Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
15,021,954
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Tư Tưởng Kinh Tế Phật Giáo Cho Một Cuộc Sống Lành Mạnh

01 Tháng Hai 201804:27(Xem: 1061)
Tư Tưởng Kinh Tế Phật Giáo Cho Một Cuộc Sống Lành Mạnh
Tư Tưởng Kinh Tế Phật Giáo Cho Một Cuộc Sống Lành Mạnh

Giáo Sư H.S.Shukla
  Diệu Liên Lý Thu Linh chuyển ngữ

Tư Tưởng Kinh Tế Phật Giáo Cho Một Cuộc Sống Lành Mạnh

Phật giáo là một hệ thống khoa học năng động, thực tiễn và đầy minh chứng trên cả hai phương diện: lý thuyếtthực hành, để giúp cho cuộc sống của chúng ta được an lành, sung túcthịnh vượngNhận thấy con người luôn sợ hãi khổ đau, nên Đức Phật Gotama trong suốt bốn mươi lăm năm đã đưa ra những lời giáo huấn dựa trên vấn đề khổ và sự chấm dứt của khổ.  Giáo lý của Đức Phật không bỏ qua vấn đề thiết yếu nào trong việc vun trồng thể chấttinh thần, rồi từ đó duy trì chúng, dầu cho đó là về xã hội, kinh tế, chính trị hay tâm linhĐức Phật không nhìn vấn đề gì một cách phiến diện, bỏ qua các điều kiện xã hội, kinh tế của nó, mà quán sát vấn đề một cách toàn diệnTuy nhiên, Đức Phật chẳng bao giờ đánh giá cao vật chất.  Ngài không coi phúc lợi vật chất tự nó là cứu cánh, mà nó chỉ là phương tiện để đạt được những gì không thể thiếu cho một cuộc sống lành mạnh, tràn đầy hạnh phúc, và trong việc đạt được mục tiêu tối hậu.  Do đó, Phật giáo chấp nhận một số điều kiện vật chất tối thiểu phù hợp cho sự phát triển tâm linh.  (W.B.T. P. 81).  Một cuộc sống lành mạnh phụ thuộc vào sự lành mạnh của cả thân và tâm, vì chúng cùng hoạt động hỗ tương cho nhau.  Vì vậy người ta thường nói: Một tinh thần minh mẫn trong một thân thể tráng kiện’.

   Ngày nay là thời đại vật chất.  Nhờ vào những tiến bộ khoa học và công nghệ, vật chất đã bành trướng trên một bình diện rộng, xâm thực vào việc hiện đại hóa các hoạt động vật chấttâm linh của cả thế giới mà không hề quan tâm đến những giá trị đạo đức của con người.  Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến nông nghiệp và công nghiệp, nhất là tạo nên những vấn đề như là bóc lột sức lao động và phá hoại tài nguyên thiên nhiên một cách không thương tiếc như các hầm mỏ, dầu hỏa, nhiên liệu, sông suối, rừng rậm, và môi trường nói chung, trong các nước đã và đang phát triển.   Không khí, nguồn nước, đất đai bị nhiễm ô đến độ chúng sẽ không ích lợi gì cho các thế hệ mai sau.  Hàng triệu người đang chết vì đói, suy dinh dưỡng hay thiếu bữa.  Mặt khác, vớì tình trạng dân số bùng nổ trong hầu hết các nước kém phát triển, thanh thiếu niên phải đối mặt với nạn thất nghiệp, đưa đến đủ loại tệ nạn và tội phạm.  Chính vật chất nắm giữ tâm trí con người, và con người không còn biết đến trách nhiệm đạo đức đối với tha nhân, vì đồng tiền được coi là yếu tố quyết định mạnh mẽ nhất đối với vị thế của họ trong xã hội hay trong một quốc gia.  Dần dà tâm ích kỷ càng tăng tốc khiến khuynh hướng tích lũy ngày càng nhiều của cải vật chất được cổ vũ trong thế giới vật chất.  Việc tích lũy, thâu tóm bạc tiền đã trở thành mục tiêu tối hậu trong thế giới tân tiến so với những thứ khác.  Tiêu chí tối thượng trong việc thâu gom thêm nhiều của cải không đòi hỏi phải biện minh.  Đó là triết lý vật chất –(B.E.P.-P 6), cổ vũ cho sự phát triển kinh tế không bền vững của một quốc gia, và từ đó làm cho sự khác biệt giữa giàu và nghèo càng sâu sắc, và ngày càng tăng lên.  Điều đó đưa đến việc đánh mất cân bằng giữa các hành vi cá nhân và các hoạt động kinh tế để đạt được lợi ích tối đa.  Theo đó việc cá nhân hóa trong lãnh vực phát triển và hoạch định kinh tế được khuyến khích, làm cho những bất mãn trong lòng người lao động ngày càng tăng lên.  Do đó, Phật giáo dầu có khuyến khích sự tiến bộ vật chất, nhưng lúc nào cũng nhấn mạnh đến sự phát triển đạo đức và những yếu tố tâm linh để có được một cuộc sống hạnh phúc, lành mạnh và yên ấm. 

   Hiện nay kinh tế đang trong tình trạng khủng hoảng toàn cầu, là thời điểm ta cần áp dụng nền kinh tế Phật giáo dựa trên đạo đức, được xem là phương cách làm giàu một cách khoa học vì nó gắn kết các hoạt động kinh tế với các quy luật đạo đức, nhằm hướng dẫn ta nên làm gì và không nên làm gì.  Những cách kiếm tiền như thế nào là hợp pháp hay không hợp pháp, kiếm tiền như thế nào và tiêu tiền như thế nào, vân vânPhương cách khoa học này không chỉ quan tâm đến các khía cạnh vật chất mà cả những khía cạnh tâm linh, nhân văn.  Do đó, nó bao hàm cả những tiến bộ vật chất cũng như tâm linh hoặc đặt các mối liên hệ xã hội giữa cá nhân, gia đìnhxã hội bình đẳng như nhau.  Vì vậy, không có mâu thuẫn giữa đạo đứctiến bộ kinh tế trong các nước Phật giáo như Nhật Bản, Thái Lan, Miến Điện, vân vân…  Là người nghiên cứu cả hai, kinh tế và Phật giáo, tôi có thể nói rằng việc kết hợp kinh tế Phật giáo dựa trên đạo đức cùng với khoa học và công nghệ hiện đại, nếu được ứng dụng, sẽ lợi ích hơn cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế cùng với sự quan tâm sâu sắc về các giá trị đạo đức của con người.  Điều đó sẽ dần dần tạo nên một xã hội không tham nhũng, là một yếu tố được coi là cốt lõi trong cuộc sống bình an, lành mạnh.

   Để đạt được mục đích đó, Đức Phật đã quán sát những vấn đề về đạo đức, xã hội, kinh tế và tôn giáo để tìm con đường đưa đến một cuộc sống cao đẹp, lành mạnhbình an, và Ngài đã khám phá ra nguyên nhân của các vấn đề liên quan, nên đã đề ra các phương pháp giải quyết nằm rải rác trong kinh điển hay các tài liệu ngoại điển.  Nền kinh tế Phật giáo có thể được nghiên cứu về hai mặt:

(1)   Kinh tế vi mô, tức là nền kinh tế dựa trên cá nhân, và (2) kinh tế vĩ mô, tức là nền kinh tế dựa trên quốc gia hay xã hộiCon người tạo nên xã hội. Họ chính là thầy của mình chứ không phải người khác. Họ cảm thấy hạnh phúc hoặc khổ đau tùy theo hành động của họ (Dp. Vs 160,165). Vì vậy, hành động của họ cần dựa trên đạo đứcích lợi của bản thântha nhân.  Do đó, kinh tế Phật giáo được gọi là nền kinh tế dựa trên đạo đức.

   Như đã nêu trên, Phật giáo bắt đầu với sự khổ đau và chấm dứt với sự thiện lành tột bậc (sumum-bonum).  Đức Phật đã tuyên bố rằng thế giới được thiết lập dựa trên khổ (Sn.I 38).   Lý do gây ra đau khổ là sự bất mãn vì không đạt được những điều mong ước.  Khái niệm của tư tưởng kinh tế Phật giáo nổi bậtlâu đời nhất bắt đầu bằng  tuyên bố "yam! piccham! tam! na labhati pi dukkham!"- không nhận được những gì ta mong muốn đưa đến khổ, đã nằm trong bài thuyết giảng đầu tiên của Đức Phật ở Varanasi (Mv. 13).  Kinh Mũlapariyāya cũng nhấn mạnh điều đó trong câu nói rằng “Tham ái là gốc của khổ đau” (Mn. I, 10).  Thường là càng có nhiều tham muốn, ta càng đau khổ hơn; ít ham muốn thì ít khổ hơn.  Do đó, ta cần kiểm soát lòng ham muốn không ngừng tăng trưởng của ta, dầu rằng không dễ để kiểm soát vì tâm tham mỗi ngày một tăng, với sự phát triển của các tư tưởng sáng tạo và sản phẩm tân kỳ, nên tất cả các ham muốn không thể nào được thỏa mãn do những hạn chế về phương tiện, do sự chạy đuổi theo các sản phẩm mới xuất hiện trên thị trường và sự vung tay quá trán (tiêu xài không tính toán) so với thu nhập của mình, là những điều thường xảy ra trong xã hội ngày nay.  Mặt khác, hiện nay người ta kiếm được nhiều tiền hơn nhờ vào sự phát triển vật chấtthể lực, vậy mà họ vẫn không thể thành công vì sự thiếu hiểu biết về tư tưởng kinh tế Phật giáo dựa trên đạo đứcTư tưởng kinh tế này giúp người tiêu dùng có những hướng dẫn về chi tiêukế hoạch, lợi ích trong sự lựa chọn chi tiêu như thế nào đối với những thứ ta cần khác nhau để đạt được sự thỏa mãn tối đa, đối với những sản phẩm ta tiêu thụ...

   Những gì chúng ta chứng kiến trong nền kinh tế hiện nay là người ta đặt nặng việc tiêu thụ vật chất để sống xa hoahoang phí hơn cho những thứ sản phẩm cao cấp mà không cần nghĩ đến các nhu yếu phẩm khác, đưa đến một cuộc sống không lành mạnh, mất cân bằng.  Từ đó, tất cả mọi thành viên khác trong gia đình hay trong xã hội cũng bị ảnh hưởng tiêu cực về mặt tinh thần cũng như thể chất.  Do đó, ta cần có kế hoạch chi tiêu đối với các mặt hàng hóa khác nhau, tùy theo nhu cầu.

   Các nhu cầu có thể chia làm ba loại như là cơ bản, tiện nghixa xỉ.  Các nhu cầu cơ bản cần phải có để duy trì sự sống của con người.  Kinh Sabbāsava liệt kê rõ ràng bốn nhu cầu cơ bản là y phục, thực phẩm, chỗ ở và thuốc men.  Y phục cần phải có để che tấm thân trần trụi khỏi cái nóng, lạnh, gió, mưa và muỗi mòng.  Thực phẩm cần thiết để nuôi dưỡng thân, duy trì cuộc sống, vì tất cả mọi chúng sanh đều phụ thuộc vào nguồn dinh dưỡng “sabbe sattā āhāratthitikā” (Dn. III, 169). Tương tự, chỗ ở che chở con người khỏi thời tiết khắc nghiệt, nắng nôi, rắn rít và những thứ khác nữa.  Thuốc men bảo vệ con người khỏi bệnh tật, đem lại sức khỏe.  Những tiện nghi này cần thiết để có một cuộc sống thánh thiện, hướng về tâm linh, để tâm được bình an, tĩnh lặng, không lo lắng.   Nếu con người có khả năng để sống một cuộc sống thoải mái cũng được thôi.  Khi đã thỏa mãn những nhu cầu cơ bản; ta có thể tiến đến một cuộc sống tiện nghi thoải mái hơn.  Đức Phật không hề bài bác một cuộc sống thoải mái, nhưng việc sử dụng bất cứ điều gì thái quá cũng không được phép dầu đối với người cư sĩ.  Kinh Sabbāsava khai triển thêm về ba mục tiêu đằng sau việc hưởng thụ của cải vật chất: (1) Duy trì sự sống (2) Sống thoải mái (3) Tạo nền tảng cho sự thành tựu tâm linh.  Theo kinh tế Phật giáo, việc thiết lập các tiêu chí này sẽ giúp làm tăng trưởng hàng hóa sản xuất.

   Con người bình thường không sống đơn thân.  Họ sống trong gia đình bao gồm vợ/chồng, con cái, cha mẹ, người giúp việc, vân vân.  Do đó, người ta cần có tài sản để chăm sóc gia đình cũng như có một cuộc sống lành mạnhĐức Phật đã khuyên con người trong bốn mươi năm của cuộc sống cần tạo ra càng nhiều của cải càng tốt qua những ngành nghề tương ưng với chánh mạng.  Trong lãnh vực này, Đức Phật ngăn cấm việc sống theo tà mạng.  Đó là sống bằng sự gian dối, mưu mẹo, vẽ vời, và theo đuổi lợi nhuậnlợi nhuận (Mn. III, 139).  Đặc biệt đối với hàng cư sĩ tại gia, Đức Phật cấm buôn bán người, vũ khí, thịt, các chất gây say và thuốc độc.  Một số cách kiếm sống sai lạc mà cả hai, cư sĩtu sĩ, đều phải tránh xa cũng được liệt kê.  Một số được thí dụ ở đây để ta có thể hiểu về bản chất của chúng: Kuhanā: kiếm tiền bằng vẻ bề ngoài giả dối, Lapanā:  kiếm tiền bằng những lời đường mật quanh coNemitikatā: kiếm tiền bằng cách vẽ bùa phép trên thân người, Nippesikatā: kiếm tiền bằng cách chỉ trích, hùng hổ, gán tội oan, vân vânLabhena lābhanijiginsanatā: kiếm tiền bằng cách bỏ qua lợi nhỏ để được nhiều lợi lộc hơn, Tūlā-kūta: lường gạt người bằng cách cân đo không chính xác, Kam!sa-kūta: dụng cụ cân đo dùng để khi mua thì được nhiều, khi bán thì đưa ít lại.  Māna-kūta : một cách gian lận khách hàng bằng cách sử dụng sai trọng lượng. (Dn. I, 3-10).

Tuy nhiên theo quan điểm hiện đại, tốt hơn hết là chúng ta chỉ chú tâm đến năm giới đã được Đức Phật trao truyền để mọi người cùng giử hầu duy trì được an bìnhhòa hợp trong xã hội.  Chúng không thể thiếu trong một cuộc sống lành mạnhNăm giới đó là tránh giết hại, trộm cắp, gian dâm, nói dốisử dụng các chất gây say.  Ba giới đầu tiên là để giử cho thân không làm quấy, giới thứ tư giử lời ăn tiếng nói, trong khi giới thứ năm kiểm soát tất cả để giử cho tâm an bình.  Tất cả năm giới này tạo cho ta cảm giác an bình, không chấp giữ.  Cảm giác an bình, phản ứng chân thật và theo đó, tâm ổn định, đã mở đường cho các hoạt động kinh tế dựa trên đạo đức.

   Được trang bị với tri thức về những hành động bất thiện và quả của chúng, chúng ta tiến tới việc thực hiện những hành động thiện nhưchánh mạng (sammā-ājivo) để có thể sống hạnh phúc, lành mạnh ngay trong kiếp này và những kiếp về sau.  Theo kinh Saleyyaka trong Trung Bộ Kinh (Majjhima-nikāya), điều thiện (kusala) chứa đựng quyền lực mang đến hạnh phúc trong các kiếp luân hồi (sammā-ājivo) cũng như hủy diệt uế nhiễm, đưa đến giải thoát (Mn. I, 285).  Vì vậy, chánh mạng là sự kiềm chế ta khỏi các phương cách kiếm tiền sai lạc hay bất thiện, như đã nói ở trên.

     Chánh nghiệpchánh mạng là hai chi quan trọng trong Bát Chánh đạo, tương ưng trực tiếp với kinh tế Phật giáo, dầu tất cả mọi chi trên con đường đạo này không thể không tương quan với nhau.  Chúng hỗ trợ nhau để giúp cho tâm uyển chuyển, tĩnh lặng, thân dồi dào sức khỏe, để phát triển đến không chỉ sự tăng trưởng ổn định trong kinh tế mà cả hệ thống họat động tâm sinh lý của thân, cần thiết cho một cuộc sống lành mạnhChánh kiến giúp ta có khả năng phân biệt giữa những hành động đúng và sai.  Kinh Mahācattārisaka trong Trung Bộ Kinh nhấn mạnh rằng sự hiểu biết thấu đáo về cái sai biệt giữa tà mạngChánh mạngChánh kiến (Mn.III, 135-140).  Một hành động thiện, được nhắc đến trong kinh Từ Bi (Metta-sutta), là hành động được người trí ngợi khenTương Ưng Bộ kinh thuyết rằng có ba nguồn lực, đó là lương tâm (attādhipateyya), ý kiến đám đông (lokādhipateyya) và phù hợp với Pháp (dhammā-dhipateyya), có thể giúp ta phân biệt giữa tốt và xấu.  Chánh tư duy giúp ta quyết định tuân theo Chánh mạng trong việc kiếm sống.  Chánh ngữ giúp ta kiểm soát lời nói; Chánh niệm giúp ta đối mặt với những vấn đề xã hội và kinh tế một cách phù hợp bằng cách hoàn toàn tránh xa những phương tiện hành động bất thiện như đã nêu, và thực hành Chánh nghiệp theo con đường của Chánh mạng để kiếm tiền bằng Chánh tinh tấn với tâm Chánh định.  Như thế, tất cả mọi chi trong Bát Chánh đạo tương quan nhau để dọn đường cho một thân tâm kiên định trong một cuộc sống lành mạnhTóm lại, có thể nói rằng người muốn có tiến bộ về kinh tế và tâm linh với tâm chánh niệm, thiện xảo trong phương tiện, sẽ tạo ra một môi trường hành động thoải mái, tương quan tốt đẹp trong xã hội và tạo một chỗ đứng vững vàng cho bản thân.  Đây là cách hành xử phù hợp mà ta phải cố gắng tuân theo trong chánh mạng để đem lại tiến bộ kinh tế cho bản thân.

   Đúng là kinh tế không phải là mục tiêu của Phật giáo.  Nó chỉ là một bước trên con đường đào tạo nên con người phù hợp để tiến bước đến đích cuối cùng.  Những điều kiện kinh tế bất ổn sẽ tạo nên chướng ngại trên con đường tiến tới mục tiêu, vì sự vun trồng riêng lẻ bất cứ chi nào của Bát Chánh đạo hay tất cả chi cùng một lúc là bất khả thi trong điều kiện kinh tế không ổn định.  Trong tình huống đó, con người phải chịu cảnh đói nghèo gây ra do sự thiếu đạo đứctội phạm như cướp bóc, bạo lực, tàn nhẫn, vân vân…  Cuối cùng là họ phải chấp nhận các phương cách kiếm tiền bất thiện để sinh tồn, dầu chính quyền có cố gắng dẹp bỏ tội phạm bằng các hình phạt, nhưng phương cách để xóa các tội phạm này không bao giờ thành công, trừ khi điều kiện kinh tế của con người được cải thiện bằng cách: cung cấp hạt giống cho người trồng trọt và nông dân, cấp vốn cho nhà kinh doanh và lương bỗng đủ cho công nhân.  Kết quả là mọi người sẽ hài lòng và đất nước không còn tội phạm, sẽ trở nên bình an.

     Con người có nhiều tham vọng và tất cả mọi tham vọng không thể được thỏa mãn hết.  Dầu có mưa vàng cũng không thỏa mãn tất cả mọi dục lạc.  Do vậy, thế giới này được coi là nô lệ cho ái dục.  Theo kinh Pattakamma, người thế tục mong muốn bốn điều vui vẻ, hạnh phúc; đó là: (1) tài sản kiếm được hợp pháp, (bhoga) (2) được danh vọng (yasa) (3) sống lâu (dighamāyu) và (4) tái sinh tốt đẹp (sugati) (An. II, 69).  Điều đầu tiên trong bốn điều ước trên thế gian này là sự thu nhập của cải hợp pháp, rất quan trọng đối với đế tài đang được nói đến, đặc biệt trong tình hình hiện tại, khi thế giới đang trải qua giai đoạn đua nhau tích trữ ngày càng nhiều của cải hơn mà không đoái hoài đến bất cứ giá trị đạo đức, nhân văn gì, đưa đến nhiều loại tham nhũng khác, trong khi Phật giáo không chấp nhận việc kiếm tiền bằng hành động bất thiện cũng như sự tích trữ tiền bạc.  Của cải làm ra là để tiêu dùng không phải để tích trữ.  Có người vì muốn tích trữ tiền bạc mà sống khổ sở, để rồi cuối đời phải chứng kiến tài sản của mình rơi vào tay người khác hay sau khi chết người khác được thừa hưởng hoặc chính quyền tịch thu.  Do đó, tư tưởng kinh tế Phật giáo không ủng hộ sự tích trữ tài sản.  Kinh Vyagghapajja cũng bài bác sự tích trữ tài sản và một cuộc sống bỏn xẻn như cuộc sống của một kẻ bần cùng phải chết đóiSự tích lũy tài sản làm phát sinh tham nhũng, xung đột trong thân tộcxã hội.  Sự căng thẳng có thể tăng đến bất cứ mức độ nào, kể cả làm hại hay giết người, là những điều chúng ta có thể thấy trong xã hội ngày nay.

   Như thế chúng ta phải kiếm sống như thế nào?  Theo quan điểm Phật giáo, ta phải kiếm sống một cách thiện xảo và không bạo động trong nhiều ngành nghề khác nhau một cách chân thật, siêng năng.  Có nhiều ngành nghề như canh nông, buôn bán, chăn nuôi, bảo vệ, các dịch vụ cao cấp và một số ngành nghề khác.  Từ xa xưa, canh nông đã là nguồn sinh kế chánh yếu của bao người.  Ngay cả hiện nay, bảy mươi đến tám mươi phần trăm nhân loại dựa vào canh nông.  Đó là cách kiếm sống rất quen thuộc và quan trọng trong hầu hết các nước phát triển và kém phát triển.  Kinh Accaika mô tả cho ta thấy quá trình của các hoạt động nông nghiệp có hệ thống cùng với đời sống của người nông dân.  Nghề nông được coi là nghề nghiệp hoàn hảo nhất (An. I, 222-23).

   Kinh doanh là nghề nghiệp kiếm tiền quan trọng đứng thứ hai.  Kinh Pampanika trong Tăng Chi bộ kinh, giải thích công việc kinh doanh cần được thực hiện thiện xảo với tất cả sự tận tụy như thế nào.  Kinh Vephulla đề ra ba điều kiện cần có để thành công trong kinh doanh: trí tuệ, sự nhạy bén và tín nhiệm.   Một doanh nhân có đủ ba đức tính này sẽ thành công trong nghề nghiệp. Tương tự một số lớn nghề nghiệp cũng được liệt kê dưới tên của tầng lớp công nhân đặc biệt được nêu lên trong kinh tập Sutta Nipāta.  Kinh Vyagghapajja (Tăng Chi bộ kinh), liệt kê bốn yếu tố hỗ trợ cho sự thành công của những người đầy năng lực, tinh tấn trong công việc kiếm tiền của họ ngay trong đời sống hiện tại.  Bốn yếu tố hỗ trợ đó là: -1) sự thành tựu qua những cố gắng hữu hiệu, tinh xảo, luôn chuyên cần trong nghề nghiệp của mình. (2) - tài sản kiếm được một cách chân chánh được bảo vệ khỏi trộm cướp và những điều không may đầy rẫy trong xã hội hiện nay.  (3)- bằng hữu và cộng sự trung thành, có đạo đức, có học và thông minh để giúp người doanh nhân đi đúng đường, tránh sa vào tội lỗi. (4) - có một cuộc sống ổn định với sự hiểu biết rằng cách thu nhập và chi tiêu của mình đưa đến cuộc sống đó.  Không phung phí, người đó biết chi tiêu không quá nhiều, không quá ít, không tích trữ tài sản một cách tham lam.  Người đó biết sống đủ với những gì mình có.  Đức Phật đã giải thích cặn kẽ quan điểm vật chất cần cho một cuộc sống lành mạnh, để thúc đẩy con người tiến thẳng đến việc đạt được mục tiêu cuối cùng, liên quan đến bốn đức tính hỗ trợ sau: - người đó cần có tín tâm và sự tin cậy vững chắc vào các giá trị đạo đứctâm linh; –nền tảng xây dựng nên cá tính của người biết kiềm chế khỏi những hành động bất thiện; - sự bố thí, rộng lượng, chia sẻ tài sản được coi là cốt yếu để duy trì bình đẳng trong xã hội; - trí tuệ, là sự hiểu biết nội tại thâm sâu giúp ta hoàn toàn chấm dứt khổ đau khi biết về bản chất thực sự của thế gian: vô thường, khổ và vô ngã.

   Thường chúng ta chi tiêu theo cảm tính nhiều hơn là dựa vào thu nhập của mình, vì thế ta lo lắng không biết làm sao để thỏa mãn các nhu cầu trong tương lai.  Từ đó đưa đến câu hỏi là ta nên chi tiêu như thế nào để được lợi ích tối đa và đáp ứng được những nhu cầu dành cho phát triển trong tương lai, dầu Phật giáo bài bác việc tích trữ tài sản, nhưng cũng khuyên ta bớt chi tiêu để dành tiền cho sự phát triển kinh tế đã được dự tính hay cho các mục đích bảo đảm tương lai.   Kinh Sigālovāda vạch ra cho chúng ta một bảng chi tiêu khéo kế hoạch và có hệ thống tiền thu nhập đã được kiếm một cách chân chánh.  Theo kinh, một phần tư của tổng thu nhập nên dùng để chăm lo cho bản thân, gia đìnhthân quyến; hai phần tư thu nhập dành cho việc kinh doanh kiếm lời để phát triển tương lai.  Có lẽ lời khuyên này không dành cho bất cứ ai, mà là dành cho doanh nhân như Sigāla.  Và một phần tư thu nhập còn lại cần để dành cho trường hợp khẩn cấp để giải quyết bất cứ tai họa nào, có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

        Lời khuyên trên của Đức Phật dành cho Sigāla vẫn còn phù hợp ngay cả trong hiện tại.  Người có đủ tài chánh, đầu tư vào nghề nghiệp của mình để được thêm lợi lộc trong tương lai.  Chính phủ cũng đề ra các chương trình tiết kiệm và bảo hiểm, và người dân được khuyến khích bảo hiểm bản thântài sản vì những mục đích an toàn khi cần thiết.

        Sự tiến bộ vật chất có thể hướng đến sự tiến bộ tâm linh không?  Đây là một câu hỏi rất quan trọng trong tình hình thế giới hiện nay.  Thế giới hiện nay đang dấn sâu trong sự phát triển vật chất, khoa học, công nghệ mà bỏ qua những giá trị đạo đức, nhân văn.  Chúng bị chôn vùi trong các thành tựu vật chất.   Điều này ảnh hưởng đến toàn thể bộ máy chính trị, xã hội, khiến chúng hoạt động một cách tiêu cực, tạo ra sự khác biệt lớn lao về thể chấttinh thần giữa chủ và thợ.  Một ngày nào đó, sự khác biệt sẽ biến thành xung đột, tạo ra tội phạm, sát nhân, trộm cướp, hiếp dâm, sử dụng ma túy, bệnh tâm thần, vân vân, là những gì chúng ta thấy xảy ra ngày nay trong thế giới hiện đại.  Đây là những vấn đề thách thức tạo nên một tình huống đáng báo động.  Tại sao lại thế?  Đó là do việc chỉ lo phát triển vật chất một chiều mà hoàn toàn bỏ qua các quy luật đạo đức tinh thầntâm linh của Phật giáo.  Cuộc sống lành mạnh ổn định, an bình dường như không thể có mặt trong hoàn cảnh đó.  Cuộc sống cần bao gồm các yếu tố vật lý, tinh thầntâm linh, là điều chúng ta cần hằng ngày huân tập.  Những gì cần được huân tập?  Đó là đạo Pháp có mặt giữa hai đối cực, là Trung đạo bao gồm tám ngành, cũng được gọi là Bát Chánh đạo, được chia thành ba giai đoạn thanh tịnh hóa: Sīla, SamādhiPaññā (Giới, Định và Tuệ), rất thiết yếu cho việc phát triển thân và tâm.  Chúng hỗ trợ lẫn nhau.  Sīla giúp ta giữ đạo đức vững bền; Samādhi là một trạng thái tâm định, và Paññā giúp ta tiến sâu vào bản chất của thực tại và nhổ đến gốc rễ sự chấp chặt, bám víu, (Dn. II, 95).   Nhờ đó, chúng ta có thể có một cuộc sống lành mạnh ổn định về vật chất, tâm lýtâm linh.

 Diệu Liên Lý Thu Linh

(Lược dịch theo Buddhist Economic Thoughts For Healthy Living, bài tham luận ở Vesak 2014
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 13)
Thiền chỉ (samantha) và Thiền quán (vipassana) là hai nội dung lớn trong vấn đề “phát triển của tâm” được đề cập trong Kinh tạng Nikāya.
(Xem: 46)
Ngài Triệu Châu hỏi ngài Nam Tuyền: “Thế nào là đạo?” Ngài Nam Tuyền đáp “Tâm bình thường là đạo”, nói theo chữ Hán là “bình thường tâm thị đạo”.
(Xem: 101)
Tuệ quán vô thường sẽ giúp thấy rõ tính chất duyên sinh, vô ngã của vạn pháp. Không có bất cứ cái gì trường cửu, bất biến mà...
(Xem: 154)
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói: Này Thiên tử! Nếu có Bồ-tát biết tất cả các sanh mà cũng chẳng sanh, cũng biết tất cả sanh tử của chúng sanh.
(Xem: 156)
Bố thí, cúng dường là hành động làm phước thiện, theo luật nhân quả, nó là điều kiện thiết yếu để ta tiêu trừ đau khổ...
(Xem: 244)
Sau 25 năm, tôi đến lại nước Nga để thăm viếng lần nầy là lần thứ 6. Lần đầu vào năm 1994, nghĩa là mới chỉ sau 3 năm khi Liên bang các nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết bị sụp đổ...
(Xem: 133)
Theo kinh Pháp hoa, phẩm Phổ môn, Bồ-tát Quán Thế Âm có 33 ứng hóa thân, từ thân Phật, Độc giác, Bồ-tát…
(Xem: 152)
Đức Phật cũng đã dạy người Kalama qua Kinh Kalama Sutta (AN 3.65), bản dịch của HT Thích Minh Châu viết, trích...
(Xem: 221)
Từ sinh hoạt quốc gia, chính trị đảng phái, cho đến cả tôn giáo (với nhiều tai tiếng chấn động niềm tin của tín đồ), người ta càng nhìn rõ mặt trái của lòng tham, của bản ngã.
(Xem: 136)
Con đường hoằng pháp thành công của Đức Phật kéo dài bốn mươi lăm năm theo quan điểm Nam truyền.
(Xem: 119)
Súc vật, nhất là những vật nuôi để trợ giúp cho con người trong lao động sản xuất như trâu bò vốn được nông dân thương quý, xem như thành viên của gia đình.
(Xem: 125)
Từ thời Đức Phật, gọi là y ca sa, người sau gọi là “áo giải thoát, còn gọi là Phước điền y”.
(Xem: 231)
Những ai có lòng từ mẫn chân thành chia sẻ tịnh tài hay tịnh vật dù ít dù nhiều tùy khả năng, thì việc bố thí nầy được xem nhưQuảng Đại Tài Thí...
(Xem: 147)
Hơi thở là sự tiếp nối chuỗi cuộc sống trong luân hồi sinh tử của nghiệp báo. Hơi thở tượng trưng cho sự sống. Hơi thở tạo nên...
(Xem: 126)
Trong khi thực hành thiền định, hành giả bắt đầu điều phục thân và điều phục tâm
(Xem: 170)
Trước thời Thế Tôn, nhân loại đã biết và nói đến vô thường của các sự vật hiện tượng. Tuy vậy, cái thấy biết về vô thường này chưa toàn triệt,
(Xem: 121)
Kinh MN 1 (Mulapariyaya Sutta) là Kinh khởi đầu Trung Bộ, được Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch là Kinh Pháp Môn Căn Bản.
(Xem: 209)
Bàn tay ta vun đắp, thành bại thuộc vào duyên, Vinh nhục ai không gặp, Có chi phải ưu phiền.
(Xem: 130)
Đạo Phật chủ trương hòa bình, lấy từ bi hóa giải hận thù, lấy sự xả buông để khắc chế tham ái. Chiến tranh, xung đột, bạo động là biểu hiện rõ ràng của tham lam, sân hậnsi mê.
(Xem: 127)
Đối với đạo Phật, ba ngôi Tam bảo rất quý báu, hiếm có khó gặp ở thế gian nên người con Phật (chư Tăng, Ni, Phật tử nói chung) phải kính lễ, tôn thờ.
(Xem: 191)
Chúng ta được dạy, nếu khéo lắng nghe, ta sẽ được trí tuệ. Nếu không biết lắng nghe, ta sẽ không được gì cả.
(Xem: 776)
Kính Mừng Thọ 70 tuổi HT Thích Như Điển tổng hợp những bài viết cho Hoà Thượng Phương Trượng
(Xem: 227)
Mắt ở đây phải hiểu là cách nhìn, cái mà mình cảm thấy, cái mà mình cho rằng, cái mà mình biết do nhìn thấy
(Xem: 167)
Hai từ " buông bỏ " thời buổi bây giờ là một thành ngữ nghe vô cùng sáo rỗng, đã được xử dụng nhiều nhất trong kỷ nguyên thời đại mới (new age).
(Xem: 399)
Nếu bạn say mê đọc kinh Phật, ưa thích những phân tích kỹ càng về giáo điển, muốn tìm hiểu các chuyện xảy ra thời Đức Phật đi giảng dạy nơi này và nơi kia, hiển nhiên đây là một tác giả bạn không thể bỏ qua
(Xem: 205)
Các nhà hiền triết Ấn Độ giáotu sĩ Phật giáo đã nhận diện tầm quan trọng và lợi ích sức khỏe khi một hành giả thực tập thiền đều đặn trong mỗi ngày.
(Xem: 241)
Theo tuệ giác của Thế Tôn, nếu các căn gặp cảnh trần vừa ý, thọ lạc rồi sinh tâm yêu thích, đắm nhiễm thì đó là cội nguồn của mọi khổ đau.
(Xem: 174)
Kiếp sống này biến mất rất nhanh chóng Giống như thứ gì đó được viết trên mặt nước với một que cây -ĐỨC PHẬT-
(Xem: 203)
Từ non cao, những đợt lá vàng cuốn theo gió, rơi theo dòng suối, trôi giạt xuống con sông nhỏ trong làng; rồi từng nhóm lá xuôi dòng, tấp vào bờ này hay bờ kia.
(Xem: 204)
Cuộc đời là một chuỗi những bài kiểm tra. Khó khăn chính là những bài kiểm tra. Chúng ta đang ở trong một trường đời.
(Xem: 243)
Trong công việc khó có thể tránh khỏi hoàn cảnh bất lợi, nhiều người sợ gặp phải hoàn cảnh khó khăn, cảm thấy nghịch cảnh là một cú sốc lớn.
(Xem: 188)
Đối với hàng Phật tử tại gia, năm giới là năm điều học căn bản để tạo dựng nên một nếp sống đạo đức, tốt đẹplành mạnh.
(Xem: 452)
Nguyên bản: Meditating while dying; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 255)
Từ non cao, những đợt lá vàng cuốn theo gió, rơi theo dòng suối, trôi giạt xuống con sông nhỏ trong làng; rồi từng nhóm lá xuôi dòng, tấp vào bờ này hay bờ kia.
(Xem: 234)
Duyên khởiđạo lý quan trọng trong toàn bộ giáo pháp của Thế Tôn.
(Xem: 262)
Trong khi thực hành thiền quán, hành giả thường hay vướng vào năm chướng ngại, mà thuật ngữ Phật học gọi là
(Xem: 173)
Nhóm Tỳ-kheo được vô lậu giải thoát sau khi nghe Tỳ-kheo do Bồ-tát Văn-thù-sư lợi biến hóa ra giảng giải cho về pháp giới thể tánh.
(Xem: 404)
Pháp Như Thật là pháp thực hành thuộc về Thiền Huệ, nhưng tại sao lại cần phải thực hành pháp Như Thật? Tại sao phải học Thiền Huệ?
(Xem: 218)
Mẹ Hiền, hai tiếng nầy nghe thân thương, êm ái, ngọt ngào biết bao. Nghe mãi không nhàm, nghe hoài không chán.
(Xem: 264)
Tôi hiểu ngay là cả nhà, mỗi người đều đang dán mắt và bấm bấm, quẹt quẹt vào mặt kính cái smartphone của mình.
(Xem: 274)
Trong quan hệ 12 nhân duyên, nhân vì xúc (căn tiếp xúc trần) nên sinh thọ (cảm giác vui, khổ và trung tính), nhân vì thọ nên sinh ái (yêu ghét)...
(Xem: 248)
Nguyên bản: Gaining favorable condition for the time of death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D.; Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 344)
Bùi Giáng là nhà thơ, là dịch giả, là nhà bình luận văn học. Ông sinh ngày 17 tháng 12/1926 tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; từ trần ngày 7 tháng 10/1998 (thọ 71 tuổi) tại Sài Gòn
(Xem: 278)
Để đạt đến pháp giới vốn là pháp giới thể tánh, vốn là pháp giới bạch tịnh này, kinh điển thường dạy VănTư-Tu.
(Xem: 366)
Sau khi kết thúc đời sống hiện tại, chúng ta sẽ theo nghiệp mà thọ sinh vào cảnh giới tương ứng.
(Xem: 281)
Muốn thấy Phật thì Tâm phải như gương sáng. Thấy hết, biết hết mà không bao giờ khởi niệm.
(Xem: 214)
Công việc được hoàn tất tốt đẹp qua sự hưởng ứng và trợ giúp của quý Phật tử tại địa phương và các anh chị em huynh trưởng và đoàn sinh Gia Đình Phật Tử tại Đức Quốc.
(Xem: 358)
Nhiều Kinh điển Đại thừa (Mahayana Sutras)/Kinh điển Phật giáo Phát triển đã giảng 3 phương pháp thiền quán để đạt đến giải thoát, đó là ba cánh cửa của giải thoát.
(Xem: 270)
Xuất gia là tu hạnh giải thoát. Tự mình tu để được giải thoát,đồng thời hướng dẫn chỉ dạy cho người khác tu cùng giải thoát nữa.
Quảng Cáo Bảo Trợ