướng (trí khônchướng ngại): sự chấp nệ chỗ biết, chỗ chứng của mình ngăn bít cái tánh trí huệ.

 

3-LÝ - SỰ 

 

a-LÝ CHƯỚNG

 

Lý Chướng tức là chướng ngại về lý tánh:  Bổn Giác Tâm.

Nguyên lai vốn yên lặng, trong sạch, nhưng vì người đời nhiễm bậy vô minh nên ngăn trở chánh kiến, không thể đạtchơn như. Lý Chướng cũng có nghĩa: vì chỉ kể có lý mà thôi thì chẳng thông đạt.

 

b-SỰ CHƯỚNG

 

Sự chướng (chướng ngại về sự tướng): chúng sanh bị vô minh che lấp, lăn lộn trong vòng sanh tử, chẳng biết do đâu mà giải thoát. Sự chướng cũng có nghĩa vì chấp có sự mà thôi cho nên chẳng minh đạt.

 

 Kinh Viên Giác: khi đã dứt trừ được sự chướng, bỏ hết các tham dục sẽ ngộ nhập vào cảnh giới Thinh Văn, Duyên Giác.

 

Khi dứt trừ đủ Sự-Chướng và Lý-Chướng sẽ vào cảnh giới của Bồ Tát, Như Lai.

 

4-PHIỀN NÃO - GIẢI THOÁT 

 

a-PHIỀN NÃO CHƯỚNG

 

Phiền Não Chướng (đã giải thích ở trên).

 

b-GIẢI THOÁT CHƯỚNG

 

Giải Thoát Chướng: Chứng đủ 8 phép giải thoát Tam Muội cũng còn chướng ngại. Phép thứ tám cao hơn hết là Diệt Tân Định. Nếu chẳng đắc trọn phép ấy ắt còn bị chướng ngại, chưa được giải thoát trọn vẹn.

VI-BA CHƯỚNG

 

1-BA CHƯỚNG

 

a-THAM; b-SÂN; c-SI 

 

Ba món phiền não thông thường mà các nhà tu học cần phải dứt.

 

Ba Chướng đó cũng là

 

2-PHIỀN NÃO - NGHIỆP - BÁO

 

a-PHIỀN NÃO CHƯỚNG

 

Như tham dục, sân nhuế, ngu sivô số các món chướng ngại khác tùng theo tham sân si.

 

b-NGHIỆP CHƯỚNG

 

Ngủ ngịch , thập ác.

Ngủ Nghịch: Giết Cha; Giết mẹ; giết A La Hán; Phá hòa hợp tăng;  làm thân Phật bị thương. (tham khảo A Xà Thế Vấn Ngủ Nghịch Kinh).

Thập Ác: Thân có 3 đó là : Sát sanh (pânâtipâto); Trạm cắp (âdinnâdânạm); Tà dâm (kamêsumicchâcâro).

Khẩu có 4 : Vọng ngữ (Musâvâdo); Ỷ Ngữ

(sambhâppalâpo) là nói nhơ nhớp, vô nghĩa ngữ; Lưỡng thiệt (pisunâvâcâ); Ác Khẩu (pharusavâcâ).

Ý có 3: Tham (abhijjhâ); Sân (byâpâro); Si (micchâditthi).

 

c-BÁO CHƯỚNG

 

Như bị đoạ vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, phỉ bán chánh pháp, không tin Tam Bảo.

  

Ngoài ra, Chân Như của nhân vô ngã (nhân không Chân Như) và Chân Như của Pháp vô ngã (pháp không Chân Như) gọp lại gọi là Hai Không Chân Như. Trong đó Nhị Thừa chỉ ngộ được Nhân Không Chân Như. Bồ tát thì có thể ngộ Hai Không Chân Như.

Tông Địa luận chủ trương tự thể của thức A Lại Ya thứ tám (Tông Nhiếp Luận gọi là thức A Ma La thứ chín) là tâm tư tính thanh tịnh. Tâm tự tính thanh tịnh ấy tức là Chân Như. Thức của nó vì chịu sự huân tập của vô minh, cho nên mới hiển hiện ra các hiện tượng nhơ và sạch.

Luận Đại Thừa Khởi Tín viết rằng Chân Nhưbản thể của tâm chúng sinh. Vì nó dứt tuyệt nói năng, suy tưởng nên gọi là Li Ngôn Chân Như. Nhưng nếu miễn cưỡng mà phải dùng lời nói biểu hiện thì gọi là Y Ngôn Chân Như. Cả hai Chân Như nầy gộp lại gọi là Hai Chân Như.

Đứng về phương diện Y Ngôn Chân Như mà nói thì thể của nó xa lìa tâm mê mà không, cho nên gọi là Như Thực Không (Không Chân Như). Vả lại thể của nó đầy đủ công đức thanh tịnh vô lậu rất mực trong sạch, cho nên là Chân Thực Bất Không (Bất Không Chân Như).

Đồng thời tâm chúng sinh (tức Chân Như) có đủ cả tâm Chân Như môn tuyệt đối bất động, và duyên với vô minh mà khởi động sinh diệt, rồi hình thành tâm sinh diệt môn của các hiện tượng nhơ  và sạch, là Tùy Duyên Chân Như, gộp cả hai lại cũng gọi là Nhị Chân Như.

Thông thường, đối với pháp sinh khởi vạn hửu, nếu thuyết minh theo Chân Như bất biến hoặc tùy duyên, thì gọi là Chân Như Duyên Khởi (Như Lai Tạng Duyên Khởi). Còn hai Chân Như sau đây đều là tiếng đồng loại: Thanh Tịnh Chân NhưNhiễm Tịnh Chân Như, hoặc Phi An Lập Chân NhưAn Lập Chân Như (An Lập hàm ý là khiến vạn hửu sinh khởi đều đúng vị trí).

 

Tông Hoa Nghiêm y theo thuyết tính khởi, chủ trương “bản thể tức hiện tượng”, hàm ý Chân Như vốn là muôn pháp, muôn pháp vốn là Chân Như. Đồng thời, chia Chân Như thành Nhất Thừa Chân NhưTam Thừa Chân Như.

Nhất Thừa Chân Như lại chia làm Biệt Giáo Chân Như, Đồng Giáo Chân Như.

Tam Thừa Chân Như lại chia làm Đốn Giáo Chân Như, Tiệm Giáo Chân Như, đều do lí giải Chân Như một cách bất đồng mà có sự khác nhau như thế.

Tông Thiên Thai y theo thuyết Tính Cụ, chủ trương bản thân Chân Như xưa nay vốn có đủ các pháp sạch nhơ thiện ác.

Lại tự tính (Chân Như) của chư Phật, gọi là Vô Cấu Chân Như, hoặc Xuất Triền Chân Như. Còn thể tính Chân Như của chúng sinh, vì bị phiền não làm cho nhơ bẩn, cho nên gọi là hửu cấu Chân Như, hoặc Tại Triền Chân Như. Gộp cả hai lại tức là Lưỡng Cấu Chân Như (hai Chân Như cấu bẩn).      

 

Theo luận Ma Ha Diễn quyển 3 thì Chân Như là ngộ được lý của hai trí Thủy GiácBản Giác, cho nên lập hai nghĩa Tính Chân Như và Lý Hư Không.

Hư Không thanh tịnh có 10 nghĩa: vô ngạichu biến, bình đẳng, quảng đại, vô tướngthanh tịnh, bất động, hửu không, không không và vô đắc.

 

(Tham khảo kinh Tạp A Hàm q.12, q.21; Phật Địa Kinh luận q.4, q.7; Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh luận q.12; Luận Thành Duy Thức q. 2; Luận Nhiếp Đại Thừa (bản dịch đời Lương) q. hạ; Nhiếp Đại Thừa Luận thích (bản dịch đời Đường) q.8; Đại Thừa Pháp Uyển nghĩa Lâm Chưong q.1; v.v…).

 

VII-CHÂN NHƯ CHI NGUYỆT

 

Nhờ thể ngộ Chân Như mà từ trong tất cả mê hoặc giải thoát ra được, cũng như vầng trăng sáng phá tan bóng đêm đen tối.

 

VIII-CHÂN NHƯ HUÂN TẬP

 

Nghĩa là pháp Chân Như tự huân tập tâm chúng sanh. Chân Như Huận Tập có hai loại:

Tự Thể Tướng huân tậpDụng huân tập.

 

1-TỰ THỂ TƯỚNG HUÂN TẬP

 

Chân Như là tâm tự tính thanh tịnh mà người ta ai ai cũng có sẳn. Tâm ấy có đủ nghiệp dụng không thể nghĩ bàn. Chân Như vốn tự đầy đủ các pháp vô lậu cũng thành là tính cảnh giới của trí; thường huân tập tâm chúng sinh, khiến chúng sinh dần chán ghét sinh tử, mong cầu Niết Bàn, và tin rằng mình vốn có đủ tính Chân Nhưphát tâm tu hành. Như thế gọi là tự thể tướng huân tập.

 

2-DỤNG HUÂN TẬP

 

Nếu nhờ chư Phật, chư Bồ Tát dụng sức huân của duyên ngoài khiến nghiệp thiện của chúng sinh tăng trưởng thì gọi là Dụng Huân Tập.

 

(Tham khảo Luận Thành Duy Thức Q.8;  Đại Thừa Khởi Tín Luận Nghĩa Sớ Q. hạ; v.v…).

 

IX-CHÂN NHƯ NGƯNG NHIÊN  

 

Nói đủ là  “Chân Như Ngưng Nhiên Bất Tác Chư Pháp”, thuyết của tông Pháp Tướng. Có nghĩa là Chân Như ngưng tụ vắng lặng, không một mảy may theo duyên khởi động. Tông Pháp Tướng nói Chân Nhưpháp vô vi không biến hóa, không tác dụng, chẳng vì huân tập mà sinh các pháp,  tức là lí thường trụ bất biến, bình đẳng vô tướng.

Nếu như theo duyên mà khởi động thì trái ngược với điều kiện vô vi vô tác dụng mà sẽ rơi vào pháp hửu vi sinh diệt đổi dời.

Đó là Chân Như quan của Tông Pháp Tướng, trái với thuyết Chân Như Duyên khởi của luận Khởi Tín; kiến giải mỗi mỗi đều khác, bèn diễn thành sự khu biệt Tam Thừa, Nhất Thừa.

 

 

X-CHÂN NHƯ PHÁP THÂN  

 

Pháp Thân của Như Lai lấy Chân Như làm tự tính cho nên gọi là Chân Như Pháp Thân. Chân Như là tính thực của hết thảy hiện tượngsiêu việt các tướng sai biệt. Pháp Thân Như Lai lấy đó làm tự tính, diệt trừ hết phiền não chướng, đầy đủ hết thảy pháp lành, như như bất động.

 

(Tham khảo Kinh Hợp Bộ Kim Quang Minh Q1 phẩm Tam Thân Phân Biệt; Nhiếp Đại Thừa Luận Thích (bản dịch đời Lương) Q14; v.v…).

 

XI-CHÂN NHƯ QUÁN 

 
Còn gọi là Quán Chân Như Thiền, Chân Như Thực Quán, Pháp Thân Chân Như Quán, Như Quán, Chân Như Tam Muội. Tức quán Chân Như vô tướng bình đẳng, tâm tưởng được tịch lặng, diệt trừ các phiền não.
Kinh Lăng Già quyển 3 (Đại 16, 533 thượng) viết: “Quán Chân Như Thiền là gì?  Nghĩa là quán xét nhân duyên hư dối phân biệt, biết hai thứ vô ngã một cách như thực, phân biệt hết thảy các pháp không có tướng thực thể. Lúc ấy không trụ nơi tâm phân biệt, được cảnh giới tịch lặng. Đại Tuệ!  Thế gọi là Quán Chân Như Thiền”. Nếu có thể quán xét các pháp chẳng có, chẳng không mà đạt đến hết thảy pháp vô tướng bình đẳng, thì có thể phục diệt các phiền nãohoàn toàn thành Phật Đạo.
(Tham khảo Luận Đại Thừa Khởi Tín; Đại Thừa nghĩa chương Q3; Đại thừa chỉ quán pháp môn Q3).
XII-CHÂN NHƯ TAM MUỘI 
Chân Như Tam MuộiTam Muội trụ nơi cảnh Chân Như. Trong Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự, quyển thượng, ngài Khuê Phong Tôn Mật chia Thiền làm năm loại: Ngoại Đạo Thiền, Phàm Phu Thiền, Tiểu Thừa Thiền, Đại Thừa Thiền, Như Lai Thanh Tịnh Thiền. Trong đó Như Lai Thanh Tịnh Thiền là tối thượng thừa thiền. Ngài Tôn Mật còn gọi đó là Nhất Hạnh Tam Muội, Chân Như Tam Muội, và nói Tam Muội nầy là căn bản của tất cả Tam Muội. Người vào Tam Muội nầy có khả năng ngộ ngay tức khắc tâm mình xưa nay vốn thanh tịnh, vốn không có phiền não, vốn tự đầy đủ tính trí vô lậu, tâm ấy tức là Phật và cùng với Phật không khác. Tuy nhiên các kinh luận khác nói về Nhất Hạnh Tam Muội chưa coi đó là đồng với Chân Như Tam Muội. Tên Chân Như Tam Muội là đối với cảnh mà đặt; còn tên Nhất Hạnh Tam Muội thì từ nơi pháp thực hành mà đặt. (xt. Nhất Hạnh Tam Muội).
XIII-CHÂN NHƯ THẬT TƯỚNG 
Chỉ sự chân thực của hết thảy vạn hửu. Chân Nhưthật tướng thể giống nhau, mà tên thì khác. Đứng về phương diện diệu hửu của Giả để nói thì gọi là Thực Tướng. Còn đứng về phương diện Nhất Như của Không để nói thì gọi là Chân Như. Ngoài ra thực tướng cũng là tên gọi chung của ba đế Không, Giả, Trung. Vì thế danh từ Chân Như Thực Tướng cũng thông cả ba đế Không, Giả, Trung.
(Tham khảo Vãng Sanh Yếu Tập, quyển trung; Chân Như, Thực Tướng).
XIV-CHÂN NHƯ TỊCH DIỆT TƯỚNG
Đây là nói đến vô nhiễm tịnh Chân Như trong 10 Chân Như. Nghĩa là thể của Chân Như lìa tất cả sự nhơ sạch không theo các duyên mà khởi động đổi dời, cho nên dùng tướng tịch diệt mà đặt tên.
 
XV-CHÂN NHƯ VÔ VI
Chân Như Vô Vi là một trong 6 Vô Vi của Pháp Tướng Tông. Là lý thể chân thực như thường do quán xét “Nhân, Pháp” cả hai đều không mà hiển hiện. Theo Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận Sớ,  quyển hạ, thì Pháp Tính xưa nay vốn thường vắng lặng, không biến động đổi dời, gọi là Chân Như. Loại Chân Như nầy tức chỉ cho chân tính Duy Thức của Tông Duy Thức (xt. Lục Vô Vi).
Nói thêm về Vô Vi để tiện việc tham khảo. Vô Vi, Amskrta (scr.) tiếng Pháp là Non agir nghĩa là không tạo tác, không có nhơn duyên tạo tác, không cố ý tạo tác; tự nhiên không tạo ra 4 tướng: Sanh, Trụ, Dị, Diệt. Vô Vi tức là Chân Lý, tức là Niết Bàn, Vô Tướng, Thật Tướng, Pháp Giới
Trái với hửu vi. Những cái gì có tâm ý, có sắc tướng là hửu vi; còn không tâm ý, không sắc tướng là hư không, vô vi. Hửu vi là vô thường. Vô vi là thường.
1-SÁU LOẠI VÔ VI
Vô Vi được chia làm 6 loại như sau:
a-HƯ KHÔNG VÔ VI
Vô Vi không có hình chất, không có tự tánh, không trở ngại như hư không.
b-TRẠCH DIỆT VÔ VI
Vô Vi do sự lựa chọn mà diệt hết phiền não, tức là Niết Bàn.
c-PHI TRẠCH DIỆT VÔ VI
Vô Vi đã sẳn thanh tịnh, chẳng phải do sự lựa chọn mà diệt phiền não để trở nên thanh tịnh.  (Ba món trên gọi là Tam Vô Vi).
d-BẤT ĐỘNG DIỆT VÔ VI
Vô Vi bất động, chẳng động đến nghiệp sanh tử, cũng tức là Niết Bàn.
e-TƯỞNG THỌ DIỆT VÔ VI
Vô Vi diệt trừ  tư tưởng và thọ cảm.
f-CHƠN NHƯ VÔ VI
Vô Vi chơn thiệt như thường.
2-NĂM LOẠI VÔ VI KHÁC
Ngoài ra còn có 5 loại vô vi khác nữa là :
a-VÔ VI KHÔNG
Một cảnh trong thập bát không *. Tất cả các pháp vô vi cũng đều là không. Ấy là cái lý chơn không, để đánh đổ những kẻ chấp pháp vô vi. Vì vô vi là tạm lập ra để phá pháp hửu vi chứ thật ra cả pháp vô vi cũng không tồn tại.
*Mười tám không nói trên đó là: 1/ Nội không; 2/ Ngoại không; 3/ Nội ngoại không; 4/ Không không; 5/ Đại không; 6/ Đệ nhất nghĩa không; 7/ Hủu vi không; 8/ Vô vi không; 9/ Vô thỉ không; 10/ Tánh không; 11/ Tất cánh không (tất cả là không); 12/ Tán không (tan ra thành không); 13/ Tự tánh không; 14/ Chư pháp không; 15/ Bất khả đắc không; 16/ Vô pháp không; 17/ Hửu pháp không; 18/ Vô pháp hửu pháp không.
 b-VÔ VI PHÁP
Pháp giáo không có tánh tạo tác, không có nhơn duyên tạo tác. Tức là pháp cao trội, Niết Bàn. Đối nghĩa là Hửu Vi Pháp, pháp mà người ta quyết tạo tác, pháp sanh ra bởi nhân duyên.
c-VÔ VI PHÁP THÂN
Pháp thân vô vi của Phật. Pháp thânĐức Phật chứng được sâu xa, an nhiên, tịch, tĩnh. Nó rời khỏi các nhơn duyên tạo tác, các nhơn duyên sanh diệt.
d-VÔ VI SANH TỬ
Sanh tử vô vi. Đó là cuộc sanh tử của chư Thánh, chư Phật. Các ngài trở lại cõi trần để tế độ chúng sinh, không bị vướng mắc vào nhơn duyên tạo tác như thế thường; không bị luật nghiệp quả ràng buộc, chế ngự; tâm tánh lúc nào cũng an lạc, thanh tịnh, tuy ở trong vòng sanh tử.
e-VÔ VI XÁ
Cảnh nhà vô vi. Đó là bậc tu học lấy Niết Bàn làm nơi yên nghỉ. Cho nên sống đời một cách vô vi, an tĩnh, lấy cảnh vô vi làm nhà.
CHƯƠNG BỐN- NHƯ LAI TẠNG
A-KHẢO SÁT MỘT
Khi còn trong phiền não trói buộc thì Chơn NhưNhư Lai Tạng. Khi ra khỏi phiền não thì Chơn NhưPháp Thân.
Trong Phật Tánh Luận chữ Tạng có 3 nghĩa như sau:
I-CHÂN NHƯ LẬP RA HAI NGHĨA 
1-HÒA HIỆP
Sanh ra tất cả các Pháp “nhiễm”.
2-KHÔNG HÒA HIỆP
Sanh ra tất cả Pháp “thanh tịnh”.
Tất cả các Pháp Nhiễm và Thanh Tịnh đều thuộc Như Lai Tạng, tức là Thâu Nhiếp Chơn Như, gọi là Như Lai Tạng. Tức là Chân Như thâu nhiếp tất cả Pháp. Hay gọi Như Lai Tạng là tất cả Pháp cũng cùng ý nghĩa đó.
II-CHE LẤP  
Trong phiền não, Chân Như bị che lấp tánh đức Bản Giác khiến Chân Như không hiện rỏ tánh đức chân thật nên gọi là Như Lai Tạng. Nghĩa là trong tâm tất cả chúng sanh đã có sẳn Bản Giác Như Lai nhưng đang bị phiền não che lấp đi.
III-THÂU NHIẾP
Chân Như dù trong phiền não nhưng vẫn hàm chứa, thâu nhiếp tất cả công đức quả vị của Như Lai nên gọi là Như Lai Tạng.
Ngoài 3 nghĩa nêu trên còn có những từ ngữ liên hệ đến Như Lai Tạng như sau:
IV-NHƯ LAI TẠNG TÁNH
Tánh của hết thảy chúng sanh đều sẳn chứa công đức của Như Lai nên gọi là Như Lai Tạng Tánh.
V-NHƯ LAI TẠNG TÂM
Tức là Chân Như Tâm.
VI-NHƯ LAI TÁNH
Tức là Tánh Như Lai. Đó là bản tánh chơn tịnh, Bản Giác, tự nhiên sẳn có nơi mỗi chúng sanh, còn gọi là Phật Tánh.
Kinh Niết Bàn viết: Chúng sanh chẳng có thiên nhãn, tức chẳng biết cái Chơn Ngã. Vì trong phiền não họ không thấy được rằng mình có sẳn Như Lai Tánh.
VII-NHƯ LAI TƯỚNG
Trường hợp nầy chia làm hai phần:
1-TƯỚNG MẠO, THỂ TƯỚNG CỦA ĐỨC NHƯ LAI
Tức là 32 tướng tốt chánh và 80 tướng tốt phụ của Đức Như Lai.
2-TÁNH TƯỚNG CỦA ĐỨC NHƯ LAI
Đó là: Giác Ngộ, Thiện, Thường, Lạc, Chơn Ngã, Đại Ngã, Tịnh, Giải thoát, Chơn, Thật, Thị Đạo Khả Kiến (chỉ Đạo cho người ta thấy được).
VIII-NHƯ LAI THẤT, NHƯ LAI Y, NHƯ LAI TỌA
Tức là Nhà của Đức Như Lai, Áo của Đức Như Lai, Tòa Ngồi của Đức Như Lai. Đó là 3 lối Đạo.
Nhà của Đức Như Lai: tức là nói về Đức Đại Từ Bi.
Áo của Đức Như Lai: tức là nói về tánh nhu hòa nhẫn nhục.
Tòa ngồi của Đức Như Lai: tức là nói về hiểu biết tất cả Pháp đều không.
Có nghĩa là ai có đủ 3 đức tính nêu trên thì có thể thuyết pháp giáo hóa chúng sinh, nhất là có thể thuyết giảng kinh Pháp Hoa để độ người vào Tri Kiến Phật.
IX-NHƯ LAI THỨC
Là Thức của Như Lai, cũng gọi là Phật Thức, Thức của Phật.
Để phân biệt với Thức thứ Tám, hay còn gọi là A Lại Ya thức, là thức cội rễ của tất cả chúng sanh.
Như Lai Thức là Thức Thứ Chín, gọi là Bạch Tịnh Thức hay là A Ma La Thức, Thức thuần tịnh trong sạch của Phật. Âmra, chữ Phạn, dịch là thanh tịnh, nghĩa là lìa khỏi vô minh, phiền não.
Pháp Tướng Tông lấy A Ma La Thức làm phần thanh tịnh của A Lại Ya Thức chứ không gọi là Thức Thứ Chín.
Còn Pháp Tánh Tông lập ra Thức Thứ Chín, A Ma La Thức, tức là Thanh Tịnh Thức, Vô Cấu Thức, Chơn Như Thức, Bạch Tịnh Thức, Như Lai Thức. Pháp Tánh Tông lập ra chín Thức, A Ma La Thức vốn là trong sạch không nhiễm ô, tức là cái chơn tâm thường trụ từ vô thủy của chúng sanh. Thức ấy còn gọi là Như Lai Tạng.
Từ Như Lai Tạng trong tự điển tiếng Anh đã dẫn ở phần trước được ghi như sau: “Như Lai Tạng, Tathàgatagarbha, the Tathàgata womb or store, defined as the two kinds of Tathàgata are: (1) Tại Triền: the Tathàgata in bonds, i.e. limited and subject to the delusions and sufferings of life; (2) Xuất Triền, unlimited and free from them.

The Chân Như (chên-ju) q.v.  in the midst of  “phiền não”  the delusion of passions and desires.   “Xuất Triền”,  sũtras of the Buddha’s  uttering.  The first especially refers to the chên-ju (chân như) as the source of all things. Whether compatibles or incompatibles, whether forces of purity or impurity, good or bad, all created things are in the Tathàgatagarbha, which is the womb that gives birth to them all. The second is the storehouse of the Buddha’s  teaching.

Như Lai Tạng Tâm idem Chân Như Tâm. Như Lai Tạng Tánh The natures of all the living are the nature of the Tathàgata; for which v. the Như Lai Tạng Kinh, Như Lai Tạng Luận, etc.

Như Lai Thân Tathàgatakãya, Buddha-body. Như Lai Bộ The court of Vairocana-Tathàgata in Garbhadhàtu group”.

 B-KHẢO SÁT HAI

Theo các Kinh Luận dẫn chứng bên dưới, Như Lai Tạng  được giải thích như sau:
I-NHƯ LAI TẠNG
Chữ Tạng có 3 nghĩa:

1-CHỨA ĐỰNG

 

Nghĩa là nơi chứa đựng. Chân Như ở trong chúng sinh hao gồm cả hai mặt, hòa hợp và không hòa hợp. Hòa hợp sẽ sinh ra tất cả nhiễm pháp (tức vô minh); bất hòa hợp sẽ sinh ra tịnh pháp (trong trẻo, yên lặng, tức là minh). Cả hai nhiễm pháptịnh pháp đều nhiếp thu trong Như Lai Tính, tức là Chân Như, cho nên gọi là Như Lai Tạng. Nói cách khác, Chân Như bao gồm tất cả pháp, Như Lai Tạng chứa hết thảy mọi pháp.

(Tham khảo thêm Kinh Lăng Già, q.4; Thắng Man Bảo Quật, q. hạ).

 

2-ẨN GIẤU

 

Khi Chân Như ở trong phiền não, bị phiền não che lấp mất tính đức của Như Lai, nó không biểu hiện ra ngoài được, cho nên gọi là Như Lai Tạng. Tức là cái phiền não của chúng sinh tàng giấu Như Lai.

(Tham khảo Kinh Thắng Man, Bát Nhã Lý Thú, Thắng Man Bảo Quật).

 

3-NUÔI DƯỠNG

 

Chân Như ở trong phiền não nó chứa đựng mọi công đức của quả địa Như Lai, cho nên gọi là Như Lai Tạng.

(Tham khảo Kinh Chiêm Sát, q. hạ; Khởi Tín Luận Thuật Toàn, q. hạ).

Lại nữa, tất cả các kinh tạng do Như Lai nói ra cũng gọi là Như Lai Tạng. Phẩm Tựa kinh Tăng Nhất A Hàm viết: “Người nào mà chuyên tâm thụ trì Tăng Nhất A Hàm thì sẽ thâu tóm được Như Lai Tạng. Đời nay tu hành chưa hết thì đời sau sẽ được trí cao tài”.

 

II-HAI NHƯ LAI TẠNG

 

Có hai là Không Như Lai TạngBất Không Như Lai Tạng. Nó đồng nghĩa với Không Chân NhưBất Không Chân Như.

 

1-KHÔNG NHƯ LAI TẠNG

 

Như Lai Tạng là đức danh của Chân Như. Thể Tính của Chân Như, cuối cùngkhông tịch, không có pháp nhiễm tịnh, như trong gương sáng, không có một thực chất nào nên gọi là không chứ không phải gọi cái thể của Chân Như là không.

 

2-BẤT KHÔNG NHƯ LAI TẠNG

 

Cũng gọi là Bất Không Chân Như, đối lại với Không Như Lai Tạng. Như Lai Tạng xa lìa tất cả phiền não, gọi là Không Như Lai Tạng. Còn Như Lai Tạng có đầy đủ hằng hà sa Phật Pháp chẳng thể nghĩ bàn, mà chẳng lìa, chẳng thoát, chẳng khác, gọi là Bất Không Như Lai Tạng.

(Tham khảo Kinh Thắng Man chương Không Nghĩa Ẩn Phú Chân Thật; luận Đại Thừa Khởi Tín…).

 

III-NHƯ LAI TẠNG DUYÊN KHỞI

 

Trường hợp nầy cùng nhĩa với Chân Như Duyên Khởi.

Chân Như là Thể của các Pháp. Nơi tạng chứa Chân Như được gọi là Như Lai Tạng. Chân Như muốn phát khởi ra các Pháp cần có những tác nhân của nó gọi là Duyên. Trường hợp nầy có thể gọi tóm tắc là Như Lai Tạng Duyên Khởi.

“Thể tự tướng của Chân Như, tất cả phàm phu, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, chư Phật, thảy đều có như nhau, không thêm không bớt. Không phải trước sanh, không phải sau diệt, rốt ráo thường hằng. Ngay trong bản chất, tự tánh đầy đủ tất cả công đức. Tức như Kinh nói: “Tự tánh ấy có nghĩa đại trí tuệ quanh minh, có nghĩa biến chiếu pháp giới, có nghĩa chân thật thức tri, có nghĩa tự tánh thanh tịnh tâm, có nghĩa thường lạc ngã tịnh, có nghĩa thanh lương bất biến tự tại, đầy đủ mọi nghĩa của pháp Phật là bất ly, bất đoạn, bất dị, bất khả tư nghì, nhiều hơn số cát sông Hằng, đầy đủ tất cả, không thiếu một nghĩa cỏn con nào, gọi là Như Lai Tạng. Cũng gọi là Như Lai Pháp Thân.”

