Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
15,009,221
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Bồ-tát Thí Vô Úy

02 Tháng Mười Một 201807:55(Xem: 108)
Bồ-tát Thí Vô Úy
BỒ-TÁT THÍ VÔ ÚY

Thích Nguyên Hùng


Bồ-tát Thí Vô Úy

Mẹ hiền Quán Thế Âm là vị Bồ-tát có hạnh nguyện đại từ, đại bi, thương yêu tất cả chúng sinh muôn loài như người mẹ thương yêu đứa con duy nhất của mình. Ngài luôn quán sát, lắng nghe âm thanh kêu cứu, cầu nguyện của chúng sinh từ những nơi đau khổ để kịp thời ứng hiện cứu giúp.

Theo kinh Pháp hoa, phẩm Phổ môn, Bồ-tát Quán Thế Âm có 33 ứng hóa thân, từ thân Phật, Độc giác, Bồ-tát… đến thân đồng nam, đồng nữ; ứng hiện bất cứ thân hình, thân phận nào mà cứu độ được chúng sinh, khai mở được con mắt pháp cho chúng sinh, phát khởi tâm Bồ-đề cho chúng sinh, hay đơn giản là làm cho chúng sinh bớt lo, bớt khổ, bớt buồn… là Ngài đều ứng hiện thân ấy. Ngài thường vận dụng 14 năng lực vô úy để cứu vớt chúng sinh thoát khỏi khổ đau, ách nạn, hoặc đáp ứng những yêu cầu chính đáng khi chúng sinh tha thiết hành trì tu tập theo pháp môn trì niệm danh hiệu Ngài, cho nên Bồ-tát Quán Thế Âm còn được biết đến với danh hiệu Thí Vô Úy: Vị Bồ-tát cho chúng sinh sự không sợ hãi!

Thí vô úy, cho sự không sợ hãi, cho cái không sợ hãi, nghĩa là ai gần gũi, ai tiếp xúc, ai nghe đến tên của Bồ-tát đều cảm thấy bình an, an ổn, không còn lo sợ gì nữa. Nói cách khác, Bồ-tát bằng mọi phương tiện, pháp môn tu tập để lấy đi sợ hãi trong tâm của của chúng sinh. Để thực hành hạnh nguyện đó, Bồ-tát Quán Thế Âm thường sử dụng sức mạnh vi diệu của Kim cang tam-muội vô tác, tức là vận dụng sức mạnh tự nhiên, không cần tác ý (bất tác ý chi lực dụng), cùng với một thứ tình yêu duy nhất đối với hết thảy chúng sinh trong mười phương, ba đời, sáu nẻo… khiến cho hết thảy chúng sinh đều thành tựu, đạt được 14 công đức vô úy. Mười bốn đức vô úy này, Tam tạng pháp số giải thích như sau:

1. Thực tập theo hạnh của Bồ-tát Quán Thế Âm, biết lắng tai nghe là để dừng lại, không chạy theo thanh trần, không rong ruổi tìm kiếm hạnh phúc hư ảo bên ngoài, không để cho cái thấy biết của mình bị cảnh vật, thanh âm tác động, để phản quan tự kỷ, quay lại soi xét tự tính của mình. Không thấy nghe bên ngoài thì không vọng tưởng; quay lại soi xét tự tính thì mọi thứ sẽ trở nên chân thực, vắng lặng, mọi khổ não sẽ không trở lại. Cho nên, nếu chúng sinh đang bị khổ đau mà thực lòng thực tập theo phương pháp quán chiếu này thì chắc chắn sẽ được giải thoát. Đây là vô úy thứ nhất, “quán kỳ âm thanh, tức đắc giải thoát”.

2. Cái biết là từ nơi tâm; cái thấy là từ nơi mắt. Tri kiến hay thấy biết của chúng sinh thường sai lầm, vì thường thấy biết bằng bản ngã, suy luận theo tập khí, mà thực tướng của các pháp là vô ngã. Cho nên Bồ-tát Quán Thế Âm tìm đủ phương tiện xoay chuyển cái thấy biết của chúng sinh luôn hướng về chân không. Chân khôngvô ngã. Đã vô ngã rồi thì có vào lửa lớn cũng không bị cháy được. Lửa đó chính là ngọn lửa tri kiến sai lầm, lửa dục vọng, lửa tham muốn. Đây là vô úy thứ hai, không còn lo sợ ngọn lửa tham dục đốt cháy, “thiết nhập đại hỏa, hỏa bất năng thiêu”.

3. Tai luôn thích nghe những lời mật đường, dua nịnh, bởi vì thế mà biết bao chúng sinh bị cuốn trôi vào dòng sông sinh tử vô tận chỉ bởi ‘ưa nghe’ lời ngon ngọt. Bồ-tát Quán Thế Âm bằng mọi phương tiện giúp chúng sinh xoay chuyển cái tính ‘ưa nghe’ lời nói bên ngoài, ưa nắm bắt âm thanh bên ngoài, trở lại quán chiếu bên trong, trở về với chân không vô ngã để không bị cuốn trôi hay nhấn chìm trong bể ái. Đây là vô úy thứ ba, “thủy bất năng phiêu”.

4. Do điên đảo vọng tưởngkhởi tâm sát hại chúng sinh. Do đó, đoạn diệt vọng tưởng thì tâm sát hại không còn. Bồ-tát Quán Thế Âm đã chứng ngộ thật tính, đoạn diệt hết vọng tưởng, phát khởi tâm từ bi rộng lớn, tuyệt đối không còn ý niệm sát hại. Chúng sinh tu tập theo hạnh của Bồ-tát Quán Thế Âm cũng thế, nếu ý niệm sát hại không còn thì giả sử có vào cõi nước của quỷ dữ La-sát, quỷ không hại được. Đây là vô úy thứ tư, “nhập chư quỷ quốc, quỷ bất năng hại”.

5. Thực tập hạnh lắng nghe, lúc đầu chỉ dùng tai mà nghe âm thanh, nhưng sau đó cả sáu căn đều có thể lắng nghe được hết. Nghe rồi suy ngẫm sẽ thấy không gì có thể nắm bắt được, như âm thanh gió thổi chuông ngân làm sao nắm bắt, ấy gọi là thật sự lắng nghe. Khi chúng sinh mê muội thì sáu căn đều có thể hại người, không khác gì binh đao. Người đời chẳng đã nói ‘miệng lưỡi như gươm dao’ đó sao! Bồ-tát tu tập, sáu căn đã diệt, đã trở thành chân không, hết thảy mọi thứ trần cảnh đều giống nghe các thứ âm thanh, không thể nắm bắt, nên có thể cứu giúp chúng sinh thoát khỏi nạn bị gươm đao gia hại. Đó là đức vô úy thứ năm, “lâm đương bị hại, đao đoạn đoạn hoại”.

6. Lắng nghe lâu ngày, cũng giống như theo dõi hơi thở hay niệm Phật lâu ngày, ắt sẽ có định. Có định thì tuệ sẽ phát sinh. Một khi tuệ giác đã phát sinh, chiếu sáng mười phương, soi khắp pháp giới, tối tăm u ám tất tự tiêu diệt. Chúng sinh sở dĩ bị ma quỷ, Dạ-xoa bức hại do bởi vô minh, mê tín; nay tu tập phát tuệ, cho dù quỷ Dạ-xoa có tới gần chúng cũng không dám nhìn, nói chi đến gia hại. Đây là đức vô úy thứ sáu, “chư ác quỷ, thượng bất năng dĩ ác nhãn thị chi, huống phục gia hại”.

7. Chúng sinh bị thanh sắc hư vọng trói buộc còn bền chặt hơn xiềng xích, gông cùm. Bồ-tát tu tập đã diệt hết cả hai tính động và tĩnh, cho nên có thể quán chiếuchuyển hóa những âm thanh hư vọng đưa về chánh chân, nhờ vậy thoát khỏi mọi trói buộc của thanh sắc giả dối. Chúng sinh nhờ thực tập theo phương pháp này mà không bị thanh sắc trói buộc thân tâm, đây là đức vô úy thứ bảy, “cấm hệ già tỏa, sở bất năng trước”.

8. Thực tập hạnh lắng nghe không những thoát được sự trói buộc của thanh sắc hư vọng mà còn làm cho lòng từ bi ngày lớn mạnh. Lòng từ ban rải rộng khắp khiến cho ai nấy gặp được đều vui, thấy được đều mừng, cho nên dù có đi qua đường hiểm, gặp quân giặc cướp cũng không có gì lo sợ. Đây là đức vô úy thứ tám, “kinh quá hiểm lộ, tặc bất năng kiếp”.

9. Huân tập hạnh lắng nghe lâu ngày thành tánh, tức là từ văn tuệ thành tư tuệ, sẽ lìa xa mọi vọng tưởng dục trần, khiến cho sắc trần không lay động. Pháp môn này có thể giúp cho người có nhiều tâm tham đắm nhục dục không còn tham dục. Đó là đức vô úy thứ chín, “đa ư dâm dục, tiện đắc ly dục”.

10. Tánh nghe một khi đã thuần tịnh, xa lìa mọi vọng trần thì căn cảnh tương nhập, viên dung vô ngại, đó là lúc tâm sân hận bị tiêu diệt. Đây là đức vô úy thứ mười, “nhược đa sân nhuế, tiện đắc ly sân”.

11. Thực hành hạnh lắng nghe có thể diệt trừ mọi si ám, đưa tâm trở lại tánh minh, nên có thể khiến cho người tâm trí ám độn, bất thiện trở nên thông minh sáng suốt. Đó là sự không sợ hãi thứ mười một, “nhược đa ngu si, tiện đắc ly si”.

12. Dung hình phục văn. Dung hình tức là đã diệt trừ hết sự chướng ngại của hình tướng. Phục văn là trở lại tánh chơn. Từ đó, người tu đi vào cuộc đời mà không làm hỏng pháp thế gian, có thể đi khắp mười phương,

cúng dường vô số chư Phật nhiều như cát bụi, thừa tự gia tài pháp bảo, khiến cho chúng sinh đều thành pháp tử. Đã là pháp tử, tức là đứa con chân thật của Như Lai thì còn gì sợ hãi? Lấy sự không sợ hãi này mà bố thí cho hết thảy chúng sinh không có con trai, thì chúng sinh cầu con trai được con trai vậy!

13. Lục căn viên thông, minh chiếu vô nhị. Lục căn của Bồ-tát đã viên dung, thông đạt vô ngại, bao trùm pháp giới, giống như tấm gương lớn, phản chiếu và sáng soi cùng lúc, do đó mà có thể tùy thuận pháp môn, thọ lãnh không sót, nên không còn sợ hãi. Lấy sự không sợ hãi này mà bố thí cho chúng sinh không có con gái, thì chúng sinh cầu con gái được con gái vậy!

14. Hiệu Viên Thông. Danh hiệu của Bồ-tát Quán Âm cũng là danh hiệu của chư Bồ-tát trong mười phương, vì Ngài đã chứng đắc quả vị chân thật viên thông, cho nên có thể làm nơi nương tựa cho chúng sinh cầu phước. Chỉ cần niệm danh hiệu của Bồ-tát Quán Thế Âm là niệm danh hiệu của hằng hà sa số chư Bồ-tát trong mười phương, có hằng hà sa số chư Bồ-tát cùng linh cảm, nên không còn gì sợ hãi.

Như vậy, Bồ-tát Quán Thế Âm đã vận dụng năng lực tam-muội Kim cương vô táclòng từ bi rộng lớn để hóa độ, cứu giúp chúng sinh, ban cho chúng sinh pháp môn phương tiện quán và niệm danh hiệu Ngài, hay quán và nghe âm thanh, thực hành hạnh lắng nghe để thoát khỏi sự sợ hãi. Rõ ràng, những ai đã từng trì niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm, những ai dù chỉ một lần tập hạnh lắng nghe khi đối diện với khó khăn, khổ não, bức bách, dồn nén… sẽ cảm nhận rõ ràng nhất những đức tính vô uý vừa nêu trên. Thật đúng như lời nguyện của Bồ-tát Quán Âm khi xưa: “Nguyện khi con hành Bồ-tát đạo, nếu có chúng sinh nào bị các khổ não, sợ hãi… có nguy cơ thối thất Chánh pháp, đọa vào đường dữ, ưu sầu, một mình côi cút, không người cứu hộ, không áo, không nhà, bần cùng cơ cực… nếu chúng sinh ấy có thể nhớ nghĩ đến con, niệm danh hiệu của con, vì chúng sinh ấy biết thiên nhĩ của con có thể nghe thấy, thiên nhãn của con có thể nhìn thấy, thì nếu chúng sinh ấy không thoát khỏi những khổ đau, ách nạn, con thề trọn không thành tựu Phật quả” (kinh Bi hoa).
Thích Nguyên Hùng
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 25)
Tuệ quán vô thường sẽ giúp thấy rõ tính chất duyên sinh, vô ngã của vạn pháp. Không có bất cứ cái gì trường cửu, bất biến mà...
(Xem: 115)
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói: Này Thiên tử! Nếu có Bồ-tát biết tất cả các sanh mà cũng chẳng sanh, cũng biết tất cả sanh tử của chúng sanh.
(Xem: 141)
Bố thí, cúng dường là hành động làm phước thiện, theo luật nhân quả, nó là điều kiện thiết yếu để ta tiêu trừ đau khổ...
(Xem: 230)
Sau 25 năm, tôi đến lại nước Nga để thăm viếng lần nầy là lần thứ 6. Lần đầu vào năm 1994, nghĩa là mới chỉ sau 3 năm khi Liên bang các nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết bị sụp đổ...
(Xem: 137)
Đức Phật cũng đã dạy người Kalama qua Kinh Kalama Sutta (AN 3.65), bản dịch của HT Thích Minh Châu viết, trích...
(Xem: 203)
Từ sinh hoạt quốc gia, chính trị đảng phái, cho đến cả tôn giáo (với nhiều tai tiếng chấn động niềm tin của tín đồ), người ta càng nhìn rõ mặt trái của lòng tham, của bản ngã.
(Xem: 126)
Con đường hoằng pháp thành công của Đức Phật kéo dài bốn mươi lăm năm theo quan điểm Nam truyền.
(Xem: 108)
Súc vật, nhất là những vật nuôi để trợ giúp cho con người trong lao động sản xuất như trâu bò vốn được nông dân thương quý, xem như thành viên của gia đình.
(Xem: 118)
Từ thời Đức Phật, gọi là y ca sa, người sau gọi là “áo giải thoát, còn gọi là Phước điền y”.
(Xem: 227)
Những ai có lòng từ mẫn chân thành chia sẻ tịnh tài hay tịnh vật dù ít dù nhiều tùy khả năng, thì việc bố thí nầy được xem như là Quảng Đại Tài Thí...
(Xem: 140)
Hơi thở là sự tiếp nối chuỗi cuộc sống trong luân hồi sinh tử của nghiệp báo. Hơi thở tượng trưng cho sự sống. Hơi thở tạo nên...
(Xem: 122)
Trong khi thực hành thiền định, hành giả bắt đầu điều phục thân và điều phục tâm
(Xem: 163)
Trước thời Thế Tôn, nhân loại đã biết và nói đến vô thường của các sự vật hiện tượng. Tuy vậy, cái thấy biết về vô thường này chưa toàn triệt,
(Xem: 111)
Kinh MN 1 (Mulapariyaya Sutta) là Kinh khởi đầu Trung Bộ, được Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch là Kinh Pháp Môn Căn Bản.
(Xem: 201)
Bàn tay ta vun đắp, thành bại thuộc vào duyên, Vinh nhục ai không gặp, Có chi phải ưu phiền.
(Xem: 129)
Đạo Phật chủ trương hòa bình, lấy từ bi hóa giải hận thù, lấy sự xả buông để khắc chế tham ái. Chiến tranh, xung đột, bạo động là biểu hiện rõ ràng của tham lam, sân hậnsi mê.
(Xem: 125)
Đối với đạo Phật, ba ngôi Tam bảo rất quý báu, hiếm có khó gặp ở thế gian nên người con Phật (chư Tăng, Ni, Phật tử nói chung) phải kính lễ, tôn thờ.
(Xem: 183)
Chúng ta được dạy, nếu khéo lắng nghe, ta sẽ được trí tuệ. Nếu không biết lắng nghe, ta sẽ không được gì cả.
(Xem: 755)
Kính Mừng Thọ 70 tuổi HT Thích Như Điển tổng hợp những bài viết cho Hoà Thượng Phương Trượng
(Xem: 223)
Mắt ở đây phải hiểu là cách nhìn, cái mà mình cảm thấy, cái mà mình cho rằng, cái mà mình biết do nhìn thấy
(Xem: 162)
Hai từ " buông bỏ " thời buổi bây giờ là một thành ngữ nghe vô cùng sáo rỗng, đã được xử dụng nhiều nhất trong kỷ nguyên thời đại mới (new age).
(Xem: 385)
Nếu bạn say mê đọc kinh Phật, ưa thích những phân tích kỹ càng về giáo điển, muốn tìm hiểu các chuyện xảy ra thời Đức Phật đi giảng dạy nơi này và nơi kia, hiển nhiên đây là một tác giả bạn không thể bỏ qua
(Xem: 202)
Các nhà hiền triết Ấn Độ giáotu sĩ Phật giáo đã nhận diện tầm quan trọng và lợi ích sức khỏe khi một hành giả thực tập thiền đều đặn trong mỗi ngày.
(Xem: 238)
Theo tuệ giác của Thế Tôn, nếu các căn gặp cảnh trần vừa ý, thọ lạc rồi sinh tâm yêu thích, đắm nhiễm thì đó là cội nguồn của mọi khổ đau.
(Xem: 172)
Kiếp sống này biến mất rất nhanh chóng Giống như thứ gì đó được viết trên mặt nước với một que cây -ĐỨC PHẬT-
(Xem: 199)
Từ non cao, những đợt lá vàng cuốn theo gió, rơi theo dòng suối, trôi giạt xuống con sông nhỏ trong làng; rồi từng nhóm lá xuôi dòng, tấp vào bờ này hay bờ kia.
(Xem: 196)
Cuộc đời là một chuỗi những bài kiểm tra. Khó khăn chính là những bài kiểm tra. Chúng ta đang ở trong một trường đời.
(Xem: 223)
Trong công việc khó có thể tránh khỏi hoàn cảnh bất lợi, nhiều người sợ gặp phải hoàn cảnh khó khăn, cảm thấy nghịch cảnh là một cú sốc lớn.
(Xem: 186)
Đối với hàng Phật tử tại gia, năm giới là năm điều học căn bản để tạo dựng nên một nếp sống đạo đức, tốt đẹplành mạnh.
(Xem: 446)
Nguyên bản: Meditating while dying; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 253)
Từ non cao, những đợt lá vàng cuốn theo gió, rơi theo dòng suối, trôi giạt xuống con sông nhỏ trong làng; rồi từng nhóm lá xuôi dòng, tấp vào bờ này hay bờ kia.
(Xem: 228)
Duyên khởiđạo lý quan trọng trong toàn bộ giáo pháp của Thế Tôn.
(Xem: 257)
Trong khi thực hành thiền quán, hành giả thường hay vướng vào năm chướng ngại, mà thuật ngữ Phật học gọi là
(Xem: 171)
Nhóm Tỳ-kheo được vô lậu giải thoát sau khi nghe Tỳ-kheo do Bồ-tát Văn-thù-sư lợi biến hóa ra giảng giải cho về pháp giới thể tánh.
(Xem: 400)
Pháp Như Thật là pháp thực hành thuộc về Thiền Huệ, nhưng tại sao lại cần phải thực hành pháp Như Thật? Tại sao phải học Thiền Huệ?
(Xem: 213)
Mẹ Hiền, hai tiếng nầy nghe thân thương, êm ái, ngọt ngào biết bao. Nghe mãi không nhàm, nghe hoài không chán.
(Xem: 261)
Tôi hiểu ngay là cả nhà, mỗi người đều đang dán mắt và bấm bấm, quẹt quẹt vào mặt kính cái smartphone của mình.
(Xem: 269)
Trong quan hệ 12 nhân duyên, nhân vì xúc (căn tiếp xúc trần) nên sinh thọ (cảm giác vui, khổ và trung tính), nhân vì thọ nên sinh ái (yêu ghét)...
(Xem: 247)
Nguyên bản: Gaining favorable condition for the time of death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D.; Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 342)
Bùi Giáng là nhà thơ, là dịch giả, là nhà bình luận văn học. Ông sinh ngày 17 tháng 12/1926 tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; từ trần ngày 7 tháng 10/1998 (thọ 71 tuổi) tại Sài Gòn
(Xem: 272)
Để đạt đến pháp giới vốn là pháp giới thể tánh, vốn là pháp giới bạch tịnh này, kinh điển thường dạy VănTư-Tu.
(Xem: 349)
Sau khi kết thúc đời sống hiện tại, chúng ta sẽ theo nghiệp mà thọ sinh vào cảnh giới tương ứng.
(Xem: 275)
Muốn thấy Phật thì Tâm phải như gương sáng. Thấy hết, biết hết mà không bao giờ khởi niệm.
(Xem: 211)
Công việc được hoàn tất tốt đẹp qua sự hưởng ứng và trợ giúp của quý Phật tử tại địa phương và các anh chị em huynh trưởng và đoàn sinh Gia Đình Phật Tử tại Đức Quốc.
(Xem: 357)
Nhiều Kinh điển Đại thừa (Mahayana Sutras)/Kinh điển Phật giáo Phát triển đã giảng 3 phương pháp thiền quán để đạt đến giải thoát, đó là ba cánh cửa của giải thoát.
(Xem: 269)
Xuất gia là tu hạnh giải thoát. Tự mình tu để được giải thoát,đồng thời hướng dẫn chỉ dạy cho người khác tu cùng giải thoát nữa.
(Xem: 480)
Một trong những biệt tài thuyết pháp của Thế Tôn là dùng hình ảnh để ví dụ minh họa chothính chúng dễ hiểu, dễ cảm nhận vấn đề Ngài muốn nói.
(Xem: 367)
Những ngày cuối hạ oi bức, không làn gió thoảng. Cây cối trơ ra như những tượng đá trong vườn thần chết. Mọi thứ như dừng đứng để chờ đợi một phép lạ.
(Xem: 272)
Bà mẹ già ngồi ở băng ghế sau chiếc xe hơi bỏ mui màu đỏ sậm đang rẽ quặt xuống xa lộ. Bà ghì chặt lấy cái giỏ đồ ...
Quảng Cáo Bảo Trợ