Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
15,850,981
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250Logo-Hanh-Huong-AD-2019-tron-250

Trong Một Nắm Tay

09 Tháng Ba 201907:51(Xem: 182)
Trong Một Nắm Tay
Trong Một Nắm Tay 

Nguyễn Duy Nhiên


Truyện Ngắn Người Cửa Phật


Trong con đường học Phật, đôi khi chúng ta có thể cảm thấy như mình bị lạc lỏng trong một khu rừng mênh mông, bị tràn ngập với vô số những giáo lý và lời dạy khác nhau. Ta không biết mình cần nên học và hành những gì, và làm sao ta có thể học hỏi được hết những gì Phật dạy! Nhưng thật ra vấn đề học Phật không vất vả và xa vời như ta nghĩ.

Đức Phật có lần nhắc nhở các thầy rằng, những điều chúng ta cần hiểu và hành, thật ra chúng rất đơn giản và không nhiều, chỉ chừng như những lá cây trong một nắm tay nhỏ thôi. Chúng không mênh môngtrừu tượng như ta nghĩ.

Ngài Tỳ khưu Buddhadasa, một học giả Phật học nổi tiếng của thế kỷ 20, nhắc nhở chúng ta rằng, thật ra thì “Nguyên lý gốc rễ của sự thực hành để chấm dứt khổ đau gom lại chỉ chừng đầy một nắm tay thôi. Và chúng ta cũng nên mừng rằng một nắm tay là không có bao nhiêu. Nó không hề vượt qua ngoài khả năng học hỏi và hành trì của ta.”

Xin được chia sẻ với bạn, những nhận xét sâu sắc của Ngài Buddhadasa muốn nhắc nhở chúng ta rằng, tất cả những gì Phật dạy thật ra chỉ là một con đường buông xả mà thôi.

 

Đặt đúng vấn đề

“Thế nào thì được gọi là một “nguyên lý cốt tuỷ của đạo Phật”? Tôi nghĩ, trước nhất nguyên lý ấy phải chuyển hóa được khổ đau (dukkha), và thứ hai, nó phải có một luận lý mà ai cũng có thể tự mình chứng nghiệm được và không cần phải tin vào kẻ khác.

Đức Phật lúc nào cũng từ chối không chịu luận bàn đến những điều mà Ngài thấy không đưa ta đến sự chấm dứt khổ đau. Cái gì đi tái sanh? Tái sanh bằng cách nào? Những câu hỏi này hoàn toàn không hề giúp ta chuyển hóa được khổ đau của mình. Và vì thế, chúng không phải và cũng không có một liên hệ gì đến lời Phật dạy. Chúng cũng không nằm trong phạm trù của đạo Phật. Và người nêu lên câu hỏi ấy cũng không có một sự chọn lựa nào khác hơn là mù quáng tin vào câu trả lời, vì thật ra người trả lời cũng không thể nào đưa ra một chứng cớ nào rõ rệt hết, họ chỉ nói theo sự suy đoáncảm xúc của mình mà thôi. Và vì người nghe không thể tự mình chứng nghiệm được, nên họ đành phải nhắm mắt tin vào lời nói của kẻ khác mà thôi. Và dần dà, vấn đề mỗi lúc một đi xa đạo Pháp, cho đến khi nó hoàn toàn trở thành một vấn đề khác biệt, không còn dính dáng gì đến với chuyện chuyển hóa khổ đau nữa hết.

Và thay vì nêu lên những vấn đề như vậy, ta cũng có thể đặt lại câu hỏi là “Có khổ đau không?” và “Làm cách nào để chuyển hóa được khổ đau?” Chắc chắn đức Phật sẽ sẵn sàng trả lời những câu hỏi ấy cho ta. Người nghe sẽ có thể thấy rõ được chân lý trong mỗi chữ của câu trả lời mà không cần phải tin theo mù quáng. Và cùng với sự thực tập, ta sẽ mỗi lúc lại càng thấy được sự thật ấy rõ rệt hơn, cho đến lúc tự chính mình thấu hiểu hoàn toàn.

 

Chỉ cần một nắm lá nhỏ

Thật ra, nguyên lý cốt tuỷ của đạo Phật cũng không có nhiều. Đức Phật nói rằng giáo pháp của ngài chỉ có chừng đầy “một nắm tay” mà thôi. Một đoạn trong Tương Ưng Bộ kinh, Samyutta-nikaya, đã làm sáng tỏ điều này. Có một lần đang đi trong rừng, đức Phật cúi xuống và nắm một vóc lá trong tay. Ngài hỏi các đệ tử cùng đi với Ngài rằng, lá trong tay của Ngài nhiều hay lá trong rừng nhiều hơn. Lẽ dĩ nhiên các thầy trả lời rằng lá trong rừng nhiều gấp vô số lần số lá trong tay của Phật. Sự khác biệt không thể nào so sánh được. Ta hãy thử tưởng tượng hình ảnh ấy đi. Và đức Phật nói tiếp, cũng vậy, những gì Ngài biết và chứng đắc được nhiều cũng như lá trong rừng. Và những gì chúng ta cần biết, những gì chúng ta cần học hỏithực hành, thì cũng chỉ cần như số lá nằm trong bàn tay của Ngài mà thôi.

Từ bài kinh đó ta có thể thấy được rằng, so với tất cả vô số sự việc trên vũ trụ này, nguyên lý gốc rễ của sự thực hành để chấm dứt khổ đau gom lại chỉ chừng đầy một nắm tay thôi. Và chúng ta cũng nên mừng rằng một nắm tay là không có bao nhiêu. Nó không hề vượt qua ngoài khả năng học hỏi và hành trì của ta. Đây là điểm quan trọng đầu tiên mà chúng ta cần hiểu thấu, nếu ta muốn đặt một nền móng vững chắc và hiểu đúng giáo Pháp của đức Phật.

 

Không vướng mắctoàn thể lời Phật dạy

Lời dạy của đức Phật nói đến sự thực tập về tánh-không, sunnata, là lời dạy tâm yếu của đạo Phật. Ta cần phải chú ý sâu sắc đến lời dạy này. Không có bất cứ một điều gì mà ta có thể nắm bắt và cho đó là “tôi” hay là “của tôi.” “Sabbe dhamma nalam abhinivesaya”

Đức Phật cũng từng nói rằng đó chính là toàn thể lời dạy của tất cả các chư Phật từ ngàn xưa đến nay. Ngài nói rằng, chỉ cần nghe một câu ấy thôi “Sabbe dhamma nalam abhinivesaya” là ta đã nghe trọn vẹn hết tất cả Phật pháp, thực hành bấy nhiêu thôi là thực hành hết tất cả, và thành đạt được bấy nhiêu thôi là thành đạt hết tất cả.

Vì vậy ta đừng bao giờ sợ rằng biển Pháp mênh mông quá và ta không thể nào hiểu được hết. Khi đức Phật so sánh những gì Ngài biết nhiều như lá trong rừng, với lại những gì Ngài dạy cho các đệ tử mình thực hành, nhiều như lá trong một nắm tay, số lá trong nắm tay ấy chính là lời dạy này: không nắm bắt hay dính mắc vào bất cứ một điều gì và cho đó là tôi hay là của tôi.

“Chỉ nghe bấy nhiêu thôi là ta đã nghe hết tất cả,” vì tất cả những giáo Pháp khác đều có mặt trong đó. Tất cả những gì đức Phật dạy không có một điều gì lại không liên quan đến khổ đau và con đường chấm dứt khổ đau. Nắm bắt và dính mắc là nguyên nhân của khổ đau, dukkha. Khi nào có sự nắm bắt và dính mắc là khi ấy có khổ đau. Và khi nào không còn sự nắm bắt và dính mắc nữa thì khi ấy sẽ không có khổ đau. Sự thực tập ở đây là làm sao để ta chuyển hóa sự nắm bắt và dính mắc của mình trở thành một tánh-không, để nó sẽ không bao giờ còn khởi lên nữa. Bấy nhiêu đó thôi là đầy đủ rồi. Không còn gì khác hơn để làm nữa.

 

Bấy nhiêu thôi là đã thực hành tất cả

“Chỉ thực hành bấy nhiêu thôi là ta đã thực hành hết tất cả.” Bạn nghĩ là ta có còn cần phải thực hành thêm những gì nữa chăng? Nếu trong giây phút này, một người nào đó có một tâm tự tại, trong sáng không còn nắm bắt hay bị dính mắc vào bất cứ một điều gì hết, người ấy có được những gì? Mời bạn hãy suy nghĩ cho thật kỹ. Nếu bạn nhìn cho sâu sắc bạn sẽ thấy rằng, thật ra người ấy đã thành đạt được hết tất cả những pháp môn trong truyền thống như là Tam quy (tisarana), bố thí (dana), trì giới (sila), thiền định (samadhi), trí tuệ (panna), và ngay cả quả trái của chúng là Niết bàn (nibbana).

Vì khi ta buông bỏ hết và không còn nắm bắt nữa, thì chắc chắn là ta đã trở vềquy y nơi tam bảo (tisarana). Ta quay trở về nương tựa vào Phật, Pháp và Tăng, tâm ta không còn mang nặng những phiền muộn nữa và trở thành một với tam bảo. Trở về nương tựa không phải bằng những lời nói suông chúng ta vẫn thường tụng đọc mỗi ngày, mà là trở về với Phật, Pháp, Tăng đang có mặt trong tâm ta. Những khi tâm ta không còn bị dính mắc, không còn thấy là “tôi” và “của tôi” nữa, cho dầu chỉ trong chừng một phút chốc thôi, là tâm ta cũng đã hiểu được tánh-không. Và đó cũng chính là trái tim của tam bảo.

Sự thực tập kế tiếpbố thí (dana). Bố thí có nghĩa là buông xả, không còn nắm bắt vào một vật gì và cho đó là “tôi” hay “của tôi”. Khi tâm ta không còn có một cái chấp ngã, là ta đang thực hành một hạnh bố thí cao tột nhất, vì khi ta buông bỏ luôn cả cái ta của mình rồi, thì đâu còn lại gì để ban cho nữa? Và khi đó là ta đã thực hành hạnh bố thí một cách toàn vẹn nhất.

Và kế đến là trì giới (sila). Một người khi đã không còn nắm bắt và dính mắc vào gì nữa hết thì mọi hành động và lời nói của họ bao giờ cũng hoàn toàn thật sự chân chánh. Còn những sự trì giới khác thật ra chỉ là một vấn đề tạm thời, lúc có lúc không mà thôi. Chúng ta có thể lập những lời nguyện và hứa rằng sẽ không làm việc này hay nói lời nọ, nhưng rồi ta cũng không thể giữ được. Khi tâm ta được rỗng không, cho dù chỉ trong phút chốc, hay một ngày hoặc một đêm, là trong lúc ấy ta đang trì giới trọn vẹn.

Còn về thiền định (samadhi), một tánh-không là một tâm định sâu sắc và vững vàng nhất. Một tâm định mà còn dụng sức và nỗ lực vẫn chưa phải là chánh định. Chỉ có một tâm thức không còn nắm bắt và dính mắc vào cái “tôi” và “của tôi” nữa, mới thật sự có được một sự quân bìnhkiên cố của chánh định. Một người đạt được tánh-không là một người lúc nào cũng sống trong chánh định.
Phương pháp thực hành kế đến là trí tuệ, tức bát nhã (panna). Nơi đây chúng ta có thể thấy rõ rằng, hiểu được tánh-không, sunnata, chính là tinh yếu của tuệ giác. Khi tâm ta rỗng lặng, nó sẽ trở nên rất tinh tế, trong sángminh mẫn. Khi tâm ta không còn những ý niệm về “tôi” và “của tôi”, thì đó cũng là bát nhã. Vì vậy nên người ta thường nói sunnata và panna là một, tánh-không và bát nhã là một. Khi tâm ta không còn những cái biết sai lầm nữa, nó sẽ thấy lại được cái bản tâm trong sáng ban đầu của chính nó.

cuối cùng ta có thể gặt hái được quả trái của chúng là Niết bàn, nibbana. Nơi đây sự tiến hóa dần dà của tánh-không đã đi đến mức cao tột nhất, và nó còn được gọi là tánh-không-bát-nhã (parama-sunnata).

 

Tất cả chỉ là một hành trình buông xả.

Bây giờ chắc các bạn cũng thấy được rất rõ rằng, hành trình từ quy y tam bảo cho đến bố thí, trì giới, thiền định, và tuệ giác, không có gì khác hơn là tánh-không, cũng có nghĩa là không dính mắc vào một cái tôi. Và quả vị của niết bàn cũng không gì khác hơn điều ấy. Mà thật ra niết bàn chính là một trình độ cao tột nhất của sunnata, tánh-không.

vì vậyđức Phật đã dạy rằng, chỉ cần nghe bấy nhiêu thôi là ta đã nghe hết tất cả giáo Pháp của Ngài. Thực hành bấy nhiêu thôi là ta đã thực hành hết tất cả. Thành đạt bấy nhiêu thôi là ta đã thành đạt hết tất cả: không nắm bắt hay dính mắc vào bất cứ một điều gì và cho đó là tôi hay là của tôi. Nothing whatsoever should be clung to as “I” or “mine.” Sabbe dhamma nalam abhinivesaya. Và chúng ta hãy cố gắng tinh tấn hành trì, để rồi một ngày nào đó ta có thể thật sự hiểu được tinh yếu của sunnata, chữ tánh-không ấy thật sự có nghĩa là gì.”
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 22)
Làm giàu chính đáng là việc khó đối với nhiều người. Nhưng khi khấm khá rồi mà biết an hưởng “không phóng dật, không tham đắm, không tạo những ác hạnh đối với chúng sinh” lại càng khó khăn hơn.
(Xem: 44)
Trong nhà thiền luôn nhắc mọi người, phải sống trở về với cái thực tại đang hiện hữu sáng ngời, đó là thiền chân thật.
(Xem: 81)
Theo nhận thức của số đông, bậc đạo sư phải là vị niên cao lạp trưởng, thâm niên tu hành. Trong khi Thế Tôn chứng đạo và hành đạo khi tuổi đời chỉ dưới bốn mươi đã gây ra dị nghị, phân vân cho không ít người.
(Xem: 138)
Có năm phương cách để đối trị sân hận. Chúng giúp xóa tận gốc rễ của sân hận. Đó là gì? Nếu sân nổi lên, cần làm như sau: vun trồng tâm từ, vun trồng tâm bi, vun trồng tâm xả…
(Xem: 125)
Điểm khởi đầu của hành trì Phật pháp là tĩnh tâm và giữ chánh niệm, nghĩa là luôn luôn ghi nhớ việc ý thức về cách mình đang hành động và nói năng với người khác,
(Xem: 371)
Tôn giáo xưa cổ phương Đông này đang giúp nhiều người phương Tây các nan đề tâm bệnh hiện đại. Tác giả: Olga Khazan. Dịch giả: Nguyên Giác
(Xem: 160)
Thiền vẫn được coi là dành cho hàng có căn cơ bậc trung và thượng. Vì điều động tâm vọng động không phải là việc dễ dàng.
(Xem: 211)
Hoàng hôn. Rồi lại bình minh. Rồi lại một chiều vạt nắng kéo về phương tây. Chim bay mỏi cánh không đuổi kịp mặt trời. Góc trời sẫm tím như hối hả chìm sâu về phía trước.
(Xem: 401)
Nếu có chùa, và có cả đạo tràng… sẽ là tuyệt vời. Thực tế xây chùa dễ, xây dựng đạo tràng mới khó.
(Xem: 144)
Giáo sư, chuyên gia Phật học Rhys Davids cho rằng đạo Phật sở hữu hai lý tưởng lớn có thể được vận dụng để làm lợi lạc cho cuộc đời.
(Xem: 271)
Tạp Chí Hoa Đàm Số 5, với chủ đề “Phật Giáo với Dân Tộc”; “Thiền Trong Hành Động,” do Đạo Sinh dịch Việt; “Những Bước Thăng Trầm” do Phạm Kim Khánh dịch Việt; và “Bóng Bay Gió Ơi” của nhà văn Nguyễn Thị Khánh Minh
(Xem: 192)
Nói theo nhận thức kinh Phật, trần thế này không hẳn hoàn toàn là bể khổ, như người ta thường ví von: “biển khổ mênh mông sóng ngập trời”,
(Xem: 203)
Thiền duyệt có nghĩa là niềm vui trong thiền tập. Khi mới bắt đầu tập thiền, tôi tưởng muốn an tâm và phát triển định lực ta cần phải cố gắngvất vả ghê gớm lắm.
(Xem: 193)
Theo một số trường phái Phật giáo, Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni lần đầu tiên Giác NgộẤn Độ vào thế kỷ thứ 6 trước Dương Lịch, qua sự thực hành con đường tu tập.
(Xem: 232)
Hiện tại có tính bình đẳng cho tất cả mọi người. Dầu ở bất cứ nơi nào trên trái đất, dầu tôi và anh ở múi giờ khác nhau, người ta vẫn chung nhau một hiện tại, ai cũng nói lúc này là bây giờ.
(Xem: 703)
Con ngườimột phần nhỏ của một tổng thể, mà chúng ta gọi là “Vũ Trụ,” phần này bị hạn chế trong thời giankhông gian.
(Xem: 606)
Thế gian có hai sở y, hoặc có hoặc không, bị xúc chạm bởi thủ. Do bị xúc chạm bởi thủ nên hoặc y có hoặc y không.
(Xem: 722)
Trung tuần tháng 12 năm 2018, tôi đọc trên báo, thấy lá thư của Ông Einstein được bán đấu giá với số tiền khủng 2,892,500 dollars
(Xem: 556)
Bút hiệu Mộc Đạc nghe lạ, nhưng hiển nhiên là không dính gi tới chuyện thơ dài hay ngắn, hay hay dở, vui hay buồn, thế sự thực tế hay khoa học viễn tưởng
(Xem: 543)
Muốn tìm được con đường thì cần phải đọc chi tiết toàn bản văn, suy nghiệm những lý lẽ mới thấy được tư tưởng của cổ đức phát tiết ra ngoài hiện thực thiên nhiên
(Xem: 480)
Trời có lúc nắng lúc mưa, người có lúc may mắn hoặc xui xẻo. Nhưng không có cái gì tự dưng sinh ra hay mất đi, tất cả đều có lý do của do của nó.
(Xem: 486)
Nhà sư Phật giáo sống như thế nào sau cánh cửa thiền? Đây là điều mà người bình thường cả Đông lẫn Tây đều khó có điều kiện được biết.
(Xem: 437)
Sự sống vẫn luôn tiếp diễn trong từng khoảnh khắc, bốn mùa thay lá, xuân đến xuân đi, mỗi phút giây đều tuần hoàn vô tận.
(Xem: 382)
Tất cả các tôn giáo ra đời điều vì mục đích phục vụ đời sống tâm linh, tính ngưỡng cho con người.
(Xem: 384)
Bài viết này trước hết sẽ giải thích sự nối kết mật thiết giữa lòng vị thahạnh phúc và sau đó xem xét chứng cứ khoa học mà nó chỉ ra sự tương thuộc giữa hai khía cạnh quan trọng này trong xã hội loài người.
(Xem: 369)
Đầu năm mới, người thế gian mừng tuổi nhau với mong ước gặp điều tốt đẹp may mắn, làm ăn phát tài thăng tiến.
(Xem: 1344)
Nhà sư Nhật bản Kenjitsu Nakagaki đang tìm cách thuyết phục người Tây Phương về ý nghĩa của chữ Vạn (Swastica) mà người Nhật gọi là manji.
(Xem: 484)
Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832) là một văn sĩ, thi sĩ, kịch tác gia, khoa học gia, triết gia, chính tri gia, nói chung là một nhà thông thái lừng danh nhất của nước Đức
(Xem: 360)
Xuân đến Xuân đi nghi Xuân hết Hoa tàn hoa nở chỉ là Xuân. Xuân lai Xuân khứ nghi Xuân tận Hoa lạc hoa khai chỉ thị Xuân.
(Xem: 388)
Khi con người lạc hậu còn đi bộ. Rồi lần lần biết cưỡi ngựa, cưỡi trâu. Rồi lần hồi thông minh tìm ra hơi nước, Rồi máy bay, xe lửa, xe hơi.
(Xem: 464)
Essence of the Heart Sutra: The Dalai Lama’s Heart of Wisdom Teachings” (Tinh Yếu Tâm Kinh: Cốt Lõi Lời Đức Đạt Lai Lạt Ma Dạy Về Trí Tuệ) – tác giả ghi là Tenzin Gyatso The Fourteenth Dalai Lama.
(Xem: 462)
Nhân gian thường không hiểu trong Duyên có Nợ và trong Nợ có Duyên cho nên đã tách biệt Duyên và Nợ.
(Xem: 465)
Tứ nhiếp pháp là bốn phương pháp Bồ-tát dùng để nhiếp hóa chúng sinh, khiến họ khởi tâm cảm mến, rồi dẫn dắt họ vào Phật đạo,
(Xem: 813)
Câu thần chú lạc đề, lạc quẻ “Án ma hôm, bát mê khuya“ của bà lão thành tâm cũng có đủ thần lực sai khiến những hạt đậu nhảy từ bên này sang bên kia
(Xem: 564)
Như quý vị biết hạnh phúc được cảm nhận qua nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau, nhưng chung quy lại, hạnh phúc được cảm nhận ...
(Xem: 651)
Mù tỏa Lô sơn sóng Triết giang, Khi chưa đến đó hận muôn vàn. Đến rồi về lại không gì lạ, Mù tỏa Lô sơn sóng Triết giang.
(Xem: 673)
Mười câu chuyện sức mạnh của chân thật và nguyện cầu chân lý - Trích từ Tiểu Bộ Kinh Nikàya, Tâm Tịnh cẩn tập
(Xem: 583)
Những lúc như thế, hình ảnh khoảng sân cát trắng và lũ nhỏ ê a hiện lên trước mắt tôi lãng đãng y hệt như từ một giấc mơ nhiều ngàn đêm trước.
(Xem: 477)
Trong lời dạy của đức Phật, đất luôn là ẩn dụ quan trọng để Ngài sử dụng trong việc dạy dỗ hàng đệ tử học theo hạnh của đất.
(Xem: 471)
Đã có không ít những bài nghiên cứu về sự tương đồng giữa Duy thức học của Thế Thân và Phân tâm học của Sigmund Freud.
(Xem: 727)
Cư sĩ Nguyên Giác vừa cho xuất bản cuốn Kinh Nhật Tụng Sơ Thời mà theo sự nghiên cứu của các học giả đây là những lời dạy (kinh) cổ xưa nhất của Đức Phật
(Xem: 536)
Lòng từ bi trong Đạo Phật được định nghĩa như nguyện ước tất cả mọi chúng sanh được thoát khỏi khổ đau.
(Xem: 545)
Thời gian trôi qua thật nhanh, mới đó mà đã hết một năm. Tự hỏi, một năm trôi qua chúng ta đã làm được những gì?
(Xem: 679)
Cuối năm 1978, sau khi thành lập Hội Sinh Viên và Kiều Bào Phật tử Việt Nam tỵ nạn tại Đức, chúng tôi xúc tiến ngay việc viết báo để đi in bằng lối Photocopy.
(Xem: 623)
Ngày nay Phật Giáo đã đi vào sinh hoạt thường nhật của người dân Mỹ một cách sâu rộng, từ những giờ phút thực hành Thiền trong quân đội, sở cứu hỏa, ty cảnh sát, trường học và công tư sở đến phương thức trị liệu tâm lý trong y học.
(Xem: 690)
Đôi khi trong đời người ta, viết văn chỉ vì nhu cầu thôi thúc chứ thực ra nhà văn chưa chắc đã nắm vững một số kỹ thuật hoặc nguyên tắc viết văn. Ngay chính bản thân tôi cũng rơi vào trường hợp như vậy.
(Xem: 518)
Ca ngợi Ấn Độủng hộ việc ăn chay, nhà lãnh đạo tinh thần Tây Tạng nói hôm thứ Sáu (14-12) rằng tất cả chúng sinh phải được tôn trọng.
(Xem: 510)
Khi chúng ta lần đầu tiên tiếp cận những giáo lý của Đức Phật, chúng ta phải bắt đầu ngay từ đầu, tức là các thực hành sơ khởi (Ngondro).
(Xem: 723)
Với khám phá rất quan trọng, Einstein nhận thấy rằng hai sự vật không có thể được quan niệm như là riêng biệt. Nhị nguyên không phải là nhị nguyên mà là hai diện mục của một bản lai tương tự như hai mặt của một đồng tìền.
(Xem: 813)
Việc sám hối đúng pháp như trong bài Kinh Tàm và Quý Đức Phật đã dạy rất rõ. ... ý nghĩa Tàm Quý là thấy rõ lỗi lầm, xấu hổ ăn năn quay đầu sám hối và nguyện từ bỏ việc xấu ác không bao giờ tái phạm vào nữa.
Quảng Cáo Bảo Trợ