 

Trong một đoạn khác, luận nầy nói rỏ hơn về Như Lai Tạng dưới hình thức hỏi đáp như sau:

“Hỏi: Trước nói Chân Như, tự thể của nó bình đẳng, xa lìa mọi tướng, vì sao ở đây lại nói thể ấy có các công đức nhiều như vậy?

Đáp: Tuy nó quả thật có các công đức ấy, nhưng chúng không có tướng sai khác, tất cả đều nhất vị bình đẳng cùng một Chân Như duy nhất. Nghĩa ấy thế nào?

  •  Vì không phân biệt, vì lìa tướng phân biệt cho nên không hai.

Lại vì nghĩa gì mà nói chúng có sai biệt?

  • Đó là nương vào tướng sanh diệt của Nghiệp Thức mà nói để hiển thị.

Nhưng hiển thị thế nào?

  • Tất cả các Pháp vốn dĩ do một Tâm, không hề có Niệm, nhưng vì có vọng Niệm, bất giác Niệm khởi mà thấy có các cảnh giới, cho nên nói là Vô Minh.  

Tánh của tâm không khởi niệm, đó là nghĩa Đại Trí Tuệ Quang Minh.

Nếu Tâm dấy khởi cái thấy, thời có cái mà Tâm không thấy. Tánh của Tâm xa lìa cái thấy, đó là nghĩa Biến Chiếu Pháp Giới.

Nếu Tâm có động, tức không phải tri thức chân thật, không có tự tánh, chẳng phải thường, chẳng phải lạc, chẳng phải ngã, chẳng phải tịnh, mà là nhiệt não suy biến, không phải tự tại, cho đến có đủ tất cả vọng nhiễm nhiều hơn nhiều hơn số cát sông Hằng.

Đổi lại các nghĩa ấy, nếu Tánh của Tâm không động thời ngược lại có các tướng công đức thanh tịnh thị hiện, cũng nhiều hơn số cát sông Hằng.

Nếu Tâm dấy khởi cái thấy, mà lại chỉ thấy những cái trước mặt có thể Niệm được, thời còn thiếu những cái không thấy được. Cái Tịnh với vô lượng công đức như vậy, tức là cái Nhất Tâm. Nó lại không có cái bị Niệm cho nên đầy đủ thanh tịnh, gọi là Pháp Thân, kho chứa dấu Như Lai.”

Đoạn trên nêu rỏ Chân Như tự thể của nó không có tướng sai biệt. Nhưng sở dĩ có các tướng sai biệt là do tướng sanh diệt của nghiệp thức mà ra.

 

Tóm lại đoạn luận trên có thể tóm kết như sau: Để đáp lại câu hỏi tại sao trước kia nói Chân Như không có tướng mà đây lại nói có các công đức, có ba ý chính được nêu ra như sau:

(1)         Các công đức ấy có thật nhưng không có tướng sai biệt, vì tất cả đều đồng đẳng nhất vị và đều là một Chân Như duy nhất, xa lìa tướng phân biệt.

(2)         Khi nói các công đức ấy có sai khác nhau là y cứ vào Tướng của Nghiệp thức mà nói.

(3)          Nếu Tướng của Nghiệp thức có bao nhiêu nhiễm ô thì ngược lại Tướng của Chân Như có bấy nhiêu công đức thanh tịnh .

 

 Ví dụ: khởi niệm là vô minh thì ngược lại không khởi niệm là đại trí tuệ quang minh. Khởi niệm kiến chấp, không thể thấy biết cùng khắp, ngược lại, không khởi kiến chấpbiến chiếu pháp giới.

Tâm động thì không phải chân thật thức trí, không tự tại, không thường, không lạc, không ngã, không tịnh…cho đến vô lượng nhiễm ô khác không thể kể xiết. Ngược lại, Tâm không động cũng có vô lượng vô biên công đức không thể kể xiết. Cái thanh tịnh đầy ấp các công đức ấy gọi là Pháp Thân. Đó là kho tàng chứa Như Lai hay gọi là Như Lai Tạng…

 

Ta hãy đọc tiếp đoạn sau của luận nầy để biết luận chủ muốn giải rõ về về Pháp Thân và tướng Sắc.

“Hỏi: Pháp Thân của chư Phật xa lìa tướng Sắc, vì sao lại có thể hiện ra tướng Sắc được?

Đáp: Chính ngay Pháp Thân ấy là Thể của Sắc, vì vậyhiện ra nơi Sắc. Đó là cái được gọi là: Từ trong bản chất, Sắc và Tâm không hai. Vì Tánh của Sắc tức là Trí, cho nên thể của Sắc vô hình gọi là Trí thân (Thân trí). Vì tánh của Trí tức là Sắc, cho nên nói Pháp Thân hiện ra khắp nơi. Sắc bị hiện ra, không có chia cắt, chỉ tùy theo Tâm mà thị hiện vô lượng Bồ Tát, vô lượng báo thân, vô lượng trang nghiêm trên khắp thế giới mười phương, mỗi mỗi sai khác, đều không chia cắt, nhưng không ngăn ngại nhau. Đó không phải là cái mà sức phân biệt của tâm thức có thể biết được, vì nó là Dụng tự tại của Chân Như vậy.”

Trên đây phải chăng luận chủ đã viện dẫn lý Bát Nhã “sắc tức thị không” (Tánh của Sắc tức Trí, cho nên gọi thể của Sắc vô hình là Trí thân). Khi luận chủ viết “Tánh của Trí tức Sắc, cho nên gọi Tánh ấy là Pháp Thân hiện ra khắp nơi” , phải chăng đây là khái niệm của Không tức thị Sắc? Nghĩa Bất Nhị nầy tùy theo góc độ nhìn vấn đề trong mỗi lúc.

         

Cũng trong luận nầy, đoạn sau đây luận chủ dẫn giải về Sanh Diệt Môn và Chân Như Môn:

“Lại nữa, phải ngay từ Sanh Diệt Môn mà đi vào Chân Như Môn. Như trong Kinh nói: Ruồng khắp năm uẩn, uẩn Sắc cũng như uẫn Tâm, và cảnh giới sáu trần, tất cả đều rốt ráo vô niệm. Vì Tâm không hình tướng, rong khắp mười phương, không đâu tìm thấy. Như người đi lạc đường gọi Đông là Tây nhưng phương hướng thì thật không thay đổi. Chúng sanh cũng vậy, vì bị vô minh mê hoặc, gọi Tâm là Niệm, nhưng Tâm thật không động. Nếu ra sức quán sát, biết Tâm vốn vô niệm thì liền được tùy thuận mà vào Chân Như Môn.”

Cốt lõi của đoạn trên là hành giả phải quán sát thế nào để chứng ngộ biết Tâm vốn là Vô Niệm, được như thế liền được tùy thuận mà vào được Chân Như Môn.

Trong luận Khởi Tín nầy lấy Nhất Niệm vọng động làm tiền đề, và lấy Vô Niệm làm hậu kết, để xây dựng Giáo Nghĩa. Đó là luận lý “Tiền hậu tương cố”. Cách lý luận nầy như ta đã đọc, thật vô cùng chặt chẽ.

IV-NHƯ LAI TẠNG TÂM, CÒN GỌI LÀ CHÂN NHƯ TÂM

Nói về Như Lai Tạng, trong luận Đại Thừa Khởi Tín viết: “Hiển thị chánh nghĩa là nương nơi một pháp Nhất Tâm mà chia thành hai môn. Hai môn ấy là gì?
Một là môn Chân Như
Hai là môn Sanh Diệt
Cả hai môn ấy đều thâu tóm tất cả các Pháp. Nghĩa ấy thế nào? Vì hai môn ấy không rời nhau”.
 V-CHÂN NHƯ MÔN: NÓI VỀ TÂM CHÂN NHƯ
Chân Như trong luận viết chính là Tâm Chân Như hay là Như Lai Tạng Tâm cũng cùng tên gọi.
 “Tâm Chân Như tức là thể của pháp môn Nhất Pháp Giới Đại Tổng Tướng. Đó là cái bất sanh bất diệt của tâm tánh. Tất cả các Pháp chỉ nương nơi vọng niệm mà có sai khác. Nếu lìa vọng niệm thời không có tướng của bất cứ cảnh giới nào. Cho nên tất cả các Pháp, ngay trong bản chất, lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng danh tự, lìa tướng tâm duyên, rốt ráo bình đẳng, không đổi khác, không thể phá hoại. Chỉ là NHẤT TÂM,  cho nên gọi là Chân Như.”
Như thế rỏ ràng luận nầy gọi Chân NhưNhất Tâm. Chân Như ấy là thể của pháp môn “Nhất Pháp Giới Đại Tổng Tướng”.
Vậy thì Pháp Môn ấy là gì?
Đó là Pháp Môn Như Lai Tạng, đề tài mà luận nầy thuyết minh. Nhưng vì sao Như Lai Tạng lại gọi là Nhất Pháp Giới Đại Tổng Tướng?
Nhất Pháp Giới hay Nhất Chân Pháp Giới nghĩa là cõi pháp chân thật toàn vẹn. Chữ Nhất đây không có nghĩa là Một mà là có nghĩa Toàn thể. Trong cõi pháp, tất  cả các pháp thế gianxuất thế gian thảy đều trọn vẹn bị nhiếp thâu trong đó. Không một pháp nào nằm lọt ra ngoài cho nên gọi là Nhất Pháp Giới. Nói cách khác đó chính là Nhất Tâm, tức là  Tâm duy nhất. Nhất Tâm dàn trãi khắp pháp giới.
Sau đây xin nói thêm về Nhất Thể và Tự Thể của Nhất Tâm,  có 10 điểm khác nhau:
(1)         Nhất thể không có tạp loạn
(2)         Không có sai khác
(3)         Nhất đạo thanh tịnh, không có ngã rẽ
(4)         Xa lìa tác nghiệp
(5)         Không mê chướng, không đối trị
(6)         Không khứ không lai, không trên không dưới
(7)         Không có sanh trụ dị diệt
(8)         Không có tu chứng
(9)         Không có tướng khác
(10)     Không có hư ngụy.
 
Sau đây là 10 đim trái li ca t th:
(1)         Tự Thể nhiếp trì tất cả các Pháp nhiễm và tịnh.
(2)         Có sai khác
(3)         Có ngã rẽ, vì tuy Mê nhưng bên trong vẫn cất giấu Pháp Thân Như Lai Tạng.
(4)         Liên tục tác nghiệp
(5)         Có mê chướng và có đối trị
(6)         Có khứ có lai, có trên có dưới
(7)         Có sanh trụ dị diệt
(8)         Đầy đủ nhân duyên lưu chuyễn và nhân duyên hoàng diệt.
(9)         Không có pháp tự thành lập.
(10)     Có tướng vô thường.
Ngược về phần Lập Nghĩa của luận nầy có đoạn nói về Thể, Tướng và Dụng như sau: “Mục nói về Nghĩa gồm có ba loại: Thế nào là ba loại?  Một là đề mục lớn về Thể, tức là Chân Như bình đẳng, bất tăng bất giảm của tất cả các Pháp. Hai là đề mục lớn về  Tướng, tức là Như Lai Tạng có đầy đủ vô lượng tánh công đức. Ba là đề mục lớn về  Dụng, vì nó có công năng sanh ra tất cả nhân quả lành thế gianxuất thế gian.”
Như thế có nghĩa là: Tự Thể là chỉ ngay vào Tâm chúng sanh mà nói. Tự tướngNhư Lai Tạng với hằng hà sa tánh công đức cất giấu trong Tâm chúng sanh. Tự dụng là cái công năng của Tâm chúng sanh khởi tất cả nhân quả lành thế gianxuất thế gian.
Phần trên Luận đã nói về Nhất Tâm, sau đây Luận nói rõ thế nào gọi là Chân Như.
“Vì tất cả ngôn thuyết đều là giả danh không thật. Tướng ngôn thuyết chỉ do vọng niệm sanh ra, không thể nắm bắt cái thật. Nói là Chân Như nó cũng chẵng có tướng. Chẳng qua là đến chỗ cùng cực của ngôn thuyết thì tạm dùng ngôn thuyết để khử bỏ ngôn thuyết. Còn thể của Chân Như thì không thể khử bỏ được. Vì tất cả các Pháp thảy đều chân thật hết. Nó cũng không phải là do ta đặt để ra. Vì tất cả các Pháp thảy đều như vậy cả. Nên biết tất cả các Pháp không thể nói, không thể nghĩ, cho nên gọi là Chân Như.”
Trong một đoạn kế tiếp với lối văn vấn đáp Luận giải đáp về vấn đề thể nhập Chân Như:
“Hỏi: Nếu Chân Như là như vậy thì làm sao chúng sanh có thể tùy thuậnđắc nhập Chân Như?
Đáp: Nếu biết tất cả Pháp, tuy nói (thuyết) nhưng không có năng thuyết có thể nói được; tuy nghĩ (niệm) nhưng không có năng niệm có thể nghĩ được. Như vậy, gọi là tùy thuận Chân Như. Còn nếu lìa được Niệm thì gọi là đắc nhập Chân Như.”
Theo đoạn trên chúng ta hãy suy niệm về từ  “Chân Như theo ngôn thuyết”  mà đoạn kế tiếp đã đưa ra hai từ nữa là  “KHÔNG NHƯ THẬT”  và BẤT KHÔNG NHƯ THẬT:
“Lại nữa, Chân Như theo ngôn thuyếtphân biệt thì có hai nghĩa: Một là KHÔNG NHƯ THẬT, vì nó rốt ráo phơi bày sự thật. Hai là BẤT KHÔNG NHƯ THẬT vì nó có tự thể đầy đủ tánh công đức vô lậu.”
Đoạn trước đứng trên lập trường ly ngôn để hiển bày thể tánh.
Đoạn nầy đứng về lý giải y ngôn để giải bày tướng trạng.
Hai nghĩa Không và Bất Không sau đây đề cập đến hai tướng của Chân Như.
1-KHÔNG NHƯ THẬT
Tại sao gọi là KHÔNG vì không một nhiễm pháp nào tương ưng với thể của Chân Như, cho nên gọi thể ấy là Không.
Ngoài thì lìa tướng sai biệt của các pháp, tức là lìa cảnh. Trong thì không khởi niệm hư vọng tức là dứt tâm. Tâm và cảnh đều bặt dứt đó là cái Không rốt ráo như thật.
 “Cái được gọi là Không là vì từ trong bản chất, không có nhiễm pháp nào tương ưng. Nghĩa là nó lìa tướng sai biệt của tất cả các pháp, vì nó không có tâm niệm hư vọng.”
Đoạn sau đây nói về “ly Tứ Cú, tuyệt Bách Phi” trong giáo lý Bát Nhã. Nội dung lắp đi lắp lại rất khó hiểu và dễ suy diễn lầm lạc nên xin viết thêm phần nguyên văn Hán Văn để dễ so sánh.
“Nên biết tự tánh của Chân Như chẳng phải tướng có, chẳng phải tướng không, chẳng phải chẳng phải tướng có, chẳng phải chẳng phải tướng không, chẳng phải tướng có và không lẫn lộn. Chẳng phải tướng một, chẳng phải tướng khác, chẳng phải chẳng phải tướng một, chẳng phải chẳng phải tướng khác, chẳng phải tướng một và tướng khác lẫn lộn.” (Đương tri Chân Như tự tánh, phi hửu tướng, phi vô tướng, phi phi hửu tướng, phi phi vô tướng, phi hửu vô cầu tướng. Phi nhất tướng, phi dị tướng, phi phi nhất tướng, phi phi dị tướng, phi nhất dị  cầu tướng.)
Nói về Tứ Cú gồm có: Hửu, Vô, Phi Hửu, Phi Vô; hoặc là : Nhất, Dị, Phi Nhất, Phi Dị.
Hửu, Vô là nói về những chấp trước sai lầm trong nội bộ Phật Giáo.
Nhất, Dị là nói về những chấp trước sai lầm của các ngoại đạo.
Bách Phi nghĩa là mọi tướng ngôn thuyếttâm duyên đều sai trái.
Nếu lìa được Tứ Cú, dứt được Bách Phi thì thật thể Bát Nhã hiễn hiện bình đẳng. Thật thể đó chính là Không Như Thật.
Để tóm kết phần nầy Luận viết:
“Tóm lại, chúng sanh vì có vọng tâm, niệm niệm phân biệt, nhưng đều không tương ưng, cho nên nói là Không. Nếu lìa vọng tâm ra thì thật cũng không có cái Không để mà nói”.
2-BẤT KHÔNG NHƯ THẬT
Luận Đại Thừa Khởi Tín viết tiếp về Bất Không như sau:
“Sở dĩ gọi Bất Không là vì như đã nói trên, Pháp thể là Không, không có vọng nhiễm, đó tức là Nhất Tâm, thường hằng bất biến, đầy dẫy pháp tịnh,  nên gọi là Bất Không. Cũng không có tướng có thể nắm bắt, vì là cảnh giới ly niệm, chỉ do chứng nhập thì mới tương ưng mà thôi.”
Đoạn trên đây nói về pháp “thường hằng bất biến” đó là Bất Không. Vì nó là Nhất Tâm, thường hằng bất biến, đầy dẫy pháp tịnh. Không thể nghĩ bàn, chỉ khi nào hành giả chứng nhập pháp ấy mới tương ưng thể nghiệm được mà thôi!
Không và Bất Không đây có thể hiểu là Chân Không và Diệu Hửu trong hệ tư tưởng Bát Nhã. Nhưng trong Luận nầy triễn khai một cách dễ hiểu hơn.
Riêng về Diệu Hửu nó được minh thịtự tướng của thật thể Chân Không với một tên mới là “Nhất Pháp Giới Đại Tổng Tướng” hay nói gọn hơn là Như Lai Tạng.
VI-SANH DIỆT MÔN: TÂM SANH DIỆT
Đoạn nầy cũng tiếp tục phân tích về Sanh Diệt Môn trong luận Khởi Tín .
“Sở dĩ có sự  sanh diệt của Tâm là vì nương vào Như Lai Tạng mà có tâm sanh diệt. Đây nói Bất Sanh Bất Diệt cùng sanh diệt hòa hợp, chẳng phải một, chẳng phải khác được mệnh danh là thức A Lại Ya.”
Vì có liên quan đến sanh diệt nên không thể không đề cập đến thức A Lại Ya. Vì thức ấy có công năng hàm chứa tất cả các Pháp trong dạng Tạng Thức  (năng tàng, sở tàng và ngã ái chấp tàng). Và nó lại phát khởi ra các Pháp gọi là khởi ra hiện hành…
“Thức ấy có công năng thâu vô tất cả các Pháp và sanh ra tất cả các Pháp. Thức nầy gồm có hai nghĩa.  Một là nghĩa Giác. Hai là nghĩa Bất Giác.”
Nói tâm động tức là luận về tự tướng của nó động. Còn thể của tâm luôn luôn tĩnh lặng không thay đổi bản chất. Ví dụ như nước là thể không thay đổi chỉ có sóng là tướng động của nước  thì có thay đổi. Thế nhưng sóng là từ nước mà ra nên có sự tranh luận về Tướng và Thể  nầy.
Theo luận Khởi Tín thì thể không thể động, chỉ có tướng mới động mà thôi.
Tất cả nhân quả Nhiễm và Tịnh thảy đều do tác động huân tập biến hóa qua lại xảy ra trong Thức A Lại Ya, giữa Chân và Vọng. Vì thế nên nói thâu vô tất cả Pháp và sanh ra tất cả Pháp.
Từ đoạn luận trên đã nói đến từ GIÁC, do đó sau đây sẽ bàn đến Giác trong phần Tâm Sanh Diệt nầy.
1-GIÁC
Giác là nói về Phật Tánh sáng suốt sẳn có của chúng sinh, chính là Như Lai Tạng. Đó cũng là Pháp Thân của chư Phật.
“Sở dĩ gọi “Giác” là vì chỉ cái thể của tâm ly niệm. Tướng của tâm ly niệm ngang bằng hư không, không đâu không khắp. Tướng nhất của Pháp Giới tức Pháp Thân Bình Đẳng của Như Lai. Nương vào Pháp Thân ấy gọi là Bản Giác.”  
“Tướng Nhất của Pháp Giới” được hiểu là chỉ có một, không hai không khác. Vì đó là Bản Giác, là Pháp Thân Bìng Đẳng của chư Phật.
Kinh Đại Niết Bàn viết: “Ta ở trong thân của tất cả chúng sanh mà thành Chánh Đẳng Chánh Giác”, hoặc là: “Chúng sanh đã thành Phật từ kiếp xa xưa” là dựa vào nghĩa Giác nầy mà nói.
Nói về Giác không thể không đề cập đến các từ liên hệ. Đó là  Bất Giác, Thủy Giác, Cứu Cánh Giác.
“Vì sao vậy? Vì nghĩa Bản Giác là đối với Thủy Giác mà nói. Nhưng Thủy Giác cũng tương đồng với Bản Giác. Thủy Giác nghĩa là nương vào Bản Giác cho nên nói có Bất Giác, nương vào Bất Giác cho nên nói có Thủy Giác. Lại nữa vì Giác thấu nguồn tâm cho nên gọi là cứu cánh Giác. Giác chưa  thấu nguồn tâm gọi là phi cứu cánh giác.”
Tánh giác vốn có nơi tất cả chúng sinh nên gọi là Bản Gíác. Bản Giác cũng chính là Pháp Thân Bình Đẳng của Như Lai. Nếu hành giả chuyên tu để chứng đắc Bản Giác ấy gọi là Thủy Giác. Vậy Bản Giác là tánh giác bản hửu. Thủy Giác là tánh giác do tu chứng đắc. Như vậy tuy tên gọi khác nhau nhưng Bản và Thủy hoàn toàn tương đồng nhau.
Tại sao lại có từ Bất Giác? Bản Giác vốn có xưa nay không hề thay đổi. Chỉ vì nhất niệm vọng động nên sinh ra Bất Giác. Đứt trừ vọng niệm trở về tánh giác, tâm thanh tịnh gọi là Thủy Giác. Lúc bấy giờ Thủy Giác soi thấu tận cùng nguồn tâm, nghĩa là hoàn toàn giác ngộ thì gọi là Cứu cánh Giác. Giác chưa soi thấu nguồn tâm thì gọi là Phi Cứu Cánh Giác.
Về đối tượng của Thủy Giác là thể của Tâm Ly Niệm. Tâm Ly Niệm là Chân Tâm xa lìa nhất niệm vô minh tối sơ. Nhưng nhất niệm đó có thật không?  Nó có tướng trạng gì không? Nếu nó thật có tướng thì nó phải chuyển qua 4 giai đoạn là Sanh, Trụ, Dị , Diệt như các Pháp trên thế gian. Đó là tiến trình sanh khởi luận theo chiều thuận. Nếu đặt vấn đề diệt trừ tướng niệm để trở về nguồn tâm,  khi nhất niệm chưa sanh ra thì phải khảo sát theo chiều nghịch là Diệt, Trụ, Dị , Sanh.
Khi đã dứt trừ hết tướng niệm, nghĩa là khi đã thấy rỏ tướng niệm chỉ là ảo tưởng, lúc ấy tất cả đều qui về một nguồn tâm duy nhất. Pháp Thân Chân Thật hiển hiện trọn vẹn. Đó là tướng của Tâm Ly Niệm. Trạng thái ấy gọi là Cứu Cánh Giác.
Luận viết tiếp:
“Nghĩa ấy thế nào?  Như người phàm phu vì Giác biết niệm trước khởi ác nên chận đứng niệm sau, khiến không sanh khởi được. Tuy cũng gọi là Giác nhưng cũng chỉ là Bất Giác.
Như bậc quán trí Nhị ThừaBồ Tát sơ phát tâm, giác biết tướng Dị của niệm. Nhưng Niệm không có tướng Dị, vì đây chỉ là xả bỏ các tướng chấp trước phân biệt thô trọng cho nên gọi là Tương Tợ Giác.
Như hàng Bồ Tát Pháp Thân, giác biết tướng Trụ của Niệm. Nhưng Niệm không có tướng Trụ, vì đây là xa lìa tướng Niệm thô trọng phân biệt cho nên gọi là Tùy Phần Giác.
Như hàng Địa Tận Bồ Tát, đầy đủ phương tiện tu hành, trong một tích tắc tương ưng với Nhất Tâm. Tâm không có tướng sơ, vì đến đây là xa lìa được vọng niệm vi tế, thấy rỏ tâm tánh, tâm liền an trú vĩnh viễn, gọi là Cứu Cánh Giác.”     
Ta thấy đoạn văn trên đây Luận Sư đưa ra giả thiết rằng Niệm có thật Tướng. Mà đã là có tướng thì phải chuyễn biến qua 4 giai đoạn đó là Sanh, Trụ, Dị, Diệt giống như tất cả các tướng hiện hửu trong vũ trụ nầy. Luận Sư giả thiết bốn tướng của một Niệm để khảo sát từng trường hợp một, xem thử có thật có bốn tướng ấy không. Nếu các tướng ấy có nhưng chỉ là hư giả thì đương nhiên Niệm chỉ là hư dối.
Như thế khi nói diệt Niệm, đối tượng bị diệt không phải là Niệm hư dối ấy mà là những tướng sai biệt lăng xăng hiện ra trong tâm chúng sanh. Hành giả do công phu tu tập đã diệt trừ được chúng để đạt đến Giác Ngộ hoàn toàn.
“Cho nên Kinh nói: nếu chúng sinh nào quán được Vô Niệm, hành giả đó đang hướng tới Phật Trí”.
“Lại nữa, tâm khởi thật không có tướng sơ có thể biết được. Nói biết tướng sơ tức là nói Vô Niệm. Cho nên tất cả chúng sanh không gọi là Giác, vì ngay trong bản chất vốn là niệm niệm tiếp nối, chưa hề lìa khỏi. Cho nên gọi đó là Vô Minh Vô Thủy. Nếu chứng đắc Vô Niệm thời biết bốn tướng sanh, trụ, dị, diệt của tâm, vì chúng đồng với Vô Niệm. Mà thật ra cũng không có tánh giác nào khác mệnh danh là Thủy Giác, vì bốn tướng cùng có một lần và đều không tự lập, bản lai đồng đẳng, cùng một tánh Giác”.   
Đoạn nầy tái minh xác Vô Niệm chính là Giác. Ngược lại, hễ còn Niệm là còn Bất Giác. Chúng sinh sở dĩ trôi lăn qua vô lượng kiếp sinh tử luân hồi chỉ vì một Niệm Bất Giác nầy cho nên gọi là Vô Minh Vô Thủy. Còn gọi là Vô Minh căn bản.
Nếu chứng đắc Vô Niệm thì biết bốn tướng sanh, trụ, di, diệt vốn đồng đẳng với Vô Niệm. Kể cả Thủy Giác cũng không có vì bốn tướng đều cùng có đồng thời, đều không tự lập, đều đồng đẳng và đều cùng có một tánh giác với Vô Niệm.
Đoạn trên là nói về Thủy Giác.
Sau đây nói về Bản Giác. Bản Giác có hai tướng: Tướng Trí Tịnh và Tướng Bất Tư Nghì Nghiệp.             
“Lại nữa, Bản Giác ra khỏi tạp nhiễm, sanh xuất hai tướng, cùng với Bản Giác không lìa bỏ nhau.
“Một là Tướng Trí Tịnh. Hai là Tướng Nghiệp Không Thể Nghĩ Bàn”.
Hành giả khi đã tu gội sạch phiền não tạp loạn trở về Bản Giác thuần tịnh. Nhờ có Bản Giác huân tập bên trong nên mới dấy khởi trí Thủy Giác, chuyễn nhiễm thành tịnh, vả do đó mới có sinh ra Tướng Trí Tịnh và Tướng Nghiệp Không Thể Nghĩ Bàn. Hai tướng nầy là hai tướng dụng của Bản Giác, mà đã là Dụng thì không lìa thể nên nói là không lìa bỏ nhau.
Tướng Trí Tịnh tức là Tướng Trí Tuệ Thuần Tịnh. Tướng Nghiệp Không Thể Nghĩ Bàn tức là Tướng Nghiệp Dụng Huyền Diệu.
Đoạn văn tiếp theo nói rõ hơn về Tướng Trí Tịnh.
a-TƯỚNG TRÍ TỊNH
“Tướng Trí Tịnh là bởi nương vào sự huân tập của pháp lực, tu hành như thật, đầy đủ phương tiện rồi thì phá tướng thức hòa hiệp, diệt tướng tâm tương tục, hiển hiện pháp thân cho nên Trí Tuệ Thuần Tịnh”.
Sự huân tập của Pháp Lực nghĩa là bên trong thì nương vào sức nội huân của Bản Giác, bên ngoài thì nương vào ngoại huân của Giáo Pháp. Đó là nói về giai đoạn tu quán của Tam Hiền.
Thế nào là đầy đủ phương tiện?
Khi các pháp tu quán đều đã sử dụng và tất cả đều thành thục tinh luyện thì gọi là đầy đủ phương tiện.
Lên Bát Địa thì thâm chứng Chân Như, dần dần phá được tướng Thức Hòa Hợp (tức là A Lại Ya thức), diệt được tướng Tâm Tương Tục (tức ba tướng vô minh vi tế là: Niệm, Chuyển và Nghiệp). Lúc nầy Chân Tâm đã tẩy sạch các duyên nhiễm ô, Pháp Thân hiển hiện, thể tánh của  Bản Giác hoàn toàn trở lại thanh tịnh. Đó gọi là Tướng Trí Tịnh.
“Nghĩa ấy thế nào? Vì mọi tướng của tâm thức đều là Vô Minh.
Tướng của Vô Minh không rời tánh giác. Chẳng phải có thể phá hoại, cũng chẳng thể không thể phá hoại. Như nước bể cả, vì gió thổi mà có sóng động, tướng nước, tướng sóng không rời nhau nhưng nước chẳng phải tánh động. Nếu gió ngừng thổi thì tướng động cũng dứt, tánh ướt không hoại diệt. Cũng như thế, tâm tự tánh thanh tịnh của chúng sanh vì gió Vô Minh lay động, tâm và vô minh đều không có hình tướng và không rời bỏ nhau, nhưng tâm chẳng phải tánh động.
Nếu vô minh diệt thì tướng tương tục diệt, nhưng tánh trí không hư hoại.”  
Vì đoạn trước có nói đến thức hòa hợp diệt và diệt tướng tâm tương tục. Cho nên đoạn nầy giải rỏ hơn tướng diệt và thể thường hằng của Tâm. Thức Hòa hợp chính là A Lại Ya, nó là cái Tâm sanh diệt ấy. Tâm tương tục cũng chính là A Lại Ya. Trong A Lại Ya bất sanh diệt và sanh diệt hòa hợp nhau. Nếu nói phá tướng thức hòa hợp và tướng tâm sanh diệt thì liệu Khởi Tín Luận có chủ trương cái thể của Tâm ấy có diệt theo không? Nếu có thì ra Khởi Tín chủ trương đoạn luận rồi?
Thế nhưng đoạn trên đã giải rõ: tất cả các tướng của Tâm Thức đều là Vô Minh. Nhưng vì Vô Minh nương vào Chân Tâm (Như Lai Tạng) mà khởi lên cho nên Tướng và Thể không rời nhau. Do đó cho nên Tướng và Thể chẳng phải một và chẳng phải khác. Vì không phải một nên tướng có thể hư hoại, và không phải khác nên thể không hư hoại.
Tóm lại: vì Vô Minh không rời tánh Giác, thể của nó là không nên nói cả hai đều không hình tướng. Nhưng Vô Minh là tướng nên có thể diệt, ngược lại Giác là thể nên thường hằng thanh tịnh. Cũng như thế tướng sanh diệt của Tâm thì có thể diệt nhưng thể bất sanh diệt thuần tịnh của Tâm thì thường hằng Bản Giác.
b-TƯỚNG NGHIỆP KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN
“Tướng Nghiệp Không Thể Nghĩ Bàn là nương nơi tướng Trí Tịnh mà có thi tác, hóa hiện ra mọi cảnh giới thù thắng vi diệu. Vì thế Tướng ấy được gọi là Tướng Công Đức Vô Lượng, thường hằng không đoạn tuyệt. Tùy theo căn cơ chúng sanhtương ứng tự nhiên, hiện ra đủ loại cảnh giới, khiến được lợi ích.”
Ví dụ 32 tướng ứng thân của Bồ Tát Quan Âm thuộc loại tướng nghiệp không thể nghĩ bàn nầy. Kinh dạy: “sanh diệt diệt xong, tịch diệt hiện tiền” nghĩa là khi thoát khỏi vòng sanh tử thì tịch diệt hiện ra trước mắt. Được vào cảnh giới  Từ của chư Phật và cùng chúng sanh trong sáu nẽo chung một Bi ngưỡng. Mọi diệu dụng khó có thể nghĩ bàn do đây mà có. Đây là Tự Thể và Diệu dụng của Bản Giác sau khi xuất triền.
c-BỐN NGHĨA LỚN 
Sau đây luận nầy nói về bốn nghĩa của Bản Giác bản hửu dưới dẫn dụ của bốn tấm gương. Đó là Gương Như Thật Không, Gương Nhân Huân Tập, Gương Pháp Xuất Ly, và Gương Duyên Huân Tập.
“Tướng của Giác Thể có bốn nghĩa lớn, nó mênh mông ngang bằng hư không, như bốn tấm gương trong sáng.
Bốn nghĩa ấy là gì?
Một là gương như thật không: xa lìa tất cả các tướng cảnh giới của tâm, không một pháp nào có thể hiện ra trong đó, vì đây không phải nghĩa giác chiếu.
Hai là gương nhân huân tập: tức huân tập của như thật bất không. Tất cả các cảnh giới thế gian đều hiện ra trong đó, không ra  không vào, không mất không hư hoại, nhất tâm thường trú, vì tất cả các pháp đều là tánh chân thật. Lại vì tất cả các nhiễm pháp không thể nhiễm ô được, trí thể không động, đầy đủ công đức huân tập chúng sanh.
Ba là gương pháp xuất ly: nghĩa là vì như thật bất không ra khỏi phiền não ngạitrí ngại, lìa tướng hòa hợp, thuần tịnh sáng suốt.
Bốn là gương duyên huân tập: nghĩa là vì nương nơi pháp xuất ly nên soi thấu khắp tâm chúng sinh, khiến tu tập căn lành, tùy niệmthị hiện.”
Bản Giác trùm khắp pháp giới nên gọi là lớn. Vì nội dung nào cũng thấu suốt, trong suốt nên ví như bốn tấm gương. Gương số một là nghĩa Bản Giác trong tự thân (chỉ tự thân của Bản Giác). Gương số ba là nghĩa Bản Giác sau khi xuất triền (ra khỏi phiền não chướngsở tri chướng, xả ly tướng hòa hợp của A Lại Ya). Tánh Giác vốn có, bừng sáng trở lại, như trăng ra khỏi mây. Gương số hai là nghĩa Bản Giác trong vai trò làm nhân nội huân. Chỉ Phật Tánh hay Như Lai Tạng trong tâm chúng sanh. Đây là Pháp Thân Thường Trú. Đó là tánh chân thật của tất cả các Pháp. Tánh ấy nơi vô tình chúng sinh gọi là Pháp Tánh, nơi hửu tình gọi là Phật Tánh. Tâm chúng sinh vốn có tánh ấy nên nó mới làm nhân nội huân bên trong, khiến chúng sinh chán ghét sanh tử, ưa thích Niết Bàn.
Gương số bốn là nghĩa Bản Giác trong vai trò làm nhân ngoại huân, gọi là Duyên, chỉ diệu dụng của Bản Giác. Đây là nghĩa Giác Chiếu, khiến chúng sinh siêng tu căn lành, cầu mong giải thoát.  
Tóm lại, Gương số một và Gương số hai khác nhau ở nghĩa KhôngBất Không. Gương số một và Gương số ba khác nhau ở nghĩa Giác vốn có trong tự thân và mới xuất triền. Gương số một và Gương số bốn khác nhau ở nghĩa phi Giác chiếu và  Giác chiếu. Gương số hai và Gương số bốn khác nhau ở nghĩa huân tập ở ngay bên trong và huân tập từ bên ngoài vào.
Trên đây đà trình bày xong nghĩa Giác và tiếp theo đây là phần trình bày về Bất Giác.
2-BẤT GIÁC   
Bất Giác là từ Giác mà sanh khởi nhưng ngược lại Giác cũng từ Bất Giác gọt rửa mà thành.
Về sự sanh khởi của Bất Giác Luận nầy có đoạn viết: “Vì không biết Chân Nhưduy nhất đúng sự thật cho nên quờ quạng khiến tâm móng động mà sanh ra các Niệm.” Đoạn nầy ý nói Động là Bất Giác, không động là Giác. Động là Mê, không động là Giác.
“Đây nói Bất Giác có nghĩa là không biết đúng như sự thật Chân Như là pháp duy nhất, cho nên loáng choáng tâm móng lên mà sanh ra Niệm. Niệm không có Tự Tướng, chẳng rời Bản Giác. Giống như người lạc đường, vì nương vào phương hướng cho nên mới có lạc. Nếu rời phương hướng ra thì không có lạc. Chúng sanh cũng thế, vì nương nơi Giác mới có Mê. Nếu lìa tánh Giác thời không có Bất Giác. Bởi vì có tâm vọng tưởng Bất Giác, cho nên hay biết được danh nghĩa, gọi là Chân Giác.
Nếu lìa được cái tâm Bất Giác, thời cũng không có cái tướng riêng của Chân Giác có thể nói được.”   
 Trước ngài Mã Minh đã có nhiều luận phái nói về “Tất cả chúng sanh đều có Phật Tánh”  nhưng bản lai diện mục ra sao, tự thể của nó trong tâm mê muội của chúng sanh như thế nào?  Chưa có luận phái nào giải thích rỏ ràng cả. Đến khi ngài Mã Minh giảng thuyết về Đại Thừa Khởi Tín mới giải rỏ tương quan giữa Mê và Ngộ, Bất Giác và Giác. Và Ngài đã đưa ra định đề: “Niệm là do Tâm động mà sinh ra. Tâm không động thì không có Niệm. Tâm động là Mê, Tâm không động là Giác.”
Như vậy Giác và Bất Giáchai mặt của một vấn đề, theo đúng quy luật hổ tương. Liên quan đến vấn đề nầy chúng ta có thể nhớ đến câu: “Chúng sanh chỉ cần nhất niệm hồi quang là lập tức tương đồng với Bản Hửu. Ai biết được Vô Niệm thì người đó mới chứng được Pháp Thân.”   
Đoạn trên đã trình bày về Bất Giác căn bản. Bất Giác căn bản còn gọi là Vô Minh căn bản.
Tiếp theo tiếp tục trình bày về chi tiết của Bất Giác, hay còn gọi là Bất Giác chi mạt và còn gọi là Vô Minh chi mạt.
VÔ MINH CHI MẠT CHIA LÀM HAI LOẠI:
a-BA LOẠI TƯỚNG
“Vì có Bất Giác nên sanh ra ba loại tướng, cùng với Bất Giác tương ưng không rời”.
a1/-Tướng Nghiệp của Vô Minh
“Vì nương nơi Bất Giác cho nên Tâm động, gọi đó là Nghiệp. Giác thì không động, mà động thì tức có khổ, vì quả không lìa nhân.”
Tướng Nghiệp Tâm Động nầy có thể chia làm hai phần là Năng và Sở. Năng là Tướng Năng Kiến. Sở là Tướng Cảnh Giới. Cả ba tướng Nghiệp, Năng Kiến và Cảnh Giới thật ra là cùng một thể là Giác nên nói chúng cùng với Bất Giác tương ưng không rời. Vì Bất Giác nên Tâm Động. Tướng Động đó được gọi là tướng Nghiệp. Quả khổ  sanh tử là do Nghiệp gây ra. Nghiệp khởi lên từ Động niệm mà có, nên nói : “nếu chúng sanh nào quán được Vô Niệm, kẻ đó đang hướng tới trí Phật.”
a2/-Tướng Năng Kiến
“Vì nương nơi Tâm Động cho nên có Năng Kiến. Không Động thời không có Kiến.”
“Kiến” có thể hiểu là phân biệt. Đã có Năng Kiến là chủ thể
thì phải có đối tượng phân biệt đó là Sở Kiến. Sở Kiến là tướng cảnh giởi ảo vọng hiện ra trước sức triển chuyển của Năng Kiến. Vì thế cho nên Tướng Năng Kiến còn được gọi là tướng Chuyễn. Và Tướng Cảnh Giới còn được gọi là Tướng Hiện. Đó là tất cả đều xảy ra trong Tâm chúng sanh ở dạng tìm năng sâu kín, nhưng dần dần sẽ khởi ra hiện hành tức là hiện thực hóa thành những Tướng Thô Trọng.
a3/-Tướng Cảnh Giới  
“Vì nương nơi Năng Kiến cho nên cảnh giới hiện ra hư dối. Lìa Kiến thời không có cảnh giới.”Tướng Cảnh Giới còn có tên khác là Tướng Năng Hiện. Tướng nầy là đầu mối khởi lên Sáu Thô. Nó làm duyên sanh ra sáu Thô.
Tóm lại ba Tướng vừa nêu trên thuộc về Vô Minh chi mạt, nhưng ở thể tìm năng cực kỳ vi tế nên gọi là Ba Tế. Phần sau sẽ đề cập đến sáu thô trong Vô Minh chi mạt nầy.
b-SÁU THÔ
Vì có cảnh giới làm duyên nên sanh ra sáu tướng thô:
b1/-Tướng Trí
“Vì nương nơi cảnh giới, tâm sanh phân biệt, cho nên mới có ưa thích và không ưa thích.”
Phần trên đã nói về Tướng cảnh giới, nhưng chỉ có ở thể tìm năng, chưa xảy ra trên hiện thực. Từ đây trở đi vọng niệm dần dần hiện ra trong cảnh giới hiện thực. Như thế giữa tìm năng và hiện thực có sự hiện diện của tướng trí mà ở phần nầy muốn nói đến. 
Trí là nói đến tâm phân biệt đối trước tướng cảnh giới vọng niệm. Vọng niệm nầy cũng có “năng” và “sở”. Năng tức là trí, Sở là cảnh giới.
b2/-Tướng Tương Tục
“Vì nương nơi trí nên sanh ra khổ vui, biết tâm khởi niệm tương ưng không dứt”.
Kinh Lăng Nghiêm có câu: “Tự tâm nắm lấy tự tâm, cho nên  phi huyễn trở thành huyễn pháp” (tự tâm thủ tự tâm, phi huyễn thành huyễn pháp). Khi tâm khởi phân biệt liền có hai chiều thuận nghịch, tốt xấu sinh ra. Tốt khen, xấu chê, yêu ghét từ đó phát sanh liên tục nên thành ra tướng tương tục.
b3/-Tướng Chấp Thủ
“Vì nương nơi tương tục, cho nên vin vào cảnh giới của
vọng niệm, nắm giữ khổ vui, tâm sanh đắm trước.”
Tâm bị đắm chìm trong cảnh giới tương tục hư ảo không thoát ra được,  sanh ra chấp trước nên tướng Chấp Thủ xuất hiện.
b4/-Tướng Kế Danh T
“Vì nương nơi vọng chấp, phân biệt cho nên Tướng kế danh tự phát sinh”.
Sau khi chấp thủ rồi thì ý niệm truy danh, cầu nghĩa sinh ra, luôn dựa vào danh ngôn hư dối, tìm biết ra lẽ là gì, hành tướng ra sao, nội dung như thế nào…Những toan tính dựa vào danh ngôn hư dối đó gọi là Tướng kế danh tự.
b5/-Tướng Khởi Nghiệp
“Vì nương nơi danh ngôn, cho nên y danh thủ nghĩa, say đắm vào đó mà sinh ra các nghiệp”.
Từ sự so đo tính toán trên, trước là tác ý, sau đó cả thân, khẩu, ý cùng hợp nhau hành động. Đó là Tướng khởi Nghiệp.
b6/-Tướng Nghiệp HKhổ  
“Vì nương nơi Nghiệp cho nên phải chịu quả báo, không được tự tại”.
Sau khi đã tạo Nghiệp rồi thì sẽ thọ quả báo hoặc lành hoặc dữ, không thể nào tránh khỏi. Do đó gọi là Nghiệp hệ khổ. Nghĩa là khổ gắng liền với Nghiệp. Khổ liên hệ chặt chẽ với Nghiệp.
Nói chung cả Ba Tế, Sáu Thô vừa nêu trên thì Tướng Chấp Thủ và Tướng Kế Danh Tự thuộc loại Ngã Chấp. Tướng Trí và Tướng Tương Tục thuộc loại Pháp Chấp phân biệt. Tướng Năng Kiến và Tướng Năng Hiện (tức tướng cảnh giới) thuộc loại Câu Sanh bao gồm cả Ngã ChấpPháp Chấp.
Thử đem phối hợp với thuyết “Nghiệp Cảm Duyên Khởi” thì bốn tướng thô đầu (Trí, Tương Tục, Chấp Thủ, Kế danh) là Hoặc.
Tướng thô thứ năm (Khởi Nghiệp, và tướng thô cuối cùng Nghiệp Hệ Khổ) là Khổ. Có so sánh như thề thì mới thấy rõ rằng thuyết Nghiệp Cảm Duyên Khởi chỉ mới trình bày được mặt nỗi của sanh tử luân hồi.
Khởi Tín Luận, với thuyết Ba Tế, sáu Thô đã đào sâu vào chổ tận cùng đến mặt đáy. Đó là cái Động Niệm tối sơ được gọi là “Sanh Tướng Vô Minh”. Đó là cái gốc của Sanh Tử luân hồi. Vì thế hành giả phải thực hành diệt Niệm để đạt đến Vô Niệm.
Vô Niệm là chìa khóa để vào cõi Phật. Như thế chúng ta phải hiểu Giác tức Vô Niệm. Hay nói cách khác nếu đạt được cảnh giới Vô Niệm thì Bản Giác sẽ bừng sáng, hiễn hiện.
Sau đây nói về các tướng giống nhau và khác nhau giữa Giác và Bất Giác   
3-HAI LOẠI TƯỚNG CỦA GIÁC VÀ BẤT GIÁC
Đó là Tướng Đng và Tướng Khác
a-TƯỚNG ĐỒNG
 “Tướng đồng là, ví như các món đồ gốm đều cùng tánh tướng giống như mảy bụi. Cũng vậy, các loại nghiệp huyễn là vô lậuvô minh đều cùng tánh tướng giống như chân như. Cho nên trong kinh, nương vào nghĩa ấy, nói tất cả chúng sanh bản lai thường trú, vào trong Niết Bàn. Bồ Đề không phải là pháp tu được, không phải là tướng có thể tạo ra được, rốt ráo không đắc, cũng không có tướng sắc có thể thấy được. Có sự thấy được tướng sắc là chỉ do nghiệp huyễn tùy nhiễm gây nên, không phải do tánh Bất Không của trí sắc, vì tướng của trí không thể thấy được.”
Từ “Nghiệp Huyễn” chỉ chung cho tất cả các nghiệp dụng không thể nghĩ bàn của Bản Giácnghiệp lực của vô minh với hậu quả của nó là sanh ra Ba Tế, Sáu Thô đưa đến sinh tử luân hồi.
b-TƯỚNG SAI KHÁC
“Tướng Sai Khác là ví như các món đồ gốm không món nào giống món nào. Cũng vậy, vô lậuvô minh, bởi tánh huyễn nhiễm sai khác cho nên tùy theo sự sai khác của tánh huyễn nhiễm mà có sai khác.”
Hai phần trên nói về hai mặt Đồng và Khác giữa Giác và Bất Giác để gải thích sự tương quan giữa Chân và Vọng tức Phật và chúng  sinh.
Nương vào Như Lai Tạng mà có Tâm sanh diệtBất sanh diệt và Sanh diệt hòa hợp với nhau, chẳng phải một chẳng phải khác.
Phần trên đã giải thích xong Tâm Sinh Diệt, nhưng đến đây giải rỏ về Sanh DiệtBất Sanh Diệt nên mới nêu lên điểm Đồng và điểm Khác theo ví dụ mà luận vừa nêu.
Bản Giác thanh tịnh (vô lậu) và nhân nhiễm ô (vô minh), cả hai đều nương nơi tướng của Chân như tùy duyên mà khởi. Cả hai đều cùng có chung một tánh Chân Như. Nhưng cả hai đều có mà không thật có cho nên Kinh dạy: “Sanh tử và Niết Bàn đều là mộng huyễn”.  Khi nói bên nầy Tịnh, bên kia Nhiễm đó là đứng về phía mặt dụng của Chân Như Tùy Duyên mà nói. Nhưng nói về thể tánh tự thân Chân Như thì hai bên hoàn toàn tương đồng. Để minh chứng cho luận giải nầy xin ghi lại câu Kinh như sau: “Tất cả chúng sanh bản lai thường trụ vào Niết Bàn”.
Đoạn luận ghi trên cũng đã viết Bồ Đề không phải là Pháp có thể tu đắc được, cũng chẳng phải là cái ta có thể tạo ra được…Vì nó rốt ráo bình đẳng, không có tướng sắc để có thể thấy được. Cái mà ta có thể thấy được, bàn luận được đó chỉ là huyễn tướng do Nghiệp Huyễn tùy nhiễm tạo ra. Nó không phải tánh bất không của trí sắc, vì tướng trí không thể thấy được. Trí tướng là tướng của Trí. Sắc là sắc chất trong bản tánh.
Chân Như: “Như” là nghĩa của Bất Giác. “Chân”: là nghĩa của Giác Trí. “Bất Giác tức Giác” là nghĩa của Chân Như.
Xin dùng câu nói sau để tóm kết cho phần nầy: “Nếu tâm tánh động thì có tướng vọng nhiễm nhiều hơn số cát sông Hằng. Nếu tâm tánh không động thì có tướng công đức thanh tịnh cũng nhiều hơn số cát sông Hằng”. Đều đó nói lên ý nghĩa tùy duyên mà bên nọ chuyễn qua bên kia, hoặc ngược lại. Đó là nói về Tâm Sanh Diệt.
Phần Trên đã giải rỏ về (1) Chân Như Môn- Tâm Chân Như, (2) Sanh Diệt Môn – Tâm Sanh Diệt.
Sau đây gải thích về (3) Nhân duyên sanh diệt.
VII-NHÂN DUYÊN SANH DIỆT
“Nhân duyên sanh diệt, nghĩa là chúng sanh nương nơi Tâm, Ý và Ý Thức triển chuyển mà khởi lên. Như thế nghĩa là gì?
Bởi nương nơi A Lại Ya mà nói có vô minh, từ bất giác mà khởi lên, thấy có cảnh giới, hiện ra cảnh giới, và nắm lấy cảnh giới, liên tục khởi niệm cho nên gọi là Ý.”          
Nói đến nhân duyên sanh diệt ta phải nghĩ đến hai chiều như sau:
·      Chiều lưu chuyễn:  còn gọi là Vô Minh Lưu, khởi từ Sanh đến Diệt.
·      Chiu Hoàn dit: còn gọi là Hoàn Tịnh Lưu, đi ngược trở lại từ Diệt đến Sanh.
Theo Vô Minh Lưu thì khởi điểm là Chân Như hay Như Lai Tạng.
Tâm trong câu “Chúng sanh nương nơi Tâm, Ý, Ý Thức triễn chuyễn mà dấy khởi” chính là nói về Như Lai Tạng. Trong đoạn đầu của luận nầy có viết: Sở dĩ có Tâm sanh diệt là vì nương vào Như Lai Tạng, và vì bất giác tâm động mà sanh khởi Thức A Lại Ya, trong đó Bất sanh bất diệtSanh Diệt hòa hợp mà có Vô Minh.
Theo như đoạn trích dẫn trên thì Nhân Duyên Sanh Diệt tối sơ lấy Tâm (tức là Như Lai Tạng) làm Nhân, và lấy Vô Minh (tức Tâm Động) làm duyên để sinh khởi tướng Nghiệp. Tướng Nghiệp đây còn gọi là sanh tướng vô minh. Nó có khả năng tự phân thành hai phần Năng và Sở đó là Tướng Năng Kiến (Năng) và Tướng Cảnh Giới (Sở) còn gọi là Tướng Năng Hiện, từ đó triển chuyển mà sanh ra Tướng Trí và Tướng Tương Tục. Nhân Duyên Sanh Diệt đợt kế tiếp lấy Vô Minh làm Nhân và lấy cảnh giới vọng hiện làm duyên để sanh khởi các Tướng Thô.
Xét kỷ dòng phản ứng dây chuyền từ Tướng Nghiệp đến Tướng Tương Tục đều thuộc phạm vi hoạt động của Ý.
Bốn Tướng Thô còn lại (xem phần trên) thuộc phạm vi hoạt động của Ý Thức.
Sau đây chúng ta lần lược đi sâu hơn vào Ý, Ý Thức và Tâm như trên đã nêu.    
1-Ý
“Ý ấy gồm có năm loại. Năm loại đó là gì?
Một là Nghiệp Thức: chỉ động lực Vô Minh Bất Giác khiến Tâm động.
Hai là Chuyễn Thức: Chỉ năng lực thấy Tướng Cảnh Giới, nương vào Tâm động.
Ba là Hiện Thức: chỉ năng lực hiện ra tất cả cảnh giới, như gương sáng hiện ra các hình ảnh. Hiện Thức cũng vậy, khi các căn tiếp xúc trước các đối tượng năm trần, thức liền phát khởi, hiển hiện, không có trước sau, vì thường hằng hiện tiền, cho nên bất cứ lúc nào cũng có thể khởi lên được.
Bốn là Trí Thức: là phân biệt các pháp nhiễm tịnh.
Năm là Tương Tục Thức: vì vọng niệm tương ưng không dứt, cho nên nắm giữ các nghiệp thiện ác của vô lượng kiếp trong quá khứ, khiến không mất được. Lại thành thục được quả báo khổ vui trong hiện tạivị lai không hề sai lệch. Khiến được những việc đã trãi qua bỗng nhiên nhớ lại, những việc sắp tới bâng khuâng lo nghĩ. Cho nên ba cõi hư dối, chỉ do Tâm tạo tác. Lìa Tâm ra không có cảnh giới sáu trần.”   
Đoạn trước khi nói về Tâm Sanh Diệt đã đề cập đến Ba Tế và sáu Thô tức là chỉ tướng của Tâm sanh diệt. Đoạn trên đây nói về Nhân Duyên Sanh Diệt tức là tìm hiểu mối tương quan Chủ (là Năng phân biệt) và Sở (là đối tượng phân biệt) của Tâm Sanh Diệt đó. Cho nên gọi là Nhân Duyên sanh diệt.
Như ta biết hễ có một Tướng dấy lên là đã có một Thức đối ứng. Năm Thức gồm thâu trong Ý là Nghiệp Thức, Chuyễn Thức, Hiện Thức, Trí Thức, Tương Tục Thức.
Móng tâm tối sơ do Tâm động gây nên đó là Nghiệp Thức. Tâm động được chia làm hai phần đó là Năng và Sở. Phần Năng là Năng Kiến, phần Sở là Sở Kiến. Trong Năng Kiến lại chia ra thành Tướng Năng Kiến và Thức Năng Kiến đối đãi nhau. Tướng Năng Kiến còn gọi là Tướng Chuyễn và Thức Năng Kiến còn gọi là Chuyễn Thức. Gọi là Chuyễn Thức vì nó chuyễn Chân Trí thành Vọng Kiến. Do đó tướng đối ứng với nó được gọi là Tướng Chuyễn.
Về Sở Kiến cũng lại chia làm hai phần: Tướng và Thức đối ứng nhau. Sở Kiến là chỉ Tướng Cảnh Giới vọng hiện. Nhưng sau khi vọng cảnh hiện ra rồi, Vọng Cảnh ấy lại làm nền tảng để dội lui trở lại mọi cảnh của Lục Trần đương hiện diện trước mặt nó. Cho nên ví nó như tấm gương luôn luôn phản chiếu lại những hình ảnh hiện ra trước nó, một cách vô tư không phân biệt trước sau …Do đó Tướng và Thức trong phần Sở Kiến đều được gọi là Hiện Tướng. Thức gọi là Hiện Thức.
Về phần Tương Tục Thức có thể tóm giải thành ba điểm như sau:
·      Nắm giữ các nghiệp lành dữ đã tạo ra trong vô lượng kiếp quá khứ không mảy may suy mất.
·      Thành thục quả báo khổ vui trong hiện tạivị lai, không sai lệch.
·      Có thể nhớ lại những việc đã trải qua trong quá khứ, và có thể tưởng tượng ra những việc chưa đến, hư cấu, trong tương lai.
Phần trên đã kết thúc bằng câu: “Ba Cõi hư dối, chỉ do Tâm tạo tác. Lìa Tâm ra không có cảnh giới sáu trần”. Như thế sau đây ta thử khảo sát về Tâm ấy xem sao!
2-TÂM
Tại sao lìa Tâm khôngcảnh giới sáu trần?
Nghĩa ấy là như thế nào?
“Vì tất cả các pháp đều từ Tâm khởi, do vọng niệm mà có sanh ra. Mọi phân biệt chỉ là phân biệt tự Tâm. Nhưng Tâm  không thấy Tâm. Tâm không có Tướng có thể đắc. Nên biết rằng tất cả cảnh giới trong thế gian đều nương nơi Tâm hư dối vô minh của chúng sanhtồn tại. Cho nên tất cả các pháp thảy đều như bóng trong gương, không có thật thể để có thể đắc, chỉ do Tâm hư dối tạo ra. Do đó hễ Tâm sanh thời Pháp Pháp đều sanh, Tâm diệt thời Pháp Pháp đều diệt.”   
Tất cả các Pháp đều từ Tâm mà khởi, do vọng niệm sinh ra. Tự tướng của nó là Như Lai Tạng. Vì Bất Giác Tâm động cho nên phần Bất Sanh Bất Diệt trong Như Lai Tạng hòa hợp với phần Sanh Diệt của Tâm Động mà thành Thức Tạng tức A Lại Ya rồi từ đó triễn chuyễn tạo ra Ba Tế và Sáu Thô.
Như ta đã biết là Tâm vốn không sanh diệt, chỉ vì sự vọng động của Nhất Niệm Vô Minh tối sơ mà chuyễn Chân Tâm vô tướng rộng lớn trùm khắp thành các pháp hư dối trong ba cõi. Nhất Niệm tối sơ vốn không có tự thể, nó chỉ nương vào Chân Tâmthành lập. Cho nên vọng cũng từ  Chân mà khởi lên (cũng như sóng chỉ cho vọng) khởi lên từ Nước (chỉ cho Chân Tâm). Do đó nên Luận nói các Pháp đều chỉ do Tâm tạo ra. Thế nhưng những pháp mà do Tâm Hư Vọng coi là đối tượng để phân biệt cũng lại từ Tâm mà có. Hiện tượng đó được gọi là “Tự Tâm nắm lấy Tự Tâm, Phi Huyễn trở thành Huyễn.”
Phần trên vừa phân tích để giải rỏ rằng các pháp hư vọngchúng sinh không rõ Tâm vốn không có Tướng nên chấp rằng vọng cảnh không phải là không. Các pháp hư vọng mà cho là có đó đều nương nơi vọng niệmtồn tại.
Luận nầy chú trọng giải rỏ Nhất Tâm, Vô Niệm. Cho nên nói: Ai quán Vô Niệm, người đó đang hướng tới Phật Trí.
Đó là phần nói về Tâm. Sau đây luận về Ý Thức.
3-Ý THỨC
Ý Thức là gì?
“Nói về Ý Thức tức là đề cập đến Thức Tương Tục.
Nương nơi sự say đắm, nắm bắt càng ngày càng lún sâu thêm của phàm phu, mọi loại vọng chấp dấy lên so chấp cái Ta và cái của Ta rồi phan duyên xuôi theo sự vật, phân biệt sáu trần. Đó gọi là Ý Thức, cũng gọi là Thức Phân Ly. Lại còn có tên là Thức Phân Biệt Sự. Thức nầy nương vào Phiền não, Kiến ái mà tăng trưỡng.”
Ý Thức đây nghĩa là Thức của Ý. Vì Tương Tục Thức là gốc của Ý Thức nên ngã ái càng ngày càng thêm bền chặt gốc rễ. Do đó mà nó liên tục khởi hoặc, tạo nghiệp liên tục. Ý Thức đóng vai tró chủ chốt trong việc tạo nghiệp. Đối tượng của nó là hai Tướng Chấp Thủ và Kế Danh Tự.
Ý Thức đóng nhiều vai trò nên nó có nhiều tên khác nữa. Ý Thức nương nơi năm căn để phân biệt cảnh và nắm bắt cảnh nên có tên là Thức Phân Ly. Nó thông duyên tất cả mọi sự tướng của nội căn lẫn ngoại cảnh cho nên còn có tên là Thức Phân Biệt Sự. Nó nương vào Kiến HoặcTư Hoặc để tăng thêm cường lực trong sự tạo nghiệp.
Khi sai lầm về mặt lý trí đó là Kiến Hoặc. Khi sai lầm về mặt tình cảm thì đó là Tư Hoặc. Tư Hoặc còn gọi là Ái Hoặc. Nói về Kiến Ái là chỉ cho hai loại Hoặc nầy.
Phần trên đã nói về Nhân Duyên sanh diệt của Nhất Tâm xuôi theo Vô Minhsanh khởi các pháp ô nhiễm của sanh tử. Đoạn kế tiếp sẽ đi theo hướng ngược lại là từ Nhiễm trở về Tịnh để làm sáng tỏ hai nghĩa Tiệm NgộĐốn Ngộ sai khác  nhau.
Nghĩa là phần trên đã nói về Nhân Duyên Lưu Chuyễn.
Phần kế tiếp đề cập đến Nhân Duyên Hoàn Tịnh hay Hoàn Diệt.
4-NHIỄM TÂM  
Phần nầy đi từ Vọng trở về Chân.
“Thức do Vô Minh huân tập mà dấy khởi lên, không phải điều mà phàm phu biết được. Cũng chẳng phải là Pháp mà trí tuệ Nhị Thừa ngộ được. Chỉ có Bồ tát từ cấp Chánh Tín, phát tâm quán sát cho đến khi chứng Pháp Thân thì mới biết được một phần nhỏ. Cho đến Địa Tận Bồ Tát cũng còn chưa biết hết. Duy Phật mới hoàn toàn thấu rỏ mà thôi.”
Đoạn nầy mở đầu nói về nghiệp thức vô minh căn bản cực kỳ vi tế. Cần tiêu trừ nghiệp thức ấy mới mong chứng ngộ được nguồn gốc của Nhất Tâm. Luận chủ nói phàm phuNhị Thừa không thể hiểu được điều nầy. Chỉ hàng Bồ Tát từ Chánh Tín sau khi trãi qua ba cấp Tam Hiền, dày công quán sát thì mới thấu rõ được một phần nào. Bồ Tát Pháp Thân, đến hàng Tận Địa cũng chưa biết trọn vẹn. Chỉ khi nào đạt đến bậc Đại Giác là Phật mới thấu rỏ cùng tận mà thôi. Nghiệp Thức vô minh rất vi tế như thế không dễ gì tu thiền trong một thời gian mà có thể gọi là đốn ngộ được. Hành giả Tu Thiền ngày nay mong được đốn ngộ trong hiện thế đó là một điều không tưởng. Có những người tự cho mình là đã ngộ đạo nhưng thực ra chưa rõ hết hành tướng của Thức nầy đó chẳng phải là tăng thượng mạn sao!
Vì sao mà khó khăn như thế?
Luận viết tiếp:
“Vì Tâm ấy ngay trong bản chất, tự tánh của nó vốn thanh tịnh, nhưng lại có vô minh, và bị vô minh làm cho ô nhiễm mà thành nhiễm tâm. Và tuy có Nhiễm Tâm nhưng vẫn thường hằng bất biến. Vì thế cho nên nói với ý  nghĩa là  chỉ có Phật mới biết rõ được. Đó là Tâm tánh thường vô niệm, gọi là bất biến. Vì không thấu suốt nhất pháp giới, cho nên tâm không tương ưng, bỗng nhiên vọng niệm dấy khởi, gọi đó là Vô Minh.”
Trong đoạn Luận trên ta có thể nêu ra bốn lý do vì sao khó biết được Thức nầy:
a-VÌ VÔ MINH
Tự tánh của Tâm là thanh tịnh nhưng bị vô  Minh làm cho ô nhiễm mà thành Nhiễm Tâm.
b-THỂ CỦA TÂM VẪN THANH TỊNH
Tuy có  Nhiễm Tâm nhưng Tâm Thể vẫn thanh tịnhthường hằng bất biến.
c-VÌ PHAN DUYÊN SÁU TRẦN
Chúng sanhvọng tưởngniệm niệm phan duyên sáu trần. Trong khi đó Tâm Thể vẫn thường hằngtự tánh vốn Vô Niệm. Như vậy vọng niệm của chúng sanh là do Thức đối trước trần cảnh mà sanh nhưng thật thể vẫn là Vô Niệm.
d-VÌ HUÂN TẬP VỌNG NIỆM
 Vì không thấu suốt pháp giới là một, khiến Tâm Thể tự nó không tương ưng mà bỗng nhiên khởi niệm gọi là Vô Minh. Từ đó vọng niệm bỗng nhiên nỗi lên thật vô cùng vi tế, khó có thể nghĩ bàn. Đó là sự huân tập không thể nghĩ bàn.
Trên đây là nghĩa  “tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên của Nhất Tâm.”
SAU ĐÂY LÀ NÓI VỀ ĐOẠN HOẶC CHỨNG CHÂN, TỨC LÀ NÓI VỀ THỨ ĐỆ CỦA NHÂN DUYÊN HOÀN TỊNH. 
5-SÁU LOẠI NHIỄM TÂM
Nói về Nhiễm Tâm, Luận nầy phân làm 6 loại như sau:
a-CHẤP TƯƠNG ƯNG NHIỄM
 “Chấp tương ưng nhiễm là nương vào giải thoát của Nhị ThừaTín Tương Ưng Địa mà dứt trừ.”
Chấp tương ưng nhiễm là nhiễm tâm tương ưng với Chấp thủ, tức với hai tướng Kế Danh TựChấp Thủ trong hệ thống Sáu thô.
Liên quan đến đoạn nầy xin nhắc lại quá trình tu chứng của Đại Thừa từ Phàm đến Thánh chia làm 5 giai đoạn. Đó là Thập Tín, Thập Trụ, Thập hạnh, Thập Hồi HướngThập Địa.
Mỗi giai đoạn kết thúc bởi một địa vị tu chứng gọi là Địa. Trong từng giai đoạn một còn có 10 cấp bậc cũng kết thúc bằng một địa.   
“Tín Tương Ưng Địa” là Địa vị kết thúc giai đoạn Thập Tín.
 b-BẤT ĐOẠN TƯƠNG ƯNG NHIỄM
“Bất Đoạn Tương Ưng Nhiễm là nương vào Tín Tương Ưng Địa, tu học nhiều phương tiện mà dần xả bỏ, cho đến khi chứng đắc Tịnh Tâm Địa mới rốt ráo trừ hết.”
Bất đoạn tương ưng nhiễm là nhiễm tâm tương ưng với Tướng Tương Tục trong Sáu thô.
“Tịnh Tâm Địa” là địa vị kết thúc Tam Hiền (Thâp Trụ, Thập hạnh, Thập Hồi Hướng gộp chung).
c-PHÂN BIỆT TRÍ TƯƠNG ƯNG NHIỄM
“Phân biệt trí tương ưng nhiễm là nương vào Cụ giới địa mà trừ dần, cho đến khi chứng đắc Vô tướng phương tiện mới rốt ráo trừ xong.”
Phân biệt trí tương ưng nhiễmnhiễm tâm tương ưng với Phân biệt, tức Tướng Trí, tướng vi tế nhất trong Sáu thô.
“Cụ Giới Địa” là địa vịBồ Tát Nhị Địa (trong Thập Địa) đạt được.
“Vô Tướng Phương Tiện Địa” là địa vịBồ Tát Thất Địa đạt được.
d-HIỆN SẮC BẤT TƯƠNG ƯNG NHIỄM
“Hiện sắc bất tương ưng nhiễm là nương vào Sắc Tự Tại Địa mà trừ được.” Hiện sắc bất tương ưng nhiễm là nhiễm tâm không tương ưng với Hiện sắc, tức với Tướng cảnh giới vọng hiện (Tướng Hiện trong hệ thống Ba tế).
“Sắc Tự Tại Địa” là địa vịBồ Tát Bát Địa đạt được.
e-NĂNG KIẾN TÂM BẤT TƯƠNG ƯNG NHIỄM 
“Năng kiến tâm bất tương ưng nhiễm là nương vào Tâm tự tại địa mà trừ được.”
Năng kiến tâm bất tương ưng nhiễmnhiễm tâm không tương ưng với Tâm Năng Kiến (Tướng Chuyễn trong Ba tế)
“Tâm Tự Tại Địa”  là địa vịBồ Tát Cửu Địa đạt được.
f-CĂN BẢN NGHIỆP BẤT TƯƠNG ƯNG NHIỄM 
“Căn bản nghiệp bất tương ưng nhiễm là nương vào Tận địa Bồ Tát, rồi từ đó bước vào Như Lai Địa mà trừ được.”
Căn bản nghiệp bất tương ưng nhiễm là nhiễm tâm không tương ưng với nghiệp căn bản (Tướng Nghiệp, còn gọi là Sanh Tướng Vô Minh), tức với Tướng vi tế đứng đầu trong Ba tế.
“Tận Địa” là địa vị cuối cùngBồ tát Thập Địa đạt được. Như Lai Địađịa vị mà Phật chứng đắc.
Luận Khởi Tín viết tiếp để giải rỏ về Nhiễm Tâm:
“lại nữa, nghĩa của Nhiễm Tâm gọi là Phiền Não ngại, vì nó che lấp căn bản Chân Như. Nghĩa của Vô Minh gọi là Trí Ngại, vì nó che lấp Trí nghiệp tự nhiên thế gian. Nghĩa ấy thế nào?
Vì nương vào Nhiễm Tâm mà có Năng Kiến, Năng Hiện và hư dối nắm bắt cảnh giới, trái với tánh bình đẳng. Vì tất cả các Pháp thường hằng thanh tịnh, không có tướng khởi nhưng Bất Giác của Vô Minh vọng khởi trái với các Pháp, cho nên không thể tùy thuận mọi loại hay biết về tất cả cảnh giới thế gian.”
Đoạn trên nói rõ sự khác biệt giữa  Nhiễm TâmVô Minh.
Nhiễm Tâm nương vào Vô Minh mà có. Thể của Nhiễm tâmVô Minh tuy đồng nhưng tác dụng ngăn che thì khác nhau. Nhiễm Tâm năng động ồn ào vì các Tướng mê vọng như Ba tế, Sáu thô... gắng liền với nó, cho nên nó là loại chướng ngại gây ra phiền não khổ đau (tức Phiền Não Ngại) che lấp Trí căn bản Chân Như.
Trái lại, Vô Minh u tối, hôn mê, cho nên nó là loại chướng ngại ngăn che  Trí nghiệp tự nhiên trong việc lượng định sự thật ở giữa thế gian (tức Trí Ngại).
Trí như lý (hay là Như lý Trí) còn gọi là Trí Căn Bản Chân Như, nghĩa là cái trí hiểu biết đúng với lý Chân Như. Trí lượng định sự vật ở giữa thế gian, còn gọi là Trí như lượng (hay là Như lượng Trí), ở đây gọi là Trí nghiệp tự nhiên thế gian, nghĩa là cái trí làm công việc tìm tòi quy tụ mọi loại Tri Kiến ở giữa thế gian.
Chướng ngại Trí trước gọi là Phiền Não Ngại. Chướng Ngại Trí sau gọi là Trí Ngại. Phiền Não Ngại là nghĩa của Nhiễm Tâm. Trí Ngại là nghĩa của Vô Minh.    
Nhiễm Tâm hư cấu cảnh giới và vọng thủ cảnh giới, trái với tánh bình đẳng của Chân Như, cho nên gây ra phiền não khổ đau. Còn Vô Minh thì mê mờ, cho nên không có cách gì tùy thuận mọi hiểu biết giữa thế gian. Vì vậychướng ngại Trí tự nhiên. Ở đây Khởi Tín Luận căn cứ vào diệu dụng của hai Trí như Lý và Lượng rồi lật ngược trở lại mà lập hai nghĩa Trí NgạiPhiền Não Ngại, để biện minh cho sự sai khác giữa Vô MinhNhiễm Tâm. Hai Ngại nầy không giống như nghĩa của hai Chướng là Chướng Sở Tri và Chướng Phiền Não của Duy Thức Học.
Trên đây đã phân giải Nhân Duyên sanh Diệt theo hai chiều thuận, nghịch.
Tiếp theo là nói về Tướng Sanh Diệt.
 VIII-TƯỚNG SANH DIỆT     
 1-TƯỚNG SANH DIỆT LÀ GÌ
Luận giải thích:
“Tướng Sanh Diệt có hai loại.
Một là Tướng Thô vì tương ưng với Tâm.
Hai là Tướng Tế vì không tương ưng với Tâm.
Lai nữa Thô trong Thô là cảnh giới của phàm phu.
Tế trong Thô và Thô trong Tế là cảnh giới của Bồ Tát.
Tế trong Tế là cảnh giới của Phật.
Hai loại Tướng sanh diệt này nương nơi sức huân tập của Vô Minh mà có. Đó được gọi là nương Nhân và nương Duyên.
Nương Nhân tức là nương vào Bất Giác.
Nương Duyên tức là nương vào vọng hiện của cảnh giới.
Nếu Nhân diệt thì Duyên diệt.  Nhân diệt cho nên Tâm không tương ưng diệt. Duyên diệt cho nên Tâm tương ưng diệt.
Hỏi:  Nếu Tâm diệt, làm sao tương tục?  Nếu tương tục, làm sao nói rốt ráo diệt?
Đáp: Nói diệt là chỉ tướng của Tâm diệt, không phải thể của Tâm diệt.”  
Trong phần lập nghĩa của Luận Khởi Tín có nói về hai Tướng. Một là Tướng của Chân Như. Hai là Tướng của Nhân Duyên sanh diệt. Tướng của Chân Như tức là Tướng của Nhất Tâm. Đó là Như Lai Tạng. Tướng của Nhân Duyên sanh diệt tức là Tướng của Nhiễm Tâm mà đoạn Luận trên đề cập. Nhiễm Tâm vì có tương ưng và không tương ưng nên chia ra hai loại. Thô và Tế. Thô thuộc loại tương ưng. Tế thuộc loại không tương ưng.
Tâm tự thể không có Tướng. Ở đây nói có Tướng tức là nói về Nhiễm Tâm.  
Nói diệt tức nói tướng của Tâm hư vọng diệt chứ không phải thể của Tâm diệt. Vì thể của Tâm không diệt nên khi chứng quả vị Phật chính Tâm ấy tự bắt gặp lại nó sau bao nhiêu gian truân luân hồi lưu lạc. Đó là Thủy Giác bắt gặp Bản Giác.
2-VÍ DỤ VỀ TƯỚNG VÀ THỂ
“Vì gió mà nước dậy sóng, đó là tướng động. Nếu nước diệt thời tướng gió dứt mất, không có chỗ nương. Vì nước không diệt nên tướng gió tương tục. Chỉ có gió diệt nên tướng động diệt theo, không phải nước diệt. Vô Minh cũng vậy, nó nương vào thể của Tâm mà có động. Nếu thể ấy mà diệt thời chúng sanh dứt mất không có chỗ nương. Vì thể không diệt nên Tâm được tương tục. Chỉ có si diệt nên tướng của Tâm diệt theo, không phải Tâm trí diệt.”
 
IX-NHIỄM TỊNH TƯƠNG TƯ
 
Nhiễm Tịnh Tương Tư nghĩa là Nhiễm và Tịnh hỗ trợ lẫn nhau mà dấy khởi nhân duyên sanh diệt ở cả hai chiều.
Luận viết: “Lại nữa, có bốn loại pháp huân tập khiến Nhiễm và Tịnh dấy khởi liên tục không dứt. Bốn Pháp ấy là gì?
Một là Tịnh gọi là Chân Như.
Hai là nguyên nhân của mọi loại nhiễm ô gọi là Vô Minh.
Ba là tâm Hư Vọng gọi là Nghiệp Thức.
Bốn là cảnh hư vọng tức là Sáu Trần.
Nghĩa của huân tập là như quần áo vốn không có mùi thơm nhưng nếu lấy hoa mà xông ướp thì quần áo có mùi thơm của hoa. Ở đây cũng vậy. Tịnh, Chân Như vốn không ô nhiễm, chỉ vì Vô Minh huân tập nên có tướng nhiễm ô. Vô Minh nhiễm pháp vốn không có nghiệp thanh tịnh, chỉ vì Chân Như huân tập nên có dụng thanh tịnh.”
Bốn yếu tố kể trên tác động qua lại lẫn nhau tạo thành hai loại huân tập:  Nhiễm Huân Tập và Tịnh Huân Tập.
1-NHIỄM HUÂN TẬP
Thế nào là Nhiễm Huân tập?
“Thế nào là huân tập khởi lên  nhiễm ô không dứt? Vì là trong Chân Như đã có Vô Minh. Vì có Vô Minh là nhân của Nhiễm ô nên liền huân tập Chân Như. Vì bị huân tập nên có vọng tâm. Vì có vọng tâm liền huân tập lại vô minh. Bởi không thấu suốt Pháp Chân Như nên niệm bất giác khởi lên, cảnh giới ảo vọng hiện ra. Vì có vọng cảnh giới nhiễm pháp làm duyên, cho nên liền huân tập vọng tâm, khiến niệm ấy say đắm, tạo ra nhiều chủng loại nghiệp, để rồi chịu mọi khổ đau cả thân lẫn tâm.”
Trong Kinh Phật dạy có câu: “Vô Minh không có thật thể, nó nương vào Chân Như mà khởi lên”. Đã có Vô Minh sinh ra rồi thì kéo theo một chuổi phản ứng dây chuyền nối tiếp nhau qua ba đợt huân tập chính yếu:
a-VÔ MINH HUÂN TẬP CHÂN NHƯ
Biến Chân Như thành Nghiệp Thức vọng tâm. Như vậy là Tâm đang là Chân bỗng hóa thành Vọng.
Trường hợp nầy có thể hiểu rằng Vô Minh là Tướng Nghiệp trong Ba Tế. Khi nó huân tập Chân Như, Vô Minh biến Chân Như thành ra Thức của nó (Nghiệp Thức) mà tựu thành Vọng Tâm, tức Tướng Năng Kiến, còn gọi là Tướng Chuyễn, sanh khởi loại Nhiễm Tâm mệnh danh là Căn Bản Nghiệp Bất Tương Ưng Nhiễm.
b-VỌNG TÂM HUÂN TẬP VÔ MINH
Khiến cho Vô Minh vốn đã mù quáng, càng mù quáng thêm, không thấu triệt được Chân Như cho nên niệm bất giác khởi lên, vọng cảnh hiện ra.
Vọng Tâm là Tướng Chuyễn trong Ba Tế. Khi nó huân tập Vô Minh, Vọng Tâm biến Vô Minh thành ra Thức của nó (Chuyễn Thức) mà tạo thành Vọng Cảnh, Tức Tướng Năng Hiện, còn gọi là Tướng Hiện, sanh khởi hai loại Nhiễm Tâm mệnh danh là: Năng Kiến Tâm Bất Tương Ưng Nhiễm và Hiện Sắc Bất Tương Ưng Nhiễm. Nhưng chính lúc tựu thành Vọng cảnh, đó là lúc nó không còn biết Chân Như là cái gì nữa, cho nên niệm Bất Giác dấy khởi lên.
c-VỌNG CẢNH HUÂN TẬP VỌNG TÂM
Khiến niệm bất giác vừa mới dấy khởi sa đắm Vọng Cảnh, tạo ra nhiều chủng loại nghiệp kết quả là cả thân, tâm thọ khổ.  
Vọng Cảnh là Tướng Hiện trong Ba Tế. Khi Vọng Cảnh nhiễm ô đã hiện ra rồi, nó lập tức làm duyên mà trở lui huân tập Vọng Tâm, biến Vọng Tâm thành ra thức của nó (Hiện Thức) mà liên tục khởi niệm, tạo thành Tướng Trí và Tướng Tương Tục với hai Thức là Trí ThứcTương Tục Thức, sanh khởi hai loại Nhiễm tâm, gọi là Phân Biệt Trí Tương Ưng Nhiễmbất Đoạn Tương Ưng Nhiễm. Từ đây niệm niệm tương tục, trước sau nối tiếp nhau mà dấy khởi trên bình diện hiện thực, tạo nên bốn tướng thô cuối cùng (Chấp Thủ, Kế Danh, Tạo Nghiệp, Thọ Khổ) và Nhiễm Tâm chót là Chấp Tương Ưng Nhiễm.     
Sau đây tiếp tục phân giải từng vai trò huân tập một trong ba vai trò của Vọng cảnh, Vọng tâmVô Minh.
“Nghĩa huân tập của vọng cảnh có hai loại. Hai loại ấy là gì?
Một là huân tập làm tăng trưởng Niệm.
Hai là huân tập làm tăng trưởng Thủ.
Nghĩa huân tập của Vọng Tâm có hai loại. Hai loại ấy là gì?
Một là huân tập  căn bản của Nghiệp Thức (Vô Minh) khiến La hán, Bích Chi và tất cả Bồ tát chịu khổ sanh tử.
Hai là huân tập làm tăng trưỡng phân biệt sự thức khiến phàm phu chịu khổ gắn liền với nghiệp.
Nghĩa huân tập của Vô Minh có hai loại. Hai loại ấy là gì?
Một là huân tập căn bản, vì nó thành tựu được Nghiệp Thức.
Hai là huân tập của Kiến và Ái bị dấy khởi lên, vì nó thành tựu được phân biệt sự thức.” 
Đoạn Luận trên đề cập đến nghĩa huân tập của Vọng Cảnh, Vọng TâmVô Minh. Sau đây chúng ta tìm hiểu thêm về ba phần trên.
 
d-NGHĨA HUÂN TẬP CỦA VỌNG CẢNH
Vọng Tâm chính là Nghiệp Thức. Nghĩa huân tập của Vọng Cảnh có hai loại.
Một là huân tập làm tăng trưởng Niệm. Đó là tăng trưởng Niệm của Nghiệp Thức. Tức là tăng trưởng Tướng Trí và tướng Tương Tục, vốn đã phát sinh từ khi Vọng Tâm huân tập Vô Minh. Do sức tăng trưỡng nầy mà niệm phân biệt Pháp Chấp thêm mạnh.
Hai là huân tập làm tăng trưởng Thủ. Đó là tăng trưởng hai phiền não: Ngã KiếnNgã Ái. Tức là tăng trưởng Tướng Kế Danh và Tướng Chấp Thủ của Phân Biệt Thức do Vọng Cảnh gây ra.
Cả hai loại đều làm tăng thêm sức cho bốn Thô đầu của Sáu Thô là Trí, Tương Tục, Chấp Thủ, Kế Danh.
e-NGHĨA HUÂN TẬP CỦA VỌNG TÂM 
Trường hợp nầy cũng có hai loại.
Một là huân tập căn bản của Nghiệp Thức. Nghiệp Thức huân tập vào Vô Minh căn bản, khiến niệm niệm sanh diệt không dứt. Thanh Văn, Duyên GiácBồ Tát chịu khổ sanh tử của từng niệm nầy, khiến không lìa được niệm Bất Giác, không quên được Tướng Pháp, thọ khổ của biến dịch sanh tử.
Hai là huân tập làm tăng trưởng phân biệt sự thức bằng cách tự huân hai phiền não Kiến và Ái, không kiến giải được cảnh giới hiện rakhông thật, chấp thủ cảnh giớiphân biệt cảnh giới, gây ra bao nhiêu là Nghiệp dữ để phải lẫn quẫn trong sanh tử luân hồi. Đó là Nghiệp lực của phàm phu.
f-NGHĨA HUÂN TẬP CỦA VÔ MINH
Có hai loại.
Một là huân tập của Vô Minh căn bản, vì nó thành tựu được Nghiệp Thức. Do huân tập nầy mà biến Chân Như thành Nghiệp Thức, rồi phản ứng dây chuyền mà sinh ra Ba Tế, Sáu Thô, Năm Ý, Sáu Nhiễm. Tất cả đều là hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp của loại huân tập nầy.
Hai là huân tập của Vô Minh Chi Mạt. Vô Minh Chi Mạt tức là các phiền não Kiến và Ái do Vô Minh Căn Bản sanh khởi. Hai phiền não nầy huân tập vọng tâmthành tựu Phân Biệt  Thức, chấp trước, say đắm, tạo nên các tướng Thô, Tương TụcChấp Thủ.
Đó là phần phân tích về Nhiễm Huân, tức Huân Tập Nhiễm Ô.
Sau đây phân giải về phần Huân Tập Thanh Tịnh.
2-HUÂN TẬP THANH TỊNH
“Thế nào là huân tập khởi lên Tịnh Pháp không dứt? Vì đó là Chân Như nên có thể huân tập được Vô Minh. Do sức của nhân duyên huân tập ấy nên mới khiến vọng tâm chán ghét khổ sanh tử và mong cầu an lạc Niết Bàn. Vì vọng tâm ấy có nhân duyên chán ghét và mong cầu, cho nên liền huân tập Chân Như, khiến chúng sanh tự tin nơi tánh của mình, biết tâm vọng động, không có cảnh giới trước mắt, tu phép xa lìa. Vì đã biết đúng như sự thật rằng cảnh giới trước mắt không có thật, cho nên nương theo nhiều phương tiện tu hành khác nhau mà khởi hạnh tùy thuận, không chấp thủ, không khởi niệm. Tu như thế nầy lâu ngày, nhờ sức huân tậpVô Minh diệt. Vì Vô Minh diệt cho nên Tâm không khởi động. Vì không có khởi động, cho nên cảnh giới diệt theo. Vì cả Nhân lẫn Duyên đều diệt, cho nên tướng của Tâm mất hết, gọi là chứng đắc Niết Bàn. Nghiệp dụng tự nhiên được thành tựu.”  
Đoạn trên nói Nhân tức chỉ Vô Minh, Duyên tức nói về vọng cảnh, nói Tướng Tâm tức nói về Sáu Nhiễm Tâm. Như thế tiến trình của nhân duyên hoàn tịnh diễn biến từ nhân Nhân đến Quả xoay quanh ba mục đích chính sau đây:
a-NHÂN VÔ MINH DIỆT
Nhân Vô Minh diệt thì ba nhiễm Tâm bất tương ưng diệt.
b-DUYÊN CẢNH GIỚI DIỆT
Duyên cảnh giới diệt thì ba Nhiễm Tâm tương ưng diệt.
c-BA BẤT TƯƠNG ƯNG VÀ BA TƯƠNG ƯNG DIỆT
Ba Bất Tương Ưng và ba Tương Ưng diệt tức là Tướng của Tâm bặt dứt, không sanh, sạch làu. Đó là Niết Bàn. “Nghĩa huân tập của Vọng Tâm có hai loại. Hai loại ấy là gì?
d-HUẬN TẬP CỦA PHÂN BIỆT THỨC
Một là huân tập của Phân Biệt Sự Thức.
“Đây là nương nơi chúng sanh phàm phuNhị Thừa mà nói, vì họ chán khổ sanh tử cho nên tùy theo khả năng riêng của từng người mà dần dần hướng lên Đạo Vô Thượng.”
Phân biệt sự Thức chính là Ý thức. Tức là Thức của Ý. Theo giáo nghĩa của Khởi Tín Luận thì Ý Thức có ba nghĩa chính. Nương vào ngủ căn mà phân biệt ngoại cảnh, nắm bắt ngoại cảnh, nó có tên là Phân Ly Thức. Theo nghĩa thông duyên mọi cảnh, cả trong lẫn ngoài, và nắm giữ chủng chủng sự tướng, nó có tên là Phân Biệt Sự Thức. Khi nghĩa của nó chỉ giới hạn trong vai trò chấp trước Ngã Ái mà khởi Hoặc tạo nghiệp thì nó mới đích thực là Ý Thức. Đó là một tên gọi khác của Thức Tương Tục
Còn Ý là chỉ chung cho hoạt động của Năm Thức: Nghiệp Thức, Chuyển Thức, Hiện Thức, Trí ThứcTương Tục Thức. Năm thức nầy có tên chung là Ý, hay còn gọi là Ngũ Ý.
Phân biệt sự thức huân tập vô minh, khiến cho vô minh loãng bớt chất bất tịnh của nó phần nào, do đó mới có hiện tượng chúng sanh đang mê mờ, đến một thời điểm nào đó tự nhiên quay đầu trở lại mà hướng theo đường thiện tu hành. Đây là động cơ phát tâm của Nhị ThừaBồ Tát Thập Tín.
e-HUÂN TẬP CỦA Ý
Hai là huân tập của Ý.
“Đây là nương vào Bồ Tát mà nói, vì hàng Bồ Tát phát tâm dõng mãnh, mau đạt đến Niết Bàn.”
Ở đây cả Ngủ Ý đều cọng tác vào nên động cơ rất mạnh. Do đó mà sự phát tâm dõng mãnh hơn bội phần, khiến mau đạt đến Niết Bàn hơn. Đây là trường hợp của Tam HiềnThập Thánh, tức Bồ tát các cấp: Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi HướngThập Địa.
Như trên đã phân giải về huân tập của Vọng Tâm, có cạn, có sâu, có thô, có tế khác nhau.
Sau đây phân giải về huân tập của Chân Như có sự bất đồng về nghiệp dụng.
“Nghĩa huân tập của Chân Như có hai loại. Hai loại ấy là gì?
Một là huân tập tự thể tướng.
Hai là huân tập của dụng.
Huân tập của Tự thể tướng là từ vô thủy đến nay sẳn đủ Pháp vô lậu, có đủ nghiệp bất tư nghì làm tánh của cảnh giới. Nương vào hai nghĩa huân tập thường hằng ấy, có đủ năng lực nên khiến chúng sanh chán khổ sanh tử, cầu an lạc Niết Bàn, tự tin vào chính mình sẳn có pháp Chân Như cho nên phát tâm tu hành”. 
Nói về “Tự Thể Tướng” và “Dụng” ở đây liên quan đến “Tự Thể Tướng Dụng” trong phần đầu Lập Nghĩa của luận nầy. Tự thể tướng dụng, nghĩa là thể riêng, tướng riêng và dụng riêng của Nhất Tâm. Tự Thể Tướng có nghĩa là Tự Tướng và Tự Thể  Nhất Tâm. Dụng chính là tự dụng của Nhất Tâm. Tự Tướng của Nhất Tâm chính là Như Lai Tạng. Cho nên mới nói  “cụ vô lậu pháp” nghĩa là sẳn đủ pháp Vô Lậu. Tự Dụng của Nhất Tâmsanh khởi các Pháp lành thế gianxuất thế gian. Cho nên ở đây nói “bị hửu bất tư nghì nghiệp” nghĩa là có đủ nghiệp bất tư nghì. Tự tướng của Nhất Tâm thì sẳn đủ tánh công đức Vô Lậu, còn Tự Dụng của Nhất Tâm thì có đủ Nghiệp Bất Tư Nghì, cả hai hợp chung lại thì thành Tánh của cảnh giới. Tánh nầy nơi loài vô tình thì gọi là Pháp Tánh (Tánh các Pháp), ở nơi Hửu Tình thì gọi là Phật Tánh .
Chính nương vào hai nghĩa “sẳn đủ Pháp vô lậu” của Tự Tướng và “có đủ Nghiệp bất tư nghì” của tự dụng vì cả hai đều thường hằng cho nên có đủ sức mạnh khiến chúng sanh chán khổ sanh tử cầu an lạc Niết Bàn.
Mặt khác, huân tập của Tự thể tướng và Tự dụng tuy cùng mục đích là xóa tan vô minh, nhưng nghĩa huân tập của Tự thể tướng hoàn toàn hướng nội, còn nghĩa huân tập của Tự dụng nặng về mặt biểu hiện ra bên ngoài.
Đến đây đã làm sáng tỏ đường nét chính yếu sự huân tập của Chân Như. Làm sáng tỏ được nghĩa Chân Như huân tập thì mới xây dựng được Giáo Nghĩa Như Lai Tạng. Đó là Giáo Nghĩa mới của trường Phái Khởi Tín, tổng hợp hai nghĩa Tánh và Tướng. Luận đưa ra câu hỏi và trả lời để làm sáng tỏ vấn đề như sau: 
“Hỏi: Nếu quả thật như vậy thì tất cả chúng sanh đều có Chân Như và đều huân tập đồng đều như nhau. Tại sao có người tin kẻ không, và có vô lượng sai biệt, trước sau khác nhau? Đáng lẽ tất cả phải đồng thời tự biết mìnhpháp Chân Như, siêng tu phương tiện, để rồi cùng nhập Niết Bàn như nhau mới phải?”
“Đáp: Chân Như vốn chỉ có một, nhưng Vô Minh thì có vô lượng vô biên. Tánh riêng của Vô Minh vốn đã sai khác ngay từ trong bản chất. Cho nên có dày mỏng khác nhau. Các phiền não hạng nặng, nhiều hơn số các sông Hằng, đều nương nơi Vô Minhsanh khởi khác nhau. Các phiền não hạng thường là Ngã KiếnNgã Ái cũng đều nương nơi Vô Minhsanh khởi khác nhau. Tất cả các phiền não nhiều như vậy, đều nương nơi Vô Minh sanh khởi trước sau không đồng và có vô lượng sai biệt. Chỉ có Phật mới biết được. Lại nữa, pháp của chư Phật có nhân có duyên. Nhân duyên phải đầy đủ thì sự việc mới thành tựu. Ví như tánh lửa trong thân cây là nhân chánh của lửa, nếu không có người biết dùng phương pháp để lấy lửa ra, bảo cây tự cháy là điều không thể có được.”     
 Phần giải thích trên ta nhận thấy hàm chứa hai ý:
Một là chúng sinh tất cả đều có Chân Như, nhưng vì sức huân tập bên trong của Vô Minh căn bản có dày mỏng khác nhau, cho nên căn cơ chúng sanh có kẻ lanh người chậm. Kẻ tin người không tin.
Hai là dù cho sức huân tập bên trong của Vô Minh ngang nhau, nhưng các phiền não tạo thành bởi sức huân tập ấy có Thô có  Tế khác nhau, cho nên sự tu chứng có chậm có mau không đồng.
Phiền não hạng nặng đây là nói về ba loại Nhiễm Tâm Bất Tương Ưng. Phiền não hạng thường là ba loại tương ưng, trong đó có Ngã KiếnNgã Ái.
Luận Khởi Tín viết tiếp:
“Chúng sanh cũng vậy. Tuy có sức huân tập của chánh nhân, nhưng nếu không gặp chư Phật, chư Bồ Tát cùng các bậc thiện tri thức và lấy đó làm duyên mà có thể tự mình dứt trừ phiền não để vào Niết Bàn, thì đó là điều không thể có được. Còn nếu tuy có sức ngoại duyên, nhưng Tịnh Pháp bên trong chưa có sức huân tập thì cũng không thể rốt ráo chán khổ sanh tử và cầu vui Niết Bàn được.”
“Nếu nhân duyên đầy dủ, nghĩa là nếu tự mình có sức huân tập bên trong, lại được đại nguyện từ bi của chư Phật, chư Bồ Tát gia hộ thì mới sanh khởi được cái Tâm chán khổ, tin có Niết Bàn, tu tập căn lành. Nhờ có tu tập căn lành, thành thục rồi mới gặp được chư Phật, chư Bố Tát chỉ bày giáo hóa, đem lại lợi ích mừng vui và mới có thể hướng thẳng đến đạo Niết Bàntiến tới.”
Đoạn luận trên nói đến lý Nhân Duyên. Nói đến Nhân Duyên phải kể đủ ba yếu tố là Chánh Nhân, Duyên NhânLiễu Nhân. Theo thí dụ lấy lửa từ thân cây thì Tánh lửa là Chánh Nhân, phương tiện cọ xát là Duyên Nhân. Khi có đủ cả hai thì mới có lửa tóe ra. Lửa tóe ra đó là Liễu Nhân.
Cũng như thế Chân Như trong Tâm chúng sanh là Chánh Nhân. Sự giáo hóa của chư Phật, chư Bồ Tát và các phương pháp tu hànhDuyên Nhân. Khi có đủ cả hai thì Phật Tánh mới hiển lộ, thành tựu đạo Niết Bàn. Đấy là Liễu Nhân.
Luận giải thích  tiếp:
“Huân tập của Dụng tức là sức làm ngoại duyên cho chúng sanh. Ngoại Duyên như vậy có vô lượng nghĩa. Nói gọn có hai nghĩa. Hai nghĩa ấy là gì?
Một là Duyên Sai Biệt. Hai là Duyên Bình Đẳng.
Duyên Sai Biệt  ví nhưchúng sanh nương nơi chư Phật, chư Bồ Tát, từ khi mới bắt đầu phát tâm cầu đạo cho đến khi thành Phật. Trong khoảng thời gian đó, dù chỉ nghĩ đến hay chính mình được thấy chư Phật, chư Bồ Tát hiện ra. Hoặc làm bà con cha mẹ, hoặc  làm người giúp việc, hoặc làm người bạn tâm giao, hoặc làm kẻ oán thù, hoặc hiện ra bốn nhiếp pháp. Cho đến bất cứ công việc gì khác nữa, nhiều đến vô lượng, cốt để kết duyên, nhờ sinh khởi sức huân tập đại bi mà khiến chúng sanh tăng trưởng được căn lành. Dù thấy dù nghe đều được lợi ích.”
“Duyên sai biệt nầy có hai thứ: Một là duyên gần, vì mau được độ. Hai là duyên xa, vì lâu xa mới được độ.
Hai duyên gần và xa nầy lại còn chia thành hai loại. Hai loại ấy là gì?
Một là duyên Tăng trưởng hành nghiệp. Hai là duyên Thọ đạo.
Duyên bình đẳng là tất cả chư Phật chư Bồ Tát đều nguyện độ thoát tất cả chúng sanh, huân tập một cách tự nhiênthường hằng, không lúc nào xả bỏ. Do sức Bi Trí đồng thể, cho nên tùy theo điều mình thấy nghe mà ứng hiện ra việc làm. Đây là điều Kinh dạy: chúng sanh nương nơi Tam Muội mới được bình đẳng thấy được chư Phật.”
Đoạn trên ta gặp những từ như “Huân Tập của Dụng”, “Duyên sai biệt”, “Duyên Bình đẳng” … Xin giải rỏ thêm: Huân tập của Dụng là tùy theo cơ cảm riêng của từng chúng sanhứng hiện ra, đem lại lợi lạc cho chúng sanh. Như sự thị hiện của Bồ Tát Quan Âm chẳng hạn. Hể có cảm là có ứng hiện, cho nên mới gọi đó là nghiệp bất khả tư nghì. Nếu cơ cảm đó từ Phân Biệt Sự Thức phát ra thì Nghiệp dụng ứng lại là các Hóa Thân sai khác của Phật hiện ra theo từng loài mà cứu độ. Đó gọi là Duyên sai biệt. Nếu cơ cảm do từ Nghiệp Thức phát ra thì Nghiệp dụng ứng lại là Báo Thân Phật hiện ra để cứu độ. Đây gọi là Duyên Bình Đẳng.
Duyên Sai Biệt có nhiều hình thức thiên sai vạn biệt, không thể kể hết, nhưng nếu phân loại ta sẽ thấy có năm loại sau đây:
·      Nương vào tình thương để nhiếp hóa
·      Nương vào công việc để giúp ích
·      Nương vào tình nghĩa để gây thông cảm
·      Nương vào hận thù để bẻ gãy hận thù
·      Nương vào bốn Nhiếp Pháp (Bố Thí, Ái Ngữ,  Đồng Sự, Lợi Hành) để hòa đồng mọi mặt.
Dù bằng cách nào đi nữa thì động cơ chính vẫn không ngoài lòng Đại Bi bình đẳng của chư Phật và chư Bồ Tát.
Từ khi phát tâm đến khi đắc quả mà nói, nếu thời gian ấy mau thì giọi là Duyên Gần, nếu thời gian ấy lâu thì gọi là Duyên Xa.
Câu Kinh sau đây nói lên Duyên Tăng Trưỡng: “Ta nay ra đời khai thị cho tất cả chúng sanh, khiến ai chưa tin, sanh khởi lòng tin; ai đã tin rồi, khiến lòng tin tăng trưỡng”.
Duyên Thọ Đạo là tất cả chúng sanh cuối cùng rồi ai cũng sanh trưởng được lòng tin, không trừ một ai.     
Tổng kết lại, khi nói Duyên Bìng Đẳng là  từ  chư Phật mà nói. Còn nói Duyên Sai Biệt là đứng từ phía chúng sanh mà nói.
Những đoạn Luận trên là thuyết minh riêng rẽ hai loại huân tập của Chân Như là: Huân Tập của Tự Thể TướngHuân Tập của Tự Dụng.
Tiếp theo là tổng hợp cả hai nghĩa thành sự huân tập của một Chân Như duy nhất đó là giáo nghĩa Như Lai Tạng của Luận Khởi Tín.
Luận viết tiếp: “Huân tập của Thể và Dụng nói trên lại còn chia ra hai loại. Hai loại ấy là gì?
Một là chưa tương ưng. Tức như phàm phu, Nhị ThừaBồ Tát sơ phát tâm. Vì dùng sức huân tập của Ý và Ý Thức, rồi nương vào sức của tín tâmtu hành cho nên chưa đạt được Tâm Vô Phân Biệt để cùng tương ưng với Thể, chưa đạt được sự tu hành Nghiệp Tự Tại để cùng tương ưng với Dụng.
Hai là đã tương ưng. Tức như Bồ Tát Pháp Thân đã đạt được Tâm Vô Phân Biệt và cùng tương ưng với Trí Dụng của chư Phật. Cho nên chỉ nương vào Pháp Lựctu hành một cách tự nhiên, huân tập Chân Nhưdiệt trừ Vô Minh.”
Hàng Bồ Tát đã rốt ráo là vì nương vào chính tự thân của Chân Như, đã thành tựu được Trí Vô Phân Biệt, tương ưng với Trí và Dụng của chư Phật,  tức với Tự Thể Tướng Dụng của Chân Như. Khi nói nương vào Pháp Lực là nói lấy Chân Trí soi vào Chân Lý. Nói Nghiệp Tự Tại, nói tu hành một cách tự nhiên là nói đã tu chứng đến tự tại vô ngại, làm thế nào cũng không rời khỏi Chân Như tự thân. Như thế gọi là Chân Như đã hiển lộVô Minh đã trừ xong.
Đó là hiển lộ Pháp Thân Như Lai. Hay hiển lộ Như Lai Tạng nói theo Khởi Tín Luận.
“Lại nữa,  từ vô thủy đến naynhiễm pháp huân tập không dứt, nhưng đến khi thành Phật thì dứt. Tịnh pháp huân tập thời cho đến tận cùng đời vi lai cũng không dứt. Nghĩa ấy thế nào? Là vì Pháp Chân Như hằng thường huân tập thời vọng tâm tiêu diệt, Pháp Thân hiển hiện ra mà dấy khởi huân tập của dụng, cho nên Vô Minh tiêu diệt.”
Sở dĩ Chân Như được tôn quíxuyên qua nghiệp dụng bất tư nghì  của nó.  Luận về sức huân tập của Nhiễm PhápTịnh Pháp, hai bên thường  đắp đổi nhau mà huân tập qua lại, tạo nên mười Pháp Giới: Tứ Thánh (( Thinh Văn (La Hán) , Duyên Giác (Bích Chi Phật), Bồ Tát  và Phật)),  Lục Phàm (địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, A-tu-la, nhân gian, Thiên Thượng).
Nhiễm Pháp vô thủy nhưng hửu chung. Tịnh Pháp thì vô thủy, vô chung. Vì nhân ô nhiễmvô minh nương vào Chân Nhưsanh khởi. Như vậy thời Chân Nhưvô thủy của vô thủy vậy. Do sức huân tập của Chân Nhưvô minh bị trừ dứt sạch mới thành Phật. Do đó nên nói Nhiễm Pháp sẽ dứt nhưng Tịnh Pháp thời thường hằng.
Đến đây đã luận giải xong về Sanh Diệt Môn, bao gồm Nhân Duyên sanh diệt, Tướng sanh diệtNhiễm Tịnh tương tư.  
3-NHƯ LAI TẠNG - GIẢI THÍCH THEO NHIỄM TỊNH
“TThTướng của Chân Như.  Tất cả phàm phu, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, chư Phật đều có như nhau, không thêm không bớt. Không phải trước sanh, không phải sau diệt, rốt ráo thường hằng. Ngay trong bản chất, tự tánh đầy đủ tất cả công đức. Sở dĩ Tự Tánh ấy có nghĩa đại trí tuệ quang minh, có nghĩa biến chiếu Pháp Giới, có nghĩa chân thật thức trí, có nghĩa tự tánh thanh tịnh tâm, có nghĩa Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, có nghĩa thanh lương bất biến tự tại, đầy đủ mọi nghĩa của Pháp Phật là bất ly, bất đoạn, bất dị, bất khả tư nghì, nhiều hơn số cát sông Hằng, đầy đủ tất cả, không thiếu một nghĩa cỏn con nào, nên gọi là Như Lai Tạng, cũng gọi là Như Lai Pháp Thân” .
Đoạn trên nói đến Đại Trí Tuệ Quang Minh, nghĩa là ánh sáng của trí tuệ to lớn suốt soi trong vắt (còn gọi là Chân Thể của Tỳ Lô Giá Na). Biến chiếu Pháp Giới, đem thật Trí mà soi vào lý thì không lý nào mà không thấu triệt. Đêm quyền Trísoi xét vật thì không vật nào mà không rọi đến tận cùng. Đây là Trí Bát Nhã: Thật tướng, quán chiếuphương tiện, chân thật thức tri. Tự Tánh Như Lai xa lìa nhiễm ô.
Thường, Lạc, Ngã, Tịnh là bốn đức của Niết Bàn:
·       Cùng tột ba đời mà không đổi là Thường
·      Ở trong khổ mà tự tại là Lạc
·      Trong sanh tử mà không bị trôi lăn là Ngã
·      Tùy duyên chuyển biến mà không bị nhiễm ô bởi thế gian là Tịnh
Tại sao lại Thanh Lương bất biến tự tại?  Đó là vĩnh viễn xa lìa não nhiệt là Thanh Lương. Trãi qua Sanh Trụ Dị Diệt mà không bị chi phốibất biến. Không bị nghiệp trói buột là tư tại.
Như Lai Tạng không khác Chân Thể của Chân Như nên nói là Bất Ly. Nó tương tục từ vô thủy đến vô chung nên nói là bất đoạn. Nó đồng đẳng nhất vị với Chân Như nên nói là bất dị. Tánh và tướng thông nhau, lý và sự rỗng suốt, Một và Nhiều không ngại nhau, Nhiễm và Tịnh không hai nên nói là Bất Khả Tư Nghì.
Từ “Nhất Pháp Giới Đại Tổng Tướng” đến Sanh Diệt Môn, Chân Như Môn, Tánh, Tướng, Dụng v.v… Luận chủ đều qui kết vào Như Lai Tạng. Nói chung  Tâm Chúng Sanh hàm chứa tất cả Pháp  Nhiễm Tịnh, Hửu Lậu, Vô Lậu, Hửu Vi, Vô Vi v.v… Đó là ý nghĩa của Như Lai Tạng.
 Luận tự đặt ra câu hỏi để giải thích rỏ thêm những ý nghĩa nêu trên:
“Hỏi: Trước nói Chân Như, tự thể của nó bình đẳng, xa lìa mọi tướng, vì sao ở đây lại nói thể ấy có các công đức nhiều như vậy?
Đáp: Tuy nó quả thật có các công đức ấy, nhưng chúng không có tướng sai khác, tất cả đều nhất vị bình đẳng cùng một Chân Như duy nhất. Nghĩa ấy thế nào?
·      Vì không phân biệt, vì lìa tướng phân biệt  cho nên không hai.
Lại vì nghĩa gì mà nói chúng có sai biệt?
·      Đó là nương vào Tướng Sanh Diệt của Nghiệp Thức mà nói để hiển thị.
Hiển thị thế nào?
·      Tất cả các Pháp vốn dĩ chỉ do một Tâm, không hề có Niệm, nhưng vì có vọng niệm, bất giác niệm khởi mà thấy có các cảnh giới, cho nên nói là Vô Minh.
Tánh của Tâm không khởi Niệm, đó là nghĩa Đại Trí Tuệ Quang Minh .
Nếu Tâm dấy khởi cái Thấy, thời có cái mà Tâm không thấy. Tánh của Tâm xa lìa cái thấy, đó là nghĩa Biến Chiếu Pháp Giới.
Nếu Tâm có động, tức không phải tri thức chân thật, không có tự tánh, chẳng phải Thường, chẳng phải Lạc, chẳng phải Ngã, chẳng phải Tịnh, mà là nhiệt não suy biến, không phải tự tại, cho đến có đủ tất cả Vọng nhiễm nhiều hơn số các sông Hằng.
Nếu Tâm dấy khởi cái Thấy,  mà lại chỉ thấy những vật trước mặt có thể Niệm được, tức còn thiếu những vật không thấy. Tịnh Pháp với vô lượng công đức như vậy, tức là Nhất Tâm. Nó lại không có cái Bị Niệm cho nên đầy đủ Thanh Tịnh, gọi là Pháp Thân, kho chứa Như Lai.”
Có ba nhận xét về đoạn trên:
·      Các công đức ấy có thật nhưng không có Tướng Sai Biệt vì tất cả đều đồng đẳng nhất vị và đều là Chân Như duy nhất, xa lìa Tướng Phân Biệt.
·      Vì nương vào Tướng Nghiệp mà nói nên các công đức ấy có khác nhau.
·      Tướng của Nghiệp Thức có bao nhiêu ô nhiễm thì đối lại Tướng của Chân Như có bấy nhiêu Công Đức Thanh Tịnh. Như khởi niệm là Vô Minh thì ngược lại không khởi niệm là Đại Trí Tuệ Quang Minh. Khởi Kiến thì không thấy cùng khắp hết được, ngược lại không khởi Kiến là Biến Chiếu Pháp Giới. v.v…
Như Lai Tạng chính là Nhất Tâm mà tất cả chúng sinh đều có không vì nơi Thánh mà có thêm, hay nơi Phàm Phu mà bớt đi.
Vấn đề được đặt ra là làm thế nào để tách nó ra khỏi Vô Minh, lôi ra khỏi kho chứa A-Lại-Ya vì trong đó Nhiễm PhápTịnh Pháp đang quấn lấy nhau. Làm như thế là để cho Nghiệp Dụng tự nhiên của Như Lai Tạng tự hiển hiện ra.
Chư Phật đã dạy phương cách “tách biệt” ấy mà Luận Khởi Tín đã viết như sau:
“Lại nữa, Dụng của Chân Như, là như các đức Như Lai, khi mới bắt đầu tạo dựng nhân địa tu hành, phát tâm từ bi rộng lớn, thật hành các hạnh Ba La Mật, nhiếp hóa chúng sanh, lập thệ nguyện rộng lớn, muốn độ thoát hết toàn cõi chúng sanh, bình đẳng như nhau,  lại cũng không hạn cuộc số kiếp lâu mau, cho đến tận cùng đời vị lai, vì lấy tất cả chúng sanh làm thân của mình mà cũng không nắm giữ tướng chúng sanh. Như thế nghĩa là thế nào? Nghĩa là biết đúng như sự thật rằng tất cả chúng sanh và chính thân mình đều cùng một Chân Như, bình đẳng, không khác không sai”.
Đoạn trên nói là phải gây nhân, tức là phát tâm từ bi rộng lớn, lập thệ độ sanh. Tu các hạnh Ba La Mật mà nhiếp hóa chúng sanh. Lấy thân chúng sanh  làm thân của chính mình mà không vướng mắc vào tướng chúng sanh. Phải biết rằng mình và tất cả chúng sanh đều cùng một Chân Như bình đẳng như nhau, không sai, không khác.
Thực hành được như thế thì Tự Dụng của Nhất Tâm, tức các loại nghiệp dụng bất tư nghì, chẳng cần phải dụng công thi tác mà tự nhiên hiện ra như trong đoạn kết tiếp đề cập.
“Vì có trí của phương tiện tu hành lớn lao như vậy, cho nên trừ được vô minh, thấy được Pháp Thân vốn có của mình, mà tự nhiên có nhiều loại diệu dụng của Nghiệp Bất Tư Nghì. Dụng đó liền cùng với Chân Như, bình đẳng rải khắp tất cả mọi nơi, mà cũng không có cái Tướng của Dụng có thể nắm bắt được.
Vì sao vậy? Vì các đức Như Lai chỉ là Thân Pháp (Pháp Thân), tức thân của Tướng Trí. Đây là sự thật tuyệt đối, sự thật đệ nhất nghĩa. Trong Thân ấy không có cảnh giới theo nghĩa của sự thật thế gian, xa lìa thi tác, chỉ tùy nơi sự thấy nghe của chúng sanh mà được lợi ích, cho nên nói đó là dụng”.
Khi trừ sạch được Vô Minh, thấy được Pháp Thân vốn có của mình thì tự thể của Chân Như hiển hiện. Khi tự thể hiển hiện thì diệu dụng của nó bình đẳng rãi khắp mọi nơi. Diệu dụng ấy vốn không có Tướng. Chúng sanh chỉ cảm nhận khi được hưỡng lợi lạc từ những diệu dụng ấy.
Các Đức Như Lai chỉ là Pháp Thân, thân của Tướng Trí. Đây là sự thật đệ nhất nghĩa đế, không có cảnh giới theo nghĩa thế gian.
Nghiệp tự nhiên của dụng theo chân thể mà tỏa ra khắp nơi, hoàn toàn vô ngại tự tại.
Các loại Dụng, theo tiến trình của Chân Như chưa hiển lộ hay đã hiển lộ, và hiển lộ tới mức nào để tuần tự xác định từng loại Thân, từ Ứng Thân cho đến Pháp Thân.
Luận viết tiếp:
“Dụng ấy có hai loại:
Một là loại nương vào Phân Biệt Sự Thức mà Tâm của Phàm PhuNhị Thừa thấy được, gọi là Ứng Thân. Vì không biết là do Chuyễn Thức hiện ra cho nên họ thấy thân ấy từ ngoài nắm lấy một mảnh chia cắt của Sắc chất, vì vậy không thể biết hết được.
Hai là loại nương vào Nghiệp Thức mà Tâm của các hàng Bồ Tát từ sơ phát tâm cho đến Cứu Cánh Địa thấy được. Thân ấy có vô lượng sắc, sắc ấy có vô lượng tướng, tướng ấy có vô lượng vẻ. Trú xứ của thân ấy nương nơi quả báo, cũng có vô lượng các món trang nghiêm. Tùy theo các món được thị hiện ra mà liền không có giới hạn, không thể cùng tận, xa lìa tướng chia cắt. Rồi tùy theo các món bị ứng lại mà thường nắm giữ đứng yên, không hư không mất.
Những công đức như vậy sở dĩ thành tựu được là do sức huân tập của các hạnh vô lậu Ba La Mật và sức huân tập bất tư nghì, đầy đủ vô lượng tướng vui, cho nên gọi là Báo.
Lại vì những gì mà phàm phu thấy được chỉ là Thô Sắc, tùy theo Sáu loại chúng sanh trong Sáu đường mà mỗi loại thấy một khác. Các món thấy biết sai khác ấy không phải Tướng Thọ Lạc, cho nên nói là Ứng.”  
Đoạn nầy Luận chủ  luận giải về Nhân là thể của Chân Như và Quả là nghiệp dụng sai khác của Chân Như. Tùy theo thể của Chân Như hiển lộ nhiều hay ít, hoặc chưa hiển lộ mà qui định quả là Ứng thân, Báo thân, hay Pháp thân.
Hàng phàm phuNhị thừa, vì còn vô minh dày đặc che lấp nên chỉ nương vào Phân Biệt Sự Thứcphân biệt, và chỉ phân biệt được các tướng thô của vô minh từ trong Chuyễn Thức hiện ra mà không hề hay biết. Cho nên đối tượng phân biệt của họ là ngoài vào. Thân Phật mà họ thấy cũng chỉ là một mãnh của sắc chất bị chia cắt chứ chưa phải toàn bộ. Vì vậy chúng sinh trong sáu đường, loài nào thấy Phật theo sở hiện riêng của loài ấy. Đó là Ứng Thân.
Đó cũng là trường hợp chung cho Tam HiềnThập Thánh.
Với Tam Hiền, vô minh tan loãng dần nhưng khi lên địa vị Thập Thánh thì vô minh bị phá trừ từng phần, thay vào đó từng phần Chân Như hiện ra.
Thân Phật mà Thập Thánh thấy, chính là những phần của Chân Như đó. Từ Sơ Địa đến Thập Địa cấp độ Chân Như dần dần tăng trưỡng, cho đến Cứu Cánh Địa thì toàn thể Vô Minh bị thay thế bởi toàn thể Chân Như. Đây gọi là Pháp Thân.
Trước khi chưa thành tựu được Pháp Thân, những gì về Thân Phật mà Thập Thánh thấy được gọi là Báo Thân.             
Thân Phật mà họ thấy chính là thân phước báo do từ trong Nghiệp Thức đã được thanh tịnh hóa của chính họ hiện ra. Chân Như hiện ra gần tròn đầy thì Báo Thân to lớn và có vô lượng sắc tướng trang nghiêm. Đây là đứng về phương diện Chánh Báo mà nói. Y xứ của Báo Thân ấy tức là Y Báo. Vì cũng là quả của Chân Như cho nên cũng có vô lượng tướng trang nghiêm như Chân báo, Các tướng trang nghiêm nầy cũng không có hạn lượng, không cùng tận vì đã xa lìa tướng chia cắt.
Các tướng trang nghiêm của Y Xứ bên nầy chiếu qua, bên kia ứng lại, cái bị hiện ra (sở hiện) và cái bị ứng lại (sở ứng), hai bên nâng đở nhau, nắm giữ nhau cùng được an trú, khiến cả hai không hư mất. Đấy là thế giới Hoa Nghiêm, tức cảnh giới trang nghiêm bằng hoa phước báo.
Tất cả đều do sức huân tập của các hạnh vô lậu Ba La Mật bên ngoài, và sức huân tập bất tư nghì của Chân Như bên trong mà thành tựu cho nên gọi là Báo ( Y và Chánh báo).
Còn những gì hiện ra qua Phân Biệt Sự Thức của Phàm Phu và do chính phàm phu thấy được chỉ là thô sắc của Vô Minh hiện ra, cho nên không loài nào trong sáu đường thấy Thân Phật giống loài nào! Vì vậy nên gọi là Ứng. Nghĩa là Ứng với từng loài.
Sau đây Luận giải rõ thêm về Pháp ThânBáo Thân.
“Lại nữa, thân Phật mà Bồ Tát sơ phát tâm thấy được là  chỉ nhờ tin sâu Chân Như mà có thấy chút đỉnh và biết các món trang nghiêm của tướng sắc, không đến không đi, xa lìa chia cắt, chỉ do tâm hiện, không rời Chân Như mà riêng có. Nhưng Bồ Tát ấy chỉ tự phân biệt mình, vì chưa vào trong Pháp Thân. Nếu được tâm thanh tịnh rồi, thì cái mà Bồ Tát thấy sẽ vi diệu và Dụng của nó trở thành thù thắng. Cho đến cấp địa tận của Thập Địa Bồ Tát mới thấy rốt ráo. Nếu lìa nghiệp thức rồi thì không còn tướng thấy, bởi vì Pháp Thân của chư Phật không có tướng sắc bên nầy bên kia giao nhau, xen nhau mà thấy.”                                         
Đoạn trên phân giải rõ thêm về Báo ThânPháp Thân của Bồ Tát từng cấp chứng đắc thấy được. 
Tam Hiền nhờ thâm tín Chân Như cho nên biết các sắc tướng trang nghiêm mà họ thấy chỉ do tâm hiện, không từ đâu lại cũng chẳng đi đâu, xa lìa mọi giới hạn chia cắt và không rời Chân Như mà riêng có. Tuy trong thâm tâm biết như thế nhưng chưa thật đi vào Pháp Thân vì những điều thấy biết ấy còn là “tự tâm phân biệt tự tâm” mà thôi. Cho nên trong một đoạn trước của luận nầy nói đó chỉ là “Tương Tợ Giác” do tỷ quán mà có. Từ Sơ Địa trở lên, Tâm được thanh tịnh, Chân Như mới dần dần hé ra, nhờ đó mới chứng đắc từng phần Pháp Thân. Cho đến Địa Tận, tức địa vị cuối cùng của Thập Địa, toàn bộ Pháp Thân mới hiện ra đầy đủ và chỉ khi ấy mới thấy được Pháp Thân Phật một cách rốt ráo. Từng phần Pháp Thân hiện ra đó gọi là Báo Thân. Và vì Bồ Tát Thập Địa thấy được từng phần Pháp Thân cho đến toàn bộ Pháp Thân, cho nên còn gọi là Bồ Tát Pháp Thân. Khi đã chứng đắc Pháp Thân rồi thì tức là Tướng Nghiệp đã tan rã và Nghiệp Thức (Thức của Nghiệp) không còn nữa. Bấy giờ không còn có Tướng Kiến, nghĩa là Năng Kiến tự tiêu, mà Sở Kiến cũng không còn. Chỉ khi ấy mới thật thấy Pháp Thân chư Phật. Vì Pháp Thân không có tướng sắc khiến hai bên Năng Kiến và Sở Kiến tác động qua lại, đắp đổi nhau mà thành cái thấy. Sau đây Luận chủ tự đặt ra câu hỏi để rồi trả lời giải thích cho rõ thêm về Tướng Sắc.
“Hỏi: Pháp Thân của chư Phật xa lìa Tướng Sắc, vì sao lại có thể hiện ra Tướng Sắc được” ?
“Đáp: Chính ngay Pháp Thân ấy là Thể của Sắc, vì vậyhiện ra nơi Sắc. Điều đó được gọi là: Từ trong bản chất, Sắc và Tâm không hai. Vì tánh của Sắc tức là Trí, cho nên Thể của Sắc vô hình gọi là Trí Thân (Thân Trí). Vì tánh của Trí tức là Sắc cho nên nói Pháp Thân (Thân Pháp) hiện ra khắp nơi. Sắc bị hiện ra, không có chia cắt, chỉ tùy theo Tâm mà thị hiện vô lượng Bố Tát, vô lượng Báo Thân, vô lượng trang nghiêm trên khắp thế giới mười phương, mỗi mỗi sai khác, đều không chia cắt, nhưng không ngăn ngại nhau. Đó không phải do sức phân biệt của tâm thức mà có thể thông hiểu được. Vì nó là dụng của tự tại Chân Như vậy”.            
Trên đây luận chủ đã giải rõ về lý  “Sắc, Tâm”  bất nhị để qui kết toàn thể pháp giới về nguồn gốc chân thật của Nhất Tâm. Tác giả cho đó là diệu dụng tự tại của Chân Như. Diệu  Dụng ấy không thể do sức phân biệt của tâm thức mà có thể thông suốt tường tận hết được.
X-TÙY THUN VÀ HI NHP
 Vấn đề sau cùng là làm thế nào để trở về với Chân Như và hội nhập Chân Như.
Luận viết: “Lại nửa, phải ngay từ Sanh Diệt Môn mà đi vào Chân Như Môn.  Như trong Kinh nói:  ruồng khắp năm Uẩn, uẩn Sắc cũng như uẩn Tâm, và cảnh giới sáu trần, tất cả đều rốt ráo vô niệm. Vì tâm không hình tướng, rong khắp muôn Phương, không đâu tìm thấy. Như người đi lạc đường, gọi Đông là Tây nhưng Phương hướng thì thật không thay đổi. Chúng sinh cũng vậy, vì bị vô minh mê hoặc, gọi Tâm là Niệm, nhưng Tâm thật không động. Nếu ra sức quan sát, biết Tâm vốn vô niệm thì liền được Tùy Thuận mà vào Chân Như Môn”.
Từ Sanh Diệt Môn vào Chân Như Môn phải noi theo Phương pháp quán Vô Niệm, như luận chủ đã phân giải. Vì năm uẩn bên trong cũng như cảnh giới sáu trần bên ngòai tất cả đều vô niệm. Tìm tâm thì chẳng biết tìm nơi đâu!  Không trong , ngòai , không có nơi Đông, Tây…
Quan sát cùng tận thì Tâm cũng là Vô Niệm. Khi quan sát thành công như thế nghĩa là hành giả đã tùy thuận Chân Như để vào Chân Như Môn.
XI-PHÁT TÂM HƯỚNG VỀ BẢN GIÁC
Kế tiếp Phần sau nầy là phân biệt  “Phát thú đạo tướng”  là phân tách Tướng Đạo mà tất cả chư Phật chứng đắc, tất cả chư vị Bồ Tát phát tâm tu hành để mau chứng đắc quả vị Phật.
Trên có từ “Phát Thú” nghĩa là phát tâm hướng về, cất bước ra đi hướng thẳng về một mục tiêu nhất định gọi là “Thú Hướng”. “Phát Thú Đạo Tướng” nghĩa là phân định các tướng sai khác của sự phát tâm hướng đến Đạo. Đạo tức là Bồ Đề, Niết Bàn mà chư Phật đã chứng đắc. Đó là Bản Giác, Nhất Tâm Chân Như, tự tướng của Nhất Tâm ấy là Như Lai Tạng.
Hành tướng của sự phát tâm để đạt đến mục tiêu Toàn Giác đó luận nầy chia làm ba:     
Lược nói có 3 loại phát tâm:
Một là phát tâm của cấp Tín Thành Tựu
Hai là phát tâm của cấp Giải Hạnh
Ba là phát tâm của cấp chứng.
1-THÀNH TỰU TÍN TÂM
“Phát Tâm Tín Thành Tựu là nương vào những hạn người nào?  Tu theo những hạnh gì mà thành tựu được tín tâm, khiến họ đủ sức phát tâm?
Họ là hạng chúng sanh được mệnh danh là Bất Định Tụ. Nhờ có sức của căn lành huân tập nên họ tin quả báo của Nghiệp, khởi hành thập thiện, chán khổ sanh tử, mong cầu vô thượng Bồ Đề. Được gặp chư Phật, đích thân cúng dường, tu hành tín tâm, trãi qua  một vạn kiếp, vì tín tâm đã thành tựu cho nên được chư Phật, Bồ Tát dạy cho phát tâm hoặc nhờ dấy lòng đại bi cho nên có thể tự phát tâm.
Hoặc nhận thấy chánh pháp sắp diệt, vì muốn tạo nhân duyên để hộ trì Chánh Pháp mà có thể tự phát tâm. Do tín tâm thành tựu mà được phát tâm như vậy thì vào Chánh Định Tụ, rốt ráo không tháo lui, gọi là trú trong hạt giống của Như Lai, tương ưng với chánh nhân.”
Đại Thừa Phật Giáo, đứng về mặt đức tin với giáo pháp Đức Phật, chia những tín hửu thành ba nhóm (tụ) là: Chánh Định Tụ, Tà Định TụBất Định Tụ.
Chánh Định Tụ là nhóm người có sẵn cơ duyên gặp Pháp Phật là tin ngay, không có điều kiện hoặc do dự gì. Đó âu cũng là đã có cơ duyên thực hành theo Pháp Phật từ nhiều đời nên mới được quả lành như vậy.
 Tà Định Tụ là nhóm người có lòng tin không chơn chánh về chánh Pháp của Đức Như Lai, có thể là diễn dịch sai lầm hoặc tin một cách tà vạy không chơn chánh.
Còn hạng người không có ý chí dứt khoát, không tự quyết đoán dứt khoát tin hay không tin Pháp Phật, thuộc nhóm Bất Định Tụ. Nhóm nầy thường được gọi là “Mao đạo phàm phu”  nghĩa là những kẻ phàm phu cà lơ phất phơ như những sợi lông trước gío. Hay những người có lập trườnglòng tin không vững, gío thổi chiều nào thì ngã theo chiều ấy. Phần Bất Định Tụ nầy sẽ được giải thích rõ hơn ở đoạn kế tiếp.
Thế nhưng dù nhóm nào đi nữa hễ gặp được thiện tri thức hướng dẫn hoặc do căn lành huân tập,  tin vào quả báo của Nghiệp thời họ có thể khởi hạnh thập thiện, tu mười điều lành, chán ghét khổ sanh tử cầu giải thoát an vui Niết Bàn. Đó là duyên để họ vào nhóm Chánh Định Tụ, rốt ráo không thối lui, tiến đến hoàn toàn giải thoát, giác ngộ, không thối chuyển. Vào trong hạt giống của Như Lai, hoàn toàn tương ưng với Chánh Nhân Phật Tánh. Cũng trong mục Tín Thành Tựu Phát Tâm nầy:
“Nếu có những ai mà căn lành quá mỏng, vì từ nhiều kiếp đến nay, phiền não quá sâu dày, thì dù cho có được gặp Phật và được cúng dường Phật, nhưng họ cũng chỉ phát khởi được hạt giống trời người, hoặc hột giống Nhị Thừa. Giả sử họ có cầu pháp Đại Thừa đi nữa, thì căn tánh cũng bất định, có thể tiến, có thể thối. Hoặc có cúng dường chư Phật, nhưng chưa đầy một vạn kiếp, bỗng gặp nghịch duyên, cũng gọi là có phát tâm đấy, nhưng đây là loại phát tâm vì thích sắc tướng của Phật. Hoặc nhân cúng dường chúng tăngphát tâm. Hoặc nhân gặp nhị thừa giáo hóa mà khiến phát tâm. Hoặc vì bắt chước người khác mà phát tâm.
 Các loại phát tâm như thế, thảy đều là bất định, rủi gặp nhân duyên xấu ác, có thể thối thất hoặc rơi vào đất Nhị Thừa.”
Những điều có thể rơi vào nhóm Bất Định kể trên có thể tóm lại thành 4 trường hợp như sau:
a-GẶP ÁC DUYÊN
Cúng dường Phật chưa tới một vạn kiếp thì gặp ác duyên mà bỏ. Như vậy cũng gọi là phát tâm, nhưng đây là vì thấy sắc tướng tốt đẹp của Phật mà phát tâm.
b-NHÂN CÚNG DƯỜNG
Nhân cúng dường chúng tăngphát tâm.
c-GẶP NHỊ THỪA
Nhân gặp Nhị Thừa giáo hóaphát tâm.
d-HỌC ĐÒI KẺ KHÁC
Học đòi kẻ khác mà phát tâm.
Sau đây là nói về ba trường hợp Phát Tâm của Tín Thành Tựu.
Luận chủ tự đặc câu hỏi rồi tự giải đáp để làm rõ vấn đề:
“Phát tâm của Tín Thành Tựu là những phát tâm gì?
Nói ước lược thì có ba loại. Ba loại ấy là gì ?
·      Một là Trực Tâm, tức tâm Chánh Niệm Chân Như.
·      Hai là Thâm Tâm, tức tâm ưa thích tạo tác và qui tụ các hạnh lành.
·      Ba là Đại Bi Tâm, tức là tâm muốn diệt trừ tận gốc tất cả khổ đau cho chúng sanh.
Trong Thâm Tâm có đề cập đến Chánh Niệm Chân Như cũng chính là Chân Như Tam Muội. Chân Như là gốc của hai lạnh lành là Tự LợiLợi Tha.
Vô lậu Tánh Công Đức trong Chân Như là gốc của Tự Lợi. Tánh tương đồng của tất cả chúng sanh trong Chân Như là gốc của Lợi Tha.
Tất cả các hạnh lành đều có tánh tương ứng với tánh Chân Như. Đó là Thâm Tâm.
Vì cùng đồng thể Đại Bi cho nên diệt trừ tận gốc rể mọi khổ đau cho chúng sanh. Đó là Đại Bi Tâm.
Tất cả Diệu Hạnh đều phát xuất từ ba Tâm kể trên.
Tiếp theo luận chủ tiếp tục tự đặc câu hỏi và tự giải đáp để giải rỏ về Chân NhưPhương Tiện:
“Hỏi: Trên nói Tướng của Pháp Giới chỉ là một, Thể của Phật không hai. Tại sao không niệm chỉ một Chân Như, mà còn phải mượn Phương Tiện cầu học các hạnh lành?
Đáp: Ví như viên ngọc Ma ni lớn, thể chất trong suốt, nhưng có vết quặn dơ. Mặc dù có nghĩ đến tánh qúi của ngọc nhưng nếu không biết dùng phương tiện mài dũa bằng nhiều cách thì không bao giờ ngọc ấy được sáng. Chân Như nơi chúng sanh cũng vậy, thể tánh  rỗng suốt thanh tịnh, nhưng có vô lượng cấu nhiễm của phiền não.
Mặc dầu có niệm Chân Như nhưng nếu không biết dùng phương tiệnhuân tập tu hành bằng nhiều cách thì cũng không được thanh tịnh.
cấu nhiễm nhiều vô lượng và có khắp trong tất cả các Pháp, cho nên muốn đối trị là phải tu tất cả các hạnh lành. Nếu ai tu được tất cả các hạnh lành thì tự nhiên trở về với Chân Như và thuận chiều với Chân Như.”
Hai câu cuối của đoạn sau cùng ở trên đã giải rõ thế nào là Thể Tánh, Chân Như và tại sao phải dùng phương tiện là tu tất cả các hạnh lành để đạt Chân Như.
Tiếp theo là nói về 4 phương tiện tu hànhBồ Tát cấp Tín Thành Tựu phải noi theo tu tập.
“Nói ước lược thì phương tiện có 4 loại.
Bốn loại ấy là gì?
·      Một là phương tiện hạnh tu căn bản.  Ấy là quán tự tánh của tất cả các Pháp vô sanh, xa lìa vọng niệm, không ở trong sanh tử. Lại quán tất cả Pháp do nhân duyên hòa hợp, nghiệp quả không mất mà khởi tâm đại bi, tu các phước đức để nhiếp hóa chúng sanh, không ở trong Niết Bàn. Vì tùy thuận tánh các Pháp vốn vô trú.” 
Vì sao gọi là “Phương tiện hạnh tu căn bản” ? Vì phương pháp nầy căn bản phải tu hai phép quán Vô SanhHòa hợp. Các pháp đều từ Như Lai Tạng sanh khởi nhưng thực sự là vô sanh vì do các duyên hòa hợp sanh ra và lại bị định luật vô thường chi phối nên lại biến mất đi. Đó là quán Vô Sanhhòa hợp vậy. Tánh của các Pháp là vô trú nên không ở trong sanh tử và cũng không trụ nơi Niết Bàn. Đó là hạnh Vô Trú. Trở lại Pháp Tánh các Pháp là Chân Như. Đó là hạnh tu Căn Bản thuận theo pháp tánh vô trú của các Pháp mà hành giả phải thực tập, quán chiếu để đạt đến Giác Ngộ giải thoát sau cùng.
·      “Hai là phương tiện ngăn chặn điều ác. Ấy là thẹn với mình, hổ với người, sám hối tội lỗi. Nhờ đó mà có thể ngăn chặn tất cả điều ác không cho lớn thêm. Như vậy là vì tùy thuộc, thuận tánh các Pháp vốn xa lìa tội lỗi.”
Muốn xa lìa điều ác đoạn trên đã nhắc đến hai món Thiện Tâm Sở trong Duy Thức Học đó là Tàm và Quý (tức là Thẹn với mình và Hổ với người) và sám hối tội lỗi.
Tàm, Quý và Sám Hốicông năng ngăn chặn những điếu ác, không cho chúng sanh khởi và tăng trưởng. Tu theo hai mục nầy tức là thuận theo Pháp Tánh ly quá của Chân Như. Đây là phương pháp Chỉ Trì trong Phật Giáo.
·      “Ba là phát khởi căn lành và tăng trưỡng phương tiện. Đó là siêng năng cúng dườnglễ bái Tam Bảo, tán thántùy hỷ, khuyến thỉnh chư Phật giáo hóa. Nhờ tâm thuần hậu kính phụng Tam Bảo ấy mà tín tâm được tăng trưởng, sau đó mới có thể lập chí cầu Đạo Vô Thượng. Lại nhân được sức gia hộ của Tam Bảotiêu trừ được nghiệp chướng, khiến căn lành không thối thất. Như vậy là nhờ tùy thuận tánh các Pháp mà xa lìa được chướng si mê.”
Theo phương pháp Tác Trí trong Phật Giáo thì muốn tăng trưởng căn lành phải hành trí lễ bái để trừ được ngã mạn, nhờ tán thánxa lìa hủy báng, nhờ tùy hỷxa lìa được ganh ghét. Không ngã mạn, không hủy báng, không ganh ghét, đó là những đám đất rất tốt, đầy đủ điều kiện để cho căn lành thượng đẳng sinh sôi nẫy nở.
·      “Bốn là phương tiện đại nguyện bình đẳng. Ấy là phát nguyện hóa độ tất cả chúng sanh, cho đến tận cùng đời vị lai, không bỏ sót một ai, khiến tất cả đều rốt ráo vào Vô Dư Niết Bàn. Như vậy là vì tùy thuận tánh của các Pháp vốn không đoạn tuyệt. Tánh các Pháp rộng lớn, hiện diện cùng khắp tất cả chúng sanh. Tánh ấy bình đẳng không hai, không phân biệt Đây, Kia, rốt ráo tịch diệt.”
Khi nói tin là tin nơi Pháp Tánh Chân Như. Còn thực hành cũng theo Pháp Tánh Chân Như ấy. Cho nên khi phát khởi tâm là Tâm Đại Nguyện Bình Đẳng, hóa độ tất cả chúng sanh đến tận đời vị lai đến chứng đắc Niết Bàn, không bỏ sót một ai. Cũng như đại nguyện của ngài Địa Tạng Bồ Tát là :
“Địa ngục dị không thệ bất thành Phật” vậy.
Đó là phát nguyện từ Tâm Chánh Niệm Chân Như, biết rõ Chân Nhưvô thủy, vô chung. Phát nguyện từ Thâm Tâm, ưa thích thành tựu mọi hạnh lành mới có được đại nguyện rộng lớn mênh mông vô hạn lượng như thế. 
“Bồ Tát nhờ phát tâm ấy rồi, thời được thấy một phần nhỏ của Pháp Thân. Đã thấy được Pháp Thân, tùy theo nguyện lực riêng mà hiện ra được tám tướng lợi ích chúng sanh. Đó là: từ trời Đâu Suất xuống, vào thai mẹ, ở trong thai, ra khỏi thai, xuất gia, thành đạo, giáo hóa, vào Niết Bàn.
Nhưng Bồ Tát ấy chưa được gọi là Bồ Tát Pháp Thân vì các Nghiệp hửu lậu gây ra từ quá khứ lâu xa cho đến lúc đó chưa cắt đứt hết, cho nên sinh ra ở đâu thì tùy theo chỗ đó mà có những khổ vi tế. Nhưng đó cũng không phải là bị nghiệp buộc ràng, vì có sức tự tại của đại nguyện.
Như trong Kinh có chỗ nói rằng còn bị thối đọa vào ác thú. Thật ra thì không phải như vậy. Đó là chỉ vì các Bồ Tát sơ học chưa vào được Chánh Định Tụ mà giãi đãi, cho nên Phật nói như vậy để họ sợ hải mà tinh tấn dõng mãnh hơn lên. Lại nữa, các Bồ Tát ấy sau khi đã phát tâm nầy thời không còn khiếp nhược, rốt ráo không sợ rơi vào đất Nhi Thừa nữa.
Dù nghe nói phải cần khổ tu hành trải qua vô lượng vô biên vô số kiếp mới đắc Niết Bàn cũng chẳng khiếp sợ. Vì họ tin và biết tất cả các pháp, từ trong bản chất, đã là Niết Bàn rồi.”
Bồ Tát phát tâm Tín Thành Tựu, nghĩa là Bồ Tát Thập Tín (Tín Tâm, Niệm Tâm, Tinh Tấn Tâm,  Định Tâm, Huệ Tâm, Bất Thối Tâm, Hộ Pháp Tâm, Hồi Hướng Tâm, Giới Tâm, Nguyện Tâm) đã mãn tâm nay bắt đầu Trú Tâm tức là Thập Trụ (Phát Tâm Trụ, Trì Địa Trụ, Tu Hành Trụ, Sanh Quí Trụ, Phương Tiện Cụ Túc Trụ, Chánh Tâm Trụ, bất Thối Trụ, Đồng Chơn Trụ (cái tướng thiêng liêng của mười Thân Phật đồng thời đủ hết), Pháp Vương Tử Trụ, Quán Đảnh Trụ). Tại đây, các vị nầy đang an trú tâm mình, cho nên đã bắt đầu thấy hé ra một phần nhỏ của Pháp Thân. Vì đã thấy thoáng bóng Chân Như hiện ra, dù chỉ một phần nhỏ, nhưng với nguyện lực mạnh mẽ sẵn có, họ có thể thị hiện tám tướng thành đạo như đức Phật lịch sử đã làm để hóa độ chúng sanh.
Mặc dù Kinh dạy rằng ở cấp nầy phải trãi qua vô số kiếp mới đắc quả nhưng vì đã dũng mãnh phát tâm nên không hề khiếp sợ vì Bồ Tát tin và biết tất cả các Pháp từ trong bản chất đã là Niết Bàn rồi.
Đó là nói về Bồ Tát cấp Tín Thành Tựu.
Sau đây là phân tích về Bồ Tát cấp Giải Hạnh Phát Tâm.
2-PHÁT TÂM GIẢI HẠNH
So với cấp “Phát tâm tín thành tựu” thì sự phát tâm của Bồ Tát Giải Hạnh nầy được minh thị bằng hai chữ “CHUYỄN THẮNG”. Nghĩa là chuyễn biến và thù thắng hơn trước.
Luận viết:
“Qua sự phát tâm của Giải Hạnh thì nên biết là đã trở thành thù thắng hơn. Vì Bồ Tát nầy từ sơ phát tâm Chánh Tín đến nay, khi a tăng kỳ kiếp đầu sắp hết, thâm giải pháp tánh chân như, tu phép Ly Tướng. Vì biết thể của pháp tánh xa lìa xan tham, cho nên tùy thuậntu hành bố thí ba la mật. Vì biết pháp tánh không nhiễm ô, xa lìa tội lỗi ngũ dục, cho nên tùy thuậntu hành trì giới ba la mật. Vì biết pháp tánh không đau khổ, xa lìa não hại của sân hận, cho nên tùy thuậntu hành nhẫn nhục ba la mật. Vì biết pháp tánh không có tướng thân tâm, xa lìa giải đãi, cho nên tùy thuậntu hành tinh tấn ba la mật. Vì biết pháp tánh thường định, thể nó không loạn, cho nên tùy thuậntu hành thiền ba la mật. Vì biết thể của pháp tánh thường trong sáng, xa lìa vô minh, cho nên tùy thuậntu hành bát nhã ba la mật”.
Đứng về mặt tướng mà nói, Thập Tín mãn tâm rồi thì lên Thập Trú mà an trú tâm. Đó là Bồ Tát cấp Tín Thành Tựu. An trú tâm xong thì mới mong công hạnh hết chỗ sơ hở. Đây là Bồ tát Thập Hạnh. Công hạnh viên mãn rồi thì mới vào Thập Hồi Hướng để trực tiếp tìm hiểu Chân Như. Hàng Bồ Tát Thập HạnhThập Hồi Hướng được luận nầy gọp chung lại mà thành cấp Giải Hạnh. Như vậy so với cấp Tín Thành Tựu trước đây, cấp Giải hạnh nầy rõ ràngthù thắng hơn nhiều.
Để hiểu rỏ thêm về 6 pháp tu Ba La Mật, xin ghi lại bằng tiếng Anh theo tự điển  Buddhist Terms như sau:
“Ba la mật đa  Pàramità, derived from parama, highest, acme, is intp. As to cross over from this shore of births and deaths to the other shore, or nirvãna. This six pãramitãs or means so doing are: (1) Dãna, charity; (2) Sĩla, moral conduct; (3) Ksãnti, patience; (4) Vĩrya, energy or devotion; (5) Dhyãna, contemplation or abstraction; (6) Prajnã, knowledge.”
Đó là 6 Ba la mật: Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền ĐịnhBát Nhã. Ngoài ra còn có 10 Ba la mật, thêm 4 Ba la mật nữa như sau:
(7)-Phương Tiện, (8)-Nguyện, (9)-Lực, (10)-Trí  Tuệ.
The Ten are the above with  (7)-Upãya, use of expedient or proper means; (8)-Pranidhana, vows, for bodhi and helpfulness; (9)-Bala, strength, purpose; (10)-Jnãna, Wisdom.
Childers gives the list of Ten as the perfect exercise of almsgiving, morality, abnegation of the world and of self, wisdom, energy, patience, truth, resolution, dindness, and resignation. Each of the Ten is divisible into ordinary, superior, and unlimited perfection…                
 Luận giải rõ thêm về Lục Độ Ba La mật như sau:
“Phạm: pãramitã, Pãli: pãramĩ hoặc pãramitã. Tức là từ bờ sống chết cõi mê bên nầy mà đến bờ Niết bàn giải thoát bên kia. Còn gọi là Ba La Mật Đa, Ba La Nhĩ Đa. Dịch ý là Đáo Bỉ Ngạn, độ vô cực, độ sự cứu kính. Thông thường, nói về sự tu hành của Bồ tát, đại hạnh của Bồ tát có khả năng hoàn thành tất cả mọi việc lợi mình, lợi người một cách mỹ mãn rốt ráo, cho nên gọi là cứu kính. Làm theo hạnh lớn ấy mà có thể từ bờ sống chết bên nầy đến được bờ Niết Bàn bên kia, cho nên gọi là Đáo Bỉ Ngạn. Hạnh lớn ấy có khả năng cứu giúp mọi loài một cách bao la vô hạn, cho nên gọi là Độ Vô Cực.
Tiếng Phạm pãramitã, có các nghĩa: đến bờ bên kia, trọn vẹn, đầy đủ. Tiếng Pãli, pãramĩ, thì có các nghĩa: tối thượng, chung cực. Đối với Ba La Mật, các nhà phiên dịch, giải thích, mỗi nhà có cách nói riêng. Cứ theo kinh Di Lặc Bồ tát sở vấn chép, thì Ba La Mật thông cả nghĩa đã đến và sẽ đến, tức là Phật đã đến bờ bên kia, còn Bồ tát thì sẽ đến bờ bên kia. Cứ theo Nhiếp Đại Thừa Luận Thích quyển 9 (bản dịch đời Lương) chép, thì Đáo Bỉ Ngạn có ba nghĩa khác nhau:
(1)- Tùy chổ tu hànhđạt đến vô dư rốt ráo.
(2)-Vào Chân Như, vì Chân Như là cùng tột, cũng như các dòng sông đổ vào biển cả là chung cực.
(3)- Được quả vô đẳng, không quả nào khác hơn được quả nầy, bởi vì các pháp mà Bồ Tát tu hành, cái lý mà Bồ Tát thâm nhập và cái quả mà Bồ Tát chứng đắc, đều là rốt ráo, tròn đầy.
Lại cứ theo kinh Giải Thâm Mật quyển 4 chép, thì Ba La mật đa có 5 nhân duyên, tức là không nhiễm trước, không luyến tiếc, không tội lỗi, không phân biệt và không quay trở lại.
Theo kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương quyển 4 chép, thì Ba La Mật có 17 nghĩa, như tu tập thắng lợi, không dính dấp điều gì, không cố chấp thiên kiến, không hệ lụy v.v…
Kinh Đại Bảo Tích quyển 53 chép, Ba La Mật có 12 nghĩa, như biết được tất cả các pháp lành vi diệu có khả năng đến bờ bên kia, trong các pháp môn sai biệt của tạng Bồ Tát, an trụ nơi chính nghĩa v.v…
Còn về thuyết bờ bên nầy, bờ bên kia thì giữa các Sư cũng có những ý kiến khác nhau. Cứ theo Đại Thừa Nghĩa Chương quyển 12 mục lục Ba La Mật chép, thì :
(1)-Sống chết là bờ bên nầy, Niết bàn rốt ráobờ bên kia.
(2)-Sống chết Niết bànhình tướng là bờ bên nầy, bình đẳng không hình tướngbờ bên kia.
Theo Đại Phẩm Kinh Du Ý chép, thì:
(1)-Tiểu Thừa là bờ bên nầy, Đại Thừabờ bên kia.
(2)-Ma là bờ bên nầy, Phật là bờ bên kia.
(3)-Thế Gian là bờ bên nầy, Niết Bànbờ bên kia.
Thành Luận Sư thì bảo hửu tướng là bờ bên nầy, vô tướngbờ bên kia; sống chết là bờ bên nầy, Niết Bànbờ bên kia; phiền não (hoặc) là bờ bên nầy, chủng tríbờ bên kia.
Theo các Kinh, Luận thì có 6 Ba La Mật, 10 Ba La Mật, và 4 Ba La Mật khác nhau.
(1)-Sáu Ba La Mật, còn gọi là sáu độ, là thuyết của các bộ kinh Bác Nhã; chỉ 6 hạnh tu mà Bồ Tát đại thừa phải thực hiện. Đó là:
(a)-Bố Thí Ba La Mật, còn gọi là Đàn na ba la mật (tiếng Phạm, Pãli: dãna) ba la mật, có nghĩa là bố thí hết cả, không xẻn tiếc vật gì.
(b)-Trì Giới Ba La Mật, còn gọi là Thi la (Phạm: sĩla) ba la mật, có nghĩa là giữ gìn giới luật của giáo đoàn một cách trọn vẹn.
(c)-Nhẫn Nhục Ba La Mật, còn gọi là Sằn Đề (Phạm: ksãnti) ba la mật, hàm ý là triệt để nhịn nhục.
(d)-Tinh Tiến Ba La Mật, còn gọi là Tì lê da (Phạm: vĩrya) ba la mật, hàm ý là cố gắng hết sức, không thối lui.
(e)-Thiền Định Ba La Mật, còn gọi là thiền na (Phạm: dhyãna) ba la mật, có nghĩa hoàn toàn để tâm vào một cảnh.
(f)-Trí Tuệ Ba La Mật, còn gọi là Bát nhã (Phạm: prajnã) ba la mật, Tuệ ba la mật, Minh độ, Minh độ vô cực, có nghĩa là trí tuệ tròn đầy, là trí tuệ không phân biệt, siêu việt lý tính con người. Y vào Bát nhã ba la mật thì có thể làm việc bố thíhoàn thành Bố thí ba la mật, cho đến tu Thiền định mà hoàn thành Thiền định ba la mật. Vì thế, Bát nhã ba la mật là gốc của 5 ba la mật kia và được mệnh danh là mẹ của chư Phật.
(2)-Mười Ba La Mật, còn gọi là mười độ, mười thắng hạnh, là thuyết trong kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương, phẩm Tối Tịnh Đà La Ni. Thêm bốn ba la mật dưới đây vào sáu ba la mật kể trên thì thành mười ba la mật, đó là:
(a)-Phương Tiện Ba La Mật, còn gọi là Âu Ba Da (Phạm: upãya) Ba La Mật, chỉ các phương pháp khéo léo cứu giúp chúng sinh.
(b)-Nguyện Ba La Mật, còn gọi là Bát La Ni Đà Na (Phạm: pranidhãna) Ba La Mật, có nghĩa là thệ nguyện cứu giúp chúng sinh sau khi đã được trí tuệ (tức Bồ đề).
(c)-Lực Ba La Mật, còn gọi là Ba la (Phạm: bala) ba la mật, nghĩa là cái năng lực có thể phán đoán điều mình tu hành một cách hoàn toàn chính xác.
(d)-Trí Ba La Mật, còn gọi là Nhã la (Phạm: jnãna) ba la mật, có nghĩa là thụ hưởng niềm vui Bồ đề, đồng thời, chỉ dạy chúng sinh được trí tuệ siêu việt.
(3)-Bốn Ba La Mật, là thuyết trong các chương Điên đảo, Chân thực của kinh Tắng man. Tức là:
(a)-Thường Ba La Mật, nghĩa là Ba la mật triệt để vĩnh viễn.
(b)-Lạc Ba La Mật, nghĩa là Ba la mật triệt để an ổn.
(c)-Ngã Ba La Mật, nghĩa là Ba la mật có tính chủ thể triệt để.
(d)-Tịnh Ba La Mật, nghĩa là Ba la mật triệt để thanh tịnh.
Bốn ba la mật trên đây tức là bốn đặc chất (bốn đức) thù thắng của Niết Bàn.
(4)- Mật Giáo, trong Kim cương giới mạn đồ la, lấy Đại Nhật Như Lai làm trung tâm, gọi bốn Bồ Tát đặt ở bốn phương đông nam tây bắc là bốn ba la mật. Tức là Đông phương Kim cương ba la mật, Nam phương Bảo ba la mật, Tây phương Pháp ba la mật, Bắc phương Nghiệp ba la mật.
Ngoài ra, trong các kinh điển tiếng Pãli nam truyền, như Sở hành tạng (Pãli: Cariyãpitaka), Phật chủng tính (pãli: Buddhavamsa), Pháp cú kinh chú (Pãli: Dhammapadatthakathã) v.v… cũng lập mười ba la mật là: Bố thí ba la mật, Trì giới ba la mật, Xuất li (Pãli: nekkhamma) ba la mật, Bát nhã ba la mật, Tinh tiến ba la mật, Nhẫn nhục ba la mật, Chân đế (Pãli: sacca) ba la mật, Quyết ý (Pãli: adhitthãna) ba la mật, Từ (Pãli: mettã) ba la mật, và Xã (Pãli: upekkhã)  ba la mật. [X. kinh Bồ tát nội tập lục ba la mật; kinh Quán Phổ Hiền Bồ tát hành pháp; kinh Hoa nghiêm, phẩm Ly thế gian; luận Đại trí độ quyển 53; luận Câu xá quyển 18; luận Du già sư địa q.49; Đại tuệ độ kinh tông yếu; Nhân vương hộ quốc bát nhã kinh sớ q.1 (Trí khải); Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh sớ q. thượng (Lương bí); Bát nhã ba la mật đa kinh tán].”   
 Những hạnh tu nầy sẽ đạt được viên mãn hóa Hạnh và Giải để chuẩn bị cho Bồ tát lên cấp sơ địa trong Thập địa. Bồ tát Thập địa, luận Đại Thừa Khởi Tín gọi là Bồ Tát Cấp Chứng. Theo thông lệ của Đại Thừa, thì Bồ Tát từ sơ phát tâm cho đến Đẳng Giác, được chia làm 5 cấp bậc là: Tín, Trụ, Hạnh, Hướng, Địa. Nhưng luận nầy căn cứ vào nghĩa của Chân Như gôm chung lại mà chia thành 3 cấp, như ta đã đọc là Tín Thành Tựu, Giải Hạnh và Chứng.
Tín và Trú tương đương với Tín Thành Tựu. Hạnh và Hướng tương đương với Giải hạnh. Địa tương đương với Chứng.
3-PHÁT TÂM CẤP CHỨNG
Bồ Tát tu pháp Giải Hạnhtùy thuận pháp tánh Chân Như mà tu, chưa thật chứng Chân như. Đó là phép Tỷ quán không giống phép Trực quán như cấp Chứng. Sau khi Tỷ quán đã nhuần nhuyễn và Giải hạnh đã đầy đủ, tâm trở nên thanh tịnh. Địa vị đạt đượcTịnh tâm địa. Sau đó Bồ Tát đăng địa và bắt đầu phá Vô minh, chứng từng phần Chân Như.
Luận viết:
“Phát Tâm Cấp Chứng là từ địa vị tịnh tâm lên tới địa vị cứu cánh, Bồ Tát chứng cảnh giới gì? Đó là Chân Như, nhưng vì nương vào Chuyển Thức cho nên nói là cảnh giới. Thật ra thì chứng đó không có tướng cảnh giới mà chỉ là trí Chân Như, mệnh danh là Pháp Thân.”
Chứng nghĩaTrí Chân Như (chủ thể) và Lý Chân Như (đối tượng) hoàn toàn khế hợp nhau. Đây có thể nói là Bát Nhã quán chiếu bắt gặp Bát Nhã Thật tướng, trong đó Quán chiếu cũng là Thật tướngThật tướng cũng là Quán chiếu. Đạt đến Trí và Lý không hai đó Luận nầy gọi là Trí Chân như hay là Pháp thân.
Đoạn trên có từ  “Địa vị Tịnh Tâm”, vậy Tịnh Tâm là gì?
Tịnh Tâm Địa, tiếng Phạm gọi là Súddhy-adhyãsáya-bhũmi. Còn gọi là Tịnh Tâm Trụ, Tịnh Thắng Ý Lạc Địa.
“Chỉ cho điạ vị chứng được tâm thanh tịnh vô lậu, là giai vị thứ nhất trong các giai vị tu hành của Phật Giáo Đại Thừa, một trong Bảy Điạ, địa thứ nhất trong Mười Địa, một trong Mười Hai Trụ, đồng với Hoan Hỉ Địa.
Đối lại với Giải hành trụ thuộc Địa tiền (các địa vị dưới Thập địa) chưa chứng tịnh tâm, hàng Sơ địa (địa vị thứ nhất của Thập địa) đã đoạn trừ các phiền não trói buộc, chứng được sự giải thoát thanh tịnh, gọi là Tịnh tâm địa.
Theo Vô Lượng Thọ kinh Ưu Bà Đề Xá Nguyện Sinh kệ thì người sinh về Tịnh độ được thấy Phật A Di Đà, tuy chưa chứng Bồ Tát tịnh tâm nhưng cũng đồng với Bồ Tát Tịnh Tâm, chứng được Pháp thân bình đẳng.
Vãng sinh luận chú quyển hạ của ngài Đàm Loan cho rằng: Pháp thân bình đẳngBồ Tát pháp tính sinh thân của Địa thứ 8 trở lên. Từ địa thứ bảy trở xuống là hàng Bồ Tát chưa chứng Tịnh Tâm. Tịnh Tâm là tâm vô lậu, từ Địa thứ 8 trở lên thuần là vô lậu nối tiếp nhau,  cho nên gọi là Tịnh Tâm Bồ Tát. Thuyết nầy cho rằng Tịnh Tâm là từ Địa thứ 8 trở lên, khác với thuyết Sơ Địa chủ trương Địa thứ nhất đã chứng được Tịnh Tâm.
Ngoài ra Tịnh Tâm Địa trong Thiền Tông là chỉ cho tâm địa, tâm tính.
[Tham khảo: kinh Bồ tát địa trì Q.3; luận Đại thừa khởi tín; Đại thừa nghĩa chương Q.12;  v.v…].
Đoạn sau đây Luận nói về diệu dụng của Bồ Tát Cấp Chứng là thế nào?   
Luận viết:
“Bồ Tát ấy trong khoảng một Niệm, có thể đến các thế giới cùng khắp mười phương, cúng dường chư Phật, thỉnh Phật chuyển pháp luân, chỉ vì mục đích mở đường chỉ nẻo, làm lợi ích cho chúng sanh, không nương vào văn tự. Có khi vì chúng sanh khiếp nhược mà thị hiện mau thành Chánh Giác, vượt qua tất cả các địa vị tu hành. Có khi vì chúng sanh lười biến khinh lờn mà nói “ta trải qua vô lượng vô số kiếp mới thành Phật đạo”. Thị hiện vô số phương tiện không thể nghĩ bàn như thế, nhưng thật ra thì căn cơ chủng tánh của Bồ Tát ngang nhau, thì phát tâm ngang nhau, sở chứng cũng ngang nhau, không có chuyện vượt qua các địa vị được. Vì tất cả các Bồ tát đều phải trải qua ba A tăng kỳ kiếp tu hành. Chỉ vì chúng sanhthế giới không đồng, các điều thấy nghe cũng như căn cơ, ham muốn và tánh tình có khác nhau, cho nên những việc mà Bồ tát cấp Chứng thị hiện ra cũng có sai khác.”
Đoạn kế tiếp Luận nói về ba tướng của tâm:
“Lại nữa, tướng của tâm mà Bồ Tát ấy phát có ba loại với tướng rất vi tế. Ba loại ấy là gì?
Một là Chân tâm, vì nó không phân biệt.
Hai là Tâm phương tiện, vì nó khắp làm lợi ích cho chúng sanh một cách tự nhiên.
Ba là Tâm nghiệp thức, vì nó dấy khởi sanh diệt vi tế.
Lại nữa, Bồ Tát ấy khi công đức đã thành tựu viên mãn rồi, thời thị hiện thân rất cao lớn ở nơi cõi Sắc cứu cánh, trùm lên tất cả thế gian. Đó là Tuệ giác mà một Niệm tương ưng, khiến cho vô minh lập tức rủ sạch, gọi là Trí nhất thiết chủng, do đó mà tự nhiênNghiệp dụng không thể nghĩ bàn hiện ra khắp mười phương để làm lợi ích cho chúng sanh”.
Đoạn luận trên ý nghĩa rõ ràng không có gì khó hiểu nên không cần bàn luận thêm. Chỉ có pháp số “A tăng kỳ kiếp” thường hay gặp trong các Kinh, Luận nên cần ghi rõ để tiện việc tham khảo.
A Tăng K Kiếp:
Trước tiên “A tăng kỳ” là gì ?
Tiếng Phạm: Asamkhya, là một trong những số mục của Ấn Độ, là số cực lớn. Còn gọi là A tăng gìa, A tăng xí da, A tăng, Tăng kỳ. Dịch ý là không thể tính đếm, hoặc là vô số lượng, vô lượng số.
Trong 60 loại đơn vị số mục của Ấn Độ thì A tăng kỳ là số thứ 52.
Theo luận Đại Tỳ Bà Sa quyển 177 thì có 3 loại A tăng xí da:
(1)-Kiếp A Tăng Xí Da, lấy đại kiếp làm một, tích chứa đến Lạc xoa câu chi, dần dà cho đến quá số Bà yết la.
(2)-Sinh A Tăng Xí Da, chỉ mỗi mỗi kiếp trải vô số đời.
(3)-Diệu Hành A Tăng Xí Da, trong mỗi mỗi kiếp tu vô số diệu hạnh. Do ba loại A tăng xí da ấy mà chứng Vô thượng giác.
Trong kinh Hoa nghiêm, Phật đã nói về 10 số lớn như dưới đây:
(1)-A tăng kỳ (vô số). (2)-Vô lượng. (3)-Vô biên (không bờ bến). (4)- Vô đẳng (không chi bằng). (5)-Bất khả sổ (không đếm được). (6)-Bất khả xưng (không thể xưng ra được). (7)-Bất khả tư (không thể nghĩ ra). (8)-Bất khả lượng (không thể đo lường). (9)-Bất khả thuyết (không thể nói). (10)-Bất khả thuyết bất khả thuyết.
Như trên ta thấy A tăng kỳ là số nhỏ nhất trong 10 số. Theo nhiều Phật học đại tự điển thì A tăng kỳ là con số: đứng đầu là số 1, theo sau đó là 47 con số không.
[Tham khảo: Hoa Nghiêm bản dịch mới Q.45, phẩm A tăng kỳ; Luận Câu xá Q.12, phẩm phân biệt thế gian; luận Đại trí độ Q.4;  Ngủ thập nhị số v.v…].
 Đó là số A tăng kỳ. Còn Kiếp thì tính như thế nào?
Kiếp: Tiếng Phạn là Kalpa; tiếng Pãli là Kappa. Âm Hán là Kiếp ba, Kiếp bả, Kiếp pha, Yết lạp ba.
Có nghĩa là phân biệt thời phần, phân biệt thời tiết, Trường thời, Đại thời, Thời. Vốn là đơn vị thời gian rất dài của Bà La Môn GiáoẤn Độ thời xưa. Về sau Phật Giáo dùng theo và coi đó là thời gian không thể tính toán được bằng năm tháng.
Có thuyết nói 1 Kiếp tương đương với một ngày ở cõi trời Đại Phạm, hoặc 1.000 thời (Phạn: Yuga) tức là 243 triệu năm (243.000.000) ở nhân gian, cuối kiếp có nạn lửa xảy ra, đốt cháy hết tất cả, sau đó thế giới được thành lập lại.
Thuyết khác thì cho rằng một Kiếp có 4 thời:
(1)-Viên mãn thời (Phạn: Krtayuga), tương đương với 1.728.000 năm.
(2)-Tam phần thời (Phạn: Tretãyuga), tương đương với 1.296.000 năm.
(3)-Nhị phần thời (Phạn: Dvãyuga), tương đương với 864.000 năm.
(4)-Tranh đấu thời (Phạn: Kaliyuga), tương với 432.000 năm.
Tất cả 4 thời gồm có 4.320.000 năm.  Theo thuyết nầy thì thời gian chúng ta đang sống đây thuộc về Thời Tranh Đấu.
Ngoài ra, căn cứ vào thuyết 1 Kiếp có 4 thời nói trên, Bà La Môn Giáo cho rằng so sánh 4 thời với nhau thì về mặt thời gian, càng ngày càng ngắn đi, thân hình con người thấp bé dần và đạo đức mỗi ngày mỗi sa sút, nếu Thời Tranh Đấu kết thúc thì là mạt kiếp, thế giới sắp bị hủy diệt.
Quan niệm về thời gian của Phật Giáo lấy Kiếp làm cơ sở để thuyết minh quá trình hình thành và hủy diệt của thế giới.
Vấn đề phân loại các Kiếp trong Kinh Luận có nhiều thuyết khác nhau:
Luận Đại Trí Độ quyển 38, cho rằng Kiếp có 2 loại: Đại kiếpTiểu kiếp.
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Ưu Bà Đề Xá chia Kiếp làm 5 loại: Dạ, Trú, Nguyệt, Thời, Niên (đêm, ngày, tháng, giờ, năm).
Luận Đại Tỳ Bà Sa quyển 135 cho rằng Kiếp có 3 loại: Trung Gian Kiếp, Thành Hoại Kiếp, và Đại Kiếp.
Luận Câu Xá quyển 12 nêu 4 loại: Hoại Kiếp, Thành Kiếp, Trung Kiếp, và Đại Kiếp.
Luận Chương Sở Tri quyển thượng chia Kiếp thành 6 loại: Trung Kiếp, Thành Kiếp, Trụ Kiếp, Hoại Kiếp, Không KiếpĐại Kiếp.
Du Già Sư Địa Luận Lược Toản quyển 1, phần cuối nói có 9 loại Kiếp:
(1)-Nhật nguyệt tuế số (số ngày tháng năm).
(2)-Tăng Giảm Kiếp (tức tiểu tam tai kiếp, đói, kém, bệnh tật, đao binh), gọi là Trung Kiếp.
(3)-Hai mươi kiếp là 1 kiếp, tức Phạm chúng thiên kiếp.
(4)-Bốn mươi kiếp là 1 kiếp, tức Phạm tiền ích thiên kiếp.
(5)-Sáu mươi kiếp là 1 kiếp, tức Đại Phạm Thiên Kiếp.
(6)-Tám mươi kiếp là một kiếp, tức Hỏa tai kiếp.
(7)-Bảy hỏa tai kiếp là một kiếp, tức Thủy tai kiếp.
(8)-Bảy thủy tai kiếp là 1 kiếp, tức Phong tai kiếp.
(9)-Ba đại A tăng kỳ kiếp.
Trong các Kinh Luận còn có những tên gọi Tiểu kiếp, Trung kiếp, Đại kiếp.
Tiểu kiếp, Trung kiếp đều được dịch từ tiếng Phạn Antara-kalpa, còn Đại kiếp thì được dịch từ tiếng Phạn Mahã-kalpa. Trong kinh Pháp Hoa do ngài Cưu Ma La Thập dịch đều gọi là Tiểu Kiếp, nhưng trong phẩm Đề Bà Đạt Đa do ngài Pháp Ý dịch thì gọi là Trung Kiếp.
Kinh Đại Lâu Thán quyển 5 cho 3 tai ách: Binh đao, bệnh tật, đói kém là 3 Tiểu kiếp. Kinh Khởi Thế quyển 9 thì gọi là 3 Trung kiếp.
Luận Lập Thế A Tỳ Đàm nói 80 Tiểu kiếp là 1 Đại kiếp. Luận Đại Tỳ Bà Sa thì nói 80 Trung kiếp là 1 Đại kiếp. Những sai biệt nầy đều có thể được xem là do sự phiên dịch khác nhau từ tiếng Phạn Antara-kalpa mà ra.
Chữ Kiếp vốn biểu thị thời hạn, trong đó, tuy có nhiều loại khác nhau, nhưng Kiếp biểu thị thời gian dài thì thường được dùng để thuyết minh sự sinh thànhhoại diệt của thế giới.
Như đã trình bày ở trên, luận Đại Tỳ Bà Sa chia Kiếp làm 3 loại; Trung gian kiếp, Thành hoại kiếpĐại kiếp. Luận Câu Xá chia làm 4 loại kiếp: Hoại kiếp, Thành kiếp, Trung kiếpĐại kiếp v.v…đều nói về sự thành hoại của thế giới.
Theo luận Đại Tỳ Bà Sa quyển 135, Trung gian kiếp cũng có 3 loại: Giảm kiếp, Tăng kiếp và Tăng giảm kiếp.
Giảm kiếp: Thời gian từ lúc con người sống lâu vô lượng tuổi giảm xuống dần đến lúc chỉ còn 10 tuổi.
Tăng kiếp: Thời gian từ lúc con người chỉ sống 10 tuổi tăng dần lên đến 80.000 tuổi.
Tăng giảm kiếp: Thời gian con người chỉ sống có 10 tuổi tăng lên đến 80.000 tuổi, rồi lại từ 80.000 tuổi giảm xuống đến 10 tuổi.
Ba loại Kiếp trên nói về sự sai khác của 20 Trung kiếp trong Kiếp Trụ, tức là trong  20 Trung Kiếp của Kiếp Trụ  thì Kiếp thứ nhất là Kiếp Giảm,  Kiếp thứ 20 là Kiếp Tăng, còn 18 Kiếp ở khoảng giữa là Kiếp Tăng Giảm, thời gian của mỗi Trung Kiếp đều bằng nhau.
Sở dĩ như vậy là vì trong kiếp giảm đầu tiên, chúng sinh còn nhiều phúc đức nên sự giảm xuống còn tương đối chậm, trong kiếp tăng cuối cùng chúng sanh còn ít phúc đức nên sự tăng lên cũng chậm, còn trong 18 kiếp trung gian, thì thời gian luân lưu có chậm có nhanh, vì thế mà thời gian của 3 kiếp này bằng nhau. Trên đây là luận điểm của Tiểu Thừa.
Nhưng theo luận Du Già Sư Địa quyển 2, luận Đại Thừa A Tỳ Đạt Ma Tạp Tập quyển 6 và Du Già Sư Địa Luận Lược Toản quyển 1, thì Đại Thừa lập mỗi kiếp của 20 Trung Kiếp đều có tăng giảm, cho nên không cần chia ra 3 thứ kiếp như luận Đại Tỳ Bà Sa, tức cho mỗi Trung Kiếp là Tăng Giảm Kiếp duy nhất.
Còn kinh Ưu Bà Tắc Giới quyển 7 thì: từ 10 tuổi tăng lên đến 80.000 tuổi, lại từ 80.000 tuổi giảm còn 10 tuổi, cứ tăng giảm như thế 18 lần, gọi là Trung Kiếp.
Trong Trung Kiếp nhất định có 3 tai ách xảy ra, gọi là tiểu tam tai (đao binh, tật bệnh, đói kém). Thời gian xuất hiện của 3 tai ách nầy có nhiều thuyết khác nhau.
Theo luận Đại Tỳ Bà Sa quyển 134, thì vào kiếp giảm của mỗi Trung Kiếp, mỗi khi tuổi thọ của con người giảm xuống còn 10 tuổi thì 3 tai ách liền xuất hiện. Cũng theo luận nầy trong kiếp 1, tam tai cùng khởi lên trong 20 Trung Kiếp của Kiếp Trụ đều có tiểu tam tai.
Theo luận Lập Thế A Tỳ Đàm, trong mỗi kiếp lần lược xảy ra 1 tai ách, thì kiếp thứ nhất là kiếp Tật dịch (Phạn: Rogãntara-kalpa), kiếp thứ 2 là kiếp Đao binh (Phạn: Sastrãntara-kalpa), kiếp thứ 3 là kiếp Đói kém (Phạn: Durbhiksãntara-kalpa), cho đến thứ 19 là kiếp Tật dịch.
Trong Kiếp Trụ có 20 Trung Kiếp như trên, trong các Kiếp Hoại, Kiếp Không, Kiếp Thành… cũng đều có 20 Trung Kiếp, cọng chung lại là 80 Trung Kiếp. Trong 3 kiếp: Hoại, Không, Thành tuy không có sự tăng giảm khác nhau, nhưng do thời gian của chúng bằng với Kiếp Trụ, cho nên đều có 20 Trung Kiếp.
80 Trung Kiếp là một Đại Kiếp. Một Đại Kiếp bao gồm 4 kiếp: Thành, Trụ, Hoại, Không, là một chu kỳ sinh thànhhoại diệt của thế giới.
Thời kỳ Kiếp Hoại, khí thế gian hư hoại, có 3 tai ách xảy ra là: lửa, nước, gió gọi là Đại Tam Tai, để phân biệt với Tiểu Tam Tai đã nói ở trên. Trong đó, nạn lửa khởi lên thì 7 mặt trời xuất hiện, gió thổi, lửa cháy dữ dội từ cõi Sơ Thiền trở xuống đều bị thiêu rụi. Nạn nước xảy ra do mưa dầm dề, từ cõi Nhị Thiền trở xuống đều bị ngập lụt. Nạn gió khởi lên do cuồng phong, từ cõi Tam Thiền trở xuống đều bị thổi tan.
Theo thứ tự, đầu tiên thế giới bị lửa hủy diệt 7 lần, kế đến bị nạn nước hủy diệt 1 lần, sau nạn nước lại có 7 lần nạn lửa. Đủ 7 lần nạn nước như thế rồi, lại xảy ra thêm 7 lần nạn lửa nữa, sau đó khởi lên một lần nạn gió, khí thế giới từ cõi trời Tam Thiền trở xuống đều bị thổi tan. Tính chung có 8x7=56 lần nạn lửa,  7 lần nạn nước, 1 lần nạn gió, tức là 64 chuyển Đại Kiếp. Như Vậy, khí thế gian từ cõi Sơ Thiền trở xuống, cứ trải qua 1 Đại Kiếp thì bị phá hoại một lần. Cõi Tam Thiền thì cứ mỗi 64 Đại Kiếp lại một lần bị phá hoại. Trong cõi Sắc, chỉ có cõi trời Tứ Thiền không bị Tam Tai phá hoại.
Tuổi thọ của trời Đại Phạmcõi Sơ Thiền là 60 Trung Kiếp, tức 1 một Đại Kiếp (trừ 20 kiếp của Kiếp Không). Tuổi thọ của trời Nhị Thiền là 8 Đại Kiếp. Tuổi thọ của trời Tam Thiền là 64 Đại Kiếp. Trong đây 1 Đại Kiếp gọi là Hỏa Tai Kiếp. 7 Hỏa Tai Kiếp gọi là Thủy Tai Kiếp, 7 Thủy Tai Kiếp gọi là Phong Tai Kiếp.
Số tích lủy của Đại Kiếp là một triệu, nhân lên cho đến A Tăng Kỳ thì gọi là 1 A Tăng Kỳ Kiếp (Phạn: Asamkhyeya-kalpa), nhân đến 3 gọi là A Tăng Kỳ Kiếp. Nhưng sự tính toán về lượng thời gian của nó có nhiều thuyết khác nhau.
Luận Đại Tỳ Bà Sa quyển 177 nêu ra 4 thuyết: Thuyết thứ nhất như trên. Thuyết thứ hai nhân Trung Kiếp đến A Tăng Kỳ Da là 1 A Tăng Kỳ Kiếp, thuyết thứ 3 là nhân với Thành Kiếp, thuyết thứ 4 là nhân với Hoại Kiếp.
Kinh Bồ Tát Địa Trì quyển 9 nói rằng Kiếp có 2 thứ:
(1)-Ngày tháng, ban ngày ban đêm, thời tiết, số năm vô lượng nên gọi là A Tăng Kỳ.
(2)- Đại Kiếp vô lượng nên gọi là A Tăng Kỳ.
Thuyết thứ nhứt nói theo kiếp số năm, tháng. Thuyết thứ 2 giống với nghĩa chính thống của luận Đại Tỳ Bà Sa.
Tóm lại, thời lượng lâu dài của Kiếp, toán số cũng khó lường tính được. Kinh Tạp A Hàm quyển 34 có những thí dụ như Giới Tử Kiếp (Phạn: Sarsapopama-kalpa), Bàn Thạch Kiếp (Phạn: Parvatopama-kalpa). Đại Tạng pháp số có tên gọi của 5 Đại Kiếp là:  Thảo Mộc, Sa Tế (cát mịn), Giới Tử (hạt cải), Toái Trần (bụi nhỏ), và Phất Thạch (lau tản đá)… để nói về thời lượng lâu dài vô hạn của Kiếp.
Theo tự điển Pãli của Cát Nhĩ Đắc Tư (R.C. Childers) thì Kiếp có 2 loại Không và Bất Không. Bất Không Kiếp lại có 5 thứ khác nhau:
(1)-Kiến Kiếp (Phạn: Sãra-kalpa).
(2)- Đề Hồ Kiếp (Phạn: Manda-kalpa).
(3)-Diệu Kiếp (Phạn: Vara-kalpa).
(4)-Kiên Đề Hồ Kiếp (Phạn: Sãra-manda-kalpa).
(5)-Hiền Kiếp (Phạn: Bhadra-kalpa).
Tam Kiếp Tam Thiên Phật Duyên Khởikinh Đại Thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán quyển 1, nói có 3 Kiếp: Quá Khứ Trang Nghiêm Kiếp, Hiện Tại Hiền Kiếp, Vị Lai Tinh Tú Kiếp. Trong mỗi Kiếp đều có 1.000 đức Phật ra đời. Ngoài ra kinh Hoa Nghiêm quyển 2 (bản 80 quyển), dùng lượng nước của biển cả để ví dụ cho số nhiều của số Kiếp, gọi là Kiếp hải.
[Tham khảo: Kinh Trung A Hàm, quyển 2; kinh Trường A Hàm, quyển 1; kinh Khởi Thế Nhân Bản, quyển 9; luận Lập Thế A Tỳ Đàm, quyển 7; luận Câu Xá , quyển 9; luận Thuận Chính Lý, quyển 32; luận Đại Trí Độ, quyển 7; Pháp Hoa Huyền Luận, quyển 5; Pháp Hoa Kinh Huyền Tán, quyển 2; Đại Nhật Kinh Sớ, quyển 2; Câu Xá Luận Quang Ký, quyển 12; Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Ký, quyển 15; Du Già Luận Ký, quyển 1; Tứ Phần Luật Sớ Sức Tông Nghĩa Ký, quyển 10; Chỉ Quán Phụ Hành Truyền Hoằng Quyết, quyển 1; Phật Tổ Thống Kỷ, quyển 30; Pháp Uyển Châu Lâm, quyển 1; v.v…].
 C- KHO SÁT BA
I-NHƯ LAI TẠNG THEO NGHĨA DUYÊN KHỞI 
(tiếng Phạn=Tathàgata-garbha)
“Chỉ cho Pháp Thân Như Lai xưa nay vốn thanh tịnh (tức là tự tánh thanh tịnh) ẩn tàng trong thân phiền nảo của hết thảy chúng sinh, nhưng không bị phiền nảo làm ô nhiễm, bản tính vẫn tuyệt đối thanh tịnhvĩnh viễn bất biến. Mặt khác, tất cả hiện tượng ô nhiễmthanh tịnh đều duyên theo Như Lai Tạng mà sinh khởi, gọi là Như Lai Tạng Duyên Khởi. Trong các Kinh, Luận tư tưởng nầy thường được dùng để nói rỏ về ý nghĩa mê và ngộ đối lập trong con người.
Chương Pháp Thân trong Kinh Thắng Man (Đại 12, 221 hạ) nói: “Pháp Thân Như Lai không lìa phiền não tạng, gọi là Như Lai Tạng”.
Kinh Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng cũng nêu 9 thí dụ như: Trong hoa senhóa Phật, mật ngọt trong rừng rậm, vàng ròng rơi vào chỗ nhơ bẩn, tượng vàng bọc trong giẻ rách, cô gái nghèo hèn mang thai qúi tử…để gải thích rõ ý nghĩa Như Lai Tạng ẩn giấu trong phiền não.
Theo phẩm Như Lai Tạng trong luận Phật Tính quyển 2, thì chữ Tạng có 3 nghĩa:
1-SỞ NHIẾP TẠNG
Hết thảy chúng sinh đều được thu nhiếp vào trong trí Như Lai.
2-ẨN PHÚ  TẠNG
Pháp thân Như Lai bất luận ở nhân vị hay quả vị đều không thay đổi, nhưng chúng sinh bị phiền não che lấp nên chẳng thấy được.
3-NĂNG NHIẾP TẠNG
Quả đức Như Lai đều thu nhiếp trong tâm phàm phu.
Còn theo phẩm Tự Thể Tướng của luận Phật Tính quyển 2 và chương Tự tính thanh tịnh trong Kinh Thắng Man thì chữ Tạng có 5 nghĩa: Tự tính, nhân, chí đắc, chân thựcbí mật.
a-TỰTÍNH
Tự tính: Muôn vật đều là tự tính Như Lai, đó là nói theo nghĩa tự tính, nên gọi là Như Lai Lai Tạng.
b-NHÂN
Nhân:  Tạng nầy là đối cảnh do Thánh nhân tu hành Chính Pháp mà sinh ra, đó là nói theo nghĩa trở thành nhân của cảnh giới, nên gọi là Chính Pháp Tạng, hoặc là Pháp Giới Tạng.
c-CHÍ ĐẮC
Chí đc:  Tin Tưởng Tạng nầy có thể đạt được quả đức Pháp Thân Như Lai. Đó là nói theo nghĩa chí đắc (đạt được), nên gọi là Pháp Thân Tạng.
d-CHÂN THỰC
Chân thc: Tạng nầy vượt ra ngoài tất cả sự hư dối của thế gian, đó là nói theo nghĩa chân thực nên gọi là  Xuất Thế Tạng, hoặc Xuất Thế Gian Thượng Thượng Tạng.
e-BÍ MẬT
Bí mt: Tất cả Pháp nếu thuận theo Tạng nầy thì được thanh tịnh. Trái lại thì trở thành ô trọc, đó là nói theo nghĩa bí mật, nên gọi là Tự Tính Thanh Tịnh Tạng.
Năm Tạng nêu trên được gọi là Ngủ Chủng Tạng.
Theo Đại Thừa Chỉ Quán Pháp Môn quyển 1, thì Tạng có 3 nghĩa: Năng Tàng, Sở Tàng và Năng Sinh.
Viên Giác Kinh Lược Sớ quyển thượng thì nêu 3 nghĩa: Ẩn phú, Hàm nhiếp và Xuất sinh, gọi là Tam Chủng Như Lai Tạng.
Lại theo Kinh Thắng Man, chương Không nghĩa ẩn phú chân thực thì Như Lai Tạng có thể chia làm hai loại:
(1)- Như Lai Tạng vượt ngoài phiền não, hoặc chẳng giống với phiền não, cũng tức trong Như Lai Tạng, phiền não là không,  gọi là Không Như Lai Tạng.
(2)-Như Lai Tạng đầy đủ tất cả Pháp mà chẳng lìa, chẳng thoát, chẳng khác với phiền não, đây tức là Bất Không Như Lai Tạng.
Lại nữa, theo chương Pháp Thân trong kinh Thắng Man thì Như Lai Tạng còn có thể chia làm 2 loại:
(1)- Tại Triền: Ở trong trạng thái bị phiền não trói buộc (triền), bao hàm Không Như Lai TạngBất Không Như Lai Tạng.
(2)- Xuất Triền: Trạng thái đã thoát ra khỏi sự trói buộc (xuất triền) của phiền não.
Theo luận Đại thừa khởi tín thì Chân Nhưhai mặt là Như thực không và Như thực bất không (như đã dẫn giải ở phần trên).
Luận Thích Ma Ha Diễn quyển 2 qui nạp các thuyết kể trên mà lập ra 10 loại Như Lai Tạng: Đại tổng trì Như lai tạng, Viễn chuyễn viễn phược Như lai tạng, Dữ hành Dữ tướng Như lai Tạng, Chân như chân như Như lai tạng, Sinh diệt Như lai tạng, Chân như Như lai tạng, Không Như lai tạng, Bất không Như lai tạng, Năng nhiếp Như lai tạng và Ẩn phú Như lai tạng.
Có thuyết nói Như lai tạng, thức A lại ya và thức A ma la (thức thứ 9) là một. Như kinh Nhập Lăng gìa quyển 7 (Đại 16,  556 trung) nói: “Thức A lai ya gọi là Như lai tạng và cùng có với 7 thức vô minh” và (Đại 16, 556 hạ) nói: “Thức Như Lai Tạng không ở trong thức A lai ya, cho nên 7 thứ thức có sinh có diệt, mà thức Như lai tạng thì không sinh không diệt”. Như lai tạng nói ở đây tức là thức A ma la.
Tại Ấn Độ, tư tưởng Như lai tạng được thành lập sớm hơn thuyết Duy Thức và khác với tư tưởng của Trung Quán, Duy Thức. Nhưng người đời sau không lập riêng Như lai tạng ngoài thuyết Duy Thức, mà lại bàn về Như lai tạng trong thuyết Duy Thức. Ở Trung Quốc thì tông Địa Luận nói Như lai tạngcứu cánh rồi lập ra thuyết Tịnh Thức Duyên Khởi. Tông Thiên Thai thì cho rằng Như lai tạng tức là Thực Tướng và coi là diệu pháp bất khả tư nghì.
Trong Khởi Tín luận nghĩa ký quyển thượng, ngài Pháp Tạng - Tổ thứ 3 Tông Hoa Nghiêm – có lập giáo phán 4 tông, trong đó tông thứ tư tức là Tông Như Lai Tạng Duyên Khởi. Nội dung Tông nầy bao hàm những học thuyết của các Kinh, Luận như Lăng Gìa, Mật Nghiêm, Khởi Tín, Bảo Tích v.v…Nói theo ngũ giáo phán của tông Hoa Nghiêm thì tông Như Lai Tạng Duyên Khởi tương đương với chung giáo thứ 3.
Ngoài ra, những gì được nói trong Mạn Đồ Thai Tạng Giới của Mật Giáo, chính đã căn cứ vào tư tưởng Như Lai Tạng mà có vậy.”
Tham khảo:  [Kinh Đại bát niết bàn quyển 7 (bản Bắc); kinh Lăng gìa a bạt đa la bảo q.2,  4;  kinh Nhập lăng gìa q.1;  kinh Đại thừa mật nghiêm q. hạ;  kinh Đại bát nhã q.578;  kinh Vô thượng y q. thượng;  luận Kim cương tiên q. 5;  Đại trí độ luận q. 14;  Pháp hoa kinh huyền nghĩa q. 5, phần cuối; Đại thừa nghĩa chương q. 1, 3, phần cuối;  Tứ phần luật sớ sức tông ký q. 3, phần đầu; v.v…] .
 II CHÂN NHƯ DUYÊN KHỞI
Như  Lai Tạng Duyên khởi, “Cũng gọi là Chân Như duyên khởi.
Chỉ cho tâm tự tính thanh tịnh của Như lai tạng sinh khởi hết thảy muôn pháp, loại thứ 3 trong 4 loại duyên khởi.
Tư tưởng duyên khởi luận nầy được nói rỏ ràng trong kinh Lăng Gìa và kinh Mật nghiêm. Nghĩa là Như lai tạng một mặt thường trụ bất biến, đồng thời, mặt khác, lại tùy duyên khởi động mà biến sinh ra muôn vật.
Tiến trình Như lai tạng tùy duyên khởi động là: Trước hết, nhất tâm của Như lai tạng bị ác tập của vô minh từ vô thủy đến nay huân tập (xông ướp) mà thành thức A lai ya (tàng thức), kế đó là từ Tạng thức hiện khởi muôn vật, nhưng bản tính của Như lai tạng vẫn không bị tổn hại, mà lại trở thành mối quan hệ  “Như lai tạng là thể, còn Tàng thức là Tướng”.
Lại nữa, thực thể của Như lai Tạnghai nghĩa Chân như môn và Sinh diệt môn.
Đứng về phương diện Chân như môn mà nói, thì thể của Như lai tạngnhất vị bình đẳng, tính không sai khác;  còn đứng về phương diện Sinh diệt môn mà bàn thì Như lai tạng tùy duyên nhiễm tịnhsinh khởi các pháp, như theo duyên nhơ nhớp mà sinh ra 6 đường, theo duyên trong sạch mà biến hiện ra bốn thánh…”
Tham khảo: [X. Kinh Nhập lăng gìa q. 1, 2, 7;  kinh Đại thừa Mật nghiêm q. hạ;  Đại thừa khởi tín luận nghĩa ký q. trung, phần đầu; Tứ Chủng Duyên Khởi; v.v…].
 CHƯƠNG NĂM: PHÁP TÁNH
A-KHẢO SÁT MỘT

 

Pháp Tánh hay Pháp Tính có rất nhiều tên ví dụ như Thật Tướng Chân Như, Pháp Giới Tính, …

So sánh trong từ điển tiếng Anh để tìm ra ý nghĩa của nó.

Pháp Tánh:

“Dharmatã.Dharma-nature, the nature underlying all things, the bhũtatathatã, a Mahãyãnaphilosophical concept unkown in Hinayãna, Chân Như and its various definitions in the Pháp Tướng, Tam Luận (or Pháp Tánh), Hoa Nghiêm and Thiên Thai Schools. It is discussed both in its absolute and relative senses, or static and dynamic. In the Mahãparinirvãna sũtra and various sãstras the term has numerous alternative forms,  which may be taken as definitions, i.e. Pháp Định inherent dharma, or Buddha-nature; Trụ abiding dharma-nature; Giới dharmaksetra, realm of dharma; Thân dharmakãya, embodiment of dharma; Thực Tế region of reality; Thực Tướng reality; Không Tánh nature of the Void, i.e. immaterial nature; Phật Tánh Buddha-nature; Vô Tướng appearance of nothingness, or immateriality; Chân Như bhũtatathatã; Như Lai Tạng Tathãgatagarbha; Bình Đẳng Tánh universal nature; Ly Sanh Tánh immortal nature; Vô Ngã Tánh Impersonal nature; Hư Định Giới realm of abstraction; Bất Hư Vọng Tánh nature of no illusion; Bất Biến Dị Tánh immutable nature; Bất Tư Nghì Giới realm beyond thought; Tự Tánh Thanh Tịnh Tâm mind of absolute purity, or unsulliedness, etc. of these the terms Chân Như, Pháp Tánh, and Thực Tế are most used by the Prajnãpãramitã sũtras. Thổ The ksetra, or region of the dharma-nature, i.e. the bhũtatathatã or Chân Như in its dynamic relations.

 

Tông The sects,  e.g. Hoa Nghiêm , Thiên Thai, Chơn Ngôn (Húa-yen, T’iên-t’ai, Shingon), which hold that all things proceed from the bhũtatathatã, i.e. the Dharmakãya, and that all phenomena are of the same essence as the noumenon. Sơn The dharma-nature as a mountain, i.e. fixed, immovable. Thường Lạc The eternity and bliss of the dharma-nature, Thường Lạc Ngã Tịnh. Thủy The water of the dharma-nature, i.e. pure. Hải The ocean of the dharma-nature, vast, unfathomable, Thủy.

 

Chơn Như dharma-nature and bhũtatathatã, different terms but of the same meaning. Thân idem Pháp Thân.  

Tùy Vọng The dharma-nature in the sphere of delusion; i.e. Duyên; Chơn Như Tùy Duyên the dharma-nature, or bhũtatathatã, in its phenomenal character; the dharma-nature may by environment either become sullied, producing the world of illusion, or remain unsullied, resulting in nirvana. Static, it is likened to a smooth sea; dynamic, to its waves.”

Đọc phần tiếng Việt tiếp theo sẽ sáng tỏ hơn về sự phân giải những từ ngữ trên.

 

 

B-KHẢO SÁT HAI   

Pháp Tánh: “Bản Tánh của các Pháp, thật thể của chúng sanh và sự vật. Bản tánh của các Pháp vốn là không, không tịch, nghĩa là các Pháp không thật có, chẳng qua là những Pháp ấy món nầy giống món kia, cái nầy tiếp nối cái kia, cho nên hàng phàm phu tưởng lầm là có thật, còn chư Phật và chư Bồ Tát thấy là không, không tịch. Pháp Tánh là tánh tự nhiên của Pháp hửu vi hoặc pháp vô vi. Pháp Tánh tức là Chơn Như. Tánh nghĩa là thể, là bản chất không thay đổi. Chơn Như là thể của các Pháp. Thể ấy thường trụ không thay đổi, cho nên gọi là Pháp Tánh. Pháp Tánh cũng có thể gọi là Niết Bàn vì đó là thể tánh thường trụ, không biến đổi.
Trong Kinh Niết Bàn có đoạn: “Như Lai nhập Niết Bàn cũng như cuổi hết thì lửa tắc”, lời nói ấy chưa đủ nghĩa (bất liễu nghĩa). Còn như nói : “Như Lai nhập Pháp Tánh, lời nói ấy mới đủ nghĩa (liễu nghĩa). Có rất  nhiều danh từ đồng nghĩa với Pháp Tánh như: Pháp Bổn (căn bổn của các Pháp), Pháp Định (chổ quyết định của Pháp), Pháp Trụ (nơi trụ của Pháp), pháp giới  (cõi Pháp Tánh các Pháp), Pháp Thân, Thật Tế, Thật Tướng, Không Tánh, Phật Tánh, Vô Tướng, Chơn Như, Như Lai Tạng, Bình Đẳng Tánh, Ly Sanh Tánh, (Tánh rời khỏi sanh tử luân hồi), Vô Ngã Tánh, Hư Định Giới, (cõi định hư không), Bất Hư Vọng Tánh, Bất Biến Dị Tánh, Bất Tư Nghì Giới (Cõi không thể suy nghĩ bàn luận), Tự Tánh Thanh Tịnh Tâm. Pháp Tánh còn có nghĩa là tánh tư nhiên, tánh riêng của sự vật, như tánh của nước là ẩm ướt, tánh của đá nam châm là hút sắt v.v…Ngoài ra còn có 8 từ ngử liên hệ đến Pháp Tánh như sau:
Pháp Tánh Độ, Pháp Tánh Hải, Pháp Tánh Sơn, Pháp Tánh Tông, Pháp Tánh Thân, Pháp Tánh Thủy, Pháp Tánh Thường Lạc, Pháp Tánh Tùy Duyên.
I-PHÁP TÁNH ĐỘ 
Chỗ cư trụ, chỗ chứng đắc của Pháp tánh. Toàn thể của Pháp TánhChơn Như, nhưng chỗ chứng đắc của Pháp tánh gọi là Pháp Độ. Tướng giác ngộ có sức chứng đắc gọi là Pháp-Tánh Thân hay Pháp Thân. Về Pháp Tánh Độ của Phật thì vô lượng, vô biên, bao quát pháp giới mười phương.
II-PHÁP TÁNH HẢI
Biển Pháp Tánh. Pháp Tánh vốn sâu rộnh như biển, không thể đo lường hết được nên gọi là Pháp Tánh Hải.
III- PHÁP TÁNH SƠN
Núi Pháp Tánh. Pháp Tánh ví như một hòn núi, chẳng biến chẳng động, Pháp Tánh thì thường trụ, chẳng dời, chẳng đổi.  Lại nữa Pháp Tánh rất cao tột nên gọi là Pháp tánh Sơn.
IV- PHÁP TÁNH TÔNG
Pháp Tánh Tônghọc phái giảng luận về Pháp Tánh. Hai bộ Lăng Già KinhKhởi Tín luận giải rất rành về học thuyết Pháp Tánh, chỉ rỏ cách nương theo Chơn và khởi ra Vọng. Tức là xướng minh ra học phái Pháp Tánh Tông. Theo thuyết nầy thì: Pháp Thân lưu chuyễn trong năm đường luân hồi, Như Lai Tạng thọ lấy những mối cảm khổ và lạc; nhưng nếu giác ngộ được chỗ vọng tức vọng thành chơn.
Lại có thuyết cho rằng: Vọng vốn ở trong Chơn. Và nên biết rằng Phật có đủ những đức tính Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Đó là vài học thuyết của Pháp Tánh Tông.
V- PHÁP TÁNH THÂN
Thân Pháp Tánh. Gọi tắc là Pháp Thân, một trong Tam Thân của Phật. Pháp Tánh Thân của Phật mới thật là Chơn Thân. Nó chẳng sanh chẳng diệt, chẳng luân hồi, vẫn thường trụ, phổ cập khắp mười phương vũ trụ. Nó có vô lượng vô biên tướng hảo trang nghiêm, vô lượng quang minh, vô lượng âm thinh.
VI- PHÁP TÁNH THỦY
Nước Pháp Tánh. Lời tỷ dụ để chỉ rằng Pháp tánh vốn trong sạch như nước.
VII- PHÁP TÁNH THƯỜNG LẠC
Pháp Tánh vẫn thường hằng an lạc. Hơn nữa Pháp Tánh tức cũng là Pháp Thân, Chơn Như, Niết Bàn. Nó có đủ bốn Đức. Đó là;  Thường (thường trụ không dứt); Lạc (an lạc mãi mãi); Ngã (vẫn có thật thể tự tại); Tịnh (luôn luôn trong sạch).
VIII- PHÁP TÁNH TÙY DUYÊN
Pháp Tánh tùy theo Nhơn Duyên. Cũng gọi là Chơn Như tùy duyên. Pháp Tánh có đủ hai nghĩa: Bất BiếnTùy Duyên. Pháp Tánh tùy duyên là hoặc nó tùy theo những nhơn duyên nhiễm trược mà sanh ra nhơn quả lưu chuyển trong các nẻo luân hồi; hoặc nó tùy theo nhơn duyên thanh tịnh mà khởi ra nhơn quả trở về cảnh tịch diệt, dứt luân hồi.”
C-KHẢO SÁT BA
I-NHỮNG NGHIÊNG CỨU  KHÁC VỀ PHÁP TÁNH
Như trên đã điểm qua về từ Pháp Tánh hay Pháp Tính. Nó có rất nhều tên nhưng đồng một thể như là Thực Tướng Chân Như, Pháp Giới, Niết bàn v.v…
Ví dụ như: Pháp tính hải: Pháp tínhnghĩa lý sâu rộng như biển. Pháp tính không: Tự tính của các pháp vốn là không, nên gọi là Pháp tính không. Pháp tính Pháp thân là một trong hai Pháp thân (Lý Pháp thânTrí Pháp thân)  đối lại với phương tiện pháp thân.Sau đây là những tranh luận về Pháp Tính:
“Tính là nói về thể, cái thể không đổi. Chân Như là thể của muôn Pháp; trong cái nhơ, cái sạch của loài hửu tình, ở loài phi tình, tính nó không đổi, không biến nên gọi là Pháp Tính. Pháp tính nầy, phần nhiều tiểu thừa không đề cập đến, nhưng phía Đại Thừa thì bàn cải rất sôi nổi về điểm nầy. Có những ý kiến khác nhau như sau:
1-NGÀI TỪ ÂN TÔNG PHÁP TƯỚNG
“Pháp Tính là Viên Thành Thật trong 3 tính, nó là chỗ y chỉ của tính Y Tha Khởi và tất cả muôn Pháp hửu vi, là bản thể của muôn Pháp hửu vi, là bản thể của các Pháp sở y cho nên gọi là Pháp Tính. Giữa muôn Pháp hửu vi, vô viPháp tính rốt ráo cách biệt, có ý kiến không thừa nhận nghĩa Pháp Tính Tùy Duyên”.
2-NGÀI GIA TƯỜNG TÔNG TAM LUẬN
“không thừa nhận tính Viên Thành Thật là thật có, mà cho chân khôngPháp Tính, tức Pháp Tính là tên gọi khác của chân không. Tính của các pháp là chân không, chân không tức là diệu hữu, tính của diệu hữu tức chân không: đó là Pháp Tính”.
 3-NGÀI HIỀN THỦ TÔNG HOA NGHIÊM
“chân như có hai nghĩa: bất biếntùy duyên. Về phương diện tùy duyên, chân như biến tạo ra hết thảy các pháp. Tuy biến tạo nhưng vẫn bảo tồn tính bất biến của chân như, ví như nước biến tạo ra sóng, nhưng vẫn giữ tính bất biến của nước là tính ướt vậy. Do chân như tùy duyên mà biến tạo ra muôn pháp nên gọi chân nhưPháp Tính.
Song, chân như pháp tính nầy là thuần thiện, không nhơ nhớp, cũng không có phần tính nhiễm. Nhưng các pháp do chân như biến tạo ra thì lại có nhơ, có sạch khác nhau, là bởi vì các duyên có nhiễm có tịnh khác nhau”.
4-NGÀI TRÍ GỈA TÔNG THIÊN THAI
“Pháp Tính có sẵn đủ các tính nhiễm, tịnh, nghĩa là có cả tính thiện và tính ác. Vì tính có đủ cả thiện lẫn ác, nên sinh ra các pháp có nhiễm có tịnh”.
 II-HAI LOẠI PHÁP TÁNH
Pháp giới có hai loại là sự và lý. Pháp Tính cũng vậy. Chỉ Quán viết: “Địa trì thuyết minh hai loại Pháp Tính, vì tính có sai biệt; Thực Pháp Tính, vì tính chân thật”. Ở dây Thực pháp tính tức là lý Pháp Tính.
III-TÊN KHÁC CỦA PHÁP TÁNH
Các tên gọi khác của Pháp Tính. Trong bộ Đại Bát Nhã có 12 tên: Chân như, Pháp giới, Pháp tính, Bất hư vọng tính, Bất biến dị tính, Bình đẳng tính, Ly sinh tính, Pháp định, Pháp trụ, Thực tế, Hư không giới, Bất tư nghì giới.
Trong luận Đối Pháp, q7, có 7 tên: Chân như, Vô ngã tính, Không tính, Vô tướng, Thực tế, Thắng nghĩa, Pháp giới.
Luận Duy thức, q9, có 4 tên: Thắng nghĩa, Chân như, Pháp giới, Thực tế.
Luận Đại Trí Độ, q32, có 4 tên: Như, Pháp tánh, Thực tế, Thực tướng.
Luận Đại thừa chỉ quán, có 7 tên: Tự tánh thanh tịnh tâm, Chân như, Phật tính, Pháp thân, Như lai tạng, Pháp giới, Pháp tính.
IV-NHƯ, PHÁP TÁNH, THỰC TẾ   =   BA TÊN
Khi đọc trong kinh Bát Nhã phần nhiều thấy dùng ba danh từ trên.
Trong sách Chú Duy Ma kinh, q2, ngài Tăng Triệu nói: “Như, Pháp tính, Thực tế, ba tính không nầy cùng một tính chân thực, nhưng được dùng để quán xét thì có cạn, có sâu khác nhau cho nên lập riêng thành ba tên gọi. Bắt đầu (mới) thấy thực pháp cũng như  đứng đằng xa thấy cái cây, biết đích đó là cái cây, thế gọi là Như. Thấy thực pháp mỗi lúc một sâu